Cuộc Nổi Dậy Ở Phố Wall - Chương 3
Vấn đề của Ronan
Một phần vấn đề của Ronan là ở chỗ anh trông không có cái vẻ của một nhà giao dịch trên Phố Wall. Anh xanh xao, vai nhỏ hẹp, lúc nào cũng khom khom lại, ở anh có cái vẻ thận trọng bồn chồn không dứt của một người vừa qua khỏi đận đói và đang chờ một đận khác đến. Anh cũng thiếu khả năng che giấu đi cái vẻ thiếu tự tin của mình, cũng như khả năng tỏ ra quan trọng và hiểu biết nhiều hơn thực tế, cái vẻ mà người ta thường thấy ở một tay làm giao dịch trên Phố Wall. Anh mảnh khảnh và thận trọng dò dẫm như một chú cầy mangut. Nhưng ngay từ giây phút đầu tiên nhìn thấy sàn giao dịch Phố Wall, khi mới vừa bước vào tuổi 20, Ronan Ryan đã khao khát được làm việc ở đây − và không hiểu tại sao mình lại không thuộc về nơi đó. “Thật khó cưỡng lại được sức hấp dẫn của việc trở thành một trong những anh chàng Phố Wall khiến người khác phải sợ sệt và kiếm được cả núi tiền,” anh nói. Ấy thế nhưng thật khó hình dung nổi có ai lại đi sợ Ronan.
Phần còn lại trong vấn đề của Ronan là anh không thể hay không muốn ngụy trang nguồn gốc khiêm tốn của mình. Sinh trưởng ở Dublin, anh tới Mỹ năm 1990, khi 16 tuổi. Chính phủ Ireland cử cha anh tới New York nhằm thuyết phục các công ty Mỹ tới Ireland để hưởng các ưu đãi thuế, nhưng có rất ít công ty nghĩ đến chuyện làm vậy. Ireland là một đất nước nghèo nàn và u ám. Cha anh, một người chẳng giàu sang bạc vạn gì, đã tiêu đến những đồng xu cuối cùng để thuê một căn nhà ở Greenwich, Connecticut, nhờ thế Ronan mới có thể học một trường trung học công lập Greenwich và thấy thế nào là “cuộc sống xa hoa”. “Tôi không tin nổi,” Ronan nói. “Bọn choai choai cứ đến 16 tuổi là có xe riêng! Bọn chúng sẽ lầm bầm nếu phải đi xe buýt của trường. Tôi thì nói: ‘Cái thứ chết tiệt này thực sự đưa bọn ta tới trường đấy! Và lại còn miễn phí nữa! Tôi từng phải đi bộ 4 km kia kìa.’ Thật khó mà không yêu mến nước Mỹ.” Khi Ronan 22 tuổi, cha anh bị triệu hồi về Ireland; Ronan tiếp tục ở lại Mỹ. Anh không nghĩ Ireland là nơi mà có ai chịu quay lại nếu người đó có quyền lựa chọn và lúc này anh đang ấp ủ ý tưởng về Giấc mơ Mỹ của riêng mình − phiên bản Greenwich, Connecticut. Năm trước đó, qua một người Ireland mà cha anh từng gặp, anh xin được một chân thực tập hè tại phòng hỗ trợ của Ngân hàng Hóa chất và được hứa hẹn cho một vị trí trong chương trình đào tạo quản trị.
Thế rồi, họ hủy chương trình đào tạo; còn ông người Ireland biến mất tăm. Tốt nghiệp Đại học Fairfield năm 1996, anh gửi thư xin việc tới tất cả các ngân hàng trên Phố Wall, nhưng chỉ nhận được một sự quan tâm vờ vịt thoáng qua, từ một nơi mà ngay cả con mắt nghiệp dư của anh cũng thấy là một hãng môi giới chứng khoán giá rẻ chơi trò lừa đảo thổi phồng để thu lợi. “Tìm được một công việc ở Phố Wall không dễ như ta tưởng,” anh kể. “Tôi chẳng quen biết ai. Nhà tôi cũng chẳng có mối quen biết thân sơ nào.”
Cuối cùng, anh bỏ cuộc. Anh gặp một người Ireland khác; thật tình cờ, ông này lại làm cho văn phòng MCI Communications, một hãng viễn thông lớn ở New York. “Ông ấy nhận tôi vào làm chủ yếu bởi tôi là người Ireland,” Ronan nói. “Tôi đoán, năm nào ông ấy cũng có vài vụ từ thiện như thế. Và tôi là một trong số đó.” Chẳng vì một lý do cụ thể nào khác ngoài việc sẽ chẳng có ai tuyển mình, anh vào làm trong ngành viễn thông.
Công việc lớn đầu tiên mà anh được giao là đảm bảo 8.000 chiếc máy nhắn tin mới mà MCI đã bán cho một hãng lớn trên Phố Wall được giao nhận đầy đủ. Đúng như người ta nói với anh: “Mọi người đúng là rất nhạy cảm với chuyện máy nhắn tin đấy.” Ronan ngồi trên thùng chiếc xe tải cứu hộ trong cái nóng mùa hè, tới một cao ốc văn phòng nào đó để giao những chiếc máy nhắn tin mới. Anh kê chiếc bàn nhỏ ở thùng sau xe tải và dỡ thùng đồ, rồi đợi dân Phố Wall kéo đến lấy máy. Sau một giờ bắt tay vào việc, anh đã vã mồ hôi và thở không ra hơi trong thùng xe tải, trong khi có cả một dòng người đợi lấy máy và một đám đông khác đã hợp lại, đó là đám đông những người mà anh đã phát máy: những người phản đối máy nhắn tin. “Những chiếc máy nhắn tin này vớ vẩn quá!” và “Tôi ghét cái máy nhắn tin chết tiệt này!” Họ gào lên khi anh cố phát thêm máy. Khi anh giải quyết cuộc nổi dậy này, cô thư ký ở một công ty trên Phố Wall gọi cho anh phàn nàn về chiếc máy nhắn tin mới cho ông sếp của cô. Cô ta thất vọng về nó đến độ Ronan nghĩ anh có thể nghe được tiếng khóc của cô ở đầu dây bên kia. “Cô ấy cứ rền rĩ không dứt ‘Nó to quá! Nó sẽ làm đau ông ấy mất! Nó to quá! Nó sẽ khiến ông ấy đau thật mất!’” Lúc này Ronan hết sức bối rối: Làm sao mà một chiếc máy nhắn tin có thể gây đau đớn cho một người đàn ông trưởng thành cơ chứ? Nó chỉ là một khối hộp nhỏ, kích thước tầm 3x4cm mà thôi. “Rồi cô ta nói với tôi, ông ta là người nhỏ con và nó sẽ thọc sâu vào lườn ông ta khi ông ta cúi xuống,” Ronan kể. “Và rằng thì là ông ta không phải nhỏ con cỡ thường đâu mà bé loắt choắt. Và tôi nghĩ chứ không nói ra, vì tôi không muốn cô ta nghĩ mình là một thằng chẳng ra gì, Thế thì sao cô không cột nó lên lưng ông ta như cái balo ấy?”
Lúc đó, và những lúc khác giống như thế, có rất nhiều thứ thoáng qua trong tâm trí Ronan nhưng anh không nói gì. Ước lượng cỡ máy nhắn tin cho phù hợp với những tay nhỏ thó ở Phố Wall và bị những tay bự con ở Phố Wall không thích món đồ chơi công nghệ mới la ó không phải là những việc mà anh hình dung mình sẽ làm với cuộc đời của mình. Anh khổ sở vì không tìm được đường vào Phố Wall. Cuối cùng, anh quyết định sẽ tận dụng triệt để công việc này.
Đó hóa ra lại là góc nhìn mà MCI cho anh thấy toàn bộ hệ thống viễn thông Mỹ. Ronan khéo tay, nhưng anh chưa từng thật sự học bất cứ thứ gì có tính thực hành. Anh chẳng biết tí gì về công nghệ. Bây giờ thì anh bắt đầu tìm hiểu tất cả mọi thứ về nó. “Nếu loại phần xấu xí ra thì cách thức cái thứ chết tiệt này hoạt động khá là hấp dẫn,” anh nói. Một mạch dây đồng truyền tải thông tin như thế nào so với dây cáp quang. Bộ chuyển mạch mà Cisco sản xuất thì như thế nào so với bộ chuyển mạch mà Juniper sản xuất. Công ty phần cứng nào sản xuất thiết bị máy tính có khả năng vận hành nhanh nhất và tòa nhà nào trong thành phố nào có tầng lầu đủ khả năng chịu được sức nặng của thiết bị này – đó hoá ra lại là những khu nhà sản xuất cũ. Anh cũng biết thông tin di chuyển như thế nào từ chỗ này qua chỗ kia − dòng lưu chuyển đó thường không phải là một đường thẳng, do một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông duy nhất vận hành, mà là tuyến đường xoắn bện, được vận hành bởi nhiều nhà cung cấp. “Khi anh thực hiện một cuộc gọi từ New York tới Florida, anh không thể nào biết được mình phải đi qua bao nhiêu thiết bị thì cuộc gọi đó mới diễn ra. Có lẽ anh chỉ nghĩ nó giống trò truyền tin bằng hai cái lon nối với nhau bằng một sợi dây mà lũ trẻ hay chơi, nhưng không phải vậy.” Một mạch kết nối thành phố New York với Florida sẽ có Verizon ở đầu New York, Bellsouth ở đầu Florida và MCI ở giữa; nó sẽ chạy lắt léo từ trung tâm dân cư này sang trung tâm dân cư kia; khi đến được nơi cần đến, nó sẽ uốn khúc trong đủ loại đường điên rồ qua các tòa nhà chọc trời và các khu phố xá. Để nghe cho có vẻ hiểu biết, dân viễn thông thích nói các tuyến cáp chạy qua “các thành phố diễn ra giải Giải Bóng bầu dục Quốc gia”.
Đó cũng là điều mà Ronan học được: nhiều người làm việc trong và quanh ngành viễn thông thường biết chứ không mấy khi hiểu. Đội bán công nghệ ở MCI thường không thật sự hiểu công nghệ đó nhưng lại được trả lương cao hơn hẳn những người đơn giản làm công việc khắc phục sự cố, như anh. Hay nói như anh: “Tôi kiếm 35 đô-la còn bọn họ kiếm 120 đô-la và bọn họ là những thằng ngu bỏ mẹ.” Anh tự xin sang bộ phận bán hàng và trở thành chuyên gia bán hàng hàng đầu. Sau một vài năm làm công việc này, anh bị Qwest Communications dụ rời khỏi MCI; rồi ba năm sau đó, anh lại bị một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn khác là Level 3 dụ rời khỏi Qwest. Lúc này anh đã kiếm được bộn tiền − cỡ vài trăm nghìn đô-la một năm. Đến năm 2005, anh không thể không chú ý thấy rằng chưa bao giờ các khách hàng của mình lại dễ là các ngân hàng lớn Phố Wall như lúc này. Anh có nhiều tuần ngồi trong Goldman Sachs, Lehman Brothers và Deutsche Bank, tìm hiểu xem đâu là tuyến đường hiệu quả nhất để chạy cáp và đâu là thiết bị tốt nhất để neo cáp vào. Anh vẫn giữ nguyên tham vọng ban đầu của mình. Anh đánh hơi tìm kiếm cơ hội tuyển dụng mỗi khi nhận được một công việc ở Phố Wall. “Tôi nghĩ: Mình đang gặp biết bao nhiêu người. Tại sao mình không thể xin được việc ở một chỗ trong số đó?” Thực ra thì các ngân hàng lớn vẫn mời anh về làm, nhưng chúng không liên quan đến tài chính. Họ đề nghị anh làm kỹ thuật − ở những khu xa tít nào đó với phần cứng máy tính và cáp quang. Có sự phân biệt tầng lớp mạnh mẽ giữa dân kỹ thuật và dân tài chính. Dân tài chính chỉ coi dân kỹ thuật như là người giúp việc vô danh. “Lúc nào họ cũng nói đúng một câu với tôi: ‘Anh là anh chàng lỉnh kỉnh dây hộp,’” anh kể.
Thế rồi năm 2006, BT Radianz gọi anh. Radianz ra đời từ biến cố 11/9, sau khi các cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới phá hỏng những thiết bị quan trọng trong hệ thống truyền thông của Phố Wall. Công ty này hứa hẹn sẽ xây cho các ngân hàng lớn ở Phố Wall một hệ thống không dễ bị các cuộc tấn công bên ngoài phá hỏng như hệ thống hiện hành. Công việc của Ronan là thuyết phục giới tài chính tin dùng ý tưởng khoán mạng lưới thông tin của họ cho Radianz. Cụ thể, anh phải thuyết phục các ngân hàng “cùng chia chỗ” đặt máy tính trong trung tâm dữ liệu của Radianz ở Nutley, New Jersey. Nhưng không lâu sau khi bắt đầu làm việc ở Radianz, Ronan nhận được một yêu cầu tham vấn khác từ một quỹ đầu tư mạo hiểm đặt trụ sở tại thành phố Kansas. Người gọi đến nói anh ta làm việc cho một hãng giao dịch chứng khoán có tên là Bountiful Trust và rằng anh ta nghe nói Ronan là chuyên gia di chuyển dữ liệu tài chính. Boutinful Trust đang mắc phải một vấn đề: Khi thực hiện giao dịch giữa thành phố Kansas và New York, họ mất khá nhiều thời gian mới xác định được chuyện gì sẽ xảy ra với lệnh giao dịch của mình − tức là, cổ phiếu mà họ đã mua và bán là cổ phiếu nào. Họ cũng nhận thấy rằng, khi họ đặt lệnh, thị trường cũng biến mất hệt như thị trường trên màn hình giao dịch của Brad Katsuyama. “Anh ta nói: ‘Thời gian chờ của tôi là 43 mili giây,’” Ronan nhớ lại. “Và tôi nói ‘mili giây là cái quái gì vậy?’”
Thời gian chờ là thời gian tính từ khi tín hiệu được gửi đi cho đến khi nó được nhận. Có nhiều yếu tố quyết định đến thời gian chờ của hệ thống giao dịch trên thị trường chứng khoán: các hộp thiết bị, logic và các đường truyền. Các hộp thiết bị là những thiết bị máy móc mà tín hiệu phải đi qua trên đường đi từ Điểm A đến Điểm B, tức là các máy chủ, các bộ khuếch đại tín hiệu và các bộ chuyển mạch. Logic là phần mềm, là mã lệnh vận hành các hộp thiết bị đó. Ronan không biết gì nhiều về phần mềm, ngoại trừ việc càng ngày càng có vẻ như nó được viết bởi những anh chàng người Nga nói tiếng Anh lõm bõm. Đường truyền là đường cáp quang sợi thủy tinh đưa thông tin đi từ hộp thiết bị này đến hộp thiết bị khác. Yếu tố lớn nhất quyết định đến tốc độ là độ dài cáp, hay khoảng cách mà tín hiệu cần thực hiện để đi từ Điểm A tới Điểm B. Ronan không biết mili giây là gì, nhưng anh hiểu vấn đề mà quỹ đầu tư mạo hiểm ở thành phố Kansas kia gặp phải: Nó nằm ở thành phố Kansas. Ánh sáng trong chân không di chuyển với vận tốc 299.338 km/giây, tức 299,33 km/mili giây. Ánh sáng trong sợi cáp va phải thành vách và vì vậy di chuyển với vận tốc chỉ bằng 2/3 vận tốc lý thuyết. Nhưng thế vẫn là nhanh. Kẻ thù lớn nhất cản trở tốc độ của tín hiệu là khoảng cách mà tín hiệu phải đi. “Vật lý là vật lý − đó là điều mà dân làm giao dịch không hiểu nổi,” Ronan nói.
Toàn bộ lý do Bountiful Trust đóng trụ sở ở Kansas là vì các nhà sáng lập tưởng rằng việc họ đặt trụ sở thật ở đâu không còn quan trọng nữa. Rằng Phố Wall không còn là nơi phải đóng. Họ đã nhầm. Một lần nữa, Phố Wall vẫn là nơi phải đóng trụ sở. Hiện giờ, nó không hẳn là ở Phố Wall mà ở New Jersey. Ronan chuyển các máy tính từ Kansas đến trung tâm dữ liệu của Radianz ở Nutley và giảm thời gian cần thiết để máy tính xác định được cổ phiếu mà họ đã giao dịch là gì từ 43 mili giây xuống còn 3,8 mili giây.
Từ đó trở đi, nhu cầu của Phố Wall đối với dịch vụ của Ronan tăng mạnh. Không chỉ từ ngân hàng và các hãng giao dịch cao tần có tiếng, mà cả các hãng giao dịch độc quyền chưa ai từng nghe nói đến, với chỉ vài nhân viên. Tất cả đều muốn có khả năng giao dịch nhanh hơn người khác. Để nhanh hơn, họ cần tìm được những tuyến đường ngắn hơn để làm đường đi cho tín hiệu của mình; để nhanh hơn, họ cần phần cứng mới, quy giản xuống còn những gì tối cần thiết; để nhanh hơn, họ cũng cần giảm khoảng cách vật lý giữa máy tính của mình và máy tính nằm trong các sàn giao dịch. Ronan biết cách giải quyết tất cả những vấn đề này. Tuy nhiên, khi mọi khách hàng mới của anh đều đặt máy tính trong trung tâm dữ liệu của Radianz, thì công việc trở nên rắc rối, đòi hỏi chút ma mãnh. Ronan kể: “Một hôm có nhà đầu tư gọi cho tôi và hỏi ‘Tôi đang ở chỗ nào trong phòng?’ Tôi nghĩ, Trong phòng á? Ý anh ‘trong phòng’ là gì? Thì ra, ý nhà đầu tư đó đúng là trong phòng.” Ông ta sẵn sàng bỏ tiền để di chuyển chiếc máy tính gửi lệnh tới thị trường chứng khoán của mình tới gần hết mức có thể với đường ống chạy ra khỏi tòa nhà ở Nutley − để ông ta có thể nhảy lên trước một chút so với các máy tính khác trong phòng. Sau đó, một nhà giao dịch khác lại gọi cho Ronan nói rằng ông ta để ý thấy đường cáp quang của mình dài hơn vài mét so với cần thiết. Thay vì để nó chạy vòng quanh bên ngoài phòng cùng với cáp của các công ty khác − việc này sẽ giúp giảm sức nóng trong phòng, nhà giao dịch muốn đường cáp của mình chạy thẳng ngang giữa phòng.
Mọi sự chỉ là vấn đề thời gian trước khi các sàn giao dịch phát hiện ra rằng, nếu mọi người sẵn lòng trả hàng trăm ngàn đô-la để chuyển máy tính của mình tới một trung tâm dữ liệu xa tít nào đó chỉ để tới gần sàn giao dịch hơn một chút, thì họ sẽ chịu trả hàng triệu đô-la để được ở ngay trong sàn giao dịch. Ronan theo họ tới tận đó. Anh nảy ra ý tưởng: bán sự gần kề với Phố Wall như một dạng dịch vụ. Gọi nó là “dịch vụ gần kề”. “Chúng tôi cố đăng ký nhãn hiệu thương mại gần kề, nhưng không thể, vì nó chỉ là một từ,” anh nói. Thứ mà anh muốn gọi là gần kề nhanh chóng được gọi là “cùng chia chỗ” và Ronan trở thành chuyên gia tầm cỡ thế giới về chủ đề này. Khi đã hết cách để cắt giảm độ dài cáp, họ bắt đầu tập trung vào các thiết bị ở hai đầu đường cáp. Chẳng hạn, các bộ chuyển đổi dữ liệu. Sự khác biệt giữa bộ chuyển đổi dữ liệu nhanh và bộ chuyển đổi dữ liệu chậm được đo bằng micro giây (một phần triệu của giây), nhưng giờ đây, ngay cả micro giây cũng có ý nghĩa quyết định. “Một tay nói với tôi ‘Vấn đề không phải là tôi chậm hơn một giây hay một micro giây; dù thế nào thì tôi cũng về thứ hai mất rồi.’” Thời gian chuyển đổi giảm từ 150 micro giây xuống còn 1,2 micro giây cho mỗi giao dịch. “Và rồi,” Ronan kể, “họ bắt đầu hỏi, ‘Các anh đang dùng loại sợi thủy tinh nào thế?’” Các sợi cáp quang không được chế tạo đồng đều như nhau; có những sợi truyền tín hiệu ánh sáng hiệu quả hơn những sợi khác. Và Ronan nghĩ: Chưa bao giờ trong lịch sử loài người, người ta lại chịu mất công mất của để tăng thêm chút vận tốc như vậy. “Người ta đang đo lường chiều dài cáp tới điểm tận cùng bên trong các sàn giao dịch. Người ta mua những chiếc máy chủ và sáu tháng sau thì thay mới. Chỉ vì vài micro giây.”
Anh không biết các nhà giao dịch cao tần kiếm được bao nhiêu, nhưng anh có thể ước lượng được con số này từ số tiền mà họ bỏ ra. Từ cuối năm 2005 đến cuối năm 2008, chỉ riêng Radianz đã thu của họ gần 80 triệu đô-la − chỉ để đặt máy tính của họ gần các máy khớp lệnh của sàn giao dịch. Và Radianz gần như không phải là kẻ duy nhất thu tiền của họ. Nhận thấy các tuyến cáp chạy giữa các sàn giao dịch ở New Jersey thường kém hơn nhiều so với điều kiện lý tưởng, Ronan đã thúc giục công ty Cáp Hudson tìm những tuyến thẳng hơn. Cáp Hudson lúc bấy giờ đang rất ăn nên làm ra với việc đào rãnh thi công ở những nơi khiến cả ông trùm Tony Soprano11 cũng phải ngập ngừng. Ronan cũng có thể đoán các nhà giao dịch cao tần kiếm được bao nhiêu qua những rắc rối họ gặp phải khi cố giấu việc họ đã kiếm được tiền bằng cách nào. Một hãng HFT, được anh bố trí cho một chỗ trong sàn giao dịch nọ, đã khăng khăng đòi anh phải bọc chiếc máy chủ máy tính của họ bằng lưới kim loại − để tránh chuyện có một kẻ bất kỳ nào đó nhìn thấy những chiếc đèn nhấp nháy hay những cải tiến trong phần cứng. Một hãng HFT khác thì đòi để thùng máy tính của mình nằm gần nhất với máy khớp lệnh của sàn − bộ mã máy tính mà quả thật lúc đó đã là thị trường chứng khoán. Từng thuộc sở hữu của Toys “R” Us (những chiếc máy tính này có lẽ đã vận hành trang web của cửa hàng đồ chơi), chiếc vỏ máy phủ kín các logo cửa hàng. Hãng HFT này nằng nặc đòi để logo Toys “R” Us vào đúng vị trí sao cho không ai biết được họ đã đẩy vị trí của chúng lại gần máy khớp lệnh thêm vài foot. “Tất cả bọn họ đều bị hoang tưởng,” Ronan nói. “Nhưng họ đúng khi làm thế. Nếu anh biết cách móc túi, và anh lại là kẻ móc túi, thì anh cũng làm vậy thôi. Anh thấy có người tìm được bộ chuyển đổi dữ liệu mới nhanh hơn 3 micro giây, và hai tuần sau, mọi người trong trung tâm dữ liệu đều có bộ chuyển đổi y hệt.”
Tính đến cuối năm 2007, Ronan đã kiếm được hàng trăm nghìn đô-la mỗi năm khi xây dựng hệ thống giúp các giao dịch trên thị trường chứng khoán diễn ra nhanh hơn. Hết lần này đến lần khác anh không khỏi ngạc nhiên khi thấy các nhà giao dịch mà anh hỗ trợ hiểu biết ít ỏi như thế nào về công nghệ mà họ đang sử dụng. “Họ thường nói ‘À há! Tôi thấy rồi − nó nhanh thật!’ Và tôi nói ‘Tôi rất vui khi thấy các anh thích sản phẩm của chúng tôi. Nhưng không thể có chuyện anh nhìn thấy thứ gì được.’ Và họ cãi lại: ‘Tôi thấy nó mà!’ Còn tôi thì trả lời: ‘Có 3 mili giây thôi! Nó nhanh hơn một cái chớp mắt đến 50 lần đấy.’”
Anh cũng nhanh chóng nhận ra chính anh cũng chỉ biết lờ mờ lý do dẫn đến sự thèm khát tốc độ mới mẻ và kỳ lạ này. Anh nghe thấy những cuộc nói chuyện loáng thoáng về nghiệp vụ “buôn chênh giá”, nhưng chính xác thì buôn chênh giá là gì, tại sao cần phải thực hiện nó nhanh đến thế? Anh biết khả năng công nghệ của những người chơi khác nhau. Dễ thấy là hai hãng giao dịch cao tần lớn nhất, Citadel và Getco, là những hãng lanh lẹ nhất. Một số hãng độc quyền cũng thuộc diện lanh lẹ. Các ngân hàng lớn, chí ít là vào lúc đó, đều rất chậm chạp.
Ngoài điều đó ra, anh thật sự không biết nhiều về các khách hàng của mình. Tất cả mọi người đều biết tiếng các ngân hàng lớn như Goldman Sachs, Credit Suisse. Những hãng khác − như Citadel, Getco − nổi tiếng ở quy mô nhỏ. Anh biết vài trong số này là quỹ đầu tư mạo hiểm, tức là họ lấy tiền từ các nhà đầu tư bên ngoài, nhưng hầu hết là các hãng độc quyền, chỉ giao dịch bằng tiền của các nhà sáng lập. Nhiều hãng mà anh làm việc cùng, như Hudson River Trading, Eagle Seven, Simplex Investment, Evolution Financial Technologies, Cooperfund, DRW, là những hãng chưa ai từng nghe nói đến và họ rõ ràng là định giữ kín mình như thế.
Các hãng độc quyền đặc biệt lạ lùng, bởi họ chỉ tồn tại chớp nhoáng nhưng lại rất ăn nên làm ra. “Bọn họ thường chỉ gồm 5 tay ngồi trong một căn phòng. Tất cả đều là dân máy tính lập dị. Thủ lĩnh của mỗi nhóm đó là một mẫu lập dị ngạo mạn.” Hôm nay hãng độc quyền vẫn giao dịch; hôm sau, hãng đã đóng cửa và tất cả mọi người ở đó chuyển sang làm việc cho một ngân hàng lớn nào đó trên Phố Wall. Có một nhóm mà Ronan gặp hết lần này đến lần khác là bốn tay người Nga và một tay người Trung Quốc. Tay người Nga ngạo mạn rõ ràng là đầu lĩnh của cả đám tên là Vladimir. Vladimir và đồng đội của mình nhảy qua nhảy lại giữa hãng độc quyền và ngân hàng lớn, bọn họ viết những đoạn mã máy tính thực hiện các quyết định mua bán trên thị trường chứng khoán. Ronan thấy họ gặp một trong những nhân vật thuộc hàng cấp cao nhất của một ngân hàng lớn trên Phố Wall, vị này hy vọng có thể mời họ về làm việc cho mình − ngoài ra, vị “tai to mặt lớn” của Phố Wall này cũng bợ đỡ họ ra trò. “Ông ta bước vào cuộc họp và nói ‘Tôi luôn là người quan trọng nhất trong phòng, nhưng trong trường hợp này thì Vladimir mới là người đó.’” Ronan biết các nhóm dân máy tính lập dị lưu động kiểu này chẳng cảm thấy gì ngoài sự hợm mình đối với những kẻ kém hiểu biết về kỹ thuật hơn, đang điều hành các doanh nghiệp lớn trên Phố Wall. “Tôi nghe họ nói về một phép tính nào đó mà họ được đề nghị thực hiện và Vladimir cười ha hả và nói, ‘Dân Mỹ gọi cái này là toán cơ đấy.’ Anh ta nói nghe như tón. Dân Mỹ gọi cái này là tón cơ đấy. Lúc đó, tôi nghĩ, Tôi là thằng Ireland thật, nhưng quỷ tha ma bắt các anh chứ. Đất nước này đã mang lại cơ hội cho các anh đấy.”
Đến đầu năm 2008, Ronan dành nhiều thời gian làm việc ở nước ngoài, giúp các nhà giao dịch cao tần khai thác công cuộc Mỹ hóa thị trường chứng khoán ở các nước khác. Có một xu hướng mới nổi lên: những đất nước có thị trường chứng khoán vốn chỉ luôn giao dịch trên một sàn duy nhất như Canada, Australia và Anh, thì giờ đây, dưới danh nghĩa cạnh tranh trên thị trường tự do, sẽ cho phép lập các sàn giao dịch mới. Sàn giao dịch mới này luôn nằm ở đâu đó thật xa sàn giao dịch gốc. Ở Toronto, nó nằm trong một thương xá cũ ở đầu kia của thành phố so với Sàn Giao dịch Chứng khoán Toronto. Ở Úc, nó được đặt bí ẩn ở đâu đó xa khỏi khu tài chính Sydney, ở bên kia cảng Sydney, giữa khu dân cư. Sàn giao dịch chứng khoán cũ của London nằm ở trung tâm London. BATS lập ra một sàn cạnh tranh ở Docklands, NYSE lập ra một sàn cạnh tranh khác ở Basildon, phía ngoài London, còn Chi-X lập ra sàn cạnh tranh thứ ba ở Slough. Mỗi sàn giao dịch mới lại làm nổi lên nhu cầu cần có tuyến đường cao tốc giữa các sàn. “Họ chọn chỗ đặt sàn để phân mảnh thị trường,” Ronan nói.
Ronan vẫn chưa tìm được việc ở Phố Wall, nhưng anh có đủ mọi lý do để hài lòng với bản thân và sự nghiệp của mình. Năm 2007, năm đầu tiên của thời kỳ bùng nổ tốc độ, anh kiếm được 486.000 đô-la, cao hơn gần gấp đôi số tiền anh từng kiếm được. Tuy vậy, anh lại chẳng thấy hài lòng với bản thân hay sự nghiệp của mình. Rõ ràng là anh làm tốt những việc đang làm, nhưng anh không biết tại sao mình lại làm việc đó và anh muốn biết điều đó. Cuối năm 2007, trước thềm năm mới, anh ngồi trong một quán rượu ở Liverpool trong khi bài Let it be đang phát ra đều đều trên radio. Vợ anh tặng anh chuyến đi này như một món quà. Cô bọc quanh quả bóng đá con con một tờ giấy nhắn nói rằng cô đã mua cho anh vé máy bay đi Anh và vé xem trận đấu có đội bóng mà anh yêu thích. “Tôi đang làm những việc mà tôi luôn mơ ước và đó lại là khoảnh khắc chán nản nhất mà tôi từng có trong đời,” Ronan nói. “Tôi 34 tuổi. Tôi nghĩ mọi chuyện sẽ chẳng bao giờ khá hơn. Tôi sẽ là gã Willy Loman12 chết tiệt suốt phần đời còn lại.” Anh cảm thấy mọi thứ thật tầm thường.
Mùa thu năm 2009, đột nhiên Ngân hàng Hoàng gia Canada (Royal Bank of Canada) gọi điện cho anh và mời anh tham gia cuộc phỏng vấn tuyển dụng. Anh thận trọng. Anh gần như chưa bao giờ nghe nói đến RBC, và khi kiểm tra trang web của họ, nó chẳng cho anh biết thêm điều gì. Anh đã mệt mỏi với những nhà giao dịch tự coi mình là quan trọng ở Phố Wall, muốn thuê anh làm công việc chân tay cho họ. “Tôi nói: ‘Tôi không có ý coi thường gì, nhưng nếu các anh gọi để đề nghị tôi một công việc kỹ thuật nào đó, thì tôi không quan tâm đâu.’” Anh chàng ở RBC gọi cho anh chính là Brad Katsuyama đã khẳng định đó không phải là công việc kỹ thuật, mà là công việc tài chính, trên sàn giao dịch.
Ronan gặp Brad vào 7 giờ sáng hôm sau và băn khoăn liệu đó có phải là chiêu trò của Phố Wall khi lôi người ta đến phỏng vấn vào lúc 7 giờ sáng. Brad hỏi anh một loạt câu hỏi và sau đó mời anh quay trở lại gặp các cấp trên của mình. Cuộc gặp mà đối với Ronan có vẻ như là “cuộc tuyển dụng chóng vánh nhất lịch sử Phố Wall,” RBC mời anh làm việc trên sàn giao dịch. Công việc đó có mức lương 125.000 đô-la, bằng khoảng một phần ba số tiền mà Ronan đang kiếm được khi rao bán tốc độ cho các nhà giao dịch cao tần. Chức danh nghe rất kêu: Trưởng phòng Chiến lược Giao dịch Cao tần. Vì cơ hội làm việc trên sàn giao dịch ở Phố Wall, Ronan sẵn sàng chịu mất một khoản thu nhập lớn. “Thực lòng mà nói, tôi sẵn sàng chịu khoản thu nhập ít hơn thế nữa,” anh nói. Tuy vậy, cái chức danh khiến anh lo lắng, bởi như anh nói, “Tôi không biết bất kỳ chiến lược giao dịch cao tần nào.” Anh phấn khích khi cuối cùng cũng tìm được một công việc ở sàn giao dịch Phố Wall đến độ anh không buồn hỏi cho rõ. Chính vợ anh đã đặt câu hỏi đó cho anh. “Cô ấy hỏi tôi: ‘Anh sẽ làm gì cho họ?’ Và tôi nhận ra tôi thật sự chẳng biết cái quái gì. Thành thực là tôi không biết công việc đó là gì, chưa có mô tả công việc nào được đưa ra thảo luận. Anh ta chưa bao giờ nói với tôi anh ta muốn tôi làm gì.”
* * *
Mùa thu năm 2009, có một bài viết trên một tạp chí thương mại đập vào mắt Brad Katsuyama. Tính đến lúc này, anh đã mất hơn nửa năm trời cố gắng tìm một người thật sự làm việc trong ngành hiện đang được gọi là giao dịch cao tần, một người sẵn lòng giải thích cho anh hiểu anh ta kiếm tiền như thế nào, nhưng lần nào cũng thất bại. Bài báo viết, các nhà công nghệ HFT không vui vẻ gì với khoảng cách ngày càng rộng như vực thẳm giữa tiền lương của họ và tiền lương của các chiến lược gia giao dịch cấp cao cùng hãng, theo đồn đoán một số người trong số đó đang bỏ túi hàng trăm triệu đô-la mỗi năm. Anh bắt đầu đi tìm một người trong số những anh chàng làm công nghệ không mấy vui vẻ đó. Cuộc gọi đầu tiên của anh cho một anh chàng thường xuyên phải làm việc với các hãng HFT ở Deutsche Bank13, cuộc gọi này mang lại cho anh hai cái tên. Ronan là cái tên đầu tiên.
Trong cuộc phỏng vấn, Ronan kể cho Brad nghe những gì anh chứng kiến bên trong các sàn: cuộc cạnh tranh điên loạn vì vài nano giây, chiếc thùng Toys “R” Us, chiếc lưới thép, cuộc chiến giành không gian bên trong sàn và hàng chục triệu đô-la được các nhà giao dịch cao tần bỏ ra để tăng tốc độ lên chút xíu. Những lời của Ronan đã lấp đầy những khoảng trống trong tấm bản đồ tâm trí của Brad về thị trường tài chính. “Những gì anh ấy nói cho tôi thấy một điều rằng chúng tôi cần quan tâm đến micro giây và nano giây,” Brad nói. Thị trường chứng khoán Mỹ lúc này là một hệ thống phân lớp giữa người có và kẻ không, và gốc rễ nằm ở tốc độ. Người có thì trả tiền cho vài nano giây; kẻ không có thì chẳng hề hay biết rằng một nano giây lại có giá trị gì. Người có có được cái nhìn hoàn hảo về thị trường; kẻ không có không bao giờ thấy được thị trường. Ở chốn từng có thời là thị trường tài chính dân chủ nhất, đại chúng nhất thế giới, xét ở góc độ tinh thần, nay đã trở thành thứ gì đó giống như góc nhìn riêng tư về một công trình nghệ thuật bị đánh cắp. “Chỉ trong một giờ nói chuyện với anh ấy mà tôi đã biết được nhiều điều hơn sáu tháng trời đọc về HFT,” Brad nói. “Vừa gặp là tôi đã muốn tuyển anh ấy rồi.”
Brad muốn tuyển Ronan mà không thể giải thích được rõ ràng, với các cấp trên, hay ngay cả với Ronan, anh muốn tuyển anh ta về làm gì. Anh không thể gọi anh ta là Phó Giám đốc Phụ trách Giải thích cho Cấp trên Mù tịt của tôi Tại sao Giao dịch Cao tần lại là một Trò hề nhại. Vậy nên anh đành gọi Roman là Trưởng phòng Chiến lược Giao dịch Cao tần. “Tôi cảm thấy anh ấy cần chức danh ‘trưởng phòng’ để mọi người nể trọng hơn,” Brad nói. Đó là mối lo ngại chính của Brad: rằng những người trên sàn giao dịch, ngay cả ở RBC, sẽ đưa mắt nhìn Ronan và thấy ở đó một anh chàng mặc bộ áo liền quần màu vàng, vừa mới trồi lên từ một miệng cống nào đó. Ronan thậm chí còn chẳng thèm vờ như biết chuyện gì diễn ra trên sàn giao dịch. “Anh ấy có những câu hỏi sơ đẳng đến mức khó tin, nhưng những câu hỏi đó lại rất cần thiết,” Brad nói. “Anh ấy không biết ‘đặt mua’ và ‘chào bán’ là gì. Anh ta không biết ‘băng khoảng’ tức là thế nào.”
Brad lẳng lặng kèm cặp Ronan ngôn ngữ giao dịch. “Đặt mua” là ý định mua cổ phiếu, “chào bán” là ý định bán cổ phiếu. Nếu bạn là người bán, băng khoảng tức là chấp nhận giá mà người đặt mua đưa ra; ngược lại trong trường hợp người mua, băng khoảng tức là chấp nhận giá chào bán. “Anh ấy không cười nhạo tôi,” Ronan nói. “Anh ấy ngồi xuống và giải thích.” Đó là thỏa thuận riêng của họ: Brad sẽ dạy cho Ronan về giao dịch và Ronan sẽ dạy cho Brad về công nghệ.
Ngay lập tức, Ronan đã có thứ cần dạy. Brad và đội của mình đang gặp rắc rối khi biến Thor thành một sản phẩm có thể bán cho các nhà đầu tư. Những nhà đầu tư được họ kể cho nghe về phát kiến này rõ ràng rất háo hức muốn mua và sử dụng nó − Gitlin của T. Rowe Price đã tìm cách mua nó ngay lập tức − nhưng lúc này, Thor đang gặp sự cố. Thử nghiệm chạy cùng lúc tới các sàn giao dịch có hiệu quả ở lần đầu tiên. Tuy nhiên, nó cho thấy kỳ tích này khó có thể lặp lại vì rất khó để điều khiển 13 tín hiệu ánh sáng đến 13 sàn giao dịch khác nhau, trải khắp khu vực bắc New Jersey, mỗi tuyến trong vòng 350 micro giây − tức ít hơn khoảng 100 micro giây so với thời gian mà họ tính toán là cần thiết để một nhà giao dịch cao tần nào đó đưa lệnh của mình chạy trước. Lần đầu họ thành công là nhờ ước tính được thời gian chênh lệch khi gửi thông điệp tới các sàn giao dịch khác nhau và tích hợp những khối hoãn tương ứng vào phần mềm của mình. Tuy nhiên, thời gian di chuyển không cố định. Họ không kiểm soát được tuyến đường đi đến sàn giao dịch của tín hiệu, hay lưu lượng truy cập trên toàn mạng lưới. Có lúc chỉ mất 4 mili giây là lệnh cổ phiếu của họ đến được Sàn Giao dịch Chứng khoán New York; nhưng nhiều khi, họ lại mất đến 7 mili giây. Khi thời gian di chuyển khác với dự đoán của họ, thị trường, một lần nữa, lại biến mất.
Nói tóm lại, Thor không ổn định; và theo Ronan là do các tuyến đường mà tín hiệu điện tử từ bàn làm việc của Brad dùng để đi tới các sàn giao dịch khác nhau không ổn định. Ronan có thể thấy các nhà giao dịch này không để tâm nhiều đến quá trình vật lý mà các tín hiệu họ gửi đi thông qua đó để đi tới các sàn giao dịch ở New Jersey. “Tôi nhận ra điều đó rất nhanh,” anh nói, “và họ thường thừa nhận nó, vì vậy tôi chẳng có ý xem thường gì khi nói họ chẳng biết mình đang làm cái quái gì.” Tín hiệu gửi đi từ bàn làm việc của Brad đến được các sàn giao dịch ở New Jersey vào những thời điểm khác nhau bởi một số sàn nằm xa chỗ của Brad hơn những sàn khác. Tốc độ tối đa mà tín hiệu của bất kỳ giao dịch viên cao tốc nào đạt được khi di chuyển từ sàn giao dịch đầu tiên tới sàn giao dịch tiếp theo là 465 micro giây, tức 1/200 thời gian mà ta cần để chớp mắt, nếu ta là kẻ chớp mắt đại tài. Tức là, để các lệnh giao dịch của Brad tương tác được với thị trường như hiển thị trên màn hình giao dịch của anh, chúng cần đến được tất cả các sàn giao dịch trong khoảng 465 micro giây. Cách duy nhất để làm được việc này, như Ronan nói với các đồng nghiệp mới ở RBC, là xây dựng mạng lưới cáp quang riêng và tự quản lý nó.
Để giải thích rõ ý mình, Ronan đã mang đến những tấm bản đồ New Jersey cỡ đại, thể hiện các mạng lưới cáp quang do các công ty viễn thông xây dựng. Trên bản đồ, ta có thể thấy một tín hiệu đi như thế nào từ trạm giao dịch của Brad ở tòa nhà One Liberty Plaza tới các sàn giao dịch. Khi anh mở bản đồ ra, một anh chàng làm trong đội hỗ trợ mạng lưới của RBC rú lên: “Làm thế quái nào mà anh có được những tấm bản đồ này? Chúng là tài sản viễn thông! Là đồ độc quyền!” Ronan giải thích: “Khi bọn họ bảo sẽ không đưa bản đồ cho tôi vì chúng là đồ độc quyền, tôi đã nói: ‘Chà, thế thì chơi xừ độc quyền luôn.’” Các nhà giao dịch cao tần trả cho các công ty cung cấp dịch vụ viễn thông quá nhiều tiền, nên các công ty này không thể từ chối cung cấp cho họ những gì họ muốn và Ronan là tác nhân cho những khao khát của họ. “Những tấm bản đồ này cứ như vàng vậy,” anh nói. “Nhưng tôi đã mang lại cho bọn họ quá nhiều mối làm ăn nên giờ tôi muốn xem gì mà họ chẳng đồng ý.”
Các tấm bản đồ cho thấy: bất kỳ tín hiệu giao dịch nào xuất phát từ khu hạ Manhattan đều đi lên đường cao tốc phía tây và ra khỏi hầm Lincoln. Vắt vẻo ngay phía ngoài hầm, ở Weehawken, New Jersey là Sàn BATS. Từ BATS, các tuyến đường trở nên rối rắm hơn, bởi chúng phải đi qua các cụm ngoại ô New Jersey. “New Jersey bây giờ đã bị phanh như con gà tây trong bữa tiệc Lễ Tạ ơn,” Ronan nói. Theo một trong hai hướng, chúng đi về phía đông tới Secausus, điểm đặt của cả cụm Sàn Direct Edge do Goldman Sachs và Citadel thành lập và đi về phía nam tới cụm Sàn Nasdaq ở Carteret. Sàn Giao dịch Chứng khoán New York khiến câu chuyện thậm chí còn trở nên phức tạp hơn nữa. Đầu năm 2010, NYSE vẫn để các máy chủ máy tính của mình ở khu hạ Manhattan, tại số 55 phố Water. (Nhưng tháng 8 năm đó, họ lại chuyển chúng về khu Mahwah xa xôi của New Jersey). Và khoảng cách từ điểm đặt mới tới bàn làm việc của Brad được rút bớt 2km, nên có vẻ như NYSE là thị trường chứng khoán gần nhất với anh; nhưng bản đồ của Ronan lại cho thấy sự quanh co đến không ngờ của đường cáp quang ở Manhattan. “Để đi từ Liberty Plaza tới số 55 phố Water, ta phải đi qua Brooklyn,” anh giải thích. “Ta phải đi mất 88km từ khu Midtown tới khu thương mại. Để đi từ tòa nhà này tới tòa nhà kia ở bên kia phố, ta có thể phải đi tận 24km.” Từ văn phòng của RBC ở Liberty Plaza tới Sàn Giao dịch Chứng khoán New York chỉ mất 10 phút đi bộ. Thế nhưng ở góc độ máy tính mà nói, sàn New York còn xa văn phòng của RBC hơn cả Carteret.
Đối với Brad, những tấm bản đồ này, cùng với nhiều điều khác, đã giải thích tại sao thị trường trên BATS thường tỏ ra chuẩn xác đến vậy. Lý do họ luôn có thể mua hoặc bán 100% cố phiếu được niêm yết trên BATS là vì BATS luôn là thị trường chứng khoán đầu tiên nhận được lệnh. Tin tức về các phi vụ mua bán của họ không có thời gian để tỏa khắp thị trường. “Tôi nghĩ Chết tiệt, BATS đơn giản là gần chúng ta nhất. Nó nằm ngay bên ngoài đường hầm chết tiệt kia.” Bên trong BATS, các hãng giao dịch cao tần đang chờ đợi tin tức mà họ có thể dùng để giao dịch trên các sàn khác. Họ thu được tin tức bằng cách đặt các lệnh đặt mua và chào bán nhỏ, thường là cho 100 cổ phiếu đối với mọi cổ phiếu niêm yết. Khi lượm được tin có người mua hoặc bán cổ phiếu của Công ty X, họ sẽ chạy trước tới các sàn giao dịch khác và thực hiện giao dịch mua hoặc bán tương ứng. (Cuộc đua mà họ cần chiến thắng không phải là cuộc đua với các nhà đầu tư thường, những người chẳng hay biết về chuyện đang xảy ra với mình, mà là với các nhà giao dịch cao tốc khác). Các lệnh nằm trên sàn BATS thường chỉ là 100 cổ phiếu, mức tối thiểu để đặt lệnh trước bất kỳ hàng giá nào, bởi mục đích duy nhất của họ là câu thông tin từ các nhà đầu tư. Các hãng HFT đặt những lệnh nhỏ như vậy trên BATS không phải vì họ thật sự muốn mua và bán những cổ phiếu này mà vì họ muốn tìm hiểu xem nhà đầu tư muốn mua và bán gì trước khi họ thực hiện. Chẳng có gì ngạc nhiên khi BATS là do các nhà giao dịch cao tần lập ra.
Khôi hài là nhiều điều Ronan nhìn và nghe thấy trước đây rất vô lý với anh: anh không biết mình biết gì. Giờ thì Brad đã giúp anh hiểu rõ hơn. Ví dụ, Ronan để ý thấy các nhà giao dịch HFT tạo ra những bảng thời gian tỉ mẩn, đo lường theo micro giây, cho một lệnh giao dịch chứng khoán đi từ một hãng môi giới nào đó đến từng sàn giao dịch. “Bảng thời gian chờ” − họ gọi chúng như vậy. Có sự khác biệt tinh vi về thời gian này ở mỗi hãng môi giới − chúng phụ thuộc vào vị trí thực tế của hãng môi giới và mạng cáp mà hãng môi giới đó thuê ở New Jersey. Phải rất khó khăn mới lập ra được những bảng này, và chúng có giá trị thấy rõ đối với các nhà giao dịch cao tần, nhưng Ronan không hiểu tại sao. Đây là lần đầu Brad nghe nói đến bảng thời gian chờ, nhưng anh biết chính xác mục đích chúng đươc lập ra: chúng cho phép các nhà giao dịch cao tần xác định hãng môi giới theo thời gian lệnh của nhà môi giới đi từ sàn giao dịch này tới sàn giao dịch khác. Khi tìm ra được nhà môi giới đứng sau một lệnh cụ thể trên thị trường chứng khoán, ta có thể xác định rõ mẫu hành vi của từng nhà môi giới. Nếu biết nhà môi giới nào vừa mới bước vào thị trường với một lệnh mua 1.000 cổ phiếu của IBM, ta có thể dự đoán xa hơn liệu 1.000 cổ phiếu đó có phải là toàn bộ lệnh không, hay chỉ là một phần nhỏ của một lệnh lớn hơn thế nhiều lần. Ta cũng có thể đoán nhà môi giới sẽ phân bố lệnh như thế nào giữa các sàn giao dịch khác nhau và sẵn sàng trả cao hơn giá thị trường hiện thời là bao nhiêu cho cổ phiếu của IBM. Các tay HFT không cần thông tin hoàn hảo để thu lợi dễ dàng; họ chỉ cần làm sai lệch thông tin tùy ý một cách có hệ thống. Nhưng, như Brad nói, “Cuối cùng thì điều mà người ta tìm kiếm là các hãng môi giới lớn, hành xử một cách xuẩn ngốc với lệnh của khách hàng của mình. Đó mới là mỏ vàng thật sự.”
Anh cũng biết rằng các hãng môi giới ở Phố Wall có động cơ mới để hành xử xuẩn ngốc như thế, bởi chính bản thân anh cũng phải chịu thua cám dỗ ấy. Khi Phố Wall quyết định điểm định tuyến cho lệnh mua bán cổ phiếu của khách hàng, họ ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hệ thống trả hoa hồng và tính phí mới của các sàn giao dịch. Nếu một hãng môi giới lớn trên Phố Wall được trả hoa hồng khi gửi lệnh mua 10.000 cổ phiếu của IBM tới BATS, nhưng lại bị tính phí khi gửi cùng lệnh đó tới sàn New York, họ sẽ lập trình để bộ định tuyến gửi lệnh của khách hàng tới BATS. Bộ định tuyến mà con người thiết kế cũng bắt đầu có đời sống riêng.
Cùng với các thuật toán giao dịch, các bộ định tuyến là một thiết bị công nghệ trọng yếu trên thị trường chứng khoán tự động. Cả hai đều do những con người làm việc cho các hãng môi giới Phố Wall thiết kế và xây dựng. Cả hai đều thực hiện quá trình tư duy mà con người từng thực hiện, nhưng nhiệm vụ trí tuệ mà chúng thực hiện lại khác nhau. Thuật toán thực hiện tư duy trước: Nó quyết định nên chia nhỏ một lệnh bất kỳ như thế nào. Giả sử, ta muốn mua 100.000 cổ phiếu của Công ty XYZ với mức giá không vượt quá 25 đô-la một cổ phiếu, khi thị trường cho thấy có tổng cộng 2.000 cổ phiếu đang được chào bán với giá 25 đô-la một cổ phiếu. Việc mua toàn bộ 100.000 cổ phiếu cùng lúc sẽ tạo ra cảnh hỗn loạn trên thị trường và đẩy giá lên cao. Thuật toán sẽ quyết định ta nên mua bao nhiêu cổ phiếu, khi nào thì mua và mua với giá bao nhiêu. Ví dụ, nó có thể ra lệnh cho bộ định tuyến chia lệnh 100.000 cổ phiếu kia thành 20 phần và cứ sau 5 phút thì mua 5.000 cổ phiếu, miễn là mức giá không vượt quá 25 đô-la.
Bộ định tuyến quyết định nên gửi lệnh tới đâu. Chẳng hạn, bộ định tuyến có thể chỉ dẫn lệnh tới mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối trước tiên, trước cả khi tới sàn giao dịch. Hoặc nó có thể dẫn lệnh tới trước nhất là sàn giao dịch nào trả hoa hồng cho nhà môi giới, rồi sau đó mới chuyển sang những sàn giao dịch mà nhà môi giới buộc phải trả phí. (Bộ định tuyến như vậy được gọi là bộ định tuyến tuần tự, có hiệu quả về chi phí). Để minh họa cho bạn thấy hoạt động định tuyến có thể xuẩn ngốc đến thế nào, hãy giả sử bạn thông báo với hãng môi giới ở Phố Wall của mình − người mà bạn đang trả hoa hồng − rằng bạn muốn mua 100.000 cổ phiếu của Công ty XYZ với giá 25 đô-la, và hiện tại, tiện lợi làm sao lại có 100.000 cổ phiếu đang được bán đúng giá 25 đô-la trên 10 sàn giao dịch, mỗi sàn 10.000 cổ phiếu, tất cả đều tính phí khi nhà môi giới giao dịch thay bạn (dù vậy, khoản phí đó thấp hơn nhiều so với số tiền hoa hồng mà bạn trả cho anh ta). Tuy nhiên có 100 cổ phiếu cũng được bán với giá 25 đô-la trên sàn BATS, và khi giao dịch trên sàn này, nhà môi giới sẽ được trả hoa hồng. Bộ định tuyến tuần tự hiệu quả về chi phí sẽ gửi lệnh đến BATS trước tiên và mua 100 cổ phiếu ở đây − đồng thời khiến 100.000 cổ phiếu kia mất hút vào tay các nhà giao dịch cao tần (thêm nữa còn giải vây cho nhà môi giới khỏi trách nhiệm phải trả phí giao dịch). Các nhà giao dịch cao tần sau đó có thể quay lại và bán cổ phiếu của Công ty XYZ với giá cao hơn, hoặc nắm giữ cổ phiếu này một thời gian, trong khi bạn, nhà đầu tư, phải đuổi bắt cổ phiếu của Công ty XYZ với giá còn cao hơn thế. Bất luận là thế nào, kết quả thu được cũng chẳng lợi lộc gì cho khách mua cổ phiếu của Công ty XYZ ban đầu.
Đây là ví dụ rõ ràng nhất về bộ định tuyến ngu xuẩn. Khách hàng (bạn, hoặc ai đó đầu tư thay cho bạn) thường hoàn toàn mù tịt về cơ chế hoạt động bên trong của các thuật toán và các bộ định tuyến: Ngay cả nếu nhà đầu tư đòi biết lệnh của mình được định tuyến như thế nào và nhà môi giới tiết lộ điều đó, nhà đầu tư cũng không bao giờ biết chắc chúng có phải là thật hay không, bởi anh ta không có hồ sơ kê khai chi tiết cổ phiếu nào được giao dịch và khi nào thì chúng được tiến hành giao dịch.
Bộ định tuyến của các hãng môi giới, giống như những tay chơi poker non gan, tất cả đều có kẽ hở để người khác dễ dàng đọc vị. Kẽ hở đó có thể là một sự cố trong hệ thống máy móc, ở người chơi thì đó có thể là một cú giật cơ mặt, nhưng lại có giá trị khôn cùng với các tay HFT ngồi ở phía bên kia bàn.
Sau khi Brad giải thích tất cả những điều này cho Ronan, anh không cần giải thích lại lần nữa. “Tôi lúc đó trông như thể ‘Ôi, chết tiệt, mấy chuyện tôi từng nghe thấy giờ có lý hơn rồi,’” Ronan nói.
Với sự giúp đỡ của Ronan, đội RBC thiết kế mạng lưới cáp quang của riêng mình và biến Thor thành sản phẩm có thể bán cho các nhà đầu tư. Lời chào bán đơn giản đến phi lý: Có một con cá mập mới xuất hiện trên thị trường tài chính. Con cá mập đó hoạt động như thế này, và chúng tôi có thứ vũ khí mà các bạn có thể dùng để tự vệ. Cuộc tranh cãi về việc RBC có nên nhảy vào nằm chung giường với các nhà đầu tư cao tần kết thúc tại đây. Vấn đề mới của Brad là làm sao loan báo những gì mình biết cho giới đầu tư ở Mỹ. Đã thấy mọi người choáng váng như thế nào khi nghe những điều Ronan nói, cũng như họ quan tâm ra sao, và không còn cần Ronan phải thuyết phục các cấp trên rằng có điều gì đó kỳ lạ, mới mẻ đang trỗi dậy, Brad quyết định để Ronan được thoải mái làm việc với các khách hàng thuộc hàng khủng nhất ở Phố Wall. “Brad gọi tôi và nói ‘Sẽ thế nào nếu chúng tôi thôi gọi anh là Trưởng phòng Chiến lược Giao dịch Cao tần và đưa anh lên làm Trưởng phòng Giao dịch Điện tử?’” Ronan kể, lúc đó anh cũng không có chút ý niệm gì về ý nghĩa thực sự của chức danh này. “Tôi gọi cho vợ và bảo ‘Anh nghĩ họ vừa thăng chức cho anh.’”
Vài ngày sau, Ronan cùng đi với Brad đến cuộc gặp đầu tiên của anh trên Phố Wall. “Ngay trước khi cuộc gặp bắt đầu, Brad hỏi ‘Anh sẽ nói gì? Anh đã chuẩn bị gì rồi?’ Tôi chẳng chuẩn bị gì cả, vì thế tôi nói, ‘Tùy cơ ứng biến thôi.’” Giờ thì anh hiểu khá rõ tại sao Brad lại trao cho anh chức danh mới. “Nhiệm vụ của tôi là đi nói với các khách hàng rằng ‘Các vị có hiểu là các vị đang bị xỏ mũi không?’” Nhân vật ngồi ở đầu bên kia của buổi thuyết trình tùy hứng đầu tiên này − chủ tịch của một quỹ đầu tư mạo hiểm có giá trị 9 tỷ đô-la − nhớ lại cuộc gặp như sau: “Tôi biết mình có một vấn đề lên tới ba trăm triệu đô-la với một quỹ đầu tư mạo hiểm 9 tỷ đô-la.” (Tức là, ông biết chi phí không thể giao dịch ở giá thị trường đã niêm yết sẽ làm ông mất 300 triệu đô-la mỗi năm). “Nhưng tôi không biết chính xác vấn đề đó là gì. Khi anh ta nói, tôi tự nhủ với mình, RBC thậm chí cũng chẳng biết mình đang làm gì. Và mấy tay này là ai? Chẳng phải nhà giao dịch, cũng chẳng phải nhân viên bán hàng, cũng không phải là chuyên gia chứng khoán. Vậy bọn họ là ai? Và rồi bọn họ nói bọn họ có giải pháp cho các vấn đề của thế giới này. Và ta như thể: ‘Gì kia? Làm thế quái nào mà tôi có thể tin các anh được?’ Và rồi họ giải thích toàn bộ vấn đề mà tôi gặp phải.” Brad cùng Ronan nói cho giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm kia tất cả những gì họ biết. Họ giải thích, một cách ngắn gọn, giá trị thông tin của tất cả những việc Brad cùng Ronan nói cho giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm kia tất cả những gì họ biết. Nói ngắn gọn, họ giải thích giá trị thông tin của mọi việc mà ông làm với số tiền của mình đã bị các hãng môi giới và sàn chứng khoán đem ra cho những hãng giao dịch cao tần đấu giá như thế nào, để những kẻ này có thể trục lợi từ ông. Đó là lý do vì sao ông có một vấn đề 300 triệu đô-la ở một quỹ 9 tỷ đô-la.
Sau khi Brad và Ronan ra về, vị giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm lớn kia, người trước đó chưa bao giờ mảy may suy nghĩ mình là con mồi, xem xét lại thị trường tài chính. Ông ngồi ở bàn làm việc theo dõi cả màn hình tài khoản môi giới cá nhân trực tuyến lẫn màn hình của chiếc máy tính Bloomberg mà ông phải thuê 1.800 đô-la một tháng. Ở tài khoản môi giới riêng, ông đặt lệnh mua một quỹ hoán đổi danh mục (ETF14) được hợp thành từ các công ty xây dựng Trung Quốc. Trong suốt vài giờ, ông theo dõi giá của quỹ này trên máy tính Bloomberg. Khi đó đang là nửa đêm ở Trung Quốc, chẳng có gì xảy ra, giá ETF im lìm không nhúc nhích. Sau đó, ông nhấn nút mua trên màn hình tài khoản môi giới trực tuyến, và giá trên màn hình Bloomberg tăng vọt. Hầu hết những người dùng tài khoản môi giới trực tuyến không có máy tính Bloomberg, chiếc máy tính này cho phép họ theo dõi thị trường ở mức độ gần với những gì đang diễn ra trong thời gian thực. Hầu hết các nhà đầu tư không bao giờ hay biết chuyện gì sẽ xảy ra trên thị trường sau khi họ nhấn nút Mua. “Tôi thậm chí còn chưa nhấn nút thực hiện lệnh,” vị giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm nói. “Tôi chẳng làm gì khác ngoài việc nhập vào một biểu tượng và số lượng mua. Thế mà thị trường đã vọt lên. Rồi sau khi mua quỹ ETF kia với mức giá cao hơn mức giá được niêm yết ban đầu, vị giám đốc của quỹ đầu tư mạo hiểm nhận được thư xác nhận thông báo, giao dịch đã được các sàn con của Citadel, một trong những hãng giao dịch cao tần lớn nhất, tiến hành. “Thế là tôi thắc mắc, Tại sao nhà môi giới trực tuyến lại gửi giao dịch của tôi cho Citadel?”
Brad đã quan sát và động viên nhiều người làm nên sự nghiệp ở Phố Wall, nhưng đúng như anh nói, “Tôi chưa bao giờ thấy ngôi sao nào trỗi lên nhanh như Ronan. Anh ta đã cất cánh một mạch khỏi bệ phóng.” Về phần mình, Ronan không thể tin được những người trên Phố Wall lại tầm thường đến thế nào. “Cả một ngành vớ vẩn,” anh nói. Điều đầu tiên làm Ronan kinh ngạc ở nhiều nhà đầu tư lớn mà anh gặp là sự bất an nơi họ. “Mọi người trong ngành này không muốn thừa nhận rằng họ không biết điều gì đó,” anh nói. “Gần như họ chẳng bao giờ nói: ‘Không, tôi không biết. Nói cho tôi nghe đi.’ Tôi thường nói: ‘Các vị có biết cùng chia chỗ là gì không?’ Và họ sẽ nói: ‘Ồ, tôi biết chứ.’ Rồi tôi nói: ‘Các vị biết đấy, hiện các hãng HFT đang đặt máy chủ của họ trong cùng một tòa nhà với sàn giao dịch, gần hết sức có thể với máy khớp lệnh của sàn, để họ biết được dữ liệu thị trường trước tất cả những người khác.’ Và mọi người có thái độ kiểu như: ‘Cái quái gì thế??!! Thế là trái luật!’ Chúng tôi đã đi gặp hàng trăm người. Và chẳng một ai biết về nó.” Anh cũng ngạc nhiên khi biết họ bám dính như thế nào vào các ngân hàng lớn Phố Wall, ngay cả khi những ngân hàng này làm họ thất vọng. “Ở các hãng HFT chẳng có cái gọi là lòng trung thành,” anh nói. Hết lần này đến lần khác các nhà đầu tư sẽ cho Ronan và Brad biết họ nổi điên như thế nào khi các hãng lớn xử lý giao dịch của họ trên Phố Wall không bảo vệ được họ trước con cá mập mới, Thế nhưng, họ chỉ sẵn lòng để RBC thực hiện một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ giao dịch của mình. “Đối với tôi đó là điều khó hiểu nhất về Phố Wall,” Ronan nói. “’Đợi chút, các vị đang nói với tôi rằng các vị không thể trả tiền cho chúng tôi bởi các vị cần phải trả cho tất cả những kẻ đang cố chơi xỏ các vị ư?’”
Có thể vì Ronan không giống như người ở Phố Wall, nên anh được phú cho khả năng tiếp cận đặc biệt, và có thể thâm nhập vào đầu óc của những nhân vật Phố Wall mà anh nói chuyện cùng. “Sau cuộc gặp đầu tiên, tôi nói với anh ta, thật hoài công nếu cả hai ta cùng tham gia một cuộc gặp,” Brad nói. “Chúng ta cần chia ra và đi chinh chiến.”
Cuối năm 2010, Brad cùng Ronan đã gặp gỡ khoảng 500 nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, trong số này có nhiều người quản lý khối lượng tài sản có giá trị lên đến hàng nghìn tỷ đô-la. Họ chưa bao giờ làm PowerPoint cho bài thuyết trình; họ cũng chưa bao giờ làm bất cứ điều gì chính thức ngoài việc ngồi xuống và nói với mọi người tất cả những gì họ biết bằng thứ tiếng Anh đơn giản. Brad nhanh chóng nhận ra rằng phần đông các nhà đầu tư tinh vi nhất không biết chuyện gì đang diễn ra trên thị trường của mình. Các quỹ tương hỗ lớn, như Fidelity và Vanguard không. Các doanh nghiệp quản lý những khối tài sản kếch xù như T. Rowe Price và Janus Capital không. Kể cả những quỹ đầu tư mạo hiểm tinh vi nhất cũng không nốt. Chẳng hạn, nhà đầu tư huyền thoại, David Einhorn đã choáng váng; Dan Loeb, một nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm, nức tiếng khác cũng vậy. Bill Ackman là nhà điều hành một quỹ đầu tư mạo hiểm nổi tiếng, quỹ Pershing Square, quỹ này thường đặt mua cho những nhóm lớn, gồm nhiều công ty. Trong suốt hai năm, trước khi Brad xuất hiện ở văn phòng ông để giải thích cho ông nghe chuyện gì đang diễn ra, Ackman đã bắt đầu ngờ rằng mọi người đang sử dụng thông tin về các giao dịch của ông để chạy trước ông. “Lần nào tôi cũng cảm thấy có sự rò rỉ,” Ackman nói. “Tôi nghĩ có thể đó là một hãng môi giới chủ chốt. Đó không phải là kiểu rò rỉ mà tôi nghĩ.” Một anh chàng bán hàng mà Brad tuyển về cho RBC từ Merrill Lynch để giúp anh tiếp thị Thor nhớ có một nhà đầu tư lớn đã gọi điện đến và nói: “Tôi cứ tưởng tôi biết mình làm gì để kiếm sống, nhưng rõ ràng là tôi không biết, vì tôi chẳng biết chuyện này đang diễn ra.”
Sau đó là cú sụp chớp nhoáng. Vào lúc 2 giờ 45 phút ngày 6 tháng 5 năm 2010, chẳng vì một lý do rõ ràng nào, chỉ trong vài phút thị trường tụt mất 600 điểm. Và phút sau, giống như một gã say cố vờ như không phải mình vừa va đúng vào bể cá và làm con cá vàng cưng mà mình nuôi trong đó chết ngắc, thị trường bật trở lại vị trí cũ. Nếu không theo dõi sát sao, có thể bạn đã bỏ lỡ toàn bộ sự kiện này − tất nhiên là trừ khi bạn đã đặt lệnh trên thị trường để mua hoặc bán những cổ phiếu nhất định. Chẳng hạn, cổ phiếu của Procter & Gamble đã được giao dịch với mức giá thấp như một cổ phiếu giá rẻ và vọt lên tới 100.000 đô-la. Có 20.000 giao dịch đã diễn ra tại mức giá sụt giảm hơn 60% giá trị so với mức giá của vài phút trước đó. Năm tháng sau, SEC công bố một báo cáo đổ lỗi toàn bộ thất bại này cho đúng một lệnh bán các hợp đồng kỳ hạn lớn trên thị trường chứng khoán mà một quỹ tương hỗ không tên tuổi nào đó ở Kansas đã đặt nhầm trên một sàn giao dịch ở Chicago.
Lời giải thích này chỉ ngẫu nhiên mà đúng, vì các nhà làm luật cho thị trường chứng khoán không nắm trong tay những thông tin cần thiết để hiểu thị trường. Đơn vị giao dịch hiện tại là micro giây, nhưng bản ghi của các sàn giao dịch lại được tính bằng giây. Và trong một giây thì có cả triệu micro giây. Mọi chuyện cứ như thể hồi những năm 1920, dữ liệu duy nhất sẵn có trên thị trường chứng khoán là dữ liệu tổng hợp thô từ mọi giao dịch được thực hiện trong cả thập niên đó. Ta có thể thấy rằng ở một thời điểm trong giai đoạn này, thị trường chứng khoán đã sụp một cú. Ta có thể chẳng nhìn thấy gì về những sự kiện đã diễn ra đúng và xung quanh ngày 29 tháng 10 năm 1929. Điều đầu tiên mà Brad để ý thấy khi anh đọc báo cáo của SEC về cú sụp chớp nhoáng là ý thức về thời gian của Ủy ban đã lỗi thời. “Tôi đi tìm từ ‘phút’ trong báo cáo đó,” Brad kể. “Tôi tìm được 87 từ. Sau đó tôi tìm từ ‘giây’ và thấy có 63 từ. Có 4 từ ‘mili giây’ và chẳng từ nào trong đó thật sự liên quan. Thậm chí, tôi còn chẳng tìm được từ ‘micro giây’ nào.” Anh đọc báo cáo đó một lần và không bao giờ ngó lại lần nữa. “Một khi ta đã cảm nhận được tốc độ diễn ra của mọi thứ, ta sẽ nhận ra những lời giải thích rằng có ai đó nhấn nút là không đúng,” anh nói. “Ta sẽ muốn nhìn thấy một phiếu có dấu thời gian ghi lại mọi giao dịch. Để xem chuyện gì diễn ra sau chuyện gì. Nó không chỉ không tồn tại, mà nó còn không thể tồn tại, theo kiểu định hình hiện tại.”
Không ai có thể nói chắc cái gì đã gây ra cú sụp chớp nhoáng kia − vì lý do tương tự như việc chẳng ai có thể chứng minh được rằng các nhà giao dịch cao tần đang chạy trước lệnh của các nhà đầu tư thường. Dữ liệu đó không tồn tại. Tuy vậy, Brad cảm thấy cộng đồng đầu tư không tin lời giải thích của SEC và sự bảo đảm của các sàn chứng khoán rằng mọi sự trong sàn đều ổn. Nhiều người trong số họ hỏi đúng câu hỏi mà anh đã đặt ra cho mình: Không phải là còn có câu hỏi sâu xa hơn nhiều rằng làm thế nào mà một khối cầu tuyết này lại gây ra trận bão tuyết chết người hay sao? Anh đã theo dõi phản ứng của những nhà đầu tư tinh vi nhất sau khi Duncan Niederauer, CEO của Sàn Giao dịch Chứng khoán New York, bắt đầu thực hiện hành trình thiện ý, với mục đích dường như là để giải thích tại sao Sàn chẳng làm gì khi cú sụp chớp nhoáng diễn ra. “Đó là khi lúc tôi ngộ ra,” Danny Moses, của Seawolf Capital, một quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên đầu tư trên thị trường chứng khoán, nói. Anh đã nghe bài chào hàng của Brad và Ronan. “Niederauer nói: ‘Này, này, các vị phải có niềm tin vào chúng tôi chứ. Không phải tại chúng tôi.’ Đợi một phút: Tôi chưa bao giờ nghĩ là tại các vị. Tại sao tôi phải lo việc đó là tại các vị? Chuyện nghe cứ như thể bọn trẻ nhà chúng ta bước vào nhà và nói ‘Bố, con không làm trầy xe bố đâu.’ Đợi đã, có vết trầy trên xe tôi sao?”
Sau cú sụp chớp nhoáng, Brad không còn phải bận tâm đến việc gọi điện cho các nhà đầu tư để lên lịch gặp nữa. Điện thoại của anh reo như muốn cháy đường dây. “Điều mà cú sụp chớp nhoáng đã làm,” Brad nói, “là nó khơi dậy nơi người mua thái độ sẵn lòng tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra. Sếp của bọn họ đã bắt đầu đặt câu hỏi. Thế có nghĩa là việc chúng tôi nói lên sự thật và giải thích cho họ hiểu chuyện đó là hết sức trùng khớp.”
Một vài tháng sau, tháng 9 năm 2010, một biến cố thị trường kỳ lạ khác, dù ít được biết đến hơn, lại xảy ra, lần này là ở khu vực ngoại ô Chicago. Một sàn chứng khoán có tên là CBSX, vốn chỉ thực hiện một tỷ lệ giao dịch cực nhỏ so với tổng khối lượng giao dịch của thị trường chứng khoán, tuyên bố sẽ đảo ngược hệ thống tính phí và trả hoa hồng thông thường. Giờ đây, sàn này sẽ hoa hồng cho những người “nhận” thanh khoản và tính phí những người “tạo” thanh khoản. Một lần nữa, chuyện này khiến Brad kinh ngạc vì sự kỳ quái của nó: Ai sẽ quyết định giá thị trường trên các sàn nếu họ phải bỏ tiền để làm việc đó? Nhưng rồi CBSX bùng nổ hoạt động. Chẳng hạn, trong vài tuần tiếp đó, sàn này đã xử lý một phần ba tổng khối lượng cổ phiếu được giao dịch của Sirius, một hãng phát thanh vệ tinh. Brad biết cổ phiếu Sirius là lựa chọn yêu thích của các hãng HFT − nhưng anh không hiểu tại sao nó lại đột nhiên được giao dịch với khối lượng lớn ở Chicago. Rõ ràng là khi thấy mình có thể được trả hoa hồng khi “theo giá” thị trường trên sàn CBSX, tất cả các nhà môi giới lớn trên Phố Wall đã đáp lại bằng cách lập trình lại bộ định tuyến để lệnh của khách hàng được gửi tới CBSX. Nhưng ai là người đứng ở đầu kia của giao dịch, đang bỏ ra nhiều tiền hơn con số từng được trả cho đặc quyền này?
Đó là khi Ronan nói với Brad về một công ty mới tên là Spread Networks. Spread Networks hóa ra đã từng cố mời Ronan về bán đường truyền vàng của mình cho các nhà giao dịch cao tần. Họ đã đưa Ronan đi xem dự án chạy ngầm lạ lùng và các kế hoạch kinh doanh của mình. “Tôi bảo bọn họ, bọn họ điên hết rồi,” Ronan nói. “Họ nói họ sẽ bán thứ đó cho 200 khách hàng. Tôi đưa ra danh sách 28 hãng có thể sẽ mua đường truyền. Ngoài ra, họ tính phí 10,6 triệu đô-la trả trước cho 5 năm dịch vụ và họ muốn trả cho tôi 12.000 đô-la cho mỗi công ty mà tôi bán được đường truyền. Như thế là sỉ nhục nhau.”
Ronan kể lại trải nghiệm chẳng mấy dễ chịu này với Brad và Brad, bật ra một cách tự nhiên: “Và giờ anh mới kể cho tôi nghe chuyện này á?” Ronan giải thích, trước đây anh không thể nhắc đến Spread bởi anh đã ký với công ty này một thỏa thuận không tiết lộ thông tin. Thỏa thuận này hết hạn vào ngày hôm đó, thế nên giờ anh mới có thể thoải mái tiết lộ không chỉ những việc mà Spread đã làm, mà còn cả việc họ làm thế vì ai: không chỉ là các hãng HFT như Knight và Citadel, mà còn cả các ngân hàng lớn trên Phố Wall − như Morgan Stanley, Goldman Sachs và các ngân hàng khác. “Ta không thể chứng minh được mấy tay này đang làm một vụ ra trò, vì họ rất thận trọng khi nói về số tiền mình kiếm được,” Brad nói. “Nhưng ta có thể thấy vụ này lớn đến thế nào khi nhìn vào số tiền đã được bỏ ra. Và bây giờ, cả các ngân hàng cũng liên can. Tôi đã nghĩ, ‘Chết tiệt, đây không đơn giản là mấy hãng HFT. Nó rộng khắp toàn ngành. Nó có cả một hệ thống.’”
Ronan giải thích cho những gì xảy ra trên sàn CBSX: Spread Networks mới bật công tắc và bắt đầu bắt tay vào hành động hai tuần trước đó. Rồi CBSX đảo chính sách giá. Bằng việc đảo chính sách giá − trả hoa hồng cho các hãng môi giới tiến hành những giao dịch mà bình thường họ sẽ bị tính phí, sàn đã dụ được các hãng này gửi lệnh của khách hàng tới CBSX và thế là các nhà giao dịch cao tần có thể dùng Spread Networks chạy trước tới New Jersey. Thông tin mà các nhà giao dịch cao tần lượm lặt được từ giao dịch với các nhà đầu tư ở Chicago có thể được dùng trên các thị trường ở New Jersey. Giờ thì việc trả phí cho CBSX để “quyết định” thanh khoản trở nên rất đáng. Đây cũng chính là trò mà họ đã chơi ở BATS, dụ các hãng môi giới tiết lộ ý định của khách hàng để có thể trục lợi từ những khách hàng đó ở nơi khác. Tuy nhiên, cuộc đua nắm lệnh của khách hàng từ Weehawken tới các điểm khác ở New Jersey khó mà so sánh được với cuộc đua nắm lệnh từ Chicago trên đường truyền mới của Spread.
Spread là một miếng ghép khác của thứ mà lúc này đang trở thành một bức tranh ghép hình phức tạp đến điên đầu. Đội ngũ mà Brad tập hợp ở RBC không có tất cả các miếng ghép cho trò ghép hình này − đúng hơn là chưa có − nhưng họ có nhiều miếng ghép hơn bất kỳ ai khác sẵn lòng trao đổi công khai về chủ đề này. Phản ứng của các nhà đầu tư đối với những gì họ biết đơn giản được coi như là những miếng ghép bổ sung thêm cho bức tranh. Thỉnh thoảng − có lẽ là 5% thời gian − Brad hoặc Ronan đã gặp phải một nhà đầu tư nào đó không quan tâm đến bức tranh ghép hình, một người không muốn nghe câu chuyện của họ. Bất cứ khi nào trở về từ một cuộc gặp như vậy, Brad sẽ phát hiện ra rằng anh vừa nói chuyện với một người sống dựa, không cách này thì cách khác, vào tiền thu được từ các nhà giao dịch cao tần. Nhiều lúc − có lẽ là 5% thời gian khác − họ lại gặp một nhà đầu tư hoàn toàn rơi vào trạng thái hoảng loạn. “Họ biết quá ít, và từ trong chính doanh nghiệp của mình, họ sợ đến nỗi mong rằng chẳng thà cuộc gặp này chưa bao giờ diễn ra thì hơn,” Brad kể. Nhưng phần lớn hàng trăm nhà đầu tư thành công mà Brad và Ronan nói chuyện có phản ứng hệt như Mike Gitlin của T. Rowe Price: họ biết có chuyện gì đó không ổn, nhưng họ không biết đó là gì, và giờ vì đã biết, nên họ nổi điên. “Brad là một nhà môi giới trung thực,” Gitlin nói. “Tôi không biết có bao nhiêu người biết điều đó, nhưng anh ta là anh chàng duy nhất nói chuyện đó. Anh ta đang gửi đi thông điệp ‘Tôi ở đây và tôi đang theo dõi nó, chúng tôi sẽ trở thành đối trọng của nó và toàn bộ chuyện này là trò lừa đảo.’ Anh ta chỉ ra những tay chơi xấu, trong ngành này có nhiều người sợ làm việc đó. Anh ta gửi đi thông điệp: ‘Chuyện này thật không chấp nhận được.’” Vincent Daniel, giám đốc chiến lược ở Seawolf, nói về điều này theo một cách khác. Anh nhìn chằm chằm thật lâu vào cặp đôi ít ai có thể tưởng tượng ra được này − một anh chàng người Canada gốc Á đang làm ở một ngân hàng chẳng ai thèm quan tâm, và một anh chàng người Ireland trông không khác gì một tay thợ sửa chữa lặt vặt ở Dublin − những người vừa mới kể cho anh nghe câu chuyện khó tin nhất mà anh từng nghe và nói: “Lợi thế cạnh tranh lớn nhất của các anh là các anh không muốn chơi tôi thôi đấy.”
Lòng tin trên Phố Wall là thứ vẫn có thể tồn tại. Các nhà đầu tư lớn tin tưởng Brad bắt đầu chia sẻ bất kỳ thông tin nào mà họ có được từ các nhà môi giới khác của mình − những thông tin mà trước đó Brad chẳng bao giờ được chủ ý cho biết. Chẳng hạn, một số đòi các nhà môi giới cho mình trên Phố Wall phải cho biết có bao nhiêu phần trăm giao dịch mà nhà môi giới đó thực hiện thay cho họ được thực hiện trong mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của nhà môi giới. Các mạng lưới giao dịch trong bóng tối này chứa những động cơ tài chính u tối nhất của thị trường chứng khoán mới nổi. Goldman Sachs và Credit Suisse là hai ông lớn đang điều hành những mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối nức tiếng nhất. Tuy vậy, tất cả các hãng môi giới đều nhiệt thành khuyến khích những nhà đầu tư muốn mua hoặc bán trong mạng lưới giao dịch trong bóng tối của mình. Trên lý thuyết, các hãng môi giới sẽ phải đi tìm giá tốt nhất cho khách hàng của mình. Nếu khách hàng muốn mua cổ phiếu của Chevron, và giá tốt nhất cho cổ phiếu này tình cờ lại nằm trên sàn New York, nhà môi giới sẽ không cột dính khách hàng với mức giá kém hấp dẫn hơn trong mạng lưới giao dịch trong bóng tối của mình. Song, các mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối thì lại mờ ám. Các quy tắc của chúng không được công bố công khai. Không một người ngoài cuộc nào có thể thấy được những gì đang diễn ra bên trong chúng. Hoàn toàn có thể xảy ra việc chính các nhà giao dịch của hãng môi giới thực hiện những giao dịch bất lợi cho khách hàng trong mạng lưới khối lượng lớn trong bóng tối: chẳng có quy định nào cấm cản việc đó. Và mặc dù các hãng môi giới thường phản đối bằng lý lẽ rằng không có xung đột lợi ích nào trong các mạng lưới này của mình, song mọi mạng lưới kiểu này đều biểu hiện cùng một đặc tính kỳ lạ: có một tỷ lệ phần trăm rất lớn lệnh của khách hàng gửi vào mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối được thực hiện trong mạng lưới. Brad biết điều này vì nhiều nhà đầu tư tầm cỡ thế giới trên thị trường chứng khoán đã chia sẻ thông tin này với anh – để nhờ đó anh có thể giúp họ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra.
Thật khó mà giải thích. Một nhà môi giới được kỳ vọng đi tìm giá tốt nhất có thể trên thị trường cho khách hàng của mình. Chẳng hạn, mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối của Goldman Sachs có giá trị thấp hơn 2% so với toàn bộ thị trường chứng khoán. Vậy thì tại sao có đến gần 50% lệnh của khách hàng được định tuyến vào mạng lưới giao dịch trong bóng tối của Goldman cuối cùng lại được tiến hành trong chính mạng lưới này, chứ không phải ở thị trường rộng lớn hơn bên ngoài? Hầu hết mạng lưới kiểu này của các nhà môi giới cấu thành chưa đến 1% toàn bộ thị trường, nhưng bằng cách nào đó 15%-60% thời gian các nhà môi giới tìm thấy mức giá tốt nhất cho khách hàng của mình là ở đây. (Có sự khác biệt về tỷ lệ được gọi là nội bộ hóa này giữa các hãng môi giới). Và bởi mạng lưới giao dịch chứng khoán khối lượng lớn trong bóng tối không bị buộc phải nói chính xác khi nào thì mình tiến hành một giao dịch và hãng môi giới thường không nói cho nhà đầu tư biết mình tiến hành một giao dịch ở đâu, chứ đừng nói đến các điều kiện thị trường tại thời điểm tiến hành giao dịch, nên khách hàng luôn sống trong bóng tối. Ngay cả những nhà đầu tư lớn như T. Rowe Price cũng phải giữ lấy niềm tin rằng Goldman Sachs hoặc Merrill Lynch hành động vì lợi ích của mình, dù họ có những động cơ tài chính rõ ràng để làm khác đi. Như Mike Gitlin đã nói, “Thật khó chứng minh một hãng môi giới nào đó đang định tuyến giao dịch tới nơi nào đó khác thay vì nơi có lợi nhất cho ta. Ta không thể thấy việc mà các hãng môi giới đang làm.” Nếu một nhà đầu tư lớn như T. Rowe Price, một tổ chức đại diện cho hàng triệu nhà đầu tư nhỏ, không thể lấy được từ các hãng môi giới cổ phiếu những thông tin cần thiết để xác định xem hãng môi giới đó có hành động vì lợi ích của mình không, thì cơ hội cho anh chàng nhỏ thó này làm được chuyện đó là bao nhiêu?
Trong môi trường như vậy, tác động của việc cố gắng giúp các nhà đầu tư thấy chuyện gì đang xảy ra với túi tiền của mình mang ý nghĩa cách mạng. RBC chưa bao giờ là gì khác ngoài vị thế người chơi xoàng nhất thị trường chứng khoán Mỹ. Cuối năm 2010, Brad xem một báo cáo của Greenwich Associates, hãng này được các ngân hàng trên Phố Wall sử dụng để đánh giá vị thế của mình so với các bạn cùng chơi. Greenwich Associates phỏng vấn các nhà đầu tư sử dụng dịch vụ của Phố Wall bí mật báo cáo lại những kết quả tìm được cho các hãng. Năm 2009, RBC, với thứ hạng 19, ở tận đáy bảng xếp hạng thị trường chứng khoán của Greenwich Associates. Cuối năm 2010, chỉ sau 6 tháng triển khai Thor, RBC đã vươn lên vị trí số 1. Greenwich Associates gọi cho RBC để hỏi xem chuyện gì đang diễn ra Họ nói, trong lịch sử xếp hạng của mình, họ chưa bao giờ thấy một hãng nhảy được quá 3 bậc.
Cùng lúc đó, phong trào ra đời từ sự thất vọng của Brad Katsuyama đối với Phố Wall bắt đầu giống như một đại nghiệp cao cả, hơn là một hoạt động kinh doanh. Brad không phải là người quyết liệt. Như anh nói, “có sự khác biệt giữa việc chọn dấy lên một cuộc thánh chiến và để nó tự lao vào lôi ta đi.” Anh chưa bao giờ thật sự suy nghĩ nhiều về việc anh phù hợp như thế nào với bức tranh lớn hơn và chắc chắn chưa bao giờ coi mình là một nhân vật đứng trên vũ đài. Anh chưa bao giờ tranh cử vào hội sinh viên hay làm bất cứ việc gì liên quan đến chính trị. “Đối với tôi dường như những việc mà ta cần làm để tác động đến thay đổi luôn liên quan đến cái bắt tay xã giao,” anh nói. “Nó thật giả tạo.” Nhưng chuyện này không gây ra cảm giác ấy. Nó mang lại cảm giác như một tình huống trong đó một người, thông qua những hành động tức thời của mình, có thể thay đổi thế giới. Sau cùng, anh giảng giải cho các nhà quản lý tài chính lớn nhất thế giới về cơ chế hoạt động bên trong của thị trường chứng khoán, một việc khiến anh thấy rõ là không có ai khác ở Phố Wall sẵn lòng chỉ cho họ biết số tiền đầu tư của họ có thể bị lạm dụng ra sao. Khi càng hiểu về cơ chế hoạt động bên trong của hệ thống tài chính bao nhiêu, anh càng có thông tin hữu hiệu hơn cho các nhà đầu tư, lớn cũng như nhỏ, những người đang bị hệ thống đó bóc lột bấy nhiêu. Và họ càng có thể gây thêm áp lực để buộc hệ thống này phải thay đổi.
Vấn đề sâu xa với hệ thống này là một kiểu sức ì đạo đức. Miễn là nó vẫn còn phục vụ cho kiểu tư lợi hẹp hòi của những người ở bên trong, sẽ không ai ở đó tìm cách thay đổi nó, bất kể nó sẽ trở nên bại hoại và nguy hại đến chừng nào − dù vậy, ngay cả việc sử dụng những từ như “bại hoại” và “nguy hại” cũng khiến những người nghiêm túc thấy không thoải mái, thế nên Brad thường tránh dùng chúng. Có lẽ mối lo ngại lớn nhất của anh, khi nói chuyện với các nhà đầu tư, là anh sẽ bị coi như một tay gàn dở khác đang ủ trong đầu một thuyết âm mưu. Một trong những lời khen tặng khiến anh vui nhất là khi một nhà đầu tư lớn nói “Ơn trời, cuối cùng cũng có ai đó biết về giao dịch cao tần, mà lại không phải là người ở khu vực 51 (Area 5115).” Vì không phải là người quyết liệt, nên phải mất một thời gian anh mới phát hiện ra số phận và hoàn cảnh đã tạo cho anh một vai kịch tính mà anh có trách nhiệm phải tham gia. Một tối, anh thật tình đã quay sang Ashley, vợ anh và nói “Anh có cảm giác như mình là chuyên gia về thứ gì đó đang cần được thay đổi. Anh nghĩ là chỉ có vài người trên thế giới có thể làm gì đó để giải quyết nó. Nếu anh không làm bây giờ − anh, Brad Katsuyama ấy − sẽ chẳng có ai đứng lên làm việc đó.”

