Cuối Trời Lửa Đạn - Chương 3
LỐI NHỎ MÙA THU
"Lối vô nhà ông Sáu Quân đi đằng nào chú?
Tôi hỏi một đại uý bộ đội đứng bên sạp báo. Anh mỉm cười gật đầu lễ phép, có lẽ tại tướng tá tôi bệ vệ quá, dù chỉ là một giáo chức về hưu.
- Bác Hai hỏi ông Sáu nào ạ?
- Sáu Quân! Huyện đội trưởng cũ mà chú.
- Cháu ở huyện đội nè! Hồi nào tới giờ có nghe nói ai tên Sáu Quân đâu.
Kỳ vậy ta? Cha Sáu Quân một thời khét tiếng ở huyện biên giới những năm 1975 - 1978, vậy mà không ai biết là sao? Mấy cha bên Hội cựu chiến binh quan liêu quá, giới thiệu người ta đi viết truyền thống giùm mà cho địa chỉ lãng nhách. “Anh cứ ghé ấp Bờ Sông, hỏi nhà Sáu Quân là người ta chỉ liền”. Giờ thì tôi kiếm nát đất từ sáng tới trưa đứng bóng mà không thấy Sáu Quân, Sáu Tướng nào hết. Khát nước, tôi ghé uống nước dừa trong quán nhỏ bên đường, bà già chủ quán hỏi tôi: - Bộ chú kiếm ai hả? Sáng giờ thấy quầng quầng tới, lui hoài.
- Tôi kiếm nhà Sáu Quân, Huyện đội trưởng cũ mà hổng ai biết hết trơn. Anh em bên huyện đội cũng nói hông biết.
- Ôi! Từ ba bốn chục năm trước làm sao nhớ cho xuể. Chú thử ghé nhà ông Năm Thu kế bờ sông, hỏi coi ổng biết hông. Ông nầy cũng sĩ quan quân đội về hưu mà. Hồi giáp Tết, có một xe chở mấy ông tướng từ Hà Nội vô thăm ổng đó.
Một phụ nữ chừng sáu mươi tuổi ra mở cổng cho tôi. Chị nói mình là vợ Năm Thu. Nghe nói có khách, Năm Thu đi từ mé bờ ao lên, tay ôm mớ rau muống dài thượt. Cặp kiếng lão bắt ánh nắng, chiếu sáng loé vào mắt tôi. Người đàn ông tầm thước, da ngăm đen này nhìn quen quen.
- Mấy bè rau muống tốt quá trời, tính lội ra cắt cho heo mà nước sâu quá. Ai hỏi tôi đó bà?
Cho mãi tới khi ngồi trong phòng khách có bộ xa lông da lịch sự, chờ Năm Thu thay đồ, tôi cứ mang máng nhớ gặp người này ở đâu rồi. Năm Thu bước ra với bộ quân phục cũ, tóc bạc chải láng mượt lộ ra vầng trán cao rộng.
- Xin lỗi! Anh ở đâu, tới kiếm tôi có việc gì?
- Dà thưa anh Năm! Tui đi kiếm người bạn mà không ra, mới ghé hỏi anh biết chỉ giùm.
- Ai mà khó kiếm dữ vậy?
- Dạ, Sáu Quân, Huyện đội trưởng cũ anh à.
Năm Thu ngưng cái ấm chuyên đang rót trà ra ly.
- Anh quen Sáu Quân hồi nào?
- Dạ, tôi chưa biết ổng, là nghe giới thiệu vậy…! Mà sao tôi thấy anh Năm quen quen.
Năm Thu gỡ cặp kiếng lão ra lau, mang vô lại, nhìn tôi lom lom.
- Ông phải người Hậu Giang hông?
- Dạ phải! Tôi người huyện Ô Môn anh à.
- Phải dân Đông Hiệp hông?
- Dạ phải… Trời! Ai như Sáu Hò?
- Chết mẹ! Đụng người quen rồi nghen.
Năm Thu đứng dậy chạy qua ghế bên nầy, mang cặp kiếng lên, ngó sát mặt tôi.
- Mèng đéc ơi! Thằng Dũng kỵ sĩ đây chớ ai. Mẹ họ! Hơn năm mươi năm rồi đó cha. Già khú đế rồi, nhưng tao ngó cái thẹo trên trán mầy là nhận ra liền hà.
Thật bất ngờ. Vì chúng tôi là hai người bạn thuở chăn trâu cắt cỏ nhận ra nhau. Sáu Hò mồ côi cả ba má, đi ở mướn cho địa chủ Hách. Tía tôi dạy học trường làng, nhưng tôi vẫn phải đi chăn bò hằng ngày phụ má. Sáu Hò không biết tên khai sanh là gì, chỉ biết nó thứ Sáu, lớn lên có giọng hò ngọt như dừa xiêm, làm tụi con gái mê mẩn quên ăn cơm, uống nước, nên người ta đặt biệt danh là Sáu Hò. Tôi có biệt tài cưỡi bò, phi trên ruộng băng băng làm Triệu Tử Long xông xáo cứu ấu chúa A Đẩu, nên có biệt danh là Dũng kỵ sĩ hay Dũng bò. Sanh nghề tử nghiệp, một bữa Triệu Tử Long tôi uýnh bò chạy dữ quá, té trên lưng bò xuống đất, bị cành cây đâm lủng trán, máu me quá trời. Sáu Hò cõng tôi chạy về nhà. Sau khi băng bó xong cho thằng nghịch tử, tía liền quất cho tôi mấy roi quắn đít về tội quậy phá. Còn nhớ lần đó, Sáu Hò tội nghiệp lắm. Nó quỳ lết trước mặt tía tôi, mếu máo: - Tại con mà cậu Năm! Tại con xúi thằng Dũng đó cậu. Cậu đừng uýnh nó nữa, uýnh con nè.
Đang cơn giận, tía tôi quay sang vụt liền hai roi vô mông đít nó, nhưng chắc uýnh nhẹ hơn tôi. Ông nạt lớn: - Còn mầy nữa! Uýnh cho chừa mấy vụ bày trò chơi ngu nghen. Lần sau tao thấy nữa, tao ném cả hai thằng xuống sông cho cá sấu ăn.
Năm 1946, Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp. Chúng tôi còn nhớ những câu hát hừng hực lửa cách mạng: “Mùa thu rồi, ngày hăm ba/ Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Rền khắp trời lời hoan hô/ Quân dân Nam tiến ra trận tiền…”. Sáu Hò, nghe nói bỏ đàn bò của địa chủ Hách ngoài ruộng, trốn theo bộ đội Việt Minh và đi tuốt luốt không thấy hồi quê. Người ta bảo nó chết rồi và quên dần cái tên Sáu Hò, kể cả mấy cô gái từng mê mệt vì giọng hò của nó.
Ai ngờ tôi gặp Sáu Hò tại một xã biên giới xa lắc ở miền Đông.
- Ông lên đây hồi nào? - Sáu Hò hay giờ là Năm Thu hỏi tôi.
- Thì từ năm ông bỏ xứ theo Việt Minh đó. Tôi bị tía bắt đi học, rồi vô ngành giáo dục. Giải phóng xong được trở lại nghề dạy, nhưng xin lên công tác miền biên giới, rồi định cư ở đây luôn. Nhà tôi ở phường 2 thị xã, bữa nào ông ghé chơi. Mà sao tên là Sáu Hò lại đổi qua Năm Thu ông? Bộ có ân oán giang hồ gì hả?
- Hà hà! Ân oán giang hồ không có nhiều, còn Năm hay Sáu, lớn hơn nhau một bậc, có gì đâu. Trốn đi cách mạng, tôi đổi tên là Năm Thu, để nhớ cái mùa thu đó. Hồi nẳm, cực quá thì trốn đi theo mấy ảnh kiếm cơm ăn, chớ có giác ngộ, giác ngoeo gì đâu.
Năm Thu kể cho tôi nghe những năm tháng cầm súng chiến đấu cho nền cách mạng dân chủ cộng hoà non trẻ. Đánh thắng thực dân Pháp rồi, anh tập kết ra Bắc khi mới mười sáu tuổi. Ba năm sau Năm Thu được chọn đi học trường quân báo, ra trường rồi lại được tổ chức phân công bí mật trở lại chiến trường miền Nam, tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Từng công tác lâu năm ở Trung ương Cục miền Nam, một thời anh lăn lộn khắp chiến trường miền Đông ác liệt.
- Rồi mầy thì sao? Thằng quỷ.
- Sau vụ ông trốn khỏi nhà địa chủ Hách, nhỏ Tám Bạch khóc quá trời. Cổ tìm gặp tui, nhờ kiếm ông, nhưng tía tui còn hông biết nữa là...
Năm Thu nheo nheo cặp mắt già nua sau tròng kiếng. Hình như có nước rịn ra nơi khóe mắt.
- Ông nhắc tui mới nhớ. Tám Bạch sau có lấy con trai địa chủ Hách không? Tội nghiệp cổ, mê mấy câu hò, chớ thân ở mướn như tui, làm sao nuôi vợ con mà thương người ta.
Cô Tám Bạch đẹp nhứt nhì xứ Ô Môn, con trai ông chủ Hách đeo ngày, đeo đêm, mang bạc tiền, vải vóc ra dụ dỗ mà cô hổng chịu. Trong dịp lễ Kỳ yên thượng điền năm đó, gặp Sáu Hò và đám trai làng đi lễ, hò qua hòa lại rồi mê mẩn không về được.
- Sáu Hò trốn đi được ba tháng, Tám Bạch cũng trốn đi cùng một người.
Năm Thu chồm người qua phía tôi:
- Theo ai vậy?
- Nói ông đừng buồn, chớ cổ theo tôi lên Cần Thơ. Đi để trốn thằng con chủ Hách thôi. Tôi đi học, cổ đi ở cho nhà giàu. Sau mấy năm lên Sài Gòn học sư phạm, tui mất liên lạc với cổ.
Năm Thu buồn hiu. Tôi biết ảnh còn thương cô Tám ngày xưa.
- Xí hụt! Tưởng ông biết cổ giờ ở đâu.
Tôi phì cười.
- Có biết! Mai mốt tui đưa ông tới tận nhà thăm bả. Giờ tui nhờ ông một chuyện. Ông có biết cha Sáu Quân, trước là huyện đội trưởng không? Chả huyện đội trưởng từ hơn ba mươi năm trước lận, sau chuyển đi đâu không biết nữa.
Năm Thu lại ngạc nhiên, bình nước đang chảy róc rách xuống ly, bỗng dừng lại giữa chừng: - Người quen hả?
- Quen biết gì đâu. Kiếm có chút việc thôi.
- Chả đang ngồi trước mặt ông chớ đâu.
- Hả? Giỡn sao ông?
Năm Thu ghé tai tôi, thì thào kể, chắc thói quen từ hồi hoạt động cách mạng.
- Trước làm huyện đội trưởng mấy năm, rồi cấp trên bí mật điều sang công tác giúp nước bạn. Rồi về đây với cái tên Năm Thu, công tác ở mặt trận huyện riết rồi nghỉ hưu. Hỏi Sáu Quân coi như mò kim đáy biển. Vậy là ông hên đó.
Anh mở cánh tủ thờ, mang ra một xấp huân chương. Cao nhất là Huân chương Độc lập hạng Ba, thấp nhất là Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, cả một đống bằng giấy khen của Bộ Quốc phòng, của Cục nầy, Sở kia, huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
- Sao không treo lên ông kẹ? Thành tích của mình mà?
Năm Thu cười khó hiểu:
- Có những cái chỉ cần cách mạng, cần Đảng biết cho mình là đủ. Từ lâu tôi có thói quen kín đáo. Ông tin không? Hơn sáu mươi năm làm cách mạng, có khi giữ những chức vụ quan trọng ngang cấp bộ trưởng, vậy mà về hưu tôi vẫn mang cấp hàm thiếu tá. Mình phục vụ cách mạng, tự nguyện đi trong những lối mòn nhỏ để cho dân tộc đi trên đường lớn.
Tôi hất hàm về phía có treo chiếc bằng Tổ quốc ghi công, hỏi: - Của ai vậy? Ông có anh em nào đâu!
- Là thằng Tiến, bạn tui. Chồng cũ của bà xã tui bây giờ.
Năm Thu lại rịn rịn nước mắt. Chả nầy già sanh tật, mau nước mắt quá, không như ngày xưa, lì một cây. Bỗng anh đứng dậy, lấy chiếc áo trên vách khoác lên vai: - Chừng nào đưa tui đi thăm Tám Bạch?
- Thì bữa nào ông rảnh, về nhà tui. Bà xã tui chớ ai.
- Đù tía con cua! Vậy là sao?
Mặt mũi chả đỏ rần, nét giận dữ hiện trên ánh mắt.
- Bình tĩnh đi ông già. Sau giải phóng, tình cờ gặp lại bả. Cũng dân trong rừng ra mà. Không hiểu sao ngoài bốn chục tuổi vẫn chưa thèm có chồng. Hồi đó vợ tui mới mất, một mình nuôi hai sắp nhỏ. Bả thương, theo tui lên đây lập nghiệp. Vậy thôi!
Hình như anh cố nén thở dài.
Nghe vụ tôi được giới thiệu tìm hiểu viết về cá nhân anh, Năm Thu xua tay.
- Thôi ông! Mấy chả đó rùm chuyện quá. Có gì mà viết. Để tôi biểu bả mần vịt nhậu chơi. Ở đây ngủ với nhau một đêm. Mai tui theo ông về trển thăm Tám Bạch luôn. Hén?
LÒNG MẸ
Đêm khuya lắc khuya lơ. Cơn mưa ngầu bọt trên đám lá dừa quằn quặt. Ánh chớp chợt lóe lên, kèm tiếng gầm rung động. “Lạy trời! Ông cũng nổi giận giùm con”. Chị Tư Lá ngước đôi mắt đẫm nước nhìn qua khe cửa sổ, khi ánh chớp vừa sáng lên. Bên ngoài, mưa giăng như mắt lưới, mấy cành lá chuối vật qua vật lại, điên khùng. “Mày ngủ ở đâu hả Dân?”. Tiếng gọi thầm nhưng xé toang lồng ngực bà mẹ. Chị Tư Lá vừa đuổi thằng con mất dạy ra khỏi nhà lúc chiều tối. Nó say ngất, mắt đỏ ngầu, miệng cười sằng sặc. Chiếc áo dơ bẩn khoác lên vai, thằng Dân quắc mắt nhìn mẹ: “Bà đuổi tôi phải hông? Quá dễ. Thằng này đâu ngán bụi trần đau khổ”. Nó bước xiêu vẹo, cất giọng ông ổng: “Đường nhân gian... đày ải... thương đau/ Ai chưa qua... chưa phải là người...”. Bước chân của thằng say vô định, vô tình.
Bây giờ giữa giấc khuya chập chờn, cơn mưa ầm ào đã dập tắt ngọn lửa giận dữ trong lòng chị Tư. Nỗi lo lắng bản năng của người mẹ lại trỗi dậy. Thằng Dân đang say quắc cần câu, lỡ đụng nước mưa dính cảm là chết chắc. Thằng con bất hiếu. Thằng con mất dạy. Có ai dạy nó đâu? Chị tối ngày sấp mặt xuống, ngửa mặt lên với gánh lá chuối đi bỏ mối, bỏ thằng nhỏ lắt lay bụi đất, đói khát bên nhà hàng xóm. Tối lên đèn hai mẹ con mới ngồi với nhau bên mâm cơm chín vội. Cứ như vậy mười tám năm qua chị cực khổ nuôi con. Chỉ nuôi thôi chứ thì giờ đâu mà dạy. Thằng Dân lăn lóc lớn lên như cây xương rồng bỏ hoang ngoài ngõ. Ba mươi hai tuổi chị Tư sinh ra nó, từ nỗi khát khao của người phụ nữ nghèo và kém sắc. Người đàn ông rủ lòng thương cho chị mang thai, làm nghề mài dao dạo, khỏe mạnh và lanh miệng. Lúc thằng Dân lên ba, lên bốn, vẫn còn thấy ông chạy xe đạp với chiếc thùng gỗ nhỏ đi qua. Cũng có lúc ông ghé qua một hai phút, cho thằng nhỏ cặp bánh ú hay trái chuối, ánh mắt nhìn nó vô cảm. Hơn chục năm nay không thấy ông mài dao dạo. Có người nói ông té cầu, lọt sông chết rồi. Có kẻ lại nói ông bị tai nạn giao thông, què giò không còn chạy xe được nữa. Chị Tư Lá vẫn đi bỏ mối lá chuối. Thằng Dân vẫn ở trần voọc đất ngoài ngõ hàng xóm. Chẳng ai mong chờ ông ta.
Mười hai tuổi thằng Dân biết theo người ta đi làm cu ly phụ hồ. Mười bốn tuổi nó biết hút thuốc lá, tập nhậu nhẹt. Những đồng tiền nó mang về cho mẹ, lúc đầu làm chị Tư chảy nước mắt. Tháng lương đầu tiên của nó được hơn bảy trăm ngàn. Thằng nhỏ nhổ giò, chẳng bao lâu ra dáng thanh niên. Việc làm ổn định, lương càng cao, những đồng tiền nó đưa chị càng ít đi. Hai năm nay thì trở lại hoàn cảnh ban đầu, là chị Tư sấp ngửa mặt với những gánh lá chuối, nuôi báo cô thằng con ham nhậu hơn ham làm. Tháng năm trôi đi nhọc nhằn, không làm chị buồn khổ bằng cảnh thằng Dân liêu xiêu mỗi chiều về nhà, mắt đỏ ngầu, áo vắt trên vai: “Mày có tính tu thân báo hiếu không hả Dân? Chưa ráo máu đầu mà mày nhậu chìm nhà chìm cửa. Không biết nó giống ai vậy trời!”. Thằng Dân đá một phát vô lu nước. Chiếc lu vỡ tan, bắp chân nó cũng đầm đìa máu. “Tôi giống thằng tía tôi. Tía tôi là thằng nào? Bà nói đi! Không nói tôi đập bà như đập lu nước này nè”. Nó ngã vật ra gốc bằng lăng, thở khè khè, ngủ vùi. Chị Tư đau xót, muốn cầm cây rựa bửa vô cái đầu tóc vàng khét nắng kia, nhưng lại run run mang thau nước muối, vừa khóc vừa rửa vết thương cho con. Tội nghiệp con tôi. Nó sinh ra trong nghèo khổ, côi cút. Nó không nên người là tại mình. Lẽ ra mình đừng bỏ nó hoang dại như cây xương rồng ngoài kia. Lẽ ra nó được gọi tiếng ba thân thương. Nếu như có một bờ vai đàn ông cho chị dựa vào nghỉ ngơi.
Thằng Dân bỏ nghề thợ hồ, nhảy qua làm lò bánh tráng với mấy thằng bạn nhậu. Ông Tám chủ lò lâu lâu gặp chị ngoài chợ, phàn nàn: “Thằng Dân nhà thím sức vóc, nhanh nhẹn, làm đâu ra đó. Nhưng nó nhậu vô là giống thằng khùng, thằng điên. Thím không dạy nó, mai mốt khổ”. Chị Tư dạ dạ, cho qua chuyện. Giờ thì trời gầm nó cũng không ớn, nói chi mấy lời la lối như nước đổ lá môn của mẹ. Chiều qua, cả lò mì rầm rập như có bão. Ông Tám cầm khúc cây tầm vông, chỉ vô mặt đám làm công của mình: “Đứa nào lớn gan lấy chiếc mô tơ điện của tao? Chiếc mô tơ nặng mấy chục ký, hổng lẽ một thằng vác chạy! Biết điều đem về ngay trả cho tao, không đi tù ráo trọi nghen mấy đứa”. Ông Tám nghi mấy thằng làm công đêm qua nhậu bên quán Sáu Hoàng. Tụi nó ầm ĩ la hét tới sáng lận mà. Chiếc mô tơ ông mới đi sửa về, chưa kịp ráp lại, tự dưng không cánh mà bay. Khi công an xã xuống kiểm tra hiện trường, thằng Dân không ở đó, mà mắc nhậu tăng hai, tăng ba gì đó tại nhà. Chiều, chị Tư đi bỏ lá chuối xong, ghé chợ thấy bà con lao xao vụ mất cắp ở lò bánh tráng. Hình như chị loáng thoáng nghe có ai nhắc tới tên thằng Dân. Ruột gan thắt lại vì lo, chị mua bậy nửa ký su, hai miếng đậu hũ rồi đi như chạy về nhà. Ba thằng còn ngồi ngật ngưỡng ngoài sân. Nồi cháo vịt vương vãi, đám xương ném bừa bãi quanh mâm. Chị vừa cất tiếng hỏi vụ mất trộm, hai thằng khách liến láu: “Tụi con không dính dáng gì nghen dì Tư. Chiếc mô tơ nặng bà cố, ông Tám ổng nghĩ tụi con khiêng được hả?”. Thằng Dân lừ lừ đứng dậy, chỉ tay vô mặt mẹ: “Bà biết cái đếch gì! Câm miệng lại! Tiền nhậu bữa nay là tiền đi ăn cướp nghe chưa”. Chị Tư giận sôi, trong lòng cảm thấy bất an. Chị muốn xả cho thằng con mất dạy một nhát. Giọng chị run rẩy: “Dân! Mày cút khỏi nhà tao! Coi như tao không có thứ con như mày!”. Nó trợn mắt nhìn chị, rồi cười sằng sặc. Nó vắt áo lên vai, nghiêng ngửa bỏ đi. Cơn mưa đen rầm trời. Chị Tư ngồi bệt, thở dốc: “Trời ơi là trời! Con ơi là con!”.
Một năm trôi qua. Chính xác là 14 tháng, từ khi thằng Dân vô tù. Lần trộm mô tơ của lò bánh, không thằng nào đứng ra nhận, còn nhơn nhơn cái mặt thách thức. Ông Tám nhờ công an điều tra, hốt gọn bốn thằng, trong đó có thằng Dân. Hôm chúng ra tòa, chị Tư không tới thăm, cũng không đi bỏ mối lá chuối. Chị nằm vắt tay lên trán, trên chiếc võng rách, âm thầm khóc. Bữa đêm trời mưa thằng Dân bỏ đi, chị giận con, rồi lại thương, mơ sáng đã lò dò đi kiếm. Lòng vòng quanh mấy quán nhậu hỏi thăm, không ai thấy thằng Dân đâu. Tới lò bánh tráng, đụng ông Tám chạy xe Honda ở đâu về. Thấy chị, ông hất hàm: “Kiếm con hả? Công an hốt cả nùi rồi. Muốn kiếm lên đó kiếm”. Chị tối tăm mặt mày: “Muộn mất rồi con ơi!”.
Khi giám thị kêu ra phòng làm việc, thằng Dân khấp khởi mừng. Hôm nay, hình như nó được ra tù. Tới khi ký vô cuốn sổ, nhận lại bộ đồ và chiếc dây nịt cũ, nó mới tin là được tự do. Hơn một năm trời, đêm tới là giấc ngủ mộng mị, nó thương mẹ vô cùng. Nhưng nó biết mẹ đã từ mặt đứa con bất hiếu. Nó từng uất ức, rồi khóc nghẹn khi thấy bạn tù tháng nào cũng có người nhà tới thăm nuôi, tiếp tế. Nó thì không. Một điếu thuốc cũng không. Một gói muối cũng không. Mẹ đã bỏ nó, như cắt bỏ một khúc ruột dư sắp vỡ.
Nó ngồi thừ, chảy nước mắt. Người cán bộ quản giáo vỗ vai: “Mừng quá hả? Về nhà ráng làm ăn, chúng tôi không hoan nghênh cậu trở lại đây đâu”. Không phải khóc vì mừng. Nó khóc vì cô đơn, bối rối. Biết về đâu bây giờ? Nó rất thèm một mái nhà, một bữa cơm đạm bạc có nụ cười hiền của mẹ. Thôi, cứ về quê đã rồi tính. Trước tiên phải ra khỏi hai cánh cổng sắt xám xịt kia. Có thể ai đó sẽ lại nhận cho nó đi làm thợ hồ. Thề với ông trời, lần này cực mấy cũng ráng chịu, không dám nhậu nhẹt làm ẩu nữa. Cầm hơn trăm ngàn được cấp, nó tính toán sẽ đi xe ôm ra thị trấn, ăn một bữa thiệt no, rồi đón xe đò về quê. Nắng buổi sáng làm lóa mắt thằng Dân, khi nó đang bỡ ngỡ bước ra khỏi cánh cổng trại giam. Nó nhìn loang loáng vùng đất đỏ quen thuộc đang lơ phơ xanh màu lá mì non. Con lộ đỏ hun hút về phía tự do. “Dân! Dân ơi!”. Nó giật mình nghe tiếng gọi quen thuộc của ai đó. Không lẽ lại là mẹ!
Chị Tư Lá đứng bên chiếc xe đỏ bụi và người chạy xe ôm, tay xách nặng chiếc giỏ lác. Chị hồi hộp đến nghẹt thở, khi cánh cổng trại giam mở toang và một thằng thanh niên cao lớn, đen sạm nhưng khỏe mạnh bước ra. Đó chính là thằng Dân của chị. Thằng Dân chững lại một chút, rồi chạy ào về phía mẹ. Nó chỉ kịp ôm chầm lấy chị, bật khóc ồ ồ. “Nín đi con! Mẹ đã nhờ hai chú xe ôm chở mẹ con mình ra bến rồi. Vô đây! Vô ngồi đỡ dưới gốc cây này đã. Ăn đi con! Uống bia đi. Mẹ cho phép uống chút đó”. Thằng Dân loạng choạng say nắng, mắt đỏ hoe: “Thôi mẹ! Con không muốn ăn gì cả. Con muốn về nhà!”. “Ờ! Vậy hén! Về nghỉ ít bữa rồi đi làm. Mẹ đã qua năn nỉ ông Tám lò bánh, ổng nhận cho con làm lại rồi”.
Chị Tư cất tiếng cười giòn, tiếng cười hạnh phúc. Trên cây bàng kế đó, một con chim nhỏ vụt bay vút lên, sải cánh phương xa.
CUỐI TRỜI LỬA ĐẠN
Mưa nặng hạt dần. Trời như đổ cả thùng đậu đen xuống mái lá. Cơn mưa đã níu chân tôi ngồi lại căn nhà hầm. Không biết thời gian trôi đi bao lâu, còn mái tóc của cô gái vẫn chưa khô hẳn. Cô ngồi phía đầu giường bên kia, chỗ có chiếc bàn nhỏ, le lói ánh đèn dầu chiếu ra từ một lỗ của ống bương chụp bên ngoài, một loại đèn “phòng không”. Ánh sáng soi một nửa thân hình có những đường cong mềm mại.
Một bên bờ vai áo bà ba đen, một ống quần xắn đến gối để lộ bắp chân trắng. Mùi hương hăng hắc của lá gội đầu tràn về phía tôi ở đầu giường bên này. Tôi khoanh chân tựa vào thành đất mát lạnh. Khỉ thật! Sao mình cứ tưởng tượng bánh lương khô trên bàn kia là một bánh thuốc nổ TNT nhỉ? Bánh lương khô đó tôi đem tặng cô gái lúc mới đến. Cô để ngay dưới chân đèn và nói: “Lương khô của các anh ăn ngon thật, nhưng dính răng dữ lắm”. Có tiếng pháo địch vọng lại ì ầm. “Bọn bên Dốc Miếu bắn đó!” - Cô gái bình thản bảo.
Tôi bị phân tâm bởi tiếng mưa ràn rạt trên mái lá. Cô gái lại hỏi, giọng lảnh lót như tiếng chim: “Anh quê ở mô? Đi bộ đội lâu chưa?”. “Quê tôi ở Vĩnh Phú. Cũng mới nhập ngũ năm ngoái”. Tôi muốn im lặng cho những tính toán bên trong. Cô gái thì muốn hỏi rất nhiều. Cô thấy lạ khi thấy một anh chàng đi “tán” gái mà cứ ngồi im như thóc. “Anh được đi chơi hay là…”.
Tôi không để ý câu hỏi có chút nghi ngờ của cô. Tôi vẫn chú tâm vào tiếng mưa ma mị. Mưa đang gõ trên mái lá cọ nhà tôi, một căn nhà nhỏ nằm nép dưới chân đồi. Tiếng mưa hay bản hòa tấu mưa ào ạt, sôi nổi đến không thể phân biệt đâu là tiếng mưa trên mái nhà, đâu là tiếng mưa ngoài rừng cọ. Thật đúng như câu “Mưa rừng cọ, gió rừng thông”. Mưa đêm vào tuần trăng mật thật thú vị. Cảm giác chật chội, ấm cúng giữa cơn mưa làm chúng tôi không muốn rời nhau ra.
*
Lộc nhỏ bé, dịu hiền nằm rúc vào nách tôi. Mùi lá gội đầu, mùi thân thể trinh nữ vừa trải qua yêu đương nồng nồng, chật căn buồng nhỏ. Tôi được nghỉ phép mười ngày trước khi vào chiến trường và quyết định cưới vợ. Lúc đầu tôi không định tổ chức, nhưng Lộc khăng khăng đòi cưới. Cô róng riết: “Các anh đi đằng ấy, biết thế nào mà giữ chân. Cứ sấn sẹo, buộc thừng cho chắc ăn, rồi muốn đi bao giờ về cũng được”.
Không nói ra nhưng tôi ngại chiến tranh không chiều lòng người. Lỡ sa sẩy, tôi sẽ làm Lộc khổ suốt đời. Sau Lộc động viên mãi, tôi ừ cưới. Lộc nói muốn có đứa con, nhất là con trai. Thời loạn lạc, người phụ nữ có con là có cả trái núi vững vàng mà dựa vào cho khỏi ngả nghiêng, chao đảo. Vậy mà thời gian của vợ chồng tôi ít quá: năm đêm và một buổi trưa trên đồi cọ vắng. Chúng tôi hối hả yêu nhau. Ngày thì dài dặc mà đêm ngắn quá.
*
“Anh thấy con gái nông trường chúng em dữ lắm không?” - Tiếng lảnh lót của cô gái làm tôi chợt tỉnh: “Các cô… À các o hả! Chắc là hiền vì tôi mới biết một mình o thôi!”. Tôi nhớ đến lời dặn của một anh lớn tuổi trong đơn vị: “Vào Vĩnh Linh hay Quảng Trị, muốn con gái trong đó cảm tình thì phải gọi là o, đừng gọi cô như ngoài Bắc”. Cô gái này nhìn xa giống vợ tôi, nhất là mái tóc dài và dáng người thon nhỏ.
Năm ngày trước, chiếc xe tải bịt kín vải bạt đổ chúng tôi xuống một địa điểm cuối Quảng Bình. Đêm tối đen. Tiếng thì thầm hỏi nhau: “Đây là đâu nhỉ?”. “Chắc là ngã tư Thạch Bàn. Sắp đến Vĩnh Linh rồi”. Bê trưởng gắt gỏng: “Trật tự! Trung đội thành ba hàng dọc! Bên phải… quay! Điểm số!”. Khi chiếc xe quay đầu, ánh đèn gầm chiếu qua chỗ tôi, kim đồng hồ chỉ 22 giờ 30 phút. Chúng tôi lặng lẽ hành quân.
Là đơn vị thông tin, chúng tôi chẳng bao giờ được hòa vào dòng chảy ầm ầm của đại quân. Độc lập tác chiến là đặc điểm của đơn vị tôi với những quy tắc bảo mật nghiêm ngặt. Mưa lắc rắc suốt dọc đường hành quân đến địa điểm mới. Trên lưng tôi là chiếc máy vô tuyến nặng hai chục ký, một cuộn dây định hướng nặng năm ký, lại còn ba lô, lương thực. Tôi dồn sức lên chiếc gậy, cố cho khỏi ngã. Đường núi trơn như đánh bẫy. Tiếng ối, ái, mẹ ơi... khe khẽ dọc hàng quân. Cố hết sức mà tôi vẫn ngã liên tục, nghiến răng chịu đựng những cú va đập tưởng vỡ xương hông.
Qua một đồi tranh tưởng đã thoát, nào ngờ lá tranh sắc ngọt cứa đứt chân tay đau rát. Lệnh dừng lại làm tôi thở phào, ngồi phịch xuống đất. Xung quanh là mấy thân cao su xơ xác. Ai đó bảo: “Đến nông trường Quyết Thắng rồi”. Đây là đất Vĩnh Linh. Hành quân hai ngày nữa là có thể gặp địch. Các tiểu đội được đưa vào nghỉ tạm trong những ngôi nhà nửa chìm nửa nổi mượn của nông trường. Mắc võng xong, sờ đến vắt cơm đeo bên hông thì đã nát bét. Chẳng buồn lấy lương khô, tôi lên võng ngủ một giấc mê mệt.
Các đội của nông trường ở rải rác quanh rừng cao su để tránh bom pháo. Công nhân sống theo đội. Họ bám rừng sản xuất trong tiếng ì ùng của pháo địch từ bên kia sông Bến Hải. Chúng tôi được nghỉ ngơi một tuần, sau đó sẽ hành quân đến địa điểm cấp trên yêu cầu. Hàng ngày sinh hoạt tư tưởng, ăn nghỉ và tránh tiếp xúc với dân để giữ bí mật. Mấy ngày đầu tôi toàn nằm võng, gặm nhấm lại những giây phút hạnh phúc vợ chồng vừa được nếm trải. Nằm dưới những nền nhà chìm thế này không sợ bom pháo nhưng tiếng mưa làm tôi sốt ruột.
Bây giờ đang cuối tháng ba. Đúng một năm tôi nhập ngũ. Đợt chúng tôi đi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26 tháng 3 năm 1971. Còn hai tháng nữa là thi tốt nghiệp cấp ba, nhưng chúng tôi tình nguyện nhập ngũ. Lộc tiễn tôi đến huyện đội với chiếc khăn tặng có đôi chim thêu vụng đang bay ríu vào nhau. Mới tuần trước đây, Lộc lặn lội vào tận Hà Tĩnh thăm tôi với nỗi nhớ chồng và ý định muốn có một đứa con. Chỉ một đêm ở đơn vị, chúng tôi thức trắng với bao nhiêu nỗi buồn lo hơn là niềm hạnh phúc được yêu nhau. Sáng hôm sau lên xe về quê. Lộc ôm tôi khóc và nói: “Cầu trời cho chúng mình một đứa con!”. Tôi nói cứng: “Nhất định sẽ có một thằng cu em ạ!”.
Ý định trốn về nhà mấy ngày của tôi xuất phát từ lời hứa hôm đó với vợ. Tôi muốn gặp lại Lộc chỉ một ngày để chắc chắn chúng tôi thực hiện được ước mơ nhỏ bé có một đứa con. Từ hôm gặp cô công nhân nông trường có dáng dấp giống vợ mình, tôi càng nung nấu ý định về nhà. Anh em đơn vị sẽ cho tôi là kẻ đào ngũ, rồi có thể trung đoàn sẽ rối tung lên vì thay đổi mật mã. Nhưng tôi đâu phải là kẻ đào tẩu. Tôi chỉ về thăm vợ một ngày rồi sẽ vào ngay. Đơn vị còn đang nghỉ ngơi cơ mà.
Thế nào cũng bị kỷ luật. Sẽ như thế nào nhỉ? Khai trừ Đoàn, hay hạ cấp từ binh nhất xuống binh nhì? Mong muốn có một đứa con cứ thôi thúc tôi. Có điều hôm vào đây đi ban đêm. Phải làm sao ra được ngã tư mới đi nhờ được xe ngược phía Bắc. Bởi vậy tôi hy vọng vào lòng tốt của cô gái.
Bốn ngày trước tôi gặp cô thật bất ngờ khi đang tản bộ giữa hai hàng cao su xanh tán lá, mê mải ngắm vết sẹo chéo trên thân cây do dao cạo mủ để lại, trông như cuống huân chương hạng nhất. Một chiếc lá khô còn sót lại chao đảo rơi xuống đất, cố lật mình lần nữa nhìn lên bầu trời. “Chào eng bộ đội! Mấy eng mới vô?”. Tôi giật mình vì tiếng con gái như tiếng chim ngay sau lưng.
Sao lại “eng?”. Có lẽ là “anh”, tôi quay lại thót tim khi thấy một cô gái nhìn hao hao giống vợ mình. Cũng thân hình nhỏ, tròn lẳn như mình cá trắm. Cũng mái tóc dài gập đôi lên cặp thành búi nặng sau gáy. Cô xách thùng mủ cao su, nhựa vương một vệt trắng bên ống quần vải phíp. “Chào cô… À chào o! Đi làm về sớm thế?”. Khuôn mặt tròn sáng lên nụ cười: “Làm sớm tránh máy bay thằng Mỹ anh nờ. Nhà em đằng tê! Khi mô rảnh mời các anh tới chơi”.
Cô chỉ một mái nhà nhỏ trông như chuồng chim khuất sau một lô cao su. Tôi không cưỡng lại được ý muốn gặp gỡ cô gái nông trường trông giống vợ mình, nhưng phải hai hôm sau mới có cơ hội. Cơm chiều xong, lợi dụng lúc anh em chúi vào chơi “tiến lên”, tôi lảng vảng ngoài lán một lúc rồi nhằm hướng ngôi nhà nhỏ mà đi. Đến sát ngôi nhà hầm mà tôi vẫn không nghe tiếng trẻ em, người lớn đâu cả. Đến gần chút nữa thấy cô gái bữa trước đang gội đầu. Chiếc chậu nhôm để trên gốc cây to cắt ngang tầm ống chân, cô nắm mái tóc dài trước trán, quay vù vù, mấy hạt nước lá thơm văng tận chỗ tôi.
“Chào o! Đã cơm nước gì chưa mà gội đầu sớm thế?”. Cô gái nghiêng đầu nhìn tôi qua cánh tay giữ mái tóc: “A! Anh bộ đội! Anh đến thiệt hả?”. Mấy giọt nước cũng cười long lanh trên môi cô gái. “Cơm xong chẳng biết làm gì, nên tìm đến thăm nhà o! Tưởng có con nít nên đem cho chúng phong lương khô. Thế ra o ở một mình à?”. “Dạ lính phòng không anh ơi! Thời chiến có chồng con mệt lắm!”.
Cô mời tôi vào nhà, nhưng tôi từ chối. Tôi muốn tranh thủ ngắm cô gội đầu, ánh chiều tà bừng trên đôi má bầu bĩnh đượm hồng. “Quanh nông trường sao toàn gặp phụ nữ thế o?” - Tôi hỏi thăm dò. Cô cười rinh rích: “Thanh niên khỏe mạnh đi tiền tuyến hết rồi, cũng còn mấy chú, mấy anh nhưng toàn người già với yếu sức khỏe. Trông anh dáng thư sinh rứa mà vô được tới Vĩnh Linh là giỏi lắm đó!”.
Tôi nhìn lại bộ dạng mình mà thầm cảm ơn cô. “Chắc người yêu cô cũng là bộ đội?”. “Dạ! Phụ nữ chúng em không yêu bộ đội thì yêu ai?”. Câu chuyện ỡm ờ hôm đó chỉ có thế. Tôi vội vàng quay về đơn vị khi màn đêm nhòe nhoẹt những hàng cao su. Rừng vắng lặng bỗng ì ùm vọng tiếng pháo xa. Thật xa cuối rừng vọng lại tiếng hát con gái, tôi nghe rõ câu cuối cứ lặp đi lặp lại: “Súng dân quân quyết ra tay giữ gìn ớ… ơ Quảng Bình… Vĩnh Linh… Quảng Bình”.
Vươn vai hít đầy một hơi hương rừng ngai ngái, khen khét, tôi chạy về lán, thầm mỉa mai cái dáng thư sinh của mình. Ngay từ khi về đơn vị mới, tiểu đội trưởng đã ái ngại vì dáng gầy gò và nước da trắng của tôi. Quả là đáng ngại khi mỗi lần hành quân tôi đều bệt bạt sau đội hình. Anh em lúc thì giúp cái ba lô, khi thì cặp ắc quy dự phòng. Quãng đường phía trước không phải mưa nắng vất vả thao trường nữa mà là thử thách của lửa đạn, sống còn. Thật sai lầm khi đã trót cưới vợ. Có câu ca dao thế nào nhỉ? “Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi”. Tôi mới chỉ bén hơi vợ mà đã ngẩn ngơ thế này rồi. Tự nhiên ở nơi xa xôi này lại xuất hiện một cô gái giống vợ tôi.
Tôi trốn đến thăm cô với nhiều phương án. Nếu có thể hỏi được đường, tôi sẽ vù về nhà thăm vợ một ngày. Trong túi tôi còn hai chục đồng tiền phụ cấp dành dụm được. Còn nếu không may, thì cũng có cơ hội nhìn cô gái mới quen, nói chuyện đôi lời cho đỡ nhớ Lộc. Tôi kể cho cô nghe về quê hương trung du của mình. Về dòng sông Lô trong vắt và ngọn núi Tam Đảo thấp thoáng trong mây. Câu chuyện thi thoảng bị cắt ngang bởi tiếng pháo.
Vùng giáp ranh này, hình như cả ngày có tiếng pháo cầm chừng. “Cuối giường có hầm trú ẩn, nếu pháo bắn gần anh nhớ vô với em nghe”. “Bao giờ o tổ chức đám cưới?”. Năm ngón tay đang lùa chải tóc bỗng dừng lại giữa chừng: “Dạ… lẽ ra tổ chức rồi, nhưng em không chịu. Mình còn trẻ vội chi. Tội nghiệp anh Dũng giục mãi, rồi cũng nghe em. Nhưng năm ngoái anh ấy hy sinh rồi. Cả khẩu đội hứng trọn trái bom. Biết rứa…”.
Tôi thấy đau trong ngực, không cất lên được lời an ủi cô. Mãi một lúc sau, cô mới hỏi tôi: “Còn anh? Khi nào ra Bắc mới tổ chức chứ?”. “Tôi mới cưới được hơn tháng nay o ạ!”. “Rứa à! Vậy mấy bữa nay theo tui mần chi?” - Tiếng cô gái nặng như chì. Tôi thú thật: “Là tôi định hỏi thăm đường…”. “Định trốn về nhà với vợ phải không?”. Câu hỏi vộc vào mặt tôi luồng gió nóng.
Tôi nói dối cô rằng không định trốn, mà chỉ tranh thủ về nhà một hôm rồi quay vào. Cô khăng khăng: “Vô sao được! Về với vợ rồi dứt đi không nổi mô”. Giọng cô chì chiết: “Thanh niên chi mà hèn rứa! Mới vô tới Vĩnh Linh đã đào ngũ rồi!”. Rồi giọng cô gái sắt lại: “Bây chừ đứng lên theo tôi về đơn vị!”.
Suýt nữa tôi nổi cáu: “Cô là gì mà ra lệnh cho tôi”. Thế nhưng tình thế đã khác đi khi tôi nhìn thấy khẩu súng trường trong tay cô. Cô ta là tự vệ nông trường hẳn. “Kìa o! Đừng hiểu lầm. Tôi không định đào ngũ!”. “Chỉ tính chuồn về quê thôi phải không? Nhìn tướng thư sinh của anh, lại lén lút hỏi thăm đường, tui đã nghĩ rồi. Đi ra! Không tui bắn đó!”.
Tình thế của tôi thật thảm hại. Tự nhiên để một cô gái giải về đơn vị như tên tội phạm. Nước mắt chảy xót một bên má. Tôi khóc vì nhục nhã và thất vọng. Thấy một cô gái giống vợ mình, rồi lân la làm quen, rồi nói ra ý định bỏ trốn và sập bẫy. Tôi định lao tới giật lấy khẩu súng. Cô gái lại sát tường lên đạn cái roạt. Tôi lạnh sống lưng. “Tôi bắn thiệt đó nghe!”.
Tôi đâm cáu: “Tôi chẳng phải đi đâu hết! Cô giỏi thì bắn bộ đội xem. Tôi đâu là kẻ sợ chết. Cô là phụ nữ sao không hiểu cho vợ chồng tôi. Chúng tôi sống với nhau chưa được một tuần, mà vợ tôi ước ao có một đứa con. Cô tưởng tôi đến tán tỉnh cô hả?”. Tôi nói liền một thôi rằng cô giống vợ mình nên đến làm quen. Tôi đã tin tưởng cô mà tâm sự hết hoàn cảnh và ý định về nhà mấy ngày, rồi quay vào tìm đơn vị. Chứ tôi đâu phải là thằng hèn như cô ta nói. Bây giờ thì “tiến thoái lưỡng nan”, tôi biết làm sao đây.
Tôi cảm thấy bàn tay con gái đang xoa tóc mình. Nhìn lên thấy cô gái đang đứng trước mặt tôi, khẩu súng biến đi đằng nào. “Chị ấy giống em thật sao?” - cô thì thào. Tôi gật đầu: “Giống lắm, cả dáng người, cả mái tóc dài gập đôi lên cặp sau gáy. Hôm đầu nhìn thấy o, chút nữa tôi gọi tên vợ mình rồi”. Tôi hất tay cô ra: “Thôi! Tôi đã sai lầm khi thú thật mọi chuyện với cô. Bây giờ tôi về đơn vị. Cô không tin thì cứ cầm súng theo”.
Cô ghì đầu tôi vào ngực: “Đừng giận em! Chúng em thương các anh lắm. Thương cháy lòng, cháy dạ. Nhưng kháng chiến mà anh. Ai cũng bỏ về cả thì ai đánh giặc. Mà sao còn trẻ, anh cưới vợ sớm rứa. Kẻ đi, người ở tội lắm…”. Tôi thấy như vừa cởi được cái thòng lọng thít vào cổ: “Tôi chưa muốn cưới, nhưng cô ấy cứ giục. Bảo cưới rồi có người mà chờ. Có đứa con mà nuôi cho đỡ nhớ”.
Cô gái kêu lên: “Ui cha! Nghe hệt như anh Dũng nhà em vậy! Ráng lên anh! Bỏ trốn bây giờ nhục lắm. Có gian khổ, nghiến răng lại mà vượt qua là hết thôi anh nờ. Mà anh cũng muốn có đứa con phải không? Cứ đổ tội cho chị ấy! Trời ơi! Thương các anh quá. Anh ơi!…”.
Tôi nghe những lời âu yếm của cô gái, yên tâm dựa đầu vào bộ ngực nóng hổi, gấp gáp nhịp tim đập...
Tiếng pháo nổ gần chát chúa. Tôi choàng dậy nhảy xuống đất. Cô gái nhao theo choàng chiếc áo lính lên người tôi, hối hả giục: “Về đơn vị đi anh! Ráng theo kịp anh em nghe. Hẹn gặp lại. Thế nào cũng gặp nhau bằng được anh nhé!”. Tôi cắm cổ chạy về khu lán đơn vị. Trời đã ngớt mưa. Văng vẳng tiếng còi báo động. Vừa về đến nơi, đã thấy loang loáng đèn pin và tiếng í ới gọi tên tôi. Tôi đứng nghiêm trước tiểu đội trưởng: “Đi đâu bây giờ mới về?”. “Thưa em bị đau bụng…”. “Khẩn trương vào hàng!”. Một đồng đội trao trả tôi chiếc máy vô tuyến và ba lô: “Nhanh lên! Chậm mấy phút rồi. Tưởng mày đào ngũ!”.
Hành quân về phía Nam được hơn tiếng đồng hồ, tôi mới định thần nhớ lại sự việc vừa xảy ra đêm qua. Tôi gặp cô gái có dáng người giống vợ mình. Sao đơn vị lại hành quân đúng ngày hôm nay nhỉ? Tôi bỗng nhớ cô gái đến cồn cào. Một cô gái vừa rắn rỏi, quyết liệt, vừa ấm mềm thương cảm. Tôi chưa thật rõ tình cảm của cô đối với tôi là thế nào! Sự tha thứ? Hay sự hy sinh? Tôi không thể hiểu ngay lúc này. Nhưng rõ là cô đã hứa sẽ gặp lại tôi. Nước mắt mặn chát ở khóe miệng. Có nghĩa là xong chiến dịch, tôi sẽ quay lại Vĩnh Linh tìm cô. Nhất định thế. Tôi bỗng hốt hoảng, vì cả tôi và cô gái chưa kịp hỏi tên nhau…

