Cuối Trời Lửa Đạn - Chương 4

TRĂNG DÁT VÀNG BẾN SÔNG

Thả cái ly lăn lóc trên tấm đệm lác, ông Ba ngửa mặt lên trời. Ở trển trăng sáng lắm đó. Đúng hôn? Trăng lọc bầu trời thành tấm khăn màu vàng chanh, choàng xuống bến sông. Còn mặt nước thì lấp lánh hàng vạn con mắt lục bình tím biếc. Rồi trăng viền xung quanh mái lều cũ nát một quầng sáng phế tích. Tấm đệm lác bồng bềnh giữa sân, mát lạnh gió sông như chiếc thảm thần bay trong dĩ vãng.

Cánh tay ông Ba khẳng khiu, khô đét, níu muốn gãy cần cây đờn kìm. Tiếng tơ bung rứt, rỉ máu, khúc Dạ cổ hoài lang:

Hò là xang xê cống

Líu cống líu công xê xừ (xang)

Hò xê cống xê xang hò

Xừ xang xế xang hò (xư hò)

Đường dù xa ong bướm

xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.

Đêm ngóng trông tin nhạn

ngày mỏi mòn như đá Vọng Phu…

Hức! Chớ má thằng Cò giờ có ngóng chồng một ngày, tao chết liền. Mái đầu lơ phơ muối tiêu lại ngẩng lên, tiếng cười khô khốc. Ánh trăng chiếu xuống khuôn mặt lồi lõm, teo tóp, hố mắt phải sâu hoắm, rỉ nước ghèn, con mắt trái mở hết cỡ nhưng đục lờ. Đời bể dâu quá bậu ơi. Mới hồi nào, thằng Ba Đực lực lưỡng, xách cây bá đỏ chạy cời cời đuổi theo xe lội nước M-113 của tụi Mẽo, bước chân phóng xuống, rút lên oàm oạp trong sình nước. Cây bá đỏ đưa lên vai, lửa nhoáng đầu nòng. Mới hồi nào, đội du kích xã hai chục cây súng quần nhau với cả đại đội địch. Thằng Út Rỡ nhảy lên nóc hầm, quỳ gối nhắm cây B-40 thẳng ụ đại liên đang quét ràn rạt, Ba Đực ôm AK nằm kế bên bắn yểm trợ. Một trái M-79 nổ ùng trước mặt, Út Rỡ té ngang, còn Ba Đực đau nhói con mắt phải, trời đất tối sầm, nhức nhối.

Xã đội trưởng Ba Đực tuy mất con mắt phải, nhưng mang kiếng mát vô, ngó vẫn kiểng trai nhất xứ. Anh không thấy phiền khi mọi người kêu tên mình trệch đi thành Ba Độc nhỡn. Ờ thì độc nhỡn. Cứ đưa cây súng coi. Con khỉ loi nhoi trên cây cà na cách hơn trăm thước, anh đưa súng lên ngắm vài giây, dứt cái một. Cô Tám Long An lên miền Đông làm mướn, xém bỏ về xứ vì bị đám đực rựa đeo chọc ghẹo tối ngày. Ai biểu cô xinh đẹp làm chi. Từ bữa gặp Ba xã đội trong tiệc cưới, cô Tám xiêu lòng trước vẻ phong trần của anh. Đám hỏi xong, chẳng thấy thằng nào dám vo ve gần cô nữa. Dám đụng vô người của xã đội trưởng hả?

Thằng Cò giống tía như đúc. Ba Đực ẵm con ra quán cà phê, mấy bà chép miệng khen “hổ phụ sinh hổ tử”. Mấy năm sau, thấy ông xã đội độc nhỡn… khó coi quá nên cấp trên điều Ba Đực về làm bí thư chi bộ ấp. Lương xướng không có, nhưng công việc búa xua xà bần, Ba Đực chỉ có nhà lúc bữa chiều, bữa trưa mắc họp hành rồi nhậu ba miếng đâu đó. Cô Tám thường làm mặt ngầu. “Ông làm cái giống gì mà đi cà nhổng tối ngày. Rồi ai mần nuôi thằng Cò đây? Mấy công lúa rầy nâu nám đen chưa xịt thuốc kìa. Chuồng heo đổ tanh banh, báo hại con heo nái phá hết bãi mì. Giường má con tui nằm mưa hắt như ngoài sàn nước… Thiệt với ông, hổng lẽ tui ôm con về xứ”.

Một bữa, Ba Đực cho chi bộ nghỉ họp sớm, về kiếm bình xịt thuốc, chèo xuồng ra thăm ruộng. Đúng y lời vợ nói, năm công ruộng chỗ này, chỗ kia rầy lốm đốm đen. Ba Đực bừng bừng nóng trong người. Chiếc vòi phun chém qua, chém lại tựa múa gươm, bụi thuốc xì trắng xóa. Nầy là cái miệng con vợ hay càm ràm. Nầy là con heo nái dịch vật. Nầy là bọn người nhiều chuyện. Tới đầu bờ, Ba Đực giận dữ vung vòi phun trở lại. Luồng gió mạnh từ dưới sông quất ngược, ném nguyên đám sương mù đặc thuốc rầy vô mặt anh. Nóng xót con mắt, Ba Đực thả chiếc bình, nhảy ào xuống sông. Con mắt muốn nổ tung, gặp nước sông thì dịu đi chỉ còn buốt xót. Đêm đó, anh không ngủ được vì nhức nhối. Cắt lá nha đam đắp vô, anh hy vọng thứ lá thuốc thần diệu đó sẽ chữa lành con mắt. Đến sáng, mở mắt ra chỉ thấy một màu trắng đục, Ba Đực kêu lên: “Má thằng Cò ơi? Tui bị mù hay sao đó…”. Ba ngày sau, cô Tám ôm con bỏ đi. Tình yêu thương cuối cùng cô để lại là nồi cơm và nồi cá kho. Ba Đực chống gậy lò dò qua hàng xóm kiếm vợ con. Bà Tư Mắm bán quán nói: “Má con nó xách đồ đi hồi chiều qua lận. Thấy nói đi kiếm việc làm trên thành phố. Ủa! Mà ba thằng Cò không hay vụ đó hả?”. Ba Đực phát điên, vung gậy đập bể mâm cơm. Mò mẫm tìm cái hộp quẹt, đổ hết bọng đèn dầu vô vách lá, rồi ra sức quẹt lửa. Thấy ngôi nhà bốc cháy ngùn ngụt, mọi người la ó lao tới, kịp kéo Ba Đực ra khỏi đám lửa.

Ba Đực bỏ nền nhà hoang, ra bến sông cất lều ở tạm, kiếm cọc chàm đóng cặp bờ sông, quây lưới lại rồi lần mò vớt lục bình thả vô. Tuần một lần, khi nước ròng sát, ông Ba ném lục bình lên bờ, kêu mấy đứa thanh niên phụ bắt cá. Tiền gạo muối, tiền rượu, thuốc… nhờ lũ cá núp trong đám lục bình.

Đó là chuyện của mười năm trước.

Dô! Rượu ngày xưa là chất men giúp ông Ba thêm mạnh mẽ, giờ là bạn hiền chia sẻ buồn vui. “Ngũ thập tri thiên mệnh”, ông tự biết phận mình. Cúi gập xuống bầu đờn, tâm tư dồn vô ngón tay.

Xừu xáng u liu phạn. Liu phạn xừu xáng u.

Ánh trăng quẫy đạp trên tấm lưng trần, khô khỏng những xương. Rượu đã ung ung trong đầu. Nhịp phách nức nở. Đầu óc căng ra, ráng nghĩ xem ngày trước mình là ai. Là ai hả? Tía tôi sống lại cũng không nhớ được. Hình như mình có một người vợ xinh đẹp, một cô gái miền Tây da trắng bóc, tóc đen dày. Mỗi lần nhậu sương sương, mình chỉ muốn chạy ào về nằm ấp trên tấm thân ngồn ngộn lửa của vợ.

Có đám mây nào che khuất mặt trăng. Mình nhìn thấy vậy, khi làn da chợt nóng lên, nhớp nháp. Mình còn nhìn thấy chiếc xe đạp mi ni của con Hạnh lọc cọc lối con lộ đất dẫn xuống bờ sông. Tối rồi, nó đi đâu vậy cà? Hổng lẽ nó cũng khoái dạo trăng. Hai mươi tuổi, một mình nuôi má. Má nó, người đàn bà có chồng chết trận, ở góa nuôi con gái mà nghèo quá, hai năm trước tính đăng ký cho mấy thằng Đài Loan coi mặt con gái. Thằng Phèn mồ côi chạy tới lều ông Ba kêu khóc: “Bác Ba biểu nhỏ Hạnh đừng lấy chồng Đài Loan. Bác nói nó nghe mà. Ráng chờ con mấy năm mần mướn, sẽ có tiền cưới nó về. Con hứa sẽ nuôi cả má nó. Chắc cú đó!”. Hai đứa nầy lần bắt cá nào hổng tới phụ ông Ba, có bữa ăn cơm xong, trời đổ mưa tối mịt nên chúng ở lại, ba bác cháu ngủ lăn trên tấm đệm lác giữa nhà. Ông Ba nổi cục: “Mầy thương nó, sao nín khe như con hến? Giờ chạy như chó đạp lửa. Để tao tính coi!”. Thằng Phèn không biết ông Ba sẽ tính giùm kiểu gì. Nó nghèo, ổng còn nghèo hơn. Tối đó ông Ba kêu cả hai đứa tới, trải tấm đệm ngồi ngoài sân. Xị rượu lấp loáng mê hoặc ánh trăng đầu tháng. Con Hạnh khéo tay, trộn mớ khô sặt nướng với xoài xanh làm mồi nhậu: “Sao bác Ba hổng chịu cho người ta cất nhà tình nghĩa?”. Ý con Hạnh là chuyện ông Ba được tiêu chuẩn hỗ trợ đảng viên nghèo, xã tính cất cho cái nhà mới trên nền cũ, nhưng ông không chịu. Ông Ba dứt khoát: “Cái nhà tôi tự đốt, trật lất rồi còn đòi hỏi chi nữa? Mấy anh ưu tiên cho hộ nào nghèo”.

Ông Ba đưa ly rượu tới tay con Hạnh: “Mầy cũng làm bậy một ly đi, rồi tao nói cho nghe cái nầy”. Con Hạnh ngửa cổ “chót” một phát: “Bác Ba nói vụ con tính lấy chồng Đài Loan chớ gì?”. “Ừa! Phiêu bạt xứ người, hên xui mầy ơi”. “Nhưng… má con cực lắm”. Thằng Phèn xía vô: “Cực để tui phụ nuôi chớ gì”. “Hứ! Ông nuôi thân còn chưa xong…”. Ông Ba rờ rẫm nắm tay hai đứa, cầm trong hai bàn tay khô khẳng của mình. “Bác thương tụi bây lắm, mà không biết làm sao. Phải như ngày xưa tao còn đang công tác… thế nào cũng thu xếp cho tụi bây việc gì đó. Nhưng mà vầy, bây về đi, chủ nhật tới đây tao tính. Con Hạnh lui vụ chồng ngoại ít bữa nghen. Thằng Phèn không kêu khóc nữa”.

Chủ nhật trời mưa tầm tã. Hai đứa rồng rắn chạy xe đạp tới, gặp con lộ đất, nước ngập ứ cuộn đỏ ngầu chảy tràn xuống bến sông. Gió thổi tung tấm bạt rách phủ trên mái nhà. Ông Ba cởi trần, đang cố rịn sợi dây kẽm nối tấm bạt cột vô gốc dừa. Thằng Phèn ném chiếc xe đạp, nhào vô phụ. Nó thấy mình mẩy ông Ba ướt nhẹp, mấy chiếc xương sườn cong vòng nhấp nhô, cạp quần tụt xuống, vướng ngang hông. Ông Ba thở phè phè: “Hên quá! Tụi bây tới rồi hả. Xém chút nữa ổng thổi bay nhà tao rồi. Bây thấy đường trèo lên mái dặm lại mấy tấm lá coi”. Nhoáng cái, thằng Phèn đã đung đưa ngồi trên mái nhà: “Ủa! Mà có lá mới không bác Ba?”. Ông Ba chỉ con Hạnh mớ phên lá trữ sau bếp. Hạnh nhón chân đưa mấy tấm lá lên mái, khe áo lộ ra lấp ló. Thằng Phèn lõ mắt dòm, hai tay giữ hoài không chịu kéo lên. Con Hạnh đỏ mặt: “Hứ! Đồ quỷ!”. Thằng Phèn vừa cột lá vừa nghĩ: “Đẹp thiệt! Mang cho mấy thằng Đài Loan xài, uổng”. Ông Ba xuống bến sông tắm rửa sơ qua, bận bộ quân phục cũ. Ngày xưa nó vừa in, nay rộng rinh vì thân hình ông còn có bộ xương. Biểu hai đứa ngồi xuống một đầu chiếc ghế ngựa mọt gặm, ông ngồi đầu kia ngó cặp mắt đục lờ sang: “Tao có tiền rồi hai đứa. Bảy chục triệu lận”. Thằng Phèn há hốc miệng: “Đâu ra nhiều dữ vậy?”. Con Hạnh ngây thơ: “Chắc thiếm Tám gởi về cho”. Ông Ba dụi mắt: “Mẹ họ! Nó mà biết làm vậy, tao chết liền. Tiền bán đất đó. Bây biết trại gà của Mười Liên mà. Từ lâu con mẻ dụ tao bán nền đất cũ, tao chưa chịu. Tao đòi một trăm triệu, nó trả bảy chục vì sổ đỏ cháy mất tiêu rồi. Mình đang cần tiền, thôi bán phứt”. “Bác Ba cần tiền chi gấp vậy? Bà Mười ép bác, chớ sổ đỏ làm lại mấy hồi”. Ông Ba cười, hình như có ánh sáng phát ra từ con mắt trắng đục: “Để lo cho tụi bây chớ sao. Nói thiệt nghen, số tiền nầy tao để lại một triệu mua lá sửa nhà, còn đâu hai đứa chia nhau làm vốn mần ăn đỡ đi. Tao cho mượn thôi. Mai mốt tao chết, lỡ thằng Cò tìm về, hai đứa bây trả cho nó”. Con Hạnh khóc. Thằng Phèn cười hí hửng. Ông Ba đưa xấp tiền ra, thằng Phèn lẹ tay đón lấy. “Tao nói trước. Đừng đem tiền đi buôn bán. Cái nghề đó phải lừa lọc người ta, bạc lắm. Nhỏ Hạnh đừng ham đi nước ngoài nữa con. Mầy ở nhà làm chuồng trại nuôi thỏ đi. Bên đó vườn rộng nuôi thỏ được. Mà cái giống thỏ sinh mau lắm, cứ mỗi tháng một lứa. Siêng chăm chỉ một hai năm là bộn tiền”. Thằng Phèn giơ xấp tiền lên, ra hiệu cho con Hạnh có nên nhận không? Con Hạnh cúi đầu không nói chi. Trong bụng thằng Phèn mừng rơn. Có số tiền này, nó về mở tiệm sửa xe máy, khỏi đi làm mướn cho tiệm xe Hùng Phát ngoài chợ. Nhưng ông Ba lại lẩm nhẩm tính toán: “Thằng Phèn… Ờ, ờ… mua nửa thiên vịt nuôi đi. Cắt lúa xong, xua vịt chạy đồng từ Bàu Ếch qua Đồng Rùa, Bàu Cỏ là xong một lứa”.

Thằng Phèn lén ông Ba mở tiệm sửa xe chớ không nuôi vịt chạy đồng. Tay nghề nó khá, lại lanh miệng nên khách cũ tìm tới cũng nhiều. Lần đầu tiên nó dám hẹn Hạnh đi cà phê vườn, nó liều mạng ôm hun con nhỏ. Nhỏ Hạnh làm thinh không cự nự. “Tôi sửa xe mỗi tháng dư ra được hai triệu. Chừng một năm đủ tiền nạp tài, tôi rước em về nghen?”. Con Hạnh hổn hển như hụt hơi: “Gấp dữ vậy? Bán được thỏ… em sẽ phụ tiền đám cưới”.

Ông Ba buông cây đờn, hai tay bó gối, ngước lên trời. Lạy trời cho cô Tám gặp người tử tế, khá giả. Nó đỡ cực mà thằng Cò cũng được ăn học thành người. Sớm muộn thằng nhỏ cũng tìm về thăm tía nó thôi. “Lá rụng về cội” mà. Cành lá dừa xạc xào đưa tâm tư của ông theo làn gió nhấp nhổm bay về phía bờ sông. Tiếng xe đạp lạch xạch vô tới sân, dừng lại bên gốc dừa. “Bác Ba chưa đi ngủ sao? Trời có sương lạnh rồi đó. Coi chừng cảm” - Tiếng con Hạnh nhỏ nhẻ ngay bên cạnh. “Đêm nay trăng sáng quá! Tao ngồi ngắm chút, đỡ buồn”. Hạnh suýt phì cười khi nghe ông Ba nói ngồi ngắm trăng. Hai con mắt đui hết làm sao ngắm? Nó cúi xuống thu dọn mấy thứ lăn lóc trên tấm đệm. “Rầu quá bác Ba ơi! Đàn thỏ lớn ù ù, gần sáu trăm con rồi mà bán hổng được. Con nào con nấy ba, bốn kí lận, hai má con kiếm lá cỏ muốn khùng luôn. Đem ra chợ bán cù cưa cù nhằng mỗi lần chừng chục ký. Làm sao đây bác Ba?”. Ông Ba dụi mắt: “Chết mẹ! Vậy thằng cha dưới thành phố hứa bao tiêu sản phẩm đâu?”. Hạnh thở dài: “Ổng hứa với bác Ba vậy, nhưng lặn một hơi. Có lần nhắn con mướn xe chở thỏ về thành phố, ổng trả bốn lăm ngàn một ký. Con tính lui tính tới thấy hổng được. Tại vườn giá thỏ thịt đã bảy mươi ngàn, chở đi thành phố chắc lỗ quá”. Ông Ba bắt chước con Hạnh, thở dài: “Đồ thất tín. Phải còn làm xã đội, ông bắn… bể đầu thằng đó”. Có một chỗ chắc nhờ cậy được, lại là chỗ ông Ba ghét như ghét cùi. Đó là nhà hàng Ka Kum bên kia sông, chuyên bán đặc sản thịt thỏ. Chủ nhà hàng là Sáu cụt, ngày xưa cùng đội du kích với ông. Sáu bị mảnh pháo làm cụt một bàn tay, sau về nghỉ thì đi buôn lậu dọc biên giới. Có tiền bộn thì cất nhà hàng, tuyển em út về bán đồ nhậu xôm lắm. Hồi trước, có lần Sáu cụt ỡm ờ rủ cô Tám qua bển bán hàng cho nó. Ông Ba coi thằng này như quân phản động. Nhưng bây giờ cả trại thỏ của con Hạnh chình ình kia, hổng lẽ đem mần thịt nhậu dần? Phải muối mặt qua năn nỉ Sáu cụt thôi.

“Ngày mai chèo xuồng đưa tao qua sông nghen Hạnh. Tao lo vụ bán thỏ thử coi”. Con Hạnh dạ, cúi xuống dìu ông Ba vô nhà. “Bác Ba nghỉ sớm cho khỏe, mai đi công chuyện giùm con”. Rượu ngấm vào xương tủy, lạnh run. Ông Ba loạng choạng vấp té, phải ôm ngang hông con Hạnh. Hông nó nở nang, eo tròn lẳn. Bất giác ông Ba nôn nao nhớ tới tấm thân nóng hổi của cô Tám. Ông vội xua tay đuổi con Hạnh: “Về đi! Về đi! Không phải dọn dẹp chi hết”.

Chiếc xuồng ba lá lách qua đám lục bình sin sít gần bờ rồi nhẹ lướt ra giữa sông. Con Hạnh ngồi chèo lái, ông Ba ngồi mũi, cúi gập người móc mái dầm. Xuồng dập dềnh theo nhịp chèo, nước róc rách ngay bên dưới chỗ ông Ba ngồi, mùi rong rêu ngai ngái quen thuộc. Cột xuồng xong, Hạnh dắt tay ông Ba đi chênh vênh trên cây cầu dừa, qua con lộ đá thì tới nhà hàng của Sáu cụt. Cách nhà hàng mấy chục thước, ông Ba đã ngửi thấy mùi thịt nướng khen khét, thơm lựng. Giờ được nhậu ba miếng hén. Ao ước của ông Ba được thực hiện ngay như gặp Bụt. Chẳng cần ông lên tiếng, Sáu cụt nhìn thấy con Hạnh mơn mởn thì đồng ý mua hết trại thỏ: “Mèng đéc ơi! Hồi nào tới giờ có nghe cô em nuôi thỏ đâu. Để đó đi, mai mốt tôi qua hốt về hết. Giờ nhậu ba miếng đi anh Ba, lâu quá rồi mới gặp chiến hữu”. Ông Ba cau mặt chửi thầm: “Vì con nhỏ, nếu không tao dộng vô mặt mầy chớ ở đó mà chiến hữu”.

Chiều về, xuồng chạy êm ru, tựa có bàn tay khổng lồ đẩy đàng sau. Ông Ba bỏ dầm, ngồi quay mặt lại: “Thằng chả nói mua là sạch chuồng luôn đó, nhưng phải dăm bữa nửa tháng mới dùng hết. Bây ráng kiếm rau lá cho thỏ đừng hao nghen”. Hạnh khoát mạnh mái dầm, miệng cười tươi: “Con mừng muốn khóc chú Ba ơi. Không ngờ lại lẹ vậy”. “Tao cũng mừng cho bây, nhưng nhớ đừng để người ta lợi dụng mình. Còn đám vịt của thằng Phèn nữa, sắp bán được chưa?”. Hạnh buột miệng: “Vịt đâu mà bán!”. “Ủa! Vậy nó bán hết rồi hả?”. Hạnh lảng qua chuyện khác: “Ngày mai, con bắt con thỏ bự nhất cho bác Ba với anh Phèn nhậu mát trời ông địa luôn”.

NHỮNG TRÁI TIM TRONG BA LÔ

Tiếng lũ chim sâu lích chích trong tán cây điều bỗng ngưng bặt, tiếp theo là tiếng vỗ cánh ào lên, thoảng cơn gió nhỏ. Anh chưa kịp hiểu điều gì phá tan sự tĩnh lặng buổi sáng trong khu vườn, thì nghe tiếng cửa xe sập đóng, dù rất nhẹ. Nhà có khách! Ai đến vào giờ này nhỉ, lại bằng xe du lịch? Anh gượng ngồi dậy trên chiếc võng dù cột giữa hai gốc xoài, ngóng cổ nhìn ra cổng. Chiếc xe bốn chỗ màu đen bóng, một người đàn bà sang trọng xách túi trái cây đang bước vội. Không nhìn mặt mũi, quần áo, chỉ nhìn đôi bàn chân bước xoải, đá lia sang hai bên sát mặt đất, kiểu đi “chữ bát” như dân gian thường gọi, anh đã giật mình nhận ra người đó. Đôi bàn chân chữ bát đã dừng lại ngay trước võng, túi trái cây đặt phịch lên chiếc bàn nhựa bên cạnh: - Chào ông! Sức khỏe của ông có khá không?

- Dạ… cám ơn! Cũng bình thường… Sao cô… sao bà biết chỗ này mà tìm đến?

- Tôi vào Sài Gòn dự đám cưới con trai dì Thư. Con gái ông cho tôi địa chỉ, nên ghé thăm ông xem thế nào.

Cái cười nhếch mép, cặp chân mày rậm nhíu nhíu, đôi mắt to và đen một thời anh mê đắm giờ ánh lên nét khinh khỉnh, lướt trên tấm thân gầy lõng thõng bộ pijama. Anh suýt khùng lên, nhưng cố nén lại: - Cô đến đây làm gì?

- Đã nói là đến thăm ông! Xem cuộc đời đưa ông đến đâu. Tiện thể đem trả mấy thứ giấy tờ cũ.

Người đàn bà chìa ra hai tấm giấy ố vàng, một to, một nhỏ. Đó là tờ giấy quyết định gọi nhập ngũ và tấm bằng Gia đình vẻ vang của anh. Đôi bàn tay vô thức giơ ra, trịnh trọng đón nhận. Quá khứ ùa về từ cơn gió phía cửa rừng thổi tới. Miệng anh mỉm cười, nhưng nét mặt nhăn nhúm, đau đớn. Một thời tuổi trẻ hào hùng cầm súng ra trận, coi thường cái chết, bây giờ nghĩ đến còn rưng rưng nước mắt. Nỗi đau của người lính không phải vết thương do bom đạn, mà âm ỉ từ phía sau lưng. Mấy tờ giấy này, anh để lại chỗ vợ sau lần chuẩn bị đi B năm bảy mốt. Cái buổi trưa tháng tư nóng bức còn ngầy ngật trong trí nhớ. Hôm ấy, anh đạp xe một lèo từ Xuân Mai về Vĩnh Yên. Đạp mải miết như điên, như rồ, mặc kệ cổ họng khô khốc vì khát nước. Thị xã yên bình nép mình dưới những bóng cây xà cừ cổ thụ. Nàng mắt nhắm, mắt mở xuất hiện sau cánh cửa nhỏ bằng cót. Nụ cười rộng, chiếc cổ gầy và cao. Khuôn ngực phập phồng thả rông sau chiếc áo đông xuân trắng tinh. Tiếng nàng reo lên: - Anh về phép à? Giời ơi! Sao lại đạp xe giữa nắng trưa thế này. Rửa mặt mũi chân tay đi. Để em pha cho cốc si-rô.

Anh nắm tay vợ kéo lại:

- Không cần đâu em. Anh chỉ có hai mươi bốn giờ phép. Ở đây với em đến bốn giờ chiều, xong hai đứa đèo nhau về Phong Châu thăm bố bầm. Trưa mai anh phải có mặt tại đơn vị.

- Làm gì mà như đi trận thế?

- Đúng vậy! Anh có lệnh đi B.

Nàng buông rơi chiếc cốc, nước si-rô đỏ như máu tràn trên chiếc chiếu cá nhân.

- Sao… buồn cười thế! Anh là con một mà?

Có gì đáng buồn cười đâu. Anh thấy nhói lên trong lồng ngực. Chiến trường đang cần người, anh lại là người lính. Con một hay con đàn có quan trọng gì lúc này. Rửa ráy qua loa xong, anh ôm vợ nằm dài trên chiếc giường nóng hầm hập. Bàn tay anh cuống quýt xoa lên thân thể mát lạnh của nàng. Hai hàm răng cắn vào môi anh đến bật máu, hai cánh tay nàng chợt nổi gai ốc. Hiện tượng này lan tới hai chân, khi anh kéo chiếc quần phíp đen của nàng xuống. Hồi mới cưới, mỗi khi gần nhau, thấy nàng hay nổi gai ốc trên người, anh tưởng vợ bị bệnh. Sau mới biết đó là phản ứng có điều kiện của thân thể nàng mỗi khi bị kích thích mạnh, dấu hiệu của sự sẵn sàng...

- Anh đi… không biết sống chết thế nào... Cố… đẻ cho anh thằng cu em nhé.

Nàng bỗng choàng dậy, cuống cuồng vơ quần áo mặc vào người. Anh cụt hứng, nhìn ra ngoài sân qua khe cửa sổ nhỏ. Tiếng ve kêu râm ran, thúc giục.

- Em sao thế?

- Thôi anh! Lỡ có chửa, một mình em ở nhà làm sao nuôi con?

Đang trưa nóng hừng hực. Đoạn đường rải nhựa trước nhà như chảy loãng ra, bốc hơi quằn quại. Trái tim bừng bừng dỗi hờn, anh quyết định đạp xe về quê chào cha mẹ và ba cô em gái.

- Em có về quê cùng anh không?

- Không ạ! Xưởng may dây chuyền, em nghỉ không xin phép trước sẽ ảnh hưởng đến cả tổ.

Lần đầu tiên, anh cảm thấy ghét cái tổ may mặc gồm mười hai cô gái trẻ đáng yêu của vợ.

Từ thị xã Vĩnh Yên về quê, bốn mươi lăm cây số. Nắng hừng hực sau lưng, đầu anh cũng nóng rực, muốn nổ tung. Chỉ đến khi bánh xe chạm vào cánh cổng tre xộc xệch trước nhà, tiếng cô em gái reo lanh lảnh mới làm anh bừng tỉnh, thân nhiệt hạ xuống.

- Bầm ơi! Anh cả về!

Mẹ anh thả chiếc giỏ chóc xuống hè, những cái vỏ chai đen nhẻm dùng để hứng nhựa sơn kêu lào xào. Nước mắt bà mẹ ứa ra.

- Sao gấp gáp thế hử con?

Bố anh ngồi trầm ngâm bên chiếc điếu bát, lặng lẽ hút thuốc lào. Đôi mắt ông xa xăm, diệu vợi. Những quang cảnh chiến hào ngổn ngang thi thể đồng đội ở Điện Biên mười bảy năm trước đang hiện lên, chầm chậm.

- Bà bắt con gà sống thiến, làm cơm cho con nó ăn. Tới giỗ cụ mình tính sau.

Thế rồi anh đi một lèo vào chiến trường Bình - Trị - Thiên, ba năm sau mới gặp lại vợ.

Người đàn bà năm mươi bảy - béo tốt, viên mãn. Bà ấy tuổi Ngựa, mạng Sa trung kim, đầy ý chí và bản lĩnh. Anh chỉ chiếc ghế nhựa đỏ bạc màu bên cạnh, mời khách ngồi, nhưng bà vẫn hai tay chắp đít, thong thả đi vào sân, hai bàn chân hình “chữ bát” ngập ngừng rồi bước hẳn vào trong nhà. Anh cảm nhận được ánh mắt đen quét trên tường, dừng lại trên tấm ảnh cưới của vợ chồng anh, chăm chú đọc từng dòng chữ trên tấm Huân chương Lao động hạng Ba của anh cùng với một lô, một lốc bằng khen của Bộ này Bộ kia và của Ủy ban nhân dân tỉnh. Chắc bà ta đang nhíu mày soi xét từng nét mặt trên tấm ảnh thằng cu Rin chụp lần sinh nhật thứ năm, nó dang tay, giơ chân giả làm Tề Thiên Đại Thánh. Đôi mắt mở to thông minh, vầng trán cao bướng bỉnh, cái mũi tẹt, miệng rộng giống bố. Lão già hư đốn này chẳng lẽ còn có con được ư? Vậy là con Thanh nói đúng. Hai năm trước nó khoe với bà: “Mẹ biết không? Con có em trai rồi!”.

Người đàn bà bước trở ra, tiếng loẹt quẹt của đôi chân đi giày Bitis nghe rõ hơn. Bầy chim sâu ở đâu bay ào về đáp xuống cây điều, nghe tiếng bước chân lạ liền bay tóe đi, kêu râm ran.

- Suốt ngày ông ngồi dí trên chiếc võng thế này ư?

- Vâng!

- Thế muốn đi vệ sinh?

Anh chỉ sang chiếc bô có nắp đậy, để bên võng.

- Không có ai ở nhà với ông à?

Lắc đầu.

Bà ta cầm cuốn sách nặng trịch dưới võng lên, ngó qua:

- Tiểu thuyết! Đời ông lúc nào cũng dính vào mấy quyển tiểu thuyết, rồi cũng thê thảm như tiểu thuyết. À quên! Còn cái này.

Bà ta mở khóa chiếc túi nhỏ, lấy ra một tờ giấy được ép nhựa cẩn thận, màu mực tím bút bi nhòe nhoẹt, loang lổ. Ném tờ giấy cứng còng lên bụng anh, bà cười nhạt: - Trả nốt cho ông lá thư. Bây giờ tôi không cần nó nữa.

Anh run run nâng tờ giấy lên ngang mắt. Dù không mang kính, anh vẫn nhận ra nét chữ tròn quen thuộc. Đây là lá thư của Quyên, cô giao liên ở Khe Sanh. Anh mừng rỡ như gặp lại người cũ.

“Ngày 13 tháng 2 năm 19...

Hoàng tử thân yêu!

Cám ơn tình yêu của anh. Cám ơn sự giữ gìn của anh cho em trong suốt thời gian qua. Em yêu anh hơn cả mạng sống của mình và em không tiếc anh điều gì. Mong cho sớm hết chiến tranh để em được đặt chân lên vùng đất rừng cọ đồi chè, nơi đã sinh ra anh. Ước gì em được về làm dâu xứ cọ, được gội đầu bằng nước giếng khơi nấu với lá bưởi đồi.

Còn bây giờ em phải đi đây. Chiến dịch còn dài mà anh. Hãy chờ em trở về. Kiếp này không có anh, kiếp sau em vẫn đi tìm.

Hôn anh

Công chúa chăn dê”.

Ba mươi năm rồi Quyên ơi! Em vẫn nằm bên bờ suối có nhiều cây quýt rừng hay ở nghĩa trang liệt sĩ nào? Có lẽ đến lúc nhắm mắt từ giã cõi đời, anh vẫn không thể tha thứ cho mình vì đã không giữ được Quyên. Cô giao liên người Hà Tĩnh có đôi mắt tròn ngây thơ và giọng hát trong vắt ấy từng làm anh chạnh lòng nhớ tới người vợ ở hậu phương. Tổ thông tin của anh rất thân với trạm giao liên T48 phía ngoài bờ suối. Sau khi Quyên dạy cho anh thuộc bài hát “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” là lúc hai người phải lòng nhau. Anh còn nhớ rõ, đêm 12 tháng 2 năm 1974, vầng trăng suông lạnh lẽo rơi lốm đốm trên lớp lá rừng cạnh suối Ông Do, nụ hôn Quyên chủ động trao cho anh có vị bùi bùi, mằn mặn của bánh lương khô. Cô ôm chặt lấy anh, bật khóc: - Chiều nay, anh Hậu tổ trưởng và o Chúc hy sinh rồi anh ơi!

Anh liếm những giọt nước mắt Quyên vừa chảy ra, mặn chát:

- Thật là buồn. Nhưng mà thôi… chúng mình đã xác định chiến tranh là có hy sinh mà em.

- Dạ! Chiến tranh đáng sợ thật. Không kịp để người ta yêu nhau.

Quyên chủ động nằm xuống. Từng chiếc cúc áo lần lượt bật ra. Anh lờ mờ nhìn thấy màu vải đen áo bà ba lẫn vào màn đêm, còn làn da trắng sáng lóa như một vầng trăng trên nền lá khô. Quyên không mặc coóc xê, thứ nịt vú được cấp phát dày như mo nang, nhọn hoắt.

- Em hiến dâng cho anh tất cả đó. Em chưa biết thế nào là yêu anh ơi. Làm ơn yêu em đi!

- Sao liều lĩnh thế! Lỡ có ai đi qua…

- Mặc kệ… em sợ lúc chết mà chưa dâng hiến được gì cho người mình yêu.

Thôi thì liều một phen. Bàn tay anh chạm vào bên ngực trái vun đầy, ấm nóng, cảm nhận rõ nhịp đập gấp gáp trái tim Quyên. Người anh run lên lẩy bẩy như sắp vào cơn sốt rét, cổ họng khô rát, nghẹt thở. Anh đã cúi xuống sát làn da mịn màng, thoảng mùi mồ hôi lẫn mùi khói bom. Hai cánh tay Quyên đã cuốn quanh cổ anh, vít chặt. Bỗng anh gỡ vòng tay con gái, ngồi dậy lúng túng gài từng cúc áo cho cô.

- Sao vậy anh?

- Lỡ có bầu… làm sao em nuôi con một mình?

- Còn có anh mà!

- Chiến tranh không nói trước được điều gì đâu em ạ.

Quyên ngồi phắt dậy, vuốt mái tóc xõa xượi ra phía sau, cặp lại. Cô gay gắt: - Vậy tại sao anh không chịu yêu em? Lỡ ngày mai, anh hoặc em hy sinh, có hối tiếc không?

Buổi trưa nóng nực ngày nào ở Vĩnh Yên hiện về trong trí nhớ, đốt cháy lồng ngực anh. Khi mà vợ anh cuống cuồng vơ đám quần áo che đậy tấm thân trần, vẻ mặt hốt hoảng, miệng nàng méo xệch: “Thôi anh! Lỡ có chửa…”. Anh thấy nỗi giận hờn năm xưa lây qua cả Quyên. Kéo tay cô đứng dậy, anh gắt: - Về! Ngày mai còn nhiều việc.

Quyên ngúng nguẩy giật tay lại. Cô lấy trong túi ra một tờ giấy nhỏ gập vuông vức: - Lá thư này, ngày mai em đi rồi anh hãy đọc. Em buồn lắm!

Anh thấy chẳng có gì ngạc nhiên. Trạm giao liên ngày nào không đi đón khách, cũng như tổ thông tin của anh ngày nào không lên đài trực chiến. Nỗi bực bội vô cớ làm anh quên cả đọc lá thư của Quyên. Ba hôm sau, không thấy Quyên trở lại trạm, mọi người đã túa đi tìm cô. Cách trạm chừng bảy cây số đường rừng, Quyên nằm ngửa gối đầu lên một ụ mối nhỏ, hai chân giạng ra, quần áo bị xé rách toang. Trên ngực trái cô, vết đâm trí mạng của lưỡi lê M-16, ứa máu. Xung quanh, cỏ cây ngã rạp, lộn xộn những dấu giày của bọn biệt kích Mỹ. Đồng đội mang cô về chôn cất ngay bên bờ suối, cạnh chỗ hai người hẹn hò lần trước.

Nghe tin dữ, suýt nữa anh phát điên. Thấy anh vồ lấy khẩu AK, lên đạn rồi tì nòng súng vào cằm, duỗi chân định đạp cò, Tiểu đội trưởng Đạt nhảy tới đạp thẳng vào mặt anh, giật lấy cây súng. Anh ngã lăn mấy vòng, hai tay ôm mặt, rú lên: “Quyên ơi!”.

- Tiên sư khỉ! Định chết ngu ngốc thế hả? Có giỏi đi tìm tụi biệt kích mà chiến đấu.

Anh Đạt chửi xong, cúi xuống ôm lấy đầu anh, an ủi:

- Nín đi em! Ai cũng đau lòng trước sự hy sinh của Quyên. Hãy cứng rắn lên. Hãy trả thù cho cô ấy.

Anh ghi vào sổ nhật kí, tô đi tô lại nét mực thật đậm. “Ngày 13 tháng 2 năm 1974. Q”. Chính dòng nhật kí này, năm 1998 đã làm một cô gái ngạc nhiên.

Năm đó anh đã bỏ quê, vào làm công tác quản lí ở một nông trường miền Đông Nam Bộ. Cô nhân viên kế toán có biệt danh Lan “lùn” một lần vào phòng xin chữ kí, thấy anh trầm ngâm ngồi trước cuốn sổ nhỏ bìa đỏ, trên trang giấy nâu, nét mực xanh đậm dòng chữ. “Ngày 13 tháng 2 năm 1974. Q”.

- Chú Hai biết ngày sinh nhật của cháu hả? Có quà gì không? Bữa nay là ngày 13 tháng 2 năm 1998, cháu tròn hai mươi bốn tuổi rồi đó.

Anh chộp lấy cánh tay cô gái như kẻ chết đuối vớ được phao. Hả? Hôm nay sinh nhật cô thật sao? Nụ cười chuyển thành cái nhăn mặt lo lắng. Cô gái để tập tài liệu xuống bàn, nhẹ gỡ tay anh: - Ủa! Có sao không chú? Cháu nói thiệt mà!

- À… à! Xin lỗi cô! Thực ra… là tôi hỏi, hôm nay sinh nhật cô?

- Dạ! Đúng đó chú.

- Vậy thì chúc mừng sinh nhật…

Buổi chiều, anh xách một giò lan rừng bước vào phòng kế toán. Ba bốn cái đầu con gái cùng ngó ra, mấy cái miệng xinh xắn cùng reo lên đủ thứ tiếng Bắc - Nam.

- A! Sếp mang tặng hoa chúng mình kìa. Hoa lan ở đâu vậy sếp?

Chùm hoa lan màu tím rung rinh trước ánh mắt thán phục của các cô gái. Anh nhìn quanh và thấy một đôi mắt sáng bừng lên trong góc phòng.

- Giò lan tôi xin anh em bên Đồn Biên phòng. Hôm nay sinh nhật Lan “lùn”, xin tặng cô.

Cả phòng náo loạn cả lên. Cả chục cánh tay phụ nữ giơ ra giành lấy giò lan. Chùm hoa tím lượn khắp một vòng từ bàn này qua bàn khác rồi đậu nhẹ trước mặt Lan “lùn”.

- Con bé này lạ thật. Sinh nhật mà không nói với chị em một tiếng, lại đi nói với trưởng phòng.

Anh xua tay, thanh minh cho cô gái.

- Chỉ là sự tình cờ thôi. Đừng nghĩ oan cho cô ấy. Các cô có muốn nghe kể về ngày 13 tháng 2 của tôi không?

Lại nhao nhao lên đòi kể. Anh ngồi xuống, kể lại mối tình của mình trong cuộc chiến hai mươi bốn năm trước. Chuyện đêm cuối cùng Quyên đi công tác và hy sinh. Các cô gái ngồi lặng phắc. Con thạch sùng rơi bộp từ trên trần nhà xuống đất, ngơ ngác nhìn đám người hóa đá một lúc mới đủng đỉnh nguẩy đuôi bò lên tường. Trong góc phòng bật lên tiếng nấc. Lan ôm giò lan trong vòng tay, hai mắt đỏ hoe.

Chuyện hôm đó đã thành định mệnh cuộc đời anh. Anh không biết Lan “lùn” chuyển từ chú sang anh từ lúc nào mỗi khi tiếp xúc với anh. Cô thường tìm cớ lân la hỏi chuyện về chiến tranh, về cô giao liên tên Quyên. Cô mời anh về thăm nhà để thưởng thức món bánh canh Trảng Bàng nổi tiếng. Ba mẹ Lan đều là nông dân, hiền lành và hiếu khách. Hơn một năm, sau lần đến chơi thứ ba của anh, ra về Lan “lùn” lỏn lẻn: - Ông bà già em kì quá! Cứ tò tò theo hỏi em bao giờ cưới? Bay định lấy chồng già hả? Người ta có vợ con gì chưa?

- Vậy hả! Bao giờ em lấy chồng?

- Ai biết!

Sau, anh mới ngã ngửa khi biết ba mẹ Lan tưởng anh là người yêu của cô. Thời gian đó, tình cảm của anh đối với cô gái có gì đó khác lạ, không giống tình yêu, cũng không phải tình anh em. Anh cảm thấy mình tìm thấy quá khứ, thấy được Quyên trong vóc dáng Lan. Có lần, Lan trầm ngâm: - Chắc chị Quyên đầu thai vô em đó anh!

- Làm gì có chuyện đó!

- Chớ tại sao ngày chị hy sinh lại trùng đúng ngày sinh ra em?

Suy nghĩ của Lan từng ngày, từng ngày ám ảnh tâm trí anh, để một ngày anh quyết định kể với cô chuyện anh đã ly hôn, trốn chạy người vợ cũ và đứa con gái kém Lan ba tuổi để chạy vào đây. Cô ngạc nhiên một chút rồi quyết định: - Anh phải cưới em! Chuyện anh có con gái không quan trọng, mà anh phải hiểu em chính là Quyên, là người yêu của anh.

*

Người đàn bà nhìn anh vẻ thương hại:

- Ông cố mà ăn uống bồi dưỡng vào. Người ngợm trông ghê quá, chẳng bù cho ngày xưa.

Anh biết bà nói thật. Từ ngày bị tai nạn gãy chân, đúng là người ngợm lôi thôi, lếch thếch, nhưng sức khỏe thì tốt hơn. Mẹ thằng Rin nuôi chồng khéo, luôn có thực đơn phù hợp với tuổi tác của anh. Còn hiện tại bà ta muốn gì ở mình đây? Nhìn ánh mắt to đen ướt kia, anh hiểu mà. Con đường công danh của bà ta khá tốt. Hình như lên tới chủ tịch công đoàn, rồi phó giám đốc xí nghiệp may. Tiền của không thiếu, chắc bà còn món nợ nào muốn đòi.

- Nhân tiện vào Nam, tôi tranh thủ ghé thăm ông. Cũng nhắc ông việc đất đai, nhà cửa ngoài quê. Ông nên làm di chúc trước đi. Con này, con kia phức tạp lắm. Theo luật định, phần con Thanh được bao nhiêu, ông phải tính trước đi. Sau này hai chị em khỏi tranh giành, mất tình mất nghĩa.

À là thế! Con người duy ý chí của bà ta đã trở lại. Cơn giận bất chợt kéo đến lùng nhùng lỗ tai, suýt làm anh ngã nhào khỏi võng.

- Bà cút đi! Tài sản của cha ông tôi để lại, mặc xác tôi. Con Thanh sẽ có phần, vì tôi coi nó là con gái mình. Chứ bà nghĩ tôi không biết cha nó là tay giám đốc xưởng may à?

Mặt người đàn bà tái mét, lập bập:

- Sao… sao ông nói thế! Rõ ràng sau giải phóng, ông trở về tôi mới sinh con Thanh cơ mà?

Anh cắn chặt môi, lắc đầu. Tiếng là lấy nhau sáu năm trời, nhưng thời gian vợ chồng ở bên nhau gom lại chưa được hai tháng. Sau giải phóng miền Nam, anh khoác ba lô trở lại căn phòng nhỏ có cánh cửa bằng cót của vợ ở Vĩnh Yên, nhưng chưa được bao lâu thì xảy ra xích mích. Khác với buổi trưa mùa hè hôm anh chuẩn bị đi B, vợ anh hừng hực như lò than nóng, háo hức lôi anh lên giường bất cứ lúc nào. Nhưng anh không thể làm được chuyện vợ chồng. Cứ chuẩn bị “lâm trận” là “súng ống” gục nòng. Duy nhất một lần anh thành công khi chợt nghĩ đến Quyên và bộ ngực trắng mịn của cô bên bờ suối. Nghĩ rằng chồng có vấn đề, vợ anh chủ ý theo dõi, tìm tòi và một đêm, cô gầm gừ dí bức thư của Quyên vào mặt anh.

- Đây rồi! Con đĩ này phải không? Thảo nào mà anh nhạt nhẽo với tôi. Hừ! Công chúa chăn dê! Nghe cái tên đã thấy đĩ thõa rồi.

Anh dang thẳng cánh, tát vào bên má gần nhất:

- Cô không đủ tư cách nói về cô ấy!

Vợ anh mím chặt môi, không kêu một tiếng, giấu biến lá thư của anh. Mấy tháng sau, lá thư trở thành vật chứng về “quan hệ nam nữ bất chính” của anh trước tòa. Anh không nói gì, thở dài rồi kí vào đơn ly hôn.

- Bây giờ bà làm ơn đi khỏi nơi này càng nhanh càng tốt. Tôi ghê tởm bà!

Đôi mắt đen ném cái nguýt sắc lẻm lên bộ mặt nhăn nhúm vì tức giận của anh. Tiếng cửa xe đóng sập, khói xả phun tận chỗ anh ngồi. Cũng vừa lúc chiếc xe máy của vợ anh về tới. Thằng cu Rin tự tụt xuống xe, khoanh tay: - Thưa bố chon chi học dề!

Tiếng thằng nhỏ trớt trát làm anh phì cười. Lan xách giỏ đồ ăn đi vào, hỏi: - Bữa nay đỡ đau chân chưa chồng? Nhà mình có khách hả?

Anh mỉm cười gật đầu, cúi xuống hôn lên đôi má bầu bĩnh của con trai.

Trại sáng tác Văn nghệ quân đội

Tháng 5-2014

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.