Cuối Trời Lửa Đạn - Chương 5
TÌM VỀ BẾN SÔNG XƯA
Bất chợt mùi hoa ngọc lan. Mùi hương thuần khiết thoảng qua trong hàng trăm mùi vị phố phường lúc chiều tà. Chị chợt nhớ bông hoa rơi trong khuôn viên thư viện thành phố đã nhặt lên bỏ vào túi xách.
Mặt trời gieo mình rơi xuống phía sau bức tường bê tông cao tầng nhấp nhô cửa lớn, cửa bé. Những ngôi nhà đang chen nhau ngoi đầu lên. Chút xíu màu xanh cây lá chìm khuất trong trăm màu loè loẹt biển quảng cáo.
Chị cảm thấy mình bơ vơ, cô đơn kinh khủng trước ngã tư Quảng trường. Không cảm thấy dòng xe cộ quay cuồng như lũ cuốn. Không nghe thấy tiếng dòng đời chua loét hỉ, nộ, ái, ố. Chị đang nhớ về mười hai năm trước, trái tim thiếu nữ mười tám tuổi đập rộn lên trước ánh mắt ấm áp màu nắng thu của anh, khi anh tặng cô bé bài thơ có tựa đề là Thu muộn.
… Câu thơ bắc cầu cho năm tháng
Anh bồi hồi nuối tiếc tuổi đôi mươi.
Không hiểu sao chị không quên nổi mối tình thiếu nữ đầu tiên ấy. Mối tình chẳng có gì đáng nhớ ngoài những bài thơ và những lá thư gửi qua, tặng lại. Hồi ấy đọc xong Thu muộn, cô bé nhìn anh thật đắm đuối, cõi lòng tan nát vì thương yêu người đàn ông nhỡ nhàng. Một lần chia tay sau cuộc hẹn, cô gái chủ động cầm tay anh vòng qua eo mình, anh mới dám ôm cô và đặt nhẹ nụ hôn lên má trái bầu bĩnh. Chỉ một nụ hôn duy nhất, để đến bây giờ người đàn bà ba mươi tuổi mỗi khi nhớ lại còn run rẩy nhịp tim thiếu nữ. Hôm nay nỗi nhớ ấy bất chợt ùa đến, chị rời khỏi ghế thư viện, nghỉ sớm buổi dạy thêm, đi như chạy ra đường. Chị muốn đuổi theo hoàng hôn đang chới với sau dãy nhà cao tầng. Thành phố không có hoàng hôn, mặt trời tự vẫn sau bức tường bê tông làm chị rơi vào trạng thái tuyệt vọng, chới với. Hoàng hôn ở quê chị đẹp vô cùng. Mặt trời rải tấm lụa vàng chanh suốt một quãng sông Lô tĩnh lặng, bờ trái liu riu phơ phất hoa ngô trổ cờ. Bên giếng đá đầu làng chị hay ra gánh nước, cây ngọc lan buông từng chùm cánh trắng, thơm ngây ngất. Cô gái quê mắt nhoè ướt nhìn cánh buồm vá víu xuôi dòng, tưởng tượng đó là bờ vai anh đang xa dần trong lấp loá hoàng hôn.
Ông xã mỗi ngày gọi ba cuộc điện thoại vào những giờ bất kỳ. Ông kỹ sư điện lạnh muốn kiểm tra vợ hơn là hỏi thăm hai mẹ con. Cu Bi học bán trú ở trường mẫu giáo lớn. Nó mải chơi với bạn đến nỗi buổi chiều không muốn theo mẹ về nhà. Nhà của hai mẹ con là căn phòng hẹp mười hai mét vuông ẩm thấp thuê gần bờ sông Đen. Sông Đen là do ông xã đặt tên vì nó không phải sông mà là dòng nước đen ngòm, nồng nặc mùi xú uế. Ba năm chị về thành phố thuê nhà để bảo vệ cho xong luận văn thạc sĩ văn hoá, lại chuẩn bị ba năm nữa cho luận văn tiến sĩ. Ông xã mỗi tuần xuống thăm vào hai ngày cuối, mặt mũi khó đăm đăm. Cả tuần mới gặp nhau một lần, nhớ muốn chết mà mình cứ nhăn như khỉ ăn gừng. Dù chị cố tỏ ra dịu dàng chăm sóc, ông xã vẫn mặt lạnh như kem. Cả khi chị cố dỗ cho cu Bi ngủ sớm để quay lại với chồng, bộ mặt ấy vẫn thế. Ông xã mang cả bộ mặt lạnh vào những giây phút ân ái, làm chị có cảm giác mình đang bị cưỡng bức: “Cô cứ muốn hơn tôi một cái đầu?”. Thế ra ông xã mặc cảm mình kém vợ. Anh cũng lên chức phó phòng A-xít rồi còn gì? Tôi có lên đến phó giám đốc thì vẫn còn thua xa bà tiến sĩ.
Chị đẹp một cách quyến rũ. Sự cuốn hút từ tấm thân gái một con đang độ mòn con mắt làm nhiều kẻ ngẩn ngơ. Và ông xã lên cơn ghen bệnh hoạn. Cô đi học thì tự lo lấy học phí. Dĩ nhiên rồi. Mấy năm nay chị vừa làm gia sư, vừa dạy thêm trong các lớp ôn thi đại học. Chị đủ tiền học và nuôi con, điều đó cũng làm ông xã tức giận: “Có cảm tưởng tôi là người thừa trong cuộc đời cô”. “Sao anh nói vậy. Em hiện đại nhưng rất truyền thống, gia đình luôn quan trọng số một. Tại sao anh ghen cả với mấy ông giáo sư già? Em đến nhà thầy, là có tà ý gì sao?”. Chị bị một quả đấm vào ngực, ngã ngửa ra giường. Ông xã hầm hầm dắt xe ra khỏi nhà, phi một mạch 40 cây số về công ty. Buổi tối chị đứng dưới vòi hoa sen, nhìn thấy vết tím bầm hình chân gấu phía trên ngực phải thì lặng đi, bất động. Chị thấy người lâng lâng, chập chờn như cánh bướm bên bến sông Lô ướt đẫm hoàng hôn màu vàng chanh, hương ngọc lan thoang thoảng. Cánh buồm vá víu trôi chầm chậm cuối chân trời. Nhận được điện báo chị phải vào viện cấp cứu, ông xã cuống cuồng lao xe về thành phố, tí nữa thì gây tai nạn giao thông. Ôm chầm lấy vợ mà khóc, ông xã hứa không bao giờ vũ phu như thế, không bao giờ ghen tuông vô cớ nữa.
Cu Bi bị viêm phế quản, ho muốn đứt cổ họng và sốt nóng rừng rực. Chị đành bỏ hai buổi hội thảo về lịch sử Phật giáo, chở con đi bệnh viện. Thằng nhỏ thở khò khè, mặt đỏ bừng, nắm tay mẹ năn nỉ: “Mẹ cố chữa bệnh cho Bi nhé, đừng bỏ Bi chết, mai này Bi còn nuôi mẹ”. Chị khóc rưng rức trước lời con trẻ: “Cục vàng của mẹ! Mặt trời của mẹ! Có mẹ đây con không sợ gì cả. Ngoan uống thuốc cho chóng khỏi về còn đi lớp với các bạn”.
Thành phố không hoàng hôn. Bệnh viện càng không có hoàng hôn. Chiều trốn đi trong mùi thuốc tẩy hăng hắc, mùi khói bếp than nặng nề, nhường chỗ cho ánh đèn cao áp đùng đục con mắt thong manh giả. Thằng nhỏ bớt sốt, thiu thiu ngủ. Chị ra ngồi ngoài chiếc ghế đá góc sân bệnh viện, thầm ước có cánh hoa ngọc lan nào từ trên trời rơi xuống. Bóng người ập xuống ghế làm chị giật thót, chút nữa thì kêu lên. Ông xã đột ngột xuất hiện. “Sao anh nói phân xưởng có sự cố hở nồi chứa axít, mai mới xuống được cơ mà?”. “Tôi chưa định đi nhưng tìm thấy mấy thứ này nên phải đi ngay. Cô là gái đã có chồng, lưu giữ làm gì?”. Chao ôi! Là mấy lá thư và tập thơ anh tặng hồi chị còn là sinh viên. “Sao lại lục tung tủ sách của em ra thế? Em đã cất mãi ở ngăn tủ trong cùng”. “Cô muốn yên nhà cửa thì đốt ngay đi!”. Chị không muốn đốt. Chị trân trọng kỷ niệm, nhưng muốn yên gia đình, đành gửi cô em gái bên Đại học Sư phạm đem về nhà mẹ đẻ cất hộ.
Ông xã không giữ lời hứa. Trận ghen này còn đáng sợ hơn. Chiếc laptop bị đập vỡ tan khi mật mã máy bị tìm ra và trong email của chị có thư của mấy người bạn trai cùng học. Điện thoại di động bị giật ngay trên tay và tin nhắn được mở ra: “Anh sắp về thành phố kí hợp đồng in sách. Em chỉ đường cho anh tới nhà xuất bản với nhé”. “Anh có thất vọng về cô bé ngày xưa?”. Là chị muốn hỏi anh khi nhìn thấy bà tiến sĩ dáng người rất “phồn thực”. “Cô chưa muốn quên thằng cha nhà thơ nghèo kiết đó? Cô lấy cớ về thành phố học hành là tạo cơ hội hẹn hò? Cô phản bội tôi. Cô về ngay trường cũ mà dạy học, không thì đừng trách tôi!”. Chị không hiểu sao sự việc lại phức tạp lên như thế. Ông xã sẵn sàng xin nghỉ việc nửa tháng trời về thành phố “trực chiến” trong căn phòng mười hai mét vuông. Thời khoá biểu của chị được theo dõi chặt chẽ. Lên lớp mấy giờ? Từ nhà đến điểm dạy thêm mấy giờ? Đến thư viện mấy giờ? Đi chợ mấy giờ? “Muộn năm phút là cô đừng trách tôi. Cô phải sống có nền nếp thế mới được”. Điện thoại di động bị kiểm tra liên tục. Những tin nhắn, cuộc gọi đến của mấy cô bạn trên quê cũng thành mối nghi ngờ. “Cô lại thông qua họ để hẹn hò chứ gì?”. Chị như kẻ bị quản thúc. Trái tim nhạy cảm bị bóp nghẹt, đập loạn nhịp làm chị khó thở. “Cô có định quên thằng dở người kia không?”. “Em với anh ấy có gì mà quên với nhớ. Chẳng lẽ anh cấm em quan hệ bạn bè?”. “Tôi cấm!”.
Mỗi tuần ông xã về với chị bằng một vẻ mặt mới, chẳng lần nào giống lần nào. Một lần thấy chồng vui vẻ chị đã mừng. Chắc ông ấy hết ghen rồi. Lạy trời đừng để con bị hành hạ mãi thế này, con chết mất. Nhưng chị nhầm. Đêm ấy anh vuốt ve chị mãi nhưng không làm gì. “Anh đừng hành hạ em kiểu ấy nữa, em chết mất”. “Tôi cũng đang định bảo cô nên chết đi thì tốt hơn”. Chị lạnh toát người trước câu nói dửng dưng. “Anh muốn tôi chết thật à? Tôi không sợ chết đâu”. Chị uất lên, nghẹt thở. Chị đã nghĩ đến một liều thuốc ngủ. Hay là một căn phòng kín nào đó chất đầy hoa. Chị không còn con đường nào khác. Mình đi với cha về dưới ấy cũng được. Chị không muốn ly hôn. Hồi cha còn sống, chị rất yêu và hợp tính cha. Ông cụ là người hoài cổ và luôn dạy con gái phải học theo đạo “tam cương”, “ngũ thường”. Chị đã rất bình tĩnh khi nghĩ đến cái chết. Chị thương cu Bi lắm. Nếu chị chết đi, nó sẽ thiếu tình cảm của mẹ, nhưng chắc sẽ không phải khổ vì cha nó là người căn cơ.
Anh lồng lộn lên khi biết chị có ý định chết. “Cô tưởng chết là dễ lắm sao? Cô tưởng như thế tôi sẽ tha thứ cho thằng dở người kia à? Tôi muốn cô phải quên nó đi chứ không phải tìm đến cái chết để trốn tránh. Tôi thề với cô, chuyện gì tôi cũng dám làm, kể cả giết người. Cô cứ chết đi! Đưa ma cô xong tôi sẽ tìm đến thằng dở người của cô, chặt phăng bàn tay phải của nó, cho nó hết đường viết thơ tặng vợ người khác”. Nhìn bộ mặt tái dại của chồng, chị biết chuyện đó có thể xảy ra với anh. Chị đành cúi đầu khuất phục. Chị hứa không bao giờ liên lạc với anh nữa. Chị muốn… Ông xã bắt chị gọi cho anh, bật loa ngoài điện thoại di động: “Anh à! Anh đừng nên điện thoại cho em nữa. Gia đình chồng em cho rằng em bồ bịch với anh rất không hay”. Chị nói không được nhiều, nhưng cố nói thật cay nghiệt cho chồng vừa lòng. Bên kia anh cũng chợt hiểu ra chị gọi điện không bình thường, hình như có người bắt chị phải nói những điều không phải từ đáy lòng. Thế là chị xa anh, hay nói đúng hơn là trốn anh. Đã được hai năm rồi, không một lời hỏi thăm, không một tin nhắn. Chị cố tình xoá số điện thoại của anh trong danh bạ. Chị bắt đầu óc phải quên tất cả những gì liên quan đến kỷ niệm và chị đã làm được. Một niềm vui sâu kín tận đáy lòng vì chị đã giữ được bàn tay anh khỏi bị tàn hại. Bàn tay anh vốn mềm mại, thon nhỏ đáng yêu như tay con gái.
Giáo sư Hải là người hướng dẫn chị làm luận án tiến sĩ, khen chị thông minh, tài tử và duyên dáng. Tiến sĩ Khoa phụ giảng về văn hoá tôn giáo khen chị có giọng nói ấm và truyền cảm. Một ông thầy trẻ U40 luôn nhìn chị mê đắm. Chị không còn khả năng cảm nhận mọi tín hiệu từ bên ngoài. Ông xã cũng ngạc nhiên trước thái độ lạnh nhạt của chị với mọi người. Mấy hôm nay chị bỗng nhận được những tin nhắn từ một số máy lạ, liên tục những bài thơ ỡm ờ về kỷ niệm xa xưa nào đó. Chị gọi lại số đó nhưng bao giờ đầu bên ấy cũng tắt máy. Chị phát khùng lên vì bị quấy rối: “Hay là anh đã không giữ lời hứa?”. Chị bỗng thấy căm ghét anh: “Mới có hai năm mà tâm tính anh đã thay đổi, đã hèn vậy sao?”. Chị muốn hỏi cho ra nhẽ, nhưng số điện thoại của anh, chị quên thật rồi, căng óc ra nhớ mà không được. May cô bạn trên quê còn số của anh. “Tôi nghe ạ!”. Vừa thấy giọng nói của anh mọi nỗi nghi ngờ tan biến. “Anh có số điện thoại mới à? Sao cứ nhắn tin trêu chọc em làm gì, tội nghiệp?”. “Anh có mỗi số này thôi mà. Tại sao cứ phải là anh trêu em? Số của em… anh xin lỗi vì đã quên lâu rồi”.
Chị đã biết ai là thủ phạm những dòng tin nhắn. Người ta còn định thử thách chị đến bao giờ? Những chiều hoàng hôn bên sông quê, chị sắp quên hết rồi, giờ bừng bừng trở lại sắc nắng màu vàng chanh và cánh buồm vá víu trôi chầm chậm. Chị bỏ cuốn sách đọc dở trên bàn thư viện, lao ra đường phố. Chị chạy đi tìm hoàng hôn xưa. Phố không có hoàng hôn. Mặt trời tự vẫn sau những bức tường bê tông nhấp nhô. Chỉ có hoàng hôn quê chị là đẹp vô cùng. Nắng rải màu vàng chanh một khúc sông Lô làm nên bài thơ về Mùa thu.
CUỘC CHIA TAY CUỐI CÙNG
Mùa hè, ông Trương hay ngủ trưa. Cha mẹ ơi! Thời tiết gì khắc nghiệt. Trung du miền núi mà có ngày lên tới 40 độ C. Con người ngập ngụa, mộng mị trong nắng nóng, vết thương cũ ở thắt lưng cứ muốn bung nứt ra. Giấc ngủ trưa trĩu nặng mệt mỏi, lan man những cơn mơ thời chiến tranh.
Cơn mơ trưa nay cũng trở về một buổi trưa xa lắc, im ắng lạ thường. Có thể nghe thấy nước sông Ba Lòng chảy ào ào phía dưới động Toàn. Trạm quân y tiền phương khuất dưới những tán cây cao và kín. Gió phe phảy đám vải băng mới giặt, còn lờ mờ vệt máu chưa sạch. Y sĩ Trương xếp những cuộn bông băng vào túi cứu thương, thêm mấy gói lương khô vào ba lô cóc. Nước sông vẫn vọng tới đều đều, thúc giục, sốt ruột. “Ừ thì đi! Tao đi ngay đây! Bên Công trường Bảy, trận đánh sáng nay, anh em bị thương khá nhiều. Thằng Thương đâu! Đi thôi!”.
Cậu lính trẻ có cái tên con gái, cùng vần với tên với Trương, đã buộc bịn bao xe đạn phía trước bụng.
- Đi hả anh?
- Đi!
Họ cắm cúi bước. Khu rừng thấp vo ve tiếng muỗi, văng vẳng sóng nước sông Ba Lòng. Dốc núi cao dần, chót vót như đường lên trời. Dép cao su vấp phải những cành cây cháy sém, đổ gục. Trương nghe trong đầu ùng oàng tiếng súng trận. Thấp thoáng giữa sắc lá héo vàng, khuôn mặt tròn, rậm rịt râu quai nón của xê trưởng Thạo. Hàm răng anh đều và vàng khè, cười hết cỡ.
- Mẹ thằng Mỹ chơi bẩn! Có giỏi thì tay bo với tao, đừng dùng bom na-pan. Tiên sư nó, thế là bỏng gần khắp người!
- Còn cái mặt anh nó vẫn chừa ra, sau này tán gái tốt!
- Ừ! May cái “đại diện” không bị sẹo!
Cậu Thương lạch bạch đằng trước, xốc khẩu AK trên vai, chỉ vào vạt rừng bên trái.
- Hố bom kia anh Trương nhớ không? Nơi thằng Hồi bị…
Ừ! Nhớ! Thằng bé mới mười tám tuổi, mặt đầy lông tơ, hai tay ôm bụng, miệng mếu máo: - Anh Trương ơi! Cứu em với!
Trương đã cố hết sức, nhưng đêm ấy thằng bé nhắm mắt.
Loạt bom B-52 phía trái cánh rừng rùng rùng nổ, một cục đá cuối đà, làm lật văng chiếc mũ cối.
Ông Trương choàng dậy, mồ hôi ướt đẫm mặt phản gỗ. Tiếng chuông điện thoại chíu chíu giống tiếng đại liên của trực thăng địch. Ông chùi mồ hôi trên mặt, bóp trán cho đỡ nhức đầu. “Bố khỉ! Đứa nào gọi điện vào giờ này?”. Đồng hồ màn hình điện thoại hiện lên con số 12.45.
- A lô! Ai gọi đấy? - Ông Trương cất giọng bực bội.
Giọng phụ nữ nghẹn ngào, rưng rức:
- Là vợ nhà Quân đây anh Trương...! Chồng em yếu lắm rồi! Bị đột quỵ anh ạ! Anh ấy muốn gặp anh lần cuối.
Ông Trương quýnh lên:
- Trời ơi! Sao lại thế? Thím nói với chú Quân chờ tôi vô nhá!
- Dạ!
Chiếc xe giường nằm chạy suốt đêm mà ông Trương cảm thấy nó chậm như rùa bò.
Năm giờ sáng ông có mặt ở thị trấn, mặc cả lấy lệ với tên chạy xe ôm mặt mũi bặm trợn rồi ngồi lên phía sau, nhắm mắt nghe gió réo ù ù, để sáu giờ tới nhà Quân. Mọi người đang chuẩn bị việc hậu sự, có nghĩa là Quân sắp đi. Hình như chỉ chờ có mặt ông Trương. Cặp mắt đục lờ nhìn vô hồn lên trần nhà, chợt sáng lên khi nghe tiếng ông: - Chú thấy trong người thế nào? Có nhận ra anh Trương không?
Giọt lệ trong vắt ứa ra, nằm im trong khóe mắt. Tay ông Trương vuốt nhẹ dọc thân thể người hấp hối. Da thịt vẫn đẫy đà, bắp đùi vẫn tròn căng. Kéo ống quần pijama của ông Quân lên, cẳng chân phải cụt ngang gần đầu gối. Bàn tay ông Trương xoa lên cái đầu mỏm chân nhăn nhúm giống con nhện lớn, cảm giác nó lạnh ngắt, không nóng hầm hập như lần đầu tiên ông đụng vào. Thằng Bắc con trai cả của ông Quân xếp ra tấm chiếu những quần áo, đồ đạc sẽ “mang theo” cho cha. Ông Trương thấy có chiếc hộp thuốc cá nhân của lính màu xanh lá thì cầm lên xem. Thằng Bắc chắp tay nói: - Ba con nói chiếc hộp thuốc này là của bác Trương. Ba quý lắm. Bác cho phép con mang theo cho ba?
Ông Trương đã nhận ra chiếc hộp thuốc cá nhân của mình hồi chiến tranh. Màu xanh lá loang lổ nhiều vệt xam xám, do bùn đất hoặc máu thương binh. Rất nhiều vệt máu dính trên ấy, của nhiều người lính trận, trong đó có máu của người lính đối phương như ba thằng Bắc. Bất chợt, ông muốn kể cho tất cả mọi người nghe câu chuyện cũ.
Trưa đó, hai người đi vào sâu trong rừng, tránh những hố bom B-52 lổn nhổn, những vệt bom còn vẳng tiếng kêu, thấm đẫm vệt máu của đồng đội. Cành lá quệt qua chân loạt soạt. Dốc núi chỗ này gần như dựng đứng, có chỗ phải nắm vào dây rừng mà trèo lên. Thương bỗng dừng lại, lắng tai: - Anh ơi! Có tiếng người!
Trương cũng đã nghe thấy tiếng rên rỉ vọng ra từ nơi nào đó. Tiếng rên đau đớn, tuyệt vọng đặc trưng của thương binh. Người lính nằm gục bên một vũng nước mưa cạn. Có lẽ anh ta cố bò lết tới để tìm nước uống. Trương nhẹ nhàng kéo tấm thân trát kín bùn đất lên chỗ khô ráo. Người lính hé đôi mắt lờ đờ: - Cứu... tui với!
Giọng Quảng Trị. “Cậu ở đơn vị nào?” - Chỉ thấy đầu khẽ lắc, ngón tay chỉ vào bên chân phải sưng bầm. Khi chiếc kéo rạch một đường trên ống quần. Trương phát hiện thương binh này mặc quân phục phía bên kia. Một lính địa phương quân. Bọn lính này nhát chết số một, không bù cho đám thủy quân lục chiến lì lợm, liều mạng và cũng thiện chiến hơn.
- Ồ! Lính ngụy à? Mặc xác nó anh Trương! Đi thôi!
- Chờ tí! Cái chân hắn bị thương nặng đấy! Để tao băng bó lại đã.
- Anh chỉ ôm rơm nhặm bụng! Nó mà lành lặn thì đã tặng anh em mình nguyên quả lựu đạn rồi. Thắt lưng nó còn hai quả kia kìa.
Trương không nói gì, chỉ chăm chú nhìn vào vết thương của tên lính. Mảnh cối hoặc pháo phá nát bàn chân phải, củ khoai chân nát bấy, da thịt tím bầm và có mùi khăn khẳn. Một đám kiến đen đã bu kín phần miệng vết thương. Bị hoại tử rồi!
- Cậu vợ con chưa? - Trương nhìn vào bộ mặt nhăn nhó đau đớn, lấm đầy bùn, hỏi. Hắn lắc đầu: - Dạ chưa! Em chỉ có mạ... Mạ em tra rồi!
- Phải cắt bỏ phần chân bị thương! Cứ để thế này, vết thương hoại tử nhanh lắm, không sống được đâu! Tôi cắt nhé?
Phương án bất ngờ đưa ra, làm cả cậu Thương và tên lính ngạc nhiên. Đôi mắt khép hờ lóe lên nỗi hy vọng lẫn hoài nghi. Hắn khẽ cựa mình, cố nhấc cái chân lên mà không được, cất tiếng rên đau đớn. Bắt gặp ánh mắt đầy lo lắng và thương cảm của Trương, hắn có phần yên tâm, gật đầu.
- Nhưng sẽ không có thuốc mê đâu! Cố chịu đau!
Thời gian không còn nhiều. Thương sốt ruột ra mặt, căm ghét nhìn cái chân hôi thối mà Trương đang nâng niu trên tay.
- Cậu đừng nhăn như khỉ ăn gừng nữa! Lấy băng ra, ga-rô phía trên gối cẩn thận!
Ống quần bị cắt tới bẹn, hở ra phần đùi trắng trẻo. Trương nắn ống chân kiểm tra xem xương bị gãy tới đâu. Cái chân sưng tấy, nóng hầm hập, chỉ bị dập nát phần dưới cổ và bàn chân. Anh bôi cồn sát trùng ba lượt, lấy ra chiếc cưa nhỏ, sáng loáng. Thương đã bẻ một khúc cây khô bằng ngón chân cái, ngáng ngang miệng tên lính, dùng băng buộc ra sau gáy. Tiếng lưỡi cưa bắt đầu chạm vào xương ống chân, kêu ken két. Tên lính trợn ngược mắt, cắn chặt hàm răng vào khúc cây, người cong lên chịu đựng cơn đau. Trương thận trọng từng đường cưa, miệng mỉm cười, động viên: - Cố lên! Một tí là xong thôi!
Nhưng cái “một tí” ấy dài như thế kỉ, cơn đau xoáy vào óc, dai dẳng. Khi khúc chân đứt lìa, cũng là lúc tên tính hộc lên, ngất xỉu.
Trương băng bó lại khúc chân cụt, tiêm thuốc kháng sinh.
- Khéo hắn chết rồi anh ạ!
Thương nói nhỏ. Trương bắt mạch, thấy nhịp tim vẫn còn.
- Không chết được đâu! Trừ khi bị nhiễm trùng hoặc đói khát! Đào cái hố chôn khúc chân này đi!
Thương phồng mồm bực tức, nhưng vẫn rút chiếc xẻng ra, lúi húi đào. Trương kiểm tra vết thương một lần nữa. Anh để lại hộp thuốc cá nhân, một bi đông nước và hai bánh lương khô bên cạnh tên lính, bẻ một cành lá che lên mắt hắn cho khỏi bị chói. “Vĩnh biệt nhé! Chúc may mắn, anh bạn bất đắc dĩ. Chiến tranh là vậy đó. Cố sống sót mà trở về”.
- Đi thôi!
Anh giục Thương, mà mắt còn nhìn lại tấm thân nằm bất động trên cỏ.
- Mong sao anh em mình, nếu bị thương mà gặp địch cũng được đối xử như vậy.
- Hừm! Cứ chờ đấy!
Thương nhổ một bãi nước bọt.
Sau này, khi có dịp ngồi với nhau, Thương hay hỏi:
- Tên lính hồi ấy anh cưa chân, liệu còn sống không nhỉ?
Trương lắc đầu:
- Không biết! May rủi thôi! Nếu hắn cao số thì sống, vì tao xử lý vết thương rất cẩn thận.
Không ai trong đơn vị biết chuyện này. Trương im lặng vì thấy đây là việc làm bình thường, nhân đạo của người thầy thuốc. Thương thì khác, cậu ta là một cây bép xép, nhưng không hé răng, vì sợ Trương bị người khác chụp mũ, kỷ luật thì om xương.
Chiến trường Quảng Trị mùa xuân năm 1973 có vẻ dễ chịu hơn nhờ Hiệp định Pa-ri về chiến tranh Việt Nam bắt đầu có hiệu lực. Những lá cờ nửa đỏ nửa xanh bay phấp phới cạnh những lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đã có những “ngôi nhà hòa hợp” mọc lên sát vùng giáp ranh giữa ta và địch, lính hai bên có những lúc dẹp súng đạn sang một bên, cùng chơi bóng chuyền, đấu cờ tướng. Đơn vị của Trương rút về đóng ở một xã thuộc Hải Lăng. Sáng hôm đó, tiểu đội quân y lỉnh kỉnh ba lô tới trước một căn nhà nhỏ, mái tôn gỉ sét còn in mờ mờ dấu vết một hình cờ vàng sơn trên mái. Cây bông bụt bên trang thờ ngoài sân nở một bông duy nhất, đỏ thắm. Anh cán bộ xã đội chỉ vào trong nhà: - Mấy anh nghỉ ở đây! Bà chủ nhà rất có cảm tình với Quân giải phóng! Mệ Lành ơi mệ Lành! Cho gởi mấy anh Giải phóng hỉ!
Bà già bước ra hiên, dáng vẻ hiền lành, tấm lưng hơi còng trong chiếc áo bà ba đen sờn bạc: - Mấy chú vô đi! Nhà cửa chật chội! Mong mấy chú cảm phiền!
Vừa đặt ba lô xuống, cậu Thương đã nhanh nhẹn đi tìm chiếc chổi dừa, lúi húi quét dọn sân ngõ. Trương bảo một cậu trẻ tuổi, tóc húi cua: - Đi kiểm tra lu nước xem còn không! Nếu hết thì đi gánh về dùng. Mình còn ở đây lâu.
- Má ơi! Giếng nước ở đâu ạ?
- Mẹ ơi! Con cột võng vào chiếc cột này được không?
- Cậu vào trong kia mà nằm cho khuất gió! Chỗ gần cửa này để tớ!
- Không! Tớ nhận chỗ này trước rồi! Cậu vào trong ấy mà nằm!
Tiếng cười nói, tranh cãi của cánh lính trẻ làm căn nhà nhỏ trở nên ấm cúng. Tết sắp tới gần, cây mai còi cọc cạnh lu nước đã lốm đốm nụ. Bà già chống tay lên cột nhà, miệng cười đỏ nước quết trầu.
Trương rủ Thương ra thăm cái nhà “hòa hợp” xem nó thế nào. Anh cẩn thận bỏ vào túi áo hai bao thuốc Điện Biên bao bạc, nếu có gặp anh em lính quân đội Sài Gòn thì sẽ mời họ hút cho vui, nhân tiện địch vận luôn. Nhà “hòa hợp” cách ranh giới hai bên khoảng sáu, bảy mét. Đó là chiếc lán dựng bằng những cây tre còn tươi và lợp bằng phên tranh. Nếu ngồi chật, chỉ đủ chỗ cho mười người lính. Hương Tết nồng nàn vương lẫn trong mùi khét của khói súng. Những lá cờ xanh đỏ và cờ vàng ba sọc vẫy phần phật trong gió sớm, như tranh giành nhau những khoảng không gian he hé màu xanh dịu dàng. Một cặp vợ chồng trẻ bồng con nhỏ đi phía sau. Họ nói cũng muốn ra coi nhà “hòa hợp”, muốn nói chuyện với binh lính phía bên kia, mời họ về ăn Tết cùng gia đình. Bộ bà ba đen của người vợ được gió thổi sát tấm thân gày guộc, hai bàn chân đất xới tung bụi cát trên đường. Người chồng bị cụt chân, vai phải nghiêng hẳn về một bên đè nặng lên chiếc nạng gỗ. Đầu nạng có lúc không nhấc lên khỏi mặt đất, kéo lết về phía trước, vạch lên cát một đường thẳng ngắn. Anh ta vừa lọc cọc chống nạng, vừa lúc lắc cái đầu, cười với đứa con chừng mười tháng tuổi, đang đánh đu bên nách vợ: - Ô! Chu choa! Cu đi nhanh vậy! Chờ ba với hí! Chu choa... chu choa...!
Trương dừng chân, vui vẻ nhìn người chồng:
- Cậu bị thương trận nào vậy?
Chiếc gậy bỗng dừng lại, loạng choạng. Nụ cười đang rạng rỡ trên môi người đàn ông cụt chân tắt ngấm, chuyển sang chữ O tròn vạnh. Ống quần phải buộc túm lại, đu đưa khúc chân cụt. Hàng ria mép cắt ngắn nhúc nhích: - Dạ! Thưa bác sĩ...
- Tôi là quân y sĩ, không phải bác sĩ!
- Anh không nhận ra em sao?
Những gương mặt thương, bệnh binh ở các đơn vị thoáng qua rất nhanh trong trí nhớ, nhưng anh không nhận ra người này.
- Cậu ở đơn vị nào?
Người vợ bồng con tất tả quay lại:
- Dạ! Chồng em tên Quân, là thương phế binh quân đội Sài Gòn, thưa mấy anh!
- À... à... à!
Trương chưa thốt xong lời ngạc nhiên, người chồng đã tiếp lời vợ: - Anh bác sĩ Giải phóng ni là người đã cưa chân cứu anh đó!
Ba bốn cái miệng cùng ồ à, ngạc nhiên, sửng sốt. Trương đã nhớ ra. Hồi đó, cậu ta nằm giữa vũng bùn, mặt mũi lấm lem, chỉ nhìn thấy ánh mắt. Giờ khỏe mạnh, sáng sủa thế kia, ai mà nhận ra. Cậu Thương cũng quay lại, reo lên: - Cái gì? Tìm thấy người quen năm trước ở Động Toàn rồi hả anh? Em đã bảo thế nào cậu ta cũng còn sống mà.
Quân xúc động ngồi giữa hai nhóm người trong căn nhà “hòa hợp”. Một bên là nhóm bộ đội Giải phóng và mấy chị, mấy o trong thôn. Một bên là nhóm binh sĩ quốc gia. Quê hương đã im tiếng súng, điều mà anh van vái, mong ước từ khi chống nạng về quê với mạ. Quân nói nhanh, có lúc bị lắp bắp, kể lại câu chuyện mùa thu năm ngoái: - Lúc bị cưa chân đau quá, tui ngất đi, hình ảnh cuối cùng ghi nhận được là khuôn mặt người lính Giải phóng đầm đìa mồ hôi, đầy lo lắng. Tui tỉnh dậy vào một buổi sáng, mà không xác định được thời gian đã qua. Sương đêm thấm lạnh làm tui mở mắt ra, cảm nhận nỗi đau nhức nhấm nháy dưới đầu gối chân phải. Cơn khát cháy họng, ram ráp môi miệng. Tui lật người sang một bên, thè lưỡi liếm mấy hạt sương đọng trên cỏ, mắt bỗng sáng lên khi nhìn thấy bi đông nước để ngay tầm với. Không kịp nghĩ ngợi, tui mở bi đông dốc ngược vào họng, nước tràn cả ra cổ, chảy xuống ngực. Uống một hơi dài mà chưa đã, thấy bi đông còn nhiều nước nhưng tui dừng lại. Cần phải dành dụm nước trong những ngày tới. Cơn đói trỗi dậy, tui bật khóc hu hu khi tiếp tục phát hiện ra hộp thuốc cá nhân và mấy phong lương khô mà hai người lính Giải phóng để lại. Ước vọng sống và lòng thương nhớ mẹ già đã giúp tui vượt qua ba ngày đêm cực kỳ gian khổ. Bò, lết, trườn, bằng mọi động tác của cơ thể, rướn người vượt qua dốc Động Toàn, nơi người ta còn gọi là Cổng Trời. Lúc đó tui ước có một cây dao găm, để chặt cành cây làm chiếc nạng chống. Sức lực giảm sút thê thảm sau khi bị cưa chân, làm tui không bẻ nổi một nhánh cây nhỏ. Ngày thứ ba thực là ngày thử thách gian khổ giữa sống và chết, khi nước và lương thực đã hết, chỉ còn cuộn băng cá nhân và vài viên thuốc kháng sinh. Có lúc đã cảm thấy thất vọng vì không thể gượng bò đi được nữa, tui nằm gục xuống, nhắm mắt chờ đợi cái chết đến giải thoát. Nhưng thiếp đi một lúc, tiếng xe vận tải phía Đường Chín ì ì vọng tới, lại thôi thúc bản năng sống trong trái tim trẻ. Cuối cùng thì đã lết được tới ven Đường Chín, kiệt sức nằm chờ may rủi. Một chiếc xe GMC chở đạn dược đã phát hiện ra tui. Họ đưa tui lên xe, sau đó trực thăng đưa tiếp vào Đà Nẵng. Tui được giải ngũ sau nửa năm nằm điều trị ở Quân y viện.
- Sau chiến hữu có gặp được ân nhân của mình không? - Viên trung sĩ thủy quân lục chiến hỏi Quân, hai mắt y trợn tròn.
- Dạ! Chính là anh Giải phóng ni đây!
Quân chỉ tay sang Trương. Trương cười hiền lành:
- Chuyện bình thường, có gì đâu các bạn!
Anh lấy bao thuốc Điện Biên, bóc ra mời mấy người lính bên kia. Họ rụt rè nhận thuốc, ánh mắt tò mò, khâm phục.
- Sao hai người không kết nghĩa huynh đệ đi!
Viên trung sĩ lại cất lời. Quân cười, hàng ria con kiến cựa quậy, tinh nghịch: - Có được không anh Trương? Mà thôi! Để bữa mô tụi em qua thăm mạ, anh em gặp nhau rồi tính. Mấy anh đang ở trong nhà mạ em đó!
Vụ Trương nhận Quân làm anh em kết nghĩa, chỉ có hai người biết. Ấy là thời gian anh được phục viên cuối năm một chín bảy sáu. Về nhận vai Trưởng trạm y tế xã, anh không có nhiều thời gian, nhưng tình cảm đối với người em kết nghĩa không vì vậy mà nhạt phai. Tình cảm của hai người lính như duyên nợ tiền kiếp, cứ dính chặt lấy nhau. Sau khi về Bắc, Trương có dẫn Quân ra chơi một lần. Quê anh thuộc miền trung du, những đồi cọ ngả bóng soi mình xuống dòng Lô giang, thơm ngát hương chè. Trương cưới vợ, Quân dẫn cả bà má ra chơi, đem theo lỉnh kỉnh gạo nếp với mấy con gà, hạt tiêu, đường phổi. Mấy năm sau, má Quân mất, Trương thu công việc ở Trạm y tế xã, vào Hải Lăng.
Ông Trương im lặng vuốt mái tóc bạc của người em kết nghĩa bết trên trán: - Thôi anh em mình chia tay lần cuối cùng nhé chú Quân. Vết thương chiến tranh, anh có thể cứu được chú, nhưng ông trời gọi thì anh chịu thua. An tâm mà nhắm mắt đi em. Cuộc đời ai cũng đến lúc này. Mình sống sót qua cuộc chiến là may mắn lắm rồi - Ông đưa chiếc túi cứu thương cho thằng Bắc: - Này! Mang đi cho ba con! Để kiếp sau nếu có gặp lại nhau, chúng tao còn nhận anh em.
Ông Trương cười, giơ tay chùi nước mắt.
Ngày 28-8-2018

