Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 1

CHƯƠNG 1 | Lý thuyết để làm gì?

‘Houston, we have a problem.'

Câu nói của phi hành gia từ Apollo 13 truyền xuống căn cứ ở Houston năm 1970 trở nên nổi tiếng, nhất là sau khi phim Apollo 13 công chiếu năm 1995. ‘Gặp chuyện’, ‘có vấn đề’ là đứng trước một chuyện không ngờ. Tình huống mới khiến các tiên liệu khựng lại. Thông thường, ta dựa vào kinh nghiệm để giải quyết, nếu vấn đề chưa có tiền lệ thì dựa vào sách vờ, thảo luận với bạn bè hay kêu cứu để tìm lối ra.

Dựa vào kinh nghiệm để giải quyết vấn đề sẽ rủi ro khi tình huống mới không giống kinh nghiệm. Hệt như học sinh thuộc lòng một bài văn mẫu, khi muốn viết một đề tài mới sẽ không biết dựa trên nguyên tắc nào để viết. Nguyên tắc là những đúc kết từ thực chứng để giải thích và làm căn cứ cho cách ứng phó trước hoàn cảnh. Chúng ta gọi các nguyên tắc chung ấy là lý thuyết. Theo ngôn ngữ thường ngày, lý thuyết thường được hiểu là các kết hiện và tiên đoán cần chứng minh. Nhưng trong khoa học, lý thuyết xuất phát từ thực chứng, đúc kết từ những sự kiện đã xảy ra nhằm giải thích hiện tượng và giải quyết vấn đề.

Mấu chốt ở đây là sự giải thích và giải quyết. Làm sao giải quyết một tình huống dịch chưa từng gặp, giải thích một cách dịch hay bản dịch một cách thuyết phục? Chúng ta dùng lý thuyết để giải thích, vì lý thuyết là một nguyên tắc chung đã được công nhận (không có nghĩa là đồng ý). Chúng ta lấy lý thuyết làm phương tiện để phân tích, loại trừ, tổng hợp. đánh giá, từ đó có thể chọn lựa một phương pháp dịch. Lý thuyết không chỉ giúp giải thích và đánh giá một bản dịch hay phương pháp dịch, lý thuyết còn là căn cứ để dựa vào đó giải quyết các tình huống mới, ví dụ khi gặp một từ ngữ hay quan niệm không có trong ngôn ngữ đích.

Đó là tính chất thực dụng của lý thuyết. Hơn nữa, dịch thuật là một hoạt động lâu đời, xuất phát từ đó, kinh nghiệm và tri thức của người đi trước được đúc kết thành các nguyên tắc chung. Từ chối lý thuyết là phủ nhận kiến thức của người đi trước và tự từ khước khả năng tiếp nhận tri thức của chính mình.

1.1. Đặc điểm của lý thuyết dịch thuật

Dịch thuật trở thành một ngành học ở các nước phương Tây trong khoảng ba mươi năm sau cùng của thế kỷ 20, mặc dù ai cũng biết hoạt động chuyển ngữ có từ rất lâu. Trước thập niên 1960, dịch giả ở nhiều nước cũng đưa ra các lý hiện về dịch thuật, nhưng như sẽ thấy, họ chưa chú ý phân tích và tập hợp lý thuyết của các ngành học khác để giải thích một hiện tượng dịch thuật.

Không phải các lý thuyết gia đều là dịch giả chuyên nghiệp. Họ gồm các học giả thuộc các ngành nhân văn khác. Nhưng khi nghiên cứu trong lĩnh vực của mình, các học giả không thể không dịch, hay đọc, tác phẩm viết bằng ngôn ngữ khác. Chính vì vậy việc chuyển ngữ đã đóng góp to lớn cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực chuyên môn. Trong quá trình dịch, các học giả có quan điểm và cách dịch riêng, nhận ra rằng dịch thuật không chỉ là vấn đề thuần túy ngôn ngữ vì các lý thuyết ngữ học không giải thích hết các hiện tượng ngôn ngữ. Chẳng hạn từ góc độ ký hiệu học, ngôn ngữ chỉ là ký hiệu, nhưng nếu nhìn từ lý thuyết truyền đạt, ký hiệu sẽ không có nghĩa nếu không đặt chúng vào một bối cảnh. Nếu nhìn từ quan niệm chức năng, ngôn ngữ được sử dụng vì một mục đích nào đó, nên dịch thuật không chỉ là sự chuyển nghĩa mà còn tạo sự cảm thông giữa hai nền văn hóa. Các khám phá về tiến trình tâm lý khiến ngành ngữ học tâm lý cũng tìm hiểu và giải thích diễn tiến tâm lý của một người đang thực hiện việc chuyển ngữ.

Qua góc độ của các ngành học khác, người ta cũng nhìn hiện tượng dịch thuật bằng nhãn quan cởi mở hơn: dịch thuật là tiến trình (process) hay sản phẩm (product). Vậy là, khi phê bình hay đánh giá dịch thuật, ta nên phê bình từ quan điểm dịch thuật là tiến trình (những gì đang xảy ra trong tâm trí người dịch), hay chỉ chú trọng đến bản dịch (sản phẩm)? Như vậy, hiện tượng và công việc dịch thuật được giải thích qua nhiều lý thuyết thuộc nhiều ngành khác nhau chứ không thuần túy trong phạm vi ngôn ngữ.

1.2. Mục đích của lý thuyết dịch thuật

Trong Lời tựa cuốn Pathways to Translation: Pedagogy and Process, Sregory Shreve cho rằng ‘đào tạo dịch thuật nhưng không cung cấp lý thuyết là đào tạo mù vì không xác định được mục tiêu, không áp dụng được phương pháp, không đo lường và đánh giá được kết quả học tập. và cuối cùng không sản xuất được những người dịch xuất sắc cho xã hội.’ (xem Kiraly 1995:x)

Nhận định của Shreve nhấn mạnh sự cần thiết của lý thuyết trong môi trường sư phạm. Nhưng trong đời sống hàng ngày, lý thuyết không hẳn được quan tâm như thế, có khi lại được coi là phù phiếm. Thông thường, người ta không chú ý lý thuyết đối với những việc thường làm, và nhất là vẫn làm được hàng ngày. Việc chuyển ngữ, thoạt nhìn, có vẻ là công việc không khó lẩm đối với bất cứ ai biết hai ngôn ngữ, và dường như người nào biết song ngữ đều dịch được dù không biết các nguyên tắc dịch. Đó là một nhận xét theo cảm tính vì thể nào là ‘được’? Để trả lời câu hỏi đó cần căn cứ vào một định hướng. Quan điểm sống định hướng cho lối sống. Trong dịch thuật, lý thuyết là căn cứ để giải thích và tiên liệu một cách dịch khi ‘gặp chuyện’. Không có lý thuyết, khi ‘có vấn đề’ người dịch sẽ lúng túng không biết dựa vào đâu.

Dễ thấy các khiếm khuyết nhất là xem phim nói bằng tiếng Anh có phụ đề Việt ngữ. Có một phim tài tử nói ‘friend in arms’ nhưng phụ đề lại là ‘người anh em trong tay’. Có những khiếm khuyết lớn hơn, như một cuốn sách giáo khoa Anh ngữ tương đối dễ hiểu, khi dịch ra Việt ngữ thì phải đọc tới đọc lui mới hiểu lờ mờ. Lý do vì sao? Người dịch không quen việc, hay do giỏi cả hai ngôn ngữ nguồn và đích nhưng không biết dựa vào nguyên tắc nào để chuyển tải thông điệp cho dễ hiểu? Hoặc khi bình luận về một dịch phẩm thì chỉ xoay quanh vấn đề từ ngữ (như viện dần từ điển để phê bình), trong khi lý luận dịch thuật đã vượt qua phạm vi ngôn ngữ. Nhiều học giả đã chứng minh yếu tố tâm lý, văn hóa, và cả khía cạnh đạo đức cũng định hướng cho phương pháp dịch (xem Chương 9). Không ý thức vai trò của lý thuyết khiến cách dịch và phê bình thiếu chứng cứ, đầy cảm tính.

Trong các lớp ngoại ngữ, sinh viên thường miễn cưỡng khi phải học lý thuyết. Những danh từ trừu tượng đôi khi đáng ngại thật, nhưng trở ngại không phải bởi chính lý thuyết, mà bởi cách diễn đạt. Đọc một cuốn sách giáo khoa về dịch thuật, đôi khi ta ngớ ra với một đoạn văn có những khái niệm như ‘yếu tố ngoại sinh’, ‘phạm trù’, ‘sự đut gãy của văn hóa’, ‘góc nhìn’, hay ‘nội hàm’. Đọc Việt ngữ mà như đọc một bản dịch sát hay sao chép chưa thông từ một ngôn ngữ nào đó. Đọc xong, không thấy mình thu lượm được gì không biết áp dụng vào cho nào trong học tập và công việc.

Sở dĩ có hiện tượng khó hiểu là do lỗi của người viết hay người dịch. Chữ nghĩa tối tăm (đôi khi) là sự cố tình của người viết. Cứ như phải dùng từ ngữ sao cho hàm hồ và đa nghĩa thì mới cao siêu.

Thực ra, khi bàn về một lý thuyết, muốn chứng tỏ chất hàn làm không nhất thiết phải dùng cấu trúc câu và từ ngữ tối tăm. Một diễn đạt thường khó hiểu nếu câu quá dài, gom hai ba ý lại với nhau. Sinh viên đọc những lý thuyết có cách trình bày như thể sẽ mất hứng thú. Nếu phải đọc thì sinh viên sẽ cố để đối phó với thi cử và người dạy. Đối phó xong, họ quên ngay.

Như vậy là tiếp nhận một chiều, không phải học vì thiếu sự hợp tác.

Lý thuyết chỉ có ích nếu có thể kiểm chứng và sau đó ứng dụng được.

Trong dịch thuật, lý thuyết phải nhằm mục tiêu đầu tiên là mở mang kiến thức, và giúp ứng dụng được một số nguyên tắc để dịch hay phê bình.

Học lý thuyết để thực hành: thực hành mọi vấn đề liên quan đến công tác chuyển từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác.

Nội dung của cuốn sách này nhằm thực hiện suy nghĩ đó.

Thứ nhất, trình bày các lý thuyết phổ biến và thực dụng của phương Tây để sinh viên có kiến thức tổng quát về các lý thuyết trong ngành dịch thuật. Có kiến thức tổng quát không phải để nhớ hết các thuyết, thuộc tên của lý thuyết gia. Điều đó đường như không hữu ích lẩm trong đời sống. Benjamin Bloom (1913–1999) khuyên thầy giáo nên dạy tùy theo mức độ tiếp thu. Mục đích tiếp thu, hay tiêu chí để soạn bài. chuẩn bị giáo án hay đề cương môn học, phải căn cứ trên sáu mức độ (Bloom 1956). Mức độ đầu tiên, đơn giản và dễ tiếp nhận nhất là dạy kiến thức. Kiến thức là khối lượng thông tin. Một người nhớ hay biết nhiều thông tin là người có kiến thức. Nhưng biết hay nhớ sẽ không hữu dụng nếu không thể áp dụng. Theo Bloom, mức độ phức tạp nhất là làm sao để dạy người học biết đánh giá (và sáng tạo). Muốn đạt được khả năng đánh giá thì người học, trước hết, phải có thông tin (mức cơ bản), hiểu thấu suốt thông tin đó, áp dụng, phân tích thông tin, rồi tổng hợp, cuối cũng mới đánh giá.

Từ các đề nghị của Bloom, cuốn sách này nhằm giới thiệu với sinh viên các lý thuyết và mô hình dịch thuật, gợi ý các phương pháp tự rèn luyện để vận dụng lý thuyết vào công việc chuyển ngữ. Hiểu biết lý thuyết là xây dựng nền móng, rồi tùy hoàn cảnh, sinh viên sẽ phát huy hay sử dụng khối thông tin (các lý thuyết dịch thuật) đó như thế nào cho phù hợp với công việc của mình.

Mục tiêu thứ hai là trình bày các cách nhìn và cách dịch khác nhau trong cũng một nội dung chuyển ngữ, với hy vọng sinh viên có thể tự chọn lựa một cách dịch khi gặp trường hợp khó. Nói về phương pháp dịch, người ta thường đề cập hai cách phổ biến là ‘dịch sát’ và ‘dịch thoát’. Khi nào dịch sát, khi nào thì dịch thoát? Dịch văn thơ thì nên sát hay thoát? Dịch văn bản chuyên ngành thì dịch thoát hay dịch sát? Dịch nói thì dịch thoát ý hay sát chữ? Đâu là ranh giới giữa ‘sát’ và ‘thoát’. Nhờ biết rộng các quan niệm dịch khác, sinh viên sẽ thấy ‘sát’ hay ‘thoát’ chỉ là cách nói của ngôn ngữ thường ngày, và phương pháp dịch còn thể hiện nhận thức của xã hội chứ không chỉ loay hoay với vấn đề từ ngữ.

Mục tiêu thứ ba của cuốn sách là nhằm giúp sinh viên tranh luận về một sản phẩm dịch thuật có cơ sở. Một dịch giả phát biểu rằng khi dịch văn của nhà văn Pháp Albert Camus, ông dịch lủng củng vì có thời Camus viết lủng củng. Khi muốn phê bình quan niệm dịch của dịch giả này, ta dựa vào đâu? Chọn một lý thuyết là chọn lựa một cái khung, đặt một bài văn hay cuốn sách dịch vào cái khung đó thì khi phê bình sẽ đễ thuyết phục hơn. Tránh được lối nói càn, nói theo cảm tính hay đựa vào thành tích dịch thuật của mình để phê bình hay phát biểu.

Cuối cùng, với kiến thức rộng về các quan điểm dịch thuật, sinh viên sẽ thấy rằng dịch thuật không chỉ giới hạn trong lĩnh vực ngôn ngữ. Chọn một phương pháp dịch, tôn trọng các quy chuẩn hành nghề, hay cả việc từ khước một công tác chuyển ngữ, đều thể hiện quan điểm đạo đức trong dịch thuật.

1.3. Kỹ năng và kiến thức cần có

Thành thạo ít nhất hai ngôn ngữ chưa phải là điều kiện đủ để làm được công tác dịch thuật. Thành thạo còn là một khái niệm tương đối. Một người nói lưu loát một ngôn ngữ không chắc viết đúng và viết hay. Cũng vậy, đọc và hiểu hai ngôn ngữ không có nghĩa ta có thể chuyển ngữ thành công. Vì vậy khi nói về khả năng dịch, chúng ta ngầm hiểu rằng người dịch phải biết ít nhất hai ngôn ngữ. Biết đến mức độ nào lại là một vấn đề khác.

Nhưng biết hai ngôn ngữ chỉ là điều kiện đầu tiên.

Yêu cầu kế tiếp sau khi đã biết hai ngôn ngữ là khả năng diễn đạt, trong dịch viết là cách diễn tả bằng chữ, trong dịch nói là khả năng trình bày (trước công chúng). Biết hai ngôn ngữ, nhưng không thể diễn đạt bằng chữ, không thể truyền đạt sự hiểu biết của mình bằng lời thì khó làm tròn công tác dịch thuật.

Các yếu tố không thể thiếu khác là kiến thức vượt ra ngoài phạm vi ngôn ngữ, gồm kiến thức về văn hóa, kỹ thuật, luật pháp, thương mại, hay nói chung là phải hiểu trọn vẹn nội dung cần chuyển ngữ. Người dịch vừa giỏi ngôn ngữ, vừa cần kiến thức rộng thì việc chuyển ngữ mới dễ thành công.

Kiến thức rộng không phải là nhớ nhiều thông tin, sự kiện, nhớ vanh vách các số liệu khô cứng. Kiến thức rộng nảy sinh từ ý thức về sự giới hạn của những gì mình biết. Để luôn tìm tòi. Đó là khả năng biết nghi ngờ, luôn đặt nghi vấn trước một từ (hay toàn bản văn) có thể có nhiều nghĩa. Trong bài thơ Mandalay nổi tiếng của nhà thơ Anh Rudyard Kipling (1865–1936) viết về tâm tình người lính Anh khi tòng chinh ở Miến Điện, có câu An’ I send a somkin’ of a whackin’ white cheroot, được một người Việt dịch là ‘Em thắp nén hương, rồi sau làn khói trắng’. Câu này nghĩa đen, nói theo ngôn từ của lính, là ‘chàng thấy nàng hút điều xì gà trắng to tổ bố’. Cheroot là thuốc vấn, một loại ‘xì‒gà’ không có đầu lọc của Miến Điện chứ chẳng liên quan gì đến làn khói trắng của cây hương (nhang). Khi gặp một từ lạ như cheroot, chúng ta phải nghi ngờ, tự đặt nghi vấn để đi tìm nghĩa và bối cảnh. Sự đi tìm ấy giúp mở mang kiến thức. Đó là ý nghĩa của kiến thức rộng.

Muốn tìm thông tin, phải biết cách tìm.

Tìm nguồn thông tin là một hoạt động nghiên cứu. Nghiên cứu là tìm, kiếm cái gì, tìm ở đâu, đánh giá cái tìm ra đáng tin cậy hay không để sử dụng.

Ai cũng có thể nghiên cứu. Nghiên cứu không phải chỉ dành cho nghiên cứu sinh. Chúng ta nghiên cứu hàng ngày, so sánh giá nhà, xe cộ, theo dõi hành vi của con mình và so sánh với trẻ cũng lứa là nghiên cứu. Tất nhiên đó là các hoạt động nghiên cứu đơn giản.

Công nghệ thông tin là phương tiện hữu hiệu nhất để tìm thông tin, nhất là trong điều kiện Việt Nam chưa có nhiều ấn phẩm. Trước đây chưa có mạng Internet, người nghiên cứu tìm thông tin bằng nhiều cách. Phổ biến nhất là vào thư viện.

Ở nhiều nước có các trường đại học tốt, trong ngày đầu tiên vào học, sinh viên năm thứ nhất được dẫn vào thư viện để học cách tìm thông tin. Sinh viên Việt Nam du học thường coi thường buổi học này. Cứ nghĩ đơn giản tìm sách và báo trong thư viện quá dễ. Thực ra, thư viện của một trường đại học lớn có nhiều dạng lưu trữ tài liệu, nếu không được chỉ dẫn sẽ khó tìm, như các loại tài liệu hiếm (rare book), hay báo cũ được giữ dưới dạng phim, khi tìm được rồi phải biết cách in ra.

Trong thời đại hậu công nghệ thông tin hiện nay, biết tìm thông tin trên mạng là một kỹ năng không thể thiếu nếu muốn nghiên cứu sâu và rộng một chủ đề.

Vì vậy, bước đầu học dịch cần có ba yếu tố. Thứ nhất, biết hai ngôn ngữ, đọc thông và viết thạo, nắm vững ngữ pháp, quen viết lách và tốt hơn nữa là tập nói trước đám đông. Khi đọc, cần chú ý cách tác giả viết, tự đặt các câu hỏi tại sao tác giả chấm câu như thế, tại sao xuống hàng ở đoạn này, sao không phẩy ở chỗ kia, tại sao câu văn viết dài quá, ta có thể viết ngắn hơn mà vẫn diễn đạt cũng ý nghĩa không.

Thứ hai, tăng cường kiến thức tổng quát và chuyên môn bằng cách đọc nhiều thể loại văn viết của hai ngôn ngữ nguồn và đích. Ngôn ngữ nguồn hay ngữ gốc (source language) là ngôn ngữ thứ nhất được dịch qua ngôn ngữ đích (target language). Việc đọc cả hai ngôn ngữ giúp ta nắm bẩt được nét văn hóa đặc thù, cách diễn đạt của mỗi ngôn ngữ.

Thứ ba, học cách tìm và đánh giá thông tin. Tìm được thông tin không khó, nhưng thông tin đó có đáng tin không thì phải biết cách đánh giá. Đọc nhiều, và áp dụng phương pháp đánh giá thông tin, sinh viên sẽ biết đâu là nguồn thông tin đáng đọc để sử dụng, dù nguồn tin có thể ở trên mạng Internet hay dưới dạng tài liệu in.

Đối với thông tin trên mạng Internet, dùng các công cụ tìm kiếm hiện nay, như Google và Yahoo, thường cho ra hàng trăm hay cả triệu kết quả tìm kiếm, hoặc nếu biết tìm thì chỉ cho ra hai hoặc ba kết quả. Trước nhiều kết quả như thế, phải biết lọc và lựa.

Chính vì sự quan trọng của việc tìm và đánh giá thông tin nên phần dưới đây sẽ trình bày cách tìm và đánh giá thông tin trên mạng Internet. Phần này chỉ nói vài phương cách đơn giản và dễ nhớ.

1.3.1. Tìm thông tin.

Một cách khái quát, hệ thống mạng Internet gồm nhiều đường dẫn đến các nguồn thông tin. Nguồn lưu trữ thông tin có nhiều hình thức, thông thường gồm dạng thấy và đọc (đọc thẳng thông tin trên một trang web, tức ngôn ngữ html), dạng phần mềm đánh máy Word (có đuôi của hồ sơ là .doc). phần mềm để đọc Acrobat (đuôi hồ sơ là .pdf): hoặc dạng hồ sơ để thuyết trình như phần mềm PowerPoint (đuôi là .ppt).

Đọc địa chỉ website.

Yêu cầu đầu tiên để đánh giá chức năng và độ tin cậy của một trang web là nhìn địa chỉ trang web đó để đoán xuất xứ. Một địa chỉ website thường có hình thức như sau:

www.harvard.edu

www.gatl.arg

www.vietnam.com

Trong ba ví dụ địa chỉ website trên (tên miền hay mạng lộ), chúng ta cần để ý phần đuôi: .edu. .org. và .com. Tên miền thường phản ảnh nội dung trang web, hay tài liệu đãng trên trang web đó. Ví dụ các mẫu tự cuối của tên miền, như .edu (education), thường là các trang web về giáo dục, .com là các trang web của tổ chức thương mại (commercial) nhưng hiện nay ai cũng có thể dùng.

Khi đánh đề tài muốn tìm trên thanh tìm kiếm (search) của Google. chúng ta sẽ có nhiều kết quả. Theo thói quen, ta thường chọn kết quả đầu tiên. Nên bỏ thói quen này vì kết quả đầu tiên chưa chắc xuất phát từ một trang web uy tín. Một trong các điều kiện để trang web nằm đầu tiên trong kết quả tìm kiếm là do nó được nhiều người vào. Thay vì chọn vài kết quả đầu tiên, ta nên nhìn vào địa chỉ trang web, đoán thử đó là trang web của các cơ quan giáo dục (.edu), hay thương mại (.com). Ví dụ khi tìm thông tin về ‘biên phiên dịch’ ta tìm thấy bài viết liên quan trên trang web có địa chỉ là vatgia.com thì không nên chọn trang web này. Chúng ta phải chọn những trang web có mục tiêu học thuật vì trong phần ghi tham khảo, ghi địa chỉ trang web (thường phản ảnh mục tiêu của trang web đó) không có mục tiêu học thuật sẽ không chuyên nghiệp.

Thu hẹp vòng vây.

Trước vòng vây của nhiều kết quả tìm thấy, nên biết đánh các lệnh trong thanh tìm kiếm (search) để kết quả tìm ra ít lại, gần với thông tin cần tìm, không bị hoang mang trước vô số kết quả hiện ra.

Cách thu hẹp thứ nhất, đơn giản nhất, là đánh thông tin muốn tìm trong ngoặc kép (“ ”). Ví dụ nếu đánh dòng chữ lý thuyết biên phiên dịch không nằm trong ngoặc kép, ta sẽ có 4.460.000 kết quả. Nhưng nếu đánh trong ngoặc kép ‘lý thuyết biên phiên dịch”, chỉ còn 33 kết quả. Sau khi có 33 kết quả, xem thử cấu trúc tên miền, nếu chúng ta đang cần tìm thông tin các nơi giảng dạy môn học này, nên chọn các địa chỉ có đuôi là .edu (hoặc .edu.vn).

Cách thu hẹp thứ hai là chỉ chọn các thông tin ở dưới dạng một phần mềm nào đó, ví dụ dạng Word. Lệnh chọn thông tin theo dạng phần mềm như sau:

filetype:doc lý thuyết biên phiên dịch

Đánh dòng lệnh trên trong thanh tìm kiếm (search) thì Google chỉ đưa các thông tin được lưu trữ dưới dạng Word (có đuôi hồ sơ là .doc). Nếu muốn tìm thông tin ở dạng Acrobat, thì lệnh trên được đôi như sau:

filetype:pdf lý thuyết biên phiên dịch

Lưu ý các khoảng cách (space) và dấu hai chấm trong hai ví dụ trên.

Cách thu hẹp thứ ba là chỉ chọn các địa chỉ theo ý mình. Ví dụ tìm thông tin về lý thuyết biên phiên dịch trong các trang web giáo dục. Đánh cú pháp này trong thanh tìm kiếm của Google như sau:

site:edu lý thuyết biên phiên dịch

Kết quả chỉ xuất hiện các trang web có đuôi là .edu. Nếu muốn tìm trong các trang web có đuôi là .com, .org. hay .net, ta có thể thay đuôi .edu bằng các đuôi tương ứng.

Google không phải là tất cả.

Khi tìm một thông tin không có trên Google, thường ta kết luận là thông tin đó không có. Điều này cho thấy người tìm rất tin tưởng vào dữ liệu của Google, cứ như Google là tất cả.

Thực ra, có rất nhiều thông tin Google không tìm được. Chưa kể cách tìm và máy tìm Google có thể, một ngày nào đó khi công nghệ thông tin phát triển hơn, sẽ trở nên lạc hậu. Một số nghiên cứu cho thấy lượng thông tin không tìm thấy nhiều gấp 500 lần lượng thông tin xuất hiện trên công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Ask (xem trang web của 21st Century Information Fluency Project ở ). Khối lượng thông tin này núp trong các trang web vô hình (invisible web hay còn gọi là deep web).

Để giúp Google có thể lẩn tìm (crawl) các thông tin trong các website vô hình, ta có thể đánh thêm các lệnh trong thanh tìm kiếm của Google theo công thức sau:

thông tin muốn tìm +database

thông tin muốn tìm +facts

Lưu ý dấu “+” trước database. Có thể thay thế database hoặc fact ở trên bằng một trong các lệnh sau: repository, historical, information, almanac.

Ví dụ: lý thuyết biên phiên dịch +database

Thử đánh thông tin muốn tìm ‘lý thuyết biên phiên dịch’ có thêm lệnh +database, và không có lệnh +database, rồi so sánh kết quả tìm kiếm trên Google, sẽ thấy kết quả khác nhau.

Các công cụ tìm kiếm sau đây cũng rất hiệu quả. Nếu tìm trên Google không thấy, hãy thử hai trang web dưới đây.

www.alltheweb.com

www.altavisat.com

Các trang web sau rất hữu ích để tra cứu thông tin nghiên cứu:

www.refdesk.com

www.infomine.ucr.edu

Refdesk.com được cập nhật hàng ngày. Một trang web không thể thiếu để tìm hay kiểm tra thông tin về mọi vấn đề, kể cả tin tức thời sự nóng bỏng nhất. Infomine là trang web của đại học California at Riverside, tập hợp các thông tin chuyên biệt, đặc biệt cho bậc đại học.

1.3.2. Đánh giá thông tin.

Thông tin hiểu theo nghĩa rộng, gồm tất cả các hình thức chữ viết trên giấy hoặc trên mạng. Đánh giá thông tin là xác định độ tin cậy của tài liệu.

Cách thứ nhất, khi đọc một thông tin có vẻ khẳng định, ví dụ một sự kiện hay số liệu, thì đừng tin ngay mà nên kiểm tra thông tin đó từ nhiều nguồn khác nhau.

Sau đó hãy tìm hiểu người viết thông tin đó. Một tác giả có nhiều sách, hay có học vị cao, chưa đủ để bảo đảm những dòng chữ của người đó có độ tin cậy tuyệt đối. Một lần nữa, khi đọc những tác giả này, phải kiểm chứng từ các nguồn khác cũng bàn về một nội dung mà ta đang đọc. Bởi vì bất cứ một vấn đề nào cũng có nhiều người bàn đến.

Đánh giá thông tin trên Internet còn khó hơn. Phương tiện truyền thông điện tử ngày nay giúp phổ biến thông tin dễ hơn, nhưng đồng thời cũng khó xác minh nguồn thông tin đó.

Họa sĩ Mỹ, Peter Steiner, trên báo The New Yorker ngày 5 tháng 7 năm 1993, có vẽ một biếm họa nổi tiếng. Bức họa mô tả một con chó đến đang ngồi trên ghế trước màn hình máy vi tính, cúi xuống nói với một chú chó nhỏ ngồi xổm dưới đất, rằng: ‘Trên Internet, không ai biết chú mày là chó cả.’ (On the Internet, nobody knows you’re a dog.)

Quả thực, ngày nay ai cũng có thể đưa tin lên mạng. Nếu không biết xuất xứ của trang web, của người (tổ chức) nào, ai là người viết bài, chúng ta rất khó đánh giá một nguồn thông tin trên mạng.

Cách thông dụng để đánh giá một bài viết trên mạng là coi xuất xứ của bài viết đó từ trang web nào. Có phải đó là một tài liệu của một học giả uy tín, từ một trang điện tử cá nhân (blog), hay một quảng cáo? Tài liệu đó có khách quan không hay đầy thành kiến? Trang web của một tổ chức uy tín hay vô danh? Và sau cũng, có sự khác biệt nào khi so sánh nội dung tài liệu đó với các bài viết cũng về nội dung đó?

Một hình thức trình bày nội dung mà sinh viên ít để ý là tài liệu tham khảo. Phải coi bài viết đó có tham khảo tài liệu đáng tin không, và có thể tìm ra các tài liệu mà tác giả đề cập đến trong bài viết không. Một luận văn có nội dung bàn về một vấn đề học thuật, nếu không có tài liệu tham khảo, thì luận văn đó không có giá trị học thuật, chỉ nên coi nó là một bài viết theo cảm tính của người viết mà thôi. Cũng lưu ý là không phải một luận văn có ghi tham khảo là có giá trị, mà phải đánh giá luôn tài liệu tham khảo dùng trong luận văn đó. Hiện nay, khi tìm thông tin trên mạng, ta thường gặp trang web bách khoa (wikipedia). Trang từ điển bách khoa không có giá trị học thuật trong đại học. Chỉ nên đọc nó cho biết, rồi tìm đọc những tài liệu mà trang web này có đề cập đến.

Sau khi đã đánh giá thông tin bằng cách kiểm chứng các câu hỏi trên, phải coi trang web mà chúng ta đang đọc có cập nhật thường xuyên không. Một trang web không được cập nhật là trang web sắp chết hay sẽ chết, và nếu ta trích dẫn (ghi địa chỉ trang web đó trong bài) thì người đọc đôi khi không kiểm chứng được bởi sau một thời gian, trang web đó có thể không còn trên mạng. Chính vì thế mà trong cách ghi tham khảo được nhiều trường đại học sử dụng, như phương pháp ghi tham khảo của Đại học Harvard, khi ghi nguồn tham khảo là một địa chỉ website, thì phải ghi thêm là xem trang web đó vào ngày nào.

1.3.3. Dấu chấm câu.

Trước hết cần chú ý chi tiết (hình thức) của một bản văn viết.

Một lá thư, chẳng hạn, được coi là chuyên nghiệp vì được trình bày nghiêm chỉnh, dấu chấm câu đúng. Một bài luận càng phải chăm chút về hình thức trình bày, càng phải cẩn thận khi dùng dấu chấm câu. Một bản dịch không đơn thuần là chuyển nghĩa mà phải coi trọng hình thức, tức phải chú ý các yêu cầu về ngữ pháp, cách chấm câu.

Một thói quen thường gặp trong nhiều bản văn Việt ngữ là dùng dấu ba chấm (...) quá nhiều. Dấu ba chấm được hiểu ngầm là ‘còn nữa’ hay ‘vân vân’. Ví dụ trong câu sau:

‘Người ta dùng mọi phương tiện để chạy tron như xe ngựa, xe buýt, xe đạp, đò ngang, đò dọc...’

Dấu ba chấm ở đây không thừa nhưng không cần. Bởi lẽ người đọc sẽ tự hiểu ngầm là còn các phương tiện thô sơ khác nữa. Hơn nữa, nếu đọc câu văn trên cho một người mù nghe như trong các băng đọc truyện thì không ai đọc ‘ba chấm’ cả. Chưa kể yếu tố mỹ thuật. Một bài viết có nhiều dấu ba chấm sẽ thiếu mỹ thuật. Vì vậy nếu ý còn thì hãy viết hết các ý đó ra, không nên dùng dấu ba chấm, nhất là trong các tiêu đề chính thì càng nên tránh.

Khi dịch viết từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, chúng ta không nhất thiết phải giữ nguyên cách chấm câu của ngôn ngữ gốc. Tất nhiên điều này còn tùy vào quan điểm dịch và dùng lý thuyết nào khi dịch. Các chương sau sẽ đề cập phần này.

Dấu chấm câu là ký hiệu, ngôn ngữ cũng là ký hiệu (sign) nhưng không phải là một dấu hiệu vô hồn mà là một biểu tượng sinh động (symbol). Vì vậy phải coi dấu chấm câu như ngôn ngữ, nghĩa là cũng có ý nghĩa.

Các sơ suất thường thấy về dấu chấm câu được trình bày trong khung dưới.

Vị trí của dấu chấm câu.

Bậc Tiểu học đã dạy học sinh cách chấm câu. Ai cũng biết ý nghĩa của dấu chấm câu, nhưng đặt dấu chấm câu trong bài viết ở chỗ nào thì ngay cả nhiều tờ báo hay sách (Việt ngữ) hiện nay vẫn chưa thống nhất. Do vậy trong một bản văn, cần theo một quy ước về vị trí của dấu chấm câu.

Lỗi thường gặp nhất là đặt dấu chấm (.) và phẩy (,) ở phía ngoài một câu trích dẫn đã trọn nghĩa. Ví dụ sau trích từ báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 30.12.2009:

Darryl Samuel nhân viên của Sở Giáo dục New York, nhận xét:

“Động cơ xe buýt thì thường phát ra tiếng ồn. Nhưng xe này thì êm hơn rất nhiều đến nỗi tôi nghĩ nó là xe điện”.

Dấu chấm cuối câu phải đặt ở bên trong ngoặc kép mới đúng, lý do vì câu nói của Darryl đã hoàn chỉnh về cú pháp. Do đó phải đặt dấu chấm cuối trong ngoặc kép, như sau:

Darryl Samuel nhân viên của Sở Giáo dục New York, nhận xét:

“Động cơ xe buýt thì thường phát ra tiếng ồn. Nhưng xe này thì êm hơn rất nhiều đến noi tôi nghĩ nó là xe điện.”

Quy ước về vị trí dấu chấm câu ở Mỹ và Anh giống nhau: đặt dấu chấm và phẩy trong câu trích dẫn bên trong dấu ngoặc kép của câu trích dẫn.

“Tôi muốn biết là các bạn nghĩ gì.” ông nói.

“Trăng rằm mà ngồi thuyền trên sông Hậu thì thích nhỉ!” Tôi nói với anh.

Tuy nhiên có một khác biệt nhỏ giữa quy ước chấm câu của Mỹ và Anh về vị trí dấu chấm trong ngoặc kép. Nhà văn Mỹ viết: Tôi thích cuốn “Hồi ký Nguyễn Hiến Lê.” Nhưng ở Anh sẽ viết là: Tôi thích cuốn “Hồi ký Nguyễn Hiến Lê”. Chúng ta thấy quy ước ở Anh lưu ý mạch văn khi đặt dấu chấm ờ ngoài dấu ngoặc kép vì dấu chấm đặt ở ngoài là ‘chấm hết’ cho toàn câu văn.

Khi đã theo một quy ước chấm câu rồi thì phải áp dụng xuyên suốt cả bài văn. Và khi đã quen một quy ước rồi, một người viết kinh nghiệm còn nâng việc chấm câu lên hàng nghệ thuật (Lukeman 2007). Dấu chấm câu lúc đó còn được dùng để điều khiển mạch văn.

Trong các website của nhiều trường đại học ở các nước nói tiếng Anh, có giải thích về ý nghĩa và vị trí của dấu chấm câu.

1.3.4. Bối cảnh trước, chi tiết sau.

Người dịch thận trọng có thể bắt chước ống kính của đạo diễn khi họ muốn giới thiệu một khung cảnh mới. Họ cho người xem thấy toàn cảnh trước khi thu hẹp góc nhìn. Trước khi dịch, phải hiểu thấu đáo bối cảnh và mục đích của ngữ nguồn. Trong dịch nói cũng vậy, những thông dịch viên kinh nghiệm trước khi dịch đều tìm hiểu bối cảnh trong đó việc chuyển ngữ sẽ xảy ra. Không những hiểu ý nghĩa của văn gốc mà còn nên hiểu nghĩa ngầm. Dịch một cuốn sách càng mất công hơn vì nên đọc trọn cuốn sách đó để hiểu cả nghĩa của chữ lẫn tinh thần của sách, sau đó mới bắt đầu nghĩ đến việc dịch.

Nếu chưa hiểu thấu suốt văn gốc thì khoan dịch. Nhưng khi đã hiểu thấu suốt bản văn cũng đừng dịch ngay. Khi đã đọc qua một vài lý thuyết phiên dịch, chúng ta sẽ biết rằng không phải hiểu văn gốc, giỏi ngôn ngữ đích, là đủ để dịch. Dịch không đơn giản là chuyển ngữ, chuyển nghĩa từ ngữ gốc qua ngữ đích bằng việc tìm câu chữ tương đương giữa hai ngôn ngữ. Khi không có nghĩa tương đương thì giải quyết bằng cách nào? Rồi có nên giữ văn phong của văn bản gốc, hay không cần?

Khi đã nắm vững nguồn cội của công tác (sẽ) dịch, chúng ta mới tìm lựa một mô hình hay lý thuyết nào phù hợp với mục đích của việc chuyển ngữ. Và đó cũng là lý do chúng ta cần có kiến thức về các lý thuyết lẫn lịch sử dịch thuật.

1.4. Tóm tắt

Lý thuyết dịch thuật như tấm bảng chỉ đường nơi một ngã ba trên đất lạ, nó giúp ta tự tin để quyết định sẽ đi theo phương hướng dịch thuật nào.

Một quan điểm dịch thuật không dựa vào lý thuyết sẽ tạo ra một sản phẩm dịch đầy cảm tính, thiếu thuyết phục, và đôi khi thiếu cả sự nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ đích.

Kiến thức về lý thuyết dịch thuật cũng cần thiết khi phê bình tiến trình hay sản phẩm dịch thuật. Dùng lý thuyết để phân tích và đánh giá sẽ giúp ta giảm bớt cách nhìn đầy chủ quan, khiến việc phê bình trở nên chừng mực và khách quan.

Sau cùng, để bước vào lĩnh vực dịch thuật một cách nghiêm chỉnh, ngoài khả năng ngôn ngữ, sinh viên cần rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng chữ và lời nói, tự trang bị kiến thức qua kỹ năng tìm và đánh giá thông tin. Các kỹ năng và kiến thức này cần cập nhật thường xuyên bằng tự học để có thể bắt kịp sự phát triển của xã hội và công nghệ thông tin.

THẢO LUẬN

1.

Đánh giá độ tin cậy thông tin trên hai trang web cũng nói về Tổ chức Thương mại Thế giới sau:

www.gatt.org

www.wto.org

Trang web nào không đáng tin? Tại sao?

2.

Đánh giá độ tin cậy của ba trang web đầu tiên trên Google đối với lệnh tìm ‘Lý thuyết biên phiên dịch”.

3.

So sánh và tìm sự khác biệt trong cách dùng dấu chấm câu giữa một bài viết bằng Anh và Việt ngữ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.