Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 2

CHƯƠNG 2 | Các chặng đường lý thuyết

Lịch sử dịch thuật bao gồm hoạt động và lý thuyết. Hoạt động là hành vi dịch thuật, do đó lịch sử về hoạt động dịch thuật gồm việc tìm hiểu nguyên tác và dịch phẩm, người dịch, và bối cảnh xã hội trong đó dịch phẩm ra đời. Trong khi đó lịch sử lý thuyết dịch thuật khảo sát các nguyên tắc và quan điểm về dịch thuật trong một thời đại nào đó. hay sự chuyên biển của các quan điểm dịch thuật theo thời gian.

Dịch thuật học, trong đó có lý thuyết phiên dịch, mới trở thành một ngành học từ thập niên 1970. Trước đó, các quan điểm và nguyên tắc dịch chỉ là một môn phụ dùng để dạy ngoại ngữ.

Chương này điểm lại lịch sử lý thuyết phiên dịch phương Tây từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Lý do chọn thời điểm này vì hiện nay chúng ta có văn liệu nói về thời kỳ đó. Một chương sách không thể duyệt hết các nguyên tắc, quan điểm và lý thuyết dịch thuật. Điều đó may ra có thể thực hiện trong một cuốn sách và trong điều kiện có nguồn tài liệu tham khảo đầy đủ. Do vậy chương này chỉ giới thiệu các quan điểm dịch thuật, chủ yếu của các tác gia phương Tây, đã làm nền tảng cho các lý thuyết dịch bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ 20. Đây là giai đoạn mà lý thuyết dịch thuật được định hình để áp dụng trong các hoạt động liên quan đến dịch thuật hiện nay. Trước đó, không có lý thuyết dịch mà chỉ là các quan điểm ‘cù cưa’ giữa hai nguyên tắc chính: dịch sát hay dịch thoát. Sinh viên muốn tìm hiểu kỹ hơn nên đọc hai tác phẩm tiêu biểu về lịch sử dịch thuật của Delisle và Woodsworth (1995), và Kelly (1979).

Tại sao nên biết lịch sử lý thuyết dịch thuật?

Học dịch để áp dụng lý thuyết, và biết cách áp dụng lý thuyết để đánh giá một bản dịch. Vì vậy không thể bỏ qua lịch sử lý thuyết phiên dịch. Có kiến thức về lịch sử, khi gặp một thuyết mới, ta sẽ biết thuyết mới đó có thật sự mới không, hay chỉ là một sự lặp lại lý luận cũ dưới một tên gọi mới.

Học lịch sử lý thuyết phiên dịch của một vùng hay một nước, một thời đại, còn giúp ta khám phá các trào lưu xã hội, chính trị, đặc biệt là sự phát triển văn học của xã hội đó. Bởi sự giàu có của một ngôn ngữ, kiến thức về một nền văn minh có được nhờ dịch thuật. Qua dịch thuật, chúng ta biết nền văn minh khác, các trào lưu văn học, tư tưởng, chính trị và xã hội, những lĩnh vực luôn phản ảnh trong quá trình dịch thuật.

Các thuyết về phiên dịch chưa trở thành đề tài học thuật nghiêm túc mãi cho đến ba thập niên sau cùng của thế kỷ 20. Trước thời gian này, các dịch giả phương Tây thảo luận về đề tài phiên dịch nhưng coi nó là một hoạt động ngôn ngữ chứ chưa phải là ngành học để giảng dạy và nghiên cứu. Họ thấy rằng cần căn cứ vào một số nguyên tắc để hành nghề, và đưa ra vài quan điểm, tập hợp lại thành bản liệt kê các tiêu chuẩn cần tôn trọng khi chuyển ngữ, như điều nào nên tránh, điều gì nên giữ.

Khi có sự tham gia của dịch giả thuộc các ngành chuyên môn khác nhau, những nguyên tắc dịch đó được phân tích rồi hệ thống hóa. Họ ‘lập thuyết’ để giảng dạy và nghiên cứu, trình bày quan điểm dịch thuật, và đánh giá một bản dịch.

2.1. Về quan niệm dịch thuật của Trung Quốc:

Suốt lịch sử phiên dịch trên ba ngàn năm, từ đời nhà Chu (năm 1100 trước Công nguyên) đến nay, dịch giả Trung Quốc cũng có các nguyên tắc dịch thuật, rồi đúc kết thành các quy ước để hướng dẫn một nhóm người cũng dịch một đề án nào đó. Đầu tiên là để dịch kinh sách tôn giáo, và sau này là giới thiệu tư tưởng phương Tây vào trong nước.

Khoảng đầu thế kỷ 20, dịch giả Nghiêm Phục (1853‒1921) cho rằng phiên dịch có ba điều khó là ‘tín’ (sát nghĩa), ‘đạt’ (thông suốt, dễ hiểu), ‘nhã’ (thanh cao). Nghiêm Phục dịch được chín cuốn về triết lý, học thuật (Nguyễn Hiến Lê 1997b), gồm các đại luận như Wealth of Nations của Adam Smith, The Study of Sociology của Herbert Spencer, On Liberty của John Stuart Mill, The Spirit of the Laws của Montesquieu. Tuy Nghiêm Phục không chủ trương đây là ba tiêu chuẩn để dịch, nhưng nhiều tác gia sau ông lấy ba điều khó mà ông nói làm tiêu chí để dịch và đánh giá bản dịch. So với các quan điểm dịch thuật của các tác gia phương Tây trước ông, thì ba nguyên tắc của Nghiêm Phục đơn sơ và không có gì mới. Sau ông, học giả Lâm Ngữ Đường chủ trương người dịch cần tôn trọng ba nguyên tắc là trung thật, thông thuận, và thẩm mỹ.

Trước Nghiêm Phục, các quan điểm dịch do các danh tăng Phật giáo đề xướng để áp dụng khi dịch kinh Phật từ Phạn ngữ ra Trung văn. Được biết nhiều nhất là Đạo An, rồi Cưu Ma La Thập, người Ấn Độ nhưng sống ở Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ tư đến đầu thế kỷ thứ năm. Nhưng trình bày lý luận dịch thực tế nhất phải kể Pháp sư Huyền Trang. Sau khi thỉnh kinh từ Ấn Độ về, Huyền Trang đã dịch kinh Phật khoảng 20 năm. Ông đưa ra quy tắc ‘ngũ chủng bất phiên’, tức có năm trường hợp không nên dịch ra Hán ngữ (Ma 1998). Đó là trang trọng bất phiên (giữ Phạn âm cho trang trọng nên không dịch, như ‘Bát Nhã’ mà dịch là ‘tri tuệ’ thì mất sự trang trọng), đa hàm bất phiên (chữ nào có nhiều nghĩa thì không nên dịch vì dịch nghĩa này sẽ mất nghĩa khác), bí mật bất phiên (mật nghĩa như thần chú không nên dịch), thuận cổ bất phiên (vì theo người xưa nên không dịch, như chữ A Nậu do xưa đã giữ âm gốc Phạn như vậy), và thử phương bất phiên (do ngôn ngữ đích không có nghĩa như ngôn ngữ gốc nên không dịch).

Nghiêm Phục và các nguyên tắc dịch của Pháp sư Huyền Trang để lại nhiều ảnh hưởng cho giới dịch thuật Trung Quốc sau này. Ví dụ dịch giả Tiền Trọng Thư (1910‒1998) đề xướng thuyết ‘đích hoá’ (sublimation theory) trong phiên dịch (xem Zheng 2010). Đại khái, ông quan niệm rằng dịch, ngoài yêu cầu phải ‘tín’ và ‘đạt’, còn phải làm bản dịch thăng hoa (hoá). Quan điểm này không khác mấy Nghiêm Phục, chỉ khác là Nghiêm Phục không nói ba yếu tố này hỗ tương nhau, còn Tiền Trọng Thư coi cả ba yếu tố này phải liên kết thì bản dịch mới đạt. Cách nhìn của ông tương tự quan niệm đầu thai trong Phật giáo. Đầu thai thì xác đã chết nhưng hồn còn, hồn đó sẽ nhập vào một thể xác khác. Vậy là ‘xác’ mới nhưng ‘hồn’ cũ. Theo ông, khi phiên dịch, cần phải cho cái hồn của văn gốc hoá sinh trong văn dịch, đặc biệt trong dịch văn chương. Cốt yếu trong Đích Hoá Luận của ông nằm ở chữ ‘hoá’ (chữ ‘đích’ trong thuyết này có nghĩa là ‘đích thực’, ‘mục đích’). Nhưng thuyết của ông chỉ dùng cho công tác dịch văn chương vì bản thân ông dịch văn và thơ là chính, ông được đề bạt dịch văn và thơ của Mao Trạch Đông. Tiền Trọng Thư khéo đặt tên quan điểm dịch của ông, nghe có vẻ lạ nhưng không có gì hay, chỉ là khoác hình thức mới trên các lập luận dịch thuật mà nhiều lý thuyết gia phương Tây đã lập ra.

Do đặc điểm ngôn ngữ và tư duy sinh sự độc tôn, lý luận của người Trung Quốc thường cô đọng trong một số từ ngữ, ưa tổng hợp (kết luận) chứ ít phân tích, về đặc điểm ngôn ngữ, do tính đa nghĩa của một từ nên các lý thuyết dịch của Trung Quốc thường cô đọng trong một hoặc vài từ súc tích. Đạo An đưa ra mấy chữ ‘ngũ thất bản, tam bất dị’, Ngạn Tôn thì yêu cầu một dịch giả phải ‘bát bị’ tức tám việc hoàn bị (Thích Phước Sơn n.d.). Đến Nghiêm Phục và cả Tiền Trọng Thư thì loanh quanh trong ‘tín-đạt-nhã’ và ‘hoá’. Trong khi đó các lý thuyết gia phương Tây thường dùng các từ trung dung (vừa phải) để gọi tên quan niệm dịch của mình, như ‘thuyết tương đương’, ‘thuyết tương hợp’, ‘thuyết cảm ý’, ‘thuyết chức năng’ như sẽ trình bày ở phần sau. Có thể nói trong học thuật, người Trung Quốc chủ trương tuyệt đối, còn phương Tây nghiêng về sự tương đối. Các lý luận của người Trung Quốc nói trên cũng đáng nghiên cứu, học giả yêu mến văn hóa Trung Hoa cũng đã biết nhiều về lý luận phiên dịch này. Nhưng cách trình bày lý luận của người Trung Quốc thường ít thuyết phục vì có thói áp đặt, thiếu hệ thống, phản ảnh kinh nghiệm cá nhân và trực quan, phần lớn chỉ áp dụng trong lĩnh vực tôn giáo và văn chương, không đủ rộng và sâu để áp dụng cho dịch thuật nói chung.

Điểm yếu nhất trong lý luận của các nhà lập thuyết Trung Quốc nổi tiếng đã nêu trên là chú trọng so sánh ngôn ngữ gốc với ngôn ngữ đích, không bàn về quá trình chuyển ngữ từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. Các phê bình về dịch thuật của họ trước sau vẫn lấy ngôn ngữ gốc làm chuẩn để so sánh. Nói cách khác, họ không chú ý quy trình truyền đạt và tiến trình tâm lý của người dịch khi bàn về dịch thuật: nếu điểm bắt đầu của lộ trình chuyển ngữ là ngôn ngữ gốc, và điểm đến là ngôn ngữ đích, thì giữa nơi đi và chốn đến, chuyện gì xảy ra cho người dịch về mặt tâm lý, kiến thứ, trí nhớ? Ví dụ trong dịch nói, có người dịch ngay khi nghe vài chữ đầu tiên, có người chờ cho xong một câu. ‘Chữ’ và ‘câu’ trong ví dụ này gọi là ‘đơn vị dịch’. Chính đơn vị dịch, và quá trình dịch, đóng vai trò quan trọng chứ không chỉ áp dụng vài quy tắc rồi coi các quy ước đó là lý thuyết dịch toàn vẹn.

Như thế, bản dịch là thành quả, là phần nổi của tảng băng, nhưng chính nhờ phần chìm bên dưới mới khiến ta thấy được phần nổi. Phần chìm đó là bối cảnh xã hội, là mối quan hệ giữa người dịch và hoàn cảnh xung quanh, là quy trình dịch, là kinh nghiệm, kiến thức, thói quen, tâm lý, và quan trọng nhất là nhân sinh quan. Nhân sinh quan là tầm nhìn và cách nhìn về xã hội người. Ví dụ do cách nhìn xã hội mà trong dịch thuật có cả trường phái nữ quyền (feminist translation theory) chủ trương thay đổi các từ hay nghĩa chữ hàm ý kỳ thị phái tính trong ngôn ngữ gốc (Massadier-Kenny 1997). Như vậy, sản phẩm dịch được hình thành từ rất nhiều yếu tố chứ không chỉ ngôn ngữ.

Các lý luận dịch thuật của người Trung Quốc có khuynh hướng bàn về thành quả mà không phân tích sâu quá trình dịch, không chú ý nghiên cứu tâm lý, nhân sinh quan, động lực làm việc, khả năng cá nhân, và quan hệ giữa người dịch và xã hội họ đang sống.

2.2. Nền tảng dịch thuật của phương Tây.

George Steiner (1998), nhà phê bình văn hóa, tiểu thuyết gia và giáo sư đại học Oxford cho rằng lý luận dịch của phương Tây bắt đầu từ hai nhà tư tưởng La Mã là Marcus Tullius Cicero (106‒43 trước Công nguyên), và Horace (65‒8 trước Công nguyên). Hai ông được chọn làm điểm xuất phát về lý thuyết dịch phương Tây không phải vì họ là tác gia đầu tiên bàn về quan điểm dịch, mà vì quan điểm của họ có văn liệu để truy cứu.

Cicero viết rằng khi chuyển ngữ, ông không phải là người dịch mà là diễn giả, nhà hùng biện, giữ tinh thần của ngôn ngữ gốc và dùng từ ngữ phù hợp với ngôn ngữ đích. Ông viết: ‘Tôi thấy không cần thiết phải dịch sát từng chữ, chỉ giữ phong cách và nội dung chính của ngôn ngữ’ (trích theo Robinson 1997:9). Nhiều học giả khác cùng cho rằng lý luận của Cicero là điểm xuất phát của lý thuyết dịch thuật phương Tây (Bassnett-McGuire 1991. Qvale 2003).

Hai mươi năm sau, tức năm 26 trước Công nguyên, Horace, khi viết về dịch thơ, cũng bác bỏ phương pháp dịch sát (Brink 1971). Cả hai ông phân biệt giữa lối dịch chữ-theo-chữ (dịch sát) và ý-theo-ý. Thời đại Cicero chú trọng dịch văn chương từ tiếng Hy Lạp qua Latin. Độc giả là thành phần tri thức biết cả hai ngôn ngữ này. Vì vậy mục đích dịch không phải dành cho người không biết tiếng Hy Lạp, mà để làm giàu thêm tiếng Latin, cần lưu ý yếu tố dịch để làm giàu ngôn ngữ đích. Do người đọc biết cả hai ngôn ngữ nên dịch không phải để giới thiệu một tác phẩm mới mà để so sánh, bình luận. Tài năng của người dịch được đánh giá qua khả năng lặp lại, hay diễn tả ỷ tường bằng ngôn ngữ đích có xuất sắc hơn ý tưởng trong ngôn ngữ gốc hay không. Đó là đặc điểm của dịch thuật trong thời đại của Cicero và Horace.

Quan điểm dịch để làm phong phú ngôn ngữ đích, chú trọng đôi tượng người đọc, vẫn còn đúng cho đến thời nay, và còn ảnh hưởng đến quan điểm dịch của các lý thuyết gia sau này (Malmkjær 2005).

2.3. Ảnh hưởng từ dịch Kinh Thánh.

Hiếm có công trình nào được dịch nhiều như Kinh Thánh của Kitô giáo. Tác phẩm này được dịch ra trên 800 ngôn ngữ, với khoảng 3000 dịch giả tham gia tích cực (Nida and Taber 1982:1). Kinh Thánh được dịch rất sớm (thế kỷ thứ ba) nên các quan điểm về việc dịch Kinh Thánh ảnh hưởng các lý thuyết dịch sau này của phương Tây.

Người La Mã thời Cicero trọng sáng tạo và dịch thoát ý, đến khi dịch Kinh Thánh, người dịch quan tâm việc chuyên ý và chữ sao cho thực trung thực. ‘Chữ thánh hiền’, theo cách nói của những người học Nho ờ nước ta, là chữ nghĩa thiêng liêng, phải kính trọng. Dịch Kinh Thánh cũng trong tinh thần ấy, ngôn ngữ của thần thánh phải chuyên làm sao vừa trung thực, đúng với tinh hoa của nguyên văn, vừa có thể làm cho người đọc bản dịch thông hiểu. Ở đây, chúng ta thấy một sự giằng co vừa bổ sung vừa mâu thuẫn: dịch sát từ ngữ Kinh Thánh thì có thể – trong vài trường hợp – người đọc bản dịch hiểu sai ý bản gốc; dịch thoát ý thì có thể làm mất sự thiêng liêng của bản gốc. Trước một khái niệm hàm súc và cần trí tưởng tượng trong Kinh Thánh, ví dụ ‘con chiên của Chúa’ (Lamb of God), người dịch, nếu phải dịch ra một ngôn ngữ mà văn hóa của ngôn ngữ đó không có khái niệm ‘con chiên’, như đứng trước một ngã ba đường, và phải quyết định chọn một, hay tự tạo thêm một con đường để đi. Sự giằng co trong việc chọn chữ để dịch đã khiến Nida (1964), nhà ngữ học Hoa Kỳ chuyên dịch Kinh Thánh trong thế kỷ 20, đưa ra hai nguyên tắc rất thú vị là Tương đương nguyên mẫu (Formal Equivalence) và Tương đương chủ động (Dynamic Equivalence). Hai phương thức dịch này sẽ được đề cập ở Chương 3.

Một dịch giả Kinh Thánh thuộc hàng lừng lẫy nhất, được khen, và cũng bị phê bình gắt gao, là Eusebius Hieronymus Sophronis, tức Thánh Jerome. Ông sinh khoảng năm 340 ở vùng đất thuộc Croatia bây giờ và mất khoảng năm 420. Ông được Đức Giáo Hoàng Damasus I giao nhiệm vụ hiệu đính bản dịch Tân Uớc bằng tiếng Latin. Khi Giáo Hoàng Damasus I mất năm 384, Thánh Jerome đi Bethlehem, Do Thái, để dịch bộ Cựu Uớc từ tiếng Hebrew ra Latin, và dịch Tân Ước từ tiếng Hy Lạp ra Latin. Phương pháp dịch của Thánh Jerome được tóm tắt như sau: trừ việc dịch thánh điển linh thiêng, ngoài ra ông áp dụng cách dịch ý-ra-ý (xem Robinson 1997: 23‒30). Như vậy, khi dịch Kinh Thánh, Jerome chủ trương dịch sát, không những sát về từ ngữ mà cả về cấu trúc câu, vì ông cho rằng ngay cả cấu trúc câu của Kinh Thánh cũng tiềm tàng nhiều mật nghĩa thiêng liêng, cho nên không nên tùy tiện thay đổi khi chuyển qua ngôn ngữ đích, sống khác thời và không biết nhau nhưng quan điểm dịch của Thánh Jerome và Pháp sư Huyền Trang có nhiều điểm tương đồng.

Kinh Thánh bằng tiếng Latin do Thánh Jerome dịch, còn gọi là bản Vulgate, được Giáo hội Công giáo La Mã công nhận là bản dịch chính thức, và vẫn còn dùng cho đến ngày nay. Nhiều bản dịch ra ngôn ngữ khác như Anh và Đức đều căn cứ vào bản Vulgate. Năm 1953, Hiệp hội Phiên dịch viên Quốc tế chọn ngày mất của Thánh Jerome, 30 tháng 9, làm Ngày Phiên dịch viên Quốc tế (International Translators’ Day), tôn ông là vị tổ của ngành dịch thuật.

Người đầu tiên chuyển bản Vulgate ra Anh ngữ là John Wycliffe, dịch vào khoảng năm 1380, nên còn gọi là bộ Wycliffe. Quan điểm dịch của Wycliffe khác với các dịch giả trước ông, là mọi người, tức người đọc bản dịch, nên hiểu rõ lời Chúa thông qua ngôn ngữ thường ngày mà họ sử dụng (Malmkjær 2005). Do dịch thoát ý nên bộ Wycliffe bị cấm sử dụng. Tuy nhiên quan điểm dịch của Wycliffe được Martin Luther (1483‒1546) tiếp tục, Luther, người đầu tiên dịch bản Vulgate qua Đức ngữ, phát biểu quan điểm dịch của ông là ‘thông điệp của Chúa phải được người dịch diễn tả và truyền đạt sao cho hấp dẫn đối với người đọc’. Có nghĩa người đọc là trung tâm, và do vậy có thể bất chấp văn phong của bản gốc. Đóng góp lớn của Martin Luther đối với lý thuyết dịch thuật là ở chỗ này: Khi dịch phải xem trọng đối tượng người đọc bản dịch, dịch cho ai, làm sao để người đọc hiểu thông điệp của bản gốc, mà muốn người đọc hiểu thì không cần phải giữ nguyên cấu trúc của ngôn ngữ gốc (Robinson 1997:84).

Tác giả Jeremy Munday, trong cuốn Introducing Translation Studies: Theories and Applications, cho rằng: ‘Luther tiếp tục quan điểm dịch của Thánh Jerome là bác bỏ lối dịch sát’ (Munday 2001:23). Thực ra không phải như Munday nhận xét, Thánh Jerome chỉ dịch thoát khi dịch các loại hình văn bản khác, chứ khi dịch Kinh Thánh ông chủ trương phải dịch sát. Còn Luther lại chủ trương dịch thoát. Hai ông có hai quan điểm khác nhau khi dịch Kinh Thánh.

Lý luận dịch Kinh Thánh, dù khởi đầu từ Thánh Jerome, nhưng chính quan niệm dịch thoát của Wycliffe và Luther mới thật sự được các thế hệ dịch Kinh Thánh sau này tiếp nối, mặc dù hai bản dịch của Wycliffe và Luther bị cấm. Sau Wycliffe, bản Anh ngữ dịch từ tiếng Hy Lạp và Hebrew của William Tyndale năm 1525 là một sự kiện lớn trong lịch sử dịch Kinh Thánh, và quan điểm dịch nói chung. Tyndale chú trọng dịch ý và nghĩa bằng Anh ngữ thông dụng (Bassnett-McGuire 1991). Ông quan niệm Kinh Thánh phải để cho càng nhiều người hiểu càng tốt, muốn thế thì phải dùng ngôn ngữ của số đông chứ không phải ngôn ngữ ẩn mật của giáo hội, tức tiếng Latin. Ông đặt thêm cụm từ mới, dễ hiểu, nhiều bản kinh được người đời sau dịch vẫn sử dụng câu dịch của ông gần như nguyên vẹn, như ‘lead us not into temptation but deliver us from evil’ (xin chớ để chúng con bị cám dỗ mà cứu chúng con khỏi điều ác1). Ông bị kết tội ‘dị giáo’ vì giáo hội cho là ông dịch sai quá nhiều chỗ, bản Tyndale bị đốt, và 10 năm sau, chính tác giả cùng chung số phận.

Các bản Kinh Thánh Anh ngữ sau này, kể cả bản dịch do vua James I của Anh quốc khởi xướng thế kỷ thứ 17, đều theo sát bản dịch của Tyndale. George Steiner (1998) đánh giá Tyndale là tài năng và dịch giả vĩ đại nhất trong lịch sử dịch Kinh Thánh ra Anh ngữ. Steiner nhấn mạnh rằng truyền thống của dịch thuật là dựa vào và tích lũy quan điểm của người đi trước. Theo Nida (1998:27‒8), quan điểm hiện đại về dịch Kinh Thánh là chú trọng ngôn ngữ đích, một nguyên tắc mà Wycliffe đã áp dụng, sao cho người đọc chấp nhận nó, các khái niệm ẩn mật hay cần giải thích thêm thì chú thích ở cuối trang hay ở lời nói đầu, chứ không viết xen vào nội dung bản dịch.

Tuy cách dịch Kinh Thánh ảnh hưởng đến các lý thuyết dịch sau này, nhưng các dịch giả Kinh Thánh chỉ đưa ra nguyên tắc dịch chứ chưa lập thuyết.

Nguyên tắc có tính áp đặt, có thể áp đặt bằng luật lệ (bắt buộc), hoặc bằng tinh thần.

Lý thuyết thì có thể bác bỏ. Vì bản chất của lý thuyết khoa học là có thể bác bỏ lý thuyết đó. chứ không phải hễ thuyết thì luôn đúng, là chân lý. Chính vì bản chất khoa học này nên khi bác bỏ một lý thuyết, người ta có thêm một lý thuyết khác. Học thuật tiến triển nhờ vậy.

Người đi sau soi xét người đi trước, điều chỉnh cách dịch, đưa ra các nguyên tắc hay thuyết khác. Nhưng không phải cứ khác là hoàn toàn mới. Các dịch giả Kinh Thánh sau Jerome cho đến nửa đầu thế kỷ 20 không sáng tạo cách dịch nào hoàn toàn mới. Có lẽ vì các ngành học khác chưa phát triển, do đó suốt gần một ngàn năm, dịch thuật chưa ‘đủ tư cách’ là một ngành học riêng biệt.

2.4. Quan điểm dịch từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 17.

Lý luận dịch Kinh Thánh, sự phát triển của ngành in ở châu Âu vào thế kỷ 15, và các cuộc chinh phục vùng đất mới của người châu Âu đã khiến phiên dịch không còn bó hẹp trong mục đích truyền bá tôn giáo và văn chương. Dịch thuật đã trở thành một hoạt động thiết yếu trong thế kỷ 16, thời đại Phục hưng, và có nhiều lý thuyết dịch ra đời.

Theo Bassnett-McGuire (1991). một trong những học giả lập thuyết đầu tiên là dịch giả người Pháp Etienne Dolet (1509‒1546), Dolet cho rằng người dịch cần hội đủ năm điều kiện sau (Steiner 1998):

(1) Người dịch phải hiểu rất rõ ý định của tác giả nguyên tác.

(2) Người dịch phải thành thạo và có kiến thức rộng cả ngôn ngữ đích và ngôn ngữ gốc.

(3) Người dịch nên tránh dịch sát từng chữ một.

(4) Người dịch nên dùng cách diễn đạt thông dụng dễ hiểu.

(5) Người dịch nên chọn và đặt thứ tự từ ngữ sao cho dễ nghe, dễ thuyết phục.

Chúng ta thấy Dolet đặc biệt chú trọng nguyên tắc thứ nhất: điều kiện tiên quyết để dịch là phải nằm rất vững ý định và cảm hứng của tác giả nguyên tác (Bassnett 2002). Chỉ thông thạo hai ngôn ngữ mà không hiểu hết ý nguyên bản thì chưa nên dịch. Rõ ràng một người dịch tốt không chỉ là người giỏi chữ mà còn phải biết rộng, nhạy cảm và có kiến thức sâu về mọi khía cạnh liên quan đến nguyên tác. Thánh Jerome khi dịch Kinh Thánh đã qua tận xứ Bethlehem để học chữ và tìm hiểu phong tục tập quán của người Do Thái. Pháp sư Huyền Trang qua tận Ấn Độ không chỉ học ngôn ngữ mà quan sát cả phong thổ rồi mới dịch kinh Phật. Tinh thần tận tụy vì học thuật này thật đáng kính trọng và cần noi gương.

Sau Dolet, George Chapman (1559‒1634) cũng cho rằng người dịch phải tránh dịch sát, nhưng không vì thế mà quá tùy tiện thêm bớt những điều không có trong bản gốc. Ông nhấn mạnh sự quan trọng của việc ‘chuyển thần’ (transmigration) của bản văn gốc qua bản dịch. Muốn vậy người dịch phải có khả năng tự trao cho mình trách nhiệm và bổn phận của tác giả nguyên bản. Bằng cách này, người đọc bản dịch sẽ cảm được văn dịch giống như người đọc cảm được từ bản văn gốc. Ý tưởng này được khai triển và áp dụng trong quan điểm dịch của Nida trong thế kỷ 20.

Thế kỷ thứ 16, với cái chết của Dolet trên giàn hỏa vì dám ‘dịch sai’ ý của Plato có thể khiến người ta không còn tin rằng linh hồn thì bất tử, cho thấy các thảo luận về lý thuyết dịch hết sức căng thẳng về mặt chính trị và xã hội chứ không chỉ thuần là quan điểm học thuật. Chúng ta thấy dịch thuật thời kỳ này giống như tuyến nhân vật truyền thống trong một tiểu thuyết xã hội: một bên chủ trương dịch sát (giáo hội), một bên cổ súy cho việc dịch ‘thần’ (thoát), tức chú trọng hơn đến đối tượng người đọc. Không chỉ căng thẳng trong quan điểm dịch Kinh Thánh và tư tưởng triết học, mà căng thẳng cả trong dịch thơ. Những người chú trọng tuyến dịch thoát bị chỉ trích là ‘phòng thơ’. Tuy ở trong thể lép vế vì không có quyền lực, khuynh hướng dịch thoát, và chú trọng phục vụ đối tượng đọc bản dịch – dù có thể lên giàn hỏa – vẫn dần dà thắng thế. George Steiner (1998) nhận xét đây là thời kỳ bùng nổ tư tưởng mới trong bầu khi sáng tạo học thuật. Phiên dịch trở thành một hoạt động rất quan trọng làm phong phú thêm đời sống, là chất liệu (matière première, chữ của G. Steiner) của trí tưởng. Người phiên dịch, vào thời đại này, không đơn thuần là người chuyển ngữ và giới thiệu tác phẩm, mà còn là một nhà cách mạng, tác động mạnh đến đời sống tri thức của cả châu Âu.

Bước qua thế kỷ 17, các quan niệm về thẩm mỹ và sự phát triển văn chương, chủ yếu dịch tác phẩm của tác gia Pháp qua Anh ngữ, đã ảnh hưởng lớn đến lý luận dịch thuật. Thi sĩ người Anh được phong tước Hiệp sĩ, Sir John Denham (1615‒1669), với nhiều dịch phẩm từ tiếng Hy Lạp, Pháp, và Latin ra Anh ngữ, đã phát biểu quan điểm dịch thơ của ông rất hay, như sau:

[Trong việc dịch thơ] công việc của người dịch không chỉ là dịch Chữ thành Chữ, mà phải chuyên Thơ thành Thơ, và bởi hồn Thơ mong manh quá, nên khi rót từ Ngôn Từ này qua Ngôn Từ khác, hồn thơ sẽ tan thành sương khói, vậy nên nếu không thổi một hơi thở mới trên con đường chuyển thi từ ấy, thì ta còn gì trừ một cái xác khô.

(F)or it is not his business alone to translate Languague into Language, but Poesie to Poesie; and Posie is of subtile a sprit, that in pouring out of one Language into another, it will all evaporate; and if a new spirit be not added on the transfusion, there will remain nothing but a Caput mortuum2.

Không chỉ lưu ý sự khiếm khuyết của dịch sát, Denham còn muốn người dịch thơ nên là thi sĩ, có như thể mới biết cách ‘thôi hơi thơ mới’ trong quá trình chuyển ngữ để bản dịch cũng là một bài thơ.

Đến thời kỳ này, quan niệm dịch đã nghiêng về phía dịch ý. Một thi sĩ nổi tiếng khác trong thế giới văn học Anh là Abraham Cowley (1618–1667) đi xa hơn khi nói về cách dịch thơ của ông, là khi dịch thơ ông tự ý giữ nguyên, bỏ hay thêm những từ và ý nào mà ông cảm thấy cần.

Có thể nói thế kỷ 17 đây mạnh quan điểm dịch ý, và dịch giả cổ súy mạnh nhất cho trường phái dịch ý này là nhà thơ John Dryden (1631–1700) khi đưa ra ba cách dịch thơ (xem Bassnett 2002:66):

(1) theo sát từ ngữ (metaphrase), dịch sát chữ thành chữ và câu thành câu theo nguyên tác;

(2) tái tạo (paraphrase), viết lại với biên độ thay đổi rộng, như quan điểm ‘dịch ý’ của Cicero;

(3) mô phỏng (imitation), người dịch có thể tùy ý bỏ các từ ngữ hay ý nào của nguyên tác. Đồng nghĩa với dịch thoát.

Cách thứ nhất thì dịch sát quá có thể không còn là thơ ở bản dịch. Cách thứ ba phóng túng quá. Dryden chọn đường lối trung dung là dịch thơ theo cách thứ hai, nhưng bổ sung thêm rằng người dịch thơ cũng phải là thi sĩ, giỏi cả hai ngôn ngữ, và phải hiểu cá tính và tinh thần của thi sĩ sáng tác, đồng thời phải hiểu luôn quan niệm về cái đẹp (mỹ học) vào thời đại của mình. Ông ví người dịch thơ giống như họa sĩ vẽ chân dung: phải có trách nhiệm vẽ cho giống người thật (Bassnett 2002) nhưng bản vẽ vẫn không phải là người thật.

2.5. Thế nào là một bản dịch được: Đại luận của Tytler.

Qua thế kỷ 18, dịch giả (thường là nhà thơ và nhà văn) bắt đầu ý thức khía cạnh đạo đức trong dịch thuật, hiểu theo nghĩa đặt người đọc trên hết. Muốn thế người dịch phải dùng ngôn ngữ đương thời, trong sáng, giản dị. Nói chung, dịch gì thì dịch nhưng bản dịch phải dễ tiếp nhận dù nguyên tác có tính hàn lâm đi nữa. Các dịch giả cho rằng nhà văn khi viết là để có người đọc, mà muốn được đọc thì ngôn ngữ tránh cầu kỳ, phù hợp với nhân sinh quan đương thời, có như vậy thì việc truyền bá văn chương hay học thuật mới phát triển được. Để đạt được mục tiêu ‘được đọc’, dịch giả có thể sẽ thêm thắt trong bản dịch nhưng cố giữ làm sao để bản dịch phản ảnh đúng chân dung của nguyên tác.

Lý luận dịch, và gây ảnh hưởng lớn nhất, cho quan điểm dịch thuật trong thế kỷ 18 là của Alexander Fraser Tytler (1747–1813), nhà văn và luật sư người Scotland. Tytler là người đa tài và hiểu sâu nhiều lĩnh vực chuyên môn. Ông học luật, văn chương, đạo đức, triết và cả hóa học. Là giáo sư Sử học ở Đại học Edinburgh, ông được sinh viên ngưỡng mộ vì sự tận tụy và hăng say. Ông khiêm tốn đặt tên cho tập sách gồm các bài giảng về lịch sử là “Đại Cương” (Outlines), với mục đích giải nghĩa thêm cho sinh viên, nhưng lại được công chúng đón nhận nồng nhiệt nên viết thêm và xuất bản thành hai tập có tựa ‘Lịch sử Đại Cương từ Cổ Đại đến Hiện Đại’ (Elements of General History, Ancient and Modern3), cuốn này vừa được General Books tái ban năm 2009). Qua sử luận này, Tytler không chỉ chứng tỏ là một sử gia biết nhiều hiểu rộng mà còn là một nhà tư tưởng lớn. Với kiến thức và uy tín lừng lẫy, nên đại luận về nguyên tắc phiên dịch (Essay on the Principles of Translation4), xuất bản năm 1791 của Tytler gây ảnh hưởng rất lớn trong giới học thuật (xem Bassnett 2002:69, Robinson 1997:209, Snell-Hornby 1988:12‒13).

Mười lăm chương sách trong đại luận bao gồm nguyên tắc dịch, có ví dụ để làm sáng tỏ các nguyên tắc đó. Trước khi cụ thể hóa ba nguyên tắc dịch, ông tóm lược hai khuynh hướng dịch mà ông cho là cực đoan, như sau:

Do ai cũng biết tinh túy và bản chất của các ngôn ngữ khác nhau, nên chúng ta đều công nhận rằng nhiệm vụ của người dịch là chỉ chú trọng đến ý và tinh hoa của bản dịch, hoàn toàn nắm vững ý đồ của tác giả nguyên tác, và truyền đạt chúng bằng cách diễn đạt mà người dịch thấy thích hợp nhất. Ngược lại, có người cho rằng để có một bản dịch hoàn hảo, thì yêu cầu không chỉ là truyền đạt ý đồ và cảm xúc của tác giả nguyên tác, mà còn phải chuyển tải được phong cách viết của tác giả đó, muốn đạt được điều này người dịch phải chú trọng cách sắp xếp câu văn nguyên tác, giữ nguyên cả thứ tự và cấu trúc câu nữa. Theo quan niệm thứ nhất, thì người dịch được phép làm cho bản dịch hay hơn và thêm thắt; còn theo quan điểm thứ nhì thì phải giữ nguyên bản văn gốc kể cả các khiếm khuyết. Nếu theo quan điểm thứ hai thì thêm một điều khó là người nghệ sĩ còn phải thận trọng nghiên cứu nguyên tác để bắt chước thật tỉ mỉ. (Tytler 1907:7‒9)

Thế rồi Tytler đề nghị một cách tiếp cận trung dung, như sau:

Hai quan điểm dịch thuật này ở hai thái cực, như vậy chắc phải có một điểm toàn vẹn nào đó nằm giữa hai quan điểm cực đoan này. Vì vậy tôi xin mô tả một bản dịch tốt như thế này, là trong bản dịch đó tinh hoa của nguyên tác được chuyển hoàn toàn qua ngôn ngữ đích sao cho người bản xứ đọc bản dịch ra tiếng nước mình thấu hiểu và cảm nhận mạnh mẽ giống như cách hiểu và cảm nhận của người nói ngôn ngữ của nguyên tác.

(As these two opinions form opposite extremes, it is not improbable that the point of perfection should be found between the two. I vvould therefore describe a good translation to be. That, in which the merit of the original work is so completely transfused into another language, as to be as distintcly apprehended, and as strongly felt, by a native of the country to which that language belongs, as it is by those who speak the language of the original work.)

(Tytler 1907:8‒9, chữ nghiêng trong nguyên tác)

Tytler suy diễn ra ba nguyên tắc dịch tổng quát từ miêu tả trên:

(1) Bản dịch nên là một sao chép hoàn hảo ý tưởng của nguyên tác.

(2) Văn phong và kiểu viết trong bản dịch nên giống với bản sắc của văn phong và kiểu viết trong nguyên tác.

(3) Bản dịch có sự trôi chảy như nguyên tác.

Ba nguyên tắc này bổ sung nhau chứ không phải theo nguyên tắc này thì bỏ hai nguyên tắc kia. Tytler lưu ý cũng có khi theo nguyên tắc này thì phải hy sinh một hoặc hai nguyên tắc kia, ví dụ muốn giữ ý chính của nguyên tác thì có khi phải hy sinh văn phong trong nguyên tác. Nhưng ông nhấn mạnh: đừng bao giờ bỏ ý chính vì muốn giữ văn phong của nguyên tắc. Ông cho rằng hy sinh ý chính hay cái hồn của nguyên tác vì muốn giữ văn phong là cách dịch rất vô lý (Tytler 1907:120).

Từ quan điểm này, nguyên tắc dịch thứ ba của ông có thể hiểu một cách khác: người dịch là tri kỷ của tác giả nguyên tác, hiểu rõ cốt tủy của tác giả bản văn gốc, nhưng lại dùng ngôn từ của chính người dịch để nói lên cái hồn của tác giả.

Ta có thể dùng một hình ảnh khác để hiểu nguyên tắc thứ ba của Tytler. Người dịch giống như vẽ truyền thần. Giống mà không giống: cũng một bản gốc, nhưng họa sĩ vẽ bằng bút chì than sẽ khác với bức truyền thần bằng sơn dầu.

Tytler làm sáng tỏ thêm nguyên tắc dịch thứ ba trong chương 15, chương cuối của đại luận. Trong chương này, Tytler ngụ ý rằng trường hợp lý tưởng nhất là người dịch phải có tài năng tương đương với tác giả gốc. Vì điều này khó, cho nên, cũng theo Tytler, nếu không có tài năng như tác giả nguyên tác, thì ít nhất cũng phải có khả năng cảm thụ tinh chất, cảm xúc, lý luận, và vẻ đẹp của áng văn thì mới dịch được. Trên nền lý luận này, Tytler cho rằng một dịch giả ít ra cũng đã từng sáng tác, có tác phẩm có thể sánh với tác phẩm mà dịch giả đó muốn dịch. Ví dụ người dịch thơ phải có tài làm thơ. Quan điểm có vẻ khắt khe này của Tytler đáng suy ngẫm, bởi như chúng ta thấy Truyện Kiều có nhiều bản dịch ra Anh ngữ nhưng (dường như) chưa có bản dịch nào truyền tải hết hương sắc tài ba của Nguyễn Du.

Nhưng tài năng tương xứng với tác giả nguyên tác vẫn chưa đủ. Tytler cho rằng không chỉ có tài năng tương đương, dịch giả còn phải có tư duy không khác mấy với tác giả nguyên tác thì bản dịch mới lột tả được cái thần của nguyên tác. Ông phân tích tỉ mỉ một trường hợp dịch nổi tiếng để hỗ trợ cho lập luận này, đó là bản dịch kịch Hamlet của Shakespeare do Voltaire dịch ra Pháp ngữ. Dù công nhận Voltaire là văn hào tầm cỡ của Pháp cũng như Shakespeare của Anh, nhưng Tytler phê bình gay gắt cách dịch Hamlet của Voltaire ra Pháp ngữ. Ông cho rằng Voltaire không lột tả được tính cách nhân vật vừa thâm thúy, bí ẩn, vừa hài hước của Hamlet, làm biến dạng Hamlet nước Anh. Tytler lập luận rằng không phải vì Voltaire không giỏi Anh ngữ, mà vì nhân sinh quan và lối viết của Voltaire khác Shakespeare, và do văn hóa Pháp khác Anh, nên khi Hamlet... qua Pháp, người Anh không nhận ra Hamlet của mình nữa.

Tytler là người đầu tiên, tính đến thời đại của ông, bàn về dịch thuật có hệ thống, đưa ra nguyên tắc dịch với lý luận chặt chẽ, có ví dụ để bảo vệ luận điểm của mình. Lưu ý các luận bàn của Tytler đều nhằm đến cách dịch văn chương. Dù vậy đại luận của ông gây ảnh hưởng đến các lý thuyết gia phương Tây sau này. Đối với dịch giả phương Đông, đọc ba nguyên tắc dịch của Tytler, chúng ta ngờ ngợ như Nghiêm Phục đã mượn ý tưởng của Tytler để lập nên cái gọi là ‘tín, đạt, nhã’.

2.6. Herder và Schleiermacher: Nền móng của lý thuyết dịch hiện đại.

Năm 1813, nhà thần học Friedrich Schleiermacher (1768‒1834) người Đức xuất bản tiểu luận Über die verschiedenen Methoden des Übersetzens (Bàn về các phương pháp dịch). Tiểu luận này gây tiếng vang lớn trong giới dịch giả Đức vì Schleiermacher cổ súy phương pháp đem người đọc bản dịch đến với tác giả nguyên tác, tức phả một ‘chất ngoại’ (alienation) vào ngôn ngữ đích, cố tình cho người đọc bản dịch cảm được tinh chất (văn phong, ý tưởng) lạ lẫm của ngôn ngữ gốc (Snell-Hornby 2006). Ý tưởng này không phải xuất phát từ Schleiermacher. Thực ra, chính Johann Gottfried von Herder (1744‒1803), triết gia có tầm ảnh hưởng hàng đầu của Đức, đã khới xướng ý tưởng mới mẻ và lừng lẫy về nguồn gốc của ngôn ngữ. Herder cho rằng tư tưởng phụ thuộc ngôn ngữ, rằng ngôn ngữ định hình tư tưởng chứ không phải ngược lại. Quan điểm về vai trò của ngôn ngữ đặt nền móng cho ngành ngôn ngữ học hiện đại. Riêng trong lĩnh vực dịch thuật, Herder đưa ra hai châm ngôn về phương pháp dịch: một là đưa tác gia nguyên tác đến người đọc bản dịch để người đọc coi tác gia nước ngoài như là tác gia của người đọc (Malmkjar 2005, Venuti 1995). Cách thứ hai là đem người đọc đến tác gia nước ngoài để người đọc cảm được phong vị, văn phong và sự lạ lẫm của tác gia nước ngoài. Phương pháp thứ nhất gọi là ‘nội hóa’, ‘hướng nội’, hay ‘thuần hóa’ (domestication), phương pháp thứ hai là ‘ngoại hóa’ hay ‘hướng ngoại’ (foreignisation). Herder không chỉ là triết gia vĩ đại trong lĩnh vực ngôn ngữ, mà tư tưởng của ông còn ảnh hưởng đến các triết gia khác trong nhiều lĩnh vực, như Nietzsche (triết lý về giá trị siêu hình, lịch sử), John Stuart Mill (về chính trị, tác giả đại luận On Liberty), và các ngành khoa học xã hội khác như nhân chủng học.

Về ngôn ngữ, trong tác phẩm Über den Ürsprung der Sprache (1772, Về nguồn gốc của ngôn ngữ), Herder cho rằng ngôn ngữ là bản chất tự nhiên của con người chứ không bắt nguồn từ thần linh. Từ xuất phát điểm đó, ông lý luận rằng tư tưởng phụ thuộc và bị ràng buộc bởi ngôn ngữ, nghĩa là con người chỉ có thể tư duy nếu có ngôn ngữ, nhờ ngôn ngữ nên con người mới định hình và phát biểu những suy tư của mình.

Về dịch thuật, Herder cho rằng những người sống ờ các thời kỳ lịch sử và văn hóa khác nhau, thì nhân sinh quan cũng rất khác nhau. Ông cho rằng ngay cả cá nhân trong cũng một nền văn hóa và cùng thời đại cũng khác nhau. Quan điểm này khác với các nhà tư tưởng trước đó, ví dụ Voltaire tin rằng con người ở mọi thời đại và không gian đều giống nhau cho nên lịch sử chẳng giúp ích gì trong nhiệm vụ thông báo những điều mới mẻ (Forster 2008).

Từ nhận định con người vốn khác nhau, Herder nói tư duy của người dịch và tư duy của tác giả nguyên tác vốn khác nhau, do vậy dịch là một công việc cực kỳ khó khăn. Ông so sánh dịch thuật với khoa học tự nhiên: trong khoa học tự nhiên, ta phải nghiên cứu quá trình phát triển của vật chất để tìm xem tác nhân đã gây nên quá trình ấy; trong dịch thuật (nói hay viết), người dịch cũng phải tìm tòi cái động lực tiềm tàng trong quy trình chuyển ngữ, tức các trạng thái tâm sinh lý của người nói và người dịch. Ông cổ súy cho phương pháp dịch hướng về phía ngôn ngữ gốc mà ông gọi là accommodating approach, tức đưa cảm xúc mới và lạ của nguyên tác đến cho người đọc bản dịch. Trong trường hợp gặp một khái niệm trong ngôn ngữ nguồn không có trong ngôn ngữ đích, thì người dịch tìm một (hay nhóm) từ tương đương gần nhất trong ngôn ngữ đích, và chỉ dùng duy nhất một từ (đã chọn) xuyên suốt bản dịch để dịch khái niệm này, không dùng từ đã chọn để dịch các khái niệm khác. Đây là cách mà Herder đã áp dụng khi dịch một khái niệm không có trong ngôn ngữ đích dù trên thực tế, phương pháp này khó áp dụng.

Herder không chỉ cổ súy cho việc giữ bản dịch trung thành về mặt ngữ nghĩa với nguyên tác, mà còn phải trung thành về mặt thẩm mỹ và trung thành cả về cách diễn tả cảm xúc trong nguyên tác. Ông lý luận rằng ba yêu cầu trung thành này thực ra không tách rời nhau, vì một tác phẩm văn chương, ví dụ thi ca, thì nhịp điệu cũng có nghĩa, nghĩa của nhịp điệu gắn liền với nghĩa của từ. Nói cách khác, trong văn chương, hình thức (vần điệu, cấu trúc) gắn liền với thông điệp (nội dung của tác phẩm), do đó không thể nói chỉ cần trung thành về mặt ngữ nghĩa mà bỏ qua ý nghĩa thẩm mỹ (nhịp điệu) của câu văn hay bài thơ (Forster 2008).

Phương pháp và lý luận dịch của Herder đã ảnh hưởng lớn đến các tác gia sau ông, như nhà thần học Schleiermacher (được giới học giả cho là dịch giả dịch Plato ra Đức ngữ hay nhất). Schleiermacher lập luận, trong ‘Bàn về các phương pháp dịch’ có hai cách dịch không thể dung hòa. Thứ nhất, người dịch mang tác giả ngôn ngữ gốc đến gần người đọc, danh từ trong giới dịch giả ngày nay gọi đó là phương pháp nội hoá (domestication method), dịch làm sao để người đọc cảm thấy tác giả nước ngoài như chính tác giả của họ. Dịch theo cách này thì các giá trị xã hội, văn hoá, phong cách của ngôn ngữ gốc được ‘nội hoá’ để người đọc cảm thấy thoải mái, gần gũi, không thấy bóng dáng của người dịch. Cách thứ hai là để yên tác giả, tức giới thiệu cho người đọc các yếu tố xa lạ (ví dụ văn phong, khái niệm) trong nguyên tác, còn gọi là foreignisation method hay phương pháp ngoại hoá (Robinson 1997:229). Người dịch theo cách thứ hai có thể khiến người đọc cảm thấy khó chịu, đôi khi khó hiểu vì từ ngữ hay văn phong của nguyên tác được cố tình đem vào bản dịch.

Tuy kế thừa lập luận của Herder, nhưng Schleiermacher hệ thống hóa hai quan điểm dịch đối nghịch nhau đã nêu trên. Ông cổ súy phương pháp đưa bản chất xa lạ của ngôn ngữ gốc vào ngôn ngữ đích (ngoại hóa), và lập luận nên đưa người đọc đến tác giả của ông đã có ảnh hưởng lớn đối với lý thuyết dịch trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 (Snell-Hornby 2006).

Cũng thời với Schleiermacher còn có đóng góp to lớn về lý luận ngữ học của học giả và nhà cải cách giáo dục Wilhelm von Humboldt (1767‒1835). Theo Steiner (1998), ông là một trong các tư tưởng gia hiếm hoi bàn về ngôn ngữ có thể sánh ngang hàng với Plato, Saussure. Humboldt, cũng như Schleiermacher, thuộc các tác gia đầu tiên bàn về sự liên kết tất yếu giữa ngôn ngữ và văn hóa. Ông cho rằng ngoại trừ các từ ngữ chỉ các đối tượng vật chất cụ thể, không có sự tương đương toàn vẹn giữa hai ngôn ngữ, và ngôn ngữ là một chủ thể sinh động, một hoạt động phát sinh từ sự hợp tác giữa người nói (Snell-Hornby 2006:13). Tư tưởng ‘ngôn ngữ không thể tách rời văn hóa’ của ông đường như đã ảnh hưởng đến nhà dịch Kinh Thánh lừng danh Nida vào giữa thế kỷ 20, khi Nida đưa ra phương pháp tương đương chủ động lấy ngôn ngữ đích làm trọng tâm (xem Chương 3).

2.7. Lý thuyết dịch là tổng hợp của nhiều ngành.

Các mô tả về quan điểm và khuynh hướng dịch thuật trên phân thành từng thời kỳ để dễ theo dõi. Tuy nhiên nó cho thấy các khuynh hướng dịch thuật chính yếu và tác gia lớn có ảnh hưởng cho nền tảng lý thuyết dịch vào nửa sau thế kỷ 20.

Từ trước Tây lịch cho đến thế kỷ 20, chúng ta có thể tóm tắt những khuynh hướng dịch thuật ở châu Âu với các dịch giả lớn gồm: Cicero, Horace, Thánh Jerome, Wycliffe, Martin Luther, Tyndale, Dolet, Chapman, Denham, Dryden, Tytler, và Schleiermacher. Một tác gia tầm cỡ rất ít được nhắc đến trong nhiều sách nghiên cứu lịch sử lý thuyết dịch là Herder. Chính tư tưởng của Herder đã đặt nền móng cho nhiều ngành học thuật, kể cả các thuyết về ngôn ngữ và ngôn ngữ học.

Bắt đầu từ Cicero, và chấm dứt ở Schleiermacher, có thể tóm tắt lý luận dịch xoay quanh hai khuynh hướng chính: từ sự chọn lựa giữa dịch chữ hay dịch ý, đến đưa bản chất xa lạ của ngữ nguồn vào bản dịch (ngoại hóa) hoặc làm cho bản dịch gần gũi với người đọc (nội hóa). Càng về sau, hai khuynh hướng này được khai triển rộng hơn qua nhiều lý luận trừu tượng và ảnh hưởng bởi các triết gia từ thế kỷ 16 đến 20. Trong gần hai ngàn năm bàn về dịch thuật, chúng ta thấy các đặc tính nổi bật sau.

Thứ nhất, các thảo luận xoay quanh lĩnh vực tôn giáo và văn chương.

Thứ hai, ngôn ngữ nguồn được coi là tiêu chuẩn để đánh giá bản dịch.

Thứ ba, quy trình dịch, tức tư duy của người dịch xảy ra trong quá trình chuyển ngữ, chưa được chú trọng.

Thứ tư, người dịch là các triết gia, văn thi sĩ, hay học giả thuộc nhiều lĩnh vực.

Đặc tính thứ tư khiến lý luận về dịch thuật đã tổng hợp tinh túy của nhiều ngành, và điều này trở thành truyền thống trong lý luận phiên dịch cho đến hôm nay. Người dịch xuất thàn từ ngành nào sẽ có khuynh hướng nhận định phương pháp dịch theo góc nhìn của ngành đó. Nhà nhân chủng học chú trọng đến cách dịch văn hóa, ví dụ làm sao dịch cách xưng hô hay danh từ riêng. Thi sĩ thì thảo luận về cách chuyển âm luật qua bản dịch, nhà thần học thì cổ súy cho việc giữ nguyên ‘chữ thánh hiền’ trong bản gốc hoặc đia phương hóa chữ thánh hiền trong việc truyền giáo.

Từ các đặc điểm về lý luận dịch thuật trên, chúng ta thấy những bàn luận hoặc dùng ngữ nguồn hoặc đích làm tiêu chí để nêu quan điểm và đánh giá phẩm chất bản dịch, thiếu hẳn một lý thuyết chung khả dĩ áp dụng cho mọi hiện tượng dịch thuật: trong suốt hai ngàn năm bàn về dịch thuật có một khoảng trống bị bỏ quên là khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành.

Phải chờ đến nửa sau thế kỷ 20, khi lý thuyết của các môn khoa học nhận thức (cognitive sciences) ra đời, thì lý luận phiên dịch mới hình thành có hệ thống. Các học giả ứng dụng các khám phá thuộc các ngành khác để lập thuyết, như quy luật ngữ pháp cấu trúc chìm (deep structures) của nhà ngữ học Chomsky trong dịch thuật, hay dịch theo phương pháp chức năng của Lý thuyết Chức năng (Skopos Theory), hay cả ứng dụng việc dịch bằng Thuyết Trò chơi (Game Theory) trong toán học. Trong chương sau, chúng ta sẽ thấy rằng thành tựu của hoạt động phiên dịch trong thế kỷ 20 một mặt xuất phát từ sự đúc kết các lý luận dịch của các thế kỷ trước, một mặt nhờ thu thập các thành tựu thuộc các ngành khoa học khác. Phải mất trên hai nghìn năm, một hoạt động lâu đời nhất trong xã hội loài người mới chính thức trở thành một ngành học, ngành Dịch thuật học (Translation Studies). Chúng ta hãy bước vào thế kỷ 20 ở chương sau.

THẢO LUẬN

1.

Giáo sư ngôn ngữ Marianne Lederer (2007:33) thuộc Đại Học Paris III (xem Chương 7) nhận định về vai trò của lý thuyết dịch thuật như sau:

Lý thuyết dịch thuật chắc chắn không thay thế cách nghĩ đúng hay việc quyết định phải dịch như thế nào. Tuy nhiên người đào tạo dịch thuật có thể dùng lý thuyết để chỉ cho học viên hướng tư duy hiệu quả, và cung cấp một số nguyên tắc giúp họ quyết định sẽ dịch như thế nào.

(Theory is certainly no substitute for proper thinking or decision-making, but it can be used by trainers to point trainees in the direction of productive thinking and supply them with a few principles that can aid them in their decision-making.)

Tìm một văn bản nguồn do hai người khác nhau dịch. Dựa trên các lý thuyết dịch thuật, so sánh và phê bình cách chọn phương pháp dịch của mọi người.

2.

Tìm một tờ rơi hay sách quảng cáo một điểm du lịch có hai ngôn ngữ (xem ví dụ về Đồi Tức Dụp ở đoạn dưới). So sánh nội dung hai ngôn ngữ và thảo luận:

Những điểm khác nhau giữa hai nội dung.

Nội dung có cung cấp đủ thông tin cho du khách không?

Các lỗi (nếu có) về ngữ pháp, cách dùng từ, dấu chấm câu.

Ví dụ so sánh đoạn song ngữ Việt‒Anh sau trong tập quảng cáo du lịch An Giang do Sở Du lịch tỉnh An Giang xuất bản năm 2006 (trang 12):

Núi Cô Tô có đồi Tức Dụp.

Tức Dụp tiếng Khmer là nước chảy trong đêm.

Đồi Tức Dụp cao 300 m, nằm bên núi Cô Tô với những tảng đá chồng chất nhau, hình thành nhiều hang nhỏ như tổ ong.

Tuc Dup Hill.

The Tuc Dup Hill located in Tri Ton district, An Giang province, belongs to Co To Mountain. Its name means flowing water at night — a romantic name. Even though it is only 300 meters high, it owns an obstacle and dangerous geography with rough cliffs forming caves getting through each other like a bee hive.

(Nguồn: An Giang Non Nước Hữu Tình, 2006, Long Xuyên: Sở Du lịch tỉnh An Giang)

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.