Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 9
CHƯƠNG 9 | Đạo đức dịch thuật.
‘Tôi được thuê thuyết minh cho một báo cáo thường niên bằng video của một tổ chức tôn giáo nổi tiếng. Cuốn băng chống hôn nhân đồng tính nam, tôi lại không đồng ý quan điểm này của họ. Trong khi ghi âm, tôi phát hiện phần ngôn ngữ có nhiều sai sót. Dù nhóm làm việc chỉ minh tôi biết tiếng Pháp, nhưng tôi thấy nếu không sửa những lỗi này thì lương tâm cắn rứt. Vì thế tôi chữa cho họ. Là người đồng tính nam có gia đình, tôi thấy mình thỏa hiệp khi nhận việc này. Tôi có phản bội cộng đồng đồng tính nam không khi chữa các lỗi trong cuốn băng?’ Simon Fortin, New York10.
Nhật báo The New York Times có một ấn bản đặc biệt ra ngày Chủ Nhật, tạp chí New York Times Magazine. Trên tạp chí này có cột báo (column) The Ethicist do ông Randy Cohen phụ trách hàng tuần để trả lời thắc mắc của độc giả.
Câu hỏi của độc giả Simon nêu hai vấn đề. Thứ nhất, là một thông dịch viên, khi phát hiện trong ngôn ngữ gốc có lỗi thì có nên sửa không hay cứ đế nguyên như thế mà dịch. Thứ hai, nếu nội dung của ngữ gốc khác quan điểm sống của người được thuê dịch, thì có nên nhận lời làm công tác chuyển ngữ không.
Vấn đề thứ nhất liên quan đến lý thuyết dịch lẫn quy ước hành nghề của dịch giả chuyên nghiệp. Điểm thứ hai liên quan đến nhận thức về đạo đức ‒ một đề tài có nhiều cách nhìn khác nhau. Nhưng quy ước hành nghề và đạo đức dịch thuật là một hay là hai?
9.1. Thời điểm của đạo đức.
Bạn là người chống săn bắt thú rừng và được thuê dịch một văn bản chỉ dẫn cách săn bắn thú hoang, bạn nên nhận hay từ chối công việc này?
Đây là một câu hỏi mở, người dịch quyết định tùy quan điểm luân lý và sự tuân thủ (hay không) các quy ước nghề nghiệp. Nhưng tại sao lại đặt vấn đề đạo đức trong khi, theo truyền thống, nhiệm vụ của người dịch là dịch? Từ khi nào, trách nhiệm xã hội và lương tâm của người dịch được đặt ra?
Đạo đức, chỉ giới hạn trong phạm vi dịch thuật, không phải là một chủ đề mới. Nó chỉ mới vì chủ đề này được chú ý nhiều hơn từ khoảng đầu thế kỷ 21. Trước đây, nghĩa là khi nhìn lại toàn bộ phương pháp, quan niệm, mô hình, hay chiến lược dịch, chúng ta phải tinh ý mới nhận ra khía cạnh đạo đức ẩn trong từng quan niệm dịch. Chẳng hạn Schleiermacher (xem Chương 2) chủ trương đưa người đọc đến tác giả để người đọc ‘nếm’ được sự mới lạ của nguyên tác. Gần hai trăm năm sau, Venuti (1998) cũng cỗ xúy cách dịch ngoại hóa (ĩoreignisation) để bản dịch lưu dấu chất xa lạ của ngữ gốc. Venuti (1998:82) cho rằng đây là cách dịch có đạo đức nhằm giới hạn ‘phong trào lái bản dịch theo hướng nội/ tránh tinh thần coi văn hóa của dân tộc mình là trên hết vì lòng tự hào ‘dân tộc ưu việt’ (ethnocentric).
Ngược lại, Nguyễn Hiến Lê chủ trương một cách dịch khác, ông khuyên dịch phải làm sao đế ‘diễn lại ý đó ra sao cho hợp với tinh thần tiếng Việt, để những đồng bào không biết ngoại ngữ hiểu được như ta, hiểu mà không thấy bỡ ngỡ, chướng tai, dịch các sách triết, khoa học mà như vậy thì không hại/ (Nguyễn Hiến Lê 1997a:404). Quan niệm dịch của Nguyễn Hiến Lê trái ngược với Schleiermacher và Venuti, và có thế gây tranh luận về khía cạnh học thuật, nhưng là một phương pháp thể hiện quan điểm đạo đức trong dịch thuật.
‘Sự trở lại của đạo đức’ (trong dịch thuật), trong thế kỷ 21, được đánh dấu đậm nhất với tuyển tập The Returns of Ethics của nhiều học giả do Anthony Pym (2001) chủ biên. Khi duyệt qua các thào luận (và tranh luận) về đạo đức dịch thuật, chúng ta càng thấy rõ quan niệm đạo đức ảnh hưởng đến phương pháp dịch. Người dịch chọn cách dịch không chì đơn giản là theo một lý thuyết, mà còn cân nhắc luân lý và quy ước nghề nghiệp. Các quan niệm dịch bị đặt lại vấn đề, ví dụ tiêu chí trung thực theo quan niệm truyền thống. Pym (2003) cho rằng mức độ trung thực (trung thực với tác giả, với nguyên tác, với ý định của tác giả) cần phải được cân đo. Theo ông, cần phân tích xem cá nhân người dịch áp dụng sự trung thực tới mức độ nào, trung thực như ‘một con chó trung thành với chủ, hay như một người có niềm tin vững chắc, hay như một người có cách ứng xử tồi tệ dù có ý định tốt?’ (Pym 2003:1)
Quả thực, đạo đức không chỉ thuần túy là một giá trị tinh thần, mà còn ảnh hưởng đến phương pháp dịch, trở thành một la bàn để hướng dẫn cách dịch.
Newmark (2009) đặt đạo đức vào giai đoạn phát triển sau cùng của lý thuyết dịch. Lưu ý Newmark dùng lý thuyết dịch thuật (translation theory) thay cho dịch thuật học (translation studies), tức ngành học khảo sát mọi vấn đề liên quan đến dịch thuật, ông chia lý thuyết dịch thành bốn giai đoạn nối tiếp nhau, trong đó đạo đức/thẩm mỹ (the ethical/aesthetic stage) là giai đoạn sau cùng, bắt đầu khoảng trước và sau năm 2000 (Newmark 2009:21). Lập luận của ông khởi từ tiền đề: dịch thuật là một nghề cao quý và bàn chất của nó là tìm kiếm sự thật. Do đó, dịch thuật không được gây cho người đọc hiểu nhầm bản chất trung thực của sự kiện, và càng không được đánh lừa người đọc bằng các ý tưởng giả tạo. Nếu trong nguyên ngữ bị lầm lẫn (ví dụ sai số liệu), thì người dịch có nhiệm vụ phải sửa hoặc chỉ ra các sai lầm ấy.
Tiếp tục với quan niệm cá nhân của mình, Newmark cho rằng Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là căn cứ để người dịch dựa vào khi cần giải quyết các tình huống liên quan đến khía cạnh đạo đức. ông ví dụ nếu trong bản gốc sử dụng ngôn ngữ kỳ thị vì lý do chủng tộc hay tôn giáo, thì bổn phận của người dịch là chỉ ra các điểm này, trừ trường hợp dịch những tác phẩm vĩ đại như của Shakespeare.
Giáo sư Chesterman (1997:147) thuộc đại học Helsinki của Phần Lan lại coi đạo đức gồm nhiệm vụ và quyền quyết định của người dịch, về nhiệm vụ, người dịch phải có trách nhiệm xã hội. Nói cách khác, nhiệm vụ là tập hợp các yêu cầu và ràng buộc về mặt chuyên môn lẫn pháp lý. Còn quyền quyết định gồm tự do chọn cách dịch và thái độ đối với nội dung dịch.
Như vậy, đạo đức trong dịch thuật gồm hai nguyên tố: nhiệm vụ (yêu cầu của tập thể), và quyền quyết định (tự do cá nhân).
Nhiệm vụ của người dịch được văn bản hóa thành các quy chuẩn hành nghề (code of conduct). Qui chuẩn (hay quy ước) hành nghề.
Quyền quyết định là sự lựa chọn cá nhân của người dịch, trong đó có quyền dịch hay không dịch (như trong câu hỏi về việc nên dịch hay không dịch bảng chỉ dẫn săn bắn thú rừng). Quyền tự do này tùy nhân sinh quan của mỗi người dịch, tức quan điểm đạo đức trước một yêu cầu dịch thuật nào đó: nên dịch (the ethics of translation) hay không nên dịch (the ethics of non-translation), cả hai cách ứng xử này đều phản ảnh khía cạnh đạo đức.
Nói khái lược, đạo đức trong dịch thuật bao gồm yêu cầu (và nhu cầu) của tập thể và tiếng gọi của lương tâm.
Yêu cầu của tập thế được hệ thống hóa qua quy chuẩn hành nghề.
Tiếng gọi của lương tâm là sự nhận định đúng hay sai theo quan niệm cá nhân.
Yêu cầu của tập thế và lương tâm của cá nhân không phải lúc nào cũng đồng hành.
Tập thể (một ông chủ, một công ty) nói rằng bạn phải dịch bản văn này như nó là, nghĩa là phải trung thực, không thêm bớt, vân vân, theo như các điều khoản đã ghi trong tiêu chuẩn hành nghề, và sẽ được thù lao tương xứng. Bạn tôn trọng tập thể, và vì dịch thuật là một nghề chuyên môn cho nên cần tôn trọng các chuẩn mực nghề nghiệp. Khi dịch và tôn trọng các quy ước nghề nghiệp như vậy, thì đó là đạo đức của sự chuyến ngữ (the ethics of translation).
Ngược lại, là một con người tự do, bạn cũng có thế từ chối yêu cầu của tập thể nếu phải dịch một bản văn trái với quan điểm luân lý của mình. McCann (2005) gọi hành động từ chối đó là đạo đức khước từ chuyến ngữ (the ethics of non-translation).
Có mâu thuẫn không khi cả hai cách ứng xử đều có đạo đức? Thế nào là đạo đức khi chuyển ngữ và đạo đức khi khước từ chuyển ngữ? Chúng ta thử khai triển thêm hai khía cạnh đạo đức này ở phần sau.
9.2. Quy chuẩn hành nghề hay đạo đức khi chuyển ngữ.
Quy chuẩn hành nghề bao gồm các nguyên tắc mà người dịch, nếu là thành viên của tổ chức đưa ra các quy ước đó, phài tôn trọng khi thực hiện công tác chuyển ngữ (khác với đạo đức khi khước từ chuyển ngữ sẽ nói ở phần sau).
Người dịch có đạo đức là người tôn trọng quy chuẩn hành nghề khi tham gia dịch thuật.
Và người dịch chỉ trở nên chuyên nghiệp nếu tôn trọng các quy ước hành nghề.
Các quy ước ấy gồm những nguyên tắc gì, có ràng buộc người dịch hay không còn tùy mỗi tố chức dịch thuật và luật pháp của quốc gia đó.
Sự đa dạng của quy chuẩn hành nghề có thể thấy qua một cuộc khảo sát tương tự như của Bancroft (2005) do tiến sĩ Dolmaya (2011) của Đại học York (Canada) thực hiện. Dolmaya so sánh 17 quy chuẩn đạo đức của các tổ chức dịch thuật chuyên nghiệp thuộc 15 quốc gia khác nhau. Chỉ có hai nguyên tắc cùng xuất hiện trong 17 quy chuẩn này là người dịch phải bảo mật (confidentiality) thông tin và có khả năng (competence) hành nghề. Nhiều nguyên tắc có khi được liệt kê trong quy chuẩn của tố chức này nhưng không có trong quy chuẩn của hiệp hội kia. Ví dụ, chỉ có bày quy chuẩn trong đó có nội dung yêu cầu người dịch phải vô tư, phải thông báo cho khách hàng nếu thêm hay bớt câu chữ trong ngôn ngữ gốc nếu sự thêm bớt này có thể làm sai nghĩa, không được nhận quà cáp vì có thể gây hiếu nhầm là bị mua chuộc. Trong 17 tổ chức, chỉ có ba tố chức yêu cầu thành viên của họ không được nhận dịch nếu phải nhận mức thù lao thấp hơn qui định.
Hai khảo sát công phu của Bancroft (2005) và Dolmaya (2011) cho thấy tuy các quy chuẩn hành nghề dịch thuật trên thế giới chưa thống nhất, nhưng phản ảnh một nhu cầu về một quy tắc ứng xử chung.
Trong cố gắng đưa ra một chuẩn mực hành nghề thống nhất, Chesterman (2001) đã tập hợp các nguyên tắc đạo đức phổ cập nhất để đưa ra một mô hình đạo đức chung. Theo ông, các quan niệm đạo đức trong dịch thuật có thể tóm tắt trong bốn mô hình.
Thứ nhất là mô hình đạo đức biểu thị (ethics of representation). Cốt tủy của mô hình này là trung thực với nguyên tác. Người dịch không được thêm, bớt, thay đổi nội dung, phải cố gắng đạt được sự chính xác (accuracy). Nếu không tôn trọng quy tắc này, người dịch sẽ bị coi là thiếu đạo đức (unethical translator). Ông viết: ‘Mệnh lệnh của mô hình đạo đức này là biểu thị nguyên tác, hay ý định chính của tác giả một cách chính xác, không thêm, bớt, hay thay đổi bất cứ điều gì.’ (Chesterman 2001:139)
So sánh quy chuẩn của 17 tổ chức dịch thuật.
Trong số các quy chuẩn đạo đức của 17 tổ chức dịch thuật mà Dolmaya (2011) nghiên cứu, có ba nguyên tắc đáng lưu ý.
Thứ nhất là sự chính xác (accuracy). Hầu hết các quy chuẩn đạo đức đều nêu vấn đề chính xác, nhưng chỉ có bảy tổ chức định nghĩa chính xác là gì. Có năm tổ chức yêu cầu thành viên của họ phải dịch trung thực và trung thành, nhưng lại không định nghĩa trung thực (fidelity) và trung thành (faithfulness) là gì. Hầu hết các bảng quy chuẩn lại không hướng dẫn người dịch phải làm gi khi gặp một bàn văn gốc lủng củng, tối nghĩa, hoặc có nhiều lỗi ngôn ngữ. Lại có tổ chức định nghĩa ‘sự chính xác’ tùy thuộc yêu cầu của khách hàng, nghĩa là người dịch có quyền thêm hoặc bớt câu chữ trong bản gốc sau khi đã hỏi và được khách hàng chấp thuận.
Nguyên tắc thứ hai là giới hạn việc chọn ngôn ngữ đích. Có năm tổ chức dịch thuật yêu cầu hội viên chỉ được dịch qua ngôn ngữ đích nếu đó là tiếng mẹ đẻ của người dịch, hoặc chỉ được dịch ra ngôn ngữ đích nếu người dịch giỏi ngôn ngữ đích như tiếng mẹ đẻ. Riêng Hiệp hội Dịch Thuật Irish (ITIA) yêu cầu người dịch phải thông báo cho khách hàng biết nếu nhận dịch ra ngôn ngữ đích không phải là tiếng mẹ đẻ.
Nguyên tắc thứ ba là cách đối phó với văn bản bất hợp pháp hoặc trái luân thường (immoral or illegal texts). Trong 17 quy chuẩn đạo đức (hành nghề), có năm quy chuẩn trong đó có điều khoản cho phép hội viên được quyền từ chối dịch các nội dung đi ngược công ích, phi pháp, hoặc nhắm tới mục tiêu bất chính.
Nguyên tắc thứ ba rất đáng lưu ý dù không phải tất cả các hiệp hội dịch thuật đều có quy định này. Nó phản ảnh sự tự do cá nhân: người dịch có quyền dịch hay không dịch khi đứng trước quyết định chọn quyền lợi cá nhân hay quyền lợi tập thể.
Thứ hai là mô hình đạo đức phục vụ (ethics of service). Theo quan điểm này, dịch thuật là để phục vụ cho khách hàng (có tính chất thương mại), tức phải trung thành (loyalty) với khách hàng. Để đánh giá mức độ đạo đức của người dịch theo mô hình này, phải xem xét người dịch có đáp ứng yêu cầu của khách hàng và đối tượng người đọc không. Mô hình này thích hợp với thuyết Skopos, lấy mục đích dịch để định hướng phương pháp dịch. ‘Phẩm chất chính của một người dịch ‒ phục vụ (translator-servant) là trung thành; trên tất cà mọi sự họ không chỉ trung thành với khách hàng, mà còn trung thành với đối tượng người đọc lẫn tác giả nguyên tác.’ (Chesterman 2001:140)
Theo quan điểm đạo đức truyền đạt (ethics of communication), người dịch có đạo đức sẽ ý thức rất rõ bối cảnh trong đó công tác chuyển ngữ diễn ra (người nói, người nghe) để tạo sự thông hiểu, ‘một người dịch có đạo đức phải hành xử như kẻ trung gian với nỗ lực bắt nhịp cầu tri âm giữa hai nền văn hóa.’ (Chesterman 2001:140)
Mô hình thứ tư là đạo đức tùy tục (norm-based ethics). Người dịch sẽ ứng xử tùy theo hoàn cảnh dịch, không ứng dụng một cách dịch cứng nhắc nào mà phải tùy nghi sao cho phù hợp với sự mong đợi của văn hóa đích đối với vai trò của mình. Mấu chốt của cách tiếp cận này là để tạo sự tín nhiệm đối với người dịch.
Như tất cả các mô hình khoa học khác, không một mô hình nào không có khiếm khuyết. Các quy chuẩn đạo đức thường nêu vấn đề vô tư, người dịch chỉ là cầu nối. Do vậy, ví dụ, nếu theo quan điểm đạo đức phục vụ, người dịch đã thiếu sự vô tư khi chỉ đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, toàn bộ bốn mô hình đạo đức của Chesterman cho thấy ông muốn người làm công tác chuyển ngữ (nói hay viết) đều phải cố gắng hết sức để đạt kết quả cao nhất, theo nghĩa một người dịch tốt không thể vì thành kiến cá nhân, hay vì lý do chính trị hoặc lợi ích riêng, tùy tiện (đục) bỏ hay thêm bớt vì thiên kiến hay cả vì sợ hãi. Một người dịch tốt, thông qua quan điểm đạo đức của bốn mô hình trên, phải lưu ý tác động của ngôn ngữ đích đối với người sử dụng nó. Ta thường gọi ý thức này là lương tâm. ‘Làm việc có lương tâm’ theo cách nói thông thường. Nhưng làm sao để giữ được lương tâm nếu không có một điều gì ràng buộc vừa cụ thế vừa trừu tượng.
Chesterman muốn giải quyết vấn nạn này với đề nghị người dịch chuyên nghiệp nên tuyên thệ trước khi hành nghề, tương tự như Lời thề Hippocrates (Hippocratic Oath) dành cho bác sĩ trước khi hành nghề. Ông đặt tên là Lời thề Hieronymus (Hieronymus là Thánh Jerome, nhà thần học và sử gia sinh vào thế kỳ thứ tư, người đã dịch Kinh Thánh ra tiếng Latin, bàn Vulgate, xem lại Chương 2).
Lời thề Hieronymus đưa ra chín nguyên tắc đạo đức (xem nguyên văn cột phải ở khung dưới), gồm: cam kết, trung thành với nghề nghiệp, thông hiểu, sự thật, trong sáng, tín nhiệm, thành thật, công lý, tận lực vì phẩm chất ưu việt (Chesterman 2001:153).
LỜI THỀ HIERONYMUS
THE HIERONYMIC OATH
1. Tôi xin thề sẽ đem hết khả năng và sáng suốt để giữ trọn Lời Thề này. (Lời cam kết)
2. Tôi xin thề là thành viên trung thành của nghề dịch thuật và tôn trọng lịch sử nghề nghiệp. Tôi sẵn lòng chia sẻ kiến thức chuyên môn với đồng nghiệp và truyền lại cho người học nghề. Tôi sẽ không nhận dịch nếu không được thù lao hợp lý. Tôi luôn dịch bằng tất cả khả năng. (Trung thành với nghề nghiệp)
3. Tôi sẽ đem hết năng lực chuyên môn để phát huy tối đa việc truyền đạt và giảm thiểu sự hiểu nhầm giữa hàng rào ngôn ngữ. (Thông hiểu)
4. Tôi xin thề bản dịch của tôi sẽ phản ảnh nguyên ngữ một cách công minh. (Sự thật)
5. Tôi sẽ tôn trọng người đọc bằng nỗ lực tạo cho bản dịch được tiếp thu dễ dàng tùy yêu cầu của từng công tác chuyển ngữ. (Trong sáng)
6. Tôi thề tôn trọng bí mật nghề nghiệp của khách hàng và không lợi dụng thông tin của khách hàng vì lợi ích của cá nhân tôi. Tôi xin hứa sẽ tôn trọng thời hạn hoàn thành công tác và yêu cầu của khách hàng. (Tín nhiệm)
7. Tôi sẽ thành thật nói rõ khả năng dịch thuật cũng như vốn hiểu biết giới hạn của tôi; tôi sẽ không nhận dịch những gì vượt quá năng lực chuyên môn. (Thành thật)
8. Tôi sẽ thông báo cho khách hàng các vấn đề không thể giải quyết, và đồng ý để được trọng tài phân xử nếu có tranh chấp. (Công lý)
9. Tôi sẽ tận lực duy trì và phát huy năng lực chuyên môn, gồm ngôn ngữ, kỹ thuật, khả năng và kiến thức khác liên quan đến nghề. (Tận lực vì phẩm chất ưu việt)
1. I swear to keep this Oath to the best of my ability and judgement. (Commitment)
2. I swear to be a loyal member of the translators’ profession, respecting its history. I am willing to share my expertise with colleagues and to pass it on to trainee translators. I will not work for unreasonable fees. I will always translate to the best of my ability. (Loyalty to the profession)
3. I will use my expertise to maximize communication and minimize misunderstanding across language barriers. (Understanding)
4. I swear that my translations will not represent their source texts in unfairways. (Truth)
5. I will respect my readers by trying to make my translations as accessible as possible, according to the conditions of each translation task. (Clarity)
6. I undertake to respect the professional secrets of my clients and not to exploit clients’ information for personal gain. I promise to respect deadlines and to follow clients’ instructions. (Trustworthiness)
7. I will be honest about my own qualifications and limitations; I will not accept work that is outside my competence. (Truthfulness)
8. I will inform clients of unresolved problems, and agree to arbitration in cases of dispute. (Justice)
9. I will do all I can to maintain and improve my competence, including all relevant linguistic, technical and other knowledge and skills. (Striving for excellence)
(Chesterman 2001:152‒153)
Tổng hợp nội dung chính các quy ước hành nghề, chúng ta thấy đạo đức vừa có tính ràng buộc của một tổ chức đối với người dịch là hội viên, vừa là nhận thức độc lập (sự tự giác) của cá nhân.
Khi chấp nhận làm thành viên của một tố chức (hiệp hội) dịch thuật, người dịch phải tôn trọng quy ước nghề nghiệp của tố chức đó. Nhưng trong trường hợp các quy ước đạo đức không có tính ràng buộc, thì quyền quyêt định tuân theo hay không hoàn toàn tùy thuộc vào cá nhân người dịch. Lẽ tất nhiên khi một thành viên của tổ chức không tuân theo quy ước nghề nghiệp thì các quy ước đó vẫn đúng, vẫn có giá trị xã hội.
9.3. Đạo đức khước từ chuyển ngữ.
Khía cạnh đạo đức khi khước từ chuyển ngữ chính là nhận thức riêng của người dịch như ví dụ nêu ở đầu chương. Khi nhận (được thuê) dịch một nội dung trái với quan điểm luân lý của mình, người dịch nên hành xử như thế nào? Sự từ chối công việc có trái với quy chuẩn hành nghề không?
Khía cạnh đạo đức khi từ chối chuyển ngữ, theo McCann (2005), là một khái niệm mới và chưa được giới học giả lẫn dịch giả chuyên nghiệp chú ý. Theo ông, đạo đức khi từ chối chuyển ngữ liên quan đến bốn thành tố: cá nhân người dịch, khách hàng, nội dung nguyên ngữ (văn bản hay lời nói), và trong hoàn cảnh gồm cả ba thành tố trên.
Trước hết, không có một ràng buộc đạo đức hay quy ước hành nghề nào buộc người dịch phải dịch tất cà nội dung do người khác yêu cầu. Điều này thoạt có vẻ vô lý vì giả sử, người dịch là nhân viên toàn thời gian của một công ty, được cấp trên yêu cầu phải dịch điều này hay văn bản kia. Nhiệm vụ của nhân viên là chấp hành.
Nhưng McCann nêu một ví dụ thực tế là, nếu người dịch chỉ giỏi dịch sang ngôn ngữ B, nhưng được yêu cầu dịch sang ngôn ngữ A, việc khước từ dịch trong trường hợp này chính là đạo đức nghề nghiệp vì sự từ chối đó thể hiện tính chuyên nghiệp của người dịch.
Người dịch có quyền từ chối nếu khách hàng yêu cầu dịch một nội dung không thuộc lĩnh vực chuyên môn, ví dụ dịch giả văn chương nhưng được yêu cầu dịch tài liệu Y khoa. Tương tự, người dịch cũng có thế từ chối dịch một nội dung trái với triết lý sổng của mình, chẳng hạn được yêu cầu dịch nội dung kêu gọi bạo động. Nhân sinh quan của người dịch, yêu cầu của khách hàng và nội dung dịch là điều kiện để người dịch dùng làm căn cứ biện minh cho hành động khước từ chuyển ngữ. Điếm chủ chốt trong lập luận của McCann là khi một người dịch chuyên nghiệp từ chối chuyển ngữ vì nội dung trái quan điểm đạo đức của mình, thì hành động đó có cơ sở luân lý, và là một hành động có đạo đức.
McCann (2005) cho rằng tính chất chuyên nghiệp không chỉ cần đáp ứng yêu cầu của khách hàng là đủ, mà còn thể hiện ở lòng can đàm, biết nói ‘không’ vì lẽ phải. Và muốn chuyên nghiệp thì phải được đào tạo, can đàm tin vào lương tâm và nguyên tắc đạo đức của mình để khi cần, có thể tự tin từ chổi một công tác dịch thuật. Baker (2008) cũng cùng quan điểm khi cho rằng người dịch luôn đối diện với sự chọn lựa đạo đức, khi cần thiết cũng nên từ chối chuyển
Một trường hợp từ khước.
Diane là thông dịch viên chuyên nghiệp của tòa án ở Houston (Texas), có kinh nghiệm dịch gần ba mươi năm. Bà kể một kinh nghiệm liên quan đến đạo đức dịch thuật như sau.
Nhân chứng là một phụ nữ Nam Mỹ cùng với mẹ bị tai nạn. Người mẹ chết trên tay bà. Tòa hỏi nhân chứng mô tà tình cảm mẹ con và cái chết của người mẹ đã tác động cuộc sống của bà như thế nào. Nước mắt dầm dề, nhân chứng nói những đứa con của bà rất đau khỗ vi mất bà ngoại, rồi bà trình tòa một bài thơ bằng tiếng Tây Ban Nha dài hai trang giấy, nói rằng đây là những dòng chữ bà viết ra trong đau khổ sau khi mất mẹ. Tòa yêu cầu bà Diane dịch.
Diane kể lại: ‘Tôi nhìn khuôn mặt đầm đìa của người phụ nữ, rồi nhìn những đôi mắt chờ tôi dịch trong phiên tòa. Theo quy định tôi phải tự xưng bằng ngôi thứ ba. Tôi nói: ‘Bằng tất cả sự kính trọng, thông dịch viên xin tuyên bố bà không đủ khả năng dịch bài thơ này vì dịch thơ cần tài năng của một thông dịch viên văn chương.’
Diane nói bà không thể tự hạ thấp mình bằng cách dịch cầu may chỉ vì sợ mất mặt trước cử tọa. Dịch mà phó cho may rủi (dịch ẩu), theo bà, là hành động của người không được đào tạo tử tế.
(Teichman 2009)
Có một số hiệp hội dịch thuật đưa ra nguyên tắc khi nào thì người dịch có quyền từ chối chuyển ngữ. Tuy nhiên, phần lớn các khước từ chuyển ngữ là quyết định cá nhân. Foreign Exchange Translations, một tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu và cung cấp dịch thuật Y Dược khắp thế giới, đã thực hiện một cuộc thăm dò ý kiến về nguyên nhân từ chối chuyển ngữ. Kết quả của cuộc khảo sát năm 2010 ghi nhận ý kiến khác nhau của dịch giả về việc từ chối chuyển ngữ vì lý do đạo đức, tiêu biểu như ba ý kiến sau:
‘Tôi từ chối tham gia một dự án dịch của các tạp chí nỗi tiếng thế giới vì thù lao dưới mức trung binh. Đôi khi tôi đồng ý nhận thù lao thấp nếu đó là dự án của cá nhân hay công ty nhỏ. Tôi tin rằng chấp nhận dịch cho các công ty lớn với mức thù lao không tương xứng là hành động không đạo đức.’
‘Tôi từ chối dịch mọi văn bản liên quan đến cách đối xử tàn nhẫn đối với thú vật, như quảng cáo đồ may mặc bằng lông thú, da thú, thịt thú, kể cả các nội dung ủng hộ dùng thú vật làm thí nghiệm. Đây là một điều khoản trong hợp đồng dịch thuật của tôi.’
‘Mới đây tôi nhận dịch nói cho một hội nghị của một tố chức phi chính phủ lớn. Hội nghị kéo dài một tuần. Một lần đang dịch thì một nhân vật phát biểu ý kiến kỳ thị về tín ngưỡng của một sắc dân mà tôi lại thuộc sắc dân đó. Tôi bất ngờ vì phát biểu này nhưng vẫn phải nghiến răng mà dịch. Quả là một kinh nghiệm tồi tệ nhất trong đời hành nghề thông dịch. Tôi quyết không làm cho tổ chức này nữa dù họ đối xử với thông dịch viên hết sức kính trọng.’
(xem www.blog.fxtrans.com/2010/07/refusing-translations-on-ethical- moral.html)
Các dịch giả chuyên nghiệp và tự trọng có một điểm chung là thể hiện quan niệm đạo đức qua cách họ hành nghề. Dịch giả Cao Tự Thanh (2007) nói điều này rất rõ: ‘Các sách phong thủy, tử vi, bói toán không bao giờ tôi dịch, dù có người trả tiền rất cao. Bởi vì nhiều sách phong thủy Trung Quốc hiện nay rất tào lao, dịch ra chỉ làm hại người đọc.’11
Các ý kiến trên nới rộng quan niệm về đạo đức dịch thuật.
Giá trị đạo đức không chỉ dựa trẽn các nguyên tắc trung thực với nguyên tác, trung thành với khách hàng, hay đưa tác giả đến gần với độc giả bằng cách xóa bỏ các yếu tố xa lạ trong ngữ gốc.
Giá trị đạo đức cũng không chỉ nằm trong khuôn khổ các quy ước dịch thuật được văn bàn hóa với những ràng buộc về pháp luật. Giá trị đạo đức còn ở trách nhiệm của người dịch đối với một thực thể vượt ra ngoài khuôn khỗ văn bàn nhưng lại là đối tượng của dịch thuật, đó là xã hội.
Chúng ta thấy những người dịch chuyên nghiệp vừa đáp ứng yêu cầu chuyên môn vừa có trách nhiệm xã hội. Khi nhận dịch họ theo đúng quy chuẩn hành nghề; và khi nào thì biết nói ‘không’. Người dịch tự do lựa chọn, nhưng họ tự gánh cho mình trách nhiệm xã hội trong ý thức tự do.
9.4. Giữa quy chuẩn nghề nghiệp và đạo đức cá nhân.
Nhưng tại sao người dịch nên quan tâm đến xã hội trong khi họ chỉ cần tuân theo các quy ước đạo đức cũng đã là một người dịch có đạo đức rồi? Người dịch, theo suy nghĩ truyền thống, chỉ là người chuyến ngữ, ý thức rất rõ sự khác (và giống) giữa ngữ gốc và ngữ đích, là người trung gian vô hình, chỉ có một nhiệm vụ là chuyển tải ý định của bên này sang bên kia, tại sao lại mong đợi họ một trách nhiệm vượt quá chuyên môn nghề nghiệp?
Các lý luận trên quen thuộc, ít nhất cũng từ khi các dự án dịch vĩ đại trong lịch sử dịch thuật bắt đầu, như dịch Kinh Thánh. ‘Chữ thánh hiền’ không được thay đổi, phải giữ nguyên, đó là quan niệm một thời. Khi cuộc sống thay đổi, người ta nhận ra rằng người dịch quả giữ một vai trò tích cực trong việc ảnh hưởng đến các quyết định, chính sách. Các phán quyết của Tòa án Quốc tế Nuremberg, ví dụ, nếu không dựa trên khả năng của người dịch, thì làm sao thành hình. Nhận ra tác động của người dịch đối với xã hội khiến người ta đặt ra quy chuẩn hành nghề, nhưng quy chuẩn hành nghề có khi không đáp ứng quan điểm đạo đức của cá nhân người dịch.
Có rất nhiều ví dụ thực tế tiêu biểu cho sự xung đột giữa quy chuẩn hành nghề và đạo đức của cá nhân. Katharine Gun là một trường hợp nổi tiếng (The Guardian 26.2.2004). Gun làm thông dịch viên cho cơ quan tình báo Anh Quốc. Cô nhận một email ‘tối mật’ từ viên chức Hoa Kỳ với nội dung lên kế hoạch nghe lén quan chức ngoại giao ở Liên Hiệp Quốc nhằm tiến tới việc thuyết phục Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết tấn công Iraq. Gun đã tiết lộ nội dung email cho báo chí, cô bị bắt vì tội tiết lộ bí mật quốc gia. Tuy nhiên, Gun nói cô làm điều này với ‘lương tâm trong sáng’ vì bất mãn trong thế kỷ 21 mà ‘nhân loại còn phải dội bom nhau để giải quyết xung đột.’
Gun đã vi phạm quy ước hành nghề (phải giữ bí mật) vì tin vào quan điểm đạo đức của mình. Trường hợp của Gun được nhiều học giả thảo luận (xem Baker 2008), minh họa sự xung đột giữa quy chuẩn hành nghề và trách nhiệm xã hội của người dịch. Quy chuẩn đạo đức, ngay cả khi được luật pháp bảo đảm, vẫn không chắc được người dịch tôn trọng trong khi hành nghề.
Lẽ phải nằm ở đâu?
Lẽ phải, có lẽ, tùy thuộc vào không gian, thời gian, và người tham dự trong không ‒ thời gian ấy. Người tham dự gồm cả người đọc và người dịch. Vào thập niên 1950 của thế kỷ 20, dịch giả Hà Mai Anh dịch cuốn Les grands coeurs thành ‘Tâm hồn cao thượng’. Trong cuốn này ông phiên âm các danh từ riêng. Có lẽ dịch giả muốn cuốn sách đến được với nhiều thành phần xã hội lúc đó nên Việt hóa các tên riêng cho dễ đọc. Trong điều kiện xã hội ít sách báo, và số người biết ngoại ngữ cũng hiếm, cách dịch của ông còn thể hiện một quan điểm đạo đức chứ không chỉ là phương pháp, đó là cân nhắc người đọc đang ở trong bối cảnh và thời gian nào để định hướng cách dịch.
Baker (2008) coi mọi lý thuyết và quan điểm dịch là sản phẩm của một tiến trình, một sự tiến hóa của con người, và dịch thuật là một câu chuyện (narative) lớn: có mở, có dẫn, có đóng, tùy hoàn cảnh và nhận thức trong phạm vi câu chuyện. Trong giai đoạn này, ở không gian này thì người ta nhận định như thế. Đến thời điểm khác thì người ta lại nhận định khác. Đạo đức dịch thuật cũng vậy. Ở một không gian khác, sự tôn trọng bản quyền (xin phép trước khi dịch) được luật pháp bảo vệ, ở nơi khác thì không, ở nơi này, đạo đức đồng nghĩa không cắt xén, không bỏ bớt nhiều đoạn nhiều chương, ở nơi khác thì hành động lược bỏ không được coi là vi phạm quy chuẩn đạo đức.
Dù đạo đức dịch thuật có được nhìn bằng các quan điểm khác nhau, tuy nhiên chúng ta cũng thấy nhiều điểm chung có thể coi là các quy tắc phổ cập trong dịch thuật, đó là: người dịch chuyên nghiệp chỉ đàm nhận công tác nếu đủ năng lực chuyên môn để làm việc ấy; và khi đã dịch thì nên tuân theo các quy chuẩn đạo đức.
Các quy chuẩn là một khế ước xã hội, ràng buộc người dịch về mặt luật pháp lẫn tinh thần. Nó là kết hợp giữa giá trị chung và nhận thức riêng. Người dịch chuyên nghiệp sẽ biết hành xử quyền lựa chọn phương cách dịch của mình căn cứ trên các giá trị chung của xã hội. Đạo đức trong dịch thuật, như vậy, không phải là những quy ước trừu tượng, mà là tấm bàn đồ chỉ cho người dịch biết điều chỉnh hành vi, căn cứ vào đó để phán xét sự đúng sai nhằm xây dựng sự tín nhiệm xã hội đối với người hành nghề.
THẢO LUẬN
1.
Trong các quy chuẩn đạo đức, như của Hiệp Hội ATA (American Translators Association Code of Professional Conduct and Business Practices), nguyên tắc ‘trung thành’ (faithfulness) với thông điệp gốc luôn được nhấn mạnh.
Bạn sẽ giải quyết ra sao khi dịch một văn bản có nhiều lỗi ngôn ngữ (như cấu trúc câu, lỗi chính tả):
Dịch sát kể cả các lỗi.
Sửa những chỗ sai.
Ghi chú những chỗ sai.
Không quan tâm.
Thảo luận cách ứng xử của bạn dựa theo các quan điểm đạo đức dịch thuật trên so với nguyên tắc ‘trung thành’ với nguyên tác.
THẢO LUẬN
1.
Trong các quy chuẩn đạo đức. như của Hiệp hội ATA (American Translators Association Code of Proíessional Conduct and Business Practices), nguyên tắc ‘trung thành’ (faithfulness) với thông điệp gốc luôn được nhấn mạnh.
Bạn sẽ giải quyết ra sao khi dịch một văn bản có nhiều lỗi ngôn ngữ (như cấu trúc câu, lỗi chính tả):
Dịch sát kể cả các lỗi.
Sửa những cho sai.
Ghi chú những cho sai.
Không quan tâm.
Thảo luận cách ứng xử của bạn dựa theo các quan điểm đạo đức dịch thuật trên so với nguyên tắc ‘trung thành’ với nguyên tác.

