Dịch Thuật Và Tự Do - Chương 8

CHƯƠNG 8 | Dịch thuật chuyên ngành.

Lý thuyết dịch thuật ít chú trọng đến dịch thuật chuyên ngành. Nhiều học già trước đây coi dịch chuyên ngành là một hình thức chuyển ngữ không đáng kể, một hoạt động máy móc (mechanical task) như Friedrich Schleiermacher nhận định năm 1813 (trong Snell-Hornby 1988:11). Schleiermacher còn cho rằng ai biết hai ngôn ngữ đều có thể dịch các chuyên đề kỹ thuật.

Nhận xét của Schleiermacher không còn đúng. Sự chuyên biệt của nhiều ngành nghề mới đòi người dịch phải có kiến thức rộng ngoài khả năng ngôn ngữ. Công việc dịch chuyên ngành lại được trả tiền nhiều hơn, không còn là một hoạt động máy móc theo cách nghĩ cũ.

Khi nói đến dịch thuật chuyên ngành, người ta nghĩ ngay đến các lĩnh vực phổ biến như tài chính, luật pháp, y tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin. Và thật tự nhiên, người ta liên tưởng đến từ vựng chuyên môn.

Thực ra, nếu dịch thuật chuyên ngành chỉ là vấn đề tìm thuật ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích thì một cuốn từ điển chuyên ngành có thể giải quyết được phần lớn vấn đề (ngoại trừ các từ mới chưa có trong từ điển). Những người dịch chuyên nghiệp đều biết thuật ngữ không giải quyết được các khó khăn trong dịch thuật chuyên ngành. Khó nhất là làm sao đưa thuật ngữ nằm gọn gàng trong câu, đoạn, và toàn bản văn. Và câu, đoạn, toàn bản văn lại gồm văn phong, ngữ vực, mục đích (như để thông tin hay hướng dẫn cách sử dụng), và cả văn hóa của ngôn ngữ đích.

Vì vậy, nếu không áp dụng hay biết một quan niệm dịch, không có kiến thức tổng quát về ngữ học và lĩnh vực chuyên ngành mà chúng ta sắp dịch, thì một bản dịch chuyên ngành chắc không hơn sản phẩm dịch từ máy tìm Google.

Chương này sẽ điểm lại quá trình phát triển và các quy tắc chung về dịch chuyên ngành. Những quy tắc chung này sẽ được ứng dụng vào ba lĩnh vực phổ biến hiện nay là dịch trang web, pháp luật, và y tế. Chọn cách dịch web để thảo luận vì ai cũng biết sự phổ biến của web. Y tế là lĩnh vực ai cũng cần. Luật pháp không chì giới hạn trong chuyên ngành luật mà liên quan nhiều lĩnh vực khác như thương mại và tài chính.

8.1. Định nghĩa.

Trong Anh ngữ, một số học giả coi hai từ ngữ specialised translation và technical translation tương đương, đều để chỉ dịch thuật chuyên ngành. Theo Bách khoa Từ điển về Dịch Thuật Học (Baker 2004), từ pragmatic translation (dịch thuật ngữ dụng) có khi được dùng để chỉ dịch thuật chuyên ngành. Những người sử dụng từ ngữ này cho rằng yêu cầu chính là dịch nội dung càng chính xác càng tốt, không quan tâm đến tính thẩm mỹ (như cách hành văn) như trong dịch văn chương.

Quan điểm này phản ảnh một mẫu số chung về định nghĩa dịch chuyên ngành. Đó là quá trình chuyển ngữ trong một lĩnh vực đặc thù hay trong lĩnh vực thuộc chuyên đề kỹ thuật (technical). Để giới hạn tính chất đa nghĩa của từ chuyên ngành, trong chương này tính từ technical được hiểu là tính chất chuyên môn riêng hay tính đặc thù của văn bản chứ không có nghĩa cơ khí hoặc máy móc như trong cụm từ khoa học và kỹ thuật. Rõ ràng, ngay trong bước đầu dịch cụm từ ‘dịch thuật chuyên ngành’, chúng ta đã có thể ứng dụng một số quan điểm về dịch, ví dụ quan điểm cảm ý đã nói ở chương trước, để chuyển thành technical translation hay specialised translation, và trong bối cảnh xuất hiện của từ ngữ này, khi dịch ngược ra Việt ngữ thì technical translation phải hiểu là dịch thuật chuyên ngành.

Cũng cần nói rõ technical translation và specialised translation được coi là đồng nghĩa trong chương này thôi. Các tài liệu về dịch thuật chuyên ngành khác sẽ có cách định nghĩa riêng, ví dụ technical translation là dịch các văn bản chuyên về kỹ thuật, máy móc, còn specialised translation là chỉ chung cho dịch thuật các văn bàn đặc thù, trong đó technical translation chỉ là một bộ phận.

Để xác định từ ngữ một cách ngắn gọn, dịch thuật chuyên ngành là công tác chuyển ngữ trong một lĩnh vực chuyên biệt có thuật ngữ và khái niệm riêng thuộc ngành ấy, tiêu biểu như kinh tế, tài chính, kiến trúc, pháp luật, y tế, công nghệ thông tin. Các yếu tố căn bản để tạo nên một văn bản chuyên ngành là từ ngữ, khái niệm, cấu trúc, và văn phong. Chúng làm nổi bật tính chất đặc thù của một văn bản chuyên ngành.

8.1.1. Quan điểm về dịch chuyên ngành.

Nhìn lại quá trình phát triển lý thuyết dịch, chúng ta thấy các quan điểm và phương pháp dịch xoay quanh đề tài văn chương, tư tưởng, tôn giáo. Học giả từ xưa chỉ phân biệt hai nội dung dịch thuật, đó là dịch thuật văn chương (literary translation), và dịch thuật ngoài văn chương (non-literary translation) − một cách gọi khác về dịch thuật chuyên ngành. Sự phân biệt đơn giản này cho thấy các lý thuyết gia có thời không coi trọng việc dịch chuyên ngành, thậm chí xem người dịch chuyên ngành không phải là dịch giả (xem Franco Aixelá 2004), chỉ là người chuyển ngữ một cách máy móc, không cần sáng tạo như trong dịch văn chương.

Số lượng các nghiên cứu về dịch chuyên ngành xác minh quan điểm này. Mãi đến giữa thế kỷ 20 dường như không có một nghiên cứu học thuật nào về dịch chuyên ngành. Theo nghiên cứu của Franco Aixelá (2004), từ năm 1950 trở về trước không có một xuất bản phẩm nào bàn về dịch chuyên ngành vì nhiều lý do. Thứ nhất dịch chuyên ngành chỉ được xem là một hoạt động ngôn ngữ phụ, một công tác nặng về kỹ thuật (craft), không có chất nghệ thuật và sáng tạo (Franco Aixelá 2004:43‒4). Thứ hai vì trải qua bao thế kỷ, việc dịch văn chương (bao gồm sách tôn giáo) đòi hỏi người dịch có học vấn sâu rộng, trong khi người dịch chuyên ngành chỉ cần có kiến thức về lĩnh vực muốn dịch.

Franco Aixelá (2004) đã sưu khảo các xuất bản phẩm liên quan đến ngành dịch thuật và cho thấy nhiều con số cụ thể về tinh hình nghiên cứu dịch thuật chuyên ngành. Vi dụ từ năm 1951 đến 1990, trong tổng số xuất bản phẩm liên quan ngành dịch thuật bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha, xuất bản phẩm nghiên cứu về dịch thuật chuyên ngành chỉ chiếm 7.3 phần trăm. Từ năm 1991 đến 2004, xuất bản phẩm về dịch chuyên ngành chiếm 10 phần trăm, nghĩa là vẫn rất ít. Cần lưu ý các con số của Franco Aixelá chỉ có tính tương đối, minh họa bức tranh tổng quát về tình hình nghiên cứu dịch chuyên ngành trong ngành dịch thuật học.

Dù không được nghiên cứu rộng rãi, dịch thuật chuyên ngành lại là lĩnh vực được chú trọng cả về mặt thị trường lẫn đào tạo trong đại học. Những bản dịch chuyên ngành lúc nào cũng được trả tiền cao hơn các nội dung dịch thuật khác. Các trường đại học, kể cả ờ Việt Nam, thường tập trung đào tạo phương pháp dịch chuyên ngành, ví dụ tiếng Anh du lịch, tiếng Anh thương mại, với phương cách đào tạo rất phổ biến là tập trung vào từ vựng chuyên ngành (terminology) ‒ tức chỉ chú trọng tìm tương đương ở mức độ từ (word) ‒ hơn là chú ý dạy cho sinh viên tính đặc thù của cấu trúc và văn cảnh của một văn bản chuyên ngành.

Phương pháp đào tạo này phản ảnh tư duy coi ngôn ngữ thuần túy là vấn đề di chuyển giữa cấp độ từ, trong khi một bản văn chuyên ngành không chỉ có vấn đề tìm thuật ngữ tương đương, mà còn phản ảnh cấu trúc văn hóa, xã hội, và luật pháp của ngôn ngữ đó. Vi dụ nhìn từ quan điểm ngôn ngữ, văn bản pháp luật thuộc hệ thống Thông Luật (Common Law) và Dân Luật (Civil Law) có cách viết (style) khác nhau. Do đó hiểu được tinh thần và cấu trúc của hai hệ thống luật này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc dịch văn bản liên quan đến pháp luật.

Chính vì vậy muốn dịch văn bản chuyên ngành một cách chuyên nghiệp, trước tiên người dịch cần trải qua giai đoạn ‘dịch thường’ (non-technical translation), nắm vững một số lý thuyết và phương pháp dịch tổng quát. Nhiều đại học của Việt Nam cũng có đưa chương trinh dạy tiếng Anh cơ bản trước, nhưng số giờ lên lớp của tiếng Anh cơ bản rất ít hoặc bằng với số giờ học tiếng Anh chuyên ngành, và dù dạy tiếng Anh chuyên ngành nhưng chương trinh đào tạo cũng chỉ tập trung dạy thuật ngữ, chú trọng bốn kỹ năng cơ bản là nghe, đọc, nói, viết (Đỗ Thị Xuân Dung và Cái Ngọc Duy Anh 2010). Có lẽ vì cách đào tạo vẫn theo phương pháp cổ điển này mà trong Hội thảo Biên phiên dịch tiếng Anh do Học viện Ngoại giao ở Hà Nội tổ chức ngày 2.12.2010, đã có nhận định là ‘ờ nước ta hiện chưa có trường nào đào tạo ngành Biên ‒ Phiên dịch một cách chính quy và đúng phương pháp.’ (xem trang web của Học Viện Ngoại Giao tại địa chỉ www.dav.edu.vn).

8.2. Phân biệt chuyên ngành và không chuyên ngành.

Nhận diện các yếu tố tạo nên một văn bản chuyên ngành là bước đầu tiên, và quan trọng nhất, trước khi tiến hành dịch. Văn chương có ngôn ngữ riêng. Văn bản chuyên ngành có ngôn ngữ riêng dù vẫn dựa trên cấu trúc chung của ngôn ngữ. Do vậy bước đầu tiên trong tiến trinh dịch là nhận ra sự khác nhau giữa hai thể loại văn bản này, và các yếu tố đặc biệt của một văn bản chuyên ngành.

Trong bối cảnh thông tin trải rộng khắp toàn cầu và sự phát triển của nhiều ngành nghề chuyên môn, ngôn ngữ chuyên ngành không còn giới hạn trong một số lĩnh vực như ngàn năm trước. Ngày nay, nói đến dịch thuật chuyên ngành, chúng ta đều biết có rất nhiều lĩnh vực, phổ biến nhất là y tế, luật pháp, tài chính, công nghệ thông tin, và các ngành công nghiệp khác.

Mỗi chuyên ngành đều có ngôn ngữ riêng, do đó sẽ có những khó khăn riêng khi dịch. Khó khăn đầu tiên, và ai cũng biết, là vấn đề tìm từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích. Nhưng còn có những khó khăn khác ít được lưu ý, đặc biệt trong các chương trình đào tạo dịch thuật, là sự khác biệt ờ mức độ ngữ pháp, văn phong, ngữ dụng của từng chuyên ngành.

Newmark (1988:151‒61) cho rằng yếu tố nổi bật nhất khiến một văn bản chuyên ngành khác văn bản thường là số lượng từ vựng chuyên môn (thuật ngữ), dù theo ông thuật ngữ chỉ chiếm từ năm đến 10 phần trăm của toàn bản văn. Tuy nhiên, một tác giả khác (Arsentyeva 2003:170‒171, trích theo Zralka 2007) lại cho rằng thuật ngữ chiếm từ 20 đến 30 phần trăm trong một văn bản chuyên ngành.

Ta có thể tạm tin tưởng con số của một học giả uy tín như Newmark dù ông không cho biết căn cứ vào đâu để có con số như vậy. Ông cũng cho rằng các yếu tố khác của bản văn chuyên ngành như cấu trúc ngữ pháp (ví dụ cách dùng ngôi thứ hai, thể thụ động) không khác mấy các hình thức văn bản khác. Có lẽ nhận định của ông không bao gồm văn bản pháp luật hay y tế, hai nội dung (và hình thức) văn bản này rất khác so với các loại văn bản khác, đặc biệt nếu được dùng giữa giới chuyên môn với nhau.

Với kiến thức thông thường, ai cũng có thế nhận ra một văn bản chuyên ngành bởi các thuật ngữ dùng trong văn bản đó. Một yếu tố căn bản khác để phân biệt văn bản chuyên ngành với không chuyên ngành là sự khác nhau trong cách viết. ‘Cách viết’ là tử tổng quát bao gồm nhiều yếu tố kết hợp, gồm phối ngữ (collocation), cú pháp, cấu trúc toàn bản văn. Các yếu tố này tạo nên tính chất riêng của một văn bản chuyên ngành, nhưng tính chất riêng ấy, ta thường gọi là phong cách, lại tùy thuộc vào đối tượng người đọc: một bản văn chuyên ngành viết cho giới chuyên môn sẽ khác với bản văn chuyên ngành dành cho độc giả bình thường.

Ngoài số lượng từ vựng chuyên môn, một cách khác để nhận ra đặc điểm của văn bản chuyên ngành là so sánh văn bản của cùng một chuyên ngành do nhiều tác giả viết. Khi so sánh như vậy, ta sẽ nhận ra như các tác giả ‘nói cùng một ngôn ngữ’ trong chuyên ngành của minh.

Ngoài các yếu tố về mặt ngôn ngữ nói trên, khía cạnh văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả cấu trúc xã hội) cũng cần được lưu ý. Sự tương đương hay dị biệt về văn hóa là vấn nạn chung trong mọi hình thức dịch thuật. Do vậy, ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành vẫn bị ảnh hưởng bời văn hóa của ngôn ngữ nguồn. Ý thức sự ảnh hưởng của văn hóa trong vãn bản chuyên ngành sẽ giúp người dịch quyết định cách dịch phù hợp dựa theo các quan điểm dịch thuật đã nói ở các chương trước.

8.2.1. Từ vựng chuyên môn.

Thuật ngữ (terminology) có nghĩa rộng là tập hợp các từ (words) thuộc khoa học, nghệ thuật, một tác giả, hoặc một cộng đồng xã hội.

Nghĩa hẹp của thuật ngữ là ngôn ngữ chuyên biệt để diễn tả một khái niệm hay vật thể trong phạm vi một chuyên ngành. Kết hợp hai định nghĩa này, thuật ngữ là một phương tiện để truyền đạt chính xác trong một địa hạt tri thức đặc thù. Ta cũng có thể gọi thuật ngữ là từ vựng chuyên môn (specialised lexicography).

Thuật ngữ có thể chỉ gồm một từ, ví dụ network, hoặc một cụm từ, như wireless access point, trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Thông thường thuật ngữ được cấu tạo bời một hoặc hai danh từ, hay danh từ kết hợp với tính từ. Cách cấu tạo từ vựng này rất phổ biến trong Anh ngữ. Tuy nhiên không phải mọi từ vựng chuyên ngành đều có cách cấu tạo với ý nghĩa mơ hồ như ví dụ trên. Ta thường thấy nhiều khi từ vựng chuyên ngành là một từ thường nhưng có nghĩa khác. Ví dụ mouse là con chuột, nhưng khi dùng máy vi tính ai cũng hiếu đó là một dụng cụ để nhập liệu vào máy tính (an input device).

Từ vựng chuyên ngành không biểu tả cảm xúc, thường có một nghĩa chinh xác để chỉ một khái niệm khoa học hay đối tượng đặc thù nào đó trong một chuyên ngành. Cũng vì thế nên thuật ngữ ít khi có tính đa nghĩa. Một thuật ngữ, thông thường, chỉ có một nghĩa thống nhất, xuyên suốt toàn bản văn (Zralka 2007).

Tuy nhiên định nghĩa của Zralka chỉ đúng tương đối. Nếu nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết từ vựng, chúng ta sẽ thấy rằng nghĩa của thuật ngữ không phải bất biến. Thuật ngữ là để diễn tả một khái niệm chuyên ngành. Khi có thêm phát minh mới, thuật ngữ đó có thể biến mất hoàn toàn, hoặc có thêm nghĩa, tức có nhiều tầng ngữ nghĩa.

Đó chính là bản chất căn bản của ngôn ngữ: ngôn ngữ, cũng như một sinh vật, cũng đổi nghĩa theo thời gian tùy môi trường chung quanh.

Dury (2005:32) nêu thuật ngữ ecosystem (hệ sinh thái) để chứng minh điều này. Từ ecosystem do nhà sinh thái học người Anh Arthur George Tansley đặt ra năm 1935, mô tả hệ thống tương tác và lệ thuộc lẫn nhau của quần thể sinh vật trong môi trường hữu sinh và vô sinh. Khái niệm này đã được nhiều học giả nói đến trước cả Tansley, bằng các thuật ngữ như microcosm (tiểu vũ trụ/ thế giới thu nhỏ), superorganism (siêu sinh vật), biotic community (cộng đồng hữu sinh/quần xã sinh vật). Như vậy có thể coi các thuật ngữ này trong các tài liệu sinh thái học vào thập niên 1930 là đồng nghĩa. Nhưng ngày nay, superorganism gần như đã biến mất trong ngôn ngữ của ngành sinh thái học. Người ta chỉ còn dùng biotic community và microcosm nhưng với nghĩa khác, không đồng nghĩa với ecosystem nữa. Nói cách khác, trong ngôn ngữ sinh thái học ngày nay không có từ đồng nghĩa với ecosystem.

Dury (2005) cũng chứng minh một trường hợp ngược lại, là tuy khái niệm khác nhau nhưng thuật ngữ lại giổng nhau khi thuật ngữ đó được một chuyên ngành khác vay mượn. Biosphere (sinh vật quyển, ‘quyển’ là tầng, lớp, như trong ‘khí quyển’) xuất phát từ ngành sinh vật (biology), khi qua ngành sinh thái (ecology) và địa sinh học (biogeography), từ này vẫn giữ nguyên, cũng để mô tả khái niệm sinh quyển.

Từ vựng chuyên ngành có thế ví như một hạt nhân trong văn bản chuyên ngành. Xung quanh hạt nhân ấy là cấu trúc câu, đoạn, và toàn bộ mạch văn đế làm nên văn bản chuyên ngành, vấn đề là làm sao để hạt nhân ấy hòa thuận trong toàn bộ văn cảnh.

Thời quá khứ của từ điển.

Tuy từ điển Anh Việt chưa có mục từ sexpert nhưng với hiểu biết cơ bàn cách tạo từ trong Anh ngữ, ta có thể đoán từ này do hai danh từ riêng kết hợp: sex + expert, ‘chuyên gia về tình dục’.

Không phải lúc nào người ta cũng đoán được nghĩa như ví dụ trên. Gặp từ mới brain waste chưa có trong từ điển, đoán nghĩa là ‘phí não’ chắc không ai hiểu. Brain waste chỉ thành phần di dân có học vấn, tay nghề cao ở nước họ nhưng khi đến nước khác phải làm lao động phổ thông, gần với ý ‘phí phạm chất xám’.

Cả hai ví dụ trên chưa có trong từ điển Anh Việt, nhưng việc tìm nghĩa khá dễ trong thời đại ngày nay. Chỉ cần ‘google’.

Tuy vậy các dịch giả kinh nghiệm đều biết khó nhất khi dịch chuyên ngành không phải là vấn đề thuật ngữ. Khó nhất là làm sao nghĩa của thuật ngữ phù hợp với văn cảnh và khái niệm tương đương trong ngữ đích.

Khi gặp thuật ngữ, người mới tập dịch thường tìm ngay từ điển. Nhưng từ điển in không bao giờ theo kịp sự ra đời của từ mới, hay nghĩa mới của một từ cũ. Nếu từ điển có từ muốn tra, vẫn chưa giải quyết được vì một mục từ thường có nhiều nghĩa, không biết chọn nghĩa nào. Chọn đại một nghĩa thì không khác gì mua vé số. Ví dụ dễ thấy nhất là thuật ngữ luật pháp. Tìm thuật ngữ đó trong từ điển chuyên ngành luật rồi dịch ngay là việc làm bất cẩn. Phải xem thuật ngữ đó dùng trong hệ thống luật nào, rồi đối chiếu, cân nhắc có nên vừa dịch vừa giải thích, hay giữ nguyên từ gốc hay không.

Cách giải quyết chuyên nghiệp là (i) đọc thuật ngữ đó trong toàn bộ bản văn để đoán nghĩa, và (ii) so sánh bản văn muốn dịch với các bản văn cùng nói về một đề tài.

Đọc vài bản văn có cùng đề tài là để tim phong cách viết, cách phối từ (collocation), ý định của tác giả. Nghĩa của thuật ngữ phải phù hợp với giọng văn, cách phối từ, ngữ vực (register), không lạc loài giữa toàn bộ bản văn.

Hãy lên mạng, tìm các trang uy tín (xem Chương 1), đọc các tài liệu cùng đề tài để biết thuật ngữ đó thường được đặt trong bối cảnh văn bản nào. Tìm tài liệu tương đương là hành động đầu tiên khi gặp từ khó.

Từ điển chuyên ngành, vì vậy, là địa chỉ cuối cùng để tìm đến chứ không phải điểm tham khảo đầu tiên khi gặp từ vựng chuyên môn.

8.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ chuyên ngành.

Về mặt ngữ pháp, văn bản chuyên ngành bằng Anh ngữ thường dùng thể thụ động (passive voice). Đây cũng là lối viết thường thấy trong luận văn đạl học để tránh cá nhân hóa (không dùng ngôi thứ nhất). Động từ tình thái (modal verb) như would, shall, might, may, cũng thường được sử dụng trong văn bản chuyên ngành.

Về cách trình bày, mỗi chuyên ngành có cách trình bày (layout) riêng. Bản dịch tôn trọng cách trình bày dễ được chấp nhận hơn. Tốt nhất nên theo đúng cách trình bày của bản gốc để người đọc dễ đối dịch.

Zralka (2007) cho rằng trước khi dịch, người dịch cần phân tích văn bản chuyên ngành qua các điểm đặc thù gồm hình thức trình bày, thuật ngữ (gồm cả cách cấu tạo từ vựng chuyên môn), ngữ pháp (grammar), và ngữ thể (register). Ngữ thế là ngôn ngữ đặc trưng tùy thuộc đối tượng người đọc hay người nghe. Chẳng hạn một trang web dành cho tuổi mới lớn sẽ dùng cách xưng hô với người xem khác với trang web dành cho đối tượng là các bà mẹ. Nói một cách tống quát, ngữ thế là cách nói trong một bối cảnh đặc biệt, và tùy thuộc vào văn hóa của ngôn ngữ đó. Trong Việt ngữ, một trong các yếu tố tạo nên ngữ thế của một bối cảnh truyền đạt là cách xưng hô, với hệ thống xưng hô (person reference) dồi dào (như bạn, ông, bà, chú, bác). Đặc điểm này không có trong Anh ngữ, do đó người dịch nên tùy từng trường hợp để quyết định chọn cách xưng hô nào cho phù hợp.

Các yếu tố để nhận dạng văn bản chuyên ngành vừa trình bày ờ trên, tuy vậy, không phải là mẫu số chung cho tất cả chuyên ngành. Đối với văn bản trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chúng ta dễ nhận thấy là cấu trúc câu thường ngắn, đi thẳng vào vấn đề, mạch lạc. Nhưng với văn bản luật pháp, đặc biệt với hệ thống thông luật (common law), câu văn thường dài, cấu trúc phức tạp, và từ ngữ thường khi (cố tình) hàm hồ vì có nhiều nghĩa. Vì thế trong văn bản liên quan đến pháp luật thường có riêng một điều khoản định nghĩa từ ngữ, định nghĩa này chỉ áp dụng riêng trong văn bản đó. Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, ngược lại, cấu trúc câu ngắn, thuật ngữ thường vay mượn từ ngữ thường ngày nhưng có nghĩa mới.

8.3. Nguyên tắc chung khi dịch chuyên ngành.

Mỗi văn bản chuyên ngành có nhiều đặc điểm riêng. Trong dịch thuật, khó có một nguyên tắc nào áp dụng đều cho mọi chuyên ngành. Tuy nhiên các nguyên tắc nêu sau đây có thể coi là căn bản để áp dụng linh hoạt khi dịch văn bản chuyên ngành.

Nguyên tắc đầu tiên là đừng làm cho một văn bản kỹ thuật vốn dĩ khó hiểu trờ nên khó hiểu hơn.

Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong dịch thuật mà cả trong tiểu luận đại học. Trong thực tế, sinh viên Việt Nam thường nhức đầu vì có giáo sư cố tình biến một vấn đề rắc rối thành rắc rối hơn, hoặc một chuyện đơn giản được nâng cấp thành phức tạp cho ra vẻ trí thức. Một người dịch có lương tâm không nên bắt chước não trạng ‘làm phiền người đọc’ này.

Tác giả văn bản nguồn có thể vừa dùng thuật ngữ chuyên ngành vừa dùng từ ngữ để miêu tả một khái niệm hay một đối tượng. Nếu tác giả bản gốc dùng thuật ngữ, người dịch nên tìm thuật ngữ tương đương. Nếu không có thuật ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích, người dịch sẽ ứng dụng kiến thức về tạo từ mới sẽ nói ở đoạn dưới. Tuy nhiên có tác giả văn bản nguồn không dùng thuật ngữ (technical terms), thay vào đó là một cụm từ miêu tả (descriptive terms). Trong trường hợp này, Newmark (1988) có lời khuyên rất hữu ích. Thứ nhất, đọc kỹ văn bản gốc xem thử vì sao tác giả dùng từ miêu tả thay vì thuật ngữ. Nếu đó là lối viết của tác giả, người dịch sẽ dịch thành từ miêu tả. Thứ hai, nếu xác định rằng tác giả văn bản gốc không biết thuật ngữ, hoặc vì thuật ngữ đó không có trong ngôn ngữ nguồn nên phải dùng từ miêu tả (dài dòng hơn), người dịch có thế thay từ ngữ miêu tả bằng thuật ngữ (ngắn gọn hơn).

Trong trường hợp nào, người dịch cũng không nên làm cho vấn đề rắc rối hơn. Với tinh thần này, tùy đối tượng người đọc là ai, có thể kết hợp cả hai: dùng thuật ngữ nhưng kèm theo từ mô tả. Ví dụ nói về một phần cơ cấu hạt lúa trên trang mạng của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (www.knowledgebank.irri.org), nếu dịch plumule là ‘lá phôi’, và radicle là ‘rễ phôi’ thi câu The embryo contains the plumule and the radicle thành ‘Phôi gồm lá phôi và rễ phôi’. Để người đọc thòng thường dễ hiểu hơn, có thể kèm theo từ mô tả, thành ‘Phôi gồm lá phôi (lá mầm) và rễ phôi (rễ mầm).’ Giản dị hơn nữa cho dễ hiểu, câu này có thể dịch thành ‘Phôi gồm lá phôi (mầm) và rễ phôi (rễ),’ vì ‘mầm’ và ‘rễ’ thông dụng nên dễ hiểu. Người dịch chuyên ngành thường thích dùng thuật ngữ vì chính xác hơn, nhưng cũng có khi vì tâm lý trộ chữ để khoe kiến thức. Tuy nhiên nếu dịch cho đại chúng cần lưu ý mục tiêu truyền đạt trước khi quyết định có nên dùng thuật ngữ hay không.

8.3.1. Tạo từ mới.

Kiến thức tổng quát về định nghĩa và cách tạo từ mới sẽ giải quyết nhiều khó khăn khi gặp một thuật ngữ hay khái niệm mới chưa có trong ngôn ngữ đích. Các mô tả khái quát sau nhằm giúp người dịch biết các yếu tố tạo nên từ mới.

Từ mới là một cách nói tương đối vì ít khi có từ nào hoàn toàn mới. Từ mới được tạo nên dựa trên những yếu tố có sẵn, như tâm lý, cấu trúc ngôn ngữ, hoặc âm thanh. Từ mới có khi chỉ là một từ cũ nhưng mang nghĩa mới.

Khó nhất trong dịch thuật chuyên ngành là không có thuật ngữ tương đương trong ngôn ngữ đích. Từ điển chuyên ngành không bao giờ có đủ thuật ngữ để mô tả các khái niệm khoa học kỹ thuật luôn phát triển cùng những đổi thay trong xã hội.

Nhu cầu tìm từ mới để diễn đạt một khái niệm hay một hiện tượng mới lúc nào cũng có.

Tuy nhiên yếu tố nào tạo nên một từ mới? Làm sao quyết định đó là một từ hay nhóm từ mới?

Câu trả lời thông thường nhất là, từ nào không có trong từ điển gọi là từ mới. Thật ra, vấn đề không đơn giản như vậy.

Rey (2005) cho rằng không có một tiêu chuẩn khách quan nào để kết luận một từ là mới hay cũ. Một từ được coi là mới hay không còn tùy ta nhìn từ quan điểm đinh nghĩa nào. Theo quan điểm tâm lý, một từ được coi là mới nếu một cá nhân hay cộng đồng nói cùng ngôn ngữ cảm thấy như thế. Với định nghĩa từ quan điểm từ vựng, từ nào chưa xuất hiện trong từ điển hoặc kho ngữ liệu (corpora) thì đó là từ mới. Ngoài ra, một quan điểm chung là từ mới gồm các ký hiệu được sắp xếp có hệ thống để mô tả một ý tưởng hay hiện tượng mới. Không có từ mới nào thỏa mãn tất cả các quan điểm này.

Có nhiều cách để tạo từ, cũng như có nhiều yếu tố để một từ mới xuất hiện được chấp thuận.

Cách tạo từ mới thông thường nhất là ghép hai từ thông dụng, ví dụ software. Cách dịch phổ biến là dịch sát từng chữ trong Anh ngữ sang Việt ngữ, dù có khi từ mới dịch nghe ngô nghê. Ví dụ keyword trong lĩnh vực công nghệ thông tin được dịch là ‘từ khóa’ thay vì ‘từ chính’, vì key trong Anh ngữ trong trường hợp này không có nghĩa ‘chìa khóa’ mà là ‘chính yếu’. Tuy nhiên cách dịch này đã được đám đông dùng nên trờ thành thông dụng.

Trong các ngôn ngữ biến tố như Anh ngữ (inflection, Nguyễn Hiến Lê gọi là ngôn ngữ tiếp thể), từ mới còn được cấu tạo bằng cách thêm tiền tố (prefix), hậu tố (suffix), hoặc trung tố (infix). Các từ tố này có thể có gốc bằng tiếng Latin hoặc Hy Lạp (thường thấy trong thuật ngữ ngành Y). Tuy nhiên phổ biến nhất là ghép một phần của hai từ có sẵn. Vài ví dụ sau đây để minh họa.

Cybrarian (cyber + librarian), một nghề nghiệp mới trong thế kỷ 21, đế chỉ công việc của quản thủ thư viện (librarian) chuyên tìm và sắp xếp thông tin trên mạng. Các kỹ năng và kiến thức của một cybrarian không khác một librarian thông thường, nhưng người cybrarian ứng dụng kiến thức này trên mạng (Balderrama 2010).

Advermation (advertisement + information), hình thức quảng cáo cung cấp thông tin chi tiết về một sản phẩm.

Chemofog (chemotherapy + fog), tinh trạng giảm trí nhớ của bệnh nhân ung thư được điều trị bằng hóa trị. Thuật ngữ này đang dần thay thế chemobrain trong giới y khoa.

Flat daddy, hình được phóng lớn bằng kích cỡ người thật, thường là hình của ông bố đi lính xa nhà để treo trong phòng ngủ của con cái họ. Thuật ngữ này phổ biến từ khi quân đội Mỹ đổ quân vào Iraq.

Xerocracy (Xerox + cracy), cracy là hậu tố gốc Hy Lạp có nghĩa cai trị, quyền lực hay chính quyền. Xerox là tên công ty sản xuất máy in nổi tiếng thế giới. Xerocracy chỉ một xã hội bị kiểm duyệt nặng nề nên dân chúng thông tin nhau bang cách sao chép (photocopy) các tờ tin. Từ này xuất hiện trên tờ The Economist 15.10.1988 nói về xã hội Iran dưới thời vua Shah.

Thứ hai, nhất là trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ thông tin, khi một từ trở nên quá thông dụng trong ngôn ngữ gốc (như Anh ngữ), thi từ đó thường được ‘mượn’ (loan word) trực tiếp qua ngôn ngữ đích, như internet, web, nano.

Việt ngữ là ngôn ngữ đơn lập (Nguyễn Hiến Lê gọi là ngôn ngữ cách thể), không thay đổi tự dạng và chỉ xác định được tự loại tùy vị trí của từ đó trong câu (Nguyễn Hiến Lê 2006). Do đặc điểm này, Nguyễn Hiến Lê bác bỏ việc phân biệt tự loại (word dass) trong Việt ngữ. Lý luận của ông khá thuyết phục, đơn cử từ ‘về’, tùy vị trí của nó trong câu mà có khi ‘về’ là động từ hoặc trạng từ. Từ nhận xét đó, ông đề nghị, chỉ nên phân biệt tự vụ trong Việt ngữ, tức chức năng của chữ trong câu.

Trên quan niệm ngữ pháp của Nguyễn Hiến Lê, và không phân tích sâu ngữ pháp vì dịch giả không nhất thiết phải có kiến thức sâu về ngữ học, chúng ta thấy việc tạo từ mới trong Việt ngữ nên chú trọng vị trí của chữ: ý nào trước thì diễn trước, hành động nào trước thì đặt trước, từ bổ túc đứng sau từ được bổ túc (Nguyễn Hiến Lê 2006:52).

Quy tắc này của Nguyễn Hiến Lê có thể coi là giải pháp để tạo thuật ngữ chuyên môn mới.

Để được chấp nhận, dù chấp nhận giai đoạn hay lâu dài, từ mới cần hội tụ một hoặc các yếu tố sau đây: từ mới do một người có thẩm quyền trong lĩnh vực đó hoặc học giả uy tín tạo ra, từ mới gồm các từ cũ đã thông dụng, từ mới có vần và dễ đọc (trong Anh ngữ người tạo từ mới cũng lưu ý yếu tố âm thanh), từ mới là từ cũ nhưng có nghĩa mới. Một yếu tố khác là từ mới được tạo ra bằng cách gây sốc.

Lấy một ví dụ về hiệu ứng sốc trong Anh ngữ để minh họa, nhóm chữ gotcha journalism. Trong chiến tranh dành chủ quyền đảo Falkland giữa Anh quốc và Argentina (the Falklands War) năm 1982, khi một tàu ngầm Anh đánh đắm một chiến hạm Argentina, nhật báo The Sun ngày 4.5.1982 chạy tít (headline) một từ rất lớn dàn ngang trang mặt: GOTCHA (có thể tìm trang bìa trên Google image). Từ điển Oxford giải thích đây là ‘cách nói thô lỗ’ (vulgar pronunciation) do rút ngắn từ câu (I have) got you (‘tóm được mày rồi’). The Sun là nhật báo bình dân có số phát hành lớn nhất Anh quốc, cách làm tựa trên đây đã khiến giới báo chí giật minh. Từ đó khi chỉ loại báo hay bài báo đưa tin giật gân, hay chỉ nhằm săm soi tai tiếng của một nhân vật công chúng nào đó, giới nhà báo gọi những bài báo hay tờ báo như thế là gotcha journalism. Nhờ The Sun, từ điển có thêm danh từ gotcha journalism.

Dù có những kiến thức căn bản về cách tạo từ mới, trên tất cả, nhiệm vụ của người dịch không phải là sáng tạo từ mới trừ khi không tìm ra nghĩa tương đương trong ngôn ngữ đích.

Tạo từ là biện pháp cuối cùng của người dịch.

Và dù tạo từ hay phải dùng một cụm từ để giải thích một thuật ngữ mới, người dịch không nên khiến một văn bản khó hiểu trở nên khó hiểu hơn chỉ vì tâm lý muốn chứng tò có khả năng sáng tạo từ. Người dịch cần tham khảo các từ điển thuật ngữ có uy tín, những thuật ngữ nào đã thông dụng thì nên dùng (xem Lê Văn Thời và Lê Ngọc Thạch 2008). Ngoài ra, kiến thức về từ gốc Hán cũng cần thiết khi phải tạo thêm từ mới bằng Việt ngữ.

8.3.2. Kiến thức chuyên ngành hẹp.

Kiến thức về lĩnh vực đang dịch là điểu kiện không thế thiếu với một người dịch thận trọng.

Ví dụ khi dịch một văn bản liên quan lĩnh vực hóa học, ngoài việc tham khảo các từ điển uy tín, người dịch cần tim đọc các tài liệu có nội dung tương tự để hiểu các khái niệm, làm căn cứ cho việc lựa chọn từ ngữ.

Tuy không thế thiếu từ điển chuyên ngành, nhưng các dịch giả kinh nghiệm đều biết nhiều trường hợp, từ điển chỉ cho nghĩa tương đương, có khi gây hiểu nhầm nếu không nắm vững khái niệm của thuật ngữ đó: hai thuật ngữ của hai ngôn ngữ khác nhau, cùng thuộc một chuyên ngành, nhưng chưa hẳn đã chỉ cùng một khái niệm. Trong ngành sinh thái học, Dury (2005) nêu trường hợp hai ngôn ngữ rất gần nhau là Anh và Pháp ngữ. Theo Dury, communauté trong Pháp ngữ và community trong Anh ngữ không chí cùng một khái niệm (sinh thái) dù thoạt trông hai từ ngữ này tương đương về nghĩa. Communauté mô tả hệ sinh thái gồm cộng đồng sinh vật khác nhau trong cùng một sinh cảnh (biotope) vào một giai đoạn nhất định. Trong khi community gồm cộng đồng sinh vật có thể có bản chất khác hoặc giống nhau trong cùng một sinh cảnh vào bất kỳ lúc nào. Điểm khác nhau ở đây là với communauté, thời gian và địa điểm là hai thông tin quan trọng tạo nên khái niệm communauté, trong khi community không ám chỉ các sinh vật có bản chất khác nhau, và không nói đến yếu tố thời gian. Dury kết luận rằng hai khái niệm này chỉ tương đương chứ không đồng nhất, do vậy nếu dịch communauté thành community là sai lầm dù hai từ này tương đương về nghĩa (nhưng không tương đương về khái niệm). Dury đề nghị nên dịch communauté thành population hoặc guild.

Có thể suy diễn từ ví dụ của Dury trong ngành sinh thái học sang các lĩnh vực chuyên môn khác. Đó là khái niệm quan trọng hơn thuật ngữ. Phải chọn thuật ngữ nào phù hợp nhất để diễn tả khái niệm khoa học. Chính vì vậy nên từ điển thuật ngữ chỉ có tính chính xác tương đối, nên người dịch vừa cần kiến thức chuyên ngành hẹp, vừa cần sáng tạo.

Như vậy người dịch không những cần tìm hiểu về chuyên ngành trong tiến trình dịch, mà còn cần lưu ý khái niệm mà thuật ngữ đó mô tả. Ngày nay việc tìm thông tin bất kỳ lĩnh vực nào cũng thuận tiện. Vấn đề còn lại là ý thức trách nhiệm của người dịch, đó là tìm thông tin để tham chiếu, chọn lựa cách dịch phù hợp với mục đích truyền tải của thông điệp chuyên ngành.

8.3.3. Phân tích mục tiêu và hình thức.

Tài liệu chuyên ngành này dành cho ai? Đó là câu hỏi nên đặt ra trước khi dịch, số lượng từ chuyên ngành, ngữ pháp, phong cách, cấu trúc toàn bản văn là các yếu tố để quyết định tài liệu đó dành cho ai.

Tài liệu dành cho giới chuyên môn, ví dụ bài báo khoa học trên một tạp chí chuyên ngành, luôn có các chuẩn mực riêng như cách ghi tham khảo trong bài và cuối bài. Khi dịch phải tôn trọng cách ghi tham khảo của tác giả.

Trong thực tế, người dịch thường nhận một bản tóm tắt (translation brief) trong đó nêu các yêu cầu của khách hàng như thời gian hoàn thành và hình thức của bàn dịch. Bản tóm tắt là điểm quy chiếu, hướng dẫn mục tiêu dịch. Người dịch căn cứ vào đó, kể cả tôn trọng hình thức trình bày.

Dù có được khách hàng gửi bản tóm tắt hay không, chúng ta đều thấy có nhiều loại văn bản rất coi trọng hình thức trình bày. Ví dụ bằng lái xe, giấy khai sinh, bằng tốt nghiệp. Khi dịch các hình thức văn bản này, về nội dung nên áp dụng phương pháp tương đương nguyên mẫu (formal equivalence), về hình thức nên giữ theo cách trình bày của bản gốc. Lý do vì người đọc bản dịch (thường là quan chức xét giấy tờ) chỉ cần biết bản gốc nói gì, họ không quan tâm ngôn ngữ dịch có thuận tai hay tự nhiên hay không.

8.4. Sáng tạo trong dịch chuyên ngành.

Trong dịch nói, người dịch cần có kỹ năng diễn đạt như nói trước công chúng. Trong dịch viết, một người dịch giỏi còn là người biết viết đúng.

Với lĩnh vực chuyên ngành, kỹ năng viết còn quan trọng hơn do những ràng buộc trong ngôn ngữ chuyên ngành. Một tờ hướng dẫn sử dụng máy móc, ví dụ, được viết bằng câu văn ngắn, trong sáng, đơn giản, không thể được chuyển ngữ bằng câu văn luộm thuộm rườm rà. Vì vậy, không nên coi dịch chuyên ngành chỉ là vấn đề giải quyết từ ngữ chuyên ngành như Newman (1988) đã quá đề cao sự quan trọng của thuật ngữ. Thuật ngữ chỉ là một yếu tố và không quá khó để giải quyết như đã trình bày ở trên. Chỉ lo giải quyết dịch thuật ngữ là đánh mất toàn bộ linh hồn của bản văn. Con người không chỉ truyền đạt giữa thuật ngữ và thuật ngữ, giữa từ điển và từ điển. Con người truyền đạt bằng tâm hồn, và tâm hồn được chuyên chở bằng nhiều yếu tố tạo nên một nội dung qua hình thức nói hay viết. Vì thế phong cách viết (style) rất quan trọng. Một tờ rơi quàng cáo (leaflet) cần viết (dịch) ngắn và rõ đúng ngôn ngữ của tờ rơi. Một văn bản luật pháp cần viết đúng phong cách của ngôn ngữ ngành Luật.

Người ta thường nghĩ dịch là sự sao chép ý tưởng, đặc biệt dịch chuyên ngành không đòi hỏi óc sáng tạo. Lý lẽ này không đúng. Muốn truyền đạt thông điệp chuyên ngành có hiệu quả, tức nội dung thông điệp được hiểu đúng và rõ như mục đích của nó, người dịch phải biết viết đúng, tức nắm vững các quy ước về văn viết như dấu chấm câu, cách trình bày. Sau đó vượt qua sự giới hạn về thuật ngữ và yêu cầu khắt khe về lối viết (câu ngắn hay dài). Muốn vượt qua điều này cần sáng tạo trong cách dùng chữ.

Trong văn chương, người dịch có một khoảng trống tự do, có thể thêm hoặc bớt hay cả làm mới ngôn ngữ đích khi chuyển tải nội dung ngôn ngữ gốc. Tự do bị giới hạn trong dịch chuyên ngành. Một bản dịch cách sử dụng máy móc, chẳng hạn, nếu dịch không đúng trình tự sử dụng thì người tiêu dùng sẽ làm sai, đưa đển các hậu quả khó lường và có thể bị liên quan đển pháp lý (bị người tiêu dùng kiện). Chính trong giới hạn này, sự sáng tạo bằng ngôn ngữ mới cần thiết để bản văn chuyên ngành không quá khô khan, không làm khó hiểu hơn một nội dung vốn dĩ khó hiểu.

Sáng tạo không có nghĩa là chăm chú làm mới một cách nói quen thuộc (miễn là cách nói đó không quá nhàm). Sáng tạo trong dịch thuật nên theo nguyên lý của Nord (2006), đó là miễn làm sao trung thành với yêu cầu của bản tóm lược (translation brief), chứ không nhất thiết phải theo sát từng câu hay từng chữ của bản gốc.

Nord không nói đến sáng tạo, nhưng khái niệm trung thành (loyalty) của Nord có thể vận dụng khi áp dụng trong dịch chuyên ngành: dịch giả chỉ có thể trung thành, tự thân bản dịch không thế trung thành. Nghĩa là bàn dịch phài đáp ứng mục đích yêu cầu (dịch để làm gi), chứ không cần phải sát và trung thực (Nord dùng chữ ‘fidelity’ để phân biệt với ‘loyalty’). Như vậy thái độ và cách nhìn của người dịch cần trung thành (loyalty) với mục đích dịch; còn bản dịch không cần trung thành (fidelity) với bản gốc, miễn sao bản dịch chở hết thông tin của bản gốc.

Lý luận này của Nord giúp ta có khoảng trống để sáng tạo khi dịch chuyên ngành: con người là chủ thể sáng tạo, người dịch nhắm vào mục đích dịch và tự do chọn cách đến, thoát khỏi sự ràng buộc của nghĩa chữ. Mức độ tự do nhiều hay ít tùy nội dung văn bản. Chẳng hạn, một nội dung thuần túy kỹ thuật như chỉ dẫn nấu ăn hay vận hành thiết bị, người dịch sẽ phải theo sát thứ tự của hướng dẫn. Nhưng nếu dịch một bài viết có nội dung về kinh tế trên một tạp chí chuyên nghiệp dành cho độc già có học, hay văn bản liên quan đến các khái niệm văn hóa, người dịch có nhiều tự do chọn lựa từ ngữ hơn, bản dịch ‘hướng đích’ hơn (gần với độc giả ngôn ngữ đích).

Do bàn chất ngôn ngữ chuyên ngành thường khô khan, sáng tạo trong dịch chuyên ngành là ‘mát-xa’ ngôn ngữ đích để nội dung truyền đạt dễ đọc và tự nhiên với đối tượng người đọc.

Vài nguyên tắc căn bản trên có thể áp dụng vào ba lĩnh vực chuyên ngành dưới đây, đó là dịch trang web, y tế và pháp luật. Ba lĩnh vực này, như sẽ thấy ở phần sau, hàm chứa nhiều lĩnh vực chuyên môn khác.

8.5. Dịch trang web.

Ngày nay, việc dịch trang web rất thông dụng vì hầu như mọi công ty đều muốn có trang web song ngữ. Để dịch trang web, người dịch cần biết vài đặc tính căn bản nhất của ngôn ngữ mạng nhằm lựa chọn ngôn ngữ (số chữ) thích hợp.

Nói một cách đơn giản nhất, trang web là kết hợp của chữ, hình ảnh và các đặc tính khác trên mạng (Internet) để người sử dụng truy cập qua địa chỉ của trang web. Theo Reiss (2000), nội dung trang web thường có một hoặc cà ba chức năng sau: cung cấp thông tin, chia sẻ ý kiến, và gây ảnh hưởng đối với người truy cập.

Đặc tính nỗi bật nhất của ngôn ngữ trên trang web là thường ngắn, dễ hiểu, dễ đọc. Thứ nhất để giữ người xem không bỏ qua địa chỉ khác. Thứ hai, nếu nội dung nhiều thì thời gian tải (download) lâu. Do vậy, mỗi trang (một màn hình) thường tự nó đầy đủ thông tin vì người truy cập không đủ kiên nhẫn đọc từ trang này qua trang khác như đọc sách. Đối với những trang thương mại, đặc tính ngắn, gọn, hấp dẫn, đi thẳng vào vấn đề của ngôn ngữ càng nổi bật.

Những điểm riêng này là thách thức cho người dịch trang web về nội dung và hình thức: tôn trọng nội dung truyền đạt, chọn chữ sát với độ dài-ngắn của ngôn ngữ gốc để khớp với các yêu cầu thiết kế (độ rộng của màn hình, các khung hay ô đã được mặc định).

Ngôn ngữ trang mạng gần với ngôn ngữ quảng cáo, nghĩa là vừa cung cấp thông tin vừa thuyết phục (người đọc, người mua hàng). Những trang mạng chuyên nghiệp, nhất là của các công ty bán hàng, rất chú trọng tính chất này. Vì vậy ngôn ngữ mạng không những cần gọn gàng mà tốt nhất phải gợi hình. Hiểu được đặc điểm này của ngôn ngữ mạng, người dịch sẽ an tâm khi chọn từ ngữ miễn sao ngắn gọn, dễ hiểu, gợi hình, và gần gũi với văn hóa đích.

Với tiền đề này, nguyên tắc tạo nhất tương đương (equivalent effect) của Nida (1964) rất thích hợp để ứng dụng trong dịch trang web ‒ đặc biệt các trang web thương mại. Cần nhắc lại nhất tương đương là ngôn ngữ đích tạo tác dụng với người đọc ngôn ngữ đích như ngôn ngữ gốc tạo tác dụng đối với người đọc ngôn ngữ gốc. Các khẩu hiệu hay ngôn ngữ quảng cáo đều nhằm thu hút người mua đến với sản phẩm. Một nội dung quảng cáo sản phẩm cho người tiêu dùng ở Mỹ, khi dịch sang Việt ngữ, cũng phải dụng ngữ làm sao để thu hút người tiêu dùng Việt. Với nguyên tắc đó, khi dịch sang Việt ngữ hoặc ngược lại, ta sẽ không bị trói buộc vào ngữ nghĩa của ngôn ngữ gốc, mà chì cần chú ý gây nhất tương đương ở ngôn ngữ đích.

Ví dụ trên trang web của công ty Intel mẹ (www.intel.com) có quảng cáo dòng sàn phẩm bộ xử lý mới nhất (năm 2011) Intel Core thế hệ 2, với hàng chữ Visibly Smart Performance. Cả ba chữ trong khấu hiệu này đều dễ hiểu, rõ nghĩa. Trong trang web tiếng Việt của Intel (www.intel.com/vi_VN/index.html), ba chữ này được dịch là ‘Khả năng xử lý thông minh rõ ràng’.

Một người đọc trung bình đều thấy câu khẩu hiệu tiếng Việt tối nghĩa do dịch từng chữ một, không thuận theo cách nói tự nhiên của tiếng Việt, dùng nhiều từ Hán Việt.

Câu khẩu hiệu tiếng Anh hàm ý rằng với bộ xử lý Intel Core thế hệ 2, người sử dụng sẽ thấy tốc độ ‘chạy’ của nó rất nhanh: nhanh mà ‘thấy được’ (visible) chứ không chì ‘cảm tháy’ (to feel). Khi nắm được ý định của câu khẩu hiệu, ta có thể chuyển sang Việt ngữ bằng một câu có hiệu quả (ý nghĩa) tương đương mà không gượng ép trong cấu trúc Việt ngữ, như ‘Chạy Nhanh Thấy Rõ’ (viết hoa như trong câu gốc bằng Anh ngữ).

‘Chạy’ là khẩu ngữ, dễ hiểu hơn ‘tốc độ’, ‘khả năng xử lý’. Người Việt nói đến máy móc là nói đến ‘chạy’.

Một khẩu hiệu quảng cáo khác cho bộ xử lý Intel Core i7 trên trang web công ty mẹ là Visibly Smart Performance At Its Best, được dịch trong trang Intel Việt ngữ thành ‘Khà năng xử lý thông minh rõ ràng cao nhất’. Cách dịch bám từng chữ gốc như vậy khiếnc âu Việt ngữ rất tối nghĩa và lủng củng. Người ta không biết cái gì ‘cao nhất’. At Its Best ở đây hàm ý vận dụng hết công suất (hay ‘chạy hết ga’ theo cách nói thông thường). Hơn nữa, nếu lưu ý định dạng thiết kế của bản gốc, thì câu chuyển ngữ nên tránh quá dài. Cân nhắc hy sinh ngữ nghĩa để bớt chữ trong câu dịch, tránh làm khó người thiết kế trang web tiếng Việt. ‘Hy sinh’ (bỏ bớt số từ) không đồng nghĩa làm mất nghĩa gốc. Với yêu cầu như vậy, câu tiếng Việt có thế dịch thành ‘Chạy Nhanh Thấy Rõ ở Tốc Độ Tối Đa’.

Có thể phê bình trong cả hai cách dịch đề nghị trên là từ smart đã bị lược bỏ. Trong khẩu hiệu Anh ngữ, smart tạo sự liên tưởng intel(igent), tên của công ty, và vần với âm cuối từ performance. Sự liên tưởng này không có trong câu khẩu hiệu Việt ngữ dù smart có được dịch là ‘thông minh’. Vì vậy không dịch từ smart vẫn chấp nhận được vì người dịch theo nguyên tắc gây nhất tương đương, miễn sao người mua, ở đây là người Việt, hiểu được nội dung của dòng sản phẩm như người Mỹ đã hiểu khi đọc câu quảng cáo bằng Anh ngữ.

Có nhiều ví dụ tương tự trong các trang web song ngữ Anh‒Việt. Chẳng hạn trong trang giới thiệu về công ty, About Us, thì trang tiếng Việt lại được dịch sát là ‘Về chúng tôi’ thay vì mạnh dạn dịch là ‘Giới thiệu’ nghe tự nhiên và đàng hoàng hơn.

Các ví dụ đơn giản trên nhằm gợi ý một bước chuẩn bị khác trước khi dịch trang web: so sánh mục tiêu của trang web gốc và trang web dịch. Nord (1997) đề nghị khi so sánh, chúng ta nên quan niệm so sánh để dịch (translation-oriented) chứ không phải để phê bình văn bản. Theo Nord, nên đưa ra một loạt các tiêu chí khi so sánh, trong đó quan trọng nhất là mục tiêu của trang web (dành cho ai). Ví dụ trang web nhắm vào giới trẻ, thì so sánh quan điếm sống, cách nói, lề lối xưng hô của giới trẻ thuộc ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích. Sau đó tìm sự khác biệt giữa hai cộng đồng ngôn ngữ này. Lưu ý sự khác biệt này để tìm ra một giải pháp ngôn ngữ cho ngôn ngữ đích.

Điều này đòi hỏi người dịch hiểu rõ văn hóa của cả hai đối tượng dùng trang web (target audiences). Ví dụ một trang web thương mại nhắm vào người tiêu dùng Anh quốc. Người Anh thích hài hước, trọng bình đẳng, chuộng chủ nghĩa cá nhân, rất ghét ngôn ngữ cửa quyền. Vì vậy ngôn ngữ quảng cáo thường nói thẳng với đối tượng (De Mooij 1998), như you will need this, we are proud. Trong khi đó ngôn ngữ quảng cáo ở Bắc Mỹ, cũng theo De Mooij, có đặc điểm nêu thẳng sự cạnh tranh, dùng nhiều tính từ chỉ phẩm chất như the best, new, incredible và hỗ trợ phẩm chất này bằng các thông số và dữ kiện khoa học. Khác với người tiêu dùng Anh, ngôn ngữ quảng cáo ở Bắc Mỹ ít chất hài hước hơn.

Ngoài các dị biệt trên, có một điểm chung của người đọc web là hiếm khi đọc từng chữ từ đầu đến cuối. Đa số người ‘lướt web’ chỉ đọc lướt (scan) các tiêu đề.

Lý tưởng nhất trong dịch trang web là không dịch. Nếu khách hàng cho phép, người dịch nên viết lại nội dung ngôn ngữ gốc bằng ngôn ngữ đích hợp với đối tượng người đọc. Muốn viết lại để có một nội dung dễ đọc, người dịch cần có vài kiến thức căn bản như đặc điểm của ngôn ngữ quảng cáo, quy ước thiết kế (số chữ bị giới hạn vì diện tích của màn hình), và thói quen đọc web.

Địa phương hóa trang web.

Địa phương hóa (localization) một trang web là tiến trình chuyển ngữ và điều chỉnh hình thức lẫn nội dung trang web gốc sao cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng của trang web đích (Pym 2010).

Khái niệm địa phương hóa gồm hai ý chính: dịch và điều chỉnh. Dịch các yếu tố căn bản của trang web mẹ (ngữ gốc), còn điều chỉnh (adaptation) là đưa thêm các yếu tố hợp với trang web con (ngữ đích) và loại bỏ các yếu tố không phù hợp. Việc điều chỉnh tùy thuộc vào đặc điểm của thị trường địa phương, căn cứ vào các yếu tố như văn hóa, trình độ học vấn, thành phần xã hội và thị hiếu của người tiêu dùng.

Pym (2010) liệt kê các yếu tố cần điều chỉnh để phù hợp với văn hóa tiêu dùng của người đọc trang web đích, như quy ước ghi ngày tháng, số thập phân, đơn vị đo lường, màu sắc, hình ảnh động hay tĩnh (chẳng hạn những nước có tốc độ đường truyền chậm thi ít dùng hình ảnh động vi thời gian tảl lâu).

Khảo sát của Pym cũng cho thấy mức độ địa phương hóa tùy mục đích của từng công ty, thường là công ty đa quốc gia, như điều chỉnh một phần (các thông tin tổng quát được dịch, thông tin cá biệt như phẩm chất của sản phẩm được giữ nguyên), điều chỉnh hoàn toàn (làm một trang web mới dựa trên nội dung trang web gốc).

8.6. Dịch thuật Y tế.

Trong phần này, dịch thuật Y tế chỉ nói về dịch viết, gồm tài liệu Y học chuyên môn (như tạp chí chuyên ngành Y), và các nội dung dành cho độc giả công chúng (như giáo dục sức khỏe cộng đồng). Theo kinh nghiệm cá nhân, các thông dịch viên cộng đồng (không phải thông dịch viên chuyên ngành Y) khi chuyển ngữ trực tiếp giữa thầy thuốc và người bệnh ít gặp khó khăn như khi dịch viết, bởi thông thường thầy thuốc chỉ yêu cầu dịch lại các triệu chứng của người bệnh. Các thầy thuốc khi thăm bệnh ít dùng ngôn ngữ chuyên ngành. Vì vậy, người dịch nói thường là một thông dịch viên cộng đồng (community translator), ít khi cần một thông dịch viên y tế chuyên nghiệp (medical translator). Ngược lại, người dịch văn bản y khoa, đặc biệt các tài liệu nghiên cứu do bác sĩ viết cho bác sĩ đọc, cần có vốn thuật ngữ phong phú và phải hiểu đặc trưng ngôn ngữ Y khoa.

Phần này nêu các nguyên tắc giúp người biên dịch biết ứng dụng lý thuyết dịch một cách linh động khi gặp tình huống khó về thuật ngữ lẫn quan niệm về y học.

Khi chúng ta cho rằng dịch thuật các nội dung liên quan đến Y tế đòi hỏi sự chính xác thì nên hiểu thế nào là ‘chính xác’? Tuân theo quy ước của ngành Y (ví dụ viết số hay viết chữ), và không tự do như khi dịch tiếu thuyết là các yêu cầu tất nhiên đối với dịch thuật Y tế. Lý do vì ngôn ngữ ngành Y liên quan đến sinh mạng con người (như chỉ định cách dùng thuốc). Nhưng cũng như các nội dung dịch thuật khác, sự chính xác còn tùy vào quan điểm dịch, và tùy quan niệm Y học, nhất là khi so sánh giữa Tây Y và Đông Y.

Chẳng hạn bệnh phù, thũng nước, hay sưng thũng nước (Đông Y gọi là thủy thũng), thường được dịch là oedema (hoặc edema). Tuy nhiên nếu dịch cho đối tượng không phải trong ngành Y, hoặc không biết từ chuyên môn, thì vẫn có thế dịch sát là water swelling. Trong cả hai cách dịch, không thế nói cách này ‘chính xác’ hơn cách kia mà tùy vào quan điểm dịch thuật nữa.

Ví dụ trên cho thấy những hiểu biết về lý thuyết dịch giúp người dịch tự tin tìm ra cách dịch: cùng một nội dung trong ngôn ngữ nguồn có thể có nhiều cách chuyển ngữ khác nhau miễn sao thỏa mãn yêu cầu dịch để làm gì.

8.6.1. Thuật ngữ ngành Y.

Khó khăn trong dịch thuật Y tế là thuật ngữ. Với Tây Y thì nhiều thuật ngữ có gốc tiếng Hy Lạp và Latin. Cái lợi của thuật ngữ có gốc Hy-La là chúng được giới Y học coi như một ngôn ngữ quốc tế. Hơn nữa tiếng Hy-La cổ không thay đổi vì đã thành từ ngữ (ngày xưa viết thế nào thì nay vẫn viết như thế). Sinh viên biết cách tra cứu và phân tích từ tố có thể hiểu phần nào ngữ nghĩa của từ đó. Ví dụ trong Y khoa các thuật ngữ liên hệ đến ‘máu’ (blood) thường có từ tố hemo (hoặc hemato/haemo) có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ là haima, như hemophobia (chứng sợ máu), hematology (huyết học), hemorrhage (xuất huyết).

Trong Đông Y thì nhiều thuật ngữ có gốc Hán Việt. Nhưng ngay cả người thông thạo tiếng Việt thì phần lớn vẫn không hiểu thuật ngữ Đông Y nếu không phài trong giới chuyên môn. Và dù cố tìm hiểu thuật ngữ Đông Y bằng cách tra từ điển thì vẫn chưa hẳn dịch hết ý nghĩa của một danh từ Đông Y sang Anh ngữ do, trong nhiều trường hợp, quan niệm về Y học của Đông và Tây khác nhau.

Do vậy từ điển Y khoa chỉ hỗ trợ chứ không giải quyết rốt ráo vấn nạn thuật ngữ bởi nếu người dịch, khi gặp một thuật ngữ, chỉ việc tra từ điển và thay từ ngữ gốc bằng thuật ngữ đích thì ngôn ngữ của bản dịch có thể vừa lủng củng vừa sai nghĩa trong bản gốc. Lý do vì một thuật ngữ Y khoa thường có nhiều từ đồng nghĩa. Newmark (1979) nêu ví dụ thuật ngữ brucellosis có đến 25 từ tương đương trong Anh ngữ (chính xác hơn là từ này có nhiều tên gọi khác nhau chứ không đồng nghĩa). Trong trường hợp này, sẽ rất khó khi chọn một tên gọi khác cho từ này (các từ điển Y khoa Anh Việt thường dịch là ‘bệnh Brucella’, ‘bệnh nhiễm khuẩn gây ra bởi vi khuẩn Brucella’), vì mỗi chuyên khoa dùng một tên gọi, có thể do kiến thức về bệnh lý thay đổi theo thời gian nên các tên gọi cũng theo đó mà khác nhau.

Rõ ràng từ điển (song ngữ hay đa ngữ) không phải là vị bác sĩ toàn năng có thế trị tận gốc thuật ngữ Y tế. Việc lựa chọn, vì vậy, ngoài việc căn cứ vào ngữ cảnh của văn bản, còn phải đối chiếu với các từ điển khác.

Nêu các ví dụ trên để lưu ý rằng, dịch thuật Y tế cần thận trọng. Ngoài việc đối chiếu, xem xét ngữ cảnh, cần tham khảo giới chuyên môn trong trường hợp không chắc chắn.

Như vậy, yếu tố phải xem xét đầu tiên không phải là thuật ngữ, mà phải xác định nội dung văn bản dịch dành cho đối tượng nào: viết cho giới Y khoa hay cho độc giả thông thường.

Xác định được chức năng và mục tiêu của bản văn sẽ giúp người dịch chọn từ ngữ phù hợp. Một trong các yếu tố để đánh giá bài viết dành cho đối tượng người đọc nào là số lượng thuật ngữ. Các bản văn nhằm giáo dục sức khỏe cộng đồng thường ít dùng thuật ngữ, nếu có thuật ngữ thì chúng thường là ngôn ngữ thường ngày. Ví dụ trong một bài báo Anh ngữ nhằm giáo dục sức khỏe công chúng, tác giả sẽ dùng từ blood cot thay vì thrombus (cục máu đông), pink eye thay vì conjunctivitis (viêm kết mạc) (xem Moraes 2010), hand-foot-mouth disease (bệnh tay-chân-miệng) thay vì coxsackie.

Nhưng đời sổng thường không dễ chịu và rạch ròi đen trắng như vậy. Rất thường khi đọc bài viết của một bác sĩ, biết dành cho độc giả công chúng, nhưng lại có nhiều danh từ chuyên môn lồng trong ‘giọng văn đại chúng’. Tôi có đọc một tài liệu của một bác sĩ viết về bệnh cường giáp trên trang mạng của bệnh viện Hoàn Mỹ (www.hoanmysaigon.com, xem ngày 25.9.2011), với đoạn mở đầu như sau:

‘Bệnh cường giáp là gì? Cường giáp là tình trạng hoạt động quá mức của tuyến giáp dẫn đến hậu quả là sản xuất hormon giáp T4 và hoặc T3 nhiều hơn bình thường, dẫn tới gia tăng nồng độ hormone lưu hành trong máu.’

Trừ giới chuyên môn, người đọc đại chúng có lẽ chỉ hiểu lờ mờ hoặc không hiểu vì đoạn văn ngắn có nhiều từ chuyên ngành Y gồm cường giáp, tuyến giáp, giáp T4, giáp T3. Không nên phàn nàn mà hãy chấp nhận ngôn ngữ Y khoa, có đặc điểm dùng nhiều từ gốc Latin hay Hy Lạp do thiếu từ Y học tương đương trong ngôn ngữ khác. Hơn nữa, bác sĩ không phải là nhà văn, họ chú trọng sự kiện (factual information) hơn là làm cho câu văn đẹp để phù hợp với một đối tượng độc giả nào đó.

Người dịch không được tự do như độc giả đại chúng (không hiểu thì không đọc). Nếu được yêu cầu chuyển ngữ, người dịch phải tìm cách giải quyết.

Như đã nói, sau khi xác định bài viết không dành cho giới chuyên môn, chúng ta thấy nhiệm vụ rõ ràng hơn: dịch cho độc giả đại chúng hiểu, và vì vậy nên theo cách tiếp cận dịch là giải thích (interpreting, hiểu là cắt nghĩa chứ không phải dịch nói). Xác định được mục tiêu theo Lý thuyết Skopos, ở đây là chú trọng đến người đọc công chúng, ta sẽ tìm trong từ điển Y học đơn ngữ tiếng Việt để xem các từ chuyên môn trên có nghĩa gì. Nhưng từ điển sẽ không giải quyết rốt ráo nếu không đặt các thuật ngữ trong ngữ cảnh cường giáp. Giới chuyên môn, vì hiểu hội chứng này, nên họ tùy tiện dùng các từ ngữ (tương đối) khác nhau miễn sao nêu lên được bệnh trạng. Vì vậy cường giáp có nhiều cách giải thích khác nhau, như (1) tình trạng có quá nhiều hormone tuyến giáp trong cơ thế; (2) cường giáp không phải là một bệnh hoàn chỉnh, trong Y khoa gọi là hội chứng cường giáp; (3) là tuyến giáp tăng hoạt động, phóng thích lượng hóc-môn nhiều hơn bình thường vào trong máu, làm tăng chuyển hoá tế bào; (4) tuyến giáp trạng hoạt động mạnh hay còn gọi là bệnh cường giáp trạng, bệnh phát hiện do kích thích tuyến giáp trạng tiết ra quá lố; (5) còn gọi là cường giáp trạng, vân vân.

Mỗi tài liệu có một cách định nghĩa khác nhau như trên. Các bác sĩ có thế coi mọi cách định nghĩa này đều chấp nhận được. Nhưng chúng ta, người dịch, phải đứng từ quan điểm không phải Y khoa, vì vậy phải chọn cách dụng ngữ nào dễ hiểu nhất. Muốn chọn cách dịch dễ hiểu nhất, trước hết phải hiểu đoạn văn muốn dịch nói gì.

Sau khi hiểu các cách giải thích (và cách gọi khác), người dịch sẽ thấy tự tin khi sử dụng từ điển song ngữ để tìm thuật ngữ tương đương, ví dụ cường giáp là hyperthyroidism, tuyến giáp là thyroid gland, giáp T4 là viết tắt tên kích thích tố (cho đỡ rắc rối danh từ khoa học dài dòng) tetraiodothyronine hoặc thyroxine, và T3 là viết tắt tên của kích thích tố triiodothyronine.

Hiểu ‘cách nói bác sĩ’ của đoạn văn Việt ngữ, ta có thể tạm dịch như sau:

What is hyperthyroidism? Hyperthyroidism is a condition in which an overactive thyroid gland is producing an excessive amount of thyroid hormones (including tetraiodothyronine and/or triiodothyronine) that circulate in the blood.

8.6.2. Sự tương đương trong ngôn ngữ Y khoa.

Sự tương đương trong ngôn ngữ Y học, nếu bị hiểu nhầm, (có thế) gây chết người chứ không tự do như khi tìm cách diễn đạt tương đương trong văn chương.

Trong Y khoa, thuật ngữ gốc nhiều khi có nhiều từ tương đương trong ngữ đích, nhưng người dịch chỉ được quyền chọn một từ tương đương chứ không được tùy tiện chọn sao cho câu văn bay bống.

Chính sự mất tự do này lại có điểm lợi: chúng ta thu hẹp phạm vi chọn nghĩa tương đương bằng cách đặt căn bản trên nền tảng khoa học. Đó là một từ hay cụm từ phải trình bày được một quan điểm, chứ không thể vừa nghĩa này vừa nghĩa kia theo kiểu mơ mơ màng màng của văn chương thi phú. Nói giản dị, toàn bộ ngữ cảnh của một văn bản Y tế là khoa học, gọi chung là ngữ cảnh khoa học, vì vậy việc chọn từ tương đương phải đặt trên tinh thần đó. Ta có thể thay hàm ý của ngữ cảnh trong văn bản Y tế bằng cách mượn một chút ‘không khí Y khoa’ để gọi nó là tình huống bệnh trạng, tức tùy bài viết nói về vấn đề nào để chọn từ/cụm từ thích hợp trong ngôn ngữ đích.

Một ví dụ tôi tìm thấy trên một trang mạng cá nhân. Trong mục tin tức trên trang mạng này, có một bài dịch về thuốc Metformin với đoạn mở đầu như sau (phần tiếng Việt ở cột phải bên dưới);

Metformin Might Prevent Colorectal, Lung Cancers

Metformin có thể ngăn ngừa được ung thư đại trực tràng và ung thư phổi

Janis C. Kelly.

September 3, 2010 — The chance observation that diabetes patients taking metformin have a 40% reduced risk for cancer triggered intense research interest in this old off-patent drug.

(Nguồn: www.medicinenet.com).

Việc quan sát ngẫu nhiên các bệnh nhân đái tháo đường khi sử dụng thuốc metformin làm giảm 40% nguy cơ ung thư đã tạo ra mối quan tâm nghiên cứu mạnh mẽ về loại thuốc chưa được cấp bằng sáng chế cũ này.

Chúng ta không nói về văn phong khá lủng củng trong bản dịch Việt ngữ trên mà chỉ bàn về ngữ cảnh. Trên tinh thần ngữ cảnh khoa học, vấn đề ở đây là cụm từ The chance observation nên dịch như thế nào cho phù hợp. Chance là ‘tình cờ/ngẫu nhiên’, observation là ‘sự quan sát’ theo nghĩa từ điển. Nhưng trong ngữ cảnh này, có thể dịch là ‘việc quan sát ngẫu nhiên’ không?

Trong nhiều ngành khoa học, việc phát hiện một cách tình cờ không thiếu, như trường hợp phát hiện thuốc trụ sinh penicillin nổi tiếng của bác sĩ Alexander Fleming. Tuy nhiên nói là tình cờ nhưng thực sự không tình cờ chút nào, vì sự khám phá đó là kết quả của cả quá trình suy tư và tìm tòi lâu dài, như câu nói nổi tiếng của Louis Pasteur, In the field of observation, chance favors only the prepared mind. Vì vậy trong ngữ cảnh khoa học, chance observation tương đương với ‘khám phá tình cờ’, ‘phát hiện bất ngờ/ngẫu nhiên’.

Nên lưu ý không phải cứ thấy observation trong tài liệu Y khoa là dịch khám phá. Đôi khi observation vẫn có nghĩa quan sát, hoặc theo dõi. Chúng ta chỉ có thể quyết định khl nào chọn từ tương đương nào tùy thuộc vào ngữ cảnh. Chẳng hạn khi cúm H1N1 bộc phát hồi năm 2006, các hành khách đi máy bay đều được theo dõi các biểu hiện nhiễm bệnh như trong tựa đề Flight passengers [are] under medical observation trên nhiều bài báo Anh ngữ thời điểm đó.

Đến đây chúng ta thấy đặc trưng của ngôn ngữ Y khoa là nhiều từ ngữ thông thường nhưng lại có nghĩa khác hẳn. Chẳng hạn trong một bệnh án (medical record), chief complaint không có nghĩa là than phiền gì cả mà là lý do nhập viện, hoặc một cụm từ lạ: past medical history. Đã history rồi mà còn past! Nhưng chỉ lạ với người ngoài cuộc, còn bác sĩ phải phân biệt past medical history (tiền sử bệnh) với history of the present illness (bệnh sử).

Như vậy, có thế tóm tắt các bước cần thiết để dịch Y văn: xác định mục tiêu của nguyên tác, và nhận dạng ngữ vực: bài viết dành cho giới chuyên môn hay độc giả thông thường. Tùy đối tượng độc giả, bài viết sẽ có một cách dùng chữ đặc trưng.

Thứ hai là tìm và hiểu thuật ngữ. Tim và hiểu thuật ngữ trong các loại từ điển Y khoa đơn và song ngữ, đọc các tài liệu Y học (Anh và Việt) có cùng đề tài, và đôi khi phải xác minh từ ngữ với y bác sĩ. Đây là giai đoạn sử dụng kỹ năng tìm thông tin như đã đề cập trong Chương 1. Khi gặp những từ Anh ngữ có gốc Hy-La và không chắc nghĩa thì nên phân tích cấu trúc từ đó: tiền tố và hậu tố có nghĩa gì để xác minh lại tiến trình cấu tạo nghĩa của các từ gốc Hy-La. Ví dụ hepatitis = hepat (gan) + itis (viêm), tức viêm gan (inflammation of the liver). Tuy nhiên cần lưu ý không phải ngữ nghĩa của mọi từ có gốc Hy-La là tập hợp nghĩa của các biến tố tạo nên từ đó.

Trường hợp một từ chuyên môn không có trong từ điển? Newmark (1979) khuyên không nên sáng tạo từ mới khi dịch thuật ngữ Y học. Cách tiếp cận của Newmark không phải lúc nào cũng đúng, bởi như các lĩnh vực khác, từ mới luôn song hành với những khám phá mới trong Y học. Chẳng hạn bệnh AIDS vẫn được gọi là... bệnh AIDS, nhưng có một số dịch giả đã dịch là ‘bệnh liệt kháng’ và được nhiều người chấp nhận. Trong Y học, nhiều bệnh được đặt tên của người tìm ra bệnh, hay theo tên một địa danh nơi bệnh được phát hiện, ví dụ hội chứng Parkinson, bệnh Basedow, sốt Lassa (tên địa danh ờ Nigeria). Thông thường cách đặt tên theo danh từ riêng (tiếng Anh là eponym, tạm dịch là ‘danh vật tự’) có thế tìm thấy trong từ điển Y khoa, nhưng nếu không có, ta phải tìm trong từ điển danh vật tự Y khoa (medical eponyms). Các mục từ trong loại từ điển này đều được giải thích, và tùy yêu cầu của bản dịch, ta có thế dịch phần giải thích này.

Một số đại học nước ngoài (như University of Queensland ở Úc) có đào tạo dịch thuật Y tế chuyên nghiệp, sinh viên học kiến thức tổng quát về Y tế, từ vựng được chia theo từng nhóm chuyên đề (như từ ngữ thuộc hệ tìm mạch, hệ tuần hoàn) và đặc trưng của ngôn ngữ Y học. Ở Việt Nam, trong khi chưa có một chương trình đào tạo dịch thuật Y tế chuyên nghiệp, người dịch chỉ có thế tự học với các bước khởi đầu căn bản trên.

8.7. Định nghĩa dịch thuật pháp luật.

Một người bệnh sống trong tình trạng thực vật vĩnh viễn (persistent vegetative state) vì não bộ bị tốn thương nặng, được duy tri sự sống bẳng dinh dưỡng qua ống vào bao tử. Trong các người thân, có người muốn bác sĩ rút ống, có người không muốn. Khi còn sống và khỏe mạnh tỉnh táo, người bệnh lại không để di chúc thể hiện ước muốn của mình nếu rơi vào tình trạng này. Di chúc chỉ định cách điều trị (nếu bị bệnh nan y hay phòng khi không thể tự quyết định vì hôn mê), trong Anh ngữ gọi là living will. Các loại giấy tờ như living will hay ủy nhiệm cách điều trị (medical power of attorney hoặc healthcare proxy), tuy liên quan đến y tế, nhưng đều có giá trị pháp lý.

Như vậy, ngôn ngữ pháp luật không phải chỉ gồm các văn bản nói về pháp luật. Trong trường hợp các vắn đề y tế liên quan đến pháp luật (medico-legal issues), thi khái niệm và thuật ngữ Y‒Luật (medico-legal concepts and terminology) hỗ tương nhau. Chúng là bằng chứng quan trọng trong các tranh tụng liên quan đến y tế (medico‒legal setting).

Ngôn ngữ pháp luật, như vậy, bao gồm nhiều lĩnh vực. Một hợp đồng thương mại, ví dụ, có thế được liệt kê trong lĩnh vực kinh tế nhưng vẫn có thể coi nó là ngôn ngữ pháp luật bởi các ràng buộc về pháp lý. Một báo cáo thường niên của kiểm toán viên vẫn có thể coi thuộc ngôn ngữ pháp luật. Nhiều đại học Việt Nam đào tạo Anh ngữ chuyên ngành kinh tế thương mại, nhưng các văn bản trong các ngành kinh tế hay tài chính đều liên quan đến pháp luật.

Vì vậy có thể nói một cách khái quát, dịch thuật ngôn ngữ pháp luật là hành động chuyển ngữ vi bản dịch (target text) giữ một vai trò có liên quan đến pháp luật (legal purposes) trong bối cảnh ngôn ngữ đích.

Các tài liệu liên quan đến mục đích này, ví dụ giấy khai sính, chứng nhận của cảnh sát sở tại (police certificate, có khi gọi là lý lịch tư pháp) cho ngoại kiều xin giấy phép lao động tại Việt Nam, hoặc báo cáo tài chính (trong hồ sơ xin giấy phép đầu tư) đều có thế coi là ngôn ngữ luật pháp. Ngoài các văn bản liên quan đến pháp luật rõ ràng như trên, dịch thuật pháp luật còn có mục đích đơn giản hơn là thông tin. Dịch các văn bản có mục tiêu thứ nhất khó hơn do các lý do sẽ nói ở phần sau. Mục tiêu thứ hai ‒ nhằm thông tin ‒ dễ hơn vì người dịch có quyền giải thích khi gặp hai khái niệm/thuật ngữ giữa hai hệ thống pháp luật không tương đồng. Ngoài ra phải kể đến dịch nói trong tòa án, nhưng điều này thường xảy ra ở nước ngoài nhiều hơn ở Việt Nam.

8.7.1. Từ khái niệm đến ngôn ngữ luật pháp.

Trong Y học, hai danh từ khác nhau nhưng có thể chỉ để gọi tên một sự vật chung (ví dụ tên các bộ phận trong cơ thể). Ngôn ngữ luật pháp không vậy: đôi khi cùng một sự việc, một hình thức nhưng lại được gọi khác nhau do được nhìn dưới lăng kính khác nhau tùy hệ thống luật pháp của nước đó. Chẳng hạn, trong luật nước Anh, ăn cắp (theft) là ‘việc chiếm hữu không trung thực tài sản của người khác với ý định dùng nó thường xuyên’; trong khi luật của Đức lại định nghĩa người ăn cắp là người ‘lấy tài sản di chuyển được của người khác với ý định chiếm hữu nó một cách bất hợp pháp’ (xem Cao 2007:54).

Chỉ trong ví dụ trên, chúng ta để ý là câu dịch không suôn sẻ: sẽ gần gũi với Việt ngữ hơn nếu thay cụm từ ‘chiếm dụng không trung thực’ bằng ‘chiếm hữu bất chính’. Nhưng cụm từ này là dịch sát từ nhóm chữ dishonest appropriation. Dịch sát vì nghĩa của dishonest có thể còn phải bàn cãi, nhưng việc định nghĩa một định nghĩa (hay một từ) là công việc của luật sư, của quan tòa, của bồi thẩm đoàn (jury như trong hệ thống luật Anglo-Saxon), không phải của người dịch. Đây là một trong các điếm cần lưu ý đầu tiên khi dịch các từ ngữ liên quan đến pháp luật, đặc biệt các văn bản có thể được tòa án sử dụng.

Luật pháp quả nhiên rắc rối, cả về khái niệm lẫn ngôn từ. Hai yếu tố này gắn bó trong luật pháp nói chung, và khái niệm càng khác nhau thì càng khó tìm sự tương tự giữa ngôn ngữ.

David và Brierly (1985:20‒35) phân loại hệ thống pháp luật thế giới thành Luật La Mã (Romano-Germanic Law) và Thông Luật (Common Law). Luật La Mã thường được gọi Luật Châu Âu Lục Địa (chỉ khu vực lục địa châu Âu không bao gồm Anh Quốc) hay gọi vắn tắt là Dân Luật (Civil Law). Thông Luật còn gọi là luật Anglo-Saxon, có nhiều cách hiểu, nhưng khái quát thì có nguồn gốc từ Anh, được áp dụng trong nhiều nước nói tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc, Canada.

Mô hình khác nhau do khái niệm về pháp luật khác nhau, vì vậy việc tìm một từ ngữ vừa có (ngữ) nghĩa tương đương, vừa tương đương về khái niệm giữa hai mô hình pháp luật rất khó. Cao (2007:57) nêu ví dụ từ droit (pháp) trong Pháp ngữ, được dịch sang Anh ngữ là law. Nhưng droit và law chỉ tương đương về ngữ nghĩa chứ không tương đương về quan niệm. Khái niệm về pháp của lục địa châu Âu rộng hơn Thông Luật, trải rộng đến các phạm vi chính trị, xã hội, kinh tế, quyền và nghĩa vụ được công nhận trong xã hội, chứ không chỉ giới hạn trong hệ thống các văn bản quy chuẩn như khái niệm về pháp trong mô hình Thông Luật.

Một nghề nghiệp ai cũng hiểu là luật sư nhưng mỗi mô hình luật pháp lại gọi tên khác nhau, ở Úc hay Canada, luật sư có hai cấp là solicitor và barrister. Nói đơn giản, solicitor làm công việc tư vấn cho khách hàng (như soạn hợp đồng mua bán nhà, làm di chúc), còn barrister đại diện cho thân chủ (để biện hộ) ở tòa án. Ở Mỹ không phân biệt solicitor và barrister, mà gọi chung luật sư là lawyer, attorney, hoặc trang trọng hơn là Attorney at Law. Khi dịch qua Việt ngữ các chức danh solicitor, barrister hay attorney, khó tìm một từ tương đương khác hơn là ‘luật sư’ dù chức năng của họ khác nhau. Vì thế, nên tùy mục đích của bản dịch, đôi khi cần một ghi chú để làm sáng nghĩa.

Hệ thống tòa án khác nhau cũng khiến sự tương đương về từ ngữ gần như không có. Ví dụ ở Úc có hai hình thức tòa án: court và tribunal. Court được dịch là ‘tòa án’, nhưng tribunal không phải tòa án dù cũng có quyền để xét xử (jurisdiction) các tranh chấp thông thường. Có rất nhiều loại ‘tòa’ tribunal tùy phạm vi phân xử. Ví dụ Migration Review Tribunal để tái xét các trường hợp người xin nhập cành bị chính phủ (Bộ Di Trú) bác đơn, hay Administrative Tribunal phân xử các tranh chấp dân sự (như người thuê nhà không chịu trả tiền thuê theo hợp đồng). Các phiên xử của tribunal chỉ có một viên chức chính quyền xử, viên chức này được gọi là member chứ không phải judge (thẩm phán). Khó khăn cho người dịch ở đây là vị member trong một tribunal có quyền ra quyết định (cũng như quan tòa), nhưng lại không phải là quan tòa theo nghĩa truyền thống. Chỉ khi các quyết định của member không được người thua kiện thi hành thì vấn đề mới được đưa lên tòa cấp địa phương cao hơn (District Court và Magistrate Court). Khi làm thông dịch ở tribunal, thông dịch viên gọi viên chức xét xử này hoặc là Member hoặc gọi trực tiếp tên của người đó, chứ không như ở tòa án phải gọi vị thẩm phán là Your Honour. Rõ ràng với chức năng như vậy, không thể dịch tribunal là ‘tòa án’ mà có lẽ đúng hơn chỉ là một ‘ủy ban’ trong đó vị chủ trì (Member, viết hoa) là ‘Viên chức’.

8.7.2. Áp dụng phương pháp nào.

Các ví dụ trên cho thấy pháp luật và ngôn ngữ có cùng đặc tính, đó là phát triển và cấu trúc theo lịch sử và văn hóa. Mỗi nền văn hóa có một ngôn ngữ riêng. Cũng vậy, mỗi hệ thống luật pháp có ngôn ngữ riêng của nó. Vì vậy khó tìm sự tương đương giữa hai ngôn ngữ hay hai hệ thống pháp luật là lẽ thường, vấn đề của người dịch là tìm ra một phương cách linh hoạt và thông minh để dịch khi gặp các khái niệm và từ ngữ không tương đương.

Giáo sư Šarčević (1997:v) cho rằng khi dịch văn bản luật pháp, người dịch phải lưu ý khía cạnh pháp lý trong từng trường hợp chứ không chỉ đơn thuần là một tiến trình chuyển ngữ một cách máy móc (a mechanical process of transcoding languages).

Nhận định trên có lẽ xuất phát từ một thực tế là các văn bản luật pháp thường được yêu cầu phải dịch chính xác và trung thực như văn bản gốc. Nếu đọc các cẩm nang hướng dẫn thông dịch của các tòa án như ở Úc hay Mỹ, chúng ta sẽ thấy yêu cầu trung thực với văn bản gốc luôn luôn được nhấn mạnh. Trung thực ở đây là dịch sát (literal translation). Những người có kinh nghiệm dịch trong tòa án ở nước ngoài đều biết thông dịch viên được yêu cầu dịch sát dù người nói có nói một câu gì đó mập mờ khó hiểu. Trong UN Instructions for Translators (sách hướng dẫn biên dịch viên của Liên Hiệp Quốc), cũng có câu fidelity to the original text must be the first consideration (trích lại từ Šarčević 2000:16). Ở Mỹ còn yêu cầu người dịch văn bản luật không được thay đổi độ dài của câu để tránh trường hợp người dịch tự giải thích câu văn nguyên tác (Beyer & Conradsen 1995: 164). Yêu cầu fidelity thật sự làm khó người dịch, bởi phải xác định trung thực ở mức độ nào để không làm bản dịch tối nghĩa. Hơn nữa, trung thành với bản gốc là trung thành về mặt từ ngữ hay về mặt tinh thần của câu hay toàn bộ bản văn?

Chỉ riêng một nguyên tắc trung thành với văn gốc đã gây nên nhiều tranh cãi. Nhiều dịch giả đề nghị một số cách tiếp cận khi chuyển ngữ văn bản pháp luật, và lưu ý rằng mỗi phương cách đều có ưu khuyết điếm.

Đầu tiên là phương pháp tương đương chức năng (functional equivalence). Người dịch dùng từ ngữ trong ngữ đích để mô tả chức năng của ngữ nguồn (Moraes 2010), tức viết lại cho rõ nghĩa (paraphrasing). Viết lại là làm cho người đọc biết nguyên tác có nghĩa gì; khác với dịch sát là cho người đọc biết nguyên tác nói gì. Ví dụ ở Mỹ, người không đủ tiêu chuẩn khi vay tiền mua nhà có thể vay theo một loại nợ gọi là subprime mortgage, ở Việt Nam không có loại nợ này nên chỉ có thể dịch (mô tả) là ‘nợ vay dưới tiêu chuẩn’ (hay thiếu tiêu chuẩn). Šarčević (1997) gọi phương pháp này là tương đương mô tả (descriptive equivalent). Ưu điểm của phương pháp chức năng là dễ dịch vì dùng nhiều từ hơn. Người dịch dễ giới thiệu một khái niệm luật mới mẻ vào ngôn ngữ đích. Tuy nhiên cũng vì vậy cách dịch này dễ bị lạm dụng, nhất là khi hai hệ thống pháp luật khác nhau. Chức danh Queen’s Counsel, chẳng hạn, chỉ một luật sư (barrister) thâm niên và nổi bật chỉ có trong Thông Luật, khi dịch qua ngôn ngữ của mô hình Dân Luật sẽ rất lủng củng nếu không muốn nói là không cần thiết. Một số từ điến Việt ngữ hiểu lầm danh xưng này là ‘Luật sư của Nữ Hoàng’. Trong trường hợp này (Queen’s Counsel) có lẽ chỉ nên giải thích là luật sư thâm niên vì Queen’s Counsel không có chức năng hay ý nghĩa gì trong hệ thống Dân Luật.

Harvey (2003) cho rằng chỉ nên áp dụng phương pháp chức năng khi dịch văn bản pháp luật cho độc giả công chúng, nếu dịch cho giới luật gia thì nên giữ nguyên văn. Một lưu ý khác là trong trường hợp ngôn ngữ chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý, ví dụ một hợp đồng kinh tế, thì không thể dùng phương pháp chức năng vì mỗi chữ trong bản gốc đều có giá trị pháp lý, có thể được dùng để phân định đúng sai khi xảy ra tranh chấp.

Phương pháp tương đương nguyên mẫu (formal equivalence) của Nida cũng được áp dụng trong dịch luật pháp, tức chú trọng nghĩa của từ vựng hơn khái niệm luật pháp của từ đó, ví dụ Pháp ngữ notaire tương đương Anh ngữ notary (Dickson 1994:33), ở Việt Nam dịch là ‘công chứng viên’. Phương pháp này sẽ khó hiểu nếu dịch cho độc giả công chúng, nhưng dễ hiểu đối với giới chuyên môn vì họ có thể dịch ngược (back translation) để tìm từ gốc. Dịch sát giúp người đọc biết rõ hơn hệ thống luật của ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi người dịch cần biết cách tạo từ mới (neologism), tức giới thiệu một từ vựng chưa có trong hệ thống luật của ngôn ngữ đích, và tránh được một yếu tố nguy hiểm nhất trong dịch thuật là từ mới dịch không có nghĩa gì cà. Có thế linh động áp dụng phương pháp tương đương nguyên mẫu bằng cách tạo từ mới kèm theo giải thích.

Phương pháp thứ ba là mượn trực tiếp từ gốc (loan words). Nói cách khác không phải dịch gì cả, và tất nhiên người đọc sẽ không hiểu ý nghĩa của từ gốc nếu không có một ghi chú đi kèm, hoặc từ mượn không nằm trong một văn cảnh sáng sủa. Chẳng hạn để giải thích chức năng của ‘tòa án’ tribunal ở Anh hay Úc, ta có thế dịch ‘các tranh chấp dân sự hay vi phạm nhẹ thường được một viên chức độc nhất giải quyết ở một ủy ban gọi là tribunal’. Danh từ tribunal để nguyên nhưng người đọc, nhờ văn cảnh, vẫn hiểu được. Phương pháp này bị chê là người dịch ‘thú nhận thất bại’ và chỉ thích hợp với giới luật gia vì họ cần sự chính xác hơn sự lưu loát trong ngôn ngữ. Với độc giả thông thường, cách dịch này đòi hỏi một ghi chú.

Ngôn ngữ Y-Luật: Từ trường hợp bà Theresa Marie Schiavo.

Năm 1990, bà Terri Schiavo ở bằng Florida bị tốn thương não bộ trầm trọng và hôn mê 15 năm liền. Nhà chuyên môn gọi là tình trạng thực vật vĩnh viễn (persistent vegetative state/PVS), không biết gì xảy ra chung quanh, không cảm xúc, đối thoại, tương tác. Suốt bảy năm cuối đời, đến khi mất năm 2005 lúc tòa cho phép rút ống truyền thực phẩm, bà là đề tài tranh tụng ở tòa án Florida, kéo theo cả guồng máy tư pháp, hành pháp, lập pháp nước Mỹ, lên tới cả Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (US Supreme Court). Quần chúng nói chung (trừ giới Y khoa) đều lên án việc chấm dứt đời sống của bà Terri Schiavo. Trong khi đó giới Y khoa chứng minh rằng người bị PVS sẽ không biết đói, khát, đau đớn vi trung khu thần kinh, phần điều khiển cái mà ta gọi là ‘thức’ đã chết, não dưới (cuống não) còn nhưng chỉ giúp điều khiển vài hoạt động của cơ thể như hô hấp. Điểm mấu chốt của PVS là người bệnh tỉnh mà không thức (wakefulness without awareness), biểu hiện qua các dấu hiệu như mắt mờ, phát vài âm thanh vô nghĩa hay có khi cười nhạt (xem Medscape Medical News tại: http://www.medscape.com/viewarticle/502272).

Riêng tranh tụng ở tòa xoay quanh hai vấn đề: cha mẹ của bà Terri Schiavo muốn duy trì sự sống; người chồng của bà lại không muốn, viện lẽ khi còn sống, bà Terri Schiavo đã từng nói ra ước muốn đó. Đây là bằng chứng để giới luật áp dụng nguyên tắc substituted judgement (xem bên dưới).

Từ vụ này, nhiều học giả thảo luận thêm các thuật ngữ Y‒Luật, như advance directives, medical power of attorney, living will, substituted judgment.

Khi một người còn mạnh khỏe, tỉnh táo, nhưng lo xa trường hợp bị nan y hay rơi vào vô thức (PVS) không thể tự quyết định, người đó có thể làm các văn bản ghi rõ ước muốn được trị dưỡng như thế nào. Các văn bản này gọi chung là advance directives, gồm giấy ghi nguyện vọng cách điều trị (living will), hoặc ủy quyền cho người khác quyết định thay mình về cách trị dưỡng (medical power of attorney). Trường hợp bà Terri Schiavo không làm trước các loại giấy tờ này nên tòa án Mỹ căn cứ trên nguyên tắc ‘tuyên thị thay thế’ (tạm dịch từ chữ substituted judgement), tức một chứng cớ khả tín nào đó biểu thị ước muốn của bà. Do người chồng của bà Terri Schiavo được tòa công nhận có tư cách giám hộ (guardianship), nên tòa cho ông quyền quyết định thay (substituted judgement) người vợ đã hôn mê. 

Các thuật ngữ trên được nhiều tổ chức ở Mỹ cho dịch ra Việt ngữ nhưng đều khác nhau. Trung tâm Y tế Providence Health & Services ở bằng Washington dịch advance directive là ‘bản chỉ dẫn trước’, living will là ‘di chúc lập khi còn sống’. Đây là bản dịch kém nhất, trong 12 trang Việt ngữ có nhiều đoạn tối nghĩa. Một luật sư gốc Việt ở Mỹ dịch living will là ‘di chúc sinh thời’. Một tổ chức Y tế khác ở bang Maryland dịch living will là ‘chúc thư về đời sống’, và dịch (ẩu) advance directive là ‘giấy ủy quyền’. Một tổ chức khác ở bang Virginia dịch advance directive và living will lần lượt là ‘tuyên bố trị dưỡng’ và ‘di chúc sống’.

Các cách dịch trên đều chú trọng ngữ nghĩa hơn khái niệm của từ vựng đó.

Các bạn sinh viên có cách dịch nào khác sau khi đã hiểu ý nghĩa của các từ này?

Mỗi phương pháp đều có điểm mạnh. Sự lựa chọn cách dịch tùy quan điểm của người dịch, hoặc tùy yêu cầu của khách hàng.

Nếu dịch vì mục đích thông tin, phương pháp chức năng hợp lý vì người dịch có thể viết lại (thay đổi) cấu trúc của văn nguồn sao cho phù hợp với cấu trúc của ngôn ngữ đích. Một cách ‘nội địa hóa’ văn bản nguồn để bản dịch tự nhiên và gần gũi với văn hóa đích. Các văn bản có mục đích này thường dành cho mọi đối tượng người đọc.

Đối với văn bản có mục đích pháp lý, ví dụ trong một hợp đồng thương mại công nhận hai ngôn ngữ đều có giá trị pháp lý như nhau, phương pháp tương đương khuôn mẫu có vẻ thích hợp nhất dù bản dịch có thế xa lạ với cấu trúc ngôn ngữ đích. Tuy nhiên trong trường hợp này, bản dịch còn phải thể hiện yếu tố hiệu quả pháp lý tương đương (equivalent legal effect) như bản gốc. Sự tương đương ở đây không chỉ riêng về từ vựng mà còn tương đương về ý định: ngôn ngữ bản dịch có giá trị pháp lý như ngôn ngữ bản gốc (Šarčević 1997:112).

Sau khi chọn được phương pháp, công cụ cuối cùng của người dịch là từ điển chuyên ngành Luật.

Như đã nói, không phải từ điển chuyên ngành nào cũng đáng tin cậy. Không nên sử dụng từ điển một cách máy móc mà phải dùng nhiều từ điển của (các) tác giả khác nhau để đối chiếu (cross examination). Trong Ngữ biểu từ vựng Pháp Luật Anh‒Việt (Glossary of Selected Legal Terms) của State Justice Institute bang Virginia ở Hoa Kỳ in năm 1994, các từ Anh ngữ được dịch một cách khá xa lạ với ngôn ngữ Việt, không nói hết ý nghĩa pháp lý của ngôn ngữ gốc, ví dụ custody là ‘gìn giữ trẻ em’, court calendar là ‘lịch đăng đường’. Thực ra, trong các vụ vợ chồng ly hôn, custody là quyền và trách nhiệm chăm sóc hàng ngày đối với đứa trẻ (con chung của hai người), khác với guardianship là trách nhiệm chăm sóc đứa trẻ cho đến khi nó đến tuổi trưởng thành. Khi người vợ, ví dụ, được tòa cho quyền sole custody đối với (các) đứa con chung, thi đứa con sẽ được ở với mẹ. Người mẹ lúc đó sẽ là custodian của đứa con sau khi ly dị, nhưng cả vợ lẫn chồng đều là joint guardianship đối với đứa con (trong thực tế điều này có nghĩa là người chồng chu cấp tiền trong khi đứa con ở với mẹ cho đến tuổi trưởng thành theo luật đinh). Sự khác biệt chính yếu giữa custody và guardianship là custody là được quyền chăm sóc ‘hàng ngày’. Custody, vì vậy, nên hiểu là ‘quyền giữ con’, sát vớí nghĩa pháp lý của từ gốc, chứ không nên dịch theo từ điển tổng quát là ‘gìn giữ trẻ em’. Court calendar là lịch xử mỗi ngày, thường được niêm yết tại tòa án. Người Việt bây giờ ít ai dùng ‘lịch đăng đường’, ngôn ngữ của phong kiến chỉ còn sót lại trong các phim Tàu.

Nói tóm tắt, muốn dịch văn bản luật pháp, sự hiểu biết về hệ thống pháp luật là yêu cầu không thể thiếu trước khi vận dụng linh động các phương pháp dịch thuật vừa kể.

Lên mạng tìm đơn vị dịch.

Hai tiến sĩ Sanchez và Gautheret ở Paris trình bày cách dùng mạng để dịch thuật ngữ và nhóm chữ ít gặp theo quan điểm họ gọi là thủ thuật đồng hiện tối đa (maximisation de co-occurrence). Khá đơn giản. Ví dụ tôi phân vân không biết dịch ‘lý lịch tư pháp’ sang Anh ngữ như thế nào. Thoạt tiên, mường tượng Anh ngữ sẽ là judicial record. Bước đầu tiên, ta đánh vào khung search của Google (hoặc Yahoo) lệnh sau:

“lý lịch tư pháp”

“judicial record”

Lưu ý dấu ngoặc kép và khoảng cách giữa hai nhóm chữ.

Google cho ra bốn kết quả, trong đó mỗi trang đều xuất hiện song song hai nhóm chữ “lý lịch tư pháp" và "judicial record". Kết quả này quá thấp. Nghi ngờ cách dịch này chưa thông dụng nên thử cách khác, ví dụ "police record", với lệnh:

“lý lịch tư pháp”

“police record”

Google cho 181 kết quả. Nhưng hãy thử cách dịch khác bằng lệnh sau:

“lý lịch tư pháp”

“criminal record”

Google cho ra 5.930 kết quả. Nhóm chữ đồng hiện lần này thông dụng nhất.

Theo quan điểm đồng hiện tối đa, từ (nhóm từ) nào đồng hiện nhiều lần nhất với từ (nhóm từ) gốc trên web là từ được dịch tốt nhất. Nói thế thì ‘criminal record’ là cách dịch tốt nhất cho nhóm từ ‘lý lịch tư pháp’.

Phương pháp của Sanchez và Gauthere giúp ta tìm cách dịch thông dụng nhất song song với lối truyền thống như tra từ điển. Tuy nhiên hai tác giả quên lưu ý một yếu tố quan trọng: mức độ khả tín của trang web. Rõ ràng ‘criminal record’ (tìm trên Google tháng 10.2011) xuất hiện nhiều lần nhất. Nhưng nhiều trang web có cụm từ này không đáng tin. Trước hết, nó xuất hiện trong nhiều trang cá nhân (khó tin, tác giả không phải trong giới dịch thuật hay luật gia). Thứ hai, nó xuất hiện nhiều lần trong nhiều trang có cùng một địa chỉ web.

Người dịch phải tự quyết định cách dịch. Phương pháp chỉ là công cụ. Dù nhóm từ ‘judicial record’ chỉ xuất hiện bốn kết quả, ‘police record’ có 181 kết quả, nhưng có lẽ ‘judicial record’ hoặc ‘police record’ đối dịch tốt nhất với ‘lý lịch tư pháp’. Thứ nhất, ‘police record’ có trên các trang web của cơ quan nhà nước Việt Nam (như trang web của Sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỷ và Philippines). Lý lịch tư pháp, nếu đã được cơ quan nhà nước dịch là ‘police record’, thì cứ dùng vì mục đích là đáp ứng yêu cầu về thủ tục, không phải tranh biện về cách dịch. Nếu bàn về cách dịch, ‘judicial record’ có nghĩa rộng hơn, bao trùm cả ‘criminal record’, ‘police certificate’ và ‘police record’.

Vì vậy cần suy xét chọn lọc khi đã tìm ra một số cách dịch trên Web, chứ không nên áp dụng phương pháp của Sanchez và Gautheret một cách máy móc.

Xem Sanchez, Giselle et Gautheret, Daniel. 2005. La recherche d’unités de traduction sur le web par maximisation de co-occurrence (Tìm đơn vị dịch trên mạng bằng phương pháp đồng hiện tối đa). Xem 19.10.2011. .

8.8. Tóm tắt.

Ngôn ngữ chuyên ngành, dù có những đặc trưng riêng, thì vẫn là ngôn ngữ, nghĩa là vẫn bị chi phối bởi các quy ước thông thường của ngôn ngữ nói chung. Vì vậy khi dịch các nội dung chuyên ngành, cần quan niệm ngôn ngữ chỉ là phương tiện truyền đạt để từ đó sử dụng chữ và câu sáng sủa, tránh biến một nội dung chuyên ngành trở thành quá chuyên biệt chỉ có người viết và người dịch hiểu.

Xuất phát từ quan điểm tổng quát trên, bước kế tiếp người dịch mới lưu tâm đến mục đích của chuyển ngữ để chọn phương pháp: mục đích dịch quyết định phương pháp dịch.

Một bản dịch vì mục đích thông tin đại chúng, ví dụ, sẽ cho người dịch nhiều tự do hơn một bản dịch có mục đích trao đổi giữa giới chuyên môn. Các phương pháp đề cập trong chương này, đặc biệt trong phần nói về lĩnh vực pháp luật, là những phương cách và đề tài đang phổ biến. Tuy nhiên đó không phải là các phương pháp tối ưu nhất. Người dịch, đứng trước nhiệm vụ chuyển ngữ như người lữ hành đứng trước các ngả đường, phải tự mình chọn lối và cách đi.

Một người dịch thận trọng không bao giờ dám dịch (liều) nếu không hiểu hết nguyên tác. Không dịch nếu không hiểu. Và để hiểu,người dịch ngày nay có nhiều thuận lợi hơn người xưa nhờ các công cụ tìm kiếm. Biết sự giới hạn của kiến thức để tìm tòi thêm là một ứng xử chuyên nghiệp và đạo đức của người dịch ‒ đề tài sẽ nói đến trong chương sau.

THỰC HÀNH VÀ THẢO LUẬN

1.

Đọc một đoạn văn hay bài viết chuyên ngành trong ngôn ngữ thứ nhất, nhận diện các từ ngữ thông thường nhưng có nghĩa chuyên ngành trong đoạn văn đó, và dịch các từ ngữ đó qua ngôn ngữ thứ hai.

2.

Tìm hiểu chức năng hoạt động của Network Control Center trong đoạn văn sau trích từ báo mạng vietnamnet, thảo luận cách dịch cụm danh từ này là Trung tâm Giám sát và Điều độ vận hành mạng từ xa’, và đề nghị một cách dịch mới ngắn gọn hơn:

‘Chức năng của Trung tâm Giám sát và Điều độ vận hành mạng từ xa (Network Control Center ‒ NCC) khá phức tạp về mặt kỹ thuật, khiến những người không làm trong ngành truyền hình cảm thấy khá mơ hồ và khó hiểu. NCC là thành phần rất cần thiết và phải được xây dựng ngay từ khi phát triển hạ tầng truyền dẫn và các dịch vụ truyền hình kỹ thuật số.’ (vietnamnet.vn ngày 10.8.2010).

3.

Tìm một sản phẩm tiêu dùng có hai khẩu hiệu quảng cáo, một bằng Anh ngữ và một bằng Việt ngữ. So sánh sự khác biệt. Có thế dịch câu khẩu hiệu Việt ngữ ra Anh ngữ để sử dụng trong các nước nói tiếng Anh không? Tại sao?

TRANG WEB HAY

www.ata-divisions.org/MD/caduceus-nevistetter.html, bản tin Caduceus của Khối Y khoa thuộc Hiệp hội Dịch giả Hoa Kỳ (Medical Division of the American Translators Association), thảo luận về dịch thuật Y tế và giải thích thuật ngữ.

www.bacsihoasung.vn, gồm nhiều tài liệu Y khoa chuyên môn và thường thức bằng Anh và Việt ngữ đặc sắc.

www.blog.fxtrans.com, blog bàn luận và cung cấp thông tin dịch thuật Y tế.

www.medilexicon.com, trang web tìm thông tin và thuật ngữ ngành Y Dược.

www.ykhoanet.com, các bài viết chuyên ngành và thường thức giúp người dịch có thêm kiến thức và ngôn ngữ ngành Y.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.