Đời Ngắn Lắm Đừng Làm Việc Vô Nghĩa - Chương 1
THẾ NÀO LÀ CÔNG VIỆC VÔ NGHĨA?
Hãy bắt đầu với một ví dụ điển hình về cái gọi là việc làm nhảm nhí.
Kurt làm việc cho một nhà thầu phụ của quân đội Đức. Hay nói đúng hơn... anh ta được thuê bởi một nhà thầu phụ của một nhà thầu phụ của một nhà thầu phụ của quân đội Đức. Đây là mô tả của Kurt về công việc của mình:
Quân đội Đức có một nhà thầu phụ về công nghệ thông tin (CNTT).
Công ty CNTT có một nhà thầu phụ làm công việc hậu cần của họ.
Công ty hậu cần có một nhà thầu phụ làm công việc quản lý nhân sự cho họ, và tôi làm việc cho công ty quản lý nhân sự đó.
Hãy giả sử rằng người lính A chuyển chỗ ngồi qua một phòng làm việc khác, cách chỗ cũ hai căn phòng, nằm cùng một tầng. Thay vì chỉ cần xách máy tính của mình đến chỗ ngồi mới thì anh ta phải điền vào một mẫu đơn.
Nhà thầu phụ CNTT sẽ nhận mẫu đơn, đọc và phê duyệt nó, rồi chuyển tiếp cho công ty hậu cần.
Công ty hậu cần sau đó sẽ phê duyệt việc di chuyển chỗ ngồi của anh lính và gửi yêu cầu nhân sự cho công ty chúng tôi.
Tiếp theo, nhân viên văn phòng trong công ty của tôi sẽ làm mấy việc của họ rồi đến lượt tôi xuất hiện.
Tôi nhận được một email: “Hãy có mặt ở doanh trại B vào thời điểm C”. Thường thì những doanh trại đó cách nhà tôi khoảng 100-500 km, vì vậy tôi sẽ phải thuê một chiếc xe.
Tôi lái chiếc xe ấy đến doanh trại, báo bộ phận điều phối biết rằng tôi đã đến nơi, điền vào một mẫu đơn, tháo máy tính, cho máy tính vào hộp, niêm phong hộp, nhờ một anh chàng từ công ty hậu cần mang cái hộp đến phòng bên cạnh, tôi lại mở hộp, điền vào một mẫu đơn khác, nối máy tính, gọi về bộ phận điều phối để cho họ biết tôi làm mất bao lâu, đợi thêm một vài chữ ký, lái xe về nhà, gửi thư cho bộ phận điều phối với tất cả giấy tờ và sau đó nhận tiền.
Và như vậy, thay vì người lính tự mang máy tính của mình đi khoảng năm mét, thì có đến hai người phải làm việc đó trong sáu đến mười giờ, điền vào khoảng mười lăm trang giấy tờ, và lãng phí bốn trăm euro tiền thuế của người dân.
Điều này nghe có vẻ giống như một ví dụ kinh điển về thói quan liêu lố bịch trong quân đội, thứ mà Joseph Heller đã biến nó trở nên nổi tiếng trong cuốn tiểu thuyết Catch-22 xuất bản năm 1961 của ông, ngoại trừ một yếu tố chính: Hầu như không ai trong câu chuyện trên thực sự làm việc cho quân đội. Nói cho chính xác, họ là một phần của khu vực tư nhân. Tất nhiên, đã từng có thời mà bất kỳ quân đội quốc gia nào cũng có bộ phận thông tin liên lạc, hậu cần và nhân sự của riêng mình, nhưng ngày nay tất cả phải được thực hiện thông qua nhiều lớp nhà thầu tư nhân.
Công việc của Kurt có thể được coi là ví dụ điển hình cho công việc vô nghĩa vì một lý do đơn giản: Nếu vị trí của Kurt bị loại bỏ, nó không gây ra sự khác biệt rõ rệt nào với thế giới. Chắc chắn mọi thứ sẽ được cải thiện vì các căn cứ quân sự của Đức rồi sẽ đưa ra một cách hợp lý hơn để di chuyển thiết bị. Điều quan trọng là không chỉ có mỗi công việc của Kurt là vô lý, mà bản thân Kurt cũng hoàn toàn nhận thức được điều này. (Trên thực tế, ở trang blog mà Kurt đăng câu chuyện của mình, anh đã phải bảo vệ quan điểm công việc của anh là vô nghĩa trước hàng tá những người đam mê thị trường tự do – họ tranh cãi rằng vì công việc của Kurt xuất phát từ lĩnh vực tư nhân, nên theo định nghĩa, nó phải phục vụ một mục đích hợp lý nào đó).
Tôi cho rằng công việc của Kurt thể hiện rõ nét một công việc vô nghĩa: Nó hoàn toàn vô nghĩa đến nỗi ngay cả người thực hiện nó mỗi ngày cũng không thể tự thuyết phục bản thân rằng anh ta có một lý do chính đáng để làm công việc đó. Có thể anh ta không thừa nhận điều này với đồng nghiệp của mình – thường anh ấy có những lý do rất chính đáng để không làm như vậy – nhưng anh tin chắc rằng công việc của mình là vô nghĩa.
Vì vậy, hãy xem như đây là một định nghĩa tạm thời ban đầu.
Định nghĩa tạm thời: Công việc vô nghĩa là một hình thức việc làm hoàn toàn vô nghĩa, không cần thiết, hoặc có tính độc hại, mà đến cả người làm công việc đó cũng không thể biện minh cho sự tồn tại của nó.
Có một số việc vô nghĩa đến mức người ta thậm chí không để ý đến nếu người làm công việc đó đột nhiên biến mất. Chuyện này thường xảy ra ở khu vực công:
Công chức Tây Ban Nha bỏ việc trong sáu năm để nghiên cứu lý thuyết Spinoza
– Báo Jewish Times, ngày 26 tháng 2 năm 2016
Báo chí Tây Ban Nha đưa tin rằng một công chức của đất nước này đã nhận lương trong ít nhất sáu năm ròng nhưng không hề làm việc, mà dành thời gian đó để trở thành chuyên gia viết về lý thuyết của nhà triết học Do Thái Baruch Spinoza.
Trang tin euronews.com tuần trước đưa tin: Tháng trước, một tòa án ở Cadiz, miền nam Tây Ban Nha, đã ra lệnh cho Joaquin Garcia, 69 tuổi, phải nộp phạt khoảng 30.000 đô-la vì đã không đến làm việc tại nhà máy nước Agua de Cadiz, nơi Garcia được thuê làm kỹ sư từ năm 1996.
Sự vắng mặt của ông lần đầu tiên bị phát hiện vào năm 2010, khi Garcia chuẩn bị được trao huy chương vì phục vụ lâu dài. Phó Thị trưởng Jorge Blas Fernandez đã có những nghi vấn dẫn đến việc ông phát hiện ra rằng đã không ai nhìn thấy Garcia tại văn phòng làm việc suốt sáu năm trước đó.
Khi được tờ El Mundo tiếp cận, các nguồn tin giấu tên gần gũi với Garcia cho biết ông đã dành nhiều năm trước năm 2010 để nghiên cứu các tác phẩm của Spinoza, một nhà dị giáo người Do Thái sống ở thế kỷ XVII tại Amsterdam. Một nguồn tin của El Mundo cho biết Garcia đã trở thành chuyên gia về Spinoza, nhưng phủ nhận chuyện Garcia không bao giờ đi làm mà nói rằng ông ta thỉnh thoảng cũng có đến nơi làm việc.
Câu chuyện này trở thành tin nóng ở Tây Ban Nha. Vào thời điểm đất nước đang trải qua suy thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp cao, có vẻ thật đáng phẫn nộ khi có những công chức có thể không đi làm trong nhiều năm mà không ai nhận ra. Tuy nhiên, lời thanh minh của Garcia không phải là không có cơ sở. Ông ta giải thích rằng mình đã nhiều năm làm công việc giám sát nhà máy xử lý nước ở thành phố. Dưới áp lực của những người lãnh đạo cấp cao vốn ghét Garcia vì khuynh hướng chính trị của ông, ban quản trị nhà máy đã từ chối giao việc cho Garcia. Tình trạng này làm ông mất tinh thần đến mức phải tìm đến sự giúp đỡ của các chuyên gia vì trầm cảm. Sau khi tham khảo ý kiến từ chuyên gia tâm lý, cuối cùng Garcia quyết định thay vì ngồi một chỗ suốt ngày và giả vờ bận rộn thì ông thuyết phục ban quản trị nhà máy rằng mình sang tòa thị chính làm việc, và báo với tòa thị chính rằng ông sang nhà máy nước làm việc, rồi ông đi về nhà và tìm cách làm những việc hữu ích hơn.
Các câu chuyện tương tự như trên xuất hiện khá phổ biến trong khu vực công. Một câu chuyện thường thấy là về các bưu tá thay vì giao thư cho khách thì họ bỏ vào tủ, nhà kho hoặc thùng rác – kết quả là hàng tấn thư và hàng hóa chất đống trong nhiều năm mà không ai phát hiện ra. Cuốn tiểu thuyết The Pale King của David Foster Wallace, kể về cuộc sống bên trong một văn phòng dịch vụ kiểm toán nội bộ, thậm chí còn đi xa hơn: Cao trào của câu truyện là khi một kiểm toán viên chết tại bàn làm việc ở tư thế ngồi trên ghế trong nhiều ngày, trước khi có ai đó nhận ra. Chuyện này có vẻ hài hước và vô lý, nhưng vào năm 2002 có một chuyện gần giống y như vậy đã xảy ra ở Helsinki. Một kiểm toán viên thuế Phần Lan đã chết ngồi tại bàn làm việc của mình suốt hơn bốn mươi tám giờ trong khi có ba mươi đồng nghiệp vẫn liên tục làm việc quanh anh ta. Sếp anh ta nhớ lại: “Mọi người nghĩ rằng anh ấy muốn được yên tĩnh làm việc nên không ai quấy rầy” – xét cho kỹ thì đây cũng là lối suy nghĩ thận trọng của họ.
Dĩ nhiên, những câu chuyện như thế này đã truyền cảm hứng cho các chính trị gia trên toàn thế giới để kêu gọi giao cho các công ty tư nhân vai trò lớn hơn – và tuyên bố rằng những câu chuyện lạm dụng như vậy sẽ không xảy ra ở khu vực tư nhân. Đến nay thì điều này vẫn khá đúng khi chúng ta chưa từng nghe nói đến chuyện nhân viên giao hàng của FedEx hay UPS vứt bỏ hàng của khách mà không giao. Tuy vậy, khu vực tư nhân cũng có đủ loại vấn đề của riêng nó, thường là nhẹ nhàng hơn và mức độ điên khùng cũng đa dạng – ví dụ như câu chuyện của Kurt ở trên. Cần phải nhận ra sự trớ trêu rằng, trong thực tế thì Kurt cuối cùng đã làm việc cho quân đội Đức, trong khi quân đội Đức vốn bị than phiền về nhiều thứ nhưng lại chưa bao giờ bị than phiền là làm việc thiếu hiệu quả.
Nếu những ví dụ trên là chính xác, thì sự khác biệt chủ yếu giữa khu vực công và khu vực tư nhân không phải là bên nào có nhiều hay ít công việc vô nghĩa hơn, hay khác biệt về loại công việc vô nghĩa của mỗi bên, mà sự khác biệt nằm ở chỗ: Công việc vô nghĩa, thừa thãi trong khu vực tư nhân có thể được giám sát chặt chẽ hơn so với khu vực công, dù không phải lúc nào cũng vậy. Như chúng ta đã biết, tại các ngân hàng, công ty dược phẩm và công ty kỹ thuật thì số lượng nhân viên được phép dành phần lớn thời gian để truy cập mạng xã hội là rất cao, nhưng vẫn có những giới hạn. Nếu như Kurt chỉ đơn giản là trốn việc để theo đuổi tư tưởng của triết học Do Thái thế kỷ XVII thì anh ta sẽ dễ dàng bị thay thế bằng người khác. Nếu nhà máy nước Cadiz được tư nhân hóa, Joaquin Garcia có thể vẫn bị lãnh đạo trù dập nhưng ông ta sẽ phải ngồi yên ở bàn giấy, giả bộ làm việc hoặc phải ra đi và kiếm một công việc khác.
Tôi sẽ để độc giả tự quyết định xem chuyện như vậy có nên được coi là một sự cải thiện hay không.
Sát thủ có phải là công việc vô nghĩa không?
Để tóm tắt lại, tôi gọi “công việc vô nghĩa” là loại công việc mà toàn bộ hoặc phần lớn các nhiệm vụ trong đó được chính người thực hiện thấy là vô nghĩa, là không cần thiết, hoặc thậm chí là độc hại. Những công việc mà nếu nó biến mất thì cũng không gây ảnh hưởng gì. Quan trọng nhất, đó là loại công việc mà người làm chúng cũng cảm thấy rằng chúng không nên tồn tại.
Chủ nghĩa tư bản ngày nay dường như tràn ngập những công việc như vậy. Như tôi đã đề cập ở phần mở đầu, cuộc thăm dò của YouGov cho thấy ở nước Anh chỉ có 50% người lao động chắc chắn rằng công việc của họ có đem lại lợi ích cho thế giới, còn đến 37% người lao động thì chắc chắn rằng công việc của họ hoàn toàn vô bổ. Một cuộc thăm dò khác do công ty Schouten & Nelissen thực hiện tại Hà Lan cho thấy có đến 40% người lao động cho rằng công việc của họ là vô nghĩa. Nghĩ kỹ thì các số liệu thống kê này thật đáng kinh ngạc. Dù sao đi nữa, vẫn có một tỷ lệ rất lớn các công việc liên quan đến việc thực hiện những nhiệm vụ mà không ai có thể xem là vô nghĩa. Người ta phải giả định rằng, với câu hỏi: “Công việc của bạn có tạo ra bất kỳ sự khác biệt có ý nghĩa nào trên thế giới không?”, thì gần như không có bất kỳ y tá, tài xế xe buýt, nha sĩ, người quét đường, nông dân, giáo viên âm nhạc, thợ sửa chữa, thợ làm vườn, lính cứu hỏa, nhà thiết kế bối cảnh, thợ sửa ống nước, nhà báo, thanh tra an toàn, nhạc sĩ, thợ may, và nhân viên bảo vệ trường học nào trả lời “không”. Nghiên cứu riêng của tôi cho thấy rằng, nhân viên bán hàng, nhân viên phục vụ nhà hàng và những người làm các công việc cung cấp dịch vụ cấp thấp khác, cũng hiếm khi thấy mình đang làm những công việc vô nghĩa. Rất nhiều người làm nghề dịch vụ ghét công việc của mình, nhưng ngay cả những người này cũng nhận thấy công việc của họ có ý nghĩa đối với thế giới.
Vì thế, nếu có 37-40% người lao động của một quốc gia cho rằng công việc của họ không tạo ra ảnh hưởng gì đến thế giới, và một số lượng không nhỏ khác cũng nghi ngờ về ý nghĩa công việc của mình, thì ta có thể rút ra kết luận rằng: Bất kỳ nhân viên văn phòng nào nghi ngờ mình đang làm một công việc vô nghĩa thì nghĩa là họ chắc chắn như vậy.
***
Điều chính yếu mà tôi muốn làm trong chương đầu tiên là đưa ra định nghĩa về công việc vô nghĩa theo ý của tôi. Trong chương tiếp theo, tôi sẽ đưa ra bảng phân loại cho các công việc mà tôi tin là công việc vô nghĩa. Điều này sẽ mở đường cho các chương sau thảo luận về sự hình thành các công việc vô nghĩa, tại sao chúng lại trở nên phổ biến và đánh giá các tác động tâm lý, xã hội và chính trị của chúng. Tôi tin rằng những hiệu ứng này có tính nguy hại sâu sắc. Chúng ta đã tạo ra những xã hội nơi mà phần lớn dân chúng bị mắc kẹt trong các việc làm vô ích, họ đã trở nên phẫn nộ và coi thường những ai làm công việc có ích nhất cho xã hội, cũng như coi thường những người làm công việc không ăn lương. Nhưng trước khi chúng ta có thể phân tích tình huống này, ta cần phải điểm ra một số ý phản biện tiềm năng.
Bạn đọc có thể đã nhận thấy một sự mơ hồ nhất định trong định nghĩa ban đầu của tôi. Tôi mô tả các công việc vô nghĩa là liên quan đến các công việc mà người thực hiện coi là “vô nghĩa, không cần thiết hoặc thậm chí là độc hại”. Nhưng tất nhiên, loại công việc không có ảnh hưởng đáng kể đến thế giới và loại công việc có ảnh hưởng xấu đến thế giới thì không giống nhau. Hầu như ai cũng công nhận là nghề sát thủ của mafia, nhìn chung, gây nguy hại cho thế giới, nhưng liệu bạn có thể gọi công việc sát thủ là nhảm nhí hay không? Chuyện này có cảm giác sai sai thế nào ấy!
Như Socrates đã nói, khi định nghĩa của chúng ta lại mang đến những kết quả mà trực giác của chúng ta thấy sai thì đó là vì chúng ta không nhận thức được những gì chúng ta thực sự nghĩ. (Do đó, ông gợi ý rằng vai trò thực sự của các nhà triết học là nói cho mọi người biết những gì họ đã biết nhưng không nhận ra rằng mình biết. Người ta có thể lập luận rằng công việc của các nhà nhân chủng học như tôi cũng tương tự vậy). Rõ ràng là nhiều người thấy cụm từ “công việc vô nghĩa” nghe quen quen và nó có một ý nghĩa nào đó đối với họ. Điều này nghĩa là, ít nhất ở một mức độ trực giác nào đó, tâm trí họ có một tiêu chí cho phép họ nói: “Việc này thật nhảm nhí”, hay “Việc này tệ thật nhưng tôi cũng không thể nói là nó nhảm nhí”. Nhiều người làm các công việc độc hại cảm thấy cụm từ này phù hợp với họ, một số khác thì hoàn toàn không. Cách tốt nhất để làm rõ các tiêu chí này là tìm hiểu các trường hợp ở ngay lằn ranh.
Vậy thì, tại sao ta lại thấy sai sai khi nói rằng nghề sát thủ của mafia là việc vô nghĩa?
Tôi cho rằng có nhiều nguyên do, nhưng một trong số đó là sát thủ không nói dối về nghề nghiệp của họ (điều này khác với người làm chuyên gia theo dõi ngoại tệ hay khảo sát tiếp thị nhãn hàng). Đúng là một tay mafia thì thường tự nhận mình là “doanh nhân”, nhưng trong chừng mực nào đó thì anh ta vẫn thể hiện bản chất nghề nghiệp thực sự của mình, anh ta có khuynh hướng thẳng thắn về những gì mình làm. Anh ta không giả vờ rằng công việc của mình có ích cho xã hội, cũng không giả vờ rằng việc anh ta làm có đóng góp cho sự thành công của cả một đội ngũ cung cấp sản phẩm hay dịch vụ (ma túy hay mại dâm...). Còn nếu anh ta có giả vờ đi nữa thì chuyện đó cũng chỉ thoáng nhẹ như lông hồng.
Điều này cho phép chúng ta tinh chỉnh lại định nghĩa của mình. Công việc vô nghĩa không chỉ là những việc vô bổ hay có hại, mà thường phải đi đôi với một số mức độ giả vờ và gian lận nào đó. Người làm loại công việc này cảm thấy họ bị bắt buộc phải giả vờ rằng họ có lý do chính đáng cho công việc của mình tồn tại, ngay cả khi trong lòng họ thấy những lý do đó thật lố bịch.
Vì vậy chúng ta có định nghĩa thứ hai:
Định nghĩa tạm thời thứ hai: Công việc vô nghĩa là một hình thức việc làm hoàn toàn vô nghĩa, không cần thiết hoặc có tính độc hại mà đến cả người làm công việc đó cũng không thể biện minh cho sự tồn tại của nó mặc dù họ cảm thấy buộc phải giở vờ rằng nó không phải việc vô nghĩa.
Tất nhiên vẫn có thêm lý do tại sao sát thủ không phải là công việc vô nghĩa. Bản thân tay sát thủ không nghĩ việc của mình là không nên tồn tại. Hầu hết các tay mafia đều tin rằng mình là một phần của truyền thống xa xưa, đáng trân trọng và có giá trị riêng, bất kể “nghề mafia” có đóng góp cho xã hội hay không. Tình cờ đây cũng là lý do tại sao “lãnh chúa phong kiến” không phải là một công việc vô nghĩa. Các vị vua, công tước, hoàng đế, tiểu vương, địa chủ, lãnh chúa, quan lại, và những người tương tự có thể xem như là những người vô dụng. Nhiều người trong chúng ta thậm chí còn cho rằng họ có vai trò nguy hại với con người (và tôi cũng nghĩ thế). Nhưng, bản thân họ không nghĩ vậy.
Đây là một điểm hữu ích cần ghi nhớ bởi vì hầu hết những người gây ra các tổn hại lớn lao trên thế giới đều không nghĩ rằng họ đã làm như vậy, hoặc là họ quá tin vào lời tán tụng của những kẻ nịnh thần và trục lợi rằng việc họ làm là tốt đẹp. (Ngày nay, chúng ta có cách gọi mỹ miều là: các tổ chức nghiên cứu và tư vấn chính sách). Các gia tộc mafia thì hơi khác thường, có lẽ do họ không tạo ra ấn tượng như vậy – nhưng sau tất cả thì họ cũng chỉ là một phiên bản hoàng tộc khác, xuất phát từ những kẻ thi hành pháp luật cho các lãnh chúa ở Sicily và tự phát triển qua thời gian.
Còn một lý do cuối cùng giải thích vì sao sát thủ mafia không phải là công việc vô nghĩa: Chúng ta vẫn chưa thể xác định rõ ràng rằng “sát thủ” có phải là một nghề hay không. Đúng là tay sát thủ sẽ được một ông trùm nào đó thuê, và có lẽ ông trùm sẽ tạo việc làm bảo kê bù nhìn ở sòng bạc cho hắn. Trong trường hợp đó, ta có thể chắc chắn rằng công việc bảo kê đó là một công việc vô nghĩa. Tuy nhiên, hắn lại không nhận lương từ ông trùm khi làm việc giết người.
***
Điểm này cho phép chúng ta tiếp tục tinh chỉnh định nghĩa của mình. Khi nói về những công việc vô nghĩa, người ta thường đề cập đến những công việc liên quan đến chuyện được trả tiền để làm việc cho người khác, trên cơ sở tiền lương hoặc tiền công (tính luôn cả hình thức tiền phí tư vấn). Rõ ràng là có nhiều người làm việc tự do và kiếm được tiền từ người khác bằng cách giả vờ cung cấp cho họ một số lợi ích hoặc dịch vụ (thường thì chúng ta gọi đó là lang băm, tay bịp bợm, kẻ lừa đảo), cũng như có những người kiếm tiền bằng cách đe dọa làm hại người khác (ta gọi là cướp, trấn lột, tống tiền). Ở trường hợp đầu, ta có thể gọi là nhảm nhí nhưng đó không phải công việc vô nghĩa bởi vì đó không phải là một loại công việc. Lừa đảo là một hành động chứ không phải công việc. Và chuyện trộm cướp cũng vậy. Đôi khi người ta nói về chuyện “trộm chuyên nghiệp”, nhưng cách nói đó là để chỉ nguồn thu nhập chính của kẻ trộm cắp mà thôi, chứ không có ai trả lương cho một tên trộm để đột nhập vào nhà người khác lấy tiền cả. Vì lý do này mà chẳng ai có thể nói rằng trộm cắp là một loại công việc.
Cân nhắc những điều trên, chúng ta có thể tạo ra được một định nghĩa cuối cùng như sau:
Định nghĩa cuối cùng: Công việc vô nghĩa là một hình thức của việc làm có trả lương, và nó hoàn toàn vô nghĩa, không cần thiết hoặc có tính độc hại mà đến cả người làm công việc đó cũng không thể biện minh cho sự tồn tại của nó, mặc dù họ cảm thấy buộc phải giả vờ rằng nó không phải việc vô nghĩa, như một phần của điều kiện làm việc.
Vai trò của tính chủ quan: Người ta luôn đúng khi nói công việc của mình vô nghĩa
Tôi nghĩ là định nghĩa trên đủ dùng cho mục đích của cuốn sách này. Người đọc kỹ tính có thể đã nhận ra định nghĩa của tôi chủ yếu mang tính chủ quan. Tôi định nghĩa một công việc vô nghĩa là loại công việc mà người lao động coi là vô nghĩa, không cần thiết hoặc nguy hiểm – nhưng tôi cũng gợi ý rằng nhận định của người lao động là đúng. Tôi đã giả định rằng có một tính xác thực ngầm ẩn ở đây. Chúng ta buộc phải có giả định này, bởi nếu không, chúng ta sẽ mắc kẹt với việc chấp nhận rằng cùng một công việc có thể hôm nay là nhảm nhí còn ngày mai thì khác, tùy thuộc vào tâm trạng thay đổi của một vài người lao động. Tất cả những gì tôi muốn nói ở đây là có một thứ gọi là giá trị xã hội nằm ngoài giá trị thị trường đơn thuần, nhưng vì không ai tìm ra một cách thích hợp để đo lường nó nên ta có thể dùng quan điểm của người lao động như một cách đánh giá chính xác về tình hình.
Thường thì chuyện khá rõ ràng: Nếu một nhân viên văn phòng dành đến 80% thời gian ở văn phòng chỉ để tạo ảnh chế thì tuy đồng nghiệp của cô ở bàn bên có thể biết hoặc không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng chắc chắn cô sẽ không bị ảo tưởng về điều mình đang làm. Ngay cả trong những tình huống phức tạp nhất, khi người ta đặt câu hỏi rằng tỷ lệ đóng góp của người lao động cho tổ chức là bao nhiêu, tôi cho rằng chúng ta vẫn có thể giả định là người lao động hiểu rất rõ. Tôi biết rằng chuyện này cũng còn một số điều gây tranh cãi. Cấp lãnh đạo thường khăng khăng rằng nhân viên trong các tập đoàn lớn không thể hiểu thấu được hết sự đóng góp của mình cho tổ chức, chỉ những người nắm vị trí cao nhất mới nhìn được toàn cảnh. Tôi không hề nói rằng những điều họ nói là không đúng, bởi thông thường có những bức tranh toàn cảnh mà người làm việc ở vị trí thấp không hiểu hết hoặc không biết đến. Chuyện này cực kỳ đúng trong trường hợp công ty đó có những mục tiêu phi pháp. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì bất cứ nhân viên cấp dưới nào làm việc đủ lâu trong một tổ chức – một hay hai năm trở lên – cũng tự nhiên sẽ được biết các bí mật của công ty.
Trên thực tế, đúng là vẫn có những ngoại lệ. Đôi khi có cấp lãnh đạo cố tình chia nhỏ các nhiệm vụ nên người lao động không thể hiểu được sự đóng góp của mình cho doanh nghiệp. Các ngân hàng rất hay làm như vậy. Tôi biết tại nhiều nhà máy ở Hoa Kỳ, các công nhân trong dây chuyền không biết nhà máy của họ sản xuất cái gì; nhưng hóa ra là do trong hầu hết các trường hợp này, người chủ nhà máy đã cố ý thuê những người không biết nói tiếng Anh. Dù sao đi nữa thì trong các trường hợp thế này, công nhân vẫn có xu hướng giả định rằng việc làm của họ là có ích, chỉ là họ không biết nó có ích ra sao. Nói chung, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tin rằng người lao động sẽ biết điều gì đang xảy ra trong một văn phòng hay một cửa hàng, và tất nhiên là họ hiểu mình có hay không có đóng góp cho doanh nghiệp – ít nhất là họ cũng hiểu rõ hơn bất cứ ai khác. Với những người ở vị trí cao hơn, chuyện thường không rõ ràng như vậy. Một chủ đề tôi thường xuyên gặp trong nghiên cứu của mình là khi nhân viên cấp dưới tự hỏi về hiệu quả công việc: “Không biết người quản lý của tôi có biết là tôi dành đến 80% thời gian của mình chỉ để làm mấy tấm ảnh chế hay không? Liệu đó là do họ giả đò không thấy hay là họ thực sự không biết?” Và khi bạn càng lên chức vụ cao thì càng có nhiều lý do để người ta giấu giếm với bạn nhiều điều, và tình huống càng trở nên tồi tệ.
Ta sẽ gặp khó khăn khi đặt ra câu hỏi: Liệu một số loại công việc cụ thể (như là tiếp thị từ xa, nghiên cứu thị trường, tư vấn) có nhảm nhí hay không – nghĩa là những công việc đó có tạo ra giá trị xã hội hay không. Tất cả những gì tôi muốn nói ở đây là: Tốt nhất, ta hãy để việc đánh giá đó cho chính những người làm việc này. Suy cho cùng thì giá trị xã hội nhìn chung cũng là những thứ mà người ta nghĩ nó là như thế. Trong trường hợp nào thì ai là người có vị trí tốt hơn để đánh giá? Trong trường hợp này, tôi nói: Nếu số đông những người làm một công việc nào đó tin rằng công việc của họ không có giá trị xã hội, thì ta nên giả định rằng họ đúng.
Những người kỹ tính hẳn sẽ thắc mắc: Làm sao ta có thể biết chắc chắn rằng số đông những người đang làm một nghề nào đó có suy nghĩ thầm kín như thế nào? Và hiển nhiên, câu trả lời là: Ta không thể. Ngay cả khi ta có thể thực hiện một cuộc khảo sát với những người làm nghề vận động hành lang hay tư vấn tài chính, thì ta cũng không biết có bao nhiêu người sẽ trả lời thành thực. Khi tôi nói chung về các ngành nghề vô dụng trong bài viết gốc, tôi đã giả định rằng phần lớn các nhà vận động hành lang và chuyên viên tư vấn tài chính thực sự nhận thức được sự vô dụng của họ – thật vậy, nếu không phải hầu hết họ nghĩ như thế thì cũng nhiều người trong số họ bị ám ảnh khi biết rằng nếu họ không đóng góp giá trị gì cho thế giới thì công việc của họ đơn giản là sẽ biến mất.
Có thể, tôi cũng đã lầm. Có thể là các nhà vận động hành lang hay chuyên viên tư vấn tài chính có niềm tin thuần khiết rằng công việc mà họ đang làm có đóng góp cho xã hội và cho sự hưng thịnh của quốc gia. Tôi thật sự không biết rõ. Tuy nhiên, có khả năng chuyện này là đúng bởi vì có một sự thật chung rằng, những người nắm quyền càng làm nhiều điều nguy hại cho thế giới thì càng có nhiều kẻ cuồng tín và tuyên truyền viên vây quanh họ, đưa ra lập luận là việc họ làm rất tốt đẹp, và càng có nhiều khả năng là những người quyền lực kia tin vào điều này. Các nhà vận động hành lang doanh nghiệp và chuyên viên tư vấn tài chính dường như chắc chắn chịu trách nhiệm cho một tỷ lệ các tác hại xảy ra trên thế giới (ít nhất là các tác hại đến từ nghề nghiệp của họ). Có thể là họ phải ép bản thân mình tin vào việc mình làm.
Trong trường hợp này, nghề vận động hành lang và tư vấn tài chính không hẳn là việc vô nghĩa nữa, nó cũng hơi tương tự như nghề sát thủ vậy. Tôi đã ghi trong bài báo năm 2013 rằng tôi không biết liệu có một luật sư doanh nghiệp nào mà không nghĩ nghề của họ là nhảm nhí. Tất nhiên, đó chỉ là suy nghĩ của những loại luật sư mà tôi biết: loại từng là nhà thơ hay nhạc sĩ, nhưng rõ ràng đây là loại luật sư không có vị trí cao. Tôi để ý rằng các luật sư doanh nghiệp có quyền lực lớn thường nghĩ rằng công việc của họ là hoàn toàn đúng đắn. Hoặc có lẽ họ chỉ đơn giản không quan tâm liệu việc của mình có gây hại hay không.
Đây cũng chính là trường hợp xảy ra ở lĩnh vực tài chính. Bằng một sự tình cờ đáng ngạc nhiên, tháng 4 năm 2013, tôi có mặt ở buổi hội thảo “Fixing the Banking System for Good” (tạm dịch: Điều chỉnh hệ thống ngân hàng) được tổ chức tại Cục Dự trữ Philadelphia. Tại đây tôi được nghe buổi chia sẻ của Jeftrey Sachs, nhà kinh tế học đến từ Đại học Columbia vốn nổi tiếng với việc thiết kế chương trình cải cách “liệu pháp sốc” (shock therapy) áp dụng cho Liên Xô cũ. Ông khiến mọi người phải choáng váng khi đưa ra một đánh giá mà các nhà báo cẩn trọng gọi là “gợi ý bất thường” về những người chịu trách nhiệm tại các tổ chức tài chính ở Hoa Kỳ. Phát biểu của Sachs khá quan trọng bởi, như ông nhấn mạnh rằng, có nhiều người trong số này rất thẳng thắn khi nói chuyện vì họ tin ông ở cùng phe với họ (cũng không hẳn là không có lý do):
Nghe này, ở Phố Wall tôi gặp những người này gần như mỗi ngày... Tôi quen biết họ. Đó là những người cùng ăn trưa với tôi. Và tôi sẽ nói một cách thẳng thắn: Tôi coi môi trường đạo đức ở đây đầy mùi bệnh. Những người này không hề có trách nhiệm đóng thuế, họ không hề có trách nhiệm với khách hàng, cũng không hề có trách nhiệm với đối tác giao dịch. Họ là những người cố chấp, tham lam, hung hăng và hoàn toàn mất kiểm soát, theo nghĩa đen, và họ đã giật dây cả hệ thống một mức đáng kể. Họ có niềm tin mãnh liệt rằng mình được trời ban cho quyền được lấy bao nhiêu tiền cũng được bất luận việc đó hợp pháp hay là không.
Nếu các bạn nhìn vào số tiền đóng góp cho các cuộc vận động tranh cử, bạn sẽ thấy rằng thị trường tài chính là nơi đóng góp số một cho hoạt động tranh cử ở Hoa Kỳ hiện nay. Chúng ta có một hệ thống chính trị suy thoái đến tận gốc rễ... và cả hai đảng đều ngụp lặn trong chuyện này.
Nhưng đi đến cái chuyện coi trời bằng vung này thì thật choáng váng, và bây giờ thì cá nhân mỗi người đều đã có thể cảm nhận được nó. Chuyện này cực kỳ, cực kỳ không tốt. Tôi đã đợi bốn năm... năm năm chỉ để gặp được một người nào đó ở Phố Wall có đạo đức, và đến nay vẫn chưa thấy một ai.
Vậy là các bạn thấy rồi đấy. Nếu Sachs nói đúng – và thật sự thì còn ai có thể rành hơn ông ấy nữa chứ – thì ở tầm các vị trí lãnh đạo của ngành dịch vụ tài chính, chúng ta không thể nói đến công việc vô nghĩa.
Điều kỳ lạ là người ta hay nhầm lẫn công việc vô nghĩa với công việc chỉ đơn thuần là tồi tệ. Thực chất, hai loại công việc này chẳng hề giống nhau, mà có thể xem là đối nghịch nhau nữa. Công việc vô nghĩa thường được trả lương khá hậu hĩ và có điều kiện làm việc rất tốt, chỉ là chúng vô nghĩa. Công việc tồi tệ thì thường là những việc cần phải làm để phục vụ lợi ích xã hội, chỉ có điều những người làm công việc này bị đối xử và trả công rất kém.
Tất nhiên, có một số công việc về bản chất là khó chịu nhưng đem đến quyền lợi theo những cách khác. (Có câu chuyện cười về một người đàn ông làm việc dọn phân voi ở rạp xiếc. Bất kể ông ta làm gì cũng không thể làm sạch mùi phân voi trên cơ thể mình. Dù cho ông có thay đồ mới, tắm gội kỹ càng, ông vẫn không gột rửa được mùi hôi và không tránh được cảnh bị phụ nữ xa lánh. Cuối cùng, một người bạn thân hỏi: “Sao cậu cứ phải hành hạ bản thân mình thế? Có biết bao nhiêu việc khác phù hợp cho cậu mà?”. Ông ta trả lời: “Cậu điên à? Tớ vẫn chưa muốn xa rời showbiz nhé!”). Những công việc kiểu như vậy không thể coi là nhảm nhí hay là tồi tệ dù nội dung công việc là gì đi nữa. Các công việc khác – ví dụ như dọn dẹp thông thường – không có cảm giác làm người ta mất phẩm giá, nhưng chúng có thể dễ dàng trở nên như vậy.
Các lao công ở trường đại học nơi tôi đang làm việc bị đối xử rất tệ. Cũng như ở hầu hết các trường đại học khác ngày nay, công việc này được thuê dịch vụ ngoài làm. Nhân viên lao công không được trường đại học thuê trực tiếp mà là nhân viên của công ty dịch vụ, tên công ty này được thêu trên đồng phục của họ. Họ được trả công thấp, phải làm việc với nhiều hóa chất độc hại mà đôi khi làm tay họ bị thương tổn hoặc buộc họ phải nghỉ phép để hồi phục (và dĩ nhiên là nghỉ không lương), và họ cũng thường xuyên bị đối xử khắc nghiệt và thiếu tôn trọng. Không có một lý do cụ thể nào giải thích cho chuyện người lao công bị đối xử theo cách như vậy. Nhưng ít nhất, họ cảm thấy tự hào, rằng họ biết những tòa nhà cần được dọn dẹp và nếu không có họ thì mọi chuyện ở trường đại học sẽ bị đình trệ – tôi có thể bảo chứng rằng hầu hết các nhân viên lao công đều tự hào về điều này.
Công việc tồi tệ thường có khuynh hướng thuộc về giới cổ cồn xanh và được trả tiền công theo giờ, còn công việc vô nghĩa thường là ở giới cổ cồn trắng và được trả lương theo tháng. Những người làm công việc tồi tệ thường bị đối xử bất công; họ không chỉ làm việc cực nhọc mà còn không được tôn trọng, nhưng ít nhất họ biết rằng mình đang làm điều gì đó có ích. Những người làm công việc vô nghĩa thường được vây quanh bởi hào quang danh dự và uy tín; họ được tôn trọng như là những chuyên gia, được trả lương hậu hĩ và đối xử như những người thành đạt – đúng như kiểu của những người hoàn toàn có thể tự hào về công việc của mình – nhưng họ vẫn ngầm hiểu rằng mình chẳng đạt được gì cả, họ biết rằng mình chẳng làm gì mà vẫn có được cuộc sống đầy đủ; họ cảm giác rằng thành công của mình chỉ là lời nói dối – và thực tế đúng là như vậy.
Hai hình thức công việc ở trên khác nhau rất sâu sắc. Tôi hoàn toàn không muốn đánh đồng chúng. Tôi biết có vài người sẵn lòng đánh đổi công việc quản lý cấp trung vô nghĩa để đi làm công việc đào mương, ngay cả khi họ biết sẽ phải làm việc vất vả hơn nhiều. (Tôi thực sự có quen biết những người đã thực sự từ bỏ công việc như vậy để đi làm lao công, và họ khá là hạnh phúc với lựa chọn của mình). Tất cả những gì tôi muốn nhấn mạnh ở đây là mỗi loại công việc đều có áp lực riêng của nó.
Về mặt lý thuyết, cũng có thể có một công việc vừa tồi tệ vừa nhảm nhí. Tôi nghĩ cũng công bằng khi nói rằng, nếu ta đang cố gắng tưởng tượng đến loại công việc tồi tệ nhất mà người ta có thể có thì đó sẽ phải là một kiểu công việc kết hợp của cả hai thứ: nhảm nhí và tồi tệ. Trước kia, Dostoyevsky, trong thời gian lao động khổ sai ở trại tù Siberia, đã đưa ra giả thuyết rằng sự tra tấn tồi tệ nhất mà người ta có thể nghĩ ra đó là buộc ai đó phải thực hiện một nhiệm vụ vô nghĩa lặp đi lặp lại. Ông nhận định rằng, mặc dù những người bị kết án đày đến Siberia là phải chịu khổ sai nhưng thực tế công việc cũng không quá khổ cực vì nông dân còn phải làm lụng vất vả hơn nhiều. Nhưng ít nhất, người nông dân còn làm việc cho chính họ, còn ở trại giam thì phần khó nhọc nhất là người làm chả nhận lại được gì cả:
Tôi chợt nghĩ rằng nếu muốn biến một người đàn ông thành hư vô – trừng phạt anh ta một cách tàn bạo, nghiền nát anh ta theo cách mà kẻ giết người cứng rắn nhất cũng sẽ run sợ – có lẽ chỉ cần bố trí cho anh ta một công việc hoàn toàn vô ích, thậm chí vô lý.
Lao động khổ sai, như vẫn đang được áp dụng, không có lợi ích gì với tên tội phạm, nhưng nó có ích lợi riêng. Hắn phải làm gạch, đào đất, xây dựng, và tất cả các công việc này suy cho cùng vẫn có một ý nghĩa. Đôi khi tên tội phạm cũng hứng thú với những việc mình làm. Hắn sẽ muốn làm việc với kỹ năng tốt hơn, hiệu quả hơn. Nhưng hãy thử giao cho hắn việc múc nước từ thùng này qua thùng khác, xúc cát hay đào đất từ chỗ này đổ sang chỗ kia rồi đưa ngược về chỗ cũ, tôi tin chắc chỉ sau vài ngày là tên tù đó sẽ treo cổ tự sát hoặc phạm hàng nghìn tội ác tày đình khác, hắn thà chết còn hơn là phải chịu qua sự chế nhạo, nhục nhã và tra tấn kiểu đó.
Quan niệm sai lầm: Công việc vô nghĩa chỉ giới hạn trong khu vực công
Tính đến nay, chúng ta đã lập ra được ba nhóm phân loại lớn về công việc: những việc hữu ích (có thể là công việc tồi tệ, hoặc không), việc vô nghĩa, và một nhóm nhỏ những việc tồi tệ, tranh tối tranh sáng (như xã hội đen, chủ nhà trọ khu ổ chuột, luật sư cao cấp của các tập đoàn, quản lý quỹ đầu tư – những việc làm được cấu thành từ những tên khốn ích kỷ và không thèm vờ vịt về nghề nghiệp của mình). Với mỗi trường hợp, tôi nghĩ sẽ công bằng khi chúng ta tin những người làm công việc đó tự biết rằng công việc của mình thuộc loại nào.
Tiếp theo, tôi muốn làm rõ một số hiểu lầm phổ biến. Nếu như bạn nói về công việc vô nghĩa với một người chưa từng nghe đến thuật ngữ này, người đó sẽ đoán rằng bạn đang nói về các công việc tồi tệ. Nhưng khi bạn tìm cách giải thích, anh ta có thể sẽ rơi vào một trong hai dạng sau: Anh ta đoán bạn đang nói về các việc hành chính quan liêu trong chính phủ; hoặc nếu anh ta là người hâm mộ cuốn The Hitchhiker’s Guide to the Galaxy (tạm dịch: Bí kíp quá giang vào Ngân Hà) của Douglas Adams thì anh ta có thể nghĩ bạn đang nói về những người thợ làm tóc.
Hãy để tôi giải quyết chuyện hành chính quan liêu trước vì nó dễ chỉ ra hơn. Tôi cho rằng chẳng có ai chối bỏ chuyện có rất nhiều việc hành chính vô dụng trên thế giới. Nhưng đối với tôi, điều đáng nói là ngày nay, những việc hành chính vô dụng trong khu vực tư cũng chẳng kém gì khu vực công. Xác suất bạn bắt gặp một người đàn ông nhỏ bé, mẫn cán, ăn mặc lịch lãm, đứng đọc to những điều lệ dông dài ở ngân hàng hay cửa hàng điện thoại còn nhiều hơn là ở phòng cấp hộ chiếu hay sở nhà đất. Thậm chí là, chuyện hành chính quan liêu ở cả khu vực tư và công thường xuyên có dây mơ rễ má với nhau khiến cho ta ngày càng khó phân biệt chúng. Đó chính là một lý do khiến tôi mở đầu chương này bằng câu chuyện của một người đàn ông làm việc cho công ty tư nhân có hợp đồng với quân đội Đức. Ví dụ này không chỉ cho thấy sẽ rất sai lầm khi cho là nghề nhảm nhí xuất hiện phần lớn ở khu vực công, mà nó còn minh họa cho việc “cải cách thị trường” gần như tạo ra nhiều quan liêu hơn chứ không phải là ít đi. Như tôi đã chỉ ra trong một cuốn sách của mình trước đây, The Utopia of Rules (tạm dịch: Thế giới không tưởng của các quy luật), nếu bạn phàn nàn vì hay gặp tình trạng quan liêu, đùn đẩy công việc ở ngân hàng mình gửi tiền, thì các quan chức ngân hàng sẽ có khuynh hướng nói với bạn rằng đó là do quy định của chính phủ. Nhưng nếu bạn tìm hiểu kỹ về nguồn gốc của các quy định đó thì khả năng rất cao là bạn sẽ phát hiện ra chính các ngân hàng tự ban hành ra quy định.
Dù sao đi nữa, ngày nay người ta luôn tâm niệm rằng bộ máy nhà nước thì luôn cồng kềnh, nhiều cấp bậc hành chính không cần thiết, còn các công ty tư nhân luôn tinh gọn và chặt chẽ, nên cũng khó mà lay chuyển được quan niệm đó.
Chuyện này chắc chắn cũng liên quan đến ký ức ở các quốc gia như Liên Xô, nơi có chính sách ai cũng có việc làm và do đó người ta đã đặt ra đủ thứ việc trên đời để phân bổ việc làm cho người dân, bất kể công việc đó cần thiết hay không. Đó là lý do mà ở Liên Xô có chuyện khách hàng phải đi qua ba quầy khác nhau để mua một ổ bánh mì. Chuyện này là điều không bao giờ xảy ra ở các nước theo chủ nghĩa tư bản. Điều cuối cùng mà một công ty tư nhân, vốn đang phải cạnh tranh với vô số công ty khác, sẽ làm là thuê những người mà họ không thực sự cần đến. Thứ mà người ta thường phàn nàn nhất về chủ nghĩa tư bản là nó quá hiệu quả: Các công ty tư nhân thường xuyên hối thúc và giám sát, buộc người lao động làm việc nhanh hơn, nhiều hơn.
Rõ ràng là tôi cũng không hề chối bỏ điều này. Trên thực tế, áp lực đối với các tập đoàn kinh tế, buộc họ phải giảm quy mô và tăng cường hiệu quả làm việc, đã tăng gấp đôi kể từ cơn sốt sáp nhập và thâu tóm hồi thập niên 1980. Nhưng áp lực này hầu như là trực tiếp nhắm vào những người nằm ở tầng dưới của tổ chức – những người thực sự tạo ra sản phẩm, sửa chữa, bảo trì và vận chuyển các thứ. Bất kỳ ai phải mặc đồng phục khi đi làm hằng ngày thì đều có khả năng bị áp lực nặng nề. Các công nhân giao nhận của FedEx và UPS thường còng lưng với lịch làm việc được thiết kế một cách “khoa học” để hiệu quả nhất. Còn đối với những người ở tầng lớp trên trong cùng một công ty đó thì mọi thứ không hề như vậy. Nếu muốn, chúng ta có thể truy lại điểm yếu chủ chốt trong sự sùng bái việc quản lý hiệu quả – gót chân Achilles của nó. Khi các cấp quản lý áp dụng khoa học để tìm ra những phương pháp sử dụng lao động hiệu quả nhất về thời gian và công sức, họ không bao giờ áp dụng chúng với chính bản thân mình – hoặc nếu có áp dụng thì hiệu quả là ngược lại với mong đợi của họ. Hậu quả là, trong quãng thời gian chúng ta chứng kiến những biện pháp nhẫn tâm được áp dụng để tăng hiệu quả và giảm số lượng người lao động cổ cồn xanh thì chúng ta cũng thấy sự gia tăng theo cấp số nhân của các vị trí quản trị và hành chính vô dụng ở hầu hết các tập đoàn lớn. Cứ như thể các nhà kinh doanh tìm cách cắt giảm phần thừa ở tầng đáy và dùng những tài nguyên tiết kiệm được để tạo nên nhiều việc vô tích sự khác ở tầng trên. (Như chúng ta sẽ thấy, ở nhiều công ty điều này thực sự xảy ra theo nghĩa đen). Cuối cùng, chủ nghĩa tư bản, bằng cách nào đó, cũng tạo ra hàng triệu việc làm thừa thãi cho giới cổ cồn trắng.
Chúng ta sẽ khảo sát kỹ hơn chuyện này xảy ra như thế nào ở phần sau của cuốn sách. Còn bây giờ, một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng hầu hết những biến động mà chúng ta sẽ mô tả đều diễn ra đồng đều ở khu vực công lẫn khu vực tư, và điều này cũng không có gì bất ngờ vì thời buổi này cũng thật khó để tách bạch hai khu vực này ra.
Vì sao thợ làm tóc là ví dụ dở tệ cho công việc vô nghĩa?
Nếu có một phản ứng chung là người ta thường đổ lỗi cho chính phủ, thì ngạc nhiên thay có một cách phản ứng khác là đổ thừa cho phụ nữ. Khi bạn đã giải quyết xong việc người ta nghĩ rằng bạn đang nói về nạn quan liêu trong chính quyền, thì rất nhiều người lại cho rằng bạn đang đề cập đến các nữ thư ký, tiếp tân và những việc hành chính tương tự (thường là do nữ giới đảm trách). Rõ ràng, theo định nghĩa của chúng ta thì có nhiều công việc hành chính là việc vô nghĩa, nhưng cái giả định rằng hầu như chỉ có phụ nữ mới phải làm việc vô nghĩa thì không chỉ là phân biệt giới tính mà, với tôi, đó còn là biểu hiện của sự thờ ơ với cách vận hành ở các văn phòng. Nói đúng hơn, có khả năng chỉ có mỗi người phụ nữ làm trợ lý cho ngài “Giám đốc Chiến lược” mới là người duy nhất thực sự làm việc trong cái văn phòng đó, còn ông sếp của cô chỉ ngồi ở bàn giấy và chơi trò chơi điện tử.
Tôi sẽ quay lại chuyện này trong chương tiếp theo khi chúng ta tìm hiểu về vai trò của những người phục vụ. Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng chúng ta có đầy đủ các bằng chứng thống kê về chuyện này. Khảo sát của YouGov không phân chia kết quả theo ngành nghề, họ chia nó theo giới tính. Kết quả cho thấy đàn ông có khuynh hướng cảm nhận rằng công việc của mình vô nghĩa nhiều hơn so với phụ nữ (42% so với 32%). Một lần nữa, ta có thể cho rằng kết quả của họ là chính xác.
Cuối cùng, nói về thợ làm tóc, tôi cho rằng Douglas Adams sẽ phải giải thích nhiều điều ở đây. Đôi lúc, tôi có cảm giác rằng hễ mỗi lần tôi đề cập đến chuyện có một phần lớn công việc trong xã hội của chúng ta là không cần thiết thì sẽ có một người (tất nhiên là đàn ông) nhảy ra chặn họng: “Ý anh là thợ cắt tóc chứ gì?”. Và rồi anh ta sẽ giải thích rằng mình đang nói về các cô gái trong tiểu thuyết The Restaurant at the End of the Universe (tạm dịch: Nhà hàng ở điểm tận cùng của vũ trụ) của Douglas Adams. Trong cuốn sách đó, các nhân vật lãnh đạo của hành tinh Golgafrincham quyết định loại bỏ những cư dân vô dụng bằng cách giả bộ tuyên bố rằng hành tinh sắp bị phá hủy. Để đối phó, họ chế ra ba con tàu cứu nạn A, B và C. Trên tàu A chứa những người sáng tạo, chiếm một phần ba dân số; tàu C chứa những người lao động cổ cồn xanh; còn tàu B chứa những người vô dụng. Tất cả dự kiến sẽ được ngủ đông và gửi ra ngoài vũ trụ để tìm đến thế giới mới, trừ một điều là chỉ có con tàu B được phóng đi và nhắm thẳng đến vụ va chạm với Mặt trời. Những người hùng trong cuốn sách bị mắc kẹt trên tàu B, họ khám phá một khoang tàu có hàng triệu quan tài đầy những người vô dụng mà thoạt trông như đã chết. Một người đọc to hàng chữ ghi trên một quan tài:
“Ở đây ghi: Hạm đội Golgafrincham, tàu B, hộc lưu trữ Bảy, Người khử trùng điện thoại, công dân loại B – và một dãy số”.
“Một người khử trùng điện thoại ư?”, Arthur hỏi: “Một người khử trùng điện thoại đã chết?”.
“Chính xác.”
“Nhưng anh ta làm gì ở đây?”
Ford nhìn vào bên trong hòm. “Có vẻ như không làm gì”, anh ta nói và đột nhiên nở cái nụ cười thường khiến người ta nghĩ rằng anh ta đã làm quá nhiều việc và cần được nghỉ ngơi.
Anh ta đi đến chiếc hòm khác, sau một chút quan sát, anh tuyên bố:
“Đây là một người làm tóc, tuyệt vời.”
Chiếc hòm kế tiếp là nơi an nghỉ của một người phụ trách khách hàng quảng cáo; chiếc hòm kế nữa là một người bán xe hơi cũ, công dân hạng ba.
Hiển nhiên, đối với những người lần đầu tiên nghe về công việc vô nghĩa thì câu chuyện này có chút liên quan, có điều danh sách này khá kỳ quặc. Đầu tiên, nghề khử trùng điện thoại thật sự không tồn tại trên đời, và trong khi phụ trách khách hàng quảng cáo và bán xe cũ là những nghề có tồn tại – mà thực ra không có cũng tốt – thì chẳng hiểu lý do gì mà độc giả của Douglas Adams chỉ toàn nhớ đến người thợ làm tóc.
Tôi phải nói thật rằng tôi chẳng có vấn đề gì căng thẳng với Douglas Adams cả, trong thực tế tôi là người ái mộ những yếu tố hài hước trong phim khoa học viễn tưởng Anh thập niên 1970. Nhưng thực sự tôi thấy truyện này có yếu tố coi thường đáng báo động. Đầu tiên, những nghề trong cái danh sách này không thật sự vô dụng. Đó có thể là danh sách các nghề nghiệp khiến những người trung lưu sống ở Islington vào thời điểm đó thấy bực bội. Nhưng như vậy đâu có nghĩa là người làm công việc ấy đáng chết! Cá nhân tôi thì thích cách xử lý là dẹp bỏ cái công việc đó hơn là tiêu diệt những người thực hiện chúng. Để biện bạch cho sự hủy diệt, Adams dường như đã cố tình chọn những người mà ông nghĩ rằng họ làm công việc vô dụng.
***
Trước khi đi tiếp, hãy cùng xem lại câu chuyện người thợ làm tóc. Tại sao làm tóc lại hoàn toàn không phải là công việc vô nghĩa? Lý do rõ ràng nhất chính là gần như chẳng có người thợ làm tóc nào nghĩ rằng công việc của mình là nhảm nhí cả. Cắt và tạo kiểu tóc tạo nên sự khác biệt rõ ràng trên thế giới, và quan niệm nó phù phiếm không cần thiết là hoàn toàn có tính chủ quan: Ai là người có quyền phán xét về giá trị nội tại của nghề tạo kiểu tóc? Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Adams, The Hitchhike’rs Guide to the Galaxy (Bí kíp quá giang vào Ngân Hà), được xuất bản lần đầu năm 1979 và đã trở thành một hiện tượng văn hóa. Tôi vẫn nhớ như in khi ấy, tôi còn là một thiếu niên ở New York, tôi thường thấy những nhóm nhỏ tụ tập bên ngoài tiệm cắt tóc ở Astor Place để xem các dân chơi nhạc rock trưng ra kiểu tóc thổ dân nhuộm tím. Liệu có phải Douglas Adams gợi ý rằng, những người tạo ra kiểu tóc thổ dân đó đáng chết, hay chỉ những người tạo kiểu tóc mà ông thấy không hợp ý mới đáng chết? Đối với người lao động, tiệm làm tóc thường là nơi mọi người tụ họp; phụ nữ ở một nhóm tuổi và trình độ nhất định thường dành nhiều giờ liền ở tiệm làm tóc, ở đó họ sẽ tám chuyện và trao đổi thông tin. Thật khó rũ bỏ cái ấn tượng trong đầu những người có tư tưởng “nghề làm tóc là vô dụng” rằng đây chính là vấn đề. Dường như họ hình dung đến một nơi toàn phụ nữ trung niên, trên đầu đầy những chiếc kẹp, vừa sấy tóc vừa bàn tán về chuyện một người phụ nữ khác đã quá già, quá mập nên không thể nào cải thiện ngoại hình được. Về cơ bản, cái ấn tượng kiểu này là hợm hĩnh, có kèm thêm chút yếu tố giới tính.
Về mặt logic, việc phản đối các thợ làm tóc trên cơ sở này cũng chẳng khác gì nói là việc điều hành một sân chơi bowling hay chơi kèn túi là một công việc vô nghĩa vì cá nhân bạn không thích bowling hay nhạc kèn túi và cũng không thích những người làm công việc đó.
Ở đây có thể có người sẽ bảo là tôi đang thiếu công bằng. Họ có thể phản đối rằng, làm sao mà tôi biết được đó là Douglas Adams nói về thợ làm tóc cho người nghèo mà không phải là thợ làm tóc cho người giàu? Thế còn các thợ làm tóc đình đám, những người đòi một số tiền điên rồ để biến con gái của các nhà tài chính hoặc giám đốc điều hành trở nên thời thượng? Biết đâu họ lại chẳng có một nghi ngờ thầm kín rằng nghề của mình vô dụng, thậm chí là độc hại? Liệu điều đó có đủ để cho rằng công việc của họ là nhảm nhí?
Về mặt lý thuyết, chúng ta phải chấp nhận rằng điều này có thể đúng. Nhưng hãy cùng kiểm tra mọi khả năng có thể có của chuyện này. Rõ ràng là không có một phương thức đo lường cụ thể nào để tính được cắt mái tóc X mất 15 đô-la, mái tóc Y tốn 150 đô-la và mái tóc Z tốn đến 1.500 đô-la cả. Ở trường hợp cuối, hầu hết các khách hàng chịu trả khoản tiền lớn như vậy chỉ để có thể vỗ ngực tuyên bố rằng họ đã trả đến 1.500 đô-la làm tóc, hoặc để nói là kiểu tóc của họ được thực hiện bởi thợ làm tóc của các nghệ sĩ nổi tiếng như Tom Cruise hay Kim Kardashian. Chúng ta đang nói về sự phô trương quá mức của sự lãng phí và chơi ngông. Bây giờ, người ta chắc chắn có thể đưa ra lập luận rằng có một mối quan hệ sâu sắc giữa sự hoang phí với tính nhảm nhí, và các nhà tâm lý học kinh tế từ Thorstein Veblen, đến Sigmund Freud, đến Georges Bataille đều đã chỉ ra rằng ở trên đỉnh của kim tự tháp phân bổ tài sản (wealth pyramid), có một lằn ranh cực mỏng giữa sự siêu sang trọng và hoàn toàn như một đống phân. (Nói chung, cũng có lý do khi giải mã các giấc mơ thì người ta nói mơ thấy phân là có vàng, và ngược lại).
Hơn nữa, thực sự có một truyền thống văn học lâu đời – bắt đầu từ cuốn Au Bonheur des Dames (tạm dịch: Niềm hạnh phúc của quý cô) (1883) của nhà văn Pháp Émile Zola và vô số các truyện hài của Anh – hào hứng kể về cảm giác khinh miệt, ghê tởm mà các thương gia và nhân viên bán hàng trong các cửa hàng bán lẻ thường cảm thấy đối với khách hàng lẫn các sản phẩm mà họ bán cho khách. Nếu nhân viên bán hàng quả thực tin rằng anh ta không mang lại giá trị gì cho khách hàng của mình, thì liệu chúng ta có thể nói rằng người nhân viên ấy thực sự có một công việc vô nghĩa hay không? Tôi sẽ nói rằng, xét về mặt kỹ thuật thì theo như định nghĩa của chúng ta, câu trả lời là có; nhưng theo các nghiên cứu riêng của tôi thì số lượng những nhân viên bán hàng có suy nghĩ như vậy là rất ít. Các nhà cung cấp nước hoa đắt tiền có thể nghĩ rằng sản phẩm của họ có giá quá cao và khách hàng của họ chủ yếu là những kẻ ngốc, nhưng hiếm khi nào họ nghĩ rằng ngành công nghiệp nước hoa cần phải bị dẹp bỏ.
Nghiên cứu của riêng tôi chỉ ra rằng trong nền kinh tế dịch vụ, chỉ có ba trường hợp ngoại lệ quan trọng đối với quy tắc này: dịch vụ công nghệ thông tin, bán hàng qua điện thoại và tình dục. Rất nhiều người làm việc trong hai lĩnh vực đầu tin rằng nghề của mình, về cơ bản, là lừa đảo. Lĩnh vực thứ ba thì phức tạp hơn và có lẽ sẽ đưa chúng ta vượt ra khỏi giới hạn chính xác của “công việc vô nghĩa” để thành một thứ gì đó nguy hiểm hơn nhiều, nhưng tôi nghĩ nó cũng đáng để lưu ý. Khi tôi đang làm nghiên cứu, có nhiều phụ nữ liên hệ với tôi để kể về công việc vũ nữ múa cột, người mẫu Playboy, diễn viên phim cấp 3... của mình và gợi ý tôi nên đề cập về loại công việc này trong cuốn sách. Lập luận thuyết phục nhất là của một cựu vũ công thoát y, hiện là giáo sư, người đã đưa ra một đề xuất rằng hầu hết các công việc trong ngành công nghiệp tình dục nên được coi là công việc vô nghĩa. Lý do là, mặc dù cô vẫn thừa nhận các công việc trong ngành này có đáp ứng nhu cầu thực sự, nhưng rõ ràng nó vẫn là điều gì đó cực kỳ sai lầm với bất kỳ xã hội nào khuyến khích các cô gái, trong độ tuổi từ mười tám đến hai mươi lăm, cung cấp các dịch vụ tình dục, bất kể họ có tài năng hay thành tựu như thế nào.
Thật khó mà phủ nhận sức mạnh trong lập luận của cô ấy. (Người ta có thể nói thêm rằng sự khinh miệt lẫn nhau giữa nhà cung cấp dịch vụ với người sử dụng dịch vụ trong ngành công nghiệp tình dục thường lớn hơn nhiều so với ngành bán lẻ). Sự phản đối duy nhất tôi thực sự có thể nêu ra ở đây là lập luận của cô ấy có thể không đi đủ xa. Có lẽ nó không đủ mạnh để gọi vũ nữ thoát y là một công việc vô nghĩa, nhưng chính cái tình huống như vậy lại cho thấy chúng ta đang sống trong một xã hội nhảm nhí.
Tỷ lệ nhảm nhí trong công việc
Cuối cùng, tôi phải giải quyết một cách ngắn gọn cho câu hỏi không thể tránh khỏi: Thế còn những công việc chỉ nhảm nhí một phần thì sao?
Đây là câu hỏi khó vì có rất ít công việc mà không có vài yếu tố vô nghĩa hoặc ngu ngốc nào đấy. Xét về một khía cạnh nào đó, đây có thể chỉ là tác dụng phụ không thể tránh khỏi trong hoạt động của bất kỳ tổ chức phức tạp nào. Tuy nhiên, rõ ràng là có vấn đề và vấn đề đó đang trở nên tồi tệ hơn. Tôi không nghĩ mình có biết bất kỳ ai đã làm cùng một công việc hơn ba mươi năm mà không có cảm giác rằng chỉ số nhảm nhí tỷ lệ thuận với thâm niên làm việc của họ. Tôi cũng xin bổ sung rằng chuyện này hoàn toàn đúng với nghề giáo sư của tôi. Giảng viên đại học tốn nhiều thời gian để điền các giấy tờ hành chính. Điều này thực sự có thể được ghi nhận lại, vì một trong những nhiệm vụ vô nghĩa mà chúng tôi được yêu cầu thực hiện (và không bao giờ quen với yêu cầu đó nổi) là điền vào phiếu khảo sát phân bổ thời gian hằng quý, trong đó chúng tôi ghi lại chính xác thời gian mỗi tuần dành cho công việc giấy tờ hành chính. Tất cả các dấu hiệu cho thấy xu hướng này đang nóng lên, giống như tạp chí Slate phiên bản tiếng Pháp đã ghi nhận vào năm 2013, “la bullshitisation de l’économie n’en est qu’à ses débuts” (Sự nhảm nhí của nền kinh tế chỉ mới bắt đầu).
Tuy nhiên, quá trình nhảm nhí hóa này rất không nhất quán. Vì lý do hiển nhiên, nó ảnh hưởng đến việc làm của tầng lớp trung lưu nhiều hơn so với tầng lớp lao động, và trong tầng lớp lao động thì mục tiêu chính của quá trình nhảm nhí hóa là những nghề nghiệp, theo truyền thống, là công việc chăm sóc vốn dành cho phụ nữ: Chẳng hạn nhiều y tá phàn nàn với tôi rằng hiện nay 80% thời gian của họ là dành để xử lý giấy tờ, các cuộc họp và những thứ tương tự, trong khi các tài xế xe tải và thợ xây dựng vẫn tiếp tục không bị ảnh hưởng. Chúng ta có một số dữ liệu thống kê cho điều này. Hình 1 được trích từ 2016 – 2017 State of Enterprise Work Report (tạm dịch: Báo cáo việc làm doanh nghiệp năm 2016-2017) phiên bản tại Hoa Kỳ.
Hình 1
Theo khảo sát này, lượng thời gian mà nhân viên văn phòng ở Hoa Kỳ dành cho nhiệm vụ thực tế của họ đã giảm từ 46% trong năm 2015 xuống còn 39% vào năm 2016, nguyên nhân là do sự gia tăng tương đối về thời gian xử lý email (tăng từ 12% lên 16%), các cuộc họp vô bổ (tăng từ 8% lên 10%) và các công việc hành chính (tăng từ 9% lên 11%). Các số liệu kịch tính như thế hẳn có phần do từ độ nhiễu trong thống kê ngẫu nhiên (random statistical noise) – tuy vậy, nếu xu hướng này cứ tiếp tục thì sau khoảng một thập kỷ nữa ở Hoa Kỳ sẽ không còn nhân viên văn phòng nào làm các công việc thực sự. Nhưng dù sao, khảo sát này cũng chỉ rõ rằng: (1) hơn một nửa thời gian làm việc của nhân viên văn phòng tại Hoa Kỳ là dành cho việc vô nghĩa, và (2) vấn đề này ngày một nghiêm trọng.
Kết quả là, ta hoàn toàn có thể nói rằng có những việc vô nghĩa một phần, có việc hầu như là nhảm nhí và có việc thuần túy nhảm nhí. Cuốn sách này chỉ tập trung nói về loại việc cuối cùng, hay nói đúng hơn là về các công việc vô nghĩa hoàn toàn hoặc có mức độ nhảm nhí áp đảo (không phải loại “công việc hầu như là nhảm nhí” vì loại này có mức độ nhảm nhí khoảng 50% mà thôi).
Điều này có nghĩa rằng quá trình nhảm nhí hóa ở tất cả các khía cạnh của nền kinh tế là một vấn đề xã hội cực kỳ quan trọng. Đơn giản chỉ cần xem xét những số liệu mà tôi vừa đưa ra ở Hình 1. Nếu 37-40% công việc là hoàn toàn vô nghĩa, và ít nhất 50% công việc được thực hiện trong các văn phòng làm việc có ý nghĩa lại tương đương với vô nghĩa, chúng ta có thể kết luận rằng ít nhất một nửa số công việc được thực hiện trong xã hội của chúng ta có thể bị loại bỏ mà không gây ra bất kỳ sự khác biệt nào. Trên thực tế, con số gần như chắc chắn cao hơn, bởi vì chúng ta còn chưa xem xét đến tầng công việc vô nghĩa thứ hai: Các công việc thực sự, được thực hiện để hỗ trợ các công việc vô nghĩa. (Tôi sẽ bàn thêm chuyện này ở Chương 2.
Chúng ta có thể dễ dàng trở thành một xã hội thảnh thơi chỉ cần làm việc hai mươi giờ một tuần, thậm chí có thể là mười lăm giờ một tuần, nhưng thay vào đó, chúng ta thấy mình sống trong một xã hội bị lên án là dành phần lớn thời gian cho công việc và thực hiện các nhiệm vụ mà chúng ta cảm thấy không đem lại sự khác biệt gì cho thế giới.
Trong phần còn lại của cuốn sách, tôi sẽ khám phá việc làm thế nào mà chúng ta bị mắc kẹt trong tình trạng đáng báo động này.

