Đời Ngắn Lắm Đừng Làm Việc Vô Nghĩa - Chương 2
PHÂN LOẠI CÔNG VIỆC VÔ NGHĨA
Nghiên cứu của tôi đã tìm ra năm loại công việc vô nghĩa cơ bản. Trong chương này, tôi sẽ mô tả và phác thảo các đặc điểm cơ bản của từng loại.
Đầu tiên, tôi muốn nói đôi chút về nghiên cứu này. Tôi lấy dữ liệu từ hai nguồn lớn. Nguồn thứ nhất đến từ bài báo năm 2013 của tôi “Về hiện tượng các công việc vô nghĩa”. Sau khi bài đã đăng, một số các tờ báo ở nhiều quốc gia khác đã đăng lại bài tiểu luận này cũng như nó được nhiều trang blog chia sẻ. Từ đó, có một lượng lớn các thảo luận trên mạng về đề tài này, trong đó nhiều người tham gia đã chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của họ về những công việc mà họ cho rằng có một phần hay hoàn toàn là vô nghĩa. Tôi đã lưu về 124 lời chia sẻ như vậy và dành thời gian sắp xếp, phân loại.
Nguồn dữ liệu thứ hai là do tôi tích cực thu thập. Vào cuối năm 2016, tôi đã tạo một tài khoản email dành riêng cho nghiên cứu và dùng Twitter của mình để mời những người cảm thấy họ đang có hoặc đã từng có một công việc vô nghĩa gửi bằng chứng của họ cho tôi. Các hồi đáp rất ấn tượng. Tôi đã thu thập được hơn 250 lời chứng thực như vậy, từ các đoạn văn ngắn đến những bài tiểu luận mười một trang mô tả chi tiết toàn bộ các công việc vô nghĩa, cùng với những suy đoán về động lực tổ chức hoặc xã hội đã tạo ra chúng, mô tả tác động của chúng về mặt xã hội và tâm lý. Hầu hết những lời chứng thực này đến từ công dân các quốc gia nói tiếng Anh, nhưng tôi cũng nhận được lời xác thực khác từ các quốc gia châu Âu cũng như Mexico, Brazil, Ai Cập, Ấn Độ, Nam Phi và Nhật Bản. Một số thư rất cảm động, thậm chí khiến ta đau đớn khi đọc. Rất nhiều thư hài hước. Và không cần phải nói rằng hầu hết những người phản hồi đều đề nghị không nêu tên.
Sau khi lọc các câu trả lời và lược bớt các dữ liệu không liên quan, tôi có một cơ sở dữ liệu hơn 110.000 từ mà tôi đã mã hóa màu cẩn thận. Kết quả có thể không phù hợp với đa số các dạng phân tích thống kê, nhưng tôi thấy chúng là một nguồn cực kỳ phong phú để phân tích định tính, đặc biệt là trong nhiều trường hợp tôi đã có thể đặt tiếp câu hỏi và trao đổi nhiều hơn với người cung cấp tin. Một số khái niệm quan trọng mà tôi sẽ phát triển trong cuốn sách này quả thực là được đề xuất hoặc lấy cảm hứng từ những cuộc trò chuyện như vậy. Vì thế, theo một cách nhìn nào đó, cuốn sách này là kết quả của một dự án có nhiều người hợp tác. Điều này đặc biệt đúng với kiểu phân loại dưới đây, được phát triển trực tiếp từ những cuộc trò chuyện này nên tôi không cho đây là sáng tạo của riêng tôi mà là sản phẩm của một cuộc đối thoại dài hơi (Các trích dẫn tiếp theo đều được rút ra từ cơ sở dữ liệu này trừ khi tôi có ghi chú gì khác. Tôi đã giữ lại hầu như nguyên trạng lời xác thực của người gửi, ngoại trừ một số chỉnh sửa nhẹ – thay đổi chữ viết tắt thành từ đầy đủ, điều chỉnh dấu câu, chỉnh sửa ngữ pháp hoặc văn phong nho nhỏ...).
Năm nhóm phân loại chính của công việc vô nghĩa
Không có kiểu phân loại nào là hoàn hảo và tôi chắc chắn có nhiều cách để phân biệt, mỗi cách có cái hay riêng. Nhưng trong suốt quá trình nghiên cứu của mình, tôi thấy hữu ích nhất là chia các công việc vô nghĩa thành 5 loại mà tôi gọi là: làm nền, tay sai, vá víu, làm màu và vẽ chuyện.
Hãy cùng lần lượt xem xét chúng.
1. Nhóm làm nền
“Làm nền” là những công việc tồn tại chủ yếu để làm cho người khác cảm thấy, hoặc tạo cho người khác vẻ bề ngoài rằng những người ấy là quan trọng.
Trong suốt lịch sử, những người giàu có và quyền lực thường được vây quanh bởi khá đông người hầu, khách trú, người xu nịnh và đủ loại thuộc hạ. Không phải tất cả những người vừa kể đều là gia nhân của gia đình quý tộc đó, nhưng nhiệm vụ cơ bản của họ là đứng loanh quanh bên cạnh người giàu sao cho thật ấn tượng. Không thể trở nên hào nhoáng mà thiếu đoàn tùy tùng xung quanh. Và với một người thực sự hào nhoáng, thì sự vô dụng của những người mặc đồng phục luôn lảng vảng xung quanh là minh chứng lớn nhất cho sự quan trọng của họ. Ví dụ, vào thời Victoria, các gia đình giàu có ở Anh vẫn có những người hầu chỉ với một nhiệm vụ là chạy theo xe ngựa để kiểm tra, cảnh báo ổ gà trên đường.
Những người phục vụ kiểu này thường được giao một số nhiệm vụ nho nhỏ để biện minh cho sự tồn tại của họ, nhưng đây thực sự chỉ là một cái cớ: Thực tế, toàn bộ vấn đề là thuê những thanh niên đẹp trai mặc đồng phục hào nhoáng, chờ sẵn sàng trước cửa khi bạn ở trong phòng hoặc đứng nghiêm chào khi bạn bước vào phòng. Thông thường, người tùy tùng được cho mặc trang phục theo phong cách quân đội để tạo ấn tượng rằng người giàu sử dụng họ có gì đó giống như một đội quân bảo vệ lâu đài. Những vai trò như vậy có xu hướng tăng theo cấp số nhân ở các nền kinh tế dựa vào việc khai thác chi phí cho thuê nhân công và phân phối chiến lợi phẩm.
Hãy thử tưởng tượng bạn là người thuộc tầng lớp phong kiến, đang thu 50% thuế từ mỗi sản phẩm do nông dân làm ra, nghĩa là bạn đang sở hữu cực kỳ nhiều thực phẩm. Trong thực tế, lượng thực phẩm đó đủ để nuôi số người tương đương với số nông dân tạo ra sản phẩm. Bạn phải làm một cái gì đó với chuyện này – và có rất nhiều người mà bất kỳ vị lãnh chúa phong kiến nào cũng có thể giữ ở xung quanh mình như đầu bếp, người phục rượu, người giúp việc nấu nướng, hoạn quan hậu cung, nhạc sĩ, thợ kim hoàn, và những người tương tự. Ngay cả sau khi bạn đã đảm bảo mình có những người lính được huấn luyện sử dụng vũ khí để trấn áp bất kỳ cuộc nổi loạn tiềm tàng nào, thì có khả năng bạn vẫn còn rất nhiều thực phẩm thừa. Và kết quả là người ăn xin, tội phạm bị truy nã, trẻ mồ côi, phụ nữ đang trong tình huống tuyệt vọng và những người bị tàn tật khác chắc chắn sẽ bắt đầu tụ tập xung quanh lâu đài của bạn (bởi vì suy cho cùng, đó chính là nơi có thức ăn). Bạn có thể đuổi bọn họ đi, nhưng sau đó họ có nguy cơ hình thành một lớp người lang thang nguy hiểm, và có thể trở thành mối đe dọa chính trị. Rõ ràng, cách hay nhất là phát cho họ bộ đồng phục rồi giao cho họ vài việc lặt vặt hoặc không cần thiết nào đó. Chuyện này sẽ khiến hình ảnh của bạn tốt hơn, đồng thời cũng giúp bạn để mắt trông chừng bọn họ.
Sau này, tôi sẽ đưa ra một động lực cũng tương tự như vậy, xảy ra dưới chủ nghĩa tư bản hiện nay, nhưng bây giờ tất cả những gì tôi thực sự muốn nhấn mạnh là hãy giao cho mọi người những nhiệm vụ nhỏ như một cái cớ để khiến họ quanh quẩn bên bạn và tạo ấn tượng là bạn có xuất thân bề thế và đáng kính.
Vậy thì điều tương tự trong thời hiện đại có thể là gì?
***
Một số công việc kiểu phong kiến cũ vẫn còn tồn tại. Người gác cửa là ví dụ rõ ràng nhất. Họ thực hiện chức năng tương tự trong dinh thự của các gia đình giàu có khi mà hệ thống liên lạc nội bộ điện tử đã trở nên phổ biến từ những năm 1950. Một cựu nhân viên gác cửa than phiền:
Bill: Một công việc vô nghĩa khác: gác cửa tòa nhà. Một nửa thời gian của tôi là bấm nút để mở cửa cho cư dân và nói xin chào khi họ đi qua. Nếu có lần nào tôi không kịp bấm nút trước và để cư dân phải mở cửa bằng tay, tôi sẽ nghe người quản lý của mình phàn nàn.
Ở một số quốc gia, chẳng hạn như Brazil, các tòa nhà như vậy vẫn có nhân viên gác thang máy mặc đồng phục và chỉ làm một việc là nhấn nút chọn tầng cho bạn. Đây là sự kế thừa từ thời phong kiến của công việc thuộc loại này cho đến loại công việc như nhân viên tiếp tân và nhân viên tiền sảnh tại những nơi rõ ràng là không cần họ.
Gerte: Năm 2010 tôi làm tiếp tân tại một công ty xuất bản của Hà Lan. Điện thoại reo chắc mỗi ngày được một lần, vì vậy tôi được giao thêm vài nhiệm vụ khác:
● Giữ cho đĩa kẹo bạc hà luôn đầy. (Kẹo bạc hà được cung cấp bởi người khác trong công ty; tôi chỉ cần lấy một ít từ ngăn kéo bên cạnh và đặt chúng vào đĩa).
● Mỗi tuần một lần, tôi đi vào phòng hội thảo và lên dây cót cho chiếc đóng hồ cổ lỗ sĩ. (Thật ra, tôi thấy nhiêm vụ này rất căng thẳng vì họ nói với tôi rằng nếu tôi quên hoặc để quá lâu, tất cả con lắc sẽ rơi, và tôi sẽ gặp nhiệm vụ khó khăn hơn nữa là sửa chữa cái đồng hồ từ thời ông cố đó).
● Nhiệm vụ mất nhiều thời gian nhất là quản lý một nhân viên tiếp tân khác của Avon.
Rõ ràng, nếu một ngày chỉ có một cú điện thoại gọi đến thì bất kỳ ai trong công ty cũng có thể xử lý được, giống như cách người ta hay làm ở nhà: Khi điện thoại reo thì ai tình cờ đang ở gần điện thoại và không bận việc thì người đó sẽ trả lời. Tại sao phải bỏ ra một cục lương và phúc lợi toàn thời gian cho một người phụ nữ – thực ra trong trường hợp này, dường như có đến hai người phụ nữ – chỉ để ngồi ở bàn tiếp tân cả ngày và không làm gì cả? Câu trả lời là: Vì không làm như vậy thì sẽ gây sốc và kỳ quái. Sẽ chẳng ai nghiêm túc với một công ty không có nhân viên lễ tân!
Người ta cần có nhân viên lễ tân như cần có một Huy hiệu Nghiêm Túc, ngay cả khi không có việc gì khác để cho nhân viên lễ tân làm. Những người làm nền khác là Huy hiệu Tầm quan trọng.
Lời xác thực tiếp theo là của Jack, làm nghề gọi điện thoại trong một công ty giao dịch chứng khoán cấp thấp. Ông giải thích rằng các công ty như vậy “hoạt động dựa trên danh bạ đánh cắp từ những tập đoàn khác, những danh bạ nội bộ của các công ty mà có người đã lấy về và bán lại cho nhiều công ty khác”. Các nhà môi giới tìm cách gọi điện thoại cho các cấp quản lý trong danh bạ này để bán cổ phiếu.
Jack: Việc của tôi là gọi điện thoại mở đầu. Không phải là để tìm cách bán cổ phiếu mà chỉ là mời tặng “tài liệu nghiên cứu miễn phí về một công ty đầy triển vọng sắp ra mắt công chúng”, nhấn mạnh rằng tôi đại diện cho một người môi giới. Điểm cuối cùng đó đặc biệt được nhấn mạnh với tôi trong quá trình đào tạo. Lý do cần làm như vậy là để gây ấn tượng với khách hàng tiềm năng rằng người môi giới đó rất có năng lực và chuyên nghiệp, họ quá bận rộn kiếm tiền đến nỗi cần một trợ lý để giúp họ thực hiện cuộc gọi này cho khách hàng. Thực sự không có mục đích nào khác cho công việc này ngoài việc làm cho người môi giới trông có vẻ như thành công hơn thực tế.
Tôi đã được trả hai trăm đô-la một tuần, bằng tiền mặt từ tiền của người môi giới vì tôi đã làm cho anh ta trông giống như một người thành đạt. Đây không chỉ là vẻ bề ngoài để nhà môi giới gây ấn tượng với khách hàng của anh ta, mà còn là một biểu tượng của đẳng cấp (nhà môi giới có riêng một người gọi điện thoại) trong môi trường làm việc siêu cạnh tranh của ngành môi giới chứng khoán. Tôi cứ như thể một loại huân chương của anh ta. Sở hữu một người gọi điện thoại riêng như tôi có thể đem đến cho anh ấy sự khác biệt đủ để anh ta có thể gặp gỡ những lãnh đạo cấp cao của công ty hay không thì tôi không biết; nhưng hầu như nó chỉ giúp đưa anh ta lên cao hơn một chút trên nấc thang xã hội tại nơi làm việc.
Đối với những người môi giới, mục tiêu cuối cùng là gây ấn tượng với ông chủ của họ để rồi họ sẽ được chuyển chỗ từ bàn giao dịch ở tầng thấp lên một văn phòng làm việc riêng ở tầng trên. Jack kết luận: “Vị trí của tôi tại công ty này là hoàn toàn không cần thiết và không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc làm cho sếp của tôi có vẻ ngoài hào nhoáng hơn và cảm thấy như là một người thành đạt”.
Đây là định nghĩa rất chuẩn của công việc làm nền.
Sự thú vị của trò chơi ở đây là nó giúp tạo ra động lực để mọi người có thể thể hiện bản thân theo những cách ảo diệu hơn trong môi trường công ty lớn và phức tạp. Ở đó, chúng ta thường tìm thấy những trường hợp không ai hoàn toàn hiểu rõ làm thế nào hoặc tại sao một số vị trí nhất định lại xuất hiện và tồn tại được. Đây là lời kể của Ophelia, người làm việc cho một tổ chức điều hành các chiến dịch tiếp thị xã hội:
Ophelia: Chức danh công việc hiện tại của tôi là Điều phối viên Hồ Sơ, và mọi người luôn hỏi như vậy nghĩa là gì, hoặc tôi thực sự làm gì? Tôi cũng không biết luôn. Tôi vẫn đang cố gắng để tìm hiểu. Mô tả công việc của tôi thì nói rằng nó liên quan đến tất cả các thể loại công việc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ giữa các đối tác... mà theo như tôi thấy thì chỉ có nghĩa là lâu lâu trả lời vài câu hỏi.
Tôi đã nghĩ chức danh này của tôi là một công việc vô nghĩa. Tuy nhiên, thực tế công việc của tôi lại giống như trợ lý riêng cho giám đốc, và ở vai trò này thì tôi thực sự có làm những việc cần thiết, đơn giản vì sếp của tôi quá bận hoặc quá quan trọng để làm các việc đó. Trong thực tế, hầu hết thời gian thì có vẻ như tôi là người duy nhất có làm việc gì đó ở văn phòng. Có những ngày tôi chạy xung quanh một cách điên cuồng trong khi hầu hết những quản lý cấp trung ngồi đó và nhìn chằm chằm vào một bức tường, dường như buồn chán đến chết và chỉ cố giết thời gian bằng cách làm những việc vô nghĩa (như có một gã kia, ngày nào cũng dành nửa giờ chỉ để sắp xếp lại các thứ trong ba-lô của mình).
Rõ ràng, công ty không có đủ công việc để giữ cho chúng tôi bận rộn, nhưng chúng tôi hiện đang tuyển dụng thêm một người quản lý nữa – có lẽ việc này tuân theo một kiểu logic kỳ lạ là nhằm khiến mọi người cảm thấy công việc của mình có thêm phần quan trọng, và để giữ cái ảo tưởng rằng có rất nhiều việc phải làm?
Ophelia nghi ngờ công việc của cô ban đầu chỉ là một kiểu “điền vào chỗ trống”, được tạo ra để ai đó có thể tự hào về số lượng nhân viên đang làm việc dưới quyền. Nhưng từ đó, một động lực xấu khác bắt đầu hình thành, theo đó các nhà quản lý đã nhồi nhét ngày càng nhiều trách nhiệm của họ cho nhân viên cấp dưới thấp nhất (là cô) nhằm tạo ấn tượng rằng họ quá bận rộn để tự làm những việc đó. Và tất nhiên, điều đó lại dẫn đến việc họ càng có ít việc hơn để làm, một vòng xoáy lên đến đỉnh điểm với quyết định kỳ quái là thuê một người quản lý khác (để rồi người đó chỉ có mỗi công việc là nhìn chằm chằm vào tường hoặc chơi Pokémon cả ngày) bởi vì việc thuê anh là khiến mọi người khác trông có vẻ là quá bận rộn với công việc. Cuối cùng, chỉ có mỗi Ophelia là phải làm việc điên cuồng bởi vì cô ấy được giao thêm một số nhiệm vụ cần thiết, vốn được bày ra với mục đích giữ cho nhân viên cấp thấp luôn bận rộn:
Ophelia: Chúng tôi chia thành hai tổ chức và làm việc ở hai tòa nhà. Nếu sếp của tôi (vốn là chủ của toàn bộ nơi này) đi sang tòa nhà kia, tôi phải điền vào một mẫu đơn để đặt phòng làm việc cho bà ấy, lúc nào cũng vậy. Điều đó thật điên rồ, nhưng nó chắc chắn khiến cho nhân viên lễ tân ở tòa nhà kia bận rộn nên không thể bỏ qua được. Nó cũng làm cho cô ấy có vẻ biết cách tổ chức, sắp xếp và điền giấy tờ. Tôi nhận ra lời quảng cáo tuyển dụng rằng công ty mong đợi ứng viên thực hiện hiệu quả các thủ tục văn phòng có ý nghĩa thực sự là họ mong đợi bạn tạo ra nhiều chuyện hành chính quan liêu hơn để lấp đầy thời gian.
Ví dụ của Ophelia làm nổi lên một sự mơ hồ phổ biến: Công việc của ai mới thực sự là nhảm nhí, người làm nền hay người sếp? Đôi khi, như chúng ta đã thấy với chuyện của Jack, nó rõ ràng là vế đầu – người làm nền thực sự chỉ tồn tại để tạo cho cấp trên vẻ ngoài vượt trội hoặc cảm giác là người quan trọng. Trong trường hợp như thế, chẳng ai quan tâm chuyện người làm nền không làm gì cả:
Steve: Tôi vừa mới tốt nghiệp. Và “công việc” của tôi là ngồi chờ sếp chuyển tiếp các email của ông với nội dung “Steve, hãy xem nội dung dưới” và rồi tôi trả lời cho ông biết rằng đó là thư quan trọng hay là thư rác.
Ở các trường hợp khác, như của Ophelia, người làm nền rốt cuộc mới là người làm các công việc một cách có hiệu quả, thay cho sếp của họ. Đây là vai trò truyền thống của các nữ thư ký (hiện được gọi là trợ lý hành chính) làm việc cho các nam giám đốc điều hành trong thế kỷ XX: Về lý thuyết, các thư ký chỉ ở đó để trả lời điện thoại, ghi chú lại lời của sếp và điền một số hồ sơ đơn giản, nhưng trên thực tế, họ thường phải hoàn thành 80-90% công việc của sếp, và đôi khi là 100% các việc không nhảm nhí của sếp. Sẽ thật hấp dẫn – mặc dù có lẽ là không thể – khi viết một bảng thống kê các cuốn sách, kế hoạch và tài liệu được gán cho những người đàn ông nổi tiếng mà trong thực tế các văn bản ấy do chính các nữ thư ký của họ viết ra.
Vậy trong những trường hợp đó, ai là người làm việc vô nghĩa?
Một lần nữa, tôi nghĩ rằng chúng ta lại rơi vào yếu tố chủ quan. Người quản lý cấp trung trong văn phòng của Ophelia, người dành nửa giờ mỗi ngày sắp xếp lại chiếc ba-lô của mình, có thể sẵn sàng hoặc không sẵn sàng thừa nhận công việc của anh ta là vô nghĩa, nhưng những người được thuê chỉ để làm cho một người như anh ta trông có vẻ quan trọng thì lại biết điều đó và thấy phẫn nộ:
Judy: Công việc toàn thời gian duy nhất tôi từng có ở phòng nhân sự trong một công ty kỹ thuật tư nhân là hoàn toàn không cần thiết. Nó tồn tại vì Chuyên gia Nhân sự quá lười biếng và không muốn rời khỏi bàn làm việc. Tôi làm Trợ lý Nhân sự. Tôi không đùa đâu nhé, việc của tôi tốn mất một tiếng rưỡi mỗi ngày. Khoảng bảy tiếng còn lại tôi dành để chơi game hoặc xem YouTube. Điện thoại không hề đổ chuông. Nhập dữ liệu chỉ mắt năm phút hay ít hơn. Tôi được trả lương để làm mấy việc nhàm chán, sếp của tôi hoàn toàn có thể làm hết việc của tôi – cái đồ lười chảy thây đó.
***
Khi tôi thực hiện nghiên cứu thực địa nhân chủng học ở vùng cao nguyên Madagascar, tôi nhận thấy rằng bất cứ nơi nào tìm thấy ngôi mộ của một nhà quý tộc nổi tiếng, người ta cũng luôn tìm được thêm hai hoặc ba ngôi mộ khiêm tốn ngay dưới ngôi mộ đó. Khi tôi hỏi những ngôi mộ khiêm tốn này là gì, tôi sẽ luôn được cho biết đây là những “người lính” của ông ấy – một từ ngữ mỹ miều cho từ “nô lệ”. Ý nghĩa ở đây rất rõ ràng: Trở thành một quý tộc có nghĩa là người ta có quyền ra lệnh cho những người xung quanh. Ngay cả khi chết, nếu bạn không có người dưới quyền ở bên cạnh mình, bạn cũng không thể tự nhận mình là một quý tộc.
Một logic tương tự dường như cũng tồn tại trong môi trường làm việc công ty. Tại sao công ty xuất bản của Hà Lan cần một nhân viên lễ tân? Bởi vì một công ty phải có ba cấp lãnh đạo để được coi là một công ty “thực thụ”: ít nhất, phải có một ông chủ và các biên tập viên, rồi mỗi biên tập viên tối thiểu phải có một số loại nhân viên thuộc cấp hoặc trợ lý, và nhân viên lễ tân là người dưới quyền của tất cả những người trên. Nếu không có đủ ba cấp lãnh đạo, bạn sẽ không phải là một tập đoàn, mà chỉ là một nhóm những kẻ tụ tập lại với nhau.
Khi công ty thuê một người làm nền không cần thiết, liệu người làm nền đó có được giao việc gì để làm hay không thì lại là một vấn đề hoàn toàn thứ yếu – nó phụ thuộc vào toàn bộ các yếu tố ngoại lai, ví dụ: có việc cần làm hay không, nhu cầu và thái độ của cấp trên, cách đối xử dựa trên giới tính và các ràng buộc về thể chế. Nếu tổ chức phát triển quy mô, tầm quan trọng của người có vị trí cao cấp sẽ được đo lường bằng tổng số nhân viên dưới quyền của họ. Đến lượt điều này lại tạo ra một động lực, thậm chí còn mạnh mẽ hơn, cho những người đứng đầu tổ chức thuê thêm nhân viên rồi sau đó mới quyết định sẽ làm gì với các nhân viên mới ấy – hoặc thậm chí là chống lại mọi nỗ lực loại bỏ các công việc dư thừa. Như chúng ta sẽ thấy, lời chứng thực từ các chuyên gia tư vấn được thuê để tăng cường hiệu quả hoạt động trong một tập đoàn lớn (như ngân hàng hay một tập đoàn dược) cho thấy rằng có một sự im lặng khó xử khi các giám đốc điều hành nhận ra việc tăng cường hiệu quả hoạt động đó sẽ có tác dụng tự động hóa một phần đáng kể công việc của cấp dưới. Và khi tự động hóa thì số lượng nhân viên dưới quyền sẽ giảm xuống, cấp quản lý thành ra chẳng còn nhân viên để mà quản lý. Họ trở thành “Vua của hư không”. Nếu như không có người làm nền thì họ là sếp của ai đây?
2. Nhóm tay sai
Tất nhiên từ “tay sai” ở đây có nghĩa ẩn dụ vì tôi không sử dụng nó để chỉ các tay giang hồ thứ thiệt hoặc các hình thức “cho thuê cơ bắp” khác. Thay vào đó, tôi đề cập đến những người làm công việc có tính lôi kéo, nhưng chủ yếu là để nói đến những người tồn tại chỉ vì những người khác sử dụng họ.
Ví dụ rõ nhất là các lực lượng vũ trang quốc gia. Các quốc gia cần quân đội chỉ vì các quốc gia khác có quân đội3. Nếu không nước nào có quân đội thì quân đội sẽ không cần thiết. Điều tương tự cũng có thể áp dụng với hầu hết các nhà vận động hành lang, chuyên gia PR, nhân viên tiếp thị qua điện thoại và luật sư doanh nghiệp. Giống như những kẻ tay sai giang hồ thật sự, các nghề nghiệp tôi vừa kể ở trên có tác động tiêu cực đến xã hội. Tôi nghĩ hầu hết mọi người sẽ đồng ý rằng, nếu tất cả các nhân viên tiếp thị qua điện thoại đều biến mất, thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Và tôi nghĩ hầu hết mọi người cũng đồng ý rằng, nếu tất cả các luật sư doanh nghiệp, nhà vận động hành lang của ngân hàng hoặc các chuyên gia tiếp thị đều biến mất như một làn khói, thế giới có thể sẽ dễ chịu hơn một chút.
Câu hỏi ở đây là: Những công việc này có thực sự nhảm nhí không? Chúng không giống như nghề sát thủ ở Chương 1 chứ? Xét cho cùng, trong hầu hết các trường hợp, những kẻ bất lương quả thật đang làm việc để tăng thêm lợi ích cho những người sử dụng họ, kể cả khi sự tồn tại nghề nghiệp của họ có thể bị coi là bất lợi cho toàn thể nhân loại.
Ở đây một lần nữa chúng ta phải xem xét yếu tố chủ quan. Đôi khi sự vô nghĩa của một công việc hiển nhiên đến mức ít có ai cố gắng để chối bỏ nó. Hầu hết các trường đại học ở Vương quốc Anh hiện nay đều có văn phòng quan hệ công chúng với đội ngũ nhân viên lớn hơn nhiều so với thông thường, ví dụ như so với một ngân hàng hoặc nhà máy sản xuất xe hơi có cùng quy mô. Đại học Oxford có thực sự cần tuyển dụng hàng tá chuyên gia PR để thuyết phục công chúng rằng nó là một trường đại học hàng đầu không? Tôi thử tưởng tượng rằng sẽ mất ít nhất số lượng chuyên gia PR tương đương trong nhiều năm ròng để thuyết phục công chúng rằng Oxford không phải là một trường đại học hàng đầu, và thậm chí tôi còn nghi ngờ nhiệm vụ này là bất khả thi.
Tôi hơi quá lố một chút ở đây: Đây không phải là điều duy nhất mà bộ phận PR đang làm. Tôi chắc chắn trong trường hợp của Đại học Oxford, hầu hết các mối quan tâm hằng ngày của bộ phận PR liên quan đến nhiều vấn đề thiết thực hơn, như thu hút con cái của các ông trùm dầu mỏ hay các chính trị gia tham nhũng từ những vùng đất xa lạ vào học tại Oxford thay vì Cambridge. Tuy nhiên, những người phụ trách PR, “chiến lược gia truyền thông”, tại nhiều trường đại học hàng đầu ở Anh đã gửi cho tôi lời thú nhận rằng họ thực sự cảm thấy công việc của mình phần lớn là vô nghĩa.
Tôi đã đưa công việc tay sai vào loại công việc vô nghĩa đa phần là vì lý do này: Rất nhiều người đang làm việc tay sai cảm thấy công việc của họ không có giá trị xã hội và không nên tồn tại. Hãy nhớ lại lời của luật sư thuế doanh nghiệp ở phần mở đầu: “Tôi là một luật sư luật doanh nghiệp... Tôi chẳng có đóng góp gì cho thế giới này và luôn cảm thấy mình thật khốn khổ”. Thật không may là gần như không thể xác định được có bao nhiêu luật sư tập đoàn thầm chia sẻ cảm giác này. Khảo sát của YouGov không chia theo từng ngành nghề, còn các nghiên cứu của tôi thì tuy có xác nhận rằng có nhiều người cùng chia sẻ cảm giác đó thì không ai trong số họ thật sự nắm giữ các vị trí cấp cao. Chuyện tương tự cũng xảy ra ở lĩnh vực PR.
Lý do tôi nghĩ từ “tay sai” thích hợp là vì trong hầu hết các trường hợp, những người này thấy chán công việc không chỉ vì họ cảm thấy thiếu giá trị tích cực mà còn vì họ thấy chúng thực chất có tính thao túng và lôi kéo:
Tom: Tôi làm việc cho một công ty hậu kỳ phim rất lớn của Hoa Kỳ có trụ sở tại London. Có những phần công việc của tôi rất thú vị và thỏa mãn: Tôi làm cho ô-tô bay, các tòa nhà nổ tung và khủng long tấn công tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh, đem đến sự giải trí cho khán giả trên toàn thế giới.
Tuy nhiên gần đây, tỷ lệ khách hàng của chúng tôi là các công ty quảng cáo ngày càng nhiều. Họ mang đến cho chúng tôi các mẩu quảng cáo cho các sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng: dầu gội, kem đánh răng, kem dưỡng ẩm, bột giặt... và chúng tôi sử dụng hiệu ứng hình ảnh để làm cho các sản phẩm này có vẻ như thực sự mang lại hiệu quả.
Chúng tôi cũng làm việc cho các chương trình truyền hình và video âm nhạc. Chúng tôi giảm bọng mắt cho phụ nữ, làm tóc óng ả hơn và răng trắng hơn, làm cho các ngôi sao nhạc pop và ngôi sao điện ảnh trông gầy hơn... Chúng tôi sử dụng công cụ để loại bỏ các đốm mụn trên da, chỉnh màu để làm cho răng trắng hơn (tương tự với quần áo trong quảng cáo bột giặt), vuốt mượt các phần chẻ ngọn và thêm các điểm sáng bóng cho tóc trong quảng cáo dầu gội, và có các công cụ đặc biệt làm cho mọi người gầy hơn. Những kỹ thuật này được sử dụng trong mọi quảng cáo trên tivi, cũng như hầu hết các phim truyền hình và rất nhiều bộ phim điện ảnh, thường là cho các diễn viên nữ nhưng đôi khi có cả nam. Về cơ bản, chúng tôi làm cho người xem cảm thấy thiêu thiếu khi họ đang xem các chương trình chính và sau đó phóng đại hiệu quả của “các giải pháp” được cung cấp trong các đoạn quảng cáo được phát ở giữa chương trình chính.
Tôi được trả 100.000 bảng Anh/năm để làm việc này.
Khi tôi hỏi tại sao anh ta coi công việc của mình là nhảm nhí (thay vì chỉ đơn thuần là lừa lọc, xấu xa), Tom trả lời:
Tom: Đối với tôi, một công việc đáng làm là khi nó đáp ứng nhu cầu có sẵn, hoặc tạo ra sản phẩm hay dịch vụ mà mọi người không nghĩ tới, giúp cải thiện cuộc sống của họ. Tôi tin rằng cái thời mà hầu hết các công việc đều là loại công việc đáng làm đã qua lâu rồi. Cung đã vượt xa cầu trong hầu hết các ngành nghề. Bây giờ, nhu cầu chính là sản xuất ra sản phẩm. Công việc của tôi là sự kết hợp giữa nhu cầu sản xuất và sau đó phóng đại tính hữu dụng của sản phẩm để bán chúng nhằm giải quyết việc sản xuất. Trên thực tế, bạn có thể lập luận rằng đó là công việc của những ai làm việc trong hoặc cho ngành quảng cáo. Nếu chúng ta đến một cái ngưỡng mà muốn bán sản phẩm thì trước hết phải lừa mọi người nghĩ rằng họ cần chúng, thì tôi nghĩ là ta sẽ khó có thể biện hộ rằng những công việc này không phải là nhảm nhí.
Trong lĩnh vực quảng cáo, tiếp thị và quan hệ công chúng, sự bất mãn loại này tăng cao đến mức thậm chí có cả một tạp chí, Adbusters, chuyên đăng các quảng cáo hào nhoáng, tấn công văn hóa tiêu dùng nói chung. Tạp chí này được sản xuất bởi những người trong ngành quảng cáo tiếp thị, những người đang phẫn nộ với điều họ làm để kiếm sống và muốn sử dụng năng lực của mình cho việc tốt đẹp thay vì xấu xa.
Về phần mình, Tom xem công việc của mình là nhảm nhí không phải vì bản thân anh phản đối văn hóa tiêu dùng, mà vì anh thấy “công việc làm đẹp” (theo như cách anh ấy gọi nó) của mình giống như sự ép buộc và thao túng. Anh ta đang vẽ ra một sự khác biệt giữa cái gọi là minh họa trung thực với minh họa không trung thực. Khi bạn khiến cho khủng long tấn công tàu vũ trụ thì không ai nghĩ điều đó là thật cả. (Giống như mọi người đều biết rằng mình bị ảo thuật gia gạt, chỉ là không biết màn ảo thuật đó được làm như thế nào). Trái lại, khi bạn khéo léo làm đẹp diện mạo cho những người nổi tiếng, nghĩa là bạn đang cố gắng thay dổi nhận định vô thức của người xem về những gì thực tế hằng ngày – trong trường hợp này là cơ thể con người – và tạo ra một cảm giác khó chịu khi đời không như phim. Trong khi việc minh họa trung thực mang thêm niềm vui cho thế giới, thì minh họa không trung thực lại cố tình thuyết phục mọi người rằng thế giới của họ là một nơi tồi tàn và khốn khổ.
Tương tự, tôi đã nhận được khá nhiều tự thuật từ các nhân viên của tổng đài quảng cáo qua điện thoại. Không ai coi công việc của mình là nhảm nhí vì lý do điều kiện làm việc, mà lý do là công việc của họ liên quan đến chuyện lừa phỉnh hoặc gây áp lực cho người khác làm những việc không thực sự đem lại lợi ích cao nhất cho họ. Đây là một số ví dụ:
“Tôi đã làm qua một loạt các công việc vô nghĩa ở các tổng đài – bán những thứ mà mọi người không thực sự muốn/cần, nhận yêu cầu bảo hiểm, tiến hành các nghiên cứu thị trường vô nghĩa.”
“Đó là một cái bẫy, trước tiên họ đưa mồi nhử là cung cấp dịch vụ ‘miễn phí’, sau đó yêu cầu bạn trả 1,95 đô- la đăng ký dùng thử hai tuần, rồi tiếp theo là họ đăng ký tên bạn vào chế độ tự động gia hạn cho một dịch vụ hàng tháng với số tiền gấp mười lần con số 1,95 đô-la đó.”
“Nó không chỉ thiếu tích cực, mà thậm chí nó đem đến rất nhiều điều tiêu cực. Tôi đã gọi cho mọi người để lừa họ sử dụng những thứ vô dụng mà họ không cần đến. Cụ thể là chúng tôi mời họ xem ‘điểm tín dụng’ (credit score) với giá 6,99 bảng Anh một tháng (kèm một số tiện ích bổ sung), trong khi họ có thể nhận được thông tin này từ nơi khác hoàn toàn miễn phí.”
“Hầu hết các dịch vụ hỗ trợ của chúng tôi là các thao tác máy tính cơ bản mà khách hàng có thể dễ dàng tra trên Google. Tôi nghĩ họ nhắm đến những người già hoặc những người không đủ kiến thức.”
“Gần như toàn bộ nguồn lực của tổng đài chúng tôi dành để huấn luyện cho nhân viên cách nói chuyện với mọi người về những điều mà khách hàng không cần, thay vì giải quyết các vấn đề thực sự mà người ta gọi đến để hỏi.”
Vì vậy, một lần nữa, điều thực sự khó chịu là (1) tính lôi kéo và (2) sự lừa dối. Ở đây, tôi có thể nói từ kinh nghiệm cá nhân là người đã làm những công việc như vậy, mặc dù thường rất ít, rằng: Không có gì khó chịu bằng việc bị ép buộc đi ngược lại bản chất tốt đẹp của mình để cố gắng thuyết phục người khác làm những việc bất chấp lẽ thường. Tôi sẽ thảo luận về vấn đề này sâu hơn trong chương tiếp theo, về bạo lực tinh thần, nhưng bây giờ chúng ta chỉ lưu ý rằng đây là cốt lõi của việc trở thành một kẻ tay sai.
3. Nhóm vá víu
“Vá víu” là những công việc tồn tại chỉ vì một trục trặc hoặc lỗi trong tổ chức; người làm công việc vá víu nghĩa là họ ở đó để giải quyết một vấn đề mà đáng lý ra nó không nên tồn tại. Thuật ngữ này xuất phát từ ngành công nghiệp phần mềm, nhưng tôi nghĩ nó có tính ứng dụng chung. Một nhà phát triển phần mềm mô tả ngành công nghiệp đó như thế này:
Pablo: Về cơ bản, chúng tôi có hai loại công việc. Một loại bao gồm làm việc trên các công nghệ cốt lõi, giải quyết các vấn đề khó khăn và đầy thách thức,...
Loại còn lại là gom góp một loạt các công nghệ cốt lõi và dùng một số cách vá víu để các công nghệ ấy hoạt động được với nhau.
Loại đầu tiên thường được xem là hữu ích. Loại thứ hai thường được xem là ít hữu ích hoặc thậm chí vô dụng, và trong mọi trường hợp nó cũng ít làm người ta hài lòng hơn so với loại thứ nhất. Cảm giác này có lẽ dựa trên nhận định rằng nếu các công nghệ cốt lõi được thực hiện đúng cách, thì sẽ không cần hoặc cần rất ít sự vá víu như thế.
Ý chính của Pablo là, khi sự phụ thuộc vào các phần mềm miễn phí ngày càng tăng thì loại công việc được trả lương ngày càng giảm xuống thành loại công việc vá víu. Các lập trình viên thường rất vui khi thức khuya, làm việc miễn phí để sáng tạo những thứ thú vị và bổ ích trên các công nghệ cốt lõi, nhưng điều đó có nghĩa là họ ngày càng ít có động lực để suy nghĩ xem những sáng tạo như vậy cuối cùng sẽ tương thích với nhau như thế nào. Nói cho dễ hiểu, anh chàng lập trình viên sẵn sàng thức đêm, làm việc không công để sáng tạo những tính năng mới cho công nghệ mà anh ta nghĩ là thú vị và hữu ích. Sau đó, anh biến công việc ăn lương vào ban ngày của mình thành thứ công việc tẻ nhạt – làm cho các sáng tạo công nghệ (được anh làm vào ban đêm) tương thích với nhau. Đây là một cái nhìn sâu sắc rất quan trọng và tôi sẽ thảo luận về một số ý nghĩa của nó sau này; còn bây giờ, chúng ta chỉ cần xem xét khái niệm về công việc vá víu.
Dọn dẹp là một công việc cần thiết: Mọi thứ bị bám bụi ngay cả khi chúng chỉ ở yên một chỗ, và các hoạt động sống vẫn có xu hướng để lại những thứ cần được dọn dẹp. Nhưng dọn dẹp sau khi một người vô cớ gây ra một mớ hỗn độn hoàn toàn không cần thiết lại luôn gây khó chịu. Tạo ra một công việc dọn dẹp toàn thời gian kiểu như vậy thì chỉ có thể gây oán hận. Ngay cả Sigmund Freud cũng đã nói về chứng “loạn thần kinh của người nội trợ” (housewife’s neurosis) là một chứng bệnh mà ông tin rằng nó ảnh hưởng đến những phụ nữ bị buộc phải dẹp bỏ sự nghiệp riêng để dọn dẹp cho người khác, và vì thế người phụ nữ trở nên quá khích trong chuyện vệ sinh gia đình, như một hình thức trả thù. Đây thường là nỗi đau đớn về mặt tinh thần của người làm công việc vá víu: Họ buộc phải sắp xếp cuộc sống của một người khác theo một giá trị nhất định (ví dụ như sạch sẽ) bởi vì những người có vai trò quan trọng hơn lại có thể là kiểu người bất cẩn.
Ví dụ rõ ràng nhất về công việc vá víu là những người dưới quyền phải làm các việc chỉnh sửa lại những thiệt hại do cấp trên gây ra do cẩu thả hoặc không đủ năng lực.
Magda: Tôi từng làm việc cho một doanh nghiệp quy mô nhỏ với chức danh “Người kiểm tra lỗi”. Tôi được yêu cầu phải đọc lại và kiểm tra lỗi trong các báo cáo nghiên cứu được viết bởi một nhà nghiên cứu thống kê siêu sao của công ty.
Anh chàng chuyên gia này không biết gì về thống kê, và phải vật vã để viết ra câu cú đúng ngữ pháp. Anh ta có xu hướng tránh sử dụng động từ. Anh ta tệ đến mức tôi có thể tự thưởng cho mình một chiếc bánh nếu tìm thấy một đoạn văn mạch lạc trong báo cáo của anh ta. Tôi đã sụt hơn 5kg khi làm việc ở công ty này. Việc của tôi là thuyết phục anh ấy viết lại một lượng lớn báo cáo mà anh ta đã tạo ra. Tất nhiên, anh ta không bao giờ đồng ý sửa lại bất cứ thứ gì nên cuối cùng tôi vẫn phải mang các báo cáo đó đến gặp các lãnh đạo công ty. Họ cũng mù thống kê luôn, nhưng vì là cấp lãnh đạo nên họ có thể bôi thêm đủ thứ vào đó.
Dường như có hẳn một thể loại công việc liên quan đến việc sửa chữa các thiệt hại do cấp trên không có năng lực gây ra. (Điều này có đôi chút trùng lặp với loại công việc làm nền, trong đó người ta phải thực hiện công việc thay cho cấp lãnh đạo, nhưng nó không hoàn toàn giống như vậy). Đây là một ví dụ khác: Một lập trình viên làm việc cho một công ty do một nhà tâm lý học người Áo điều hành, người này tự cho mình là một nhà cách mạng khoa học kiểu cũ và đã phát minh ra cái mà trong công ty gọi là “Thuật toán”. Thuật toán này nhằm tái tạo lời nói của con người. Công ty đã bán nó cho các dược sĩ để sử dụng trên trang web của họ. Trừ một vấn đề, nó không chạy.
Nouri: Nhà sáng lập “thiên tài” của công ty tôi là một nhà nghiên cứu tâm lý người Áo, ông ta cho rằng mình đã khám phá ra Thuật toán. Suốt nhiều tháng trời tôi không hề được phép nhìn thấy cái Thuật toán đó. Tôi chỉ việc viết chương trình sử dụng nó.
Đoạn mã của nhà tâm lý không đưa ra được một kết quả có ý nghĩa nào cả. Một vòng lặp điển hình là:
● Tôi chạy thử đoạn mã của ông ta trên một câu nói đơn giản đến nực cười.
● Ông ta lập tức có biểu hiện suy tư: “Ồ... thật kỳ lạ...”, cứ như tôi vừa khám phá ra vết xước siêu nhỏ trên tấm kính lớn.
● Ông ta biến vào cái hốc của mình.
● Ông ta xuất hiện trở lại đầy hào hứng – lỗi đã được sửa.
● Quay trở lại bước một.
Cuối cùng, lập trình viên này đã hạ mức độ công việc của anh xuống thành viết các đoạn mã Eliza rất thô sơ có từ cuối những năm 1960 để giả lập lời nói cho các trang web, mục đích chỉ để che giấu sự thật rằng “Thuật toán”, về cơ bản, là vô nghĩa. Và công ty đó, hóa ra, là một tổ chức phù phiếm được điều hành bởi CEO từng là quản lý một phòng tập thể dục.
Rất nhiều kiểu công việc vá víu là hậu quả từ một lỗ hổng trong hệ thống mà không ai buồn sửa – những nhiệm vụ hoàn toàn có thể được tự động hóa nhưng cuối cùng không được làm vì không ai buồn ngó đến hoặc vì người sếp muốn duy trì càng nhiều nhân viên cấp dưới càng tốt, hoặc vì một số nhầm lẫn trong cấu trúc tổ chức, mà cũng có thể là sự kết hợp của cả ba yếu tố này. Tôi có rất nhiều lời chứng minh cho chuyện đó. Sau đây là hai ví dụ:
“Công việc của tôi là photocopy hồ sơ sức khỏe các cựu chiến binh trong bảy tiếng rưỡi mỗi ngày... Mọi nhân viên được nhắc đi nhắc lại rằng mua máy móc để số hóa là quá tốn kém.”
“Tôi được giao một nhiệm vụ là kiểm tra một hộp thư để nhận các email dưới dạng một biểu mẫu nhất định từ các nhân viên trong công ty gửi đến để yêu cầu trợ giúp kỹ thuật, rồi tôi sao chép và dán nó vào một biểu mẫu khác.”
Ở mức độ xã hội, công việc vá víu thường là việc của phụ nữ. Trong suốt lịch sử, cánh đàn ông nổi bật đã quên mất một nửa thế giới còn lại, gây nên vô số bức xúc – cụ thể là với vợ, chị gái, mẹ hoặc con gái của họ, những người có trách nhiệm thực hiện việc xoa dịu sự tự cao, làm dịu thần kinh và đàm phán tìm giải pháp cho các vấn đề mà đàn ông gây ra. Theo một ý nghĩa vật chất hơn thì công việc vá víu có thể được xem là chức năng của tầng lớp lao động. Kiến trúc sư có thể đưa ra một thiết kế tuyệt đẹp trên giấy, nhưng chính thợ xây dựng mới là người tìm cách lắp đặt ổ cắm điện trong căn phòng hình tròn hoặc sử dụng cách nào đó để vá víu mọi thứ lại với nhau giống như mô tả trong thiết kế, trong khi những thứ ấy thực tế vốn không dễ gắn lại với nhau.
Trong trường hợp vừa nêu, chúng ta không thực sự nói công việc của người thợ xây là nhảm nhí. Lý do là, sẽ luôn có một khoảng cách nhất định giữa các bản thiết kế, kế hoạch với việc thực hiện chúng trong thực tế; do đó, sẽ luôn cần một người có trách nhiệm thực hiện các điều chỉnh cần thiết. Điều làm cho việc này trở nên nhảm nhí là khi bản vẽ thiết kế rõ ràng là không khả thi và bất kỳ kiến trúc sư tài năng nào cũng biết điều đó; khi hệ thống được thiết kế một cách ngu ngốc đến nỗi nó sẽ thất bại theo những cách hoàn toàn có thể dự đoán được, nhưng thay vì khắc phục sự cố, người ta lại thích thuê nhân viên toàn thời gian để xử lý các thiệt hại. Nó như kiểu người chủ nhà phát hiện mái bị dột, ông ta nghĩ rằng thuê một người thợ để lợp lại mái thì quá tốn kém, nên ông ta đã đặt một cái xô bên dưới và thuê một người có nhiệm vụ là lâu lâu đổ nước trong xô đi.
Không cần phải nói rằng những người làm công việc vá víu hầu như luôn nhận thức được rằng họ có một công việc vô nghĩa và thường khá tức giận về nó.
Tôi đã gặp một ví dụ kinh điển về công việc vá víu trong khi làm giảng viên tại một trường đại học nổi tiếng ở Anh. Một ngày nọ, kệ sách trên tường trong văn phòng của tôi bị sập, sách nằm rải rác khắp sàn nhà, và một khung kim loại bị trật ra treo lủng lẳng trên bàn của tôi. Một giờ sau, một thợ mộc đến để kiểm tra thiệt hại nhưng rồi lập tức nghiêm trọng thông báo với tôi rằng, vì có sách nằm tung tóe trên sàn nhà nên các quy tắc an toàn không cho phép anh ta vào văn phòng hoặc có bất cứ hành động nào tiếp theo. Tôi sẽ phải thu dọn sách và không chạm vào bất cứ thứ gì khác, anh ta sẽ trở lại ngay khi sắp xếp được công việc để gỡ cái khung đang treo lơ lửng.
Tôi đã sắp xếp chồng sách lại theo đúng yêu cầu, nhưng người thợ mộc không bao giờ xuất hiện trở lại. Sau đó, hằng ngày, sẽ có một loạt các cuộc gọi từ Khoa Nhân chủng học đến Ban quản lý tòa nhà. Mỗi ngày, một người nào đó ở Khoa Nhân chủng học sẽ gọi điện, thường là gọi nhiều lần, để hỏi về hành tung của người thợ mộc, người luôn tỏ ra có điều gì đó cực kỳ cấp bách phải làm. Một tuần trôi qua, tôi phải làm việc trên sàn nhà, trong một cái ổ nhỏ ghép từ mấy cuốn sách rơi xuống, rồi có một người của Ban quản lý tòa nhà đến văn phòng của tôi và làm đúng một việc là xin lỗi vì sự thật rằng người thợ mộc đã không đến. Anh này có vẻ là người dễ thương, cực kỳ lịch sự, điềm tĩnh, luôn phảng phất một chút u sầu, nên trông anh ta khá phù hợp với công việc. Tuy nhiên, thật khó để tưởng tượng là anh ấy lại hạnh phúc với lựa chọn nghề nghiệp của mình. Mà trên hết, có vẻ như không có lý do rõ ràng để giải thích tại sao trường không thể đơn giản là cho anh ta nghỉ việc và sử dụng số tiền đó để thuê thêm một thợ mộc khác, và như thế thì công việc của anh ta sẽ không còn cần thiết nữa.
4. Nhóm làm màu
Tôi sử dụng từ “làm màu” để nói về các lao động chỉ tồn tại để tổ chức có thể tuyên bố rằng họ đang làm một việc gì đó mà trên thực tế thì họ không làm gì cả. Lời chứng sau đây là từ một phụ nữ làm công việc điều phối các hoạt động giải trí trong một trung tâm điều dưỡng:
Betsy: Chủ yếu công việc của tôi là phỏng vấn cư dân rồi điền vào mẫu phiếu liệt kê sở thích của họ. Các phiếu này sau đó sẽ được nhập vào máy tính và bị lãng quên mãi mãi. Riêng mẫu phiếu giấy thì vì một lý do nào đó vẫn được lưu giữ lại. Đối với sếp tôi thì hoàn thành các tờ phiếu là phần quan trọng nhất trong công việc, và tôi sẽ gặp rắc rối to nếu làm chậm. Rất nhiều lần, tôi hoàn thành một mẫu phiếu cho một cư dân lưu trú ngắn hạn, và họ rời đi ngay ngày hôm sau. Tôi đã bỏ đi hàng núi giấy. Các cuộc phỏng vấn hầu hết chỉ khiến cư dân khó chịu, vì họ biết đó chỉ là giấy tờ nhảm nhí, và không ai quan tâm đến sở thích cá nhân của họ.
Điều khốn khổ nhất đối với kiểu công việc làm màu là nhân viên thường nhận thức rõ công việc của họ không chỉ không hướng đến mục đích bề ngoài của nó mà còn phá hoại cái mục đích đó nữa, bởi vì nó chiếm mất thời gian và nguồn lực để thực hiện mục đích này. Như ở đây, Betsy nhận thức được rằng thời gian cô dành cho việc xử lý các mẫu phiếu về sở thích giải trí của cư dân đã lấy mất thời gian mà cô có thể giúp họ giải trí thực sự. Cô đã xoay xở để tham gia vào một số hoạt động giải trí với cư dân (“May mắn thay, tôi đã có thể chơi piano cho mọi người nghe mỗi ngày trước bữa tối, và đó là khoảng thời gian đẹp, với tiếng hát, nụ cười và nước mắt”). Nhưng như thường lệ, trong những tình huống như vậy, cô có cảm giác rằng những khoảnh khắc này là đặc quyền mà người ta trao cho cô như phần thưởng cho việc thực hiện các nhiệm vụ chính của mình, bao gồm việc điền vào và xử lý đúng các mẫu phiếu.
Tất cả chúng ta đều quen thuộc với việc “làm màu” qua nhiều hoạt động xã hội. Nếu một nhân viên bị bắt quả tang làm điều gì đó rất tệ – ví dụ như nhận hối lộ – thì phản ứng đầu tiên là họ sẽ lập một “ủy ban tìm kiếm sự thật” để đi đến tận cùng của vấn đề. Điều này phục vụ hai mục đích: Trước hết, đó là một cách để khẳng định rằng, ngoài một nhóm nhỏ có hành vi sai trái thì không ai khác có thể ngờ rằng chuyện này lại xảy ra (tất nhiên, điều này hiếm khi đúng); thứ hai, đó là một cách ngụ ý rằng, một khi tất cả các sự kiện được làm sáng tỏ thì chắc chắn sẽ có ai đó làm gì đó với nó (chuyện này cũng hiếm khi đúng luôn), “ủy ban tìm kiếm sự thật” chính là thứ để “làm màu” với mọi người rằng tổ chức đó đang thực sự quan tâm giải quyết vấn đề. Các tập đoàn lớn cũng có cách hành xử y như vậy nếu như họ bị tố cáo là sử dụng nô lệ hoặc lao động trẻ em hoặc xả chất thải độc hại.
Tôi nhớ rất rõ những cuộc thảo luận bất tận xảy ra hồi tôi còn là giáo sư tại Đại học Yale. Khi đó, một nữ sinh viên ngành khảo cổ học có chồng chết trong một vụ tai nạn xe hơi ngay ngày đầu tiên của học kỳ. Vì vài lý do, cú sốc khiến cô mắc một chứng rối loạn tâm thần về việc thực hiện thủ tục giấy tờ. Cô vẫn tham dự các bài giảng và nhiệt tình tham gia các buổi thảo luận trên lớp; và bài luận của cô đạt điểm xuất sắc. Nhưng cuối cùng, giáo sư phát hiện ra cô ấy chưa hề chính thức đăng ký học ở lớp mình.
Trong các cuộc họp của khoa, những người nắm quyền lực tối thượng của khoa nói rằng đây là chuyện nghiêm trọng: “Như những người trong bộ phận Đăng ký có nói, nếu bạn không nộp đơn đúng hạn thì nghĩa là bạn đã không tham gia khóa học. Vì vậy, việc bạn có học giỏi cũng chẳng liên quan gì”. Các giáo sư khác chỉ lẩm bẩm và làm bộ tranh luận lại, thỉnh thoảng có những lời lẽ ám chỉ đến bi kịch cá nhân của cô ấy – mà cũng không ai nắm rõ cụ thể tình hình (tôi biết về chuyện của cô nhờ hỏi thăm các sinh viên khác). Không ai buồn đưa ra lời tranh luận nào đối với thái độ của bộ phận Đăng ký, không ai nói gì về việc cho phép cô ấy làm đơn giải trình và nộp đơn đăng ký học trễ, và vị trưởng khoa thì giải thích dông dài rằng cô ấy đã khiến mọi việc trở nên khó khăn hơn. Cuối cùng, cô ấy đã bị đuổi học với lý do: Bất kỳ ai không có khả năng xử lý giấy tờ thì rõ ràng cũng không phù hợp để làm công việc học thuật.
Tâm lý này dường như đang tăng lên khi các cơ quan chức năng của chính phủ được tổ chức giống như một doanh nghiệp và công dân được định nghĩa là “khách hàng”. Mark là một chuyên viên cao cấp về hiệu suất và chất lượng trong một hội đồng địa phương tại Vương quốc Anh. Anh mô tả cách làm việc của chính quyền địa phương như một chuỗi các nghi thức làm màu vô tận xoay quanh các “mục tiêu hằng tháng”. Đó là những việc như dán áp phích trong văn phòng và thực hiện đánh giá công việc bằng cách mã hóa màu xanh lá cây cho “có cải thiện”, màu hổ phách cho “ổn định” và màu đỏ cho “sa sút”. Mỗi tháng, người nào có nhiều mã màu xanh lá cây sẽ được khen thưởng, còn ai có màu đỏ sẽ được yêu cầu làm việc tốt hơn. Hầu như những chuyện này chẳng có bất kỳ tác động gì lên chất lượng công việc.
Nếu tầm quan trọng của người quản lý được đo lường bằng việc có bao nhiêu người làm việc dưới quyền anh ta, thì biểu hiện cho sức mạnh và uy tín của một người nằm ở chất lượng hình ảnh trong các bài thuyết trình và báo cáo của anh ta. Các cuộc họp có những hiện tượng như vậy có thể được xem là nghi thức cao cấp của giới doanh nghiệp. Nếu một lãnh chúa phong kiến có một đoàn tùy tùng bao gồm những người hầu có nhiệm vụ duy nhất là đánh bóng yên ngựa hoặc tỉa ria mép cho ông ta, thì các giám đốc điều hành ngày nay duy trì nhân viên nhằm mục đích chủ yếu là chuẩn bị các bài thuyết trình PowerPoint hoặc tạo ra các sơ đồ, hình ảnh động, hình minh họa... cho báo cáo của họ. Nhiều báo cáo trong số này không khác gì đạo cụ sân khấu – nghĩa là không ai thực sự đọc chúng. Nhưng điều này không ngăn cản các giám đốc điều hành vui vẻ bỏ ra một nửa quỹ lương hằng năm của công ty chỉ để có thể nói: “Thành công rồi, chúng tôi đã đưa ra một báo cáo về điều đó”.
Hannibal: Tôi làm tư vấn kỹ thuật số cho bộ phận tiếp thị của các công ty dược phẩm toàn cầu. Tôi thường xuyên làm việc với các công ty PR và viết các báo cáo với tiêu đề kiểu Làm thế nào để tăng tương tác giữa các đối tác quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe kỹ thuật số. Nó là thứ thuần túy nhảm nhí và không phục vụ mục đích nào ngoài việc làm màu cho bộ phận tiếp thị, nhưng rất dễ thu của khách hàng số tiền lớn chỉ để viết một báo cáo nhảm nhí. Gần đây, tôi đã tính phí khoảng mười hai nghìn bảng cho việc viết một báo cáo dài hai trang cho một khách hàng là công ty dược phẩm, họ tính dùng bản báo cáo này để trình bày trong một cuộc họp chiến lược toàn cầu. Cuối cùng, bản báo cáo không được sử dụng bởi vì họ không có đủ thời gian nhưng họ vẫn rất hài lòng về nó.
Có hẳn các ngành kinh doanh nho nhỏ, tồn tại chỉ để tạo điều kiện cho các công việc làm màu như vậy. Tôi đã làm việc vài năm tại Phòng cho mượn sách liên thư viện thuộc Thư viện Khoa học của Đại học Chicago. Ở đó, ít nhất 90% công việc mà mọi người làm là sao chụp và gửi các bài báo trong các tạp chí y khoa như Tạp chí Sinh học Tế bào, Nội tiết Lâm sàng hay Tạp chí Nội khoa Hoa Kỳ. (Tôi may mắn hơn khi được giao những việc khác). Trong vài tháng đầu tiên, tôi có suy nghĩ rất ngây thơ rằng những bài báo này được gửi đến các bác sĩ. Cuối cùng, một đồng nghiệp giải thích cho tôi rằng chúng được gửi đến các luật sư. Rõ ràng, nếu bạn đang kiện một bác sĩ vì sơ suất trong công việc, thì một phần của quá trình kiện tụng là tập hợp một đống bài báo khoa học để đặt xuống bàn một cách ấn tượng, tại một thời điểm thích hợp, và sau đó đưa ra bằng chứng. Mặc dù mọi người đều biết rằng sẽ không có ai thực sự đọc mấy bài báo khoa học này, nhưng luôn có khả năng là luật sư biện hộ hoặc một trong những nhân chứng chuyên gia của anh ta có thể lấy ngẫu nhiên một tờ để kiểm tra – vì vậy, điều quan trọng là đảm bảo trợ lý pháp lý của bạn chuẩn bị sẵn các bài báo có tiêu đề phù hợp theo một cách nào đó với nội dung vụ án.
Nhiều tập đoàn lớn duy trì các tạp chí nội bộ của riêng họ hoặc thậm chí có kênh truyền hình riêng. Mục đích bên ngoài là để cho nhân viên được cập nhật tin tức, nhưng trên thực tế, lý do duy nhất để chúng tồn tại là giúp các cấp điều hành trải nghiệm cảm giác ấm áp, dễ chịu khi thấy một câu chuyện hay ho về mình trên phương tiện truyền thông, hoặc biết cái cảm giác được phỏng vấn bởi những người có vẻ ngoài và hành động giống hệt phóng viên nhưng được bảo đảm là không bao giờ bị đặt câu hỏi không mong muốn. Những tập đoàn như vậy có xu hướng trả lương cho các biên kịch, nhà sản xuất và kỹ thuật viên của họ rất cao, thường ở mức gấp hai hoặc ba lần so với giá thị trường. Tuy vậy, tôi chưa bao giờ nói chuyện với bất cứ ai làm công việc này toàn thời gian mà không nói rằng công việc của mình thật nhảm nhí.
5. Nhóm vẽ chuyện
“Vẽ chuyện” có thể chia làm hai nhóm nhỏ nữa. Loại 1 gồm những người có vai trò thuần túy là giao việc cho người khác. Công việc này có thể bị coi là nhảm nhí nếu bản thân người đó tin rằng không cần sự can thiệp của mình thì cấp dưới vẫn hoàn toàn có khả năng tự tiếp tục công việc. Do đó, người vẽ chuyện loại 1 có thể được coi là có liên quan với những người làm nền: Vẽ chuyện là cấp trên không cần thiết, làm nền là cấp dưới không cần thiết.
Trong khi người vẽ chuyện loại 1 chủ yếu là vô dụng thì loại 2 mới thực sự gây hại. Vai trò chính của người vẽ chuyện loại 2 là tạo ra việc vô nghĩa cho người khác làm, giám sát những chuyện nhảm nhí hoặc thậm chí tạo ra những công việc vô nghĩa hoàn toàn mới mẻ. Ta có thể gọi họ là máy phát việc vô nghĩa cũng được. Người vẽ chuyện loại 2 cũng có thể có những nhiệm vụ thực sự bên cạnh vai trò vẽ việc. Tuy nhiên, nếu tất cả hoặc hầu hết những gì họ làm là tạo ra việc vô nghĩa cho người khác thì công việc họ cũng có thể được xếp vào công việc vô nghĩa.
Như bạn cũng có thể thấy, rất khó để có được lời thú nhận từ nhóm người vẽ chuyện. Ngay cả khi họ thầm nghĩ rằng công việc của mình là vô ích thì cũng rất ít người chịu thừa nhận như vậy. May thay, tôi cũng tìm được một số ít những người muốn được thanh thản lương tâm. Ben, một quản lý cấp trung, là đại diện tiêu biểu cho người vẽ chuyện loại 1:
Ben: Tôi có một công việc vô nghĩa, và nó là vị trí quản lý cấp trung. Mười người làm việc cho tôi, nhưng tôi có thể nói là tất cả bọn họ có thể làm việc mà không cần tôi giám sát. Chức năng duy nhất của tôi là giao việc cho họ làm, điều mà tôi cho rằng họ cũng có thể tự làm. (Tôi muốn nói thêm rằng trong rất nhiều trường hợp, công việc được giao là sản phẩm của những người quản lý các công việc vô nghĩa khác, điều đó khiến công việc của tôi nhảm nhí gấp đôi).
Tôi vừa được thăng chức, và tôi đã dành rất nhiều thời gian để nhìn xung quanh rồi tự hỏi mình cần phải làm những gì. Cách tốt nhất mà tôi có thể nghĩ được là động viên nhân viên của mình. Nhưng có cố gắng cách mấy thì tôi cũng không thể nghĩ cho được, rằng mình nhận lương là để làm mấy chuyện như vậy!
Ben tính toán anh ta dành ít nhất 75% thời gian để phân công công việc và sau đó là theo dõi xem liệu cấp dưới có thực hiện công việc được giao hay không, mặc dù anh khẳng định mình hoàn toàn không có lý do gì để tin rằng cấp dưới sẽ cư xử khác đi nếu không có anh ở đấy. Anh cũng nói mình liên tục cố gắng dùng mưu mẹo để phân bổ những công việc thực thụ cho mình, nhưng khi làm vậy, cấp trên của anh đã để ý đến và buộc anh phải cắt bỏ nó. Nhưng cần chú ý rằng khi Ben gửi lời chứng thực cho tôi thì anh chỉ mới làm việc được hai tháng rưỡi – điều này có thể giải thích cho sự công tâm của anh. Nếu cuối cùng anh ta chịu thua và chấp nhận vai trò mới của mình trong cuộc sống, Ben sẽ hiểu rằng – như lời của một người khác gửi cho tôi: “Toàn bộ công việc của quản lý cấp trung là đảm bảo cấp dưới đạt được ‘chỉ số năng suất’ của họ”. Và từ đó, anh ta sẽ bắt đầu đưa ra các số liệu thống kê đo lường chính thức để cấp dưới có thể làm sai lệch đi.
Bị buộc phải giám sát những người không cần giám sát, thực sự là một lời than phiền khá phổ biến. Ví dụ, đây là bằng chứng từ Alphonso, một Trợ lý quản lý khu vực:
Alphonso: Công việc của tôi là giám sát và điều phối một nhóm gồm năm dịch giả. vấn đề là nhóm hoàn toàn có khả năng tự quản lý công việc của mình: Họ đều đã được đào tạo về tất cả các công cụ cần sử dụng và tất nhiên họ có thể quản lý thời gian và nhiệm vụ của mình. Vì vậy, thường là tôi làm việc như một người “canh chừng nhiệm vụ”. Tôi nhận yêu cầu thông qua Jira (một công cụ hành chính trực tuyến để quản lý công việc) và tôi chuyển yêu cầu đó cho người có liên quan. Ngoài ra, tôi còn chịu trách nhiệm gửi các báo cáo định kỳ cho người quản lý của mình, rồi quản lý của tôi sẽ kết hợp chúng vào “các báo cáo quan trọng hơn” để gửi cho CEO.
Kiểu kết hợp giữa vẽ chuyện và làm màu này dường như là bản chất của quản lý cấp trung. Trong trường hợp của Alphonso, anh thực sự có một vai trò hữu ích – đó là bởi vì nhóm dịch giả mà anh quản lý ở Ireland được văn phòng trung tâm ở Nhật giao cho rất ít công việc, nên anh phải liên tục tìm cách hoàn thiện các báo cáo để khiến cho họ có vẻ như rất bận rộn và không ai phải bị sa thải.
***
Giờ chúng ta hãy cùng chuyển sang loại người vẽ chuyện thứ hai: Những người tạo ra việc vô nghĩa cho người khác làm.
Chúng ta có thể bắt đầu với Chloe, người giữ chức vụ hiệu trưởng chuyên môn tại một trường đại học nổi tiếng của Anh, với trách nhiệm cụ thể là mang lại “tinh thần lãnh đạo có tính chiến lược” cho các vấn đề khó khăn.
Ngày nay, nhiều giảng viên và học giả trong các trường đại học rất sợ hãi từ “chiến lược”. “Tuyên bố sứ mệnh chiến lược” (hay tệ hơn là “tài liệu tầm nhìn chiến lược”) thấm đẫm một nỗi kinh hoàng cụ thể, vì đây là những công cụ của kỹ thuật quản lý doanh nghiệp được đưa vào môi trường học thuật. Nó thiết lập các phương pháp định lượng để đánh giá hiệu quả hoạt động, buộc các giảng viên và học giả phải dành nhiều thời gian hơn để đánh giá và chứng minh những việc họ làm, và rồi họ càng có ít thời gian hơn để thực sự làm những việc đó. Nỗi e ngại tương tự cũng xảy ra đối với bất kỳ tài liệu nào sử dụng các từ “chất lượng”, “xuất sắc”, “kỹ năng lãnh đạo”, hoặc “các bên liên quan có thẩm quyền”. Vì vậy, về phần mình, khi tôi biết Chloe ở vị trí “lãnh đạo chiến lược” là lập tức tôi nghi ngờ rằng không chỉ công việc của cô ấy là nhảm nhí mà nó còn chủ động chèn thêm sự nhảm nhí vào cuộc sống của những người khác.
Theo lời thú nhận của Chloe thì mối nghi ngờ của tôi là đúng – dù nó cũng không hoàn toàn chính xác:
Chloe: Lý do mà vai trò hiệu trưởng chuyên môn của tôi là một công việc vô nghĩa là vì quyền lực và trách nhiệm thực sự trong một trường đại học nằm ở những người nắm dòng tiền. Người nào nắm giữ ngân sách thì có thể sử dụng tiền để vỗ về, ép buộc, khuyến khích, bắt nạt và đàm phán với các khoa về những gì họ có thể làm, nên làm hoặc muốn làm. Hiệu trưởng chuyên môn và các vị trí không hề nắm tiền trong tay, cũng không phải người điều hành, nên họ (cũng như tôi) chỉ có “sức mạnh từ sự thuyết phục và sức ảnh hưởng”.
Tôi không ngồi ở vị trí lãnh đạo trường đại học nên tôi không phải là một phần trong cuộc chiến về mục tiêu, chiến lược tổng thể, các biện pháp thực hiện, kiểm toán... Tôi không có ngân sách. Tôi không có thẩm quyền đối với các tòa nhà, thời gian biểu hoặc bất kỳ vấn đề điều hành nào khác. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra một chiến lược mới dựa trên các chiến lược đại học có sẵn và đã được thống nhất.
Vậy, vai trò chính của cô là đưa ra một tầm nhìn chiến lược khác, nhưng vì Chloe không có quyền lực thực sự nên việc làm của cô là vô nghĩa. Những gì cô ấy được nhận cũng giống như tất cả các quản trị viên đại học cấp cao ngày nay được nhận: Một đế chế nhỏ bé gồm các nhân viên hành chính dưới quyền, được dành riêng cho cô.
Chloe: Tôi được bố trí cho một người có vai trò tương tự trợ lý riêng, một người là “Chuyên viên hỗ trợ chính sách và dự án đặc biệt”, một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, cộng với một khoản chi phí trợ cấp hai mươi nghìn bảng Anh. Nói cách khác, cả một núi tiền (công) được chi cho những việc vô nghĩa. Chuyên viên hỗ trợ chính sách và dự án đặc biệt là để giúp tôi thực hiện các dự án và chính sách. Người trợ lý riêng thì rất tuyệt vời nhưng cuối cùng chỉ lo đặt vé du lịch và cập nhật nhật ký. Người nghiên cứu sinh là một sự lãng phí cả tiền bạc lẫn thời gian vì tôi nghiên cứu một mình và thực sự không cần phụ tá.
Vậy là tôi đã dành mất hai năm của cuộc đời để bịa ra việc cho mình và cho người khác.
Thật ra, Chloe có vẻ là một người sếp hào phóng. Khi cô dành thời gian của mình để phát triển các chiến lược mà cô biết sẽ bị bỏ qua, thì người chuyên viên đã “luôn bận rộn thu thập số liệu thống kê hữu ích”, người trợ lý thì luôn cập nhật nhật ký cho cô, còn người nghiên cứu sinh dành thời gian để tự thực hiện các nghiên cứu cá nhân của mình. Bản thân các việc này hoàn toàn vô hại vì ít ra không ai trong số họ làm gì có hại. Biết đâu người nghiên cứu sinh có thể cuối cùng lại tìm ra được một kết quả có đóng góp quan trọng cho loài người từ nghiên cứu cá nhân của mình thì sao? Điều đáng lo ngại về toàn bộ sự sắp xếp này, theo Chloe, là cô nhận thức rằng nếu mình thực sự có quyền hành, thì có thể cô đã gây hại. Bởi vì sau hai năm làm hiệu trưởng chuyên môn, cô chưa đủ khôn ngoan nên tiếp tục nhận lời làm trưởng khoa cho bộ môn cũ của cô, và do đó cô có điều kiện để nhìn vấn đề từ góc nhìn ngược lại – rồi sáu tháng sau cô bỏ việc trong sự kinh hoàng và ghê tởm.
Chloe: Thời gian ngắn ngủi của tôi khi làm trưởng khoa nhắc nhở tôi rằng ít nhất 90% công việc ở vị trí đó là nhảm nhí. Tôi phải điền vào các mẫu đơn mà Hiệu trưởng chuyên môn gửi đến để cô ấy có thể viết các tài liệu chiến lược của mình và nộp lên cấp cao hơn; viết một núi giấy tờ để kiểm tra và giám sát các hoạt động nghiên cứu giảng dạy. Tôi lập kế hoạch để thực hiện kế hoạch được lập từ kế hoạch năm năm, giải thích tại sao khoa cần phải có số tiền và số lượng nhân viên mà khoa đã có. Tôi còn làm các đánh giá hằng năm khốn kiếp, đề rồi chúng sẽ bị vứt vào một ngăn kéo nào đó và không bao giờ được nhìn lại. Và, để hoàn thành các nhiệm vụ này, ở vị trí trưởng khoa, tôi phải yêu cầu nhân viên giúp đỡ. Nhảm nhí lại sinh sôi.
Vậy tôi nghĩ gì ư? Khi tích hợp chủ nghĩa hình thức vào tổ chức, bạn khiến toàn bộ nhân viên có trình độ cao chỉ làm nhiệm vụ duy nhất là giữ cho các bánh xe quản lý quay đều – chiến lược, mục tiêu hiệu quả, kiểm soát, đánh giá, chiến lược đổi mới... Nó hoàn toàn không liên quan gì đến nhiệm vụ trọng yếu thực sự của các trường đại học: giảng dạy và giáo dục.
Ít ra, Chloe đã được bố trí cho các nhân viên và cô chỉ phải tìm cách để giữ cho họ bận rộn. Tania, người đã trải qua một loạt các công việc vẽ chuyện trong cả khu vực công lẫn tư, còn giúp chúng ta giải thích được cách xuất hiện của các công việc vô nghĩa hoàn toàn mới mẻ. Lời chứng thực của Tania rất độc đáo bởi vì nó kết hợp các loại việc vô nghĩa mà chương này đề cập đến.
Tania: Tôi có thể là kiểu người vẽ chuyện trong phân loại công việc vô nghĩa của anh. Tôi là một trong hai phó giám đốc của một văn phòng dịch vụ hành chính, chúng tôi quản lý nhân sự, ngân sách, tiền tài trợ, hợp đồng và việc đi lại cho hai chi nhánh với tổng số vốn là 600 triệu đô-la và 1.000 nhân sự.
Hầu hết thời gian, các nhu cầu mà tôi cố gắng đáp ứng chính là tuyển người làm màu hay vá víu; thuê người tay sai, làm nền theo tiêu chuẩn đã được phân bổ cho họ.
Lý do tôi cần người vá víu là vì tôi phải bù đắp lỗ hổng trong các hệ thống quản lý hoạt động yếu kém. Đặc biệt, trong một số trường hợp, tôi cần người vá víu để bù đắp cho một nhân viên làm việc không-nhảm-nhí, nhưng người đó có hiệu quả công việc kém, lại có thâm niên hai mươi lăm năm và được một loạt các ông sếp trước đó đánh giá là xuất sắc.
Điều cuối cùng là rất quan trọng. Ngay cả trong môi trường doanh nghiệp tư nhân thì cũng rất khó để loại bỏ một nhân viên cấp dưới với lý do không đủ năng lực, nếu nhân viên đó có thâm niên và một lịch sử lâu dài được đánh giá là làm việc tốt. Như trong các cơ quan chính phủ, cách dễ nhất để đối phó với những người như vậy là “đá quả bóng lên trên”, thăng họ lên một vị trí cao hơn, nơi họ trở thành “cục nợ” của người khác. Nhưng Tania đã ở trên đỉnh nấc thang này rồi, nên một kẻ bất tài sẽ tiếp tục là món nợ của cô dù cô có thăng chức cho anh ta đi nữa. Cô chỉ có hai lựa chọn: (1) cô thuyên chuyển kẻ bất tài đến một vị trí nhảm nhí, nơi anh ta không có trách nhiệm cụ thể nào, hoặc (2) nếu không có vị trí nào như vậy thì cô cứ để anh ta ở đây và thuê người khác để làm công việc của anh ta. Nhưng nếu chọn cách thứ hai, một vấn đề khác sẽ nảy sinh: Bạn không thể tuyển dụng ai đó vào vị trí của người không đủ năng lực kia, vì trên thực tế người bất tài này vẫn đang “sở hữu” công việc đó. Thế là để hợp thức hóa việc tuyển dụng người, bạn phải tạo ra một công việc hoàn toàn mới mẻ với một mô tả công việc phức tạp mà bạn biết là nhảm nhí, rồi bạn làm đủ chuyện để giả vờ rằng người mới rất phù hợp để thực hiện cái công việc vô nghĩa được bịa ra kia (mặc dù bạn đâu có muốn họ làm cái việc vô nghĩa ấy). Sau đó, bạn có lý do chính đáng để tuyển người mới vào và giao cho họ làm công việc của cái người nhân viên bất tài nhưng có thâm niên kia. Toàn bộ việc thật sự rất công phu.
Tania: Trong các tổ chức có phân loại công việc theo cấu trúc và mô tả vị trí, bạn chỉ được tuyển dụng người dựa trên bảng mô tả công việc đã được lập.
Vì vậy, việc tạo ra một công việc vô nghĩa thường liên quan đến việc tạo ra cả một vũ trụ những lời nhảm nhí nhằm ghi lại mục đích và chức năng của vị trí cũng như trình độ cần thiết để thực hiện tốt công việc. Những lời này cũng cần tương ứng với định dạng và văn phong được quy định bởi phòng quản lý nhân sự và nhân viên phụ trách nhân sự của công ty.
Một khi điều đó đã xong, tôi phải đăng thông báo tuyển dụng theo hình thức đã được định sẵn. Để đủ điều kiện ứng tuyển, ứng viên phải trình bày sơ yếu lý lịch có kết hợp tất cả các chủ đề và cụm từ trong thông báo tuyển dụng để phần mềm tuyển dụng mà cơ quan chúng tôi sử dụng nhận diện được trình độ chuyên môn của họ. Sau khi người này được thuê, nhiệm vụ của họ phải được mô tả rõ ràng trong một tài liệu khác nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả công việc hằng năm.
Tôi đã phải tự mình viết lại hồ sơ của các ứng cử viên nhằm đảm bảo rằng họ sẽ vượt qua được cửa ải phần mềm tuyển dụng, nhờ đó tôi có thể được phép phỏng vấn và tuyển dụng họ. Nếu họ không thể vượt qua vòng máy tính, tôi không thể cân nhắc đến họ.
Hãy xem xét một phiên bản ngụ ngôn để giúp bạn dễ hiểu hơn: Một lần nữa, bạn hãy tưởng tượng mình là một lãnh chúa phong kiến. Bạn có một người làm vườn. Sau hai mươi năm làm việc rất trung thành, người làm vườn mắc chứng nghiện rượu nghiêm trọng. Bạn liên tục thấy anh ta ngủ quên trong khi cỏ dại mọc khắp nơi và cây cối bắt đầu chết héo. Người làm vườn có mối quan hệ tốt, nếu đuổi việc anh ta thì bạn sẽ xúc phạm những người mà bạn cảm thấy là không nên xúc phạm. Vì vậy, bạn tuyển một người hầu mới, mục đích bề ngoài là đánh bóng tay nắm cửa hoặc thực hiện một số nhiệm vụ vô nghĩa khác, nhưng trên thực tế, bạn bảo đảm rằng người mà bạn tuyển vào là một thợ làm vườn thực sự có kinh nghiệm. Mọi chuyện khá ổn. Vấn đề ở đây là trong môi trường doanh nghiệp, bạn không thể chỉ đơn giản là tuyển một người hầu, phong cho anh ta một chức danh ấn tượng nào đó (“Trưởng ban quản trị cửa ra vào” chẳng hạn), rồi bảo anh ta rằng công việc thực sự của anh là làm vườn thay cho người làm vườn suốt ngày say khướt kia. Bạn phải đưa ra một mô tả giả mạo công phu về những gì mà một người đánh bóng tay nắm cửa sẽ làm; huấn luyện người làm vườn mới của bạn cách giả vờ anh ấy là người đánh bóng tay nắm cửa tốt nhất trong vương quốc; và sau đó sử dụng các mô tả công việc này làm cơ sở đánh giá hiệu quả công việc định kỳ.
Theo Tania, đây chỉ là một trong nhiều cách mà người vẽ chuyện tạo ra công việc vô nghĩa.
Các kiểu công việc vô nghĩa đa dạng phức tạp
Năm kiểu phân loại như trên chắc chắn chưa đầy đủ, và chúng ta vẫn có thể đề xuất thêm các loại mới. Một gợi ý phân loại hấp dẫn mà tôi được nghe là “người tạo phong trào” – người được thuê một cách phô trương để mang lại sự sôi động cho một môi trường công ty vô cảm, nhưng thực tế người này chủ yếu buộc mọi người phải tham gia các trò chơi giả tạo phức tạp.
Có những người lao động mà toàn bộ sự nghiệp của họ chỉ là mặc đồ hóa trang hoặc thiết kế những trò chơi ngớ ngẩn để tạo dựng mối quan hệ trong môi trường công sở, nơi mọi người có lẽ sẽ hạnh phúc hơn khi được ở một mình. Họ có thể được xem như là một loại làm màu, nhưng cũng có thể được coi là một kiểu riêng.
Như các ví dụ trước đây cho thấy, đôi khi ta cũng biết một công việc rõ là nhảm nhí nhưng vẫn khó xác định chính xác nó thuộc loại nào trong năm loại.
Thường thì công việc kiểu như vậy có vẻ trộn lẫn nhiều yếu tố của các loại. Một người làm màu cũng có thể là kẻ làm nền, hoặc cuối cùng có thể trở thành một người làm nền thuần túy nếu quy tắc nội bộ của tổ chức thay đổi; một người làm nền cũng có thể là một người vá víu bán thời gian hoặc trở thành người vá víu toàn thời gian nếu có vấn đề phát sinh và, thay vì sửa nó, ông chủ quyết định chỉ định một trong những tay sai nhàn rỗi của mình xử lý vấn đề. Hãy xem xét trường hợp của Chloe trong vai trò hiệu-trưởng-không-điều-hành. Theo một cách nào đó, cô ấy cũng là một người làm nền, vì vị trí của cô ấy được cấp lãnh đạo cao hơn tạo ra vì những lý do chủ yếu mang tính biểu tượng, nhưng cô cũng là một người vẽ chuyện cho cấp dưới. Vì cô ấy và cấp dưới không có nhiều việc phải làm nên cô đã dành chút thời gian để tìm kiếm các vấn đề mà họ có thể vá víu cho đến khi cô ấy nhận ra rằng ngay cả khi cô được trao quyền lực thì hầu hết những gì cô làm chỉ là làm màu mà thôi.
Tôi đã nhận được lời thú nhận từ Jim – một người đàn ông làm việc cho một công ty tiếp thị qua điện thoại có hợp đồng với một công ty công nghệ lớn. (Hãy giả sử đó là Apple. Tôi không biết đó có phải là Apple không. Anh ta không nói cho tôi biết đó là công ty nào). Công việc của anh là gọi cho khách hàng và cố gắng thuyết phục họ đặt cuộc họp với đại diện bán hàng của Apple. Vấn đề là tất cả các công ty mà anh liên hệ đều đã có một đại diện bán hàng của Apple đang ngồi làm việc ngay tại công ty của họ. Hơn nữa, họ hoàn toàn nhận thức được điều này.
Jim: Tôi thường hỏi các quản lý của tôi rằng làm sao thuyết phục được người khác gặp mặt đại diện bán hàng của công ty công nghệ khổng lồ khi mà họ đã có sẵn một đại diện bán hàng của chính cái công ty này tại cơ sở của họ. Một số cấp trên cũng không biết gì như tôi, nhưng các quản lý hiệu quả hơn đã kiên nhẫn giải thích rằng tôi đã không hiểu đúng vấn đề: Cuộc gọi đặt cuộc hẹn là một trò chơi mang tính giao tiếp xã hội.
Khách hàng tiềm năng đồng ý gặp mặt không phải vì họ nghĩ rằng cuộc gặp có thể giúp giải quyết vấn đề kinh doanh cho họ, mà vì họ sợ từ chối thì bất lịch sự.
Điều này vớ vẩn hết mức, nhưng phân loại nó thế nào? Chắc chắn Jim, người tiếp thị qua điện thoại, đủ điều kiện để được xếp vào nhóm tay sai, nhưng anh ta là một kẻ tay sai với toàn bộ mục đích là hướng mọi người vào chuyện làm màu.
Một loại công việc mơ hồ khác là những người tiếp dân. Chúng ta có thể xem họ là sự kết hợp giữa làm nền và vá víu nhưng họ cũng có những điểm độc đáo nhất định. Người tiếp dân là nhân viên cấp thấp được thuê để làm công việc tiếp nhận khiếu nại pháp luật, nhưng họ được giao vai trò đó chính vì họ hoàn toàn không có thẩm quyền để làm bất cứ điều gì về những khiếu nại này. Tất nhiên, người tiếp dân là một vai trò quen thuộc trong bất kỳ bộ máy hành chính nào. Người đàn ông có công việc “xin lỗi vì người thợ mộc không đến” cũng có thể xếp vào loại tiếp dân, và như vậy thì công việc của anh ta nhàn nhã một cách bất thường, bởi lẽ anh ta chỉ phải nói chuyện với các giáo sư, những người không có xu hướng la hét, đập bàn hay bực bội ra mặt. Trong các bối cảnh khác, nghề tiếp dân có thể thực sự nguy hiểm. Lần đầu tiên khi tôi đến Vương quốc Anh vào năm 2008, một trong những điều gây ấn tượng với tôi là các thông báo dán khắp nơi ở khu vực công cộng, nhắc nhở công dân không được tấn công các nhân viên nhà nước cấp thấp.
Đôi khi những người tiếp dân nhận thức rõ về những gì họ phải làm, như Nathaniel, sinh viên của chương trình vừa học vừa làm tại một trường đại học ở Canada. Anh được chỉ định ngồi trong văn phòng ghi danh và gọi điện cho mọi người để thông báo rằng một số mẫu đơn họ điền không chính xác và họ sẽ phải làm lại từ đầu.
Nathaniel: Vì tất cả mọi người làm công việc giống tôi đều là sinh viên, nên chúng tôi đều hiểu người ở đầu dây bên kia có thể tức giận như thế nào. Lời đầu tiên bạn cần nói khi ai đó trở nên kích động là: “Xin lỗi anh bạn, tôi biết đó là chuyện nhảm nhí. Tôi cũng là sinh viên mà”.
Một số người tiếp dân khác có vẻ hoàn toàn ngây thơ:
Tim: Tôi làm việc trong ký túc xá đại học vào mùa hè. Tôi đã làm việc này được ba năm và đến thời điểm này, tôi vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng về nhiệm vụ thực sự của mình.
Có vẻ như công việc chủ yếu của tôi là ngồi ở quầy lễ tân vì tôi dành 70% thời gian của mình để ngồi ở đấy. Trong lúc ngồi ở quầy lễ tân, tôi có thể “tự do theo đuổi các dự án của riêng mình”, nghĩa là tạo ra các quả bóng cao su từ dây thun tôi tìm thấy trong tủ. Khi tôi không bận việc này thì tôi có thể kiểm tra tài khoản email văn phòng (về cơ bản, tôi không được huấn luyện hay cấp quyền quản trị, vì vậy tất cả những gì tôi có thể làm là chuyển các email này cho sếp của mình), chuyển các gói hàng nhận được xuống phòng đóng gói, trả lời điện thoại (một lần nữa, tôi không biết gì và hiếm khi câu trả lời của tôi làm người gọi hài lòng), tìm các gói xốt cà chua hết hạn trong các ngăn kéo, hoặc gọi bảo trì để báo rằng một sinh viên đã đổ ba dĩa đồ ăn thừa xuống bồn rửa, và bây giờ cái bồn đang trào lên thức ăn đã phân hủy.
Ngoài ra, mọi người thường cáu gắt với tôi vì những điều rõ ràng không phải là lỗi của tôi. Ví dụ như có công trường đang thi công gần đó; họ chưa trả tiền thuê nhà hằng tháng, sếp tôi không đi làm cuối tuần để họ hỏi ý kiến; hay là chuyện không có cái tivi nào ở đó để họ xem chương trình The Bachelor. Tôi cho rằng gào thét là một cách trút giận của họ, vì tôi 19 tuổi và rõ ràng là không có quyền lực gì.
Tôi được trả 14 đô-la một giờ để làm công việc này.
Nhìn bề ngoài, có vẻ như Tim chỉ là một kẻ làm nền, giống như nhân viên tiếp tân không cần thiết trong nhà xuất bản Hà Lan. Nhưng trên thực tế, trong chừng mực nào đó thì dường như Tim thực sự có cung cấp dịch vụ cho người đã thuê mình, chính xác là, Tim được thuê để cho các sinh viên khác trút giận vào. Lý do chính khiến tôi ngần ngại xếp công việc tiếp dân vào loại công việc vô nghĩa là vì đây là một dịch vụ thực sự. Tim không bù đắp cho một lỗ hổng trong tổ chức như người đàn ông có nhiệm vụ phải “xin lỗi vì người thợ mộc không đến”. Anh ta ở đó vì khi bạn tập trung một số lượng lớn thanh thiếu niên ở cùng một nơi (là các sinh viên trong ký túc xá), thì sẽ luôn có vài người hay nổi giận với những điều ngu ngốc, và sếp của Tim sẽ thích họ trút giận lên ai đó hơn là mình. Nói cách khác, công việc của Tim là một công việc tồi tệ, nhưng nó không hoàn toàn rõ ràng là một thứ việc vô nghĩa.
Có thể có một công việc vô nghĩa nào đó mà chúng ta không biết?
Ý tưởng về tầng công việc vô nghĩa thứ hai – những công việc phục vụ cho công việc vô nghĩa, đã đặt ra vấn đề: Công việc có độ nhảm nhí đến mức nào thì chỉ được xem là đánh giá mang tính chủ quan, và mức nào thì có thể xem là thực tế khách quan. Tôi tin rằng những công việc vô nghĩa là rất thật – khi tôi nói chúng ta chỉ có thể dựa vào đánh giá của người lao động, ý tôi đơn giản là: Chúng ta có thể dựa vào những gì chúng ta quan sát được từ họ. Tôi nghĩ, nếu hỏi người lao động rằng: “Cụ thể công việc của bạn có giá trị hay không?”, thì việc chúng ta thuận theo ý kiến riêng của từng người là hoàn toàn đúng đắn. Nhưng khi chúng ta nói đến vấn đề tinh tế hơn là: “Loại công việc đó có giá trị hay không?”, thì tôi nghĩ tốt nhất chúng ta nên tham khảo ý kiến chung của những người cùng làm công việc đó. Bởi nếu không làm vậy thì chúng ta có thể trở nên khá ngớ ngẩn khi nói rằng: Trong số ba mươi trợ lý pháp luật làm việc trong cùng một văn phòng với các nhiệm vụ tương tự nhau, có hai mươi chín người làm công việc vô nghĩa vì họ nghĩ như thế, còn một người còn lại thì không đồng ý.
Trừ khi ta chấp nhận rằng hoàn toàn không có thực tế nào khác ngoại trừ thực tế đến từ nhận thức cá nhân (vấn đề này lại liên quan đến triết học), thì khó có thể phủ nhận khả năng người ta có thể sai về những gì họ làm. Đối với mục đích của cuốn sách này thì đây không phải là vấn đề lớn, bởi vì như tôi đã nói, tôi chủ yếu quan tâm đến yếu tố chủ quan.
Tôi cũng cho rằng mọi người thường không sai. Vì vậy, giả sử ta thực sự muốn phân định rõ lĩnh vực nào của nền kinh tế là có giá trị thật và lĩnh vực nào là nhảm nhí, thì cách tốt nhất là kiểm tra xem lĩnh vực nào mà đa số người lao động cảm thấy công việc của họ là vô nghĩa và lĩnh vực nào có đa số không nghĩ như vậy. Thậm chí, ta có thể cố gắng nêu ra lý thuyết ngầm về giá trị xã hội đã dẫn mọi người đến kết luận này: Nếu ai đó nói “công việc của tôi hoàn toàn vô nghĩa”, thì đâu là những tiêu chí bất thành văn được áp dụng? Một số người lao động, như anh chàng nghệ sĩ hiệu ứng đặc biệt Tom, đã nghĩ kỹ về những tiêu chí này và có thể dễ dàng kể cho bạn nghe. Trong các trường hợp khác, người lao động không thể đưa ra một lý thuyết, nhưng bạn có thể nói rằng lý thuyết đó có tồn tại vì vậy bạn phải lôi được cái lý thuyết đó ra bằng cách kiểm tra ngôn ngữ mà mọi người sử dụng và quan sát phản ứng của họ với công việc họ làm.
Đối với tôi, đây không phải là một vấn đề. Tôi là một nhà nhân chủng học và tôi được đào tạo để rút ra lý thuyết ngầm ẩn đằng sau những hành động và phản ứng hằng ngày của con người. Nhưng có một vấn đề nữa là: Lý thuyết của mọi người không giống nhau. Ví dụ, trong khi thực hiện nghiên cứu này, tôi đã để ý rằng nhiều người làm việc trong ngành ngân hàng tin chắc rằng 99% những gì ngân hàng đang làm là nhảm nhí và không có lợi cho nhân loại dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi chỉ có thể giả định rằng có những người khác cũng làm việc trong ngành ngân hàng không đồng ý với đánh giá này. Có bất kỳ mô hình mẫu nào ở đây không? Ý kiến của mọi người có thay đổi theo thâm niên không? Phải chăng người quản lý ở cấp cao hơn thì có nhiều khả năng tin vào lợi ích xã hội của ngành ngân hàng hơn? Hay nhiều người trong số họ ngầm đồng ý rằng công việc của họ không có giá trị xã hội nhưng họ không quan tâm? Có lẽ họ còn rất vui mừng khi biết rằng công việc của họ không mang lại lợi ích cho công chúng, tự nghĩ rằng mình là tên cướp hoặc kẻ lừa đảo theo một nghĩa lãng mạn nào đó? Thật khó để nói về điều này (mặc dù lời chứng của Jeffrey Sachs trong chương trước ít nhất đã gợi ý rằng nhiều người ở trên đỉnh cao quyền lực chỉ đơn giản là cảm thấy họ có quyền làm bất cứ điều gì).
Vấn đề thực sự đối với cách tiếp cận của tôi là khi ta phải đối mặt với những người không nghĩ công việc của mình là vô nghĩa, trong khi người khác lại xem công việc của họ là ví dụ điển hình của công việc vô nghĩa. Một lần nữa, chưa có ai thực hiện khảo sát so sánh chi tiết về vấn đề này, nhưng tôi đã nhận thấy một số mẫu thú vị nhất định trong dữ liệu của riêng tôi. Tôi chỉ nhận được phản hồi từ một số ít luật sư (mặc dù lại có một số lượng lớn phản hồi từ các trợ lý pháp lý), chỉ có hai người làm PR, và không có một người nào làm công việc vận động hành lang. Điều này có nghĩa là, chúng ta phải kết luận đây là những nghề nghiệp không phải nhảm nhí? Không nhất thiết như vậy. Có nhiều số liệu và cách giải thích khác cho sự im lặng của họ. Chẳng hạn, có lẽ ít người trong số họ lướt Twitter hoặc có thể những người này có khuynh hướng nói dối nhiều hơn.
Tôi xin có một lưu ý cuối cùng, thực sự chỉ có một lớp người không chỉ phủ nhận công việc của họ là vô nghĩa mà còn thể hiện thái độ hoàn toàn thù địch với ý tưởng rằng nền kinh tế của chúng ta đầy rẫy những công việc vô nghĩa. Lớp người này là các chủ doanh nghiệp (dễ đoán mà), và bất kỳ ai khác chịu trách nhiệm tuyển dụng và sa thải. (Tania có vẻ là một trường hợp ngoại lệ). Trong thực tế, nhiều năm qua, vẫn có các doanh nhân và giám đốc điều hành nói với tôi đầy phẫn nộ rằng toàn bộ tiền đề của tôi là sai. Họ khẳng định sẽ không bao giờ có ai đi tiêu tiền của công ty cho một nhân viên không cần đến. Họ hiếm khi đưa ra lập luận cụ thể, mà hầu hết chỉ nói đi nói lại rằng: Không có điều gì được mô tả trong chương này có thể thực sự xảy ra trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, tất cả những ai tin rằng công việc của họ thực sự vô dụng thì hẳn là đã bị lừa dối, hoặc tự quan trọng hóa mình, hoặc đơn giản là người ta không hiểu vai trò thực sự của mình trong công việc.
Từ những phản hồi này, người ta có thể đi đến kết luận rằng có ít nhất một lớp người thực sự không nhận ra công việc của họ là nhảm nhí. Tất nhiên, hành động của họ vẫn tạo nên sự khác biệt trên thế giới, dù là tốt lên hay tệ đi. Chỉ là họ không thấy mọi thứ nhảm nhí mà họ tạo ra.

