Đông Chu Liệt Quốc - Chương 80: Phù sai mắc mưu tha vua việt câu tiễn hết sức thờ nước ngô

Phù Sai mắc mưu tha vua Việt

Câu Tiễn hết sức thờ nước Ngô

Quan Đại phu nước Việt là Văn Chủng được vua Ngô (Phù Sai) cho hòa, về tâu với vua Việt (Câu Tiễn) rằng:

— Vua Ngô đã rút quân về, sai quan Đại phu là Vương tôn Hùng theo tôi đến đây để giục khởi trình; còn quan Thái tể là Bá Hi thì đóng quân ở Ngô Sơn để đợi Chúa công sang cống.

Câu Tiễn nghe nói, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Văn Chủng nói:

— Kỳ hạn đã gần đến nơi, Chúa công nên mau mau trở về đô thành để thu xếp việc nước, chứ thương khóc mà làm gì!

Câu Tiễn gạt nước mắt trở về đô thành, trông thấy cửa nhà như cũ mà nhân dân chết nhiều, có ý hổ thẹn. Mời Vương tôn Hùng nghỉ ở nhà quán xá, rồi thu xếp vàng ngọc đóng thành mấy xe; lại chọn những mỹ nữ trong nước được 330 người, định 300 người đem nộp Phù Sai, còn 30 người đem nộp Bá Hi. Bấy giờ Câu Tiễn chưa khởi hành, Vương tôn Hùng giục giã luôn mãi.

Câu Tiễn khóc mà bảo các quan triều thần rằng:

— Ta nối nghiệp các tiền nhân, vẫn một lòng kính sợ, không dám lười biếng, nay vì một trận thua mà đến nỗi này, phải đem thân đi làm thằng tù ở nước khác. Thôi thì chuyến đi này chắc không có ngày trở lại.

Các quan triều thần đều ứa nước mắt mà khóc. Văn Chủng tâu với Câu Tiễn rằng:

— Ngày xưa vua Thang bị giam ở Hạ Đài, vua Văn Vương bị giam ở Dữu Lý, mà sau nên được nghiệp vương; Tề Hoàn Công phải chạy sang nước Cử, Tấn Vấn công phải chạy sang nước Địch, mà sau nên được nghiệp bá. Xem thế thì biết cái cảnh khổ sở, chính là trời mở đường cho vương bá đó. Chúa công cứ vững lòng mà theo ý trời, sẽ có ngày hưng thịnh được, can chi mà quá nghĩ, để đến nỗi tổn hại mất chí mình.

Ngày hôm ấy Câu Tiễn làm lễ tế nhà tôn miếu, Vương tôn Hùng đi trước một ngày, còn Câu Tiễn và phu nhân đi sau. Các quan triều thần tiễn đến bến sông Tích Giang. Phạm Lãi sắp thuyền ở Cố Lăng và bày một tiệc rượu tiễn. Văn Chủng dâng chén rượu mà chúc cho Câu Tiễn được tốt lành. Câu Tiễn thở dài, rồi ứa nước mắt khóc, chẳng nói câu gì cả. Phạm Lãi nói:

— Các bậc thánh hiền đời xưa cũng thường gặp những cảnh khổ não, những điều sỉ nhục, không thể chịu được, có phải là chỉ một Chúa công bây giờ mà thôi đâu!

Câu Tiễn nói:

— Ngày xưa vua Nghiêu dùng hiền thần là Thuấn, Vũ mà thiên hạ được trị bình, dẫu có thủy tai cũng không hại lắm. Nay ta bỏ Việt sang Ngô, giao nước nhà cho các quan đại phu, các quan đại phu nghĩ sao cho khỏi phụ lòng ta trông cậy!

Phạm Lãi bảo các quan triều thần rằng:

— Tôi thiết tưởng vua phải lo thì bề tôi nhục, vua phải nhục thì bề tôi nên chết. Nay Chúa công ta phải lo về nỗi bỏ nước, phải nhục vì nỗi sang Ngô, bọn ta đây há lại không có một, hai kẻ hào kiệt vì Chúa công chia buồn hay sao?

Các quan đại phu đồng thanh mà đáp rằng:

—Ai không phải là tôi con, tùy ý Chúa công sai khiến.

Câu Tiễn nói:

— Các quan đại phu còn có lòng thương ta thì xin cứ tự nói chí mình để xem ai có thể theo đi, ai có thể ở nhà mà giữ nước.

Văn Chủng nói:

— Ở nhà mà xem xét công việc trong nước thì Phạm Lãi không bằng tôi, nhưng đi theo Chúa công mà lâm cơ ứng biến thì tôi không bằng Phạm Lãi.

Phạm Lãi nói:

— Văn Chủng xét mình đã rõ lắm, Chúa công nên đem việc nước mà giao cho, còn như việc nhẫn nhục mà theo Chúa công để nghĩ cách báo thù thì tôi không dám từ chối. Phạm Lãi nói xong thì các quan đại phu thứ tự nói theo. Quan Thái tể là Khổ Thành nói:

— Tuyên bá mệnh lệnh để tỏ đức chính của nhà vua và quyết đoán những việc khó khăn, khiến cho dân biết yên phận, đó là việc của tôi!

Quan Hành nhân là Duệ Dung nói:

— Đi sứ các nước chư hầu, ứng đối không đến nỗi chịu nhục, đó là việc của tôi!

Quan Tư trực là Hạt Tiến nói:

— Vua có điều gì trái lẽ, xin hết sức can ngăn, dẫu kẻ thân thích cũng không vị nể, đó là việc của tôi!

Quan Tư mã là Chư Kế Dĩnh nói:

— Bày trận đánh giặc, dẫu tên đạn bời bời mà không chịu lui, vẫn một lòng cố tiến, đó là việc của tôi!

Quan Tư nông là Cao Như nói:

— Dốc lòng khuyên bảo dân cố chăm chỉ làm ăn, nghĩ cách hà tiện, đó là việc của tôi!

Quan Thái sử là Kế Nghê nói:

— Xem xét thiên văn địa lý để dò biết những sự cát hung, đó là việc của tôi!

Câu Tiễn nói:

— Ta dẫu phải sang làm thằng tù ở nước Ngô, nhưng đã có các quan đại phu dốc lòng cố sức mà giữ gìn nước nhà, thế thì ta còn lo gì nữa!

Câu Tiễn cho các quan triều thần ở lại, còn mình thì cùng với Phạm Lãi đi sang Ngô. Vua tôi tiễn biệt nhau đều ràn rụa nước mắt. Câu Tiễn ngửa mặt lên trời mà than rằng:

— Sự chết ai là người không sợ, nhưng ta đây nghe thấy sự chết mà trong bụng không kinh sợ một chút nào!

Nói xong, xuống thuyền đi ngay. Mọi người đi đưa đều khóc tất cả, rồi sụp lạy ở bên bờ sông. Câu Tiễn cũng không ngoảnh lại. Câu Tiễn phu nhân vịn mạn thuyền mà khóc, trông thấy đàn ô thước đang nhặt tôm ở ven sông, bay đi lượn lại, có ý thỏa thích, liền cảm mà làm bài hát rằng:

“Đàn chim (hề…) cao bay

Vẫy vùng (hề…) đường mây!

Thân thiếp (hề…) vô tội

Trách trời (hề…) độc thay!

Hây hẩy (hề…) gió may

Trở về (hề…) bao ngày!

Lòng đau (hề…) như cắt

Nước mắt (hề…) vơi đầy!”

Câu Tiễn nghe thấy phu nhân ta thán như vậy, kể sao xiết nỗi buồn rầu, nhưng muốn cho phu nhân được nguôi lòng, cũng gượng cười mà nói rằng:

— Lông cánh của ta đã đủ rồi, tất cũng có ngày cao bay, chứ lo gì điều ấy!

Câu Tiễn đã đi đến địa giới nước Ngô, sai Phạm Lãi vào yết kiến quan Thái tể nước Ngô là Bá Hi ở Ngô Sơn, và dâng các đồ kim bạch tử nữ. Bá Hi hỏi:

— Văn Chủng ở đâu, sao không thấy đến?

Phạm Lãi nói:

— Văn Chủng còn phải giữ nước cho Chúa công tôi, vậy nên không đến được.

Bá Hi theo Phạm Lãi đến yết kiến Câu Tiễn. Câu Tiễn cảm tạ cái ơn cứu giúp cho. Bá Hi nhận với Câu Tiễn: thế nào cũng lập mưu cho được trở về nước Việt. Câu Tiễn cũng hơi yên lòng. Bá Hi đem quân giải Câu Tiễn về Ngô, đưa vào nộp Phù Sai. Câu Tiễn trần vai áo sụp lạy ở dưới thềm. Câu Tiễn phu nhân cũng theo vào, Phạm Lãi đem cái đơn kê khai các đồ kim bạch tử nữ để trình Phù Sai. Câu Tiễn sụp lạy hai lạy mà kêu rằng:

— Tôi là Câu Tiễn nước Việt, vì không biết sức mình, để đến nỗi đắc tội với Đại vương; nay Đại vương xá tội cho, cho được sang đây hầu hạ, nếu Đại vương lại thương tình mà tha tội chết thì thật lấy làm cảm ơn vô cùng!

Phù Sai nói:

— Nếu ta nghĩ đến cái thù Tiên vương ngày xưa thì không thế nào tha nhà ngươi được!

Câu Tiễn lại lạy mà kêu rằng:

— Tội tôi thật đáng chết, Đại vương thương lại cho!

Bấy giờ Ngũ Viên đứng bên cạnh, mắt quắc ra lửa, tiếng vang như sấm mà nói với Phù Sai rằng:

— Con chim bay ở trên mây xanh, ta còn muốn giương cung ra bắn, huống chi nay lại đậu ở trước sân! Câu Tiễn là người nham hiểm, bây giờ như con cá trong hũ, sống chết ở tay kẻ bào nhân, vậy nên nịnh hót van lạy để cầu khỏi chết, một mai đắc chí, khác nào như con hổ về núi, cá kình ra bể, còn trị làm sao!

Phù Sai nói:

— Ta nghe: kẻ đã hàng phục mà mình còn giết thì họa đến ba đời. Ta cũng chẳng yêu gì vua Việt mà không giết, nhưng sợ trái với đạo trời!

Bá Hi nói:

— Quan Tướng quốc chỉ nghĩ cái lợi một lúc, mà không hiểu cái lợi yên nước về sau. Đại vương nói thế, thật là một bậc nhân giả.

Ngũ Viên thấy Phù Sai tin lời xu nịnh của Bá Hi, không theo lời can, căm tức mà lui ra. Phù Sai nhận các đồ lễ vật của Câu Tiễn, rồi sai Vương tôn Hùng làm một cái nhà Thạch Thất ở bên cạnh mộ Hạp Lư, giam vợ chồng Câu Tiễn ở đấy, lột mũ áo đi mà cho mặc quần áo xấu, bắt giữ việc chăn ngựa. Bá Hi vẫn đem đồ thực phẩm giấu cho, không đến nỗi chết đói. Mỗi khi Phù Sai đi chơi, lại bắt Câu Tiễn giữ ngựa, đi đất ở trước xe. Người nước Ngô đều trỏ mà bảo nhau rằng:

— Đấy là vua nước Việt!

Câu Tiễn cứ cúi gầm mặt xuống. Câu Tiễn ở Thạch Thất đã được hai năm. Phạm Lãi sớm tối hầu hạ, không rời ra một bước nào. Một hôm Phù Sai triệu Câu Tiễn vào yết kiến. Câu Tiễn sụp lạy ở trước, Phạm Lãi đứng ở phía sau. Phù Sai bảo Phạm Lãi rằng:

— Ta nghe nói: người tiết phụ không gả chồng ở nhà phá vong, người danh hiền không làm quan ở nước tiệt diệt. Nay Câu Tiễn vô đạo, nước đã sắp diệt, vua tôi phải giam đày ở nơi Thạch Thất, chẳng cũng đê nhục lắm ru! Ta muốn tha tội cho nhà ngươi. Nếu nhà ngươi biết đổi lỗi bỏ Việt theo Ngô thì ta sẽ trọng dụng. Tránh ưu hoạn mà được phú quí, nhà ngươi nghĩ thế nào?

Bấy giờ Câu Tiễn phục ở dưới đất mà khóc, chỉ sợ Phạm Lãi theo Ngô mất. Phạm Lãi sụp lạy mà tâu với Phù Sai rằng:

— Kẻ đã mất nước, không dám nói hay; tướng đã thua trận, không dám nói mạnh. Tôi là kẻ bất trung bất tín ở nước Việt, không biết giúp Chúa công tôi làm điều thiện, để đến nỗi đắc tội với Đại vương. May mà Đại vương không giết, cho vua tôi được gần nhau, để ra vào hầu hạ Đại vương. Thế thì tôi đã được mãn nguyện rồi, có đâu còn dám mong phú quí!

Phù Sai nói:

— Nhà ngươi đã không chịu đổi ý thì lại cứ về Thạch Thất.

Phạm Lãi nói:

— Xin vâng mệnh!

Phù Sai đứng dậy, trở vào trong cung. Câu Tiễn và Phạm Lãi trở về Thạch Thất. Câu Tiễn ăn mặc tồi tàn, cắt cỏ nuôi ngựa. Câu Tiễn phu nhân cũng lôi thôi rách rưới, đi gánh nước để quét dọn phân ngựa. Còn Phạm Lãi thì kiếm củi để nấu cơm, mặt mũi gầy gò. Phù Sai sai người dò thám, thấy vua tôi nước Việt cùng nhau làm lụng không ra ý oán giận, mà suốt đêm suốt ngày, cũng không thấy buồn rầu chút nào, mới cho là đồ vô chí, chẳng nghĩ đến làm chi.

Một hôm, Phù Sai lên Cô Tô Đài, trông thấy vợ chồng Câu Tiễn ngồi ở cạnh đống phân ngựa, Phạm Lãi cầm chổi đứng hầu một bên, mới ngoảnh lại bảo Bá Hi rằng:

— Câu Tiễn chẳng qua là vua một nước nhỏ, Phạm Lãi chẳng qua là kẻ học trò, thế mà trong khi hoạn nạn, vẫn còn giữ được lễ vua tôi, ta rất có lòng kính lắm!

Bá Hi nói:

— Chẳng những đáng kính, thực cũng đáng thương!

Phù Sai nói:

— Cứ như lời quan Thái tể nói, ta đây nghĩ cũng thương tình, nếu hắn biết đổi lỗi thì phỏng có nên tha không?

Bá Hi nói:

— Đại vương mở lượng hải hà mà thương kẻ cùng khốn, gia ân cho Việt, chắc là Việt cũng biết đền ơn. Xin Đại vương phải quyết đoán.

Phù Sai nói:

— Ta sẽ sai quan Thái sử chọn ngày tốt để tha cho vua Việt về nước.

Bá Hi mật sai người đến Thạch Thất báo tin cho Câu Tiễn biết. Câu Tiễn mừng lắm, bảo với Phạm Lãi. Phạm Lãi nói:

— Để tôi xin bói một quẻ, xem lành dữ thế nào.

Phạm Lãi bói, rồi nói với Câu Tiễn rằng:

— Dẫu có tin như vậy, cũng chưa nên lấy gì làm mừng.

Câu Tiễn nghe nói, lại có ý buồn. Ngũ Viên nghe tin Phù Sai sắp tha Câu Tiễn, vội vàng vào yết kiến Phù Sai mà tâu rằng:

— Ngày xưa vua Kiệt giam vua Thang mà không giết, vua Trụ giam vua Văn Vương mà không giết, đến lúc đạo trời quay lại, chuyển họa thành phúc thì vua Kiệt bị vua Thang đuổi, nhà Thương bị nhà Chu diệt. Nay Đại vương giam Câu Tiễn mà không giết, tôi e rằng lại sắp có họa như nhà Hạ và nhà Thương.

Phù Sai nghe lời nói của Ngũ Viên, lại có ý muốn giết Câu Tiễn, sai người triệu Câu Tiễn vào. Bá Hi lại báo trước cho Câu Tiễn biết. Câu Tiễn kinh sợ, lại bảo Phạm Lãi. Phạm Lãi nói:

— Chúa công đừng sợ! Vua Ngô giam Chúa công đã ba năm nay; trong ba năm còn không nỡ, huống chi là bây giờ! Chúa công cứ đi, không ngại!

Câu Tiễn nói:

— Ta chịu ẩn nhẫn bấy lâu nay mà không đến nỗi chết, đều là nhờ cái mưu kế của quan Đại phu.

Câu Tiễn vào thành yết kiến Phù Sai. Chầu chực trong ba ngày mà Phù Sai chưa ra thị triều. Bá Hi ở trong cung ra, phụng mệnh Phù Sai truyền cho Câu Tiễn lại về Thạch Thất. Câu Tiễn lấy làm lạ, liền hỏi. Bá Hi nói:

— Đại vương nghe lời nói của Ngũ Viên, định đem giết đi, vậy nên triệu đến. May gặp Đại vương bệnh cảm hàn, không thể dậy được. Tôi vào thăm bệnh, nhân tâu với đại vương rằng: “Nếu muốn trừ họa nên phải làm phúc, nay vua Việt chầu chực ở đây, chỉ đợi ngày đem giết, tấm lòng ta oán, cảm động đến trời. Đại vương nên tạm tha cho về Thạch Thất, đợi khi khỏi bệnh, rồi sẽ định liệu”. Đại vương nghe lời tôi mà tha cho nhà vua về Thạch Thất đó!

Câu Tiễn cảm ơn vô cùng. Câu Tiễn ở Thạch Thất lại được ba tháng nữa, nghe tin Phù Sai vẫn chưa khỏi bệnh, mới bảo Phạm Lãi bói một quẻ. Phạm Lãi bói xong, bảo Câu Tiễn rằng:

— Phù Sai không chết, ngày kỷ tị thì bớt, đến ngày nhâm thân thì khỏi hẳn. Bây giờ Đại vương cố xin vào thăm, khi được vào thăm, cố tình nếm phân, rồi lạy mừng mà nói kỳ bệnh khỏi. Đến kỳ khỏi thật thì tất nhiên cảm ơn mà tha cho Chúa công.

Câu Tiễn ứa nước mắt mà khóc rằng:

— Ta đây dẫu chẳng ra gì cũng là một ông vua, không lẽ lại chịu nhục mà nếm phân cho người ta hay sao !

Phạm Lãi nói:

— Ngày xưa vua Trụ giam vua Văn vương ở Dữu Lý, giết con vua Văn Vương là Bá Ấp Khảo, rồi làm mắm mà đem cho vua Văn Vương, thế mà vua Văn Vương cũng chịu nhục mà ăn thịt con. Ta muốn thành đại sự thì cần gì những điều nhỏ mọn. Vua Ngô tính nết đàn bà mà không có lòng quả quyết, đã toan tha ta, rồi lại đổi ý. Ta không thế thì sao cho vua Ngô chịu rủ lòng thương.

Câu Tiễn tức khắc đến nói với Bá Hi rằng:

— Tôi nghe nói Đại vương bị bệnh, trong lòng tôi thất vọng, ăn ngủ không yên, xin theo Ngài vào thăm để tỏ tình thần tử.

Bá Hi nói:

— Nhà vua đã có lòng tốt, để tôi xin chuyển tấu.

Bá Hi vào yết kiến Phù Sai, bày tỏ cái tình Câu Tiễn nhớ mến, xin vào thăm bệnh. Phù Sai đang khi buồn bực, nghĩ thương tình Câu Tiễn mà cho vào. Bá Hi đưa Câu Tiễn vào thăm Phù Sai. Phù Sai trừng mắt nhìn mà bảo rằng:

— Câu Tiễn cũng vào thăm ta đó à?

Câu Tiễn sụp lạy mà tâu rằng:

— Tù nhân tôi nghe nói long thể bất hòa, thật là nát gan héo ruột, chỉ mong trông thấy mặt rồng mà không biết làm thế nào!

Câu Tiễn nói chưa dứt lời thì Phù Sai đầy bụng muốn đi ngoài, mới lấy tay xua bảo Câu Tiễn ra. Câu Tiễn nói:

— Khi tôi ở Đông hải, có học người y sư được một cách xem phân mà biết bệnh chóng hay là chậm.

Câu Tiễn nói xong chắp tay đứng ở cửa sổ. Nội thị đưa cái thùng đến cạnh giường nằm, rồi vực Phù Sai dậy đi ngoài. Phù Sai đi ngoài xong rồi, nội thị đem cái thùng đưa ra ngoài cửa. Câu Tiễn mở nắp thùng ra, thò tay bốc phân, rồi quì xuống mà nếm. Mọi người xung quanh đều bịt mũi cả. Câu Tiễn vào sụp lạy Phù Sai mà tâu rằng:

— Tù nhân tôi xin chúc mừng Đại vương, bệnh Đại vương đến ngày kỷ tị thì bớt, sang tháng ba về ngày nhâm thân thì khỏi hẳn.

Phù Sai hỏi:

— Tại sao mà biết?

Câu Tiễn nói:

— Tôi nghe người y sư có dạy phân là cốc vị, hễ thuận thời khí thì sống, trái thời khí thì chết. Nay tù nhân tôi nếm phân Đại vương, thấy vị đắng mà chua, chính hợp cái thời khí xuân hạ phát sinh, bởi thế mà biết.

Phù Sai bằng lòng mà nói rằng:

— Câu Tiễn tử tế quá thần tử đối với quân phụ, ta chưa thấy ai chịu nếm phân để mà đoán bệnh bao giờ!

Bấy giờ Bá Hi đứng ở bên cạnh.

Phù Sai hỏi rằng:

— Quan Thái tể có nếm được không?

Bá Hi lắc đầu nói:

— Tôi thật rất yêu Đại vương, nhưng việc ấy thời tôi xin chịu.

Phù Sai nói:

— Chẳng những quan Thái tể, dẫu Thế tử của ta cũng không thể làm được!

Phù Sai truyền tha Câu Tiễn, không bắt về Thạch Thất nữa, được tự tiện chỗ ở, đợi khi Phù Sai khỏi bệnh sẽ cho về nước. Câu Tiễn lạy tạ rồi lui ra. Từ bấy giờ tìm một chỗ ở, nhưng vẫn giữ việc nuôi ngựa như trước. Sau Phù Sai khỏi bệnh, đúng như lời Câu Tiễn nói. Phù Sai cho Câu Tiễn là người trung với mình, khi đã khỏi bệnh, truyền bày tiệc ở trên Văn Đài, cho Câu Tiễn vào ngự yến. Câu Tiễn giả cách không biết, vẫn mặc áo tù mà đến. Phù Sai trông thấy, truyền cho tắm gội và ban cho mũ áo. Câu Tiễn hai ba lần từ tạ rồi mới dám nhận. Câu Tiễn thay mũ áo xong lại vào sụp lạy Phù Sai. Phù Sai vội vàng đỡ dậy và hạ lệnh rằng:

— Vua Việt là người nhân đức, không nên làm nhục lâu, ta định tha tội, cho được về nước, nay nên tiếp đãi tử tế.

Các quan đại phu đều vái nhường Câu Tiễn, mời ngồi, rồi ngồi cả ở bên cạnh. Ngũ Viên thấy Phù Sai quên hẳn thù xưa, trong lòng căn tức, không chịu vào ngồi, liền quay trở ra. Bá Hi nói:

— Đại vương ta là người nhân giả lại xá lỗi cho người nhân giả. Tôi nghe nói “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” ngày nay ai là nhân thì ngồi lại, ai là bất nhân thì bỏ đi. Quan Tướng quốc là người cương dũng, vậy nên thẹn không dám ngồi chứ sao!

Phù Sai cười mà nói rằng:

— Quan Thái tể nói phải lắm!

Khi rượu được ba tuần, Phạm Lãi và Câu Tiễn đều đứng dậy dâng chén rượu chúc thọ cho Phù Sai. Phù Sai bằng lòng lắm, ngày hôm ấy uống rượu thật say, rồi sai Vương tôn Hùng đưa Câu Tiễn ra nhà quán xá, đợi trong ba ngày nữa, sẽ đưa về nước. Sáng hôm sau Ngũ Viên vào tâu với Phù Sai rằng:

— Hôm qua Đại vương lấy khách lễ mà đãi kẻ thù là nghĩa thế nào? Câu Tiễn trong bụng như hổ lang, mà mặt ngoài giả cách cung kính. Đại vương nghe lời nói xu nịnh, chẳng nghĩ gì đến tai vạ mai sau. Bỏ lời trung trực mà nghe kẻ dèm pha, nghĩ điều nhân nhỏ mà nuôi kẻ thù lớn, khác nào như buông nắm lông ở trên lò than mà mong khỏi cháy, ném quả trứng ở dưới cân nặng mà muốn được toàn, có lẽ nào thế!

Phù Sai không bằng lòng mà nói rằng:

— Ta ốm trong ba tháng, quan Tướng quốc chẳng thấy hỏi thăm được một câu, thế là quan Tướng quốc bất trung, chẳng thấy làm quà cho cái gì, thế là quan Tướng quốc bất nhân. Làm bề tôi mà bất nhân và bất trung thì còn dùng được gì nữa! Câu Tiễn bỏ nước mà sang đây, đem của cải đến dâng nộp, đem thân làm tôi tớ, đó là điều trung; khi ta có bệnh, chịu nếm phân ta mà không có lòng oán giận, đó là điều nhân. Nếu ta theo ý riêng của quan Tướng quốc, mà giết kẻ thiện sĩ ấy thì trời nào tựa ta nữa.

Ngũ Viên nói:

— Sao Đại vương nghĩ lầm như vậy! Con hổ mà thu hình lại thì tất là chực vồ, con ly rụt cổ lại thì tất là định cắn. Vua Việt vào làm tôi Ngô, dẫu trong lòng oán giận, Đại vương cũng không biết được. Bây giờ mà cúi xuống nếm đống phân của Đại vương, chắc đâu không có một ngày kia ngẩng lên mà ăn bộ lòng của Đại vương. Đại vương không xét mà mắc mưu lừa thì tất có ngày bị hại.

Phù Sai nói:

— Quan Tướng quốc chớ nói nữa, ý ta đã quyết định rồi!

Ngũ Viên biết không thể can được, mới uất ức mà lui ra. Đến ngày thứ ba, Phù Sai lại bày tiệc rượu ở ngoài cửa Sà Môn để tiễn Câu Tiễn. Các quan triều thần đều dâng chén rượu tiễn chân, chỉ có Ngũ Viên không đến dự tiệc. Phù Sai bảo Câu Tiễn rằng:

— Ta tha cho nhà vua về nước, nhà vua nên nhớ ơn ta, chớ đem lòng thù oán.

Câu Tiễn sụp lạy mà nói rằng:

— Đại vương thương tôi là kẻ cố cùng, cho được sống mà về nước, tôi xin đời đời không dám quên ơn. Trời cao thăm thẳm soi xét lòng tôi, nếu tôi phụ Ngô thì trời nào có tựa.

Phù Sai nói:

— Người quân tử chớ có sai lời!

Câu Tiễn sụp lạy, nước mắt đầm đìa, làm ra bộ quyến luyến. Phù Sai thân hành vực Câu Tiễn lên xe. Phạm Lãi cầm cương xe. Câu Tiễn phu nhân cũng lạy tạ ơn, rồi cùng lên xe đi về phía nam. Bấy giờ là năm thứ 26 đời Chu Kính Vương, Câu Tiễn về đến bến sông Tích Giang, trông thấy phong cảnh khác xưa, thở dài mà than rằng:

— Ta vẫn tưởng phải từ biệt dân nhà, bỏ thân cõi khác, ngờ đâu nay lại được về nước để mà giữ lấy việc cúng tế.

Câu Tiễn ngoảnh lại nhìn phu nhân mà khóc. Các người xung quanh trông thấy cảm động, cũng đều khóc cả. Văn Chủng đem các quan triều thần và dân trong thành ra đón ở bến sông Tích Giang, reo hò mừng rỡ. Câu Tiễn sai Phạm Lãi bói xem ngày nào tốt để tiến vào đô thành, Phạm Lãi bấm đốt ngón tay, rồi nói với Câu Tiễn rằng:

— Ngày mai rất tốt, Chúa công nên đi mau cho kịp.

Câu Tiễn tức khắc giục ngựa tiến vào đô thành. Câu Tiễn lấy trận thua ở Cối Kê làm sỉ nhục, mới đắp thành ở Cối Kê, rồi thiên đô ra đấy để ghi nhớ thù xưa. Giao hết quyền chính cho Phạm Lãi.

Phạm Lãi xem thiên văn, xét địa lý, lập ra một cái thành mới, bao bọc núi Cối Kê ở trong; phía tây bắc lập Phi Dục Lâu ở Ngọa Tang Sơn để làm thiên môn; phía đông nam lập Lâu Thạch Đậu để làm địa bộ. Còn mặt tây bắc thì để không, giả cách nói phao là đã thần phục nước Ngô, không dám lấp đường cống hiến, nhưng kỳ thực là để tiện đường tiến đánh mai sau.

Khi thành đã đắp xong, bỗng thấy trong thành mọc ra một quả núi, chu vi mấy dặm, như hình con qui, cây cỏ rậm rạp. Có người trông quả núi ấy, nhận được là núi Đông Vũ Sơn ở xứ Lang Gia, không biết cớ sao lại bay đến đây được. Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:

— Tôi đắp cái thành này ứng với thiên tượng, vậy nên có quả núi ấy hiện lên, đó là cái điềm nước Việt ta nên được nghiệp bá chủ.

Câu Tiễn mừng lắm, mới đặt tên cái núi ấy là Quái Sơn, cũng gọi là Phi Lai Sơn, cũng gọi là Qui Sơn. Câu Tiễn từ khi thiên đô sang ở đấy, bảo Phạm Lãi rằng:

— Ta thật thất đức, để đến nỗi nước nhà suy đốn, đem thân đi làm nô lệ, nếu không có quan Tướng quốc và các quan đại phu giúp vào thì sao được thế này!

Phạm Lãi nói:

— Đó là nhờ cái phúc của Chúa công, chứ chúng tôi có công gì. Nhưng xin Chúa công chớ lúc nào quên cái nhục ở Thạch Thất thì mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Câu Tiễn nói:

— Xin vâng lời dạy bảo!

Bấy giờ giao quốc chính cho Văn Chủng, giao quân chính cho Phạm Lãi. Tôn hiền, lễ sĩ, kính lão, tuất bần, trăm họ đều bằng lòng lắm.

Câu Tiễn từ khi nếm phân, thành ra bệnh hôi miệng. Phạm Lãi biết có một thứ rau ở quả núi về phía bắc thành ấy, tên gọi là rau Chấp, ăn được, nhưng hơi có mùi hôi, mới sai người đi hái rau Chấp đem về, để cả triều cùng ăn, cho lẫn mùi hôi. Sau người ta gọi tên quả núi ấy là Chấp Sơn. Câu Tiễn gấp muốn báo thù, mới cố sức chăm chỉ suốt ngày suốt đêm. Khi nào buồn ngủ thì lại lấy cỏ lục mà đánh vào mắt. Chân lạnh muốn rụt lại thì giấp nước vào. Mùa đông thường ngồi gần nước băng, mùa hạ thường ngồi gần đống lửa. Xếp củi mà nằm lên trên, chớ không dùng giường nệm. Lại treo quả mật ở cạnh chỗ ngồi, thỉnh thoảng nếm một ít. Đêm nào cũng sùi sụt mà khóc, khóc chán lại thở dài; hai chữ “Cối Kê” lúc nào cũng nói luôn miệng. Câu Tiễn thấy sau khi suy bại, dân số giảm kém mới cấm con trai không được lấy vợ già, ông già không lấy vợ trẻ. Con gái 17 tuổi không gả chồng, con trai 20 tuổi không lấy vợ thì bắt tội cha mẹ. Đàn bà có chửa sắp đẻ, đều phải trình quan, để quan cho thầy thuốc đến coi sóc, sinh con trai thì thưởng cho hồ rượu và con chó, sinh con gái thì thưởng cho hồ rượu và con lợn; ai sinh ba con thì quan nuôi hộ hai; ai sinh hai con thì quan nuôi hộ một, hễ có ai chết thì Câu Tiễn thân hành đi đưa đám và thương khóc. Câu Tiễn mỗi khi đi đâu, cũng đem cơm và đồ ăn để ở trong xe hễ gặp trẻ con thì cho ăn và hỏi tên họ.

Đến mùa làm ruộng Câu Tiễn cũng vác cày đi cày. Câu Tiễn phu nhân cũng chăm việc dệt cửi, cùng dân chia sự lao khổ. Trong bảy năm không thu thuế của dân, ăn mặc rất là tiết kiệm. Thế mà chẳng tháng nào không sai sứ sang cống hiến nước Ngô. Lại sai người vào núi hái dây cát dệt làm vải nhỏ, định đem dâng Phù Sai, nhưng chưa kịp dâng. Phù Sai khen cái bụng trung thành của Câu Tiễn, sai người phong thêm đất cho, phía đông đến Câu Dụng, phía tây đến Huề Lý, phía nam đến Cô Miệt, phía bắc đến Bình Nguyên, cả thảy hơn 800 dặm, Câu Tiễn sai người đem cát bố mười vạn tấm, cam mật 100 vò, hồ cừu năm đôi, tấn trúc mười thuyền sang dâng Phù Sai để tạ cái ơn phong đất cho. Phù Sai bằng lòng, lại sai người đem vũ mao cho Câu Tiễn. Ngũ Viên nghe nói, liền cáo ốm không vào triều. Phù Sai thấy Câu Tiễn một lòng thần phục, mới tin lời nói của Bá Hi. Một hôm hỏi Bá Hi rằng:

— Ngày nay trong nước thái bình, ta muốn mở thêm cung thất để lấy chỗ vui chơi, nên làm tại chỗ nào?

Bá Hi nói:

— Ở gần đô thành ta, đài cao cảnh đẹp, còn đâu bằng Cô Tô, nhưng đời vua trước lập ra chưa thành một nơi cụ lãm, Đại vương nên sửa lại cái đài ấy, khiến cho cao có thể trông thấy 100 dặm, rộng có thể dung được 1000 người, rồi họp những ca đồng vũ nữ ở trên đài ấy, thế thì thật là một sự khoái lạc nhất trong trần đời.

Phù Sai khen phải, liền treo giải, cầu thứ gỗ lớn. Văn Chủng nghe tin, vào nói với Câu Tiễn rằng:

— Tôi nghe nói: con chim bay ở trên mây cao, chỉ chết vì miếng ăn tốt; con cá lặn ở dưới vực sâu, chỉ chết về cái mồi thơm. Nay Chúa công muốn báo thù nước Ngô thì phải tìm xem Ngô sở thích cái gì, mới có thể trị nổi.

Câu Tiễn nói:

— Dẫu tìm được sở thích, nhưng làm thế nào mà trị nổi?

Văn Chủng nói:

— Tôi có nghĩ cách phá Ngô, cả thảy được bảy kế.

1. Chịu tốn của cải để làm cho vua tôi nước Ngô bằng lòng.

2. Lấy giá đắt mua thóc và cỏ, để làm cho nước Ngô phải không hư.

3. Đem mỹ nữ sang dâng để làm cho phải mê hoặc.

4. Đem thợ khéo, gỗ tốt sang dâng, để cho hắn làm cung thất tốn hại tiền của.

5. Dùng kẻ mưu thần để làm cho nước loạn.

6. Hại kẻ gián thần, để làm cho thế cô.

7. Tích của, luyện quân, để đợi dịp hắn suy yếu.

Câu Tiễn nói:

— Quan Tướng quốc nói phải lắm, nhưng nên dùng kế nào trước?

Văn Chủng nói:

— Nay vua Ngô đang sửa lại Cô Tô Đài, ta nên tìm gỗ lớn đem dâng.

Câu Tiễn liền sai hơn 3000 mộc công vào rừng tìm gỗ, tìm hơn một năm mà chưa được cây nào hơn cả. Các mộc công đều có lòng oán giận, đêm ngày cùng ta thán với nhau.

Một hôm đang đêm, tự nhiên trời sinh hai cây thần mộc, to hai mươi vi, dài năm mươi tầm. Một cây ở phía nam núi, gọi là cây tử, một cây ở phía bắc núi, gọi là cây nam. Mộc công kinh sợ, lấy làm mắt chưa trông thấy bao giờ, vội vàng về báo với Câu Tiễn. Các quan triều đình đều chúc mừng Câu Tiễn rằng:

— Lòng thành của Chúa công cảm động đến trời, vậy nên trời sinh thần mộc để giúp Chúa công.

Câu Tiễn mừng lắm, thân hành đến làm lễ tế, rồi mới sai đẵn, đem bào nhẵn đi và dùng thuốc xanh đỏ vẽ hình rồng rắn, bảo Văn Chủng đưa sang dâng Phù Sai. Phù Sai thấy cây gỗ to đẹp lạ thường, xiết bao mừng rỡ. Ngũ Viên can rằng:

— Ngày xưa vua Kiệt làm Linh Đài, vua Trụ làm Lộc Đài khổ dân hao của đến nỗi mất nước. Câu Tiễn muốn hại ta, vậy nên đem dâng cây gỗ này.

Phù Sai nói:

— Câu Tiễn được cây gỗ quí này, không để mà dùng, lại đem dâng ta, thế là có lòng tử tế, sao ta lại từ chối.

Nói xong, truyền đem hai cây gỗ ấy để sửa đài Cô Tô. Trong năm năm mới làm xong, cao 300 trượng, rộng 84 trượng. Trèo lên trên đài trông suốt 200 dặm. Nguyên trước đã có con đường chín khúc đi thẳng lên núi, bây giờ làm rộng thêm ra. Trăm họ ngày đêm phục dịch, lao lực mà chết rất nhiều.

Câu Tiễn nghe tin, bảo Văn Chủng rằng:

— Quan Tướng quốc nói: đem thợ khéo gỗ tốt sang dâng, để cho hắn làm cung thất, tốn hại tiền của. Kế ấy đã thi hành rồi, nay trên đài cao, tất phải tuyển ca nhi vũ nữ, nếu ta không tìm được kẻ tuyệt sắc thì sao làm cho hắn mê hoặc được! Quan Tướng quốc bàn mưu giúp ta.

Văn Chủng nói:

— Việc gì cũng bởi trời cả. Trời đã sinh thần mộc thì lo gì không có mỹ nữ. Nhưng nếu ta sục tìm thì e rằng dân tình náo động. Tôi nghĩ được một kế, có thể xem hết con gái trong nước, tùy ý Chúa công kén chọn.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.