Đông Chu Liệt Quốc - Chương 81: Tây thi làm mê hoặc vua ngô tử cống đi du thuyết các nước

Tây Thi làm mê hoặc vua Ngô

Tử Cống đi du thuyết trong nước

Vua Việt là Câu Tiễn đang muốn tìm mỹ nữ trong nước để dâng vua Ngô là Phù Sai. Văn Chủng hiến kế rằng:

— Xin Chúa công phái 100 người nội thị đi lẫn với bọn thầy tướng, giả cách đi xem tướng khắp trong nước, thấy người mỹ nữ thì biên lấy tên và chỗ ở. Dùng cách ấy mà chọn thì lo gì không có.

Câu Tiễn theo kế ấy. Mới trong nửa năm, mà đã tuyển được hơn 2000 mỹ nữ. Câu Tiễn sai chọn lại, được hai người đẹp nhất, truyền vẽ tranh để định đem dâng Phù Sai. Hai người ấy là ai?

1. Nàng Tây Thi.

2. Nàng Trịnh Đán.

Nàng Tây Thi là con một người kiếm củi ở Trữ La Sơn. Trữ La Sơn có hai thôn: Đông thôn và Tây thôn, mà phần nhiều là họ Thi. Người con gái này ở về Tây thôn, vậy nên gọi là Tây Thi. Trịnh Đán cũng ở Tây thôn, láng giềng với Tây Thi. Nhà lại gần sông, ngày nào hai người cũng cùng nhau ra đập sợi ở bên sông, má hồng nước biếc, hai bóng lộn nhau, trông như hai cánh phù dung vậy. Câu Tiễn sai Phạm Lãi đem 100 nén vàng đến đón về, trang sức đồ tơ lụa, cho ngồi vào trong xe có màn phủ. Người trong nước nghe tiếng mỹ nữ, ai cũng muốn xem mặt, tranh nhau ra ngoài cõi để đón, đường xá chật ních những người. Phạm Lãi để nàng Tây Thi và nàng Trịnh Đán ở nhà quán xá rồi truyền dụ rằng:

— Ai muốn xem mặt mỹ nữ, phải nộp một đồng tiền.

Chỉ trong một lúc mà tiền bỏ đầy quĩ. Hai người mỹ nữ trèo lên lầu, đứng tựa vào bao lan, ở dưới trông lên khác nào như thiên tiên mới giáng hạ. Hai người mỹ nữ lưu tại ngoài cõi trong ba ngày, mà tiền thu không biết bao nhiêu mà kể. Tiền ấy đem nộp vào kho để dùng việc nước. Câu Tiễn cho hai người mỹ nữ ở riêng tại Thổ Thành, rồi sai một người lão nhạc sư vào dạy múa hát. Khi nào thành nghề sẽ đem sang tiến Phù Sai.

Bấy giờ là năm thứ 31 đời Chu Kính Vương. Câu Tiễn lên làm vua mới được bảy năm. Trước năm ấy một năm thì Tề Cảnh công (Chử Cữu) mất, con nhỏ là Trà lên ngôi. Năm ấy Sở Chiêu Vương (Chẩn) mất, Thế tử Chương lên nối ngôi. Bấy giờ Sở đang nhiều việc mà Tấn lại suy lắm, Tề thì Án Anh chết mất, Lỗ thì Khổng Tử bỏ đi, nước nào cũng đều yếu thế cả, chỉ có nước Ngô là cường thịnh nhất cả thiên hạ. Phù Sai cậy về binh lực, định xâm chiếm các nước ở Sơn Đông, chư hầu đều lấy làm lo sợ.

Nói chuyện Tề Cảnh công phu nhân có con trai mà chết non mất, còn các Công tử thứ xuất cả thảy sáu người. Trong sáu người ấy thì Công tử Dương Sinh nhiều tuổi hơn cả, Công tử Trà hãy còn nhỏ. Mẹ Công tử Trà là Dục Tự, dẫu hèn nhưng được Tề Cảnh công yêu. Vì thế mà Tề Cảnh công lại yêu Công tử Trà lắm, vẫn gọi là An Nhụ Tử. Tề Cảnh công làm vua được 57 năm, đã hơn 70 tuổi, mà không chịu lập thế tử, có ý đợi cho An Nhụ Tử lớn để mà lập lên, chẳng ngờ bị ốm nặng, mới dặn thế thần là Quốc Hạ (con Quốc Trọng) và Cao Trương (con Chu Yển) để giúp Công tử Trà lên làm vua.

Quan Đại phu là Trần Khất (cháu Trần Vô Vũ) vốn chơi thân với Công tử Dương Sinh, e Công tử Dương Sinh bị hại, mới khuyên bảo nên đi trốn. Công tử Dương Sinh cùng với con là Nhâm và gia thần là Hám Chỉ, cùng trốn sang nước Lỗ. Tề Cảnh công sai họ Quốc và họ Cao đuổi các Công tử sang ở Lai Ấp. Khi Tề Cảnh công đã mất rồi, An Nhụ Tử lên nối ngôi. Quốc Hạ và Cao Trương cùng giữ quyền chính. Trần Khất mặt ngoài bằng lòng, nhưng trong bụng thì ghét lắm. Trong khi đông mặt các quan đại phu, Trần Khất nói dối là họ Cao và họ Quốc lập mưu muốn bỏ hết cựu thần mà dùng đảng An Nhu Tử. Các quan đại phu tin là thật, đều đến hỏi kế Trần Khất. Trần Khất liền cùng Bão Mục (cháu Bão Quốc) thủ xướng đem người nhà các quan đại phu đến đánh họ Cao và họ Quốc. Giết Cao Trương, còn Quốc Hạ bỏ trốn sang nước Cử.

Bấy giờ Bão Mục làm hữu tướng, Trần Khất làm tả tướng, lập Quốc Thư và Cao Vô Bình để giữ việc cúng tế họ Cao và họ Quốc. Năm bấy giờ An Nhụ Tử hãy còn ít tuổi, chưa biết gì cả. Trần Khất định bụng muốn lập Công tử Dương Sinh, mới mật sai người sang nước Lỗ triệu về. Công tử Dương Sinh đang đêm về đến nước Tề, để Hám Chỉ và con là Nhâm ở ngoài cõi, rồi một mình lẻn vào thành, nấp ở trong nhà Trần Khất. Trần Khất nói dối là nhà có giỗ, mời các quan đại phu đến để uống rượu. Các quan đại phu đều đến cả. Bão Mục uống rượu ở nơi khác, sau cùng mới đến. Trần Khất đợi cho mọi người ngồi yên cả, liền đứng dậy mà bảo rằng:

— Tôi mới có đồ binh giáp, xin đem ra để các Ngài xem.

Mọi người đều nói:

— Xin Ngài cứ cho xem.

Bỗng thấy một người lực sĩ mang cái túi lớn ở trong nhà ra, để ở giữa sân. Trần Khất thò tay mở túi, có một người ở trong túi thò đầu ra, tức là Công tử Dương Sinh. Mọi người đều kinh sợ. Trần Khất vực Công tử ra, để đứng ngoảnh mặt về phía nam, rồi bảo các quan đại phu rằng:

— Cứ theo phép thường thì nên lập trưởng tử, nay An Nhụ Tử ít tuổi quá, không dám làm vua, ta phụng mệnh quan Tướng quốc họ Bão, đổi lập trưởng Công tử (chỉ Dương Sinh).

Bão Mục trừng mắt mà cãi rằng:

— Ta nói thế bao giờ! Sao lại vu cho ta, bảo ta là say hay sao!

Công tử Dương Sinh chắp tay vái Bão Mục mà nói rằng:

— Việc thay cũ đổi mới, nước nào không có, hễ hợp nghĩa là hơn. Quan đại phu nên xét xem có hợp nghĩa hay không? Còn có nói hay không, cần gì phải cãi!

Trần Khất không đợi nói đến hết câu, cố ép Bão Mục phải sụp lạy. Các quan đại phu bất đắc dĩ cũng đều cùng sụp lạy cả. Trần Khất và các quan đại phu đều uống máu ăn thề, rồi sắp xa giá rước Công tử Dương Sinh vào triều lên ngôi vua, tức là Tề Điệu công. Ngày hôm ấy, đem An Nhụ Tử ra ngoài cửa cung mà giết đi. Tề Điệu công nghi Bão Mục không thuận lập mình, mới hỏi Trần Khất.

Trần Khất cũng ghét Bão Mục chức vị ở trên mình, mới nói dèm với Tề Điệu công rằng:

— Bão Mục vẫn giao kết với các Công tử. Nếu không giết Bão Mục thì trong nước không yên được.

Tề Điệu công lại giết Bão Mục, rồi lập con Bão Mục là Bão Tức để giữ việc cúng tế Bão Thúc Nha. Trần Khất một mình làm tướng quốc. Người nước Tề thấy Tề Điệu công giết hại kẻ vô tội, đều có lòng oán. Tề Điệu công có em gái gả cho vua nước Trâu tên là Ích. Ích kiêu ngạo vô lễ, thường bất hòa với Lỗ. Quan Thượng khanh nước Lỗ là Quý tôn Tư nói với Lỗ Ai công đem quân đánh Trâu, bắt vua Trâu (Ích) giam ở đất Phụ Hà. Tề Điệu công giận lắm, nói:

— Nước Lỗ bắt vua Trâu, tức khinh nước Tề ta!

Tề Điệu công liền sai sứ sang mượn quân Ngô, ước cùng đánh Lỗ. Phù Sai nói:

— Ta vẫn muốn dùng quân sang đánh các nước ở Sơn Đông, nay đã có cớ rồi!

Phù Sai thuận cho nước Tề mượn quân. Lỗ Ai công kinh sợ, tức khắc tha cho vua Châu (Ích) về nước, rồi sai sứ sang xin lỗi với nước Tề. Tề Điệu công sai quan Đại phu là Mạnh Công Sước sang nói lại với vua Ngô rằng:

— Nước Lỗ đã phục tội rồi, không dám phiền đến quân nước Ngô nữa.

Phù Sai nổi giận, nói:

— Nước Ngô ta có phải là thuộc quốc của Tề đâu mà quân ta đánh hay không đánh nhất mực phải vâng mệnh nước Tề. Âu là ta thân hành đem quân đến nước Tề, để hỏi cái tội làm sao mỗi lúc nói một khác.

Nói xong đuổi Mạnh Công Sước ra. Nước Lỗ nghe tin vua Ngô giận Tề, liền sai sứ đem lễ vật sang dâng vua Ngô, lại ước với vua Ngô cùng đánh nước Tề. Phù Sai vui lòng mà thuận ngay, tức khắc cất quân cùng với nước Lỗ đánh Tề, vây Nam Bỉ của nước Tề. Người nước Tề ai ai cũng kinh hoảng, đều thầm oán Tề Điệu công tự nhiên sinh sự. Bấy giờ Trần Khất đã chết rồi, con là Trần Hằng giữ quyền chính, nhân dịp người trong nước không thuận, bảo Bão Tức rằng:

— Sao nhà ngươi không làm đại sự. Ngoài thì gỡ cho quân Ngô khỏi giận, mà trong thì báo được cái thù cho gia tiên.

Bão Tức chối từ là không làm nổi. Trần Hằng nói:

— Ta xin làm giúp cho nhà ngươi!

Trần Hằng nhân khi Tề Điệu công đi luyện quân, dâng rượu độc cho Tề Điệu công, rồi sai người nói với quân Ngô rằng:

— Chúa công tôi đắc tội, đã bị bệnh mà chết, thế là trời đã thay Đại vương mà trị tội Chúa công tôi rồi. Đại vương rủ lòng thương mà chớ hủy phá xã tắc nước tôi, nước tôi xin một lòng thuần phục thượng quốc.

Phù Sai liền rút quân về. Quân nước Lỗ cũng kéo về nước. Người nước Tề đều biết Tề Điệu công bị hại, nhưng có lòng sợ và yêu họ Trần, vậy nên không ai dám nói đến. Trần Hằng lập con Tề Điệu công là Nhâm lên nối ngôi, tức là Tề Giản Công. Tề Giản công muốn chia quyền của họ Trần, mới cho Trần Hằng làm hữu tướng, Hám Chỉ làm tả tướng. Bấy giờ vua Việt là Câu Tiễn luyện tập mỹ nữ học múa hát trong ba năm, đã được tinh xảo. Cho ngồi trong xe bảo xa, ngoài phủ rèm châu, kéo đi dong các phố, mùi hương thơm ngào ngạt; lại có bọn thị nữ đi theo hầu. Câu Tiễn sai quan Tướng quốc là Phạm Lãi đem tiến Phù Sai. Khi Phù Sai ở nước Tề về Ngô, Phạm Lãi vào yết kiến, sụp lạy mà tâu rằng:

— Đông Hải tiện thần là Câu Tiễn cảm ơn Đại vương, không thể đem thê thiếp đến hầu hạ ở bên cạnh được, vậy có tìm khắp trong nước, được hai người khéo nghề múa hát, sai chúng tôi đem nộp vương cung, để giữ việc quét rửa.

Phù Sai trông thấy, cho là thần tiên mới giáng hạ, hồn phách mê mẩn. Ngũ Viên can rằng:

— Tôi nghe nói nhà Hạ mất vì nàng Muội Hỉ, nhà Ân mất vì nàng Đắc Kỷ, nhà Chu mất vì nàng Bao Tự. Xem thế thì biết mỹ nữ là một vật làm cho mất nước, Chúa công chớ nên dùng.

Phù Sai nói:

— Người ta ai chẳng có lòng hiếu sắc, Câu Tiễn tìm được mỹ nữ mà chịu đem tiến ta, ấy là cái tang chứng một lòng trung thành với ta đó. Quan Tướng quốc chớ nghi.

Phù Sai nhận mỹ nữ. Hai người mỹ nữ đều là tuyệt sắc, Phù Sai yêu cả hai. Nhưng đẹp lộng lẫy và khéo xu nịnh thì Tây Thi lại có phần hơn, bởi vậy Tây Thi được ở Cô Tô Đài với Phù Sai. Đi đâu thì những đồ nghi vệ chẳng khác gì phi hậu. Trịnh Đán ở Ngô Cung, ghen với Tây Thi, uất ức không nói ra được, hơn một năm thì chết. Phù Sai thương lắm, đem chôn ở Hoàng Mao Sơn và lập đền thờ cúng. Phù Sai rất yêu Tây Thi, sai Vương tôn Hùng lập ra Quán Khuê Cung ở Linh Nham Sơn, trang sức toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi. Ở đấy có lập ra Hưởng Điệp Lang. Tại sao lại gọi là Hưởng Điệp? Điệp là chiếc guốc. Nguyên là người ta đào hầm ở dưới đất chỗ hành lang, đặt ở dưới rất nhiều chum, bên trên lát ván, rồi để cho Tây Thi và cung nhân đi guốc lượn ở đấy, tiếng kêu leng keng, vây nên gọi là Hưởng Điệp.

Trên núi có Ngoạn Hoa Trì, Ngoạn Nguyệt Trì. Lại có giếng gọi là Ngô Vương Tỉnh, nước giếng trong suốt, Tây Thi thường đứng trên giếng mà soi mặt, Phù Sai đứng ở bên cạnh, sẽ lấy tay vuốt tóc cho Tây Thi. Lại có động gọi là Tây Thi Động, Phù Sai và Tây Thi cùng ngồi ở đấy, đá ở ngoài cửa động có nhiều chỗ sụt, người ta vẫn gọi là vết chân Tây Thi. Trên núi lại có cầm đài, Phù Sai thường cùng với Tây Thi gẩy đàn ở trên núi. Phù Sai lại sai người trồng hoa ở Hương Sơn, để Tây Thi và cung nhân chở thuyền đi hái hoa. Một giải nước ở phía nam Linh Nham Sơn, tức là chỗ Tây Thi hái hoa đó. Lại có Thái Liên Hình ở phía đông nam chốn đô thành, là chỗ Phù Sai cùng Tây Thi hái sen đó. Phù Sai lại bắt đào một con sông nhỏ ở trong thành, từ nam sang bắc, rồi làm cái buồm gấm để đi chơi thuyền, gọi là Cẩm Phàm Hình. Phía nam chốn đô thành có Trường Châu Uyển, để làm nơi săn bắn. Lại có Ngư Thành để nuôi cá, Áp Thành để nuôi vịt, Kê Bi để nuôi gà, Tửu Thành để nấu rượu. Lại thường cùng với Tây Thi ra nghỉ mát tại Nam loan ở Tây Động Đình; cái loan ấy độ hơn mười dặm, ba mặt đều núi, chỉ có mặt nam trông như cửa quan. Phù Sai cho chỗ ấy là một nơi có thể ở qua mùa hè được, mới đặt tên là Tiên Hạ Loan.

Phù Sai từ khi được Tây Thi, cứ ở luôn trên Cô Tô Đài, bốn mùa vui chơi, rượu chè đàn địch, chẳng thiết đến việc gì cả. Chỉ có quan Thái tể là Bá Hi và Vương tôn Hùng thường hay chầu ở bên cạnh. Mỗi khi Ngũ Viên xin vào yết kiến, Phù Sai vẫn từ chối không cho vào. Vua Việt là Câu Tiễn nghe tin Phù Sai say mê Tây Thi, ngày nào cũng ham sự vui chơi, mới lại bàn mưu với Văn Chủng. Văn Chủng nói:

— Tôi nghe nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Năm nay lúa má hỏng cả, thóc gạo kém lắm. Đại vương nên xin với vua Ngô, để vay thóc về mà chu cấp cho dân. Nếu trời không tựa Ngô thì xui khiến vua Ngô cho ta vay thóc.

Câu Tiễn liền sai Văn Chủng đem nhiều lễ vật đút cho Bá Hi, để Bá Hi đưa vào yết kiến Phù Sai. Phù Sai cho Văn Chủng vào yết kiến ở Cô Tô Đài. Văn Chủng sụp lạy mà tâu rằng:

— Nước Việt tôi năm nay mất mùa, nhân dân cơ khốn, xin Đại vương phát cho vay một vạn thạch thóc ở kho Thái Sương, để cứu cho khỏi đói. Sang năm lúa chín, lại xin đem nộp.

Phù Sai nói:

— Vua Việt thần phục nước Ngô ta. Dân Việt đói khác nào như dân Ngô ta đói, ta có tiếc gì thóc kho mà không đem cứu cho.

Ngũ Viên nghe tin sứ nước Việt đến, cũng theo đến Cô Tô Đài, vào yết kiến Phù Sai. Đến khi nghe thấy Phù Sai cho vay thóc, lại can rằng:

— Không nên! Sự thế ngày nay, phi Ngô lấy Việt, tức Việt lấy Ngô. Tôi xem ý vua Việt sai sứ đến vay thóc, không phải là thực vì dân đói mà vay, thực định làm cho nước Ngô ta hết thóc. Ta cho vay cũng chẳng thêm tình thân ái, mà không cho vay cũng chưa đến nỗi cừu thù, chi bằng Đại vương từ chối đi là hơn.

Phù Sai nói:

— Khi Câu Tiễn bị giam ở nước ta, phải đi giật lùi mà dắt ngựa cho ta, chư hầu ai cũng biết cả. Nay ta tha cho về, cảm cái ơn tái sinh, vẫn một lòng trung thành mà cống hiến, khi nào lại còn dám phản nghịch mà lo!

Ngũ Viên nói:

— Tôi nghe vua Việt ngày đêm chăm chỉ, luyện tập quân sĩ để định báo thù nước Ngô. Nay Đại vương lại đem thóc cho vay, tôi e rằng có một ngày kia giống hươu nai chạy chơi ở trên Cô Tô Đài mà thôi.

Phù Sai nói:

— Câu Tiễn đã nguyện xin làm bề tôi ta, có lẽ nào bề tôi mà dám đánh vua hay sao!

Ngũ Viên nói:

— Vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ Vương đánh vua Trụ, không phải bề tôi đánh vua là gì.

Bá Hi đứng bên cạnh, quát lên mà mắng rằng:

— Quan Tướng quốc nói quá, Đại vương ta sao lại ví với Kiệt, Trụ được!

Bá Hi lại tâu với Phù Sai rằng:

— Ngày xưa Tề Hoàn công hội chư hầu ở Qui Khâu, có ước các nước phải cho nhau vay thóc, là để giữ lấy nghĩa giao lân. Huống chi Việt là một nước cống hiến ta xưa nay, sang năm lúa chín thì Việt lại đem đủ số thóc sang nộp. Thế thì chẳng thiệt gì cho Ngô, mà lại được ơn với Việt, việc gì mà Đại vương không làm!

Phù Sai cho nước Việt vay một vạn thạch thóc và bảo Văn Chủng rằng:

— Ta trái ý các quan triều thần mà cho Việt vay thóc, sang năm được mùa, phải đem nộp đủ, chớ có thất tín.

Văn Chủng sụp lạy mà tâu rằng:

— Đại vương thương nước Việt tôi mà cho vay, khi nào nước Việt tôi dám thất tín.

Văn Chủng lĩnh một vạn thạch thóc đem về nước Việt. Câu Tiễn mừng lắm. Các quan triều thần đều hô vạn tuế. Câu Tiễn truyền đem thóc ấy phát cho những dân nghèo trong nước. Trăm họ đều ca tụng công đức. Năm sau, nước Việt được mùa to, Câu Tiễn hỏi Văn Chủng rằng:

— Ta không trả thóc nước Ngô thì là bất tín, nếu trả thì hại Việt mà lợi cho Ngô, biết làm thế nào?

Văn Chủng nói:

— Ta nên chọn những thóc tốt, luộc đi rồi đem trả. Kẻ kia thấy thóc tốt tất nhiên đem trồng, ấy là trúng cái kế của ta đó!

Câu Tiễn theo kế ấy, đem thóc chín trả nước Ngô, không thiếu một đấu nào. Phù Sai khen rằng:

— Câu Tiễn thật là người thành tín!

Phù Sai lại trông thấy hột thóc to lớn lạ thường, bảo Bá Hi rằng:

— Đất nước Việt tốt lắm, vậy nên hột thóc cũng tốt, ta nên phân phát cho dân để gieo lấy giống.

Năm ấy khắp nước Ngô đều gieo thóc nước Việt, chẳng mọc cây nào cả. Dân Ngô bị đói to. Phù Sai vẫn cho là thổ nghi không giống nhau, chứ không biết là thóc Việt đã luộc chín rồi. Câu Tiễn nghe nói nước Ngô bị đói, toan đem quân đánh Ngô. Văn Chủng can rằng:

— Chưa nên đánh vội, vì nước Ngô còn có kẻ trung thần.

Câu Tiễn lại hỏi Phạm Lãi. Phạm Lãi nói:

— Cũng chẳng bao lâu nữa, xin Đại vương luyện tập quân sĩ để đợi thời.

Câu Tiễn nói:

— Quân sĩ nước ta, còn phải luyện tập nữa ru?

Phạm Lãi nói:

— Việc chiến tranh cần phải có quân tinh nhuệ, quân tinh nhuệ lại cần phải có nghề tài giỏi, như kiếm kích và cung nỏ. Mà các nghề ấy nếu không được minh sư dạy bảo thì không sao tài giỏi được. Tôi biết có người xử nữ ở Nam Lâm, giỏi nghề kiếm kích lắm; lại có người nước Sở tên gọi Trần Âm, giỏi nghề cung nỏ, xin Đại vương cho đón về.

Câu Tiễn sai sứ đem lễ vật đi mời xử nữ và Trần Âm. Người xử nữ ấy không biết tên họ là gì, nguyên vẫn ở trong rừng, chẳng học ai cả mà giỏi nghề kiếm kích. Sứ giả phụng mệnh Câu Tiễn đến Nam Lâm mời xử nữ, xử nữ bằng lòng đi ngay. Đi đến nửa đường gặp một ông cụ đầu bạc, đứng ở trước xe mà hỏi rằng:

— Nàng có phải là Xử nữ ở Nam Lâm đó không? Kiếm thuật của nàng thế nào mà nàng dám nhận lời mời của Việt. Âu là ta hãy thử nhau một phen.

Xử nữ nói:

— Xin tùy ý Tôn ông.

Ông lão ấy liền bẻ bụi trúc ở trong rừng như dứt nắm cỏ khô, toan đâm xử nữ. Ngọn trúc rơi xuống đất. Xử nữ bắt ngay lấy ngọn trúc ấy, rồi đâm lại ông lão. Bỗng thấy ông lão nhảy lên trên cây, hóa làm con vượn trắng, rồi kêu rống một tiếng mà đi mất. Sứ giả lấy làm lạ. Xử nữ vào yết kiến Câu Tiễn. Câu Tiễn mời ngồi, rồi hỏi nghề kiếm kích. Xử nữ nói:

— Nghề kiếm kích, trong phải giữ vững tinh thần, ngoài làm ra mặt an dật. Trông như đàn bà vậy mà thật dữ như con hổ, nhanh như con thỏ, khiến người ta không kịp chớp mắt. Ai theo được cái đạo ấy thì một người địch nổi trăm người, trăm người địch nổi vạn người. Nếu Đại vương không tin, xin cho thử xem.

Câu Tiễn sai một trăm dũng sĩ dùng kích xúm lại mà đâm xử nữ. Xử nữ giơ tay bắt luôn các ngọn kích mà ném xuống đất. Câu Tiễn phục là tài giỏi, mới giao cho luyện tập quân sĩ. Có 3000 quân sĩ theo được lời dạy. Hơn một năm, xử nữ cáo từ xin về Nam lâm. Lần sau Câu Tiễn sai người đến nơi thì đã không thấy đâu cả. Có người cho là trời tựa nước Việt, vậy sai thần nữ đem kiếm thuật xuống giúp.

Lại nói chuyện Trần Âm nguyên là người nước Sở, vì tội giết người, phải trốn sang nước Việt, Phạm Lãi thấy là người bắn giỏi lắm, chẳng sai phát nào, liền nói với Câu Tiễn đón làm xạ sư. Câu Tiễn hỏi Trần Âm rằng:

— Chẳng hay cung nỏ từ đâu mà sinh ra?

Trần Âm nói:

— Nỏ sinh ra bởi cung, cung sinh ra bởi đàn, đàn sinh ra bởi một người hiếu tử đời xưa. Nguyên đời xưa nhân thuần thục, đói thì ăn thịt giống vật, khát thì tìm uống nước mưa, người chết thì lấy cỏ bọc lại, đem ném ra giữa đồng. Sau có người hiếu tử không nỡ để cho giống cầm thú ăn thịt cha mẹ mình, mới chế ra đàn để giữ. Đến đời Thần Nông Hoàng đế chế ra cung tên để dẹp bốn phương. Bấy giờ có Hồ Phủ Sinh ở Kinh Sơn nước Sở, cha mẹ chết sớm cả, từ lúc còn bé, vẫn tập nghề cung tên, bắn đâu trúng đấy, sau đem nghề bắn cung truyền cho Hậu Nghệ, Hậu Nghệ truyền cho Bàng Mông, Bàng Mông truyền cho Cầm Thị. Sau vì chư hầu đánh nhau, cung tên không thể trị nổi, mới chế ra thứ nỏ. Cầm Thị truyền cho Sở Tam Hầu, từ bấy giờ nước Sở cứ dùng tên nỏ để đối địch với các nước. Tiền nhân tôi ngày xưa học nghề nỏ ở nước Sở, đã năm đời nay. Nỏ bắn vào đâu thì chim không kịp bay, thú không kịp chạy, xin Đại vương cho thử xem.

Câu Tiễn cũng giao cho Trần Âm luyện tập ba ngàn quân sĩ, dạy nghề bắn nỏ. Trần Âm dạy phép “liên nỗ” bắn luôn được ba mũi tên, không ai tránh kịp. Trong ba tháng thì quân sĩ học hết phép. Trần Âm bị bệnh mà chết. Câu Tiễn làm lễ hậu táng ở đấy, mới đặt tên cái núi ấy, gọi là Trần Âm Sơn. Ngũ Viên nghe tin Câu Tiễn luyện tập quân sĩ, mới vào yết kiến Phù Sai, khóc mà tâu rằng:

— Đại vương cứ tin nước Việt là một lòng thần phục. Nay Việt dùng Phạm Lãi, ngày đêm luyện tập quân sĩ, các nghề kiếm kích cung nỏ đều tài giỏi cả. Một mai nhân chuyện gì mà sang đánh nước ta thì nước ta nguy lắm. Nếu Đại vương không tin, sao không sai người dò thăm xem.

Phù Sai sai người dò thám nước Việt, biết hết những việc xử nữ và Trần Âm, về báo với Phù Sai. Phù Sai bảo Bá Hi rằng:

— Việt đã thần phục ta rồi, sao lại còn luyện tập quân sĩ làm gì nữa!

Bá Hi nói:

— Nước Việt đội ơn Đại vương phong đất cho, nếu không có quân sĩ thì lấy gì mà giữ. Vả việc luyện tập quân sĩ để giữ nước là việc thường, can chi mà Đại vương nghi ngại.

Phù Sai cũng không thể đành lòng được, mới có ý muốn cất quân đánh Việt. Lại nói chuyện họ Trần nước Tề, đã mấy đời cư xử được lòng dân lắm, vẫn có ý muốn mưu phản, nhưng sợ đảng họ Cao và Quốc còn nhiều, mới nghĩ cách để trừ đi. Trần Hằng tâu với Tề Giản công rằng:

— Nước Lỗ là nước láng giềng ta mà theo Ngô đánh ta, thì cái thù ấy không thể quên được.

Tề Giản công nghe lời, Trần Hằng tiến dẫn Quốc Thư làm đại tướng. Cao Vô Bình và Tôn Lâu làm phó tướng, bọn các quan đại phu là Công tôn Hạ, Công tôn Huy và Lư Khâu Minh đều đem quân theo. Trần Hằng đi tiễn, đóng quân ở trên sông Vấn Thủy, quyết chí diệt Lỗ rồi mới rút về. Bấy giờ ông Khổng Tử đang ở Lỗ, san thuật kinh Thi và kinh Thư. Một hôm, có người học trò là Cầm Lao ở Tề sang Lỗ, vào yết kiến ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử hỏi thăm việc nước Tề, mới biết là quan Tề đã đóng ở ngoài cõi, kinh sợ mà nói rằng:

— Lỗ là nước cha mẹ của ta, nay có hoạn nạn ta tất phải cứu.

Ông Khổng Tử nhân hỏi học trò rằng:

— Có ai dám vì ta sang sứ Tề, để ngăn quân Tề đừng sang đánh Lỗ?

Tử Trương (họ Chuyên Tôn tên là Sử) và Tử Thạch (tức là Công tôn Long, người nước Vệ) đều xin đi. Ông Khổng Tử không cho. Tử Cống (tên là Tứ, họ là Đoan Mộc) đứng dậy mà hỏi rằng:

— Như Tứ này có thể đi được không?

Ông Khổng Tử nói:

— Được!

Tử Cống tức khắc đi đến Vấn Thủy, xin vào yết kiến Trần Hằng.

Trần Hằng biết Tử Cống là học trò giỏi của ông Khổng Tử, đến đây tất là có ý muốn du thuyết, mới lập nghiêm nét mặt để đợi khi Tử Cống vào. Tử Cống cứ thản nhiên mà vào, hình như không trông thấy ai cả. Trần Hằng mời ngồi mà hỏi rằng:

— Tiên sinh đến đây muốn vì nước Lỗ mà làm thuyết khách đó chăng?

Tử Cống nói:

— Tôi đến đây là vì Tề, chớ không phải vì Lỗ. Nước Lỗ là một nước khó đánh, sao quan Tướng quốc lại đánh?

Trần Hằng nói:

— Nước Lỗ thế nào lại bảo là khó đánh?

Tử Cống nói:

— Nước Lỗ, thành mỏng mà thấp, hào hẹp mà nông, vua yếu, quan đại thần vô tài, quân sĩ không luyện tập, vậy nên bảo là khó đánh. Cứ như quan Tướng quốc bây giờ thì không gì bằng đánh Ngô. Nước Ngô thành cao mà hào rộng, binh giáp tinh lợi, có nhiều tướng giỏi, thế mà dễ đánh đó!

Trần Hằng sầm nét mặt mà nói rằng:

— Khó và dễ, tiên sinh nói điên đảo khác thường như vậy, tôi thật không hiểu.

Tử Cống nói:

— Quan Tướng quốc cho đuổi hết người chung quanh đi, tôi xin phân giải.

Trần Hằng liền đuổi hết người chung quanh đi, rồi ngồi gần lại mà hỏi Tử Cống. Tử Cống nói:

— Tôi nghe nói: lo ở mặt ngoài thì nên đánh nước yếu, lo ở mặt trong thì nên đánh nước mạnh. Tôi thiết nghĩ cái tình thế quan Tướng quốc ngày nay, không có thể cùng với các đại thần cộng sự được. Nay các đại thần có công phá nước Lỗ mà quan Tướng quốc không có công gì, tôi e các đại thần mỗi ngày một to thế thì quan Tướng quốc nguy lắm. Nếu quan Tướng quốc quay sang đánh Ngô thì các đại thần khổ về giặc mạnh, quyền chính trong nước chỉ một tay Tướng quốc mà thôi, còn gì hơn nữa!

Trần Hằng tươi nét mặt lại mà bảo rằng:

— Lời nói của Tiên sinh, thật hiểu thấu ruột gan tôi lắm; nhưng nay tôi đã dóng quân ở đây, nếu quay sang đánh Ngô thì tất người ta sinh nghi, biết làm thế nào?

Tử Cống nói:

— Quan Tướng quốc cứ đóng quân mà không đánh vội, tôi xin sang nói vua Ngô đánh Tề để cứu Lỗ, bấy giờ quan Tướng quốc đánh Ngô, thì thật là có cớ.

Trần Hằng bằng lòng, mới bảo Quốc Thư rằng:

— Ta nghe nói Ngô sắp đánh Tề, ta đóng quân ở đây chớ nên khinh động, để sai người dò thám xem nước Ngô thế nào. Nếu quả như vậy thì ta đánh Ngô trước, rồi sẽ đánh Lỗ.

Quốc Thư vâng lời. Trần Hằng trở về kinh thành nước Tề. Tử Cống tức khắc đi gấp sang Ngô, vào tâu với vua Ngô là Phù Sai rằng:

— Khi trước Ngô và Lỗ hợp quân đánh Tề, nước Tề vẫn căm thù lắm; nay quân Tề đã đóng ở Vấn Thủy, sắp sang đánh Lỗ, rồi cùng sẽ đánh đến Ngô, sao Đại vương không đánh Tề để cứu Lỗ. Đại vương phá vỡ được nước Tề mà thu phục được nước Lỗ thì uy danh lừng lẫy, hơn cả nước Tấn, chắc là nước Ngô lên được nghiệp bá chủ.

Phù Sai nói:

— Khi trước nước Tề đã tình nguyện xin thần phục nước Ngô, vì thế mà ta mới rút quân về, nay chẳng thấy triều cống chi cả, ta vẫn định đem quân sang hỏi tội một phen, nhưng nghe nói vua Việt luyện tập quân sĩ, có ý rình ta, vậy ta muốn đánh Việt trước, rồi sau sẽ đánh Tề, cũng chưa lấy gì làm muộn.

Tử Cống nói:

— Không nên! Việt yếu mà Tề mạnh. Cái lợi đánh Việt nhỏ mà cái hại thả Tề thì to. Vả chăng sợ nước Việt yếu mà tránh nước Tề mạnh thì sao gọi là trí. Trí và dũng đều mất cả thì tranh thế nào được nghiệp bá chủ. Nếu Đại vương có ngại nước Việt thì tôi xin sang bảo vua Việt đem quân theo hầu Đại vương đi đánh Tề, Đại vương nghĩ thế nào?

Phù Sai bằng lòng mà nói rằng:

— Nếu như thế thì chính hợp ý ta!

Tử Cống cáo từ Phù Sai rồi sang yết kiến vua Việt là Câu Tiễn. Câu Tiễn nghe nói Tử Cống sắp đến, thân hành ra đón ở ngoài 30 dặm, mời vào nhà quán xá, tiếp đãi rất hậu trọng, rồi khúm núm mà nói rằng:

— Nước tôi ở hẻo lánh về xứ Đông Hải này, chẳng hay Tiên sinh đến đây có việc gì làm vậy?

Tử Cống nói:

— Tôi đến đây để viếng Đại vương!

Câu Tiễn sụp lạy mà nói rằng:

— Tôi nghe nói có họa thì tức có phúc, Tiên sinh đến đây viếng tôi, tức là phúc cho tôi đó. Xin Tiên sinh ngỏ lời cho biết.

Tử Cống nói:

— Mới rồi, tôi vào yết kiến vua Ngô, bảo vua Ngô đánh Tề để cứu Lỗ. Vua Ngô nghi nước Việt có ý mưu phản, vậy muốn đánh Việt trước. Nếu Đại vương không có chí báo thù mà khiến cho người ta nghi, thế là vụng lắm; có chí báo thù mà khiến cho người ta biết, thế là nguy lắm.

Câu Tiễn ngạc nhiên, quì xuống mà nói rằng:

— Xin Tiên sinh nghĩ mưu cứu cho.

Tử Cống nói:

— Vua Ngô kiêu ngạo mà ưa nịnh, Bá Hi chuyên quyền mà khéo dèm, nay Đại vương dùng đồ lễ hậu và lời nói ngọt, rồi xin đem một toán quân theo Ngô đánh Tề. Kẻ kia đánh mà thua thì từ đó phải suy yếu đi; nếu đánh mà được thì tất sinh lòng kiêu ngạo, muốn làm bá chủ chư hầu, chắc phải đem quân đánh Tấn. Như thế thì nước Việt mới có dịp mà thừa thế sang đánh Ngô được.

Câu Tiễn sụp lạy hai lạy mà nói rằng:

— Tiên sinh đến đây, thật là trời giúp cho tôi! Khác nào như tôi đã chết mà được sống lại. Tôi xin vâng lời Tiên sinh.

Câu Tiễn đem trăm nén hoàng kim, một thanh bảo kiếm và đôi ngựa lương mã đưa tặng Tử Cống. Tử Cống cố ý chối từ không nhận, trở về báo với vua Ngô rằng:

— Vua Việt cảm cái ơn Đại vương sinh toàn cho, nghe nói Đại vương có bụng nghi, lấy làm sợ hãi lắm, nay mai sắp sai sứ đến tạ.

Phù Sai mời Tử Cống ra nhà quán xá, ở lại trong năm ngày. Quả nhiên nước Việt sai Văn Chủng đến nước Ngô, tâu với Phù Sai rằng:

— Đông Hải tiện thần là Câu Tiễn đội ơn Đại vương không giết, được toàn mà giữ việc cúng tế, dẫu chết cũng chưa đủ đền ơn. Nay nghe nói Đại vương vì nghĩa mà đánh kẻ mạnh cứu kẻ yếu, vậy có sai tôi là Văn Chủng đem hai chục chiếc tinh giáp, một cái mâu Khuất lư và một thanh kiếm Bộ quang của Tiền vương để lại, sang dâng Đại vương. Khi nào Đại vương cất quân thì Câu Tiễn xin đem ba ngàn quân đi theo để xông pha trong chốn mũi tên hòn đạn, dẫu chết cũng không từ chối.

Phù Sai bằng lòng lắm, mới triệu Tử Cống mà bảo rằng:

— Câu Tiễn thật là người tín nghĩa, định đem ba ngàn quân theo ta đánh Tề, Tiên sinh nghĩ thế nào?

Tử Cống nói:

— Không nên! Ta đã dùng quân Việt mà lại bắt vua Việt theo đi thì cũng quá lắm! Đại vương nên nhận cho quân theo mà từ chối không cho vua Việt đi.

Phù Sai nghe lời. Tử Cống cáo từ nước Ngô, lại đi sang nước Tấn, vào nói với Tấn Định công rằng:

— Tôi nghe nói: hễ không lo xa thì tất có hại gần. Nay Ngô sắp sửa đánh Tề; Ngô đánh mà được Tề thì tất cùng Tấn tranh bá chủ, nhà vua nên luyện tập quân sĩ mà đợi sẵn.

Tấn Định công nói:

— Xin vâng lời dạy.

Khi Tử Cống trở về nước Lỗ thì quân Tề đã bị quân Ngô đánh thua rồi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.