Đông Chu Liệt Quốc - Chương 83: Diệp công khởi binh đánh vu thắng câu tiễn báo thù giết phù sai
Diệp Công khởi binh đánh Vu Thắng
Câu Tiễn báo thù giết Phù Sai
Vệ Thành công thấy bao nhiêu bảo khí ở trong kho tàng bị Vệ Xuất công lấy đem đi cả, mới bàn mưu với Hồn Lương Phu. Hồn Lương Phu nói:
— Vong quân bây giờ cũng là con của chúa công, sao Chúa công không triệu về. Hễ vong quân về thì lấy lại được các đồ bảo khí.
Có đứa tiểu nội thị nghe được câu ấy ra nói riêng với thế tử Tật. Thế tử Tật sai mấy người tráng sĩ đem một con hà đi theo mà lẻn vào trong cung, hiếp Vệ Trang công phải uống máu ăn thề, cấm không được triệu vong quân và bắt phải giết Hồn Lương Phu. Vệ Trang công nói:
— Việc không triệu Chiếp về thì dễ lắm, còn Hồn Lương Phu thì khi trước ta có thề với hắn, tha cho ba tội chết, biết làm thế nào?
Thế tử Tật nói:
— Đợi khi có bốn tội thì phải giết đi!
Vệ Trang công thuận cho. Chưa được bao lâu, Vệ Trang công mới làm cái Hổ Mạc, triệu các quan đại phu vào để ăn mừng. Hồn Lương Phu mặc áo tử y hồ cừu mà đến. Khi ngồi ăn lại không cởi thanh kiếm. Thế tử Tật sai lực sĩ lôi Hồn Lương Phu ra chém. Hồn Lương Phu nói:
— Tôi có tội gì đâu!
Thế tử Tật kể tội rằng:
— Bề tôi vào yết kiến vua, đã có đồ thường phục; khi ăn phải cởi bỏ thanh kiếm. Thế mà nhà ngươi dám mặc tử y, đó là một tội; dám mặc hồ cừu, đó là hai tội; không cởi bỏ thanh kiếm, đó là ba tội!
Hồn Lương Phu kêu rằng:
— Chúa công đã có ước với tôi: tha cho ba tội chết!
Thế tử Tật nói:
— Vong quân là con mà dám chống cự với cha, thế là đại nghịch bất hiếu, sao nhà ngươi muốn triệu về, có phải là bốn tội đó không?
Hồn Lương Phu không trả lời được nữa, cúi đầu chịu chết chém. Mấy hôm sau, Vệ Trang công nằm mộng thấy con ma xõa tóc mà kêu rằng:
— Ta đây là Hồn Lương Phu, đã kêu trời không có tội!
Vệ Trang công sai Tư Di bói xem tốt xấu thế nào?
Tư Di nói:
— Không hại chi cả.
Khi cáo từ lui ra, nói chuyện với người khác rằng:
— Hồn oan đã báo thù như vậy thì thật là cái điềm thân chết nước loạn!
Tư Di liền bỏ trốn sang nước Tống. Vệ Trang công lên làm vua được hai năm, không sang triều cống nước Tấn. Quan thượng khanh nước Tấn là Triệu Ưởng đem quân đánh Vệ. Người nước Vệ đuổi Vệ Trang công. Vệ Trang công chạy sang nước Nhung, bị người nước Nhung giết chết, lại giết cả thế tử Tật.
Người nước Vệ lập Công tử Ban Sư lên nối ngôi. Trần Hằng nước Tề đem quân cứu Vệ. Bắt Ban Sư và lập Công tử Khởi (thứ đệ của Khoái Quý). Quan đại phu nước Vệ là Thạch Phố đuổi Công tử Khởi, lại đón Vệ Xuất công về làm vua. Vệ Xuất công về, lại đuổi Thạch Phố. Các quan đại phu không bằng lòng lại đuổi Vệ Xuất công. Vệ Xuất công chạy sang nước Việt. Người nước Vệ lập Công tử Mạc (cũng là thứ đệ của Vệ Xuất công), tức là Vệ Điệu công. Từ đấy nước Vệ vẫn thần phục nước Tấn, thế nước mỗi ngày một suy yếu.
Lại nói chuyện Bạch công Thắng (Công tử Thắng được phong là Bạch công, mới lấy Bạch làm họ) từ khi về nước Sở, nghĩ đến cái thù người nước Trịnh giết cha, vẫn muốn báo lại, chỉ vì Ngũ Viên là ân nhân của Bạch công Thắng, mà Ngũ Viên khi trước đã cứu Trịnh, vả lại Trịnh thần phục Sở Chiêu Vương, cũng không có điều gì thất lễ, vậy nên Bạch công Thắng không nói ra. Khi Sở Chiêu Vương mất rồi, quan lệnh doãn là Công tử Thân và quan tư mã là Công tử Kết lập con nàng Việt Nữ tên là Chương lên nối ngôi, tức là Sở Huệ Vương. Bạch công Thắng tự nghĩ mình là con thế tử Kiến trước, tất thế nào Công tử Thân cũng phải triệu mình đến để cùng cầm quyền chính nước Sở, nhưng không thấy Công tử Thân triệu, lại không thấy phong thêm tước lộc cho, có ý tức giận, đến khi nghe tin Ngũ Viên chết, liền nói:
— Bây giờ tức là lúc ta nên báo thù nước Trịnh!
Bạch công Thắng sai người xin với Công tử Thân rằng:
— Nước Trịnh hại cha tôi khi xưa, quan lệnh doãn đã có biết, nếu tôi không báo thù thì còn ra người thế nào được! Quan lệnh doãn thương cha tôi là người vô tội thì xin cho một toán quân sang kể tội mà đánh nước Trịnh, tôi xin làm tiền khu, dầu chết cũng không hối hận.
Công tử Thân từ chối rằng:
— Nay tân vương mới lập, trong nước chưa yên, nhà ngươi hãy đợi thư thả.
Bạch công Thắng mượn việc phòng bị nước Ngô, sai kẻ gia thần là Thạch Khất đắp một cái thành và luyện tập quân sĩ. Bạch công Thắng lại nói với Công tử Thân xin đem quân bản bộ của mình đi đánh Trịnh. Công tử Thân thuận cho. Bạch công Thắng chưa kịp đem quân đi thì Triệu Ưởng nước Tấn đã đem quân đánh Trịnh. Nước Trịnh sang cầu cứu với nước Sở. Công tử Thân lại đem quân cứu Trịnh. Nước Tấn rút quân về. Công tử Thân cùng với nước Trịnh ăn thề, rồi cũng rút quân. Bạch công Thắng giận lắm, nói:
— Không đánh Trịnh mà lại cứu Trịnh, thế thì quan lệnh doãn định lừa ta! Ta phải giết quan lệnh doãn trước, rồi sau sẽ đánh Trịnh.
Bạch công Thắng bàn mưu với một người trong họ là Bạch Thiện ở đất Lễ Phong.
Bạch Thiện nói:
— Ta theo nhà ngươi mà làm loạn nước thì ta bất trung với vua, ta bội nhà ngươi mà bỏ tình riêng thì là bất nhân với người trong họ.
Bạch Thiện bỏ không ăn lộc, về nơi điền dã, tưới vườn làm ruộng, suốt một đời người. Người nước Sở gọi tên cái vườn của Bạch Thiện ở là “Bạch Thiện tướng quân dược phố”. Bạch công Thắng nghe tin Bạch Thiện không đến, nổi giận nói rằng:
— Không có Bạch Thiện thì dễ thường ta không giết nổi lệnh doãn hay sao!
Bạch công Thắng nói xong, liền gọi Thạch Khất đến bảo rằng:
— Định giết quan lệnh doãn và quan tư mã, mỗi người phỏng độ 500 quân có địch nổi không?
Thạch Khất nói:
— Chưa đủ! Ở Thi Nam có kẻ dũng sĩ tên gọi Hùng Nghi Liêu, nếu được người ấy thì khỏe bằng 500 người.
Bạch công Thắng liền cùng với Thạch Khất đi sang Thi Nam vào yết kiến Hùng Nghi Liêu.
Hùng Nghi Liêu kinh sợ nói rằng:
— Vương tôn là bậc quý nhân, chẳng hay tới đây có việc gì?
Bạch công Thắng nói:
— Ta có một việc, muốn bàn mưu với nhà ngươi!
Nói xong, liền bảo cho biết việc định giết Công tử Thân, Hùng Nghi Liêu lắc đầu nói rằng:
— Quan lệnh doãn có công với nước mà không thù gì với tôi cả, tôi không dám làm việc ấy.
Bạch công Thắng nổi giận, tuốt gươm trỏ vào cổ Hùng Nghi Liêu bảo rằng:
— Nếu nhà ngươi không theo thì ta giết nhà ngươi trước!
Hùng Nghi Liêu vẫn cứ nghiễm nhiên, thong dong bảo rằng:
— Ngài định giết tôi, khác nào như giết con kiến, can gì phải nổi giận!
Bạch công Thắng vứt thanh kiếm xuống đất khen rằng:
— Nhà ngươi thật là dũng sĩ, ta thử đó mà thôi!
Bạch công Thắng mời Hùng Nghi Liêu lên xe rồi đem về, đãi lấy lễ thượng tân. Hùng Nghi Liêu cảm ơn, bằng lòng theo Bạch công Thắng. Khi vua Ngô là Phù Sai hội chư hầu ở Hoàng Trì, nước Sở sợ nước Ngô mạnh, truyền cho biên bị phải phòng giữ nghiêm mật. Bạch công Thắng nói thác là quân Ngô định lẻn đánh nước Sở, rồi lại đem quân cướp bờ cõi nước Ngô, có lấy được ít đồ khí giới, liền khoe khoang mà nói dối là thắng to lắm, xin đem những đồ khí giới bắt được, thân hành về dâng vua Sở, để tỏ quốc uy. Công tử Thân không biết là kế giả, liền thuận cho. Bạch công Thắng đem đồ giáp binh của mình, đóng làm hơn một trăm xe, nói là đồ lấy được của quân Ngô, sai 1.000 tráng sĩ đưa về triều để dâng nộp.
Sở Huệ công đang ngồi ở trên điện. Công tử Thân và Công tử Kết đứng hầu hai bên. Bạch công Thắng vào yết kiến. Sở Huệ Vương trông thấy ở dưới thềm có hai viên tướng quân mình mặc áo giáp, mới hỏi là ai. Bạch công Thắng trả lời:
— Đó là hai viên bộ hạ của tôi, tên gọi là Thạch Khất và Hùng Nghi Liêu, có công đánh Ngô đó!
Nói xong, Bạch công Thắng giơ tay vẫy hai người. Hai người toan bước lên thềm, Công tử Kết mắng rằng:
— Đại vương ta đang ngự trên điện, biên thần chỉ cho lạy ở dưới thềm, không được phép lên.
Thạch Khất và Hùng Nghi Liêu cứ rảo bước tiến lên. Công tử Kết sai thị vệ ngăn lại. Hùng Nghi Liêu gạt mạnh một cái, các thị vệ ngã lăn cả, rồi hai người cứ việc tiến. Thạch Khất rút gươm đánh Công tử Thân. Hùng Nghi Liêu rút gươm đánh Công tử Kết. Bạch công Thắng quát to lên bảo các tráng sĩ rằng:
— Sao các ngươi không tiến cả lên?
Một nghìn tráng sĩ đều cầm binh khí tiến vào. Bạch công Thắng giữ chặt lấy Sở Huệ Vương, không cho cựa quậy. Thạch Khất trói Công tử Thân lại. Các quan triều thần đều sợ khiếp đảm. Chỉ có Công tử Kết vốn là người dũng lực, rút ngay được ngọn kích ở trên điện, giao chiến với Hùng Nghi Liêu, Hùng Nghi Liêu bỏ thanh gươm xuống, rồi cướp lấy ngọn kích của Công tử Kết. Công tử Kết nhặt lấy thanh gươm chém vào vai bên tả Hùng Nghi Liêu. Hùng Nghi Liêu cũng đâm trúng vào bụng Công tử Kết. Hai người hăng quá, thành ra cùng chết ở nơi điện đình. Công tử Thân bảo Bạch công Thắng rằng:
— Mày sang ăn nhờ ở nước Ngô, ta nghĩ tình cốt nhục, triệu mày về nước, phong làm tước công, nào ta có phụ bạc gì với mày mà mày làm phản.
Bạch công Thắng nói:
— Nước Trịnh giết cha ta. Mày cùng nước Trịnh giảng hòa thì mày tức là nước Trịnh. Ta vì cha ta báo thù, chứ ta có nghĩ gì đến tình riêng!
Công tử Thân than rằng:
— Tiếc thay! Ta không nghe lời Thẩm Chư Lương ngày trước.
Bạch công Thắng chém đầu Công tử Thân, rồi căng xác ở trong triều.
Thạch Khất nói:
— Nếu không giết vua đi thì việc không xong được.
Bạch công Thắng nói:
— Đứa nhụ tử ấy cũng không có tội gì, thôi thì bỏ đi là xong.
Bạch công Thắng truyền giam Sở Huệ Vương ở Cao Phủ. Bạch công Thắng muốn lập Công tử Khải (con Sở Bình Vương) lên làm vua. Công tử Khải cố ý xin từ chối. Bạch công Thắng giết chết. Thạch Khất lại khuyên Bạch công Thắng lên làm vua. Bạch công Thắng nói:
— Các huyện công còn nhiều, ta nên triệu cả đến.
Bạch công Thắng đóng quân ở nhà Thái Miếu. Quan đại phu là Quản Tu (dòng dõi Quản Trọng, trốn sang ở nước Sở), đem quân đánh Bạch công Thắng. Đánh nhau trong ba ngày, quân Quản Tu thua, Quản Tu bị giết. Ngữ Công Dương mật sai người đào chân tường Cao Phủ làm một cái huyệt nhỏ. Đang đêm lẻn vào đem Sở Huệ Vương ra, trốn ở trong cung Sở Chiêu Vương phu nhân (tức là Việt Nữ). Diệp Công là Phẩm Chư Lương nghe tin, đem quân đất Diệp về Sở. Mới về đến ngoài cõi, đã thấy nhân dân nước Sở kéo nhau ra đón. Ai trông thấy Diệp Công chưa đội mũ trụ, mặc áo giáp, đều ngạc nhiên nói rằng:
— Sao ngài không đội mũ trụ! Người trong nước mong ngài đến, khác nào như con đỏ mong cha mẹ, vạn nhất mà mũi tên của quân giặc, nó phạm tới ngài thì chẳng phụ lòng người trong nước lắm ru!
Diệp Công liền mặc áo giáp, đội mũ trụ ra đi. Đi đến gần đô thành, lại gặp nhân dân ra đón, trông thấy Diệp Công đội mũ trụ, lại ngạc nhiên nói rằng:
— Sao ngài lại đội mũ trụ! Người trong nước mong ngài đến, khác nào như năm mất mùa mà mong thóc gạo, được trông thấy mặt ngài thì mừng như sống lại. Dẫu kẻ già, người trẻ, ai cũng liều chết giúp ngài. Cớ sao ngài lại đội mũ trụ để che kín mặt đi, khiến cho người ta cũng có bụng hồ nghi mà không cố sức!
Diệp Công liền bỏ mũ trụ xuống mà đi. Diệp Công biết lòng dân về với mình, mới cắm lá cờ đại bái ở trên xe. Châm Doãn Cố thấy Bạch công Thắng cho người triệu, toan đem tư thuộc vào thành, sau trông thấy lá cờ đại bái có đề chữ “Diệp”, liền theo Diệp Công. Người nước Sở trông thấy Diệp Công đến, mở toang cửa thành ra đón. Diệp Công đem quân đánh Bạch công Thắng ở nhà Thái Miếu, Thạch Khất bị thua, vực Bạch công Thắng lên xe, rồi trốn sang Long Sơn, định chạy sang nước khác. Diệp Công đem quân đuổi theo. Bạch công Thắng tự thắt cổ mà chết. Thạch Khất đem chôn ở phía sau núi. Diệp Công đem quân đến bắt sống được Thạch Khất, hỏi Thạch Khất rằng:
— Bạch công Thắng ở đâu?
Thạch Khất nói:
— Đã tự tử chết rồi!
Diệp Công lại hỏi:
— Xác chôn ở đâu?
Thạch Khất nhất định không nói ra. Diệp Công truyền đem một cái vạc nước đun sôi để ở trước mặt Thạch Khất bảo rằng:
— Nếu không nói thì sẽ bị mổ.
Thạch Khất cởi ngay áo ra, rồi cười bảo rằng:
— Việc thành thì được làm quan to, việc chẳng thành thì sẽ bị mổ đó là lẽ thường! Khi nào ta lại chịu bán cái xác người chết để cầu thoát nạn hay sao!
Thạch Khất nói xong, liền nhảy vào trong vạc, thân thể nát nhừ ra. Diệp Công không tìm thấy xác Bạch công Thắng. Diệp Công đón Sở Huệ Vương lại về làm vua. Bấy giờ nước Trần nhân thấy nước Sở mất mùa, đem quân sang xâm lấn nước Sở. Diệp Công tâu Sở Huệ Vương rồi đem quân diệt nước Trần. Diệp Công cho con Công tử Thân là Ninh nối làm lệnh doãn, cho con Công tử Kết là Khoan nối làm tư mã, còn mình thì cáo lão trở về đất Diệp. Nước Sở đã nguy mà từ đó lại được yên, bấy giờ là năm thứ 42 đời Chu Kinh Vương. Năm ấy, vua Việt là Câu Tiễn cho người do thám, biết từ khi quân Ngô lui rồi chỉ say mê tửu sắc chẳng thiết gì triều chính, vả lại mấy năm mất mùa luôn, lòng dân ta oán. Câu Tiễn liền cử đại binh sang đánh Ngô. Quân Việt vừa đến ngoài cõi, Câu Tiễn trông thấy trên đường cái có một con ễnh ương lớn trợn mắt phình bụng, ra ý tức giận. Câu Tiễn đang ngồi xe, cúi đầu vào cái thức để tỏ lòng kính. Mọi người chung quanh đều hỏi:
— Đại Vương thấy gì mà kính như vậy?
Câu Tiễn nói:
— Ta trông thấy con ễnh ương tức giận khác nào như quân sĩ trong khi đang lâm trận, vậy nên ta kính.
Các quân sĩ đều bảo nhau rằng:
— Con ễnh ương tức giận mà đại vương còn có lòng kính. Chúng ta cố công luyện tập trong mấy năm nay lại không bằng con ễnh ương hay sao.
Bấy giờ quân sĩ đều khuyên bảo nhau liều chết để đánh giặc. Người trong nước tiễn đưa con em đi tòng chinh, đều khóc từ giã rằng:
— Chuyến đi này mà không diệt được Ngô thì quyết không trở về nữa.
Câu Tiễn lại hạ lệnh cho các quân sĩ rằng:
— Ai mà hai cha con cùng ở lính thì cho cha về, hai anh em cùng ở lính thì cho anh về; có cha mẹ mà không anh em thì cho về để nuôi cha mẹ; có tật bệnh không thể đi lính được thì cũng chu cấp thuốc men lương thực cho.
Quân sĩ cảm cái ơn ấy đều reo hò mừng rỡ. Khi đi đến bờ sông, chém kẻ có tội để giữ binh pháp, quân sĩ rất nghiêm chỉnh. Vua Ngô là Phù Sai nghe tin quân Việt lại đến, cũng đem hết quân ra bờ sông để đối địch. Quân Việt đóng đồn ở bờ sông phía Nam. Quân Ngô đóng đồn ở bờ sông phía Bắc. Câu Tiễn chia quân ra làm hai đạo: Phạm Lãi coi đạo hữu quân. Văn Chủng coi đạo tả quân. Đội quân tử 6.000 người, theo Câu Tiễn đi giữa. Hai bên định đến sáng hôm sau thì cùng nhau giao chiến ở giữa dòng sông. Tối hôm trước, Câu Tiễn truyền cho trung quân im lặng theo dòng sông mà lên trước năm dặm để đợi quân Ngô, dặn đến nửa đêm thì nổi hiệu trống mà tiến. Lại truyền cho hữu quân im lặng theo dòng sông lên trước mười dặm đợi khi tả quân tiếp chiến thì đổ ra đánh, đều dùng trống lớn để làm cho tiếng trống vang khắp gần xa.
Quân Ngô đến nửa đêm, bỗng nghe tiếng trống ầm trời, biết là quân Việt đến đánh lén, vội vàng đốt đuốc lên soi, chưa trông rõ gì cả, lại nghe có tiếng trống ở phía xa nổi lên, quân Việt hai mặt vây kín quân Ngô lại. Phù Sai kinh sợ, vội vàng chia quân ra đối địch, chẳng ngờ Câu Tiễn đem 6.000 quân, nhân khi trời tối, lẻn vào trong trận quân Ngô. Bấy giờ trời mới sáng, quân Ngô trông thấy trước sau tả hữu chỗ nào cũng là quân Việt, biết mình không thể địch nổi, vội vàng bỏ chạy. Câu Tiễn đem quân đuổi theo. Theo kịp đến đất Lập Trạch, lại đánh nhau một trận nữa. Quân Ngô lại thua. Quân Ngô đánh luôn ba trận, đều thua cả ba. Tướng nước Ngô là bọn Tào Cô và Từ Môn Sào đều chết trận cả. Phù Sai chạy thẳng về đô thành, đóng chặt cửa lại. Câu Tiễn theo con đường Hoành Sơn để tiến quân, lại đắp một cái thành ở ngoài Tư môn, gọi là Việt Thành, muốn để làm cho nước Ngô phải khốn quẫn. Câu Tiễn vây Ngô lâu ngày, người nước Ngô khốn quẫn quá. Bá Hi cáo ốm không dám ra. Phù Sai sai Vương tôn Lạc trần vai áo, quỳ xuống đất mà tiến sang tâu với Câu Tiễn rằng:
— Cô thần là Phù Sai ngày trước đắc tội ở Cối Kê, nhưng không dám trái mệnh, được cùng với đại vương giảng hòa: nay đại vương cất quân sang đánh cô thần, cô thần cũng mong đại vương nghĩ đến việc Cối Kê trước mà xá tội cho.
Câu Tiễn có ý không nỡ, đã toan cho hòa. Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:
— Đại Vương ngày đêm lo nghĩ, mưu tính trong 20 năm, nay sắp thành công mà lại bỏ đi là nghĩa làm sao!
Nghe Phạm Lãi nói, Câu Tiễn mới không cho hòa. Sứ giả nước Ngô đi lại bảy lượt mà Văn Chủng và Phạm Lãi nhất định không nghe, lại nổi hiệu trống đánh thành. Người nước Ngô không thể đánh lại được nữa. Phạm Lãi và Văn Chủng bàn nhau muốn phá Tư môn vào. Đêm hôm ấy, trông thấy trên cửa thành có treo cái đầu Ngũ Viên, mặt to bằng bánh xe, mắt sáng như lửa điện, râu và tóc đứng dựng cả lên, sáng rực trong mười dặm. Tướng sĩ nước Việt, ai cũng sợ hãi, đều đóng quân lại. Đến nửa đêm hôm ấy, bỗng có mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm, đá vụn và cát bay mù cả lên, nhanh hơn tên nỏ. Quân Việt gặp chẳng chết thì cũng bị thương, dây thuyền đứt hết, không nối liền với nhau được. Phạm Lãi và Văn Chủng lo sợ, trong khi đang mưa, trần vai áo đến cửa thành mà sụp lạy để tạ tội. Được một lúc thì thấy gió mưa im lặng cả.
Phạm Lãi và Văn Chủng đang ngồi ngủ gà để đợi trời sáng bỗng chiêm bao thấy Ngũ Viên ngồi trên một cái xe thắng con ngựa trắng đi đến, mũ áo chỉnh tề cũng như lúc sống, bảo Phạm Lãi và Văn Chủng rằng:
— Khi trước ta biết quân Việt thế nào rồi cũng kéo đến, có xin treo đầu ta ở Đông môn để được mắt trông thấy, chẳng ngờ vua Ngô đem treo đầu ta ở Nam môn. Lòng trung của ta chưa tuyệt, ta không nỡ khiến cho bọn ngươi chui qua đầu ta mà vào, vậy mới nổi cơn mưa gió để làm cho quân Việt phải lui. Nhưng lòng trời đã định cho quân Việt chiếm lấy nước Ngô thì ta cũng không thể nào ngăn cấm được. Bọn ngươi muốn vào thì đi theo phía Đông môn, ta sẽ vì bọn ngươi mà mở đường cho.
Hai người cùng chiêm bao như nhau, liền nói với Câu Tiễn. Câu Tiễn sai người khai một con kinh từ phía Nam qua phía Đông, khi khai đến Xa môn và Tượng môn thì bỗng thấy nước ở Thái Hồ từ Tư môn chảy vào, làn sóng dữ dội, làm thành một cái đại huyệt, có nhiều các giống cá chuyên, cá phù theo nước kéo vào. Phạm Lãi nói:
— Ấy là Ngũ Viên mở đường cho quân ta đi đó!
Phạm Lãi nói xong, tức khắc kéo quân vào thành. Phù Sai nghe tin quân Việt vào thành. Bá Hi đã xin hàng, liền cùng với Vương tôn Lạc và ba con chạy sang Dương Sơn, đi suốt ngày suốt đêm, bụng đói miệng khát, hai mắt hoa mờ. Các người chạy theo bứt được một nắm lúa đạo sống, đem xát đi rồi đưa cho Phù Sai. Phù Sai ăn xong, ngồi xuống đất, lấy tay vục nước ở ngòi lên uống lại hỏi:
— Ta vừa ăn thứ gì thế?
Các người nói:
— Đó là lúa đạo sống.
Phù Sai nói:
— Công tôn Thánh ngày trước bảo ta rồi phải chạy vất vả không kịp nấu cơm ăn, chính là thế này.
Vương tôn Lạc nói:
— Ăn no rồi thì xin đi. Phía trước có một cái hang sâu, ta hãy tránh vào đấy.
Phù Sai nói:
— Yêu ngôn đã hợp thì sắp đến ngày chết, ta còn tránh làm gì nữa.
Nói xong, cứ ngồi ở Dương Sơn, bảo Vương tôn Lạc rằng:
— Ngày trước ta giết Công tôn Thánh, ném ở trên đỉnh núi này, chẳng hay còn có thiêng hay không?
Vương tôn Lạc nói:
— Đại vương thử gọi xem!
Phù Sai gọi to lên rằng:
— Công tôn Thánh!
Trong núi cũng có tiếng nói theo rằng:
— Công tôn Thánh!
Ba lần gọi mà đều nghe thấy có tiếng nói theo. Phù Sai kinh sợ, lại thiên sang ở Vu Toại. Câu Tiễn lại đem 1.000 quân đuổi theo, vây kín mấy dặm. Phù Sai viết một bức thư, buộc đầu mũi tên, bắn vào trong đám quân Việt. Quân Việt nhặt được, đệ trình Phạm Lãi và Văn Chủng. Phạm Lãi và Văn Chủng cùng mở ra xem. Thư rằng:
“Ta nghe giảo thỏ đã chết thì tẩu cẩu tất bị mổ; địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn. Sao quan đại phu không lưu cho nước Ngô tôi còn lại một chút, để làm cái dư địa sau này”.
Văn Chủng cũng viết một bức thư buộc vào mũi tên mà đáp lại rằng:
“Nước Ngô có sáu điều lỗi to: giết kẻ trung thần là Ngũ Viên, đó là một điều lỗi to; giết kẻ trung thần là Công tôn Thánh, đó là hai điều lỗi to; quan thái tể Bá Hi là người sàm nịnh mà lại tin dùng, đó là ba điều lỗi to; Tề, Tấn vô tội mà đem quân sang đánh, đó là bốn điều lỗi to; Ngô, Việt cùng tiếp giáp nhau mà hay sang xâm nhiễu, đó là năm điều lỗi to; nước Việt giết tiên vương nước Ngô, mà nước Ngô không biết báo thù lại dung túng quân giặc để gây nên tai vạ, đó là sáu điều lỗi to. Có sáu điều lỗi to ấy thì tài nào mà không mất nước! Ngày xưa trời đem nước Việt cho Ngô, Ngô không chịu nhận; nay trời lại đem nước Ngô cho Việt, khi nào Việt lại dám trái mệnh trời!”
Phù Sai tiếp được thư, đọc đến điều lỗi thứ sáu, ứa nước mắt mà nói rằng:
— Ta quên kẻ thù của tiên vương mà không giết Câu Tiễn, là kẻ bất hiếu, vì thế mà trời không tựa nước Ngô nữa!
Vương tôn Lạc nói
— Tôi xin sang yết kiến vua Việt một lần nữa để mà cố kêu lại.
Phù Sai nói:
— Ta cũng không muốn về nước nữa! Nếu vua Việt cho ta làm phụ dung, để đời đời thần phục nước Việt thì ta cũng đành lòng.
Vương tôn Lạc sang đến quân Việt. Phạm Lãi và Văn Chủng không tiếp. Câu Tiễn trông thấy sứ giả nước Ngô khóc lóc mà về, liền động lòng thương, sai người bảo Phù Sai rằng:
— Ta nghĩ tình nhà vua ngày trước xin để nhà vua ở đất Dũng Đông, cấp cho 500 nóc nhà để trọn đời nhà vua.
Phù Sai sụt sùi đáp rằng:
— Đại vương thương tình mà xá cho Ngô thì Ngô cũng tức là một nơi ngoại phủ của đại vương đó. Nếu đại vương phá xã tắc, bỏ tôn miếu mà đem 500 nóc nhà cấp cho tôi thì tôi nay già rồi, không thể chịu được cái nhục ấy, còn sống làm gì nữa!
Sứ giả nước Việt về rồi, Phù Sai cũng vẫn chưa chịu tự tử. Câu Tiễn bảo Phạm Lãi và Văn Chủng rằng:
— Sao hai người không bắt Phù Sai mà giết đi cho rồi?
Phạm Lãi và Văn Chủng nói:
— Phù Sai cũng là một ông vua, chúng tôi không dám giết. Xin đại vương phụng mệnh trời mà làm chớ nên để chậm.
Câu Tiễn liền chống thanh kiếm đứng ở trước quân, sai người bảo Phù Sai rằng:
— Ở đời, chẳng có ông vua nào vạn tuế, tổng chi một chết là xong! Can gì lại đợi cho quân ta kề gươm đến tận cổ!
Phù Sai thở dài mấy tiếng, ngoảnh trông bốn mặt khóc than rằng:
— Ta giết trung thần là Ngũ Viên và Công tôn Thánh, nay ta phải tự tử cũng là muộn lắm rồi!
Phù Sai lại bảo các người chung quanh rằng:
— Giả sử chết mà có biết thì ta còn mặt mũi nào mà trông thấy Ngũ Viên và Công tôn Thánh ở dưới suối vàng. Âu là lấy ba bức lụa mà phủ mặt đi cho ta!
Nói xong, Phù Sai rút gươm đâm cổ chết. Vương tôn Lạc cởi áo để phủ mặt cho Phù Sai rồi lấy dây lưng thắt cổ chết ở bên cạnh. Câu Tiễn truyền theo hầu lễ chôn Phù Sai ở Dương Sơn, lại sai quân sĩ mỗi người một sọt đất đắp vào, chỉ trong một lúc thành ra đại chủng. Còn ba con Phù Sai, đem đày ở Long Vĩ Sơn. Câu Tiễn vào Cô Tô Thành, ngự ở trong cung vua Ngô. Các quan triều thần vào lạy mừng. Quan Thái tể là Bá Hi cũng ở trong hàng ấy cậy có cái ơn chu toàn cho Câu Tiễn ngày trước coi bộ khoe khoang. Câu Tiễn bảo Bá Hi rằng:
— Nhà ngươi là quan thái tể nước Ngô, khi nào ta dám xử như vậy! Vua Ngô ở Dương Sơn, sao nhà ngươi không đi theo.
Bá Hi thẹn mà lui ra. Câu Tiễn sai lực sĩ bắt giết đi, lại diệt cả gia tộc mà bảo rằng:
— Thế là ta báo thù cho Ngũ Viên đó!
Câu Tiễn phủ dụ dân Ngô rồi đem quân qua sông Giang, sông Hoài cùng với Tề, Tấn, Tống, Lỗ và chư hầu hội ở Thư Châu (đất nước Tề). Sai người đem lễ vật vào cống thiên tử nhà Chu. Bấy giờ Chu Kính Vương đã mất, thái tử Nhân lên nối ngôi, tức là Chu Nguyên Vương. Chu Nguyên Vương đem cổn miện, khuê bích, đồng cung, hồ thỉ ban cho Câu Tiễn, sai làm bá chủ ở Đông phương. Câu Tiễn vâng mệnh. Chư hầu đều sai sứ đến mừng.
Bấy giờ nước Sở đã diệt nước Trần, cũng sợ binh uy nước Việt, sai sứ đến mừng. Câu Tiễn cắt đất ở sông Hoài để cho nước Sở; cắt đất ở phía Đông sông Từ, vuông trăm dặm để cho nước Lỗ, những đất mà nước Ngô chiếm được của nước Tống khi trước lại đem trả Tống. Chư hầu đều mến phục, tôn Câu Tiễn làm bá chủ. Câu Tiễn về đến nước Ngô, sai người lập Hạ Đài ở đất Cối Kê, để rửa lại cái thẹn bị thua khi trước; lại bày tiệc ở trên Văn Đài nước Ngô, cùng với các quan uống rượu vui, sai nhạc công tấu khúc Phạt Ngô. Nhạc công gảy đàn cầm mà hát rằng:
“Đại vương ta thần vũ binh uy.
Muốn trừ vô đạo hỏi nhật kỳ.
Phạm Lãi, Văn Chủng liền tâu quỳ:
Ngô giết trung thần Ngũ Tử Tư.
Nay chẳng đánh Ngô còn đợi chi?
Mưu thần phụng mệnh ngay tức thì!
Mở mang nghìn dặm một trận đi.
Công nghiệp lừng lẫy nên nhớ ghi.
Thưởng phạt xứng đáng chẳng tiếc gì.
Vua tôi vui chén hồ mấy khi!”
Các quan trên đài đều tươi cười cả, chỉ có Câu Tiễn nét mặt không được vui. Phạm Lãi thấy vậy phàn nàn một mình rằng:
— Đại vương không muốn nói đến công kẻ hầu hạ thế là cái mối nghi kỵ đã trông thấy rồi!
Ngày hôm sau Phạm Lãi vào cáo từ với Câu Tiễn rằng:
— Tôi nghe nói vua nhục thì bề tôi nên chết. Khi trước đại vương bị nhục ở Cối Kê mà tôi không chết là định ẩn nhẫn để báo thù nước Ngô; nay nước Ngô đã diệt rồi, xin đại vương gia ân cho cái thân già yếu này được về nghỉ.
Câu Tiễn ứa nước mắt khóc, ướt đầm cả áo mà bảo rằng:
— Ta nhờ sức nhà ngươi mà được như thế này, đang nghĩ để đền công lại, cớ sao nhà ngươi lại nỡ bỏ ta mà đi. Nhà ngươi ở lại thì ta giao quyền chính cho, nếu đi thì vợ con nhà ngươi, ta sẽ giết hết.
Phạm Lãi nói:
— Giết tôi thì hơn chứ vợ con tôi có tội gì. Thôi thì sống chết cũng tùy ý đại vương, tôi chẳng nghĩ chi cả!
Đêm hôm ấy, Phạm Lãi đi một chiếc thuyền nhỏ, ra Tề Nữ Môn qua Tam Giang vào Ngũ Hồ. Ngày hôm sau, Câu Tiễn sai người triệu Phạm Lãi thì Phạm Lãi đã đi rồi. Câu Tiễn sầm nét mặt lại mà bảo Văn Chủng rằng:
— Có thể đuổi theo bắt lại được Phạm Lãi không?
Văn Chủng nói:
— Mưu trí của Phạm Lãi, quỷ thần khó lường được ta không nên đuổi theo.
Văn Chủng lui ra. Có người mang một bức thư của Phạm Lãi. Thư rằng:
“Vua Ngô có nói: “Giảo thỏ đã chết thì tẩu cẩu tất bị mổ; địch quốc đã diệt thì mưu thần cũng chẳng còn” ngài không nhớ hay sao! Vua Việt môi dài mỏ quạ, là người nhẫn nhục mà ghét kẻ có công. Cùng ở lúc hoạn nạn thì được chớ cùng ở lúc an lạc thì không toàn, nay ngài không đi, tất có tai vạ”.
Văn Chủng xem xong, muốn hỏi người đưa thư thì người đưa thư đã đi đâu mất rồi. Văn Chủng có ý buồn rầu, nhưng vẫn chưa tin lời Phạm Lãi, liền phàn nàn rằng:
— Thiếu Bá (tên tự của Phạm Lãi) xử như thế cũng khí quá!
Mấy hôm sau, Câu Tiễn rút quân về Việt, đem cả Tây Thi về. Câu Tiễn phu nhân mật sai người bắt Tây Thi đem ra bờ sông, buộc viên đá lớn vào, rồi đẩy xuống sông mà bảo rằng:
— Nó là cái vật vong quốc, còn để làm gì!
Người sau không rõ chuyện ấy, ngoa truyền là: Phạm Lãi đem Tây Thi đi Ngũ Hồ, mới có hai câu thơ rằng:
“Đem Tây Thi đi là có ý
Sợ còn nghiêng nước hại quân vương!”
Xét thực ra thì Phạm Lãi đi có một mình, đến vợ con cũng còn bỏ lại, huống chi là Tây Thi. Lại có người nói Phạm Lãi mê Tây Thi, mới lập kế đem đẩy xuống sông, đó cũng là nói lầm. La Ẩn có thơ cãi oan cho Tây Thi rằng:
“Nước nhà còn, mất bởi cơ trời.
Sao cứ Tây Thi đổ lỗi hoài!
Tây tử nếu làm Ngô mất nước.
Thì sau Việt mất bởi vì ai?”
Câu Tiễn nghĩ công của Phạm Lãi, đem một trăm dặm đất phong cho vợ con. Lại sai thợ tượng đúc một pho tượng Phạm Lãi bằng vàng để ở bên cạnh, trông như Phạm Lãi còn sống. Phạm Lãi từ Ngũ Hồ đi ra bể, bỗng một hôm về đem cả vợ con đi, sang ở nước Tề, đổi tên là Chi Di Tử Bì, làm quan thượng khanh. Chưa được bao lâu lại từ chức về ẩn ở Đào Sơn, chăn nuôi các giống vật, sinh sản được lợi kể hàng 1.000 nén vàng, tự xưng là Đào Chu Công. Sách “Trí phú kỳ thư” tức là của Đào Chu Công làm ra.
Câu Tiễn không ban thưởng cái công diệt Ngô, lại không chia cho các quan một thước đất nào cả, và có ý khinh rẻ những kẻ công thần. Kế Nghê giả cách điên dại, rồi xin từ chức. Bọn Duệ Dung cũng nhiều người cáo lão. Văn Chủng nhớ lời nói của Phạm Lãi, cáo ốm không vào triều. Những cận thần của Câu Tiễn, có kẻ không bằng lòng với Văn Chủng liền nói dèm rằng:
— Văn Chủng tự nghĩ rằng công to mà thưởng ít, có ý oán vọng vậy nên không vào triều.
Câu Tiễn vốn biết cái tài của Văn Chủng, nghĩ thầm: Ngô đã diệt rồi, còn dùng chi nữa, sợ khi hắn làm loạn, chẳng ai trị nổi, nhưng muốn trừ đi, lại không có cớ gì.
Bấy giờ Lỗ Ai Công cùng ba nhà (Mạnh, Trọng, Quý) có hiềm khích, muốn mượn quân nước Việt trừ bỏ ba nhà, mới giả cách sang chầu nước Việt để mượn quân. Câu Tiễn lo Văn Chủng phản, không dám phát binh. Lỗ Ai Công chết tại nước Việt. Một hôm, Câu Tiễn đến thăm bệnh Văn Chủng. Văn Chủng làm ra dáng đau ốm, gượng dậy nghênh tiếp. Câu Tiễn liền cởi thanh kiếm ra ngồi, bảo Văn Chủng rằng:
— Ta nghe người chí sĩ không lo thân mình chết, mà lo đạo mình không được làm. Nhà ngươi có bảy thuật ta mới thi hành có ba mà Ngô đã diệt; còn thừa bốn thuật nhà ngươi định dùng làm gì?
Văn Chủng nói:
— Tôi cũng không biết dùng để làm gì cho được!
Câu Tiễn nói:
— Xin nhà ngươi đem bốn thuật ấy mà giúp cho tiền nhân nước Ngô ở dưới âm phủ, phỏng có nên chăng?
Câu Tiễn nói xong lên xe đi về, bỏ thanh kiếm đeo lại ở chỗ ngồi, Văn Chủng cầm lấy xem thì vỏ kiếm có hai chữ Chúc Lâu, tức là thanh kiếm của Phù Sai đưa cho Ngũ Viên để tự tử khi trước. Văn Chủng ngửa mặt lên trời than rằng:
— Cổ nhân có nói “Ơn to thì không báo nữa” ta không nghe lời Thiếu Bá (tên tự của Phạm Lãi) đến nỗi bị giết, chẳng cũng ngu lắm ru!
Văn Chủng lại cười nói rằng:
— Nhà bàn luận đời sau, tất đem ta mà sánh với Ngũ Viên thì còn oán hận gì nữa.
Văn Chủng nói xong liền cầm kiếm tự tử. Câu Tiễn nghe tin Văn Chủng chết, mừng lắm đem ra chôn ở Ngọa Long Sơn. Sau người ta gọi núi ấy là Chủng Sơn. Chôn chưa được một năm thì nước bể dâng lên đánh lở linh cữu xuống bể. Câu Tiễn làm vua được 27 năm thì chết, tức là năm thứ bảy đời Chu Nguyên Vương. Con cháu sau nối đời xưng bá.
Lại nói chuyện sáu quan khanh nước Tấn, từ khi Phạm Thị và Trung Hàng thị mất đi rồi, chỉ còn có bốn quan khanh là Trí, Triệu, Hàn, Ngụy mà thôi. Trí thị, Tuân thị và Phạm thị nguyên cùng là họ Tuân, vì muốn phân biệt, mới theo lối Trí Oánh, đổi là Trí thị. Bấy giờ Trí Dao cầm quyền chính gọi là Trí Bá. Bốn quan khanh nghe tin họ Điền giết vua chuyên quyền mà chư hầu không ai đánh, đều bàn nhau chiếm đất để làm phong ấp. Phần đất của Tấn Xuất công, lại ít không bằng bốn quan khanh. Hãy nói chuyện Triệu Giản Tử tên Ưởng sinh được mấy người con: con trưởng tên là Bá Lỗ, còn người con nhỏ nhất tên Vô Tuất, là con một người tiện tỳ. Có người thầy tướng tên gọi Cô Bố, tên tự là Tứ Khanh đi đến nước Tấn. Triệu Ưởng sai gọi đến để xem tướng cho các con. Tử Khanh nói:
— Không ai đáng làm tướng quân.
Triệu Ưởng than rằng:
— Nếu vậy thì họ Triệu ta suy mất!
Tử Khanh nói:
— Lúc tôi đến đây, có gặp một chàng trẻ tuổi đi ở đường mà kẻ theo hầu đều là người trong phủ ngài, ý chừng cậu ấy là con ngài có phải không?
Triệu Ưởng nói:
— Đấy là đứa con nhỏ của ta, tên gọi Vô Tuất, là con một người tiện tỳ, không đáng kể đến.
Tử Khanh nói:
— Trời có lòng bỏ thì dẫu quý cũng hóa tiện, trời có lòng tựa thì dẫu tiện cũng hóa quý. Cậu ấy cốt tướng khác các Công tử. Tôi chưa được xem rõ, ngài nên cho gọi đến.
Triệu Ưởng sai người gọi Võ Tuất đến. Tử Khanh trông thấy, vội vàng đứng dậy vái chào mà nói rằng:
— Thật là một vị tướng quân!
Triệu Ưởng cười mà không nói gì cả. Hôm khác, gọi các con đến để hỏi xem việc học vấn ra sao. Vô Tuất hỏi đâu nói đấy, lời lẽ phân minh. Triệu Ưởng biết là người hiền, liền bỏ Bá Lỗ, lập Vô Tuất làm đích tử. Một hôm, Trí Bá giận nước Trịnh không đến triều, muốn cùng Triệu Ưởng đánh Trịnh. Gặp khi Triệu Ưởng ốm, sai Vô Tuất đi thay. Trí Bá đem rượu đổ cho Vô Tuất uống. Vô Tuất không thể uống được. Trí Bá đang say nổi giận, cầm chén rượu ném vào mặt Vô Tuất, bị thương chảy máu. Tướng sĩ họ Triệu đều giận muốn đánh Trí Bá. Vô Tuất nói:
— Đó là một điều nhỏ, ta nên nhẫn nhục.
Khi Trí Bá rút quân về nước, lại nói là lỗi của Vô Tuất, muốn cho Triệu Ưởng bỏ Vô Tuất, nhưng Triệu Ưởng không theo. Từ bấy giờ Vô Tuất thành ra có hiềm khích với Trí Bá. Triệu Ưởng ốm nặng, bảo Vô Tuất rằng:
— Ngày khác nước Tấn có loạn, chỉ đất Tấn Dương có thể trông cậy được. Con nên nhớ lời.
Nói xong, Triệu Ưởng mất. Vô Tuất thay ngôi Triệu Ưởng, tức là Triệu Tương Tử. Đó là năm thứ hai đời Chu Định Vương (tên là Giới, con Nguyên Vương). Bấy giờ Tấn Xuất công giận bốn quan khanh chuyên quyền, mật sai người mượn quân Tề và quân Lỗ về đánh bốn quan khanh. Điền thị nước Tề cùng ba nhà nước Lỗ lại đem các mưu ấy bảo Trí Bá. Trí Bá giận lắm, cùng với Hàn Khanh Tử là Hổ Ngụy Hoàn Tử là Câu, Triệu Tương Tử là Vô Tuất hợp quân bốn nhà lại để đánh đuổi Tấn Xuất công. Tấn Xuất công chạy sang nước Tề. Trí Bá lập cháu tằng tôn Tấn Chiêu công là Kiên lên nối ngôi, tức là Tấn Ai công. Từ bấy giờ quyền chính nước Tấn đều về tay Trí Bá (tức là Trí Dao). Trí Bá có ý muốn chiếm nước Tấn, triệu các gia thần đến để thương nghị.

