Đông Chu Liệt Quốc - Chương 82: Ngũ viên liều chết can vua ngô khoái qúi lập mưu về nước vệ
Ngũ Viên liều chết can vua Ngô
Khoái Quý lập mưu về nước Vệ
Bấy giờ là năm thứ 36 đời Chu Kinh Vương, vua Việt là Câu Tiễn sai quan Đại phu là Chư Kê Dĩnh đem ba ngàn quân giúp Ngô đánh Tề. Vua Ngô là Phù Sai cử đại binh đi đánh Tề, sai người lập biệt quán ở đất Câu Khúc, chung quanh trồng cây thu ngô, gọi là Ngô cung. Cho Tây Thi ra nghỉ mát ở đấy, đợi khi thắng Tề rồi thì Phù Sai cũng sẽ nghỉ ở đấy cho qua mùa hạ.
Khi quân sắp khởi hành, Ngũ Viên lại can rằng:
— Nước Việt chính là cái bệnh tâm phúc của ta, còn nước Tề chẳng qua như là bệnh ghẻ lở ở bề ngoài mà thôi. Nay Đại vương đem mười vạn quân, đi nghìn dặm đường, để chữa cái bệnh ghẻ lở mà quên mất cái bệnh tâm phúc. Tôi e rằng chưa thắng được Tề mà phải khổ với Việt.
Phù Sai nổi giận mà nói rằng:
— Ta đã định ngày phát binh mà lão tặc dám đem lời quái gở để làm ngăn trở quân ta, nghĩ có đáng tội không!
Phù Sai có ý muốn giết Ngũ Viên. Bá Hi mật tâu với Phù Sai rằng:
— Ngũ Viên là một bậc lão thần đời trước, ta không nên giết, chi bằng Đại vương sai sang ước chiến với nước Tề, để cho người Tề giết đi.
Phù Sai nói:
— Quan Thái tể nói phải lắm!
Phù Sai liền viết một bức thư kể tội nước Tề đánh Lỗ là khinh Ngô, sai Ngũ Viên đưa sang vua Tề, định làm cho vua Tề tức giận mà giết Ngũ Viên. Ngũ Viên biết là nước Ngô tất mất, mới đem người con là Ngũ Phong cùng đi, khi đến Lâm Tri (kinh thành nước Tề), Ngũ Viên đem bức thư của Phù Sai vào đưa cho Tề Giản công. Tề Giản công nổi giận toan giết Ngũ Viên. Bão Tức (con Bão Mục) can rằng:
— Ngũ Viên là trung thần nước Ngô, đã nhiều lần can ngăn mà không hợp ý vua Ngô, nay vua Ngô sai sang đây là muốn cho ta giết, để khỏi mang tiếng là giết kẻ trung thần, chi bằng ta tha cho về, khiến đảng trung đảng nịnh công kích lẫn nhau, mà Phù Sai phải chịu tiếng ác.
Tề Giản công tiếp đãi Ngũ Viên tử tế, rồi hẹn đến cuối mùa xuân thì khai chiến. Nguyên Ngũ Viên cùng với Bão Mục quen nhau, vậy nên Bão Tức can Tề Giản công không nên giết Ngũ Viên. Bão Tức hỏi riêng Ngũ Viên về việc nước Ngô, Ngũ Viên ứa nước mắt khóc, không nói gì cả, chỉ cho con là Ngũ Phong nhận làm em Bão Tức, rồi gửi ở đấy. Về sau gọi là Vương tôn Phong, không dùng họ Ngũ nữa. Bão Tức thở dài mà than rằng:
— Ngũ Viên định về cố can mà chịu chết, vậy nên để con lại ở nước Tề!
Lại nói chuyện vua Ngô là Phù Sai hẹn ngày cất quân, đi qua Cô Tô Đài, ăn cơm trưa ở đấy. Cơm xong, chợp ngủ đi, bỗng có một giấc chiêm bao; khi tỉnh dậy, trong lòng hoảng hốt, mới gọi Bá Hi vào mà bảo rằng:
— Ta vừa chợp ngủ đi, chiêm bao thấy vào Chương Minh cung; khi vào đến nơi, thấy hai cái hũ đun chưa chín; lại có hai con chó đen, một con cắn về phía nam, một con cắn về phía bắc; lại có hai chiếc cương thu treo ở bên tường; lại thấy nước chảy mông mênh vào chốn điện đường; còn về hậu phòng thì nghe tiếng ầm ầm, chẳng ra chuông, chẳng ra trống; trông ra phía vườn trước, chẳng thấy cái gì khác cả, chỉ toàn một giống ngô đồng. Quan Thái tể thử đoán hộ ta xem tốt xấu thế nào?
Bá Hi sụp lạy mà chúc mừng rằng:
— Tốt thay! Cái mộng của Đại vương ứng vào việc đánh Tề này! Hai chữ “Chương minh” nghĩa là phá giặc thành công, tiếng tăm lừng lẫy; hai cái hũ đun mà chưa chín, nghĩa là khí thế Đại vương đang thịnh; hai con chó đen; một con cắn về phía nam, một cắn về phía bắc, nghĩa là các nước phải đến triều phục nước ta, hai chiếc cương thu treo ở bên tường, nghĩa là các dân nông phố chăm việc làm ruộng; nước chảy mông mênh, vào chốn điện đường, nghĩa là các nước đem đồ cống hiến đến nhiều, nơi hậu phòng nghe tiếng ầm ầm, chẳng ra chuông, chẳng ra trống, nghĩa là cung nữ vui vẻ; trông ra phía vườn trước, toàn một giống ngô đồng, nghĩa là đem thứ gỗ cây ngô đồng ấy làm đàn cầm, đàn sắt thì tiếng kêu rất êm ái. Cái mộng của Đại vương tốt không biết dường nào mà kể!
Phù Sai dẫu ưa lời nịnh, nhưng vẫn không đành lòng, lại bảo Vương tôn Lạc! Vương tôn Lạc nói:
— Tôi dốt không biết đoán mộng. Ở núi Dương Sơn về phía tây thành có một người dị sĩ, tên gọi Công tôn Thánh. Người ấy học rộng lắm, nếu Đại vương trong bụng hồ nghi, sao không triệu đến mà bảo đoán xem.
Phù Sai nói:
— Nhà ngươi triệu đến đây cho ta.
Vương tôn Lạc đi triệu Công tôn Thánh. Công tôn Thánh hỏi cớ, rồi phục xuống đất mà khóc. Người vợ đứng cạnh cười mà bảo rằng:
— Phu quân dở hơi quá! Nghe thấy vua triệu mà lại khóc lóc như mưa.
Công tôn Thánh thở dài mà than rằng:
— Thương thay! Việc này nàng không biết được. Ta đã tính số ta đến ngày nay là hết. Bây giờ ta từ biệt cùng nàng, vậy nên ta thương.
Vương tôn Lạc giục Công tôn Thánh lên xe, cùng đến Cô Tô Đài. Phù Sai triệu Công tôn Thánh vào, rồi nói chuyện chiêm bao cho nghe và bảo đoán. Công tôn Thánh nói:
— Tôi biết nói thì tất chết, nhưng dẫu chết cũng cứ nói. Lạ thay! Cái mộng của Đại vương ứng vào việc đánh Tề này! Chữ “Chương” nghĩa là thua chạy vất vả, chữ “Minh” nghĩa là về nơi âm ty; hai cái hũ đun mà chưa chín, nghĩa là Đại vương thua chạy, không kịp nấu ăn; hai con chó đen: một con cắn về phía nam, một con cắn về phía bắc, nghĩa là phải chạy về âm phương, vì âm thuộc về sắc đen; hai chiếc cương thu treo ở bên tường, nghĩa là quân Việt vào cày cuốc nền xã tắc nước Ngô; nước chảy mông mênh, vào chốn điện đường nghĩa là chốn điện đường bỏ không, nước trôi sóng vỗ; nơi hậu phòng nghe tiếng ầm ầm, chẳng ra chuông, chẳng ra trống, nghĩa là các cung nữ bị bắt, thở vắn than dài; trông ra phía vườn trước, toàn là một giống ngô đồng, nghĩa là đem gỗ cây ngô đồng làm đồ minh khí, đợi khi tống táng. Xin Đại vương bãi binh đánh Tề đi, và sai quan Thái tể là Bá Hi sang tạ tội với Câu Tiễn thì nước mới yên, mà thân mới toàn được!
Bá Hi đứng ở bên cạnh tâu với Phù Sai rằng:
— Đứa thất phu ở nơi thảo dã, lại dám ăn nói càn dỡ, chẳng giết còn để làm gì!
Công tôn Thánh trừng mắt mà mắng Bá Hi rằng:
— Quan Thái tể quyền cao chức trọng, lộc nước cơm vua, mà chẳng hết lòng trung thành, lại cứ giữ lối xu nịnh. Ngày khác quân Việt diệt Ngô, quan Thái tể phỏng có còn giữ được đầu hay không?
Phù Sai nổi giận nói:
— Đứa thất phu không có kiến thức gì, chỉ một mực nói càn, không giết thì tất để làm gì.
Nói xong, truyền cho lực sĩ đem cái dùi sắt để đánh Công tôn Thánh, Công tôn Thánh kêu to lên rằng:
— Trời ơi! Trời có thấu cái tình oan này cho ta không? Trung mà bị tội! Thật là chết oan! Xin khi chết rồi, chớ có mai táng, đem quăng ta ở dưới núi Dương Sơn, sau này còn có ảnh hưởng để báo Đại vương!
Phù Sai đánh chết Công tôn Thánh và quát to lên rằng:
— Dưới núi Dương Sơn này… Giống sài lang ăn thịt mày, lửa đốt xương mày, gió bay tro mày, hình tiêu ảnh diệt còn đâu ảnh hưởng để báo ta được!
Bá Hi rót chén rượu dâng lên mà chúc rằng:
— Mừng thay! Đại vương đã trừ được giống yêu quái! Xin dâng một chén rượu này, rồi sẽ phát binh.
Trung quân thì Phù Sai và Bá Hi. Thượng quân thì Tư Môn Sào. Hạ quân thì Tào Cô. Cả thảy mười vạn quân và ba ngàn quân Việt, cùng kéo về phía Sơn Đông. Phù Sai sai sứ sang ước hội trước với Lỗ Ai công để hợp quân đánh Tề. Ngũ Viên đem lời hẹn của Tề Giản công báo với Phù Sai ở ngang đường, rồi cáo ốm xin về trước, không theo đi đánh.
Lại nói chuyện tướng nước Tề là Quốc Thư đóng quân ở bên sông Vấn Thủy, nghe tin Ngô và Lỗ hợp quân đến đánh, liền họp các tướng lại để thương nghị. Bỗng nghe báo quan Tướng quốc là Trần Hằng sai em là Trần Nghịch đến. Quốc Thư và các tướng mời vào. Trần Nghịch nói quân Ngô đã kéo qua đất Doanh Bác, việc nguy cấp đến nơi! Quan Tướng quốc sợ các tướng không chịu cố sức, vậy sai tiểu tướng đến đây để đốc chiến. Cứ như việc ngày nay, có tiến không thoái, có chết không sống. Trong quân chỉ cho đánh trống, chứ cấm không cho đánh chiêng.
Các tướng đều nói:
— Chúng tôi xin liều chết để mà quyết chiến!
Quốc Thư truyền lệnh đi đón đánh quân Ngô. Đi đến Ngải Lăng gặp toán thượng quân của tướng nước Ngô là Tư Môn Sào. Quốc Thư hỏi các tướng rằng:
— Ai dám ra đối địch?
Công tôn Huy hớn hở mà xin đi, rồi đem quân bản bộ ra nghênh chiến. Hai bên đánh nhau hơn 30 hợp chưa phân được thua. Quốc Thư đem toán trung quân xông vào. Tiếng trống ầm ầm. Tư Môn Sào không thể địch nổi, phải bỏ chạy. Quốc Thư thắng trận càng thêm hăng hái, truyền cho quân sĩ, mỗi khi ra trận, phải đem theo một cái thừng dài và bảo rằng:
— Tục nước Ngô đều húi tóc cả, ta nên lấy thừng để mà xâu đầu.
Quân Tề nhao nhao như thể điên cuồng, cho là quân Ngô sắp sửa phá vỡ được. Tư Môn Sào đem bại binh về yết kiến Phù Sai. Phù Sai nổi giận toan chém Tư Môn Sào. Tư Môn Sào nói:
— Tôi mới ra trận, chưa biết hư thực thế nào, vậy nên bị thua, nếu đánh một trận nữa mà không được, bấy giờ xin chịu tội chết.
Bá Hi cũng cố xin hộ cho, Phù Sai đuổi Tư Môn Sào, rồi giao toán thượng quân cho quan Đại tướng là Triển Như. Gặp có tướng nước Lỗ là Thúc tôn Châu Cừu đem quân đến giúp. Phù Sai đưa cho một thanh kiếm và một bộ áo giáp, sai làm hướng đạo đóng quân ở cách Ngải Lăng năm dặm. Quốc Thư (tướng nước Tề), sai người đưa chiến thư đến. Phù Sai hẹn đến ngày hôm sau thì quyết chiến. Ngày hôm sau, Phù Sai sai Thúc tôn Châu Cừu bày trận thứ nhất, Triển Như bày trận thứ hai, Tào Cô bày trận thứ ba; Tư Môn Sào đem ba ngàn quân Việt đi lại để dụ địch; còn mình thì cùng Bá Hi đem đại binh đóng nơi gò cao mà tùy cơ tiếp ứng. Lại cho tướng nước Việt là Chư Kê Dĩnh theo ở bên cạnh để cùng quân chiến. Quân Tề đã bày trận xong, Trần Nghịch cùng với các tướng đều ngậm ngọc mà bảo nhau rằng:
— Ai chết thì đem liệm ngay!
Công tôn Hạ và Công tôn Huy sai quân sĩ đều hát bài tống táng, cùng thề với nhau rằng:
— Hễ ai còn sống mà về không phải liệt trượng phu.
Quốc Thư nói:
— Các tướng đều liều chết cố đánh thì tất phải được.
Khi hai bên bày trận xong rồi, Tư Môn Sào ra khiêu chiến. Quốc Thư bảo Công tôn Huy rằng:
— Viên bại tướng ở trong tay nhà ngươi đó, nhà ngươi nên ra mà bắt lấy.
Công tôn Huy cầm kích ra đánh. Tư Môn Sào bỏ chạy. Thúc tôn Châu Cừu đem quân ra đón đánh Công tôn Huy. Tư Môn Sào lại quay trở lại khiêu chiến. Quốc Thư lại sai Công tôn Hạ ra đánh. Công tôn Hạ ra. Tư Môn Sào lại chạy, Công tôn Hạ đuổi theo. Đại tướng nước Ngô là Triển Như lại đem quân ra đánh Công tôn Hạ. Tư Môn Sào lại quay trở lại khiêu chiến. Tướng nước Tề là Cao Vô Bình và Tôn Lâu đem quân ra đánh.
Tướng nước Ngô là Cô Tào một mình ra đánh nhau với hai tướng nước Tề, mà chẳng sợ hãi một chút nào cả. Hai bên giáp chiến, chết hại đã nhiều. Quốc Thư thấy quân Ngô không lui, cầm dùi đánh trống, để thúc đại binh tiến vào. Phù Sai đứng trên gò cao, trông thấy quân Tề hăng hái lắm, quân Ngô đã dần dần kém thế, liền sai Bá Hi đem một vạn quân xuống tiếp ứng. Quốc Thư trông thấy quân Ngô lại đến, đã toan chia quân ra đối địch, bỗng nghe tiếng chiêng dậy đất, quân Tề vẫn tưởng là quân Ngô định lui, chẳng ngờ Phù Sai đem ba vạn tinh binh, chia làm ba đạo, lại thấy hiệu đánh chiêng làm hiệu tiến quân, theo lối tắt xông thẳng vào trận địa quân Tề, làm cho quân Tề đứt ra ba ngả. Bọn Triển Như và Cô Tào nghe nói Phù Sai lâm trận, càng thêm hăng hái, đuổi đánh quân Tề thất điên bát đảo. Triển Như bắt sống được Công tôn Hạ và Tư Môn Sào đâm chết Công tôn Huy. Phù Sai bắn trúng Tôn Lâu. Lư Khâu Minh bảo Quốc Thư rằng:
— Quân Tề chết gần hết rồi, Ngài nên thay áo quần mà trốn đi, rồi sau sẽ liệu kế.
Quốc Thư thở dài mà than rằng:
— Ta đem mười vạn quân Tề mà bị tay người nước Ngô đánh thua, ta mặt mũi nào mà về triều nữa.
Quốc Thư nói xong, liền cởi áo giáp xông vào trong đám quân Ngô, bị quân Ngô đâm chết. Lư Khâu Minh núp ở trong đám cỏ cũng bị tướng nước Lỗ là Thúc tôn Châu Cừu bắt được. Phù Sai đại thắng quân Tề, các tướng hiến công, chém được tướng nước Tề là Quốc Thư và Công tôn Huy, bắt sống được Công tôn Hạ và Lưu Khâu Minh cũng đem chém nốt, chỉ có Cao Vô Bình và Trần Nghịch hai người trốn thoát mà thôi, còn người khác hoặc bị chém, hoặc bị bắt, không biết, bao nhiêu mà kể. Phù Sai hỏi Chư Kê Dĩnh (tướng nước Việt) rằng:
— Nhà ngươi xem quân Ngô cường dũng, so với quân Việt thế nào?
Chư Kê Dĩnh sụp lạy mà tâu rằng:
— Quân Ngô cường dũng, thiên hạ không nước nào địch nổi, huống chi nước Việt tôi là một nước hèn yếu xưa nay.
Phù Sai bằng lòng, trọng thưởng cho quân Việt, sai Chư Kê Dĩnh về trước để báo tin thắng trận cho Câu Tiễn biết. Tề Cảnh công lo sợ, cùng với Trần Hằng và Hám Chỉ thương nghị, rồi sai sứ đem nhiều lễ vật sang lễ Phù Sai để xin hòa. Phù Sai bảo nước Tề và nước Lỗ lại giao hiếu với nhau như anh em, không được gây việc tranh chiến. Nước Tề và nước Lỗ đều vâng mệnh cả. Phù Sai rút quân về. Về đến Ngô cung ở Câu Khúc bảo Tây Thi rằng:
— Ta để mỹ nhân ở đây là muốn cho được chóng gặp mặt.
Tây Thi sụp lạy mà chúc mừng. Bấy giờ gió thu hây hẩy, lá ngô rườm rà, Phù Sai và Tây Thi trèo lên trên đài, uống rượu rất vui, đến đêm khuya bỗng có tiếng lũ trẻ hát, Phù Sai lắng tai nghe. Bài hát như sau này:
“Lá đồng gặp mùa lạnh.
Vua Ngô tỉnh, chưa tỉnh…
Lá ngô đang mùa thu.
Vua Ngô sầu, lại sầu…”
Phù Sai không bằng lòng, sai người bắt lũ trẻ đến mà hỏi rằng:
— Ai dạy chúng bay hát câu ấy!
Lũ trẻ nói:
— Có một đứa trẻ áo đen, không biết ở đâu đến, dạy chúng tôi hát như thế, rồi lại đi đâu mất.
Phù Sai nổi giận mà nói rằng:
— Ta đây là tự trời sinh ra, có thần thánh ủng hộ, khi nào lại phải sầu!
Phù Sai toan giết lũ trẻ. Tây Thi cố xin mãi mới thôi. Bá Hi tâu với Phù Sai rằng:
— Xuân đến thì muôn vật vui, thu đến thì muôn vật sầu, đó là đạo trời. Đại vương lúc vui lúc sầu, hợp với đạo trời, còn lo gì nữa!
Phù Sai bằng lòng, đóng ở Ngô cung ba ngày, rồi mới về kinh thành nước Ngô. Các quan triều thần đều vào chúc mừng. Ngũ Viên cũng đến, nhưng không nói gì cả. Phù Sai trách Ngũ Viên rằng:
— Quan Tướng quốc can ta không nên đánh Tề, nay ta thắng được Tề trở về, quan Tướng quốc không có công gì cả, tưởng cũng nên hổ thẹn.
Ngũ Viên giận lắm, vùng vằng buông thanh kiếm xuống mà tâu rằng:
— Trời định làm mất nước nào thì vẫn cho có điều mừng nhỏ, rồi mới bắt phải lo lớn. Việc thắng Tề chẳng qua là một điều mừng nhỏ đó, tôi e rằng sắp có lo lớn đến nơi.
Phù Sai tức giận mà nói rằng:
— Lâu ta không trông thấy quan Tướng quốc, bên tai được êm ái, nay lại làm cho ta rầy rà khó chịu!
Phù Sai nói xong, bưng tai nhắm mắt, ngồi ở trên điện. Được một lúc, bỗng trừng mắt mà quát to lên rằng:
— Quái lạ!
Các quan triều thần tâu rằng:
— Đại vương thấy cái gì làm vậy?
Phù Sai nói:
—Ta trông thấy bốn người tựa lưng nhau, rồi mỗi người chạy về một phía, lại thấy ở dưới điện có hai người đứng đối nhau: người
ngoảnh mặt phía bắc giết người ngoảnh mặt phía nam. Các ngươi có trông thấy như thế không?
Các quan triều thần đều nói:
— Chúng tôi không trông thấy gì cả.
Ngũ Viên tâu rằng:
— Bốn người chạy về bốn phía, nghĩa là bốn phương phải ly tán; người ngoảnh mặt phía bắc giết người ngoảnh mặt phía nam, nghĩa là kẻ dưới phản người trên, bề tôi giết vua. Nếu Đại vương không biết tu tỉnh thì tất có ngày hại thân mất nước!
Phù Sai nổi giận mà nói rằng:
— Quan Tướng quốc nói gở lạ như vậy, ta không muốn nghe.
Bá Hi nói:
— Bốn phương ly tán, nghĩa là phải đến phục dịch ở sân nước Ngô, nước Ngô ta là bá chủ, sắp có cơ thay nhà Chu, ấy cũng là cái điềm bề tôi phạm đến vua đó.
Phù Sai nói:
— Quan Thái tể nói còn có thể nghe được, chứ như quan Tướng quốc nói thì chẳng được câu nào!
Mấy hôm sau, vua Việt là Câu Tiễn đem các quan triều thần nước Việt thân hành đến nước Ngô để chúc mừng thắng trận. Các quan triều thần nước Ngô thì vua Việt đều có quà biếu cả. Bá Hi nói:
— Thế là bốn phương phải phục dịch ở sân nước Ngô đó.
Phù Sai bày tiệc ở trên Văn Đài. Câu Tiễn ngồi hầu. Các quan đại phu đều đứng hầu ở bên cạnh. Phù Sai nói:
— Vua không quên người bề tôi có công, cha không quên người con có công. Nay quan Thái tể là Bá Hi vì ta luyện tập quân sĩ có công, ta định thưởng cho làm thượng khanh; vua Việt thờ ta như cha, một lòng hiếu thuận, ta định phong thêm đất cho, để đền cái công giúp ta. Các quan đại phu nghĩ thế nào?
Các quan đại phu đều nói:
— Đại vương thưởng công cho kẻ khó nhọc, đó là việc bá vương.
Ngũ Viên sụp xuống đất khóc mà tâu rằng:
— Than ôi, thương thay! Người trung bịt miệng, lũ nịnh chuyên tay, trái cho là phải, gian tưởng là ngay, có một ngày kia, diệt nước Ngô này, miếu xã bị tàn phá, cung điện đầy cỏ cây!
Phù Sai nổi giận, nói:
— Lão tặc gian trá, làm tai làm quái, chỉ muốn chuyên quyền, để hại nước ta. Ta nghĩ đến tiên vương ngày trước, vậy không nỡ giết, cho về mà tự xử lấy, đừng trông thấy mặt ta nữa!
Ngũ Viên nói:
— Lão thần này, nếu bất trung bất tín, không được làm tôi tiên vương, khác nào như Long Bàn gặp vua Kiệt, Tỷ Can gặp vua Trụ, tôi dẫu bị giết, nhưng Đại vương cũng khó toàn! Tôi xin từ đây vĩnh biệt, không trông thấy Đại vương nữa.
Ngũ Viên nói xong, tức khắc lui ra. Phù Sai vẫn còn chưa nguôi cơn giận. Bá Hi nói:
— Tôi nghe nói khi trước Ngũ Viên sang nước Tề, đem con gửi họ Bão, thế là có ý muốn phản Ngô, Đại vương nên xét kỹ.
Phù Sai sai người đem thanh kiếm Chúc Lâu đưa cho Ngũ Viên. Ngũ Viên cầm lấy thanh kiếm mà than rằng:
— Đại vương muốn cho ta tự tử đây!
Ngũ Viên nói xong, liền chạy ra đứng ở giữa sân, ngửa mặt lên trời mà kêu to lên rằng:
— Trời ơi! Trời ơi! Ngày xưa Tiên vương không muốn lập mày, mày nhờ sức ta mới được nối ngôi. Ta vì mày mà phá Sở phá Việt, khiến cho uy danh lừng lẫy khắp chư hầu. Nay mày không theo lời nói của ta, lại bắt ta chết. Ta chết ngày nay thì ngày mai quân Việt đến đào bỏ xã tắc nước Ngô đó!
Ngũ Viên lại bảo người nhà rằng:
— Khi ta chết rồi, các ngươi khoét mắt ta treo ở cửa Đông môn để ta được xem quân Việt kéo đến!
Ngũ Viên đâm cổ mà chết. Nội thị đem thanh kiếm về tâu với Phù Sai, và thuật lại những lời nói Ngũ Viên trong khi gần chết. Phù Sai thân hành đến xem thi thể rồi nói rằng:
— Ngũ Viên, mày đã chết rồi còn biết gì nữa.
Phù Sai truyền cắt lấy đầu, đem treo ở trên cửa Bàn Môn, còn thi thể thì đem bỏ vào cái chi di làm bằng da ngựa, sai quăng xuống khúc sông Tiền Đường mà bảo rằng:
— Nhật nguyệt đốt xương mày, ngư miết ăn thịt mày, hình thể mày tiêu diệt, phỏng có còn gì không!
Thi thể Ngũ Viên theo dòng sông trôi đi, sóng đánh dạt vào bờ. Dân ở đấy sợ hãi, bảo nhau vớt lên, đem chôn ở núi Ngô Sơn. Đời sau đổi tên là Tư Sơn (bởi vì Ngũ Viên tên tự là Tử Tư), bây giờ ở trên núi có Tử Tư miếu. Phù Sai đã giết Ngũ Viên rồi mới cho Bá Hi làm tướng quốc; lại định phong thêm đất cho nước Việt. Câu Tiễn cố ý xin từ chối. Phù Sai mới thôi. Câu Tiễn về Việt, càng dốc lòng nghĩ mưu đánh Ngô. Phù Sai chẳng lưu ý đến, chỉ một mực kiêu ngạo, lại bắt mấy vạn dân đi đắp Hán Thành, xẻ một cái kênh ở phía đông bắc xuyên sang phía tây bắc, khiến nước sông Giang, sông Hoài chảy vào sông Nghi, rồi thông sang sông Tề. Thế tử Hữu biết ý Phù Sai, muốn can ngăn, nhưng lại sợ Phù Sai giận, mới nghĩ ra một việc để làm cho Phù Sai cảm ngộ.
Một hôm đang buổi sáng sớm, Thế tử Hữu đeo cung mang tên ở hậu viên đi vào, áo giày ướt sạch cả Phù Sai thấy lạ, liền hỏi. Thế tử Hữu nói:
— Mới rồi, con ra chơi hậu viên, nghe tiếng con ve đang kêu ở trên cây, chạy lại gần xem, trông thấy con ve đang kêu ve ve, tự lấy làm yên sở, không ngờ có con bọ ngựa đang leo ở trên cành cây, giơ hai càng lên, rình bắt con ve để ăn thịt; con bọ ngựa chỉ biết con ve, không ngờ có con chim hoàng tước đang bay lượn ở đấy, định mổ con bọ ngựa; con chim hoàng tước chỉ biết con bọ ngựa, không ngờ có con đứng ở đấy, đang giương cung định bắn con chim hoàng tước, không ngờ lại có một cái hố sâu ở bên cạnh, trượt chân ngã xuống, thành ra ướt cả áo giày, để đến nỗi làm trò cười cho Phụ vương.
Phù Sai nói:
— Mày chỉ tham cái lợi trước mắt mà không nghĩ cái hại sau lưng, thiên hạ còn ai ngu như thế nữa!
Thế tử Hữu nói:
— Thế mà thiên hạ còn có người ngu hơn: Nước Lỗ là dòng dõi ông Chu công, lại nhờ có cái công dạy bảo của ông Khổng Tử, không xâm phạm gì đến lân quốc, thế mà nước Tề tự dưng đem quân đánh Lỗ, tưởng là lấy được nước Lỗ, chẳng ngờ có nước Ngô ta đem quân đi nghìn dặm để mà đánh Tề. Nước Ngô ta đánh Tề, tưởng là lấy được nước Tề, chẳng ngờ có nước Việt kia đem quân tử sĩ qua Tam Giang, thông Ngũ Hồ mà phá diệt nước Ngô ta, thiên hạ còn ai ngu như thế nữa?
Phù Sai nổi giận, nói:
— Đấy là giọng nói của Ngũ Viên ngày xưa, ta nghe đã chán tai lắm, bây giờ mày lại bắt chước, để làm ngăn trở công việc của ta hay sao? Nếu mày phải là con ta thì từ nay cấm không được nói đến nữa!
Thế tử Hữu sợ hãi lui ra. Phù Sai giao cho Thế tử Hữu cùng Vương tử Địa và Vương tôn Di Dung giữ nước, còn mình thì đem quân sang hội với Lỗ Ai công ở đất Thái Cao, hội với Vệ Xuất công ở đất Phát Dương, rồi ước với chư hầu đại hội ở Hoàng Trì (đất nước Vệ), muốn cùng với nước Tấn tranh nhau nghiệp bá chủ. Câu Tiễn nghe tin Phù Sai đã đem quân đi vắng, mới cùng với Phạm Lãi thương nghị, rồi đem 3000 quân tập lưu (tức là thủy binh), cùng với 4000 tuấn sĩ, 6000 quân tử, theo đường bể qua sông Giang để lẻn sang đánh nước Ngô. Tiền đội là Trù Vô Dư kéo đến nước Ngô. Vương tôn Di Dung ra đánh. Đánh được mấy hợp thì Vương tử Địa đem quân ra. Trù Vô Dư ngã ngựa bị bắt. Ngày hôm sau Câu Tiễn đem đại binh đến, Thế tử Hữu định giữ thế thủ. Vương tôn Di Dung nói:
— Quân Việt vẫn có lòng sợ nước Ngô ta, vả ở xa lại đây tất nhiên mệt nhọc. Ta thắng lần nữa thì họ phải chạy; nếu không thắng bấy giờ sẽ giữ thủ, cũng chưa lấy gì làm muộn.
Thế tử Hữu nghe lời, liền sai Di Dung ra đánh. Thế tử Hữu đem quân theo sau. Câu Tiễn thân hành đốc xuất quân sĩ đánh nhau với Ngô. Phạm Lãi và Thế Dung ở hai bên cũng reo hò mà tiến. Khí thế hăng hái lắm. Nước Ngô bấy giờ, những quân tinh dũng đều theo Phù Sai đi vắng cả, còn ở trong nước toàn là những quân chưa luyện tập. Nước Việt thì toàn là những quân tinh dũng đã luyện tập trong mấy năm nay. Cung tên kiếm kích, linh lợi khác thường! Lại thêm có Phạm Lãi và Thế Dung đều là những tay túc tướng, khó lòng địch nổi. Quân Ngô thua to. Vương tôn Di Dung bị Thế Dung giết chết. Thế tử Hữu hãm ở trong đám quân Việt, bị mấy mũi tên vào mình, sợ quân Việt bắt được thì phải nhục liền tự tử chết. Quân Việt kéo thẳng đến dưới chân thành. Vương tử Địa đóng chặt cửa thành lại, rồi cố giữ thế thủ, và sai người đi cáo cấp với Phù Sai. Câu Tiễn cho thủy quân đóng ở Thái Hồ và lục quân đóng ở Tư Môn, sai Phạm Lãi đốt Cô Tô đài, lửa cháy hơn một tháng chưa tắt, bao nhiêu chiến thuyền của Ngô, đều bắt đem về Thái Hồ cả. Quân Ngô không dám ra đánh.
Lại nói chuyện Phù Sai cùng với Lỗ Ai công và Vệ Xuất công, đến Hoàng Trì, sai người mời Tấn Định công. Tấn Định công sợ thế, cũng phải đến hội. Phù Sai sai Vương tôn Lạc cùng với quan Thượng khanh nước Tấn là Triệu Ưởng bàn việc đề tên trước sau ở trong tờ tái thư. Triệu Ưởng nói:
— Nước Tấn đã mấy đời nay làm chủ mình, còn phải nói gì nữa!
Vương tôn Lạc nói:
— Tổ nước Tấn là Thúc Ngu, em vua Thành Vương. Tổ nước Ngô là Thái Bá, bá tổ vua Vũ Vương, tôn ty cách nhau mấy từng, huống chi Tấn dẫu làm chủ minh, mà khi hội ở Quắc, đều phải đứng dưới nước Sở, nay lại muốn đứng trên nước Ngô hay sao!
Hai bên tranh nhau mấy ngày không quyết. Bỗng có sứ giả của Vương tử Địa sai đến, mật báo việc quân Việt đánh Ngô, giết Thế tử Hữu, nay đang vây thành, sự thế rất nguy cấp. Phù Sai kinh sợ. Bá Hi rút gươm chém chết sứ giả. Phù Sai nói:
— Tại sao quan Tướng quốc lại giết sứ giả!
Bá Hi nói:
— Việc này hư thực chưa rõ, nếu để sứ giả nó tiết lộ ra thì Tề và Tấn tất thừa cơ sinh sự, Đại vương tài nào mà về yên được.
Phù Sai nói:
— Quan Tướng quốc nói phải lắm, nhưng nay Ngô và Tấn còn đang tranh trưởng chưa xong, nay lại có tin này, thế thì ta nên bỏ mà về ngay, hay là dự hội mà chịu cho Tấn làm trưởng.
Vương tôn Lạc nói:
— Hai đằng đều không được cả, Ta bỏ mà về ngay thì người ta biết ta có sự nguy cấp; nếu dự hội mà chịu cho Tấn làm trưởng thì rồi ta làm gì cũng tất phải vâng mệnh nước Tấn, vậy thì quyết phải tranh trưởng, mới khỏi lo ngại.
Phù Sai nói:
— Muốn tranh cho được thì làm thế nào?
Vương tôn Lạc mật tâu rằng:
— Nay việc đã nguy cấp lắm, xin Đại vương nổi hiệu trống mà khiêu chiến, để làm cho người nước Tấn phải sợ.
Phù Sai khen phải, đêm hôm ấy sửa sang quân sĩ kéo sang chỗ quân Tấn đóng, cách nhau chỉ có độ một dặm, rồi bày trận ở đấy. Tiếng loa dậy đất, bóng tinh rợp trời! Quân Tấn kinh sợ, không biết vì cớ gì, mới sai quan Đại phu là Đổng Cát sang hỏi. Phù Sai đáp rằng:
— Ta phụng mệnh Thiên tử nhà Chu làm chủ minh các nước, nay vua Tấn trái mệnh tranh trưởng, để đến nỗi dùng dằng mãi không xong. Ta sợ sứ giả đi lại thêm phiền, vậy phải thân hành đến đây mà thương nghị. Nước Tấn theo hay không theo, nội ngày hôm nay phải quyết.
Đổng Cát về báo với Tấn Định công. Lỗ Ai công và Vệ Xuất công cũng đều ngồi ở đấy. Đổng Cát nói riêng với Triệu Ưởng rằng:
— Tôi xem ý vua Ngô, ngoài miệng dẫu nói cứng, nhưng nét mặt buồn rầu, tất là trong bụng có điều gì lo nghĩ lắm, hay là quân Việt đã sang đánh Ngô rồi! Nếu ta không chịu cho hắn đứng lên trước thì tất hắn liều mà đánh ta, nhưng ta cũng không nên chịu nhường mà thôi, phải bắt hắn bỏ vương hiệu đi mới được.
Triệu Ưởng nói với Tấn Định công lại sai Đổng Cát sang nói với Phù Sai rằng:
— Đại vương phụng mệnh Thiên tử nhà Chu mà hội chư hầu thì khi nào Chúa công tôi dám không theo, nhưng nước Ngô nguyên là bá tước mà tiếm hiệu xưng vương thì đối với Thiên tử nhà Chu ra làm sao. Đại vương nên bỏ vương hiệu đi mà xưng là Ngô công thì Chúa công tôi xin vâng mệnh.
Phù Sai cho lời nói ấy là phải, liền tự xưng là Ngô công, rồi ra tiếp kiến các vua chư hầu. Ngô công ăn thề trước, thứ đến nước Tấn, thứ nữa đến nước Lỗ và nước Vệ. Phù Sai rút quân theo đường thủy trở về nước Ngô. Đi đến nửa đường, được luôn mấy tin nước nhà cáo cấp, quân sĩ nghe nói ai cũng sợ hãi, vả lại đi xa mỏi mệt, đều chẳng nghĩ gì đến sự giao chiến. Quân Ngô giao chiến với quân Việt. Quân Ngô thua to, Phù Sai sợ lắm, bảo Bá Hi rằng:
— Quan Tướng quốc nói vua Việt không bao giờ làm phản, vậy nên ta nghe mà tha cho về nước. Công việc ngày nay, quan Tướng quốc phải sang xin hòa với Việt; nếu không thì thanh kiếm ta đưa cho Ngũ Viên trước, ta lại đưa cho quan Tướng quốc đó!
Bá Hi liền sang quân Việt, sụp lạy Câu Tiễn, xin tha tội cho nước Ngô, còn những lễ vật để khao thưởng quân sĩ, nước Ngô lại xin theo như nước Việt năm trước. Phạm Lãi nói với Câu Tiễn rằng:
— Nước Ngô cũng chưa nên diệt, ta hãy cho hòa để đền ơn cho Bá Hi. Nước Ngô từ đây cũng không cường thịnh được nữa.
Câu Tiễn cho nước Ngô giảng hòa, rồi rút quân về, đó là năm thứ 38 đời Chu Kính Vương. Sang năm sau, Lỗ Ai công đi săn ở Cự Giã. Kẻ gia thần nhà Thúc tôn Thị tên gọi Thư Thương bắt được một con thú, mình như mình con huân, đuôi như đuôi con trâu, đầu sừng lại có thịt, lấy làm quái mà giết chết, đem hỏi ông Khổng Tử. Ông Khổng Tử xem, rồi nói rằng:
— Đây là con lân! Trên sừng nó hãy còn cái giải đó là của Nhan Mẫu ngày xưa buộc vào. Than ôi! Thế này thì ngô đạo chung cùng mà thôi!
Ông Khổng Tử liền sai học trò đem chôn. Bấy giờ ông Khổng Tử mới đem bộ sử nước Lỗ, từ năm đầu Lỗ Ẩn công đến năm Lỗ Ai công bắt được con lân, cộng 242 năm, chép thành một quyển gọi là kinh Xuân Thu, để hợp với Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc cả thảy là sáu kinh. Năm ấy quan Hữu tướng nước Tề là Trần Hằng biết nước Ngô bị quân Việt đánh thua, không lo gì đến cường địch ở mặt ngoài nữa, còn mặt trong thì chỉ ngại có Hám Chỉ mà thôi, mới sai bọn Trần Nghịch và Trần Báo giết chết Hàm Chỉ. Tề Giản công sợ hãi bỏ chạy. Trần Hằng đuổi theo mà giết, lại giết hết cả đảng phái họ Hám, rồi lập em Tề Giản công là Vu Lậu làm vua, tức là Tề Bình công. Ông Khổng Tử nghe tin Trần Hằng giết Tề Giản công, vào tâu với Lỗ Ai công, xin đem quân đi đánh. Lỗ Ai công bảo ông Khổng Tử nói với ba nhà (Mạnh, Thúc, Quý). Ông Khổng Tử than rằng:
— Tôi chỉ biết có vua Lỗ, chứ không biết ba nhà là ai.
Trần Hằng cũng sợ chư hầu đem quân tiến đánh, bao nhiêu những đất chiếm được của Lỗ, Vệ đều trả lại cả, phía bắc kết giao với bốn quan khanh nước Tấn, phía nam kết giao với Ngô và Việt. Lại theo lối Trần Vô Vũ khi trước đem tiền, thóc cấp phát cho những kẻ nghèo khổ, người trong nước ai cũng bằng lòng. Trần Hằng lập mưu trừ dần đảng Bão, Án, Cao, Quốc và các công tộc, chiếm lấy quá nửa nước Tề làm phong ấp của mình. Lại tuyển con gái trong nước từ bảy thước trở lên, để ở hậu phòng cả thảy đến 100 người tha hồ cho tân khách ra vào, không cấm đoán gì cả. Sinh được con trai hơn 70 người. Muốn dùng kế ấy để làm cho họ Trần chóng cường thịnh. Sau các quan đại phu và ấp tể ở nước Tề đều là họ Trần cả.
Lại nói chuyện Thế tử Khoái Quý nước Vệ ở Thích Ấp, con là Vệ Xuất công (Chiếp) đem người trong nước ra để chống cự với Khoái Quý. Quan Đại phu là Cao Sài can ngăn, Khoái Quý không nghe. Chị gái Khoái Quý gả cho quan Đại phu là Khổng Ngữ, sinh người con tên gọi Khổng Ly, lại nối chức làm đại phu, cầm quyền chính nước Vệ. Gia thần họ Khổng là Hồn Lương Phu tư thông với nàng Khổng Cơ (tức là chị gái Khoái Quý). Nàng Khổng Cơ sai Hồn Lương Phu đi sang Thích Ấp hỏi thăm người em là Khoái Quý.
Khoái Quý cầm lấy tay mà bảo rằng:
— Nhà ngươi làm thế nào mà giúp cho ta về nước làm vua thì ta cho nhà ngươi được đội mũ miện và đi xe hiên, dẫu có tội đáng chết, cũng tha cho ba lần.
Hồn Lương Phu về, nói với nàng Khổng Cơ. Nàng Khổng Cơ sai Hồn Lương Phu ăn mặc giả đàn bà sang đón Khoái Quý về. Đang đêm khuya, Hồn Lương Phu và Khoái Quý cùng ăn mặc đàn bà, kẻ dũng sĩ là Thạch Khất và Mạnh Áp làm người dong xe, cùng ngồi xe ôn xa giả là tỳ thiếp lẻn vào trong thành, nấp ở nhà nàng Khổng Cơ. Khổng Cơ nói:
— Công việc nước nhà đều ở con ta cả, nay con ta đang uống rượu ở trong cung, ta nên đón lúc về mà bắt hiếp phải làm thì mới thành sự được.
Khổng Cơ bảo Thạch Khất, Mạnh Áp và Hồn Lương Phu đều mặc giáp đeo gươm để đợi, còn Khoái Quý thì phục ở trên đài. Được một lúc, Khổng Ly ở trong cung say rượu trở về.
Nàng Khổng Cơ gọi mà bảo rằng:
— Trong họ cha mẹ thì ai là thân hơn cả?
Khổng Ly nói:
— Họ về bên cha thì có bác chú, họ về bên mẹ thì có cậu mà thôi.
Nàng Khổng Cơ nói:
— Con biết cậu là người rất thân của mẹ, sao con không giúp cho Khoái Quý?
Khổng Ly nói:
— Tiên quân khi xưa bỏ con lập cháu, vậy nên con không dám trái mệnh.
Khổng Ly đứng ngay dậy, bỏ đi ra nhà xí. Nàng Khổng Cơ sai Thạch Khất và Mạnh Áp đứng chờ ở ngoài nhà xí, đợi khi Khổng Ly ra thì nắm lấy mà bảo rằng:
— Thế tử cho đến triệu.
Chúng kéo Khổng Ly lên trên đài để yết kiến Khoái Quý. Nàng Khổng Cơ đã đứng sẵn ở bên cạnh mà quát to lên rằng:
— Khổng Ly! Sao con không lạy Thế tử đi?
Khổng Ly bất đắc dĩ phải sụp lạy. Nàng Khổng Cơ nói:
— Ngày nay con có chịu theo cậu hay không?
Khổng Ly nói:
— Xin vâng mệnh!
Nàng Khổng Cơ liền giết một con hà để lấy máu, sai Khoái Quý và Khổng Ly ăn thề với nhau.
Nàng Khổng Cơ bảo Thạch Khất và Mạnh Áp giữ Khổng Ly ở trên đài, rồi sai Hồn Lương Phu đem gia giáp của Khổng Ly vào đánh Vệ Xuất công. Vệ Xuất công đang say rượu sắp đi nghỉ, nghe nói có loạn, sai nội thị đi triệu Khổng Ly. Nội thị nói:
— Chính Khổng Ly nổi loạn!
Vệ Xuất công kinh sợ, tức khắc lấy hết các đồ bảo khí trốn sang nước Lỗ. Các quan triều thần ai không muốn theo Khoái Quý đều bỏ trốn cả. Trọng Do là gia thần Khổng Ly, bấy giờ đang ở ngoài thành, nghe tin Khổng Ly bị hiếp toan vào thành để cứu, gặp quan đại phu là Cao Sài ở trong thành ra bảo Trọng Do rằng:
— Cửa thành đã đóng rồi. Quyền chính không ở tay nhà ngươi thì lúc hoạn nạn, can gì mà nhà ngươi dự đến.
Trọng Do nói:
— Ta chỉ ghét những người ăn lộc của người ta mà lại trốn tránh lúc hoạn nạn, vậy nên mới tới đây.
Gặp bấy giờ có người ở trong thành đi ra. Trọng Do nhân khi cửa ngỏ, liền vào trong thành, đi thẳng đến dưới đài, gọi to lên rằng:
— Trọng Do ở đây, quan đại phu họ Khổng cứ xuống!
Khổng Ly không dám thưa. Trọng Do toan đốt đài. Khoái Quý sợ, sai Thạch Khất và Mạnh Áp cầm giáo xuống đài để đánh nhau với Trọng Do. Trọng Do cầm kiếm để đối địch. Hai ngọn kích của Thạch Khất và Mạnh Áp cùng xúm lại đâm Trọng Do, lại bị chém đứt cái giải mũ, Trọng Do bị thương nặng, lúc sắp chết nói:
— Cứ theo trong lễ thì người quân tử dẫu chết cũng không chịu bỏ mũ!
Trọng Do nói xong, còn buộc giải mũ lại, rồi mới chết. Khổng Ly lập Khoái Quý lên nối ngôi, tức là Lỗ Trang công. Lỗ Trang công lập người con thứ là Tật làm thế tử, cho Hồn Lương Phu làm quan khanh.
Bấy giờ Không Tử ở nước Vệ nghe tin Khoái Quý nổi loạn, bảo các học trò rằng:
— Có việc loạn này thì Cao Sài sắp về đây mà Trọng Do thì chết mất!
Các học trò hỏi:
— Tại sao thầy biết?
Ông Khổng Tử nói:
— Cao Sài biết theo đại nghĩa thì tất toàn thân được, còn như Trọng Do hiếu dũng mà khinh sinh, tài nào khỏi chết.
Nói chưa dứt lời thì quả nhiên thấy Cao Sài chạy về. Thầy trò trông thấy nhau, nửa thương nửa mừng. Bỗng có sứ giả nước Vệ đến, nói với ông Khổng Tử rằng:
— Chúa công ta mới lập, mến tiếng phu tử, nhân có món ăn ngon, sai tôi đem dâng.
Ông Khổng Tử nhận lấy, rồi mở ra xem thì thấy một lọ mắm, liền sai đậy lại và bảo sứ giả rằng:
— Thứ mắm này làm bằng thịt học trò ta là Trọng Do, có phải không?
Sứ giả kinh sợ mà nói rằng:
— Phải! Nhưng tại sao phu tử lại biết?
Ông Khổng Tử nói:
— Nếu không phải vua Vệ thì khi nào lại ban cho thế này!
Ông Khổng Tử sai học trò đem chôn, rồi khóc mà than rằng:
— Ta vẫn thường lo cho Trọng Do bất đắc kỳ tử, nay quả nhiên như thế.
Sứ giả cáo từ lui về. Chưa được bao lâu thì ông Khổng Tử cũng bị bệnh rồi mất. Năm ấy ngoài 73 tuổi. Bấy giờ đang là ngày Kỷ Sửu tháng 4 mùa hạ, năm thứ 41 đời Chu Cảnh Vương. Các học trò đưa linh cữu ngài ra an táng tại Khúc Phụ, mộ ngài to rộng những một khoảnh đất, các cây cối ở đấy, chim chóc không dám đến đậu. Lũy triều vẫn phong là “Đại Thành chí thánh Văn Tuyên Vương”, nay lại đổi làm “Đại Thành chí thánh Tiên Sư”, thiên hạ đều lập văn miếu để thờ mỗi năm hai lần cúng tế. Con cháu ông Khổng Tử, nối đời được là Diễn Thánh công.
Lại nói chuyện Vệ Trang công (Khoái Quý) nghi Khổng Ly là đảng của Vệ Xuất công (Chiếp), mới cho uống rượu say rồi đuổi đi nước khác. Khổng Ly chạy sang nước Tống. Vệ Trang công thấy kho tàng trống không cả, mới gọi Hồn Lương Phu vào thương nghị rằng:
— Nhà ngươi có nghĩ kế gì để lấy lại được các đồ bảo khí hay không?
Hồn Lương Phu mật tâu rằng:
— Vong quân bây giờ cũng là con chúa công, sao chúa công không triệu về.

