Đông Chu Liệt Quốc - Chương 85: Vì việc nước, nhạc dương bỏ con hại tiền dân, hà bá lấy vợ

Vì việc nước, Nhạc Dương bỏ con

Hại tiền dân, Hà Bá lấy vợ

Triệu Vô Tuất bị Dự Nhượng đánh vào áo ba lần. Khi Dự Nhượng đã chết rồi, Triệu Vô Tuất cởi áo ra xem thì những chỗ áo bị đánh, đều có vết máu, từ bấy giờ mắc bệnh mấy năm không khỏi. Triệu Vô Tuất sinh được năm con, nhân nghĩ đến anh mình là Bá Lỗ vì mình mà phải bỏ, muốn lập con Bá Lỗ là Chu để nối nghiệp; nhưng Chu lại chết trước, mới lập con Chu là Cán làm thế tử. Khi Triệu Vô Tuất gần mất, bảo Triệu Cán rằng:

— Ta và Hàn, Ngụy cùng diệt Trí thị, mở mang bờ cõi, nay nhân dân đều yêu mến ta, ta nên ước với Hàn, Ngụy thừa cơ chia ba nước Tấn, lập ra miếu xã, truyền cho con cháu đời sau. Nếu để chậm mấy năm, mà nước Tấn lại có vua hiền, cầm giữ quốc chính, thu nhập nhân tâm thì dòng dõi họ Triệu ta, khó lòng mà bảo toàn được.

Triệu Vô Tuất nói xong thì mất, Triệu Cán làm ma xong liền đem lời di chúc nói với Hàn Hổ. Bấy giờ đang năm thứ tư đời Chu Khảo Vương. Tấn Ai công mất, con là Liễu nối ngôi tức là Tấn U công. Hàn Hổ và Ngụy Câu hợp mưu, để Giáng Châu và Khúc Ốc làm đất ăn lộc của Tấn U công, còn bao nhiêu chia ba gọi là Tam Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy). Tấn U công hèn yếu, lại phải đến triều kiến ba nhà, chẳng còn ra thể thống vua tôi gì nữa. Quan tướng quốc nước Tề là Điền Bân nghe tin ba nhà chiếm lấy thổ địa nước Tấn, cũng đem anh em họ hàng ra, cho làm Đô ấp đại phu tất cả, lại sai sứ sang mừng ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy, cùng nhau giao hiếu. Từ bấy giờ Điền, Hàn, Triệu, Ngụy bốn nhà vẫn sai sứ đi lại với nhau, vua Tề và vua Tấn chỉ ngồi trơ như tượng gỗ mà thôi.

Bấy giờ Chu Khảo Vương phong người em là Yết ở Hà Nam thành để nối quan chức Chu Công. Con nhỏ của Yết là Ban lại biệt phong ở đất Củng. Nhân đất Củng ở phía đông Hà Nam thành, mới gọi là Đông Chu Công, mà gọi Hà Nam thành là Tây Chu Công. Chu Khảo Vương mất, con là Ngọ lên nối ngôi, tức là Uy Liệt Vương. Năm đầu đời Uy Liệt Vương, Triệu Cán mất, con là Triệu Tịch nối nghiệp (sau làm Triệu Liệt Hầu). Còn Hàn Kiền (cháu Hàn Hổ, con Hàn Khả Chương, sau làm Hàn Cảnh Hầu) nối nghiệp họ Hàn; Ngụy Tư (cháu Ngụy Câu, con Ngụy Độ, sau làm Ngụy Văn Hầu) nối nghiệp họ Ngụy; Điền Hòa (cháu Điền Bàn, con Điền Bạch, sau làm Tề Thái công) nối nghiệp họ Điền. Bốn nhà kết ước với nhau, định cùng giúp nhau cho thành đại sự. Năm thứ 23 đời Chu Uy Liệt Vương, bỗng có sét đánh vào chín cái đỉnh của nhà Chu. Cái đỉnh nào cũng lay động cả. Ba nhà (Hàn, Triệu, Ngụy) bàn riêng với nhau rằng:

— Chín cái đỉnh là đồ quý truyền đời của nhà Chu nay bỗng lay động thế là vận nhà Chu đã sắp hết. Chúng ta lập nước đã lâu mà chưa chính danh hiệu, nên nhân lúc nhà Chu suy yếu này, sai sứ vào thỉnh mệnh thiên tử, xin làm chư hầu; thiên tử sợ thế chúng ta thì tất phải cho. Như thế thì giữ được phú quý mà khỏi mang tiếng thí nghịch, chẳng cũng hay lắm ru!

Ba nhà liền cùng nhau sai người tâm phúc vào tâu với thiên tử nhà Chu; họ Ngụy sai Điền Văn, họ Triệu sai Công Trọng Liên, họ Hàn sai Hiệp Lũy mang các đồ lễ vật vào tiến cống Chu Uy Liệt Vương và xin Chu Uy Liệt Vương phong cho làm chư hầu, Chu Uy Liệt Vương hỏi:

— Thổ địa nước Tấn đều về tay ba nhà cả hay sao?

Sứ họ Ngụy là Điền Văn nói:

— Vua Tấn không giữ nổi quyền chính, khiến cho trong nước đều nổi loạn; ba nhà chúng tôi đem binh lực đi dẹp loạn mà chiếm được thổ địa, chứ không phải là cướp của vua Tấn.

Chu Uy Liệt Vương lại hỏi:

— Ba nhà đã muốn làm chư hầu, sao không tự lập phải nói với trẫm?

Sứ họ Triệu là Công Trọng Liên nói:

— Cứ như binh lực của ba nhà chúng tôi thì có thể lập được, nhưng còn muốn thỉnh mệnh là không dám vượt quyền thiên tử ở trên. Nếu thiên tử phong cho ba nhà chúng tôi làm chư hầu, để nối đời giữ bụng trung trinh mà làm phên giậu cho nhà Chu thì chẳng cũng lợi lắm ru!

Chu Uy Liệt Vương bằng lòng, liền truyền mệnh phong cho Triệu Tịch làm Triệu Hầu, Hàn Kiều làm Hàn Hầu, Ngụy Tư làm Ngụy Hầu, đều ban cho đủ các thứ phủ miện, khuê bích. Ba nhà đem vương mệnh tuyên bá cho trong nước biết, rồi Triệu Hầu đóng đô ở Trung Mâu. Hàn Hầu đóng đô ở Bình Dương. Ngụy Hầu đóng đô ở An Ấp, đều lập ra tôn miếu xã tắc. Lại sai sứ đi thông báo với chư hầu. Các nước chư hầu cũng nhiều nước đến mừng, chỉ có nước Tần từ khi bỏ Tấn theo Sở, không thông hiếu với trung quốc; trung quốc cũng đãi Tần như là di địch, bởi vậy Tần không đến mừng. Chưa được bao lâu ba nhà bỏ Tấn Tĩnh công (cháu Tấn U công), thiên ra ở đất Thuần Lưu, còn bao nhiêu thổ địa, lại chia nhau lấy nốt. Nước Tấn từ đời Đường Thúc đến đời Tĩnh Công, cả thảy 29 đời thì tuyệt.

Lại nói chuyện trong ba nhà (Hàn, Triệu, Ngụy), chỉ có Ngụy Văn Hầu (tức là Ngụy Tư) là hiền hơn cả. Bây giờ có một người học trò giỏi của Khổng Tử tên gọi Bốc Thương, tên tự là Tử Hạ dạy học ở Tây Hà. Ngụy Văn Hầu vẫn theo học Tử Hạ. Ngụy Thành tiến dẫn Điền Tử Phương là người hiền, Ngụy Văn Hầu cùng với Điền Tử Phương làm bạn. Ngụy Thành lại nói:

— Đoàn Can Mộc ở Tây Hà là người có đức hạnh, vẫn ẩn cư không chịu ra làm quan. Ngụy Văn Hầu truyền thắng xe để đến yết kiến. Đoàn Can Mộc nghe tiếng xe ngựa đến cửa, trèo qua tường sau mà tránh mặt. Ngụy Văn Hầu khen rằng:

— Thế mới thật là bậc cao sĩ!

Liền ở lại Tây Hà trong một tháng, ngày nào cũng đến cửa xin yết kiến. Khi đi gần đến nhà, đã cúi đầu vào cái thức không dám ngồi nghiễm nhiên ở trên xe.

Đoàn Can Mộc thấy lòng thành như vậy, bất đắc dĩ phải ra tiếp kiến, Ngụy Văn Hầu mời lên xe đem về, cũng tôn kính làm bậc thượng tân như Điền Tử Phương. Các hiền sĩ ở bốn phương nghe tiếng đều đến cả. Lại được bọn mưu sĩ như: Lý Khắc, Địch Hoàng, Điền Văn, Nhâm Tọa đều làm quan ở trong triều. Bấy giờ nhân tài không nước nào thịnh bằng nước Ngụy. Người nước Tấn muốn đánh nước Ngụy, nhưng sợ về nhiều nhân tài, lại không dám đánh. Ngụy Văn Hầu có hẹn với chức Ngu nhân đến giờ ngọ thì đi săn ở ngoài cõi. Buổi sáng hôm ấy trời mưa rét lắm. Ngụy Văn Hầu ban rượu cho các quan uống. Vua tôi đang cùng nhau uống rượu vui vẻ, Ngụy Văn Hầu hỏi nội thị rằng:

— Bây giờ đã đến giờ ngọ chưa?

Nội thị nói:

— Vừa đúng giờ Ngọ!

Ngụy Văn Hầu vội vàng sai bãi tiệc, truyền thắng xe ngựa để đi săn. Nội thị nói:

— Trời mưa không thể đi săn được, dẫu có đi cũng uổng công mà thôi.

Ngụy Văn Hầu nói:

— Ta có hẹn với chức Ngu nhân tất là người ta chờ ta ở ngoài cõi, dẫu không săn được, ta cũng phải đi để cho khỏi phụ ước.

Người trong nước thấy Ngụy Văn Hầu đang mưa mà đi, đều lấy làm lạ, sau nghe chuyện biết là theo lời ước của chức Ngu nhân, liền bảo nhau rằng:

— Như thế là chúa công không chịu thất tín với ai!

Từ bấy giờ bao nhiêu chính lệnh thi hành không ai dám trái ý. Phía Đông nước Tấn, có nước Trung Sơn là giống Xích Địch, cũng gọi là Tiên Ngu. Từ đời Tấn Chiêu công. Trung Sơn mới chịu xin hòa; đến khi ba nhà chia nhau nước Tấn thì Trung Sơn không thuộc vào nước nào cả. Vua Trung Sơn là Cơ Quật thường thích uống rượu, khinh bỏ các quan đại thần, thân yêu những lũ tiểu nhân, nhân dân nước Trung Sơn lấy làm khổ lắm. Ngụy Văn Hầu có ý muốn đánh.

Ngụy Thành nói với Ngụy Văn Hầu rằng:

— Nước Trung Sơn ở phía Tây gần Triệu mà phía Nam xa Ngụy nếu ta đánh được cũng vị tất đã giữ nổi.

Ngụy Văn Hầu nói:

— Nếu ta không đánh mà để cho Triệu được Trung Sơn thì thế Triệu càng mạnh thế lắm.

Địch Hoàng nói:

— Tôi xin cử một người tên gọi Nhạc Dương là người ở đất Cốc Khâu nước ta. Người ấy văn vũ toàn tài, có thể làm đại tướng được.

Ngụy Văn Hầu nói:

— Xem thế nào mà biết?

Địch Hoàng nói:

— Một hôm, Nhạc Dương bắt được thoi vàng ở dọc đường mang về, người vợ mắng rằng: “Chí sĩ không uống nước suối Đạo tuyền, liêm giả không nhận đồ ăn ta lai, thoi vàng này không biết lai lịch thế nào, cớ sao lại lấy, để mang tiếng xấu”. Nhạc Dương cảm lời nói của vợ, liền đem thoi vàng vứt ra ngoài đồng, rồi từ giã vợ sang du học ở nước Lỗ và nước Vệ. Học được hơn một năm trở về, người vợ đang dệt cửi, hỏi chồng học đã thành nghề chưa? Nhạc Dương nói chưa! Người vợ cầm dao cắt đứt khung cửi. Nhạc Dương hỏi: tại làm sao? Người vợ nói: “Học có thành nghề thì mới được, cũng như lụa có thành tấm thì mới mặc được, nay phu quân học chưa thành nghề mà đã về thì có khác gì cái khung cửi đứt hay không”. Nhạc Dương nghĩ ra, lại bỏ đi học, bảy năm không trở về. Bây giờ người ấy hiện ở nước nhà, thực có đại chí, không chịu làm nhỏ, sao chúa công không dùng.

Ngụy Văn Hầu liền sai Địch Hoàng đem xe đi triệu Nhạc Dương. Mọi người can rằng:

— Chúng tôi nghe Nhạc Dương có người con là Nhạc Thư hiện đang làm quan Trung Sơn dùng như thế sao được.

Địch Hoàng nói:

— Nhạc Dương là một kẻ ham lập công danh. Người con ở Trung Sơn đã vì vua Trung Sơn mà triệu Nhạc Dương; Nhạc Dương cho vua Trung Sơn là vô đạo mà không chịu theo. Nếu chúa công giao quyền cho Nhạc Dương thì lo gì không thành công được.

Ngụy Văn Hầu nghe lời, Nhạc Dương theo Địch Hoàng vào yết kiến. Ngụy Văn Hầu bảo Nhạc Dương rằng:

— Ta muốn đem việc đánh Trung Sơn giao cho nhà ngươi nhưng nhà người có người con làm quan với Trung Sơn thì biết làm thế nào?

Nhạc Dương nói:

— Kẻ trượng phu đã một lòng vì chủ, khi nào lại đem tư tình mà bỏ công sự hay sao? Nếu tôi không diệt được Trung Sơn thì xin chịu tội chết.

Ngụy Văn Hầu mừng lắm, nói:

— Nhà ngươi chắc được như vậy thì ta cũng tin lời.

Nói xong liền cho Nhạc Dương làm Nguyên Súy, Tây Môn Báo làm tiên phong, đem năm vạn quân sang đánh Trung Sơn. Vua Trung Sơn là Cơ Quật sai quân đại tướng là Cổ Tu đóng quân ở Thâu Sơn để chống nhau với quân Ngụy. Nhạc Dương đóng quân ở Văn Sơn. Hai bên giữ nhau hơn một tháng mà chưa chia thắng phụ. Nhạc Dương bảo Tây Môn Báo rằng:

— Ta đã đoan ở trước mặt chúa công thế nào cũng diệt được Trung Sơn, nay đem quân ra đây hơn một tháng mà chưa thành công chi cả, nghĩ cũng nên thẹn. Ta xem Thâu Sơn có nhiều cây thâu thụ nếu được một người can đảm đem quân lẻn đến, phóng hỏa đốt rừng thì quân họ tất loạn, bấy giờ ta thừa cơ tiến đánh, chắc có thể phá được.

Tây Môn Báo xin đi. Bây giờ đang mùa thu tháng tám, vua Trung Sơn là Sơn Quật sai sứ đem rượu tiết dê đến Thâu Sơn để ban cho Cổ Tu. Cổ Tu nhân đêm sáng trăng, đem ra uống chơi, vui chén chẳng nghĩ gì đến công việc. Canh ba đêm hôm ấy, Tây Môn Báo đem quân lẻn đến, mỗi người cầm một bó đuốc bằng cành cây khô, trong có vật dẫn hỏa, đốt cây thâu thụ. Cổ Tu đang say rượu, thấy ngọn lửa cháy đến dinh trại, đem quân đi cứu hỏa, nhưng khắp vùng Thâu Sơn, chỗ nào cũng có lửa cháy, không thể cứu xiết. Quân Trung Sơn náo động. Cổ Tu biết ở phía trước có quân Ngụy, liền chạy về sau phía núi, lại gặp Nhạc Dương đã đem quân đón đánh. Quân Trung Sơn thua to. Cổ Tu chạy thoát được, trốn về Bạch Dương Quan. Quân Ngụy đuổi đánh. Cổ Tu lại bỏ Bạch Dương Quan mà chạy. Nhạc Dương kéo quân thẳng tiến, đi đến đâu phá vỡ đến đấy. Cổ Tu chạy về yết kiến Cơ Quật, nói Nhạc Dương là người trí dũng không thể địch nổi. Được một lúc thì Nhạc Dương đem quân đến vây. Cơ Quật giận lắm. Quan đại phu là Công tôn Tiên nói với Cơ Quật rằng:

— Nhạc Dương tức là thân phụ Nhạc Thư. Nhạc Thư hiện đang làm quan ở nước ta, ta nên sai Nhạc Thư trèo lên mặt thành mà bảo thân phụ rút quân, đó là thượng sách.

Cơ Quật bảo Nhạc Thư rằng:

— Nhà ngươi bảo được thân phụ nhà ngươi rút quân đi thì ta sẽ phong đại ấp cho.

Nhạc Thư nói:

— Thân phụ tôi khi trước không chịu làm quan với Trung Sơn mà nay làm quan với Ngụy, tất có lòng vì Ngụy, tôi nói cũng không nổi.

Cơ Quật cố ép mãi, Nhạc Thư bất đắc dĩ phải trèo lên mặt thành, xin tiếp kiến Nhạc Dương.

Nhạc Dương mặc áo giáp đứng trên xe, trông thấy Nhạc Thư, liền mắng ngay rằng:

— Người quân tử không ở nước ngụy, không nhờ triều loạn. Nay mày tham phú quý mà theo Trung Sơn, ta phụng mệnh chúa công đem quân đến đánh, mày nên bảo vua Trung Sơn mau mau đầu hàng đi thì cha con còn có thể gặp nhau được.

Nhạc Thư nói:

— Hàng hay không là quyền của vua Trung Sơn, con không được biết, nhưng xin cha hãy tạm hoãn đừng đánh vội, để chúng tôi còn bàn định với nhau.

Nhạc Dương nói:

— Ta hãy tạm hoãn cho một tháng để toàn cái tình cha con. Vua tôi mày nên bàn định mau mau, chớ để lỡ việc.

Nhạc Dương liền truyền lệnh tạm hoãn không đánh vội. Cơ Quật chắc Nhạc Dương là người yêu con, chẳng dám đánh nào, cứ bỏ liều chẳng nghĩ chi cả. Khi quá một tháng, Nhạc Dương sai người hỏi. Cơ Quật lại sai Nhạc Thư xin một hẹn nữa. Nhạc Dương lại cho một tháng. Như thế đã ba lần, Tây Môn Báo nói với Nhạc Dương rằng:

— Quan nguyên súy không muốn hạ Trung Sơn hay sao? Sao để lâu mà không đánh làm vậy.

Nhạc Dương nói:

— Vua Trung Sơn không biết thương dân, vậy nên ta đánh, nếu ta đánh gấp thì làm hại dân. Ta ba lần khoan hẹn cho, chẳng những vì tình cha con, cũng là muốn để thu lấy lòng dân đó.

Các người tả hữu Ngụy Văn Hầu thấy Nhạc Dương là người tân tiến mà được làm quan to, đều có ý bất bình, đến khi nghe tin Nhạc Dương ba lần đình chiến, liền gièm với Ngụy Văn Hầu rằng:

— Nhạc Dương đánh Trung Sơn được luôn mấy trận, chỉ vì một câu nói của Nhạc Thư mà ba tháng nay không đánh nữa, đủ biết là cái tình cha con. Nếu chúa công không triệu về thì chúng tôi e rằng hao quân tốn của, không ích gì cả.

Ngụy Văn Hầu không đáp, rồi hỏi Địch Hoàng. Địch Hoàng nói:

— Tất là Nhạc Dương có mưu kế gì đây chúa công chớ ngại.

Từ bấy giờ các quan đua nhau dâng thư. Người thì nói vua Trung Sơn sắp đem nửa nước chia cho Nhạc Dương; người thì nói Nhạc Dương bàn mưu với Trung Sơn để cùng đánh nước Ngụy. Ngụy Văn Hầu đều bỏ cả những bức thư ấy vào trong cái tráp, thỉnh thoảng lại sai người ra thăm Nhạc Dương, và lập sẵn phủ đệ đợi khi Nhạc Dương về ở. Nhạc Dương cảm cái ơn ấy, thấy Trung Sơn không chịu hàng, thân đốc tướng sĩ cố sức đánh thành. Thành Trung Sơn dày dạn, lương thực rất nhiều, Cổ Tu và Công tôn Tiêu ngày đêm tuần phòng, cố sức chống giữ, Nhạc Dương đánh trong mấy tháng mà không phá được, có ý tức giận, mới cùng Tây Môn Báo thân hành ra đứng ở trước trận thúc quân tiến vào. Cổ Tu đang đứng chỉ bảo quân sĩ, bỗng bị mũi tên trúng vào đầu chết, Công tôn Tiêu nói với Cơ Quật rằng:

— Việc đã nguy cấp lắm rồi! Tôi còn một kế, có thể lui được quân Ngụy.

Cơ Quật hỏi:

— Kế gì?

Công tôn Tiêu nói:

— Nhạc Thư ba lần xin khoan hạn mà Nhạc Dương đều cho cả, thế thì đủ biết là có bụng yêu con, nay ta trói Nhạc Thư treo lên trên cầu, nếu Nhạc Dương không rút quân thì ta sẽ giết đi. Bắt Nhạc Thư phải kêu khóc mà xin, chắc là Nhạc Dương không dám đánh nữa.

Cơ Quật nghe lời. Nhạc Thư ở trên cầu kêu khóc mà gọi Nhạc Dương. Nhạc Dương trông thấy mắng rằng:

— Mày là đứa không ra gì! Làm quan ở nước người ta, đã không biết bày mưu lập kế, để mong chiến thắng lại không tùy cơ ứng biến, để cầu giảng hòa, bây giờ lại còn kêu khóc làm gì.

Nhạc Dương liền giương cung toan bắn Nhạc Thư. Nhạc Thư kêu rầm lên, mới được tha xuống, vào nói với Cơ Quật rằng:

— Thân phụ tôi vì việc nước mà chẳng nghĩ gì đến tình cha con! Thôi thì chúa công liệu kế mà chống giữ, tôi xin chết ở trước mặt chúa công để tỏ cái tội không lui được quân giặc.

Công tôn Tiêu nói với Cơ Quật rằng:

— Người cha đánh thành tức là người con có tội, cũng nên cho chết.

Cơ Quật nói:

— Không phải là lỗi ở Nhạc Thư.

Công tôn Tiêu nói:

— Hễ Nhạc Thư chết thì tôi có cách lui được quân giặc.

Cơ Quật liền cầm thanh kiếm đưa cho Nhạc Thư. Nhạc Thư đâm cổ chết. Công tôn Tiêu nói:

— Tình người ta không gì bằng cha con. Nay mổ Nhạc Thư rồi đem nấu canh mà đưa cho Nhạc Dương; Nhạc Dương trông thấy bát canh tất phải thương xót khóc lóc, không thiết gì đến việc chiến tranh. Bấy giờ chúa công đem quân ra đại chiến một trận, may có thể thắng được.

Cơ Quật bất đắc dĩ phải theo, truyền đem thịt Nhạc Thư nấu canh, và cả thủ cấp nữa, đưa sang cho Nhạc Dương mà bảo rằng:

— Chúa công tôi thấy tiểu tướng quân (trỏ Nhạc Thư) không lui được quân Ngụy, đã giết và mổ ra rồi, nay đem bát canh sang dâng ngài, tiểu tướng quân còn có vợ con, nếu Ngài cứ đánh thành thì chúa công tôi sẽ giết nốt.

Nhạc Dương trông thấy thủ cấp của con, liền quát to lên mắng rằng:

— Thằng bất hiếu kia mày theo đứa vô đạo hôn quân thì mày đáng chết lắm!

Mắng xong, cầm ngay lấy bát canh ăn hết cả. Ăn xong bảo sứ giả rằng:

— Vua ngươi cho canh, khi phá thành rồi ta sẽ tạ ơn. Ta đây cũng có vạc dầu để đợi vua ngươi đó!

Sứ giả về báo với Cơ Quật. Cơ Quật biết là Nhạc Dương không có lòng thương con, lại thấy đánh thành gấp lắm, e khi thành phá thì sẽ bị nhục, liền vào hậu cung thắt cổ chết. Công tôn Tiêu mở cửa thành xin hàng. Nhạc Dương kể cái tội xiểm nịnh làm hại nước rồi đem chém đi. Nhạc Dương giao 5.000 quân cho Tây Môn Báo đóng giữ ở đấy.

Nhạc Dương thu hết các đồ bảo ngọc, rút quân về Ngụy.

Ngụy Văn Hầu nghe tin Nhạc Dương thành công, thân hành ra cửa thành đón và ủy lạo rằng:

— Tướng quân vì việc nước mà bỏ con, thực là cái lỗi tại ta đó! Nhạc Dương sụp lạy nói rằng:

— Khi nào chúng tôi dám nghĩ tình riêng mà phụ tấm lòng chúa công đã ủy thác cho.

Nhạc Dương triều kiến xong, đệ trình bức địa đồ nước Trung Sơn, và các bảo ngọc. Ngụy Văn Hầu bày tiệc ở trên nội đài, tay cầm chén rượu đưa cho Nhạc Dương. Nhạc Dương nhận lấy uống, nét mặt kiêu ngạo có ý cậy công. Tiệc xong, Ngụy Văn Hầu sai nội thị đem hai cái tráp niêm phong rất kỹ đưa cho Nhạc Dương mang về. Nhạc Dương vẫn tưởng là trong tráp ấy có các thứ vàng ngọc, chúa công sợ các quan ghen tị, nên niêm phong kín mà tặng cho. Chẳng ngờ đến lúc mở ra thì thấy toàn là những tờ tâu của các quan, trong tờ tâu đều nói Nhạc Dương là người phản bạn.

Nhạc Dương kinh sợ nói rằng:

— Xem thế này thì biết trong triều nhiều người phỉ báng mình, nếu chúa công không dốc lòng tin thì mình cũng khó lòng mà thành công được.

Ngày hôm sau, vào triều tạ ân. Ngụy Văn Hầu ban cho thượng thưởng. Nhạc Dương sụp lạy từ chức nói rằng:

— Diệt được nước Trung Sơn là nhờ cái lòng tin cậy của chúa công, tôi dẫu ra sức ở ngoài cũng chẳng có công gì!

Ngụy Văn Hầu nói:

— Phi ta không dùng được tướng quân mà phi tướng quân thì cũng không làm nổi được những công việc của ta! Nhưng tướng quân đã khó nhọc lắm rồi âu là ta phong ấp cho tướng quân, để tướng quân về nghỉ.

Nói xong, liền đem đất Linh Thọ (đất nước Trung Sơn) phong cho Nhạc Dương gọi là Linh Thọ quan, rồi bãi hết binh quyền. Địch Hoàng nói với Ngụy Văn Hầu rằng:

— Chúa công đã biết cái tài Nhạc Dương thì sao không sai đem quân ra giữ biên giới mà lại cho về nghỉ như vậy?

Ngụy Văn Hầu cười mà không trả lời. Địch Hoàng lui ra, hỏi lại Lý Khắc. Lý Khắc nói:

— Nhạc Dương đến con còn không có lòng yêu, huống chi là người khác! Cũng vì lẽ ấy mà Quản Trọng ngày xưa nghi Dịch Nha đó!

Địch Hoàng mới nghĩ ra. Ngụy Văn Hầu nghĩ Trung Sơn là nơi xa lánh, tất phải được người thân tín đóng giữ thì mới khỏi lo ngại, liền cho thế tử Kích làm Trung Sơn quân. Thế tử Kích phụng mệnh ra đi gặp Điền Tử Phương đang ngồi một cái xe cũ đi đến; thế tử Kích vội vàng xuống xe, chắp tay đứng ở bên đường. Điền Tử Phương cứ nghiễm nhiên đi thẳng, chẳng thèm ngoảnh lại. Thế tử Kích không bằng lòng, sai người nắm xe lại hỏi rằng:

— Tôi xin hỏi ngài: người phú quý nên kiêu ngạo hay là người bần tiện nên kiêu ngạo?

Điền Tử Phương cười bảo rằng:

— Từ xưa đến nay chỉ có người bần tiện mới dám kiêu ngạo, chứ người phú quý khi nào dám kiêu ngạo! Vua mà kiêu ngạo thì mất nước, quan mà kiêu ngạo thì mất nhà, xem như Sở Linh Vương và Trí Bá thì đủ biết cái phú quý không thể cậy được. Còn như người bần tiện, ăn chẳng qua rau dưa, mặc chẳng qua xồi vải, thế nào cũng xong, còn phải cần ai! Ông vua nào biết mà theo ý mình thì mình ở; nếu không thì mình bỏ đi, chẳng ai cấm được. Chu Vũ Vương ngày xưa giết được vua Trụ mà không bắt nạt nổi hai kẻ sĩ ở Thú Dương, thế thì cái bần tiện đáng quý biết dường nào!

Thế tử Kích có ý thẹn, xin lỗi rồi đi. Ngụy Văn Hầu nghe nói Điền Tử Phương không chịu khuất thế tử Kích, lại càng kính trọng lắm. Bấy giờ chức thái thú ở Nghiệp Đô đang khuyết, Địch Hoàng nói với Ngụy Văn Hầu rằng:

— Nghiệp Đô ở giữa khoảng Thượng Đảng và Hàm Đan tiếp giáp với Hàn và Triệu, tất phải tìm người giỏi thì mới trấn thủ được. Tôi tưởng nên dùng Tây Môn Báo.

Ngụy Văn Hầu cho Tây Môn Báo ra trấn thủ ở Nghiệp Đô. Tây Môn Báo khi mới đến Nghiệp Đô, trông thấy phong cảnh tiêu điều, nhân dân thưa ít, liền triệu các phụ lão đến để hỏi.

Các phụ lão đều nói:

— Dân chúng tôi khổ về một nỗi Hà Bá lấy vợ!

Tây Môn Báo nói:

— Quái lạ! Hà Bá lấy vợ thế nào? Các ngươi nói rõ cho ta nghe.

Các phụ lão nói:

— Sông Chương Thủy phát nguyên từ Cô Lĩnh, qua Sa Thành chảy đến Nghiệp Đô này, gọi là sông Chương Hà, Hà Bá tức là thần con sông ấy. Thần thích vợ đẹp, mỗi năm bắt dân phải nộp một người. Chịu nộp thì mưa thuận gió hòa, hoa màu tươi tốt, nếu không thì thần phạt, dâng nước lên làm hại cửa nhà.

Tây Môn Báo nói:

— Ai xướng thủy ra việc ấy?

Các phụ lão nói:

— Bọn đồng cốt ở ấp tôi xướng thủy ra việc ấy. Dân chúng tôi sợ cái hại nước lụt, vậy phải thuận theo. Mỗi năm các hào trưởng trong làng cùng bọn đồng cốt bổ cho dân phải nộp mấy trăm vạn quan tiền, dùng một phần làm phí tổn lấy vợ cho Hà Bá còn thì chia nhau.

Tây Môn Báo hỏi:

— Chúng nó chia nhau mà dân lại không nói câu gì hay sao?

Các phụ lão nói:

— Bọn đồng cốt để giữ việc cầu cúng, còn các hào trưởng trong làng có cái công thu bổ thì họ cũng phải ăn vào đấy, chúng tôi đâu dám phàn nàn! Nhưng có một điều rất khổ là cứ về đầu năm, bọn đồng cốt thấy con gái nhà ai hơi có nhan sắc thì bảo người con gái ấy đáng làm vợ Hà Bá, có chịu lễ nhiều tiền thì họ mới tha, lại bắt người khác. Bọn đồng cốt lập một cái nhà trai cung ở bờ sông màn che trướng phủ, toàn đồ mới cả; bắt đứa con gái ấy tắm gội thay áo rồi cho ở đấy, chọn được ngày tốt, đem đứa con gái ấy để ngồi vào cái thuyền bằng cỏ, thả ra giữa dòng sông, đi được độ vài mươi dặm thì tự khắc chìm mất. Dân chúng tôi khổ về những sự phiền phí ấy, cũng có người thương con gái quá, không muốn nộp cho Hà Bá thì đem con trốn đi, vì thế mà trong thành mỗi ngày một vắng vẻ.

Tây Môn Báo hỏi:

— Ấp các ngươi đã bị lụt bao giờ chưa?

Các phụ lão nói:

— Năm nào dân chúng tôi cũng chịu nộp con gái, vậy nên thần không trách phạt bao giờ! Nhưng ấp chúng tôi đất cao, đường xa, nước sông khó vận tới được, dẫu chẳng bị lụt mà thỉnh thoảng lại phải một năm tiêu khô cũng hại lắm thay!

Tây Môn Báo nói:

— Thần đã thiêng như vậy hôm nào nộp con gái, để ta cũng đến, rồi ta sẽ cầu đảo cho các ngươi.

Khi tới kỳ, các phụ lão đến bẩm, Tây Môn Báo đội mũ, mặc áo nghiêm chỉnh thân hành ra đứng ở bờ sông. Phàm những quan thuộc trong ấp, tam lão và các hào trưởng lý dịch đều đến đông đủ. Dân kéo ra xem, kể hàng nghìn người. Bọn tam lão và hào trưởng đưa một bà đồng già ra, trông mặt có ý kiêu ngạo. Các đệ tử hơn 20 người khăn áo sặc sỡ, đều xách lẵng hương đi theo sau. Tây Môn Báo bảo bà đồng già ấy rằng:

— Dám phiền nhà ngươi gọi vợ Hà Bá ra đây cho ta xem mặt.

Bà đồng sai đệ tử gọi đến. Tây Môn Báo trông thấy người con gái ấy nhan sắc tầm thường, liền bảo bà đồng và tam lão rằng:

— Hà Bá là một bậc quý thần, phải tìm người con gái rất đẹp thì mới xứng đáng. Người này không được. Ta phiền nhà ngươi xuống nói với Hà Bá rằng vâng lời quan thái thú, xin tìm người con gái khác rất đẹp, hôm sau sẽ nộp.

Tây Môn Báo sai ngay mấy tên lính ôm bà đồng ném xuống sông, mọi người chung quanh, ai cũng kinh sợ mất vía. Tây Môn Báo cứ ngồi yên để đợi. Được hồi lâu, Tây Môn Báo nói:

— Bà đồng tuổi đã già, không được việc! Xuống sông bấy lâu mà chưa thấy về trả lời. Các đệ tử nên đi giục hộ ta.

Tây Môn Báo lại sai lại sai quân ôm một cô đệ tử mà vất xuống sông. Được ít lâu, Tây Môn Báo lại nói:

— Đệ tử đi mãi chưa về!

Nói xong lại sai một đệ tử khác đi giục. Tây Môn Báo lại chê là chậm, lại bắt người nữa đi. Cả thảy ba đệ tử xuống sông, đều không thấy trở về. Tây Môn Báo nói với tam lão rằng:

— Bọn ấy đều là đàn bà nói năng không rõ, phiền tam lão xuống hộ để cho được minh bạch.

Tam lão từ chối. Tây Môn Báo quát to lên rằng:

— Đi mau! Thế nào về trả lời ngay cho ta biết!

Quân lính lôi ngay tam lão, đẩy xuống dưới sông, không cho nói năng gì nữa. Người xem chung quanh ai cũng khiếp sợ. Tây Môn Báo vẫn chắp tay đứng ở bờ sông để đợi lệnh, trông rất nghiêm kính. Trong một hồi lâu nữa, Tây Môn Báo lại nói:

— Tam lão già cả, cũng chẳng làm nên việc, phải phiền đến các hào trưởng mới được.

Bọn hào trưởng mặt như chàm đổ, mình nhường dẽ run, đều sụp lạy kêu van không dám ngẩng cổ dạy.

Tây Môn Báo nói:

— Hãy đợi một lúc nữa.

Mọi người đều run sợ. Lại quá một khắc nữa. Tây Môn Báo nói:

— Nước sông chảy cuồn cuộn, nào thấy Hà Bá ở đâu! Chúng bay làm hại bao nhiêu con gái ở dân này, cái tội ấy chúng bay phải đền mạng!

Mọi người đều sụp lạy kêu rằng:

— Xưa nay chúng tôi vẫn bị đám đồng cốt lừa dối, chứ không phải tội chúng tôi.

Tây Môn Báo nói:

— Bà đồng đã chết rồi, từ nay về sau nếu ai còn nói đến việc Hà Bá lấy vợ nữa thì bắt ngay người ấy làm mối, xuống nói với Hà Bá. Còn bọn hào trưởng kia thu bao nhiêu tiền của dân thì bây giờ phải đem trả lại hết.

Tây Môn Báo lại truyền cho phụ lão chọn những trai lành, người nào lớn tuổi mà chưa có vợ thì đem nữ đệ tử mà gả cho. Từ bấy giờ mất thói đồng cốt. Những dân đi trốn khi trước, lại đem nhau về cả. Tây Môn Báo lại xem xét địa thế, bắt dân đào 12 cái ngòi thông với sông Chương Thủy cho thế nước rút bớt đi. Các ruộng ở khoảng giữa, được nước ngòi chảy vào, lại tránh khỏi cái hại tiêu khô, lúa má tốt lắm, dân được vui vẻ. Ngụy Văn Hầu bảo Địch Hoàng rằng:

— Ta nghe nhà ngươi sai Nhạc Dương đánh Trung Sơn, sai Tây Môn Báo trị Nghiệp Đô đều được việc cả, ta lấy làm may mắn lắm. Nay Tây Hà ở về phía Tây nước Ngụy ta, tiếp giáp với nước Tần, quân Tần vẫn sang quấy nhiễu, nhà ngươi nghĩ hộ ta xem người nào có thể ra trấn thủ ở đấy được?

Địch Hoàng ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi đáp lại rằng:

— Tôi xin cử một người họ Ngô tên Khởi. Người ấy có tài làm đại tướng, nay từ nước Lỗ chạy sang nước ta. Chúa công nên mau mau triệu đến mà dùng lấy, nếu chậm thì hắn lại đi nước khác mất.

Ngụy Văn Hầu nói:

— Ngô Khởi có phải là người giết vợ để cầu làm tướng nước Lỗ đó không? Ta nghe nói người ấy tham tài hiếu sắc, tính lại tàn nhẫn, dùng thế nào được?

Địch Hoàng nói:

— Tôi cử Ngô Khởi là cốt lấy người thành công được việc cho chúa công thôi, còn phẩm hạnh thì có kể làm chi.

Ngụy Văn Hầu nói:

— Nhà ngươi hãy thử triệu đến cho ta xem.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.