Đông Chu Liệt Quốc - Chương 86: Ngô khởi giết vợ cầu quan trâu kỵ gẩy đàn làm tướng
Ngô Khởi giết vợ để cầu quan
Trâu Kỵ gảy đàn được làm tướng
Ngô Khởi vốn người nước Vệ. Lúc bé còn ở trong làng, người mẹ thường trách mắng về tội du đãng hay chơi nghề đánh gươm. Ngô Khởi cắn cánh tay chảy máu ra mà thề với mẹ rằng:
— Từ nay trở đi, con xin từ giã mẹ, đi du học phương khác. Nếu không làm nên khanh tướng lên xe xuống ngựa, cờ mở trống dong thì con quyết không về nước Vệ mà trông thấy mẹ nữa!
Người mẹ khóc mà giữ ở nhà. Ngô Khởi chẳng ngoảnh cổ lại, cứ việc ra thẳng cửa Bắc, đi sang nước Lỗ, vào học thầy Tăng Sâm, là học trò giỏi của ông Khổng Tử. Ngô Khởi ngày đêm chăm chỉ, không quản khó nhọc. Quan đại phu nước Tề là Điền Cư đến nước Lỗ, khen Ngô Khởi là người ham học, mới thử hỏi chuyện thì thấy ứng đối trơn như nước chảy, liền gả con gái cho. Ngô Khởi học Tăng Sâm được mấy năm, Tăng Sâm biết là nhà Ngô Khởi còn có mẹ già, mới hỏi Ngô Khởi rằng:
— Con đi học đã lâu ngày, mà không về thăm mẹ thì sao cho đành lòng?
Ngô Khởi nói:
— Con đã thề rằng nếu không làm nên khanh tướng thì không trở về nước Vệ nữa!
Tăng Sâm nói:
— Đối với người khác thì mới nên thề, còn mẹ thì thề sao được!
Từ bấy giờ Tăng Sâm có lòng ghét Ngô Khởi. Chưa được bao lâu, có tin đồn rằng mẹ Ngô Khởi đã chết, Ngô Khởi ngửa mặt lên trời kêu to ba tiếng, rồi lại chùi nước mắt mà đọc sách như thường. Tăng Sâm giận mà nói rằng:
— Ngô Khởi không về để tang mẹ, thế là người quên gốc! Nước không gốc thì tất phải kiệt, cây không gốc thì tất phải gãy, người mà không gốc thì sống sao được! Ngô Khởi không phải là học trò ta!
Tăng Sâm sai học trò đuổi Ngô Khởi ra không cho học nữa! Ngô Khởi bỏ đạo nho, đi học binh pháp. Trong ba năm, học đã thành nghề, mới xin làm quan ở nước Lỗ. Quan tướng quốc nước Lỗ là Công Nghi Hưu, thường cùng với Ngô Khởi bàn việc binh, biết Ngô Khởi là người tài giỏi, nói với Lỗ Mục công, dùng cho làm quan đại phu. Từ đó Ngô Khởi có lương bổng, mới mua tỳ thiếp để cầu vui. Bấy giờ quan tướng quốc nước Tề là Điền Hòa, muốn cướp nước Tề, nhưng sợ nước Lỗ là Tuế nhân với Tề, lại đem quân đến hỏi tội chăng, mới nhân cái thù ở Nghệ Lăng khi trước, mà sang đánh Lỗ, định dùng binh lực để làm cho Lỗ phải sợ. Quan tướng quốc nước Lỗ là Công Nghi Hưu nói với Lỗ Mục công rằng:
— Muốn lui quân Tề, trừ phi dùng được Ngô Khởi.
Lỗ Mục công ngoài miệng ầm ừ lấy làm phải, nhưng vẫn không chịu dùng. Đến khi nghe tin quân Tề đã chiếm mất Thanh ấp. Công Nghi Hưu lại tâu rằng:
— Tôi đã nói Ngô Khởi nên dùng, sao chúa công không theo?
Lỗ Mục công nói:
— Ta vẫn biết Ngô Khởi là người tài giỏi, nhưng hắn lại kết duyên với con gái họ Điền nước Tề. Tình người ta còn gì yêu hơn vợ chồng, tài nào không có ý thiên vị. Bởi vậy mà ta ngần ngại chưa dám quyết.
Công Nghi Hưu cáo từ lui về. Ngô Khởi đã chờ ở tướng phủ mà hỏi rằng:
— Quân Tề kéo sang nhiều lắm, chẳng hay chúa công đã tìm được lương tướng chưa? Ngày nay tôi không dám khoe khoang mà tự tiến mình tới, nhưng chắc rằng nếu cho tôi làm tướng thì quân Tề chẳng còn một mống nào trở về được!
Công Nghi Hưu nói:
— Tôi đã có nói đến hai, ba lần, nhưng chúa công thấy nhà ngươi kết hôn với họ Điền, vì thế mà nghi ngờ không quyết.
Ngô Khởi nói:
— Muốn làm cho chúa công khỏi nghi ngờ, điều ấy thực rất dễ.
Ngô Khởi liền về nhà hỏi vợ là Điền thị rằng:
— Người ta quý về có vợ là nghĩa làm sao?
Điền thị nói:
— Quý về có vợ là người vợ biết trông nom việc cửa nhà để giúp cho chồng làm nên kia khác!
Ngô Khởi nói:
— Người chồng làm đến khanh tướng, quyền cao chức trọng, nức tiếng thơm danh, thế mới thật là làm nên. Có phải vợ mong cho chồng được như thế không?
Điền thị nói:
— Phải!
Ngô Khởi nói:
— Ta muốn cầu nàng một việc, xin nàng giúp ta thì mới thành công được.
Điền thị nói:
— Tôi là đàn bà, có đâu lại giúp phu quân được thành công.
Ngô Khởi nói:
— Nay quân Tề đánh Lỗ, vua Lỗ muốn cho làm tướng, chỉ vì ta kết hôn với nàng là dòng dõi họ Điền ở nước Tề, vậy nên nghi ngờ mà không dùng. Nếu ta được cái thủ cấp nàng đem dâng vua Lỗ thì vua Lỗ không nghi ngờ được nữa, mà ta mới làm nên được công danh.
Điền thị kinh sợ, vừa toan mở miệng nói thì Ngô Khởi tuốt gươm. Điền thị đã rơi đầu xuống đất rồi! Ngô Khởi lấy lụa bọc đầu Điền thị đưa vào yết kiến Lỗ Mục công mà tâu rằng:
— Tôi có lòng báo quốc, chỉ vì vợ tôi mà chúa công nghi ngờ, nay tôi chém đầu vợ tôi, để tỏ là người một lòng vì nước Lỗ.
Lỗ Mục công có ý không vui mà nói rằng:
— Quan đại phu lầm rồi.
Được ít lâu thì Công Nghi Hưu vào yết kiến. Lỗ Mục công bảo Công Nghi Hưu rằng:
— Ngô Khởi giết vợ để cầu làm tướng, thế là một người tàn nhẫn trong bụng khó lường lắm.
Công Nghi Hưu nói:
— Ngô Khởi không quý vợ mà ham công danh, nếu chúa công bỏ không dùng thì hắn lại giúp Tề.
Lỗ Mục công nghe lời cho Ngô Khởi làm đại tướng. Tiết Liễu và Thân Tường làm phó tướng, đem hai vạn quân ra đánh quân Tề, Ngô Khởi từ khi làm đại tướng, cơm ăn áo mặc cũng đều một thứ như các quân sĩ khác, nằm không trải nệm, đi không ngồi xe, trông thấy quân sĩ khiêng vác nặng nề cũng đến làm hộ. Một tên quân có bệnh đau nhọt, Ngô Khởi thân hành chạy chữa thuốc thang, rồi ghé miệng hút mủ cho nó. Quân sĩ cảm cái ơn Ngô Khởi, khác nào như tình cha con, đều day tay mắm miệng xin cố sức đánh giặc. Quan tướng quốc nước Tề là Điền Hòa đem đại tướng là Điền Kỵ và Đoàn Bằng kéo quân thẳng tới cõi Nam Bì nước Lỗ, nghe tin Ngô Khởi làm đại tướng nước Lỗ, cười bảo rằng:
— Người ấy là rể họ Điền, chỉ nghề hiếu sắc, có biết việc quân lữ là cái gì! Nước Lỗ đến ngày suy đốn, vậy nên dùng người ấy.
Đến khi hai bên đóng đồn giáp nhau, Điền Hòa không thấy Ngô Khởi ra khiêu chiến, mới mật sai người dò xem Ngô Khởi làm gì, thì Ngô Khởi đang cùng với một tên quân hèn mạt nhất đám ấy trải chiếu xuống đất ngồi, chia canh cùng ăn. Sứ giả về báo, Điền Hòa cười nói rằng:
— Phép làm đại tướng có tôn nghiêm thì quân sĩ mới sợ, quân sĩ có sợ thì mới chịu cố sức đánh. Nay Ngô Khởi cử động như thế, còn dùng quân thế nào được, ta chẳng lo gì!
Điền Hòa lại sai Trương Sửu giả cách sang xin giảng hòa, để dò thăm xem cách chiến thủ của Ngô Khởi ra sao. Ngô Khởi đem quân tinh nhuệ giấu ở phía sau, rồi dàn những quân lão nhược ra, lại giả cách cung kính mà tiếp đãi Trương Sửu. Trương Sửu hỏi:
— Tôi nghe đồn tướng quân giết vợ để cầu làm tướng có phải không?
Ngô Khởi sợ hãi đáp rằng:
— Tôi dầu hèn mạt, cũng đã có học ở cửa thánh, khi nào dám làm những việc bất tình như vậy! Nội nhân tôi nhân khi bệnh mất, lại gặp có việc quân lữ, người nghe tin đồn bậy, chứ không phải thực.
Trương Sửu nói:
— Nếu tướng quân còn nghĩ đến tình họ Điền thì xin cùng với tướng quân tôi giảng hòa.
Ngô Khởi nói:
— Tôi đây là thư sinh, có đâu dám chống nhau với Điền thị, nếu cho giảng hòa thì chúng tôi thật mãn nguyện lắm.
Ngô Khởi mời Trương Sửu ở lại trong quân, uống rượu vui trong ba ngày, rồi mới cho về, tuyệt nhiên không nói gì đến việc binh. Khi Trương Sửu sắp đi Ngô Khởi lại dặn đi dặn lại để nhờ Trương Sửu nói hộ. Trương Sửu cáo từ lui về. Ngô Khởi tức khắc điều binh khiển tướng, chia làm ba toán quân lẻn đường theo sang. Điền Hòa được tin Trương Sửu về nói, có ý khinh quân Ngô Khởi là lão nhược, không lo sợ gì cả. Bỗng nghe thấy tiếng trống vang rầm ở ngoài cửa viên môn, quân Lỗ thình lình kéo đến Điền Hòa kinh sợ, ngựa không kịp đóng yên, xe không kịp thắng ngựa, quân sĩ đều náo loạn. Điền Kỵ đem bộ binh ra nghênh chiến Đoàn Bằng truyền cho quân sĩ sửa soạn để tiếp ứng. Chẳng ngờ hai toán quân của Tiết Liễu và Thân Tường ở hai bên tả hữu xông vào giáp chiến. Quân Tề thua to, người chết như rạ. Quân Lỗ đuổi theo mãi đến đất Bình Lục (đất nước Tề) mới trở về. Lỗ Mục công bằng lòng lắm, cho Ngô Khởi làm thượng khanh. Điền Hòa trách Trương Sửu về tội làm hỏng việc.
Trương Sửu nói:
— Tôi chỉ thấy như thế, nào ngờ đâu là Ngô Khởi đánh lừa.
Điền Hòa thở dài mà than rằng:
— Ngô Khởi dụng binh, chẳng khác gì Tôn Vũ và Nhương Thư thuở xưa. Nếu Lỗ cứ dùng hắn mãi thì nước Tề ta khó yên được. Ta muốn sai một người sang Lỗ, mật cùng với Ngô Khởi giao thông để hai bên không xâm phạm nhau. Nhà ngươi có đi được không?
— Tôi xin liều mình sang Lỗ một phen để chuộc lại cái tội trước.
Điền Hòa mới tìm hai người mỹ nữ và một nghìn nén hoàng kim, giao cho Trương Sửu. Trương Sửu giả cách làm lái buôn đem sang nước Lỗ, vào lễ riêng Ngô Khởi.
Ngô Khởi vốn là người tham tài hiếu sắc, thấy Trương Sửu đưa đến, liền nhận ngay rồi bảo Trương Sửu rằng:
— Nhà ngươi nói lại với quan tướng quốc nước Tề. Giả sử nước Tề không xâm nước Lỗ thì khi nào nước Lỗ lại đánh nước Tề.
Khi Trương Sửu trở về, cố ý hở chuyện cho mọi người ở Lỗ Thành biết, vì thế mà mọi người đều tuyên truyền về việc Ngô Khởi ăn lễ của nước Tề. Lỗ Mục công nghe biết chuyện ấy, liền phàn nàn rằng:
— Ta đã biết bụng Ngô Khởi không thể lường được!
Lỗ Mục công toan cách chức và trị tội Ngô Khởi. Ngô Khởi sợ hãi, bỏ nhà trốn sang nước Ngụy, trọ ở nhà Địch Hoàng.
Gặp bấy giờ Ngụy Văn Hầu đang bàn với Địch Hoàng, không biết sai ai trấn thủ Tây Hà cho được. Địch Hoàng mới tiến dẫn Ngô Khởi. Ngụy Văn Hầu triệu Ngô Khởi vào rồi bảo Ngô Khởi rằng:
— Ta nghe tướng quân làm quan ở nước Lỗ, cớ sao nay lại trốn sang nước ta?
Ngô Khởi nói:
— Vua nước Lỗ nghe lời đứa xu nịnh, không có lòng tin tôi vậy nên tôi phải trốn sang đây. Nay chúa công có lòng khiêm tốn, biết dùng kẻ sĩ, các người hào kiệt, ai cũng muốn theo. Vậy tôi cũng xin cầm roi mà theo hầu ở trước ngựa chúa công, nếu chúa công dùng cho thì dẫu thịt nát xương mòn, tôi cũng không dám hối hận.
Ngụy Văn Hầu phong cho Ngô Khởi làm quan trấn thủ ở Tây Hà. Ngô Khởi đến Tây Hà, sửa sang thành quách, luyện tập quân sĩ, hết lòng thương yêu kẻ dưới, cũng như khi còn làm tướng ở nước Lỗ. Lại đắp một cái thành chống nhau với nước Tần gọi tên là Ngô Thành. Bấy giờ Tần Huệ công mất, thế tử Xuất lên nối ngôi. Nguyên Tần Huệ công là con Tần Giản công. Tần Giản công là chú Tần Linh công. Đang khi Tần Linh công mất, con là Sư Thấp, tuổi hãy còn nhỏ, các quan triều thần mới lập Tần Giản công lên nối ngôi. Sau ba lần truyền ngôi đến thế tử Xuất thì bấy giờ Sư Thấp đã trưởng thành. Sư Thấp bảo các quan triều thần rằng:
— Nước Tần này vốn là nước của thân phụ ta, ta có tội gì mà các ngươi bỏ ta không lập?
Các quan triều thần không biết trả lời ra thế nào, mới cùng nhau giết thế tử Xuất mà lập Sư Thấp tức là Tần Hiếu công. Ngô Khởi nhân khi nước Tần lắm việc, đem quân đánh lén nước Tần, chiếm lấy năm thành. Nước Hàn và nước Ngụy thấy Ngô Khởi đánh được nước Tần, đều đến chúc mừng. Ngụy Văn Hầu khen cái công Địch Hoàng tiến dẫn được người giỏi, định cho Địch Hoàng làm quan tướng quốc, mới hỏi Lý Khắc. Lý Khắc nói:
— Không bằng cho Ngụy Thành là hơn.
Ngụy Văn Hầu gật đầu. Lý Khắc lui ra. Địch Hoàng đón mà hỏi rằng:
— Tôi nghe nói chúa công muốn chọn quan tướng quốc mà hỏi ý ông, chẳng hay ông có biết chúa công đã cho ai chưa?
Lý Khắc nói:
— Chúa công đã định cho Ngụy Thành.
Địch Hoàng hầm hầm nổi giận nói rằng:
— Chúa công muốn đánh Trung Sơn, tôi tiến dẫn Nhạc Dương; chúa công lo không có ai giữ đất Nghiệp, tôi tiến dẫn Tây Môn Báo; chúa công lo không có ai giữ Tây Hà, tôi tiến dẫn Ngô Khởi. Cớ sao tôi lại không bằng Ngụy Thành?
Lý Khắc nói:
— Ngụy Thành tiến dẫn Bốc Tử Hạ, Điền Tử Phương và Đoàn Can Mộc, hoặc làm thầy chúa công, hoặc làm bạn chúa công; còn những người của ông tiến dẫn thì chúa công chỉ dùng làm bề tôi được mà thôi. Ngụy Thành ăn lộc kể có 1.000 chung, mà vẫn đem cái lộc ấy để đãi các người hiền sĩ; còn lộc của ông thì ông chỉ để nuôi vợ con mà thôi. Ông ví với Ngụy Thành sao được.
Địch Hoàng sụp lạy hai lạy xin lỗi rằng:
— Bỉ nhân nói lỡ lời, từ nay xin theo làm đệ tử.
Từ bấy giờ nước Ngụy, tướng văn và tướng võ đều có người giỏi cả, trong nước được yên ổn. Quan tướng quốc nước Tề là Điền Hòa thấy nước Ngụy cường thịnh, lại nghe tiếng Ngụy Văn Hầu là người hiền, thiên hạ ai cũng trọng, Điền Hòa mới kết giao với Ngụy rồi thiên Tề Khang công ra một nơi bãi bể, cấp cho một thành để lấy lương ăn, còn bao nhiêu thì Điền Hòa chiếm cứ tất cả. Lại sai sứ sang nói với Ngụy Văn Hầu, nhờ tâu hộ với thiên tử nhà Chu, muốn viện cái lệ Tam Tấn, cũng được phong làm chư hầu.
Chu Uy Liệt Vương đã mất, con là An Vương (Kiên) lên nối ngôi, lại càng suy nhược lắm. Bấy giờ, tức là năm thứ 13 đời Chu An Vương. Chu An Vương theo lời xin của Ngụy Văn Hầu, phong cho Điền Hòa làm Tề Hầu, tức là Điền thái công. Từ khi Công tử Hoàn nước Tần chạy sang nước Tề, mà họ Khương ở nước Tề thành ra tuyệt tự. Bấy giờ Tam Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy) đều đua nhau chọn người tài giỏi cho làm tướng quốc, vì thế mà cái quyền quan tướng quốc hệ trọng lắm. Tướng quốc nước Triệu là Công Trọng Liên. Tướng quốc nước Hàn là Hiệp Lũy. Nay hãy nói chuyện Hiệp Lũy.
Khi Hiệp Lũy hãy còn hàn vi, cùng với người Bộc Dương (đất nước Vệ) là Nghiêm Toại, tên tự là Trọng Tử, cùng kết giao với nhau. Hiệp Lũy nghèo mà Nghiêm Toại giàu. Hiệp Lũy vẫn ăn nhờ Nghiêm Toại. Nghiêm Toại lại đem 1.000 nén vàng giúp cho Hiệp Lũy, để Hiệp Lũy có tiền mà đi du lịch các nước, Hiệp Lũy nhờ thế mà sang được nước Hàn, làm quan đến tướng quốc.
Hiệp Lũy đã cầm quyền chính nước Hàn, có tiếng là người cẩn trọng, không ai được vào yết kiến riêng bao giờ. Nghiêm Toại sang nước Hàn, muốn vào yết kiến Hiệp Lũy để nhờ Hiệp Lũy tiến dẫn cho. Nghiêm Toại đợi hơn một tháng mà không được vào yết kiến, mới đem tiền bạc lễ đút các người cận thần để xin vào yết kiến Hàn Liệt hầu, Hàn Liệt hầu bằng lòng muốn dùng cho làm quan. Hiệp Lũy lại nói với Hàn Liệt hầu kể những điều dở của Nghiêm Toại, và ngăn Hàn Liệt hầu không nên dùng.
Nghiêm Toại biết vậy, căm tức vô cùng, mới bỏ nước Hàn đi chu du thiên hạ, để tìm kẻ dũng sĩ đâm chết Hiệp Lũy. Đi đến nước Tề, trông thấy trong đám đồ tể làm thịt trâu có một người tay cầm cái búa lớn, đang bổ con trâu. Nhát búa hạ đến đâu thì gân cốt của con trâu đứt phăng phăng ra đến đấy, không có ý khó nhọc chút nào cả. Cái búa nặng ước chừng hơn 30 cân. Nghiêm Toại lấy làm lạ, đứng ngắm nghía mà nhìn kỹ người ấy thì thấy người ấy mình cao tám thước, mắt tròn râu vểnh, xương trán cao gồ, tiếng nói không giống tiếng người nước Tề.
Nghiêm Toại mới hỏi họ tên và lai lịch thì người ấy đáp rằng:
— Tôi họ Nhiếp, tên gọi là Chính, vốn người nước Ngụy, quê ở Chỉ Ấp. Chỉ vì tôi hay thẳng tính cho nên đắc tội ở chốn hương thôn, phải đem mẹ và chị trốn sang đây, làm nghề đồ tể kiếm ăn lần hồi cho qua ngày tháng.
Nhiếp Chính lại hỏi họ tên Nghiêm Toại. Nghiêm Toại cũng bảo thực cả, rồi cáo từ mà đi. Đến sáng hôm sau, Nghiêm Toại đội mũ mặc áo, đến tận nhà Nhiếp Chính, mời Nhiếp Chính ra quán uống rượu. Uống rượu vừa mới được ba tuần thì Nghiêm Toại đưa một trăm nén vàng để tặng Nhiếp Chính. Nhiếp Chính thấy cho nhiều như vậy, có ý lấy làm lạ. Nghiêm Toại nói:
— Tôi nghe nói ông có lão mẫu, vậy xin dâng của này để ông phụng dưỡng.
Nhiếp Chính nói:
— Ông cho tiền để tôi phụng dưỡng lão mẫu tôi, thế thì tất ông có bụng muốn dùng tôi làm việc gì đó. Nếu ông không bảo rõ thì tôi quyết không dám nhận.
Nghiêm Toại mới kể hết đầu đuôi việc Hiệp Lũy phụ ân cho Nhiếp Chính nghe và nói muốn giết chết Hiệp Lũy để báo thù. Nhiếp Chính nói:
— Ngày xưa Chuyên Chư đã có câu rằng: “Lão mẫu hãy còn thì không dám đem thân giúp ai cả”, vậy thì việc này cũng khó nghĩ lắm. Ông cho tôi quyết không dám nhận.
Nghiêm Toại nói:
— Tôi mến cái bụng cao nghĩa của ông, xin kết làm anh em, khi nào dám trái tấm lòng hiếu dưỡng của ông mà cầu nên việc riêng của mình.
Nhiếp Chính bất đắc dĩ mới nhận vàng, đem một nửa cho người chị là nàng Doanh, còn một nửa thì ngày nào cũng mua của ngon vật lạ, phụng dưỡng bà mẹ. Được hơn một năm thì bà mẹ Nhiếp Chính chết, Nghiêm Toại lại đến khóc viếng, rồi lo việc tang lễ giúp Nhiếp Chính. Khi an táng xong, Nhiếp Chính nói với Nghiêm Toại rằng:
— Cái thân tôi ngày nay là cái thân của túc hạ đó. Túc hạ muốn dùng làm việc gì, tôi cũng không dám tiếc.
Nghiêm Toại mới hỏi cái kế để báo thù Hiệp Lũy. Nhiếp Chính nói:
— Quan tướng quốc là một bậc tôn quý, ra vào lúc nào cũng có quân sĩ hộ vệ, ta nên phải dụng mưu mới xong, chứ không phải chỉ lấy sức khỏe mà làm được. Tôi xin giắt một con dao nhọn đi, rồi rình lúc bất ngờ mà đâm chết. Nay tôi xin từ biệt túc hạ, không bao giờ lại được trông thấy túc hạ nữa! Mà túc hạ cũng không nên hỏi đến việc tôi làm.
Nhiếp Chính đến nước Hàn, ngủ ở ngoài cõi, tĩnh sĩ trong ba ngày, đến sáng sớm ngày thứ tư, đi vào trong thành. Gặp bấy giờ Hiệp Lũy ở trong triều ra, xe xe ngựa ngựa, quân sĩ cầm giáo đi hộ vệ chung quanh, đi nhanh như bay. Nhiếp Chính theo đến tướng phủ. Hiệp Lũy xuống xe, vào ngồi trong phủ để xử quyết mọi việc. Từ cửa lớn vào đến thềm nhà, chỗ nào cũng có quân đứng cả. Nhiếp Chính đứng xa mà trông thì thấy Hiệp Lũy ngồi tựa một cái thư án, chung quanh có các người đang cầm giấy mà đứng hầu bẩm rất đông. Một lúc thì các công việc xong, sắp sửa tan hầu, Nhiếp Chính nhân lúc Hiệp Lũy đã mỏi mệt, mới giả cách nói có việc cần kíp vào bẩm quan tướng quốc, rồi cứ việc ở ngoài cửa đi sấn thẳng vào.
Giáp sĩ, kẻ nào ngăn lại thì đều bị Nhiếp Chính gạt ngã hết cả. Nhiếp Chính vào thẳng đến công đường rút con dao nhọn để đâm Hiệp Lũy. Hiệp Lũy sợ chạy. Chạy chưa khỏi chỗ ngồi thì bị lưỡi dao đâm trúng vào bụng mà chết. Trong phủ náo động cả lên, đều kêu có giặc, rồi đóng cửa phủ lại để bắt Nhiếp Chính. Nhiếp Chính đánh chết mấy người nữa, rồi liệu biết mình không thể thoát ra được, lại sợ người ta biết mình là ai, mới vội vàng cầm dao đâm nát mặt ra, và khoét bỏ hai con mắt, sau lại đâm cổ mà chết. Tức khắc có người phi báo Hàn Liệt hầu. Hàn Liệt hầu hỏi giặc là người nào, không ai biết cả. Hàn Liệt hầu truyền đem thây giặc chăng bày ra ở giữa chợ, rồi treo giải: Hễ ai biết được họ tên và lai lịch người ấy mà cáo tỏ ra thì thưởng cho 1.000 nén vàng, để muốn báo thù cho quan tướng quốc là Hiệp Lũy. Treo giải trong 10 ngày, kẻ đi người lại, đông như kiến cỏ, mà tuyệt nhiên chẳng ai biết cả. Việc ấy đồn đến nước Ngụy, người chị Nhiếp Chính ở làng Chỉ Ấp tên là nàng Doanh nghe tin liền lăn khóc mà nói rằng:
— Người ấy tất là em ta đó mà thôi.
Nàng Doanh chít khăn trắng rồi đi sang nước Hàn, trông thấy thây Nhiếp Chính chăng bày ở giữa chợ, chạy đến ôm lấy mà khóc lóc rất thảm thương. Kẻ thị lại (chức coi chợ) bắt mà hỏi rằng:
— Nàng với người chết đó là thế nào?
Nàng Doanh nói:
— Người chết đó là em tôi, tên gọi Nhiếp Chính, tôi đây là chị ruột hắn tên gọi là Doanh đó! Em tôi nguyên ở Chỉ Ấp, vốn là người võ dũng. Hắn biết việc đâm chết quan tướng quốc này là trọng tội, sợ di lụy đến tôi, vậy nên hắn khoét mắt rạch mặt ra để không ai nhận được, thế thì có lẽ nào tôi lại tiếc thân tôi mà khiến cho em tôi mai một, chẳng ai biết đến hay sao.
Thị lại nói:
— Người chết đó đã là em nàng thì tất nàng biết cái cớ vì sao mà hắn dám làm càn như vậy. Nếu nàng nói rõ người nào xui giục hắn, thì ta sẽ tâu với chúa công tha tội chết cho nàng.
Nàng Doanh nói:
— Tôi có sợ chết thì tôi đã không dám tới đây. Em tôi vì người khác báo thù mà không tiếc cái thân, đi giết một ông tướng quốc. Tôi không nói rõ tên ra thì làm mất cái tiếng của em tôi, mà nếu tôi nói rõ việc này ra thì lại làm cho em tôi mất điều nghĩa.
Nàng Doanh liền đập đầu vào cái cột đá ở chợ mà chết. Thị lại vào báo với Hàn Liệt hầu, Hàn Liệt hầu ngợi khen, truyền đem thu táng cho nàng Doanh và Nhiếp Chính, rồi phong Hàn Sơn Kiên làm tướng quốc để thay Hiệp Lũy. Hàn Liệt hầu truyền cho con là Hàn Văn hầu, Hàn Văn hầu truyền cho Hàn Ai hầu. Hàn Ai hầu cùng với Hàn Sơn Kiên bất hòa với nhau. Hàn Sơn Kiên mới thừa cơ giết chết Hàn Ai hầu. Các quan đại thần cùng nhau giết Hàn Sơn Kiên mà lập con Hàn Ai hầu là Nhược Sơn, tức là Hàn Y hầu. Đến đời con Hàn Y hầu là Hàn Chiêu hầu, dùng Thân Bất Hại làm tướng quốc. Thân Bất Hại tinh về cái học hình danh vì thế mà nước Hàn thịnh trị.
Lại nói chuyện năm thứ 15 đời Chu An Vương. Ngụy Văn Hầu (Tư) ốm nặng, triệu thế tử Kích ở nước Trung Sơn về. Nước Triệu nghe tin thế tử Kích rời bỏ Trung Sơn, liền đem quân sang đánh mà chiếm lấy. Từ bấy giờ Ngụy và Triệu có hiềm khích với nhau. Thế tử Kích về Ngụy thì Ngụy Văn Hầu đã mất rồi, thế tử Kích mới làm chủ tang rồi lên nối ngôi, tức là Ngụy Vũ hầu. Ngụy Vũ hầu phong Điền Văn làm quan tướng quốc. Ngô Khởi ở Tây Hà vào triều, vẫn tự đắc là mình có công to, thế nào cũng được làm tướng quốc, đến khi nghe nói Điền Văn đã được làm tướng quốc rồi, có ý không bằng lòng, hầm hầm nổi giận mà lui ra. Ra đến ngoài cửa triều môn, bỗng gặp Điền Văn. Ngô Khởi đón mà bảo rằng:
— Ông có biết cái công Ngô Khởi những thế nào không? Nay tôi xin nói cho ông nghe.
Điền Văn chắp tay đáp rằng:
— Vâng! Xin ông cho tôi nghe.
Ngô Khởi nói:
— Làm tướng đem quân đi đánh giặc mà khiến cho quân sĩ nghe tiếng trống có thể quên chết được, thế thì ông đã bằng Ngô Khởi hay chưa?
Điền Văn nói:
— Tôi không bằng!
Ngô Khởi nói:
— Trị trăm quan, thân muôn dân, mà khiến cho phủ khố đều được sung thực, thế thì ông đã bằng Ngô Khởi hay chưa?
Điền Văn nói:
— Tôi không bằng!
Ngô Khởi nói:
— Lại trấn thủ ở Tây Hà, mà quân Tần không dám xâm phạm đến bờ cõi, Hàn và Triệu đều phải kính phục, thế thì ông đã bằng Ngô Khởi hay chưa?
Điền Văn lại nói:
— Tôi không bằng!
Ngô Khởi nói:
— Ba điều ấy ông đều kém tôi, thế mà ngôi ông ở trên tôi là nghĩa làm sao?
Điền Văn nói:
— Chúa công cho tôi là một huân cựu đời trước mà phong làm tướng quốc, tôi thực lấy làm hổ thẹn lắm, nhưng ngày nay tân quân hãy còn ít tuổi, các đại thần và trăm họ chưa có lòng tin theo, tôi thiết tưởng không phải là lúc ta nên kể công vội.
Ngô Khởi cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi đáp rằng:
— Ông nói cũng có lẽ phải! Nhưng ngôi tướng quốc thế nào cũng phải nhường cho tôi.
Nội thị nghe biết chuyện hai người ấy tranh công với nhau như thế, vào tâu với Ngụy Vũ hầu. Ngụy Vũ hầu biết Ngô Khởi có lòng oán vọng mới lưu Ngô Khởi ở lại, mà chọn người khác sai đi trấn thủ Tây Hà. Ngô Khởi sợ Ngụy Vũ hầu giết, liền bỏ trốn sang nước Sở. Sở Điệu Vương (Hùng Nghi) vốn nghe tiếng Ngô Khởi là người tài, tức khắc cho làm quan tướng quốc. Ngô Khởi cảm cái ân ấy vô cùng, có ý hăng hái, muốn cố giúp cho nước Sở được cường thịnh, mới xin với Sở Điệu Vương rằng:
— Nước Sở ta, đất rộng mấy nghìn dặm vuông, quân giáp sĩ có hơn trăm vạn, đáng lẽ thì đè ép được chư hầu mà nối đời làm minh chủ mới phải, thế mà nay vẫn không hơn được các nước là bởi chưa biết cái đạo nuôi quân. Cái đạo nuôi quân, trước hết phải cấp lương cho hậu thì họ mới chịu hết sức, nay trong triều có nhiều chức quan không cần, các họ công tộc đã sơ viễn, cũng ăn hại của kho nhà nước, còn lương chiến sĩ thì cấp cho chẳng được bao nhiêu, thế mà muốn khiến cho họ phải vì nước liều mình, chẳng cũng khó lắm ru! Nếu đại vương chịu theo kế tôi, thải bớt những chức quan không cần đi, triệt bớt lương những họ đã xa đi, để đem bổng lộc ấy mà cấp cho chiến sĩ. Như thế mà nước không cường thịnh thì tôi xin chịu tội chết.
Sở Điệu Vương theo kế ấy. Các quan triều thần đều can Sở Điệu Vương không nên dùng lời nói của Ngô Khởi. Sở Điệu Vương không nghe, liền giao cho Ngô Khởi sửa lại quan chế, tước bỏ những chức quan không cần, kể hàng mấy trăm viên, con các quan đại thần, không được dựa dẫm mà ăn lộc của nhà nước; lại định lệ cho họ công tộc từ năm đời trở lên thì phải đi kiếm lấy mà ăn, cũng coi như các hạng dân thường vậy, còn từ năm đời trở xuống thì cân nhắc họ gần họ xa mà lương nhiều hoặc ít vậy. Vì thế mà sổ chi tiêu mỗi năm dư ra kể hàng mấy vạn. Rồi kén những quân tinh nhuệ trong nước sớm tối luyện tập, xét ai là người tài giỏi thì cho ăn nhiều lương, có người được tăng lương gấp mấy lần trước. Bởi thế mà quân sĩ đều có lòng ganh đua nhau, binh lực nước Sở mạnh hơn cả thiên hạ, Tam Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy) và Tề, Tần, nước nào cũng kính sợ. Suốt đời Sở Điệu Vương, không nước nào dám đem quân đến đánh. Đến khi Sở Điệu Vương mất, chưa kịp khâm liệm thì những con em các nhà quý thích đại thần đều thừa cơ nổi loạn, định giết Ngô Khởi. Ngô Khởi chạy vào nơi cung tẩm, chúng đem cung tên đuổi theo.
Ngô Khởi biết sức mình không địch nổi, mới ôm lấy thi thể Sở Điệu Vương. Chúng giương cung ra bắn thì cả thi thể Sở Điệu Vương cũng bị mấy mũi tên. Ngô Khởi kêu to lên rằng:
— Tôi dẫu chết cũng không dám tiếc, nhưng các ngươi căm tức đại vương mà bắn thi thể, thế thì cái tội đại nghịch bất đạo ấy, khi nào lại trốn ra ngoài vòng pháp luật nước Sở được.
Ngô Khởi nói xong thì chết. Chúng nghe lời Ngô Khởi nói, sợ mà tan ra. Thái tử Hùng Tang lên nối ngôi, tức là Sở Túc Vương. Được hơn một tháng Sở Túc Vương xét đến chỉ tội bắn thi thể Sở Điệu Vương, liền sai em là Hùng Lương Phu đem quân đi bắt những đảng khởi loạn mà giết đi, cả thẩy hơn 70 nhà.
Lại nói chuyện Điền Hòa từ khi lên làm vua nước Tề, được hai năm thì mất. Điền Hòa truyền cho Điền Ngọ, Điền Ngọ truyền cho Điền Nhân Tề. Năm Điền Nhân Tề lên nối ngôi, tức là năm thứ 23 đời Chu An Vương. Điền Nhân Tề cậy nước mình giàu mạnh, thấy Ngô và Việt xưng vương, trong khi sứ mệnh hai nước đi lại, đều dùng vương hiệu. Điền Nhân Tề cũng không chịu kém Ngô và Việt, mới tiếm hiệu xưng vương tức là Tề Uy Vương. Ngụy Hầu nghe thấy nước Tề xưng vương, liền nói:
— Khi nào Ngụy lại chịu không bằng Tề!
Bấy giờ cũng tự xưng là Ngụy Vương (tức là Lương Huệ Vương mà ông Mạnh Tử vào yết kiến đó). Tề Uy Vương từ khi lên làm vua, say đắm tửu sắc, lại ham mê âm nhạc, không nghĩ gì đến quốc chính. Trong khoảng chín năm. Hàn, Ngụy, Lỗ, Triệu đều đem quân đến đánh, các tướng ở ngoài bờ cõi thường bị thua luôn. Một hôm có một người thư sinh, xin vào yết kiến, tự xưng họ Trâu, tên Kỵ, nguyên người bản quốc, có biết gảy đàn cầm, nghe nói đại vương thích âm nhạc, nên tìm đến. Tề Uy Vương cho triệu vào, mời ngồi, sai người đặt một cái ghế ở trước mặt, rồi đưa cây đàn cầm ra. Trâu Kỵ lên dây đàn mà không gảy.
Tề Uy Vương hỏi rằng:
— Tiên sinh đã là người khéo gảy đàn cầm thì tiên sinh nên cho ta nghe một bài. Nay tiên sinh lên dây mà không gảy, dễ thường cái đàn này không được tốt chăng, hay là tiên sinh có ý chê ta không biết nghe đàn đó?
Trâu Kỵ đặt cây đàn cầm xuống, ngồi nghiêm nét mặt đáp rằng:
— Tôi biết là biết cầm lý, còn như tiếng chỉ đường tơ là việc của bọn nhạc công, tôi dẫu biết cũng không đáng gảy hầu đại vương làm gì.
Tề Uy Vương nói:
— Cầm lý thế nào? Xin tiên sinh cho nghe.
Trâu Kỵ nói:
— Cầm tức là cấm, nghĩa là cấm chỉ những sự dâm tà thì mới giữ được chính đạo. Vua Phục Hi đời xưa chế ra đàn cầm, đàn cầm có năm dây, dây lớn là vua, dây nhỏ là bề tôi, đến đời vua Văn Vương và Vũ Vương, mỗi ngài lại thêm một dây nữa, để hợp cái tình ý vua tôi, xem thế đủ biết rằng vua tôi có tương đắc nhau thì chính lệnh mới được hòa hợp, dẫu cái đạo trị nước, cũng chẳng qua như thế mà thôi.
Tề Uy Vương nói:
— Tiên sinh nói phải lắm! Nhưng tiên sinh đã biết cầm lý thì tất biết cầm âm, xin tiên sinh hãy thử gảy chơi một khúc.
Trâu Kỵ nói:
— Tôi học nghề đàn thì phải biết các lẽ chơi đàn; đại vương lo việc nước, há lại không biết cái đạo trị nước hay sao! Nay đại vương bỏ nước mà không trị, có khác gì tôi ôm đàn mà không gảy hay không? Tôi ôm cầm mà không gảy thì đại vương không được thỏa lòng, thế thì đại vương bỏ nước mà không trị, chắc là muôn dân cũng không được thỏa lòng vậy.
Tề Uy Vương ngạc nhiên nói rằng:
— Thế là tiên sinh mượn cây đàn để can ta đó! Ta đã hiểu ý rồi.
Tề Uy Vương mời Trâu Kỵ lưu lại ở nhà hữu thất. Đến sáng ngày hôm sau, Tề Uy Vương tắm gội sạch sẽ, rồi triệu Trâu Kỵ vào, cùng bàn việc nước, Trâu Kỵ khuyên Tề Uy Vương tiết bớt những sự tửu sắc, tin dùng kẻ trung lương, trừ bỏ đứa gian nịnh, lại luyện tập quân sĩ để kinh doanh về nghiệp bá vương. Tề Uy Vương bằng lòng lắm, tức khắc cho Trâu Kỵ làm tướng quốc. Bấy giờ có kẻ biện sĩ là Thuần Vu Khôn, thấy Trâu Kỵ chỉ nói mấy câu mà được làm tướng quốc, có ý không phục, mới đem đồ đảng sang yết kiến Trâu Kỵ. Trâu Kỵ tiếp đãi rất lễ phép, Thuần Vu Khôn, nét mặt kiêu ngạo, nghiễm nhiên ngồi ghế trên mà bảo Trâu Kỵ rằng:
— Tôi có thiển nghĩ được mấy điều, muốn giãi bày để quan tướng quốc nghe, chẳng biết có nên không?
Trâu Kỵ nói:
— Xin cứ cho nghe.
Thuần Vu Khôn nói:
— Con không lìa mẹ, vợ không lìa chồng.
Trâu Kỵ nói:
— Xin vâng! Từ nay chúng tôi không dám rời bên cạnh vua.
Thuần Vu Khôn lại nói:
— Dùng gỗ cức làm bánh xe, lại bôi thêm mỡ lợn, thế thì trơn hoạt lắm rồi, nhưng nếu làm cái lỗ vuông thì cũng không thể nào mà chuyển vận được.
Trâu Kỵ nói:
— Xin vâng! Tôi không dám làm điều gì trái nhân tính.
Thuần Vu Khôn lại nói:
— Cánh cung dẫu cứng đến đâu, cũng có lúc trễ, các dòng nước chảy ra bể, tự nhiên mà hợp.
Trâu Kỵ nói:
— Xin vâng! Từ nay tôi phải yêu mến muôn dân.
Thuần Vu Khôn lại nói:
— Áo hồ cừu dẫu nát, không nên đem da chó mà vá vào.
— Xin vâng! Tôi xin kén chọn người hiền mà dùng, không dám cho kẻ bất tiếu lẫn vào đó!
Thuần Vu Khôn lại nói:
— Bức cốc không so sánh từng phân từng thốn thì không thành sự được; cầm sắt không so sánh dây hoãn dây cấp thì không thành luật được.
Trâu Kỵ nói:
— Xin vâng! Tôi xin sửa soạn pháp luật để giám đốc những kẻ gian lại.
Thuần Vu Khôn nín lặng, sụp lạy hai lạy rồi ra. Khi đã ra cửa, những đồ đảng hỏi Thuần Vu Khôn rằng:
— Lúc nhà thầy mới vào yết kiến quan tướng quốc thì sao thầy có ý kiêu ngạo, đến lúc lui ra thì sao thầy lại chịu khuất mà sụp lạy hai lạy?
Thuần Vu Khôn nói:
— Ta mới ngỏ ý thử năm điều, quan tướng quốc đều hiểu ý ta mà ứng khẩu trả lời ngay được, thế là một bậc đại tài, ta không thể theo kịp.
Từ bấy giờ các biện sĩ nghe tiếng Trâu Kỵ, không ai dám đến nước Tề. Trâu Kỵ cũng dùng lời nói Thuần Vu Khôn, mà hết lòng lo việc chính trị thường dò xét trong bọn các quan ấp tể xem ai hiền, ai không hiền. Bấy giờ các quan trong triều, ai cũng khen quan đại phu đất A là người hiền, mà chê quan đại phu đất Tức Mặc, Trâu Kỵ nói với Tề Uy Vương, rồi sai người đi dò xét xem hư thực thế nào. Khi đã dò xét được sự thực rồi, Tề Uy Vương cho triệu hai quan đại phu đất A và đất Tức Mặc đến. Quan đại phu đất Tức Mặc đến trước, Tề Uy Vương chẳng nói chi cả, các quan trong triều đều ngơ ngác, không hiểu ra sao. Chưa được bao lâu, quan đại phu đất A cũng đến. Tề Uy Vương truyền họp tất cả các quan triều thần lại để định thưởng phạt. Các triều thần ai cũng nghĩ thầm trong bụng rằng: quan đại phu đất A phen này tất được trọng thưởng, mà quan đại phu đất Tức Mặc thì sắp có tai vạ đến nơi.
Khi các quan văn võ đã vào triều kiến cả rồi. Tề Uy Vương gọi quan đại phu đất Tức Mặc đến trước mặt bảo rằng:
— Từ khi nhà ngươi ra trấn thủ ở đất Tức Mặc, ngày nào ta cũng nghe thấy những lời chê bai. Ta sai người đến dò xét đất Tức Mặc thì thấy ruộng nương mở rộng, nhân dân giàu có, việc quan không chậm trễ, cả một phương đông ấy được yên. Thế là bởi nhà ngươi chuyên lòng trị dân, mà không chịu lễ đút những người tả hữu gần ta, thành ra bị họ chê bai đó. Nhà ngươi thật là một ông quan hiền.
Nói xong, liền gia phong cho, rồi lại gọi quan đại phu đất A đến mà bảo rằng:
— Từ khi nhà ngươi ra trấn thủ đất A, ngày nào ta cũng nghe thấy những lời khen ngợi. Ta sai người đến dò xét đất A thì thấy ruộng nương bỏ hoang, nhân dân đói rét, hôm trước quân Triệu đến xâm lấn bờ cõi mà nhà ngươi không biết cứu. Thế là nhà ngươi chỉ đem tiền đút lót những người tả hữu gần ta, thành ra được họ khen ngợi đó. Nhà ngươi thật là một ông quan rất dở.
Quan đại phu đất A sụp lạy xin đổi lỗi. Tề Uy Vương không nghe, truyền lực sĩ đem vạc dầu ra nấu lên. Vạc dầu đang sôi sùng sục, Tề Uy Vương sai trói quan đại phu đất A mà bỏ vào. Lại bắt cả những người xưa nay vẫn khen quan đại phu đất A mà chê bai quan đại phu đất Tức Mặc hàng mấy mươi người đến mà trách mắng rằng:
— Các ngươi đều là người tả hữu gần ta, tức là tai mắt của ta, các ngươi lại tham của ăn lễ, phải nói ra trái, trái nói ra phải, để lừa dối ta, thế thì ta còn dùng các ngươi được việc gì nữa! Nên đem mà mổ cả đi.
Chúng đều khóc lóc kêu van. Tề Uy Vương vẫn còn hầm hầm nổi giận, chọn lấy hơn 10 người, toàn là những người xưa nay mình có lòng thân yêu, đem ra mà mổ. Chúng đều run sợ. Từ bấy giờ Tề Uy Vương kén chọn những người hiền tài, cho đi trấn thủ các quận. Sai Đàn Tử đi trấn thủ Nam Thành để chống cự với Sở; Điền Miện đi trấn thủ Cao Đường để chống cự với Triệu; Kiềm Phu đi trấn thủ Từ Châu để chống cự với Yên. Còn quan tư khấu và tư mã, cũng đều chọn được người giỏi cả, vì thế mà trong nước cường thịnh. Các nước chư hầu đều phải sợ hãi. Tề Uy Vương đem đất Hạ Bì phong cho Trâu Kỵ mà bảo rằng:
— Làm thành được cái chí của ta là nhờ công nhà ngươi đó. Ta đặt tên cho nhà ngươi là Thành Hầu.
Trâu Kỵ tạ ân xong lại tâu rằng:
— Trong năm đời làm bá chủ thì Tề Hoàn công và Tấn Văn công là thịnh hơn cả, mà cái cớ sở dĩ thịnh được như thế, là nhờ về cái tiếng biết tôn thiên tử nhà Chu. Nay nhà Chu dẫu suy, chín cái đỉnh còn đó, sao đại vương không vào triều thiên tử nhà Chu, để mượn cái uy lệnh thiên tử mà sai khiến chư hầu. Nếu như vậy thì cái sự nghiệp của đại vương, cũng chẳng kém gì Tề Hoàn công và Tấn Văn công thủa trước.
Tề Uy Vương nói:
— Ta đã tiếm hiệu xưng vương, có lẽ nào Tề Vương lại vào triều Chu Vương hay sao!
Trâu Kỵ nói:
— Ta xưng vương nghĩa là để tỏ cái sự ta hùng trưởng hơn các nước chư hầu, chứ không phải là xưng vương để đối địch với thiên tử. Khi đại vương vào triều thiên tử, hãy tạm xưng Tề Hầu, như thế thì thiên tử tất yêu cái đức khiêm cung của đại vương, mà gia phong cho đại vương vậy.
Tề Uy Vương bằng lòng, tức khắc vào triều thiên tử nhà Chu. Bấy giờ là năm thứ sáu đời Chu Liệt Vương, nhà Chu suy yếu, đã lâu không thấy các nước chư hầu vào triều, nay thấy Tề Uy Vương đến thì trên dưới đều vui vẻ mừng rỡ. Chu Liệt Vương đem hết các đồ châu bảo ra tặng cho Tề Uy Vương. Khi Tề Uy Vương từ nhà Chu trở về nước Tề, ai trông thấy cũng ca tụng là người hiền đức. Bấy giờ thiên hạ có bẩy nước lớn là Tề, Sở, Ngụy, Triệu, Hàn, Yên và Tần. Trong bẩy nước ấy đất rộng binh cường, đại lược đều nhau: còn các nước khác như nước Việt, dẫu có xưng vương, nhưng mỗi ngày một suy yếu, đến như Tống, Lỗ, Vệ và Trịnh thì lại càng không đáng nói đến. Từ khi Tề Uy Vương làm bá chủ thì Sở, Ngụy, Hàn, Triệu và Yên, năm nước ấy đều chịu kém nước Tề, trong khi hội họp, vẫn tôn nước Tề làm chủ minh, chỉ có Tần là một nước ở xa lánh về phía Tây Nhung, các nước trung quốc thường khinh bỉ không hay thông hiếu với Tần.
Đời Tần Hiến công bỗng có mưa vàng trong ba ngày, quan thái sử nhà Chu tên là Thiêm than rằng:
— Đất nước Tần nguyên là đất của nhà Chu chia cho, chỉ hơn trăm năm thì tất lại hợp, mà sẽ có đời nên nghiệp bá vương. Nay trời mưa vàng ở nước Tần, tức là cái điềm ấy đó!
Đến khi Tần Hiến công mất, con là Tần Hiếu công lên nối ngôi. Tần Hiếu công lấy việc không được dự hội với trung quốc làm xấu hổ, mới hạ lệnh vời người hiền. Lệnh rằng:
“Các tân khách và triều thần ai có mưu kế gì lạ làm cho nước Tần được cường thịnh thì xin dùng làm đại thần và phong cho đại ấp”.

