Đông Chu Liệt Quốc - Chương 87: Vệ ưởng hết lòng giúp hiếu công qủi cốc truyền phép cho tôn tẫn

Vệ Ưởng hết lòng giúp Tần Hiếu công

Quỉ Cốc truyền phép cho Tề Tôn Tẫn

Người nước Vệ có Công tôn Ưởng, vốn chuyên học về ‘hình danh’ thấy nước Vệ nhỏ yếu, không đủ thi thố tài năng của mình, mới bỏ nước Vệ đi sang nước Ngụy, muốn xin vào làm tôi quan tướng quốc nước Ngụy là Điền Văn. Bấy giờ Điền Văn đã mất, Công tôn Tọa thay làm tướng quốc, Vệ Ưởng (tức là Công tôn Ưởng) mới vào làm tôi Công tôn Tọa. Công tôn Tọa biết Vệ Ưởng là người có tài, liền nói với Ngụy Huệ Vương cho làm chức trung thứ tử (tức là thuộc viên của quan tướng quốc). Mỗi khi có việc quan trọng thì Công tôn Tọa lại bàn với Vệ Ưởng. Vệ Ưởng nghị luận đều vỡ lẽ cả. Công tôn Tọa có lòng yêu mến, muốn tiến dẫn cho Vệ Ưởng làm quan to, nhưng chưa kịp tiến dẫn thì Công tôn Tọa bị bệnh. Ngụy Huệ Vương thân hành đến hỏi thăm, thấy Công tôn Tọa bệnh nguy lắm, chỉ còn thoi thóp thở mà thôi.

Ngụy Huệ Vương mới ứa nước mắt khóc mà hỏi rằng:

— Chẳng may quan tướng quốc không khỏi thì ta biết giao việc nước cho ai được?

Công tôn Tọa nói:

— Chức trung thứ tử là Vệ Ưởng. Người ấy tuổi dẫu còn trẻ, nhưng là một bậc kỳ tài trong đời bây giờ. Nếu đại vương giao hết quyền chính cho người ấy thì thật hơn gấp mười lần tôi đó.

Ngụy Huệ Vương nín lặng. Công tôn Tọa lại nói:

— Nếu đại vương không dùng Vệ Ưởng thì nên giết đi, chớ để cho hắn đi khỏi, mà nước khác người ta dùng mất thì lại hại cho nước Ngụy ta về sau này.

Ngụy Huệ Vương nhận lời. Khi đã lên xe trở về. Ngụy Huệ Vương mới thở dài than rằng:

— Công tôn Tọa trong khi ốm nặng thành ra mê lẫn, thậm chí xui ta giao quyền chính cho Vệ Ưởng! Lại bảo ta rằng “Không dùng thì phải giết đi”. Chao ôi! Vệ Ưởng làm gì nổi! Công tôn Tọa há không phải là mê lẫn hay sao!

Ngụy Huệ Vương đi khỏi rồi, Công tôn Tọa gọi Vệ Ưởng đến cạnh giường nằm bảo rằng:

— Vừa rồi, ta có nói với đại vương, muốn cho đại vương dùng nhà ngươi. Đại vương không nghe. Ta lại có nói: Nếu không dùng thì nên giết đi. Đại vương nhận lời. Nay ta bảo thực với nhà ngươi, nhà ngươi nên mau mau trốn đi, kẻo có tai vạ.

Vệ Ưởng nói:

— Đại vương đã không biết nghe lời quan tướng quốc mà dùng tôi, thì khi nào lại biết nghe lời quan tướng quốc mà giết tôi được!

Vệ Ưởng không chịu đi trốn. Quan đại phu là Công tử Cùng có quen Vệ Ưởng, lại tiến dẫn với Ngụy Huệ Vương. Ngụy Huệ Vương cũng không biết dùng. Đến bấy giờ Vệ Ưởng nghe tin Tần Hiếu công hạ lệnh cầu người hiền, mới bỏ Ngụy sang Tần, xin vào yết kiến một người bế thần (bề tôi mà được vua yêu) của Tần Hiếu công tên gọi Cảnh Giám. Cảnh Giám cùng với Vệ Ưởng thương nghị việc nước, biết Vệ Ưởng là người có tài, liền vào tâu với Tần Hiếu công. Tần Hiếu công cho triệu vào, hỏi về đạo trị nước. Vệ Ưởng viện dẫn các đời vua như: Phục Hi, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn để trả lời. Vệ Ưởng nói chưa hết lời thì Tần Hiếu công đã ngủ rồi.

Sáng hôm sau, Cảnh Giám vào yết kiến, Tần Hiếu công trách mắng rằng:

— Vệ Ưởng là kẻ gàn dở! Nói toàn những chuyện viển vông không thể dùng được, sao nhà ngươi lại tiến dẫn cho ta?

Khi Cảnh Giám lui về, bảo Vệ Ưởng rằng:

— Tôi đưa tiên sinh vào yết kiến chúa công, sao tiên sinh lại nói những chuyện viển vông, không thể dùng được, để khiến cho chúa công chán mà không muốn nghe.

Vệ Ưởng nói:

— Tôi đem đế đạo nói với chúa công, nhưng chúa công không hiểu, vậy ông hãy xin cho tôi vào yết kiến một lần nữa.

Cảnh Giám nói:

— Chúa công đã có ý không bằng lòng, nếu không để chậm độ năm ngày nữa thì không nên nói vội.

Quá năm ngày. Cảnh Giám lại vào tâu với Tần Hiếu công rằng:

— Vệ Ưởng chưa được nói hết lời, xin chúa công cho vào yết kiến lần nữa.

Tần Hiếu công lại triệu Vệ Ưởng vào. Vệ Ưởng giãi bày những công việc của vua Hạ Vũ và vua Thang, vua Vũ thuở xưa. Tần Hiếu công nói:

— Nhà ngươi thật là một người học rộng nhớ nhiều, nhưng cổ kim mỗi lúc một khác, nhà ngươi nói như thế thì dùng sao được.

Tần Hiếu công sai đuổi Vệ Ưởng ra. Cảnh Giám đứng chờ ngoài cửa, trông thấy Vệ Ưởng ở trong cung đi ra, đón mà hỏi rằng:

— Ngày hôm nay thế nào?

Vệ Ưởng nói:

— Tôi đem vương đạo nói với chúa công, chúa công còn chưa bằng lòng.

Cảnh Giám nói:

— Ông vua dùng người khác nào như kẻ đi bắn dùng cái cung, chỉ mong sao cho sớm tối có lợi ngay. Nay tiên sinh bỏ cái lợi trước mắt mà đi nói những chuyện đế vương thì hợp ý thế nào được!

Vệ Ưởng nói:

— Lúc trước tôi chưa biết ý chúa công thế nào, tôi sợ chúa công có chí cao mà tôi lại nói thấp chăng, vậy nên tôi phải nói như thế để dò ý. Nay đã dò được ý rồi, giả sử tôi được yết kiến chúa công một lần nữa thì lo gì mà không hợp.

Cảnh Giám nói:

— Tiên sinh hai lần vào yết kiến, mà đều làm trái ý chúa công tôi cả, khi nào tôi lại còn dám nói nữa để khiến cho chúa công tôi nổi giận.

Sáng hôm sau, Cảnh Giám vào triều tạ tội, không dám nói đến Vệ Ưởng nữa. Khi Cảnh Giám lui về, Vệ Ưởng lại hỏi rằng:

— Ông có tâu với chúa công, xin cho tôi vào yết kiến nữa không? Cảnh Giám nói:

— Không!

Vệ Ưởng nói:

— Tiếc thay cho chúa công có cái lệnh cầu hiền mà không biết dùng. Thôi thì tôi cũng xin cáo từ mà đi.

Cảnh Giám nói:

— Tiên sinh định đi đâu?

Vệ Ưởng nói:

— Chư hầu còn sáu nước lớn nữa, há lại không có một ông vua nào hiếu hiền hơn vua nước Tần hay sao! Mà há lại không được một người nào chịu hết lòng để tiến hiền hơn ông nữa hay sao! Tôi sẽ đi tìm được những nơi như thế.

Cảnh Giám nói:

— Tiên sinh hãy thư thả, đợi trong năm ngày nữa, rồi tôi sẽ lại tâu.

Quá năm ngày nữa, Cảnh Giám đứng hầu Tần Hiếu công. Tần Hiếu công đang uống rượu, bỗng thấy chim hồng bay qua, liền dừng chén rượu thở dài. Cảnh Giám tâu rằng:

— Chúa công trông thấy chim hồng bay qua mà thở dài là ý làm sao?

Tần Hiếu công nói:

— Ngày xưa Tề Hoàn công có nói: “Ta được Quản Trọng, khác nào như chim hồng có lông cánh” nay ta hạ lệnh cầu hiền đã mấy tháng rồi, mà không được một người tài giỏi nào đến, khác nào như chim hồng có chí bay nhảy mà không được lông cánh giúp cho, bởi vậy mà ta buồn rầu.

Cảnh Giám tâu rằng:

— Vệ Ưởng có ba thuật: đế, vương, bá khi trước vào yết kiến chúa công, đã nói những công việc đế vương, nay còn bá thuật, muốn xin nói nốt, chúa công thử bớt thì giờ mà nghe xem ra sao.

Tần Hiếu công nghe nói hai chữ bá thuật, lấy làm hợp ý, liền sai Cảnh Giám đi triệu Vệ Ưởng. Vệ Ưởng vào, Tần Hiếu công hỏi rằng:

— Nhà ngươi có bá thuật, sao không nói trước cho ta nghe.

Vệ Ưởng nói:

— Không phải là tôi không muốn nói, nhưng bá thuật cùng với đế vương khác nhau: đế vương thì cốt thuận dân tình mà bá thuật thì tất phải trái dân mới được.

Tần Hiếu công biến sắc mặt, rồi chống thanh kiếm nói rằng:

— Bá thuật, cứ gì phải trái dân tình mới làm được.

Vệ Ưởng nói:

— Đàn cầm, đàn sắt không được êm ái thì tất phải thay dây mà gióng lại, nếu việc chính trị mà không đổi lại thì bao giờ cho chỉnh đốn được, vì bọn tiểu dân nó chỉ cầu yên trong một lúc, mà không nghĩ gì đến cái lợi trăm năm. Ngày xưa Quản Trọng giúp Tề Hoàn công, đặt ra phép nội chính và phép quân lệnh, chia nước Tề ra làm 25 hương, đổi hết những pháp luật cũ của nước Tề, vậy thì bọn tiểu dân há lại vui lòng mà tin theo được hay sao! Đến khi nước được cường thịnh, dân được sung sướng, bấy giờ mới biết Quản Trọng là một bậc đại tài!

Tần Hiếu công nói:

— Nhà ngươi thật có cái thuật như Quản Trọng thì ta xin giao hết quyền chính cho nhà ngươi, nhưng chẳng hay cái thuật của nhà ngươi như thế nào?

Vệ Ưởng nói:

— Nước có giàu thì mới dùng binh được, binh có mạnh thì mới phá giặc được. Nay muốn cho nước giàu thì không gì bằng mở mang ruộng nương, muốn cho binh mạnh thì không gì bằng luyện tập chiến trận; dụ lấy trọng thưởng thì dân mới biết theo, hiếp lấy trọng phạt thì dân mới biết sợ; thi hành chính lệnh, lại tất phải thủ tín và quả quyết, như thế mà nước không giàu, binh không mạnh thì còn có lẽ nào!

Tần Hiếu công nói:

— Nếu vậy thì hay lắm! Cái thuật ấy ta có thể theo được.

Vệ Ưởng nói:

— Cái thuật giàu mạnh này, nếu không có người giỏi thì cũng không thi hành được. Đã được người giỏi mà mình không biết chuyên tâm để dùng người ta thì cũng không thi hành được. Đã chuyên tâm dùng người ta mà lại còn nghe người này người khác nói, đổi ý luôn luôn thì cũng không tài nào thi hành được.

Tần Hiếu công nói:

— Ta muốn nghe cho hết cái thuật của nhà ngươi, cớ sao nhà ngươi lại vội cáo từ làm vậy?

Vệ Ưởng nói:

— Hãy xin chúa công nghĩ kỹ trong ba ngày xem nên chăng thế nào, bấy giờ tôi sẽ xin nói hết.

Khi Vệ Ưởng lui về, Cảnh Giám lại trách rằng:

— Chúa công đã hai, ba lần khen phải, sao tiên sinh không nhân dịp ấy mà giãi bày hết để uẩn, lại còn muốn cho chúa công nghĩ kỹ trong ba ngày rồi mới chịu nói, thế chẳng hóa ra mình bắt bí chúa công hay sao!

Vệ Ưởng nói:

— Tôi xem ý chúa công chưa nhất định, nếu không như vậy thì e rồi lại đổi ý mà thôi.

Đến sáng hôm sau, Tần Hiếu công sai người đến triệu Vệ Ưởng. Vệ Ưởng từ chối rằng:

— Hôm qua tôi đã tâu với chúa công rồi! Chưa được ba ngày thì tôi không dám vào yết kiến.

Cảnh Giám lại khuyên Vệ Ưởng chớ từ chối.

Vệ Ưởng nói:

— Tôi vừa mới đính ước với chúa công mà nay đã thất tín ngay, thế thì sau này tôi còn thủ tín với chúa công sao được.

Bấy giờ Cảnh Giám mới chịu phục. Đến ngày thứ ba, Tần Hiếu công sai người đem xe đến đón. Vệ Ưởng lại vào yết kiến. Tần Hiếu công mời ngồi để hỏi chuyện. Vệ Ưởng mới kể hết những công việc nên thay đổi về chính trị nước Tần. Hai bên vấn đáp nhau, suốt trong ba ngày ba đêm, mà Tần Hiếu công không chút mỏi mệt, liền cho Vệ Ưởng làm chức tả thứ sử và thưởng 500 nén vàng. Lại hiểu dụ cho các triều thần biết rằng việc chính trị trong nước, từ nay trở đi, đều phải theo quan Tả thứ sử, nếu ai dám trái ý quan Tả thứ sử thì sẽ bị trọng tội. Các triều thần đều sợ một phép. Vệ Ưởng định hạ cái lệnh biến pháp, đã đem chương trình thương nghị với Tần Hiếu công nhưng sợ dân không tin theo, chưa dám thi hành, mới nghĩ ra một kế, đem một cây gỗ dài ba trượng để ở cửa Nam chợ Hàm Dương, rồi hạ lệnh rằng:

“Ai vác được cây gỗ này sang cửa Bắc thì thưởng cho 10 nén vàng”.

Người xem rất đông, mà ai cũng nghi ngờ không hiểu ra làm sao, không ai dám nhận vác cây gỗ ấy cả. Vệ Ưởng nói:

— Không ai chịu nhận vác, hoặc là còn chê ít tiền chăng?

Nói xong, liền cải lệnh thưởng 50 nén vàng. Nhân dân lại càng nghi ngờ lắm. Sau có một người đứng ra nói rằng:

— Nước Tần ta xưa nay không có trọng thưởng như thế bao giờ, nay bỗng có cái lệnh ấy thì tất có kế nghị chi đây, nhưng dẫu không được 50 nén vàng nữa thì cũng tất phải được ít nhiều.

Người ấy nói xong, liền vác cây gỗ ấy đem dựng ở cửa Bắc. Khi người ấy vác cây gỗ đi thì trăm họ theo xem, đông như kiến cỏ. Chức thị lại chạy vào nói với Vệ Ưởng. Vệ Ưởng gọi người ấy vào khen rằng:

— Nhà ngươi thật là một người lương dân, biết theo lệnh ta.

Vệ Ưởng đem 50 nén vàng thưởng cho người ấy và bảo rằng:

— Ta quyết không bao giờ chịu thất tín với dân trong nước.

Mọi người thấy vậy đều huyên truyền bảo nhau: quan tả thứ sử đã hạ lệnh gì thì quyết thi hành cho được, chứ không hề thất tín. Ngày hôm sau, Vệ Ưởng đem tân lệnh ra ban bố. Đó là năm thứ mười đời Chu Hiến Vương. Tân lệnh như sau:

—1. Định đô: Đất Hàm Dương là nơi danh thắng ở nước Tần, núi quanh sông bọc, rất là hiểm trở, nay ta phải thiên đô sang đấy để định vương nghiệp

— 2. Kiến huyện: Phàm những nơi thôn trấn trong nước, đều đặt làm huyện. Mỗi huyện đặt một viên lệnh thừa, để đốc hành tân pháp. Ai trái lệnh thì tùy theo nặng nhẹ mà bắt tội.

— 3. Tịch thổ: Phàm những đất bỏ hoang ở ngoài cõi, trừ những đường xe ngựa phải đi, và những lối bờ ruộng không kể, còn thì bắt dân phụ cận tại đấy phải khai khẩn thành điền. Đợi khi đã thành thục rồi, bấy giờ tính theo từng bộ mà chia mẫu, để bắt phải nộp thuế. Cứ sáu thước là một bộ, 240 bộ là một mẫu. Nếu quá thước thì là gian dối, tịch biên ruộng mà sung công.

— 4. Định phú: Phàm thuế ruộng cứ chiếu từng mẫu mà thu, chứ không dùng phép “Tỉnh điền nhất thất”. Bao nhiêu ruộng đều là quan điền cả, trăm họ không được riêng một thước một tấc nào.

— 5. Bản phú: Con trai phải cày ruộng, con gái phải dệt cửi. Ai cày được nhiều thóc hoặc dệt được nhiều lụa thì gọi là lương dân, được miễn dịch trong một nhà. Người nào nghèo khổ quá thì thu vào làm nô bộc các nhà quan gia. Ai bỏ tro ra ngoài đường thì tức là lười biếng, không thiết việc làm ruộng sẽ có trị tội. Nghề làm thợ và nghề đi buôn thì đánh thuế nặng. Người nào có hai con trai thì phải phân dị, bắt nộp đinh tiền, nếu không phân dị thì mỗi người phải nộp hai khóa.

— 6. Khuyến chiến: Cứ theo quân công mà định quan tước. Ai chém được một cái đầu giặc thì thưởng cho một cấp; ai lui một bước thì chém ngay. Kẻ có công nhiều thì được thưởng, xe đi và đồ mặc, tùy ý muốn hoa mỹ thế nào cũng được, không có hạn cấm. Kẻ nào vô công thì dẫu nhà giàu đến đâu cũng chỉ cho mặc quần áo nâu vải mà thôi. Họ tôn thất, thân hay là sơ đều tùy theo quân công nhiều hay ít. Ra chiến trận mà không có công thì tước bỏ thuộc tịch đi, cũng coi như dân thường vậy. Phàm nhà dân có việc tranh đấu riêng thì vô luận phải hay trái, đều bị chết chém.

— 7. Cấm gian: Cứ năm nhà gọi là bảo, 10 nhà gọi là liên. Một nhà có lỗi thì 9 nhà phải tố cáo, nếu không tố cáo thì cả 10 nhà cùng phải tội chết chém ngang lưng. Ai biết cáo tỏ sự gian thì cũng coi như là đánh được quân giặc, cũng có được thưởng. Cáo tỏ một đứa gian thì được thưởng một cấp, nếu chứa người có tội thì cũng coi như người có tội. Các nhà hàng cơm cho người ngủ trọ, đều phải có giấy khám nghiệm, nếu không thì không được cho trọ. Phàm dân, hễ một người có tội thì cửa nhà đều phải tịch biên sung công.

Tân lệnh ấy đã yết ra, trăm họ đều nghị luận rối rít, kẻ thì nói rằng bất tiện, người thì nói rằng tiện. Vệ Ưởng sai bắt cả vào mà trách mắng rằng:

— Chúng bay nghe lệnh, chỉ nên một lòng mà tin theo. Nói bất tiện là đứa ngang ngạnh, mà nói tiện cũng lại là đứa ô mị, đều không phải lương dân.

Vệ Ưởng truyền biên lấy họ tên, đem đày ra ngoài biên cảnh tất cả. Quan đại phu là Cam Long và Đỗ Trí vì tội nghị luận tân lệnh, đều phải giáng làm thứ dân. Từ bấy giờ mọi người đều khiếp sợ, không ai dám nói câu gì. Trong khi đi đường, chỉ đưa mắt nhìn nhau mà thôi. Vệ Ưởng sửa sang cung khuyết ở đất Hàm Dương, rồi chọn ngày thiên đô. Thế tử Tứ có ý không thuận, và lại chê tân lệnh là không phải.

Vệ Ưởng nổi giận nói rằng:

— Pháp luật không thi hành được là bởi tự người trên. Nay thế tử là con nối vua, không thể gia hình được, nhưng nếu tha mà không trị tội thì thành ra trái phép.

Vệ Ưởng liền tâu với Tần Hiếu công, xin bắt tội quan thái sư và quan thái phó là quan dạy ngôi thế tử học. Quan thái sư là Công tôn Giả bị thích chữ chàm vào mặt. Quan thái phó là Công tử Kiền bị cắt mũi. Trăm họ thấy vậy đều bảo nhau rằng:

— Ngôi thế tử trái lệnh mà quan thái sư và quan thái phó còn phải gia hình, huống chi là người khác.

Vệ Ưởng biết lòng dân đã định, tức khắc thiên đô sang đất Hàm Dương. Chia nước Tần làm 31 huyện. Khai khẩn ruộng nương, tăng thuế được hơn 500 vạn. Vệ Ưởng thường thân hành đến bến sông Vị, tra xét tù đồ, trong một ngày mà giết hơn 700 người, máu chảy đỏ cả sông Vị, tiếng khóc vang trời. Trăm họ ai cũng kinh sợ: đêm ngủ có khi giật mình, từ bấy giờ của bỏ rơi đường cái, cũng chẳng ai dám nhặt. Trong nước không có trộm giặc. Dân chỉ hăng hái về việc công chiến mà không ai dám tư đấu. Nước Tần giàu mạnh hơn các nước, bấy giờ mới đem quân đánh Sở, chiếm lấy đất Thương Ư. Lại mở được hơn 600 dặm đất ở ngoài Vũ Quan. Vua Hiển Vương nhà Chu sai sứ phong cho Tần làm phương bá. Các nước chư hầu đều đến chúc mừng.

Bấy giờ nước Ngụy xưng vương, có ý muốn thôn tính nước Hàn và nước Triệu, nghe tin nước Tần dùng Vệ Ưởng, mới thở dài mà than rằng:

— Tiếc thay ta không biết nghe lời Công tôn Tọa.

Bấy giờ bọn Bốc Tử Hạ, Điền Tử Phương đều tạ thế cả. Ngụy Huệ Vương mới chịu bỏ nhiều lễ vật để vời lấy các người hào kiệt bốn phương. Có người nước Trâu là ông Mạnh Kha, tên tự là Tử Dư. Ông Mạnh Kha là học trò của Tử Tư (tức là Khổng Cấp), mà ông Tử Tư là cháu đích tôn ông khổng Tử. Ông Mạnh Kha có chí muốn cứu đời, nghe tin Ngụy Huệ Vương cầu hiền, mới từ nước Trâu đi sang nước Ngụy. Ngụy Huệ Vương thân hành ra ngoài cõi để nghênh tiếp, rồi hỏi ông Mạnh Kha về đạo lợi nước.

Ông Mạnh Kha nói:

— Tôi chỉ biết có nhân nghĩa, chứ không biết có điều lợi.

Ngụy Vương cho lời nói ấy là viển vông mà không biết dùng. Lại nói chuyện đất Dương Thành thuộc về địa phận nhà Chu, có một chỗ tên gọi là Quỉ Cốc, vì chỗ ấy núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề, không phải là chỗ người ở, vậy nên mới đặt tên là Quỉ Cốc. Trong núi ấy có một người ẩn sĩ, họ Vương tên Hủ, người về đời Tấn Bình công. Nguyên trước ở Văn Mộng Sơn cùng với người nước Tống là Mặc Địch cùng hái thuốc tu đạo tại đấy. Mặc Địch không có vợ con gì cả, chỉ phát nguyện đi chu du thiên hạ, theo một chủ nghĩa kiêm ái mà cứu thế độ dân; còn Vương Hủ thì ẩn ở núi Quỉ Cốc. Người ta vẫn gọi là Quỉ Cốc tiên sinh.

Quỉ Cốc tiên sinh là người thông hiểu mọi lẽ trong trời đất, có mấy thứ học vấn, không mấy người theo kịp. Mấy thứ học vấn là:

1. Số học, nhật nguyệt tượng vĩ đều thu cả ở trong bàn tay, xem việc trước, đoán việc sau, nói gì cũng linh nghiệm;

2. Binh học, lục thao tam lược, biến hóa vô cùng, bày trận hành binh, quỉ thần khôn biết;

3. Du học, nhớ rộng nghe nhiều, hiểu rõ lý thế, buông lời hùng biện, muôn miệng khôn đương;

4. Xuất thế học, giữ toàn chân tính, luyện thuốc nuôi mình, không ốm không chết, đắc đạo thành tiên.

Tiên sinh ấy đã có cái thuật tu tiên như thế, làm sao còn khuất thân ở lại cõi trần? Đó là vì tiên sinh muốn siêu độ cho mấy người đệ tử thông minh, cùng về tiên cảnh, cho nên mới mượn nơi Quỉ Cốc để nương mình. Ban đầu đôi khi đi vào chợ, xem bói cho mọi người nói những điều tốt xấu dữ lành đều linh nghiệm cả, rồi dần dần có nhiều người mến thuật của tiên sinh, kéo nhau đến xin học, tiên sinh xem xét tư chất của từng người, ai học được thuật gì thì truyền thụ cho thuật ấy, có ý vừa để gây dựng lấy một số nhân tài giúp việc cho bảy nước, vừa dò xem người nào có tiên cốt để cùng bàn việc lìa bỏ cõi đời trần tục đến ở một cái thế giới thanh cao. Tiên sinh ở đó không biết đã bao nhiêu năm, học trò đến học không biết có bao nhiêu người, ai đến cũng dung, mà ai bỏ đi cũng không giữ lại.

Trong số học trò, đồng thời có mấy người có tiếng là Tôn Tẫn người nước Tề, Bàng Quyên, Trương Nghi người nước Ngụy, Tô Tần người Lạc Dương, Tẫn và Quyên kết làm anh em cùng học binh pháp, Tần và Nghi kết làm anh em cùng học du thuyết, mỗi đằng chuyên trị một học thuật riêng. Nói riêng về Bàng Quyên học binh pháp đã hơn ba năm, tự cho mình là đã giỏi lắm, một hôm đi xách nước, qua dưới chân núi, thấy người đi đường nói nước Ngụy xuất nhiều tiền để chiêu hiền, cầu người làm tướng văn tướng võ, trong lòng khấp khởi, muốn giã từ tiên sinh xuống núi đi đến nước Ngụy để tỏ tài, lại sợ tiên sinh không cho, trong lòng trù trừ muốn nói mà không dám nói. Nhưng tiên sinh trông nét mặt xét tình đã thừa biết ý riêng của Bàng Quyên, cười mà bảo rằng:

— Thời vận của nhà ngươi đã đến, sao không xuống núi mà đi cầu lấy giàu sang?

Bàng Quyên nghe lời tiên sinh nói chính hợp ý mình, liền quì xuống nói rằng:

— Đệ tử cũng đã có ý ấy, nhưng không biết chuyến đi này có được hài lòng không?

Tiên sinh nói:

— Nhà ngươi đi hái một cành hoa đem về đây để ta xem cho. Bàng Quyên đi xuống núi tìm hoa, bấy giờ là tháng sáu, khí trời nóng nực, cây cối ít có hoa nở. Bàng Quyên loanh quanh tìm mãi chỉ thấy một nhánh hoa cỏ, liền nhổ lấy cả gốc, toan đem về trình sư phụ, bỗng lại nghĩ thứ hoa này chất mềm thân yếu không phải là vật quí giá, bèn quăng bỏ xuống đất rồi đi tìm một hồi nữa, nhưng không sao tìm được thứ hoa nào khác, bất đắc dĩ lại đi đến chỗ cũ nhặt lấy nhành hoa đã quăng bỏ, để vào trong tay áo, về nói với tiên sinh rằng:

— Trong núi không có hoa.

Tiên sinh nói:

— Không có hoa thì cái gì ở trong tay áo nhà ngươi kia?

Bàng Quyên không giấu được phải lấy ra đưa trình, nhành hoa ấy bị nhổ lên và bị phơi nắng, nên đã héo rũ, tiên sinh nói:

— Nhà ngươi có biết tên thứ hoa này là gì không, tức là hoa mã đâu linh, mỗi lần nó nở ra 12 cái, ứng vào cái số năm được vẻ vang của nhà ngươi. Hoa này hái ở Quỉ Cốc, thấy mặt trời thì héo, bên chữ “quỉ” có chữ “ủy” nhà ngươi tất xuất thân ở nước Ngụy.

Bàng Quyên nghĩ thầm lấy làm lạ, tiên sinh lại nói.

— Sau này nhà ngươi sẽ vì việc lừa dối người mà bị người ta lừa dối lại, vậy nên lấy điều đó làm răn. Ta có tám chữ này nhà ngươi nên nhớ lấy đừng quên “Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng”.

Bàng Quyên lạy hai lạy rồi nói rằng:

— Lời giáo huấn của tôn sư, đệ tử xin một lòng ghi nhận.

Khi ra đi, Tôn Tẫn tiễn xuống dưới chân núi, Bàng Quyên nói:

— Đệ cùng anh có nghĩa kết giao, thề cùng giàu sang, chuyến đi này nếu gặp bước tiến thân, đệ tất phải tiến cử ngô huynh để cùng lập cơ nghiệp.

Tôn Tẫn nói:

— Hiền đệ có giữ được như lời không?

Bàng Quyên nói:

— Nếu đệ có sai lời, sẽ phải chết ở dưới muôn mũi tên.

Tôn Tẫn nói:

— Đa tạ hậu tình, cần gì phải thề độc như thế.

Nói xong, hai người cùng gạt lệ chia tay, Tôn Tẫn trở về núi, tiên sinh thấy rơm rớm nước mắt, hỏi rằng:

— Bàng Quyên đi, ngươi tiếc nhớ lắm phải không?

Tôn Tẫn nói:

— Nghĩ tình đồng học, sao khỏi tiếc nhớ nhau.

Tiên sinh hỏi:

— Ngươi bảo cái tài Bàng Quyên có đáng làm đại tướng không?

Tẫn nói:

— Nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, khi nào lại không làm được?

Tiên sinh nói:

— Không làm được! Không làm được!

Tôn Tẫn lấy làm lạ, hỏi vì cớ gì, tiên sinh không nói. Đến hôm sau, bảo các học trò rằng:

— Ban đêm ta rất ghét tiếng chuột kêu, các anh phải thay nhau thức mà đuổi chuột cho ta.

Các học trò vâng lời, khi đến lượt Tôn Tẫn phải thức, tiên sinh lấy ở dưới gối ra một cuốn sách, bảo Tẫn rằng:

— Đây là 13 thiên binh pháp của ông nội ngươi là Tôn Vũ Tử, xưa kia ông ngươi đem dâng vua Hạp Lư nước Ngô, Hạp Lư theo dùng, phá tan được quân Sở, sau Hạp Lư tiếc quyển sách ấy không muốn truyền bá cho mọi người, bèn làm một cái hòm sắt, để cuốn sách ấy vào cất giấu ở trong khe cột Cô Tô Đài. Từ khi quân Việt đốt đài, cuốn sách ấy chẳng còn ai biết đến nữa. Ta vốn có chơi với ông ngươi, được xem sách ấy, tự ta chú giải, những điều bí mật trong sự hành binh đều ở trong sách ấy, chưa từng cẩu thả giao cho ai, nay thấy ngươi có lòng trung hậu nên ta giao cho.

Tôn Tẫn nói:

— Đệ tử cha mẹ mất sớm lại gặp lúc nước nhiều biến cố, họ hàng mỗi người đi một nơi, dẫu biết tổ phụ có cuốn sách ấy, nhưng không ai truyền bảo cho, tôn sư đã có chú giải, sao không truyền cả cho Bàng Quyên lại chỉ truyền riêng cho Tẫn này?

Tiên sinh nói:

— Được cuốn sách này, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì làm hại to, Quyên không phải là người tốt, khi nào ta lại giao cho được.

Tẫn bèn đem về buồng nằm, ngày đêm nghiền đọc. Sau đó ba ngày, tiên sinh đòi lấy cuốn sách, Tôn Tẫn đem nộp, tiên sinh theo từng thiên hỏi lại, Tẫn đối đáp trôi chảy không sót một chữ nào, tiên sinh mừng mà nói rằng:

— Ngươi biết dụng tâm như thế, tổ phụ ngươi dù đã qua đời, cũng như còn sống vậy.

Lại nói Bàng Quyên biệt Tôn Tẫn, đi thẳng đến nước Ngụy, đem binh pháp vào cầu quan tướng quốc là Vương Thác. Vương Thác tiến vào Huệ Vương. Khi Bàng Quyên vào chầu, chính gặp lúc người nhà bếp dâng món dê hầm ở trước mặt Huệ Vương. Huệ Vương vừa cầm đũa, Quyên mừng nghĩ thầm thầy ta nói gặp dê thì vinh, lời nói ấy quả không sai. Huệ Vương thấy Bàng Quyên tướng mạo đường đường, buông đũa đứng dậy đón chào, Bàng Quyên sụp lạy hai lạy, Huệ Vương nâng dậy, hỏi học về môn gì, Quyên thưa rằng:

— Tôi học Quỉ Cốc tiên sinh, về đạo dụng binh, riêng học được phần tinh túy.

Rồi chỉ vạch tâu bày, có điều gì đem ra nói hết. Huệ Vương hỏi:

— Nước ta Đông có nước Tề, Tây có nước Tần, Nam có nước Sở, Bắc có các nước Hàn, Triệu, Yên, đều ngang sức cả, mà nước Triệu cướp đất Trung Sơn của ta, thù ấy chưa báo, tiên sinh có kế gì giúp ta không?

Bàng Quyên nói:

— Đại vương chẳng dùng tôi thì thôi, nếu dùng tôi làm tướng, thì đánh trận nào được trận ấy, đánh thành nào được thành ấy, có thể kiêm tính được cả thiên hạ, lo gì sáu nước kia.

Huệ Vương nói:

— Tiên sinh nói quá, e rằng khó làm được như lời.

Quyên nói:

— Tôi tự lượng cái tài tôi, chắc có thể thu được sáu nước vào trong tay, nếu có sai lỗi, xin cam chịu tội.

Huệ Vương bằng lòng lắm, cử ngay làm nguyên súy và kiêm chức quân sư, con trai Quyên là Bàng Anh, cháu là Bàng Thông, Bàng Mai đều phong làm tướng. Quyên luyện binh huấn võ, trước lấn các nước nhỏ là Vệ, Tống, thường thường đắc thắng, vua các nước Tống, Lỗ, Trịnh, Vệ đều rủ nhau đến chầu, lại gặp quân Tề lấn cõi, Quyên mang quân đánh lui được, tự cho là công to, hết sức khoe khoang.

Bấy giờ Mặc Địch đi ngao du các danh sơn, nhân qua Quỉ Cốc vào thăm bạn, gặp Tôn Tẫn cùng nhau đàm luận, đều hợp ý nhau lắm, bèn bảo Tẫn rằng:

— Anh học nghiệp đã thành, sao không ra mà lập công danh, lại cứ ở chúi mãi trong nơi rừng núi?

Tẫn nói:

— Tôi có người bạn học là Bàng Quyên ra làm quan ở nước Ngụy, có hẹn khi nào đắc chí, sẽ tiến dẫn nhau, vì vậy nên tôi phải chờ đợi.

Mặc Địch nói:

— Quyên đã làm tướng nước Ngụy rồi, vậy tôi xin vì anh đến nước Ngụy để xem xét ý Quyên thế nào.

Mặc Địch từ biệt, đi đến nước Ngụy, nghe Bàng Quyên cậy tài, nói quá không thẹn, biết là không có ý tiến dẫn Tôn Tẫn, bèn đổi mặc quần áo người nhà quê, cầu vào yết kiến Ngụy Huệ Vương. Huệ Vương vốn biết tiếng Mặc Địch, xuống thềm đón vào, hỏi về binh pháp, Mặc Địch kể những điều đại lược. Huệ Vương mừng lắm, muốn giữ lại cho làm quan, Mặc Địch nói rằng:

— Tôi quen tính quê mùa, không quen mặc áo đội mũ, có biết người cháu Tôn Vũ Tử tên là Tẫn, thực đáng tài đại tướng, tôi thực không bao giờ theo kịp, nay người ấy ở ẩn trong Quỉ Cốc, đại vương sao không cho triệu đến dùng.

Huệ Vương nói:

— Tôn Tẫn học ở Quỉ Cốc tức là đồng môn với Bàng Quyên, vậy nhà ngươi xem sức học của hai người, ai hơn ai?

Mặc Địch nói:

— Tẫn cùng Quyên dẫu là đồng học, nhưng Tẫn riêng được các điều bí truyền của tổ phụ, dẫu cả thiên hạ cũng không ai đối địch được, nữa là Bàng Quyên!

Mặc Địch từ tạ đi ra. Huệ Vương lập tức cho đòi Bàng Quyên vào hỏi rằng:

— Ta nghe người cùng học với nhà ngươi là Tôn Tẫn, học riêng được những binh pháp bí truyền của Tôn Vũ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao tướng quân chẳng vì quả nhân triệu đến.

Bàng Quyên nói:

— Hạ thần không phải là không biết tài của Tôn Tẫn, nhưng nghĩ Tẫn là người nước Tề, họ hàng đều ở nước Tề, nay nếu làm quan với Ngụy, thì tất thế nào hắn cũng coi Tề hơn, vì vậy hạ thần không dám tiến cử.

Huệ Vương nói:

— Kẻ sĩ bao giờ cũng chết với tri kỷ, hà cứ phải người bản quốc mới dùng được ư?

Bàng Quyên nói:

— Đại vương đã muốn triệu Tôn Tẫn, hạ thần xin viết thư gọi đến.

Bàng Quyên dẫu không nói gì, nhưng trong lòng trù trừ, nghĩ thầm binh quyền nước Ngụy ngày nay ở trong tay mình, nếu Tôn Tẫn đến thì hắn sẽ cướp mất, nhưng Ngụy Vương đã bảo thì thế nào cũng phải vâng lời, âu là đợi khi hắn đến sẽ lập kế mà hại, ngăn trở đường tiến dụng của hắn lại càng hay lắm. Nghĩ vậy rồi viết một phong thư dâng trình Huệ Vương xem. Huệ Vương dùng cỗ xe tứ mã, đồ lễ hoàng kim bạch bích, sai người cầm phong thư của Bàng Quyên đi đến Quỉ Cốc đón Tôn Tẫn. Tôn Tẫn bóc thư ra xem, đại ý nói: “Quyên này nhờ ơn anh, đến yết Ngụy Vương được trọng dụng ngay. Mấy lời hẹn nhau trong khi từ biệt, vẫn ghi nhớ bên lòng, nay xin tiến cử lên Ngụy Vương, và phái người đến đón để cùng đệ lập nên cơ nghiệp”. Tôn Tẫn đem thư trình Quỉ Cốc tiên sinh, tiên sinh biết Bàng Quyên đã được trọng dụng, nay có thư đến đón Tôn Tẫn, lại không có một chữ nào hỏi thăm thầy, thực là người phụ bạc quên gốc, không đáng kể đến. Nhưng Bàng Quyên là người kiêu ngạo ghen ghét, nếu Tôn Tẫn đi thì không thể nào dung nhau được, muốn bảo hắn đừng đi, nhưng e phụ lòng Ngụy Vương, thôi đành cứ để cho đi vậy. Liền bảo Tôn Tẫn cũng đi lấy một cành hoa núi để bói xem tốt xấu thế nào. Bấy giờ là tiết tháng chín, Tẫn thấy cái bình ở trên án có cắm một cành hoa cúc, bèn rút lấy đem trình, rồi lại đem cắm trả ngay vào trong bình, tiên sinh liền đoán rằng:

— Cành hoa này đã bị bẻ không được hoàn hảo, nhưng tính chịu rét, tuyết sương dầu dãi cũng không rụng, dẫu có bị tàn hại cũng không hề gì, vả cắm để trong bình, mọi người đều quý trọng, mà cái bình ấy lại là vàng đúc nên cùng loài với chung đỉnh, chắc rồi ra sẽ có danh tiếng lẫy lừng. Nhưng cành hoa này qua hai lần cất nhắc, rồi lại cắm vào bình, vậy sự nghiệp của ngươi nhất thời chưa thể đắc ý được, mà kết cục sẽ làm nên ở nơi quê mình. Vậy ta sẽ thêm đổi chữ tên cho, có thể mong tiến thủ được. Tiên sinh bèn đem chữ tên là “Tân” thêm một chữ ở bên tả thành ra chữ “Tẫn”. Theo nghĩa chữ thì là một thứ cực hình chặt chân, nay Quỉ Cốc tiên sinh đổi như thế là biết trước Tôn Tẫn thế nào cũng bị chặt chân, nhưng cơ trời không dám tiết lộ cho ai biết.

Khi Tôn Tẫn ra đi, tiên sinh lại trao cho một cái cẩm nang, dặn kỹ hễ khi nào gặp việc nguy cấp quá mới được mở ra xem.

Tôn Tẫn lạy từ tiên sinh, theo sứ giả nước Ngụy xuống núi, lên xe cùng đi, Tô Tần, Trương Nghi đứng bên cạnh đều tỏ ý hâm mộ, bàn riêng với nhau rồi cũng xin về để lập công danh. Tiên sinh nói:

— Trong đời này thực hiếm có người thông minh, lấy cái tư chất của hai trò nếu chịu kiên tâm học đạo có thể thành tiên, cớ sao còn muốn dấn mình vào chốn trần ai, cam để cho những cái hư lợi phù danh bó buộc.

Tần, Nghi đồng thanh đáp rằng:

— Gỗ tốt không thể xếp bỏ một xó, gươm sắc không thể xếp bỏ trong hòm, tháng trọn ngày qua, thời giờ khôn chuộc, anh em tôi nhờ ơn thầy dạy bảo, cũng muốn nhân thời lập cơ nghiệp để tiếng lại đời sau.

Tiên sinh nói:

— Trong hai trò, có trò nào chịu ở lại làm bạn với ta không? Tần, Nghi đều muốn đi, không ai chịu ở lại, tiên sinh ép không được, phàn nàn ở đời ít có người biết tu tiên, rồi xem bói cho mỗi người một quẻ, đoán rằng Tần trước lành sau dữ, Nghi trước dữ sau lành. Tần gặp gỡ ngay, còn Nghi thì sự nghiệp muộn màng. Tiên sinh lại nói:

— Ta xem hai trò Tôn, Bàng thế không dung nhau được, tất sẽ có việc làm hại nhau, còn hai trò mai sau tưởng cùng nên nhường nhịn để thành danh dự và giữ toàn cái tình đồng học ngày nay.

Hai người đập đầu xin chịu lời dạy, tiên sinh lại đem hai cuốn sách chia tặng hai người, Tần, Nghi cùng nhìn xem thì đều là quyển Thái công âm phù thiên, cùng nói rằng:

— Sách này đệ tử học thuộc lòng đã lâu, ngày nay tiên sinh lại ban cho, chẳng hay có dùng vào việc gì được không?

Tiên sinh nói:

— Các trò dẫu học thuộc rồi, nhưng chưa nhận được chỗ tinh túy, chuyến đi này nếu chưa đắc ý, thì nên đem sách này nghiền ngẫm lại, tất có tiến ích. Ta từ đây cũng đi tiêu dao ngoài bể, không còn ở lại nơi Quỉ Cốc này nữa.

Tần, Nghi đều từ biệt ra đi, sau đó vài hôm, tiên sinh cũng bỏ Quỉ Cốc đi mất, có người nói là tiên sinh đã thành tiên xa lánh cõi trần.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.