Kết Thúc Vòng Thiêng - Chương 29

KẾT THÚC VÒNG THIÊNG

Sao-Lorenso. Mexico.

Vòng thiêng của thời gian kết thúc trong năm nay…

• “Biên niên sử của người Cactrikel”

Hai mươi năm trôi qua kể từ khi xảy ra các sự kiện đã kể ở những chương trước. Thời điểm khủng khiếp nhất, hoan hỉ nhất trong cuộc sống của người dân vùng Đất Đỏ đang đến gần: kết thúc vòng thiêng của thời gian. Trong những ngày này các vị thần sẽ phán quyết: kéo dài sự tồn tại của thế giới hiện nay hay hủy diệt nó để thành lập một thế giới mới hoàn hảo hơn với loài người và muông thú phù hợp hơn. Vì vậy họ làm tất cả để cầu xin sinh thần và tử thần ban tặng cho họ sự tồn tại trong vòng thiêng mới – thêm 104 năm nữa.

Đã có nhiều thay đổi trong hai mươi năm qua. Quốc vương của đất nước đã băng hà, hài cốt của ngài được đưa đến đảo Usokitoc-Peteng và đám tang rất lớn. Bây giờ còn đó những tượng đài như muốn nhắc lại thời ngự trị của ngài. Thái tử lên ngôi, ngài luôn mơ mộng đến các cuộc viễn chinh không kém gì vua cha, nhưng lúc này ngài chỉ tiếp tục con đường thương mại đến đất nước xa xôi Trapulistagua, trao đổi hàng lấy đá quí nefrit và hạt cacao. Quốc vương lo lắng vì tin tình báo từ bờ đại dương chuyển về: ở đó diễn ra những cuộc di dân kỳ lạ và nguy hiểm, các bộ lạc rời bỏ bờ biển quê hương và dần dần chuyển sâu vào núi. Ngài thấy trước sự đe dọa cho tương lai của đất nước mình. Vây quanh quốc vương mới là những người mới.

Trong số triều thần cũ chỉ còn lại Tene-Tuvuic và TeneTung. Tene-Tung trở thành chánh quân sư của nhà vua.

Chồng của nàng Nam-Suc đã không trở về. Sau chuyến đi thường kỳ đến Aiarsa, trưởng đoàn buôn là ông Saapit với nét mặt buồn rầu báo tin Tug-Anseng đã mất ở thành phố xa xôi kia, chàng đã để lại nơi đó nhiều tác phẩm hoành tráng. Ông trao lại cho quả phụ nhiều vật quí vốn có thể tạo nên cả một gia sản – phần thưởng của quốc vương Aiarsa cho người thợ điêu khắc. Ngài đánh giá cao tài năng của người thợ tạc tượng và hãnh diện vì những tượng đài tráng lệ đã trang trí cho kinh đô của ngài. Nam-Suc không muốn cho con trai nối nghề của ông và cha nó nữa. Với sự kiên trì không thuộc bản chất của mình, bà đã đạt được mục đích là cho Cangah rời khỏi giới điêu khắc và học nghề đồ gốm. Ông Ah-Shacan tốn công một cách vô ích khi thuyết phục góa phụ Tug-Anseng về quyết định thiếu sáng suốt ấy:

– Nam-Suc này, chồng của con từ người nông dân bình thường đã vươn đến danh hiệu là nhà điêu khắc cao quí.

Ah-Shooch, cha của con là nhà điêu khắc nổi tiếng về đá nefrit. Con hiểu chứ, con và cháu của những nghệ nhân nổi tiếng sẽ có những khả năng di truyền như thế nào? Ta tin rằng Cangah sẽ nổi tiếng không chỉ trong vương quốc của chúng ta mà còn ở những nước khác. Vậy mà con muốn biến nó thành một người thợ đồ gốm bình thường, tách nó khỏi giới điêu khắc cao quí, đưa nó trở về giới bình dân. Ta không thể nào hiểu được!

– Danh hiệu cao quí ấy không mang lại hạnh phúc cho cha và chồng của con. – Nam-Suc trả lời thầy trưởng quản điêu khắc. – Con muốn cho con trai của con được hạnh phúc. Mặc cho nó suốt đời không được trò chuyện với thầy thượng tế hoặc quốc vương, mặc cho nó không nổi tiếng, nhưng con cảm thấy rằng như vậy nó sẽ hạnh phúc hơn. Con của con sẽ là một người thợ gốm bình thường như ông gọi. Như vậy tốt hơn.

Tuy nhiên đoạn cuối của vòng thiêng vẫn đến gần một cách nghiệt ngã. Như mọi khi, lúc đầu ngày lễ còn rất xa, sau đó thời gian trôi rất nhanh, chỉ còn hai tháng nữa là đến khởi đầu của vòng mới, rồi một tháng và cuối cùng chỉ còn vài ngày. Lúc đó từng người dân của vùng Đất Đỏ mới cảm thấy điều này như thế nào.

Những tuần cuối cùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong năm ngày rùng rợn trước lúc kết thúc vòng thiêng, khi mà các vị thần phán định số phận của thế giới, phải tiến hành lễ đổi mới. Lễ đòi hỏi một khối lượng công việc khổng lồ trong một thời hạn ngắn, đặc biệt là các công việc trên khu đất thiêng và trong các đền thờ. Những người nông dân, nô lệ và cả thợ thủ công bị lùa đến từ tất cả các làng – lao động không nghỉ tay.

Tất cả những vật thờ cúng ít giá trị: các bình, lư hương, các tráp, rương, chiếu đều bị tiêu hủy. Hàng ngàn tượng đất, đồ tế trong các đền và trong nhà của những người bình dân đều bị đập vỡ. Những đồ vật quí bằng đá nefrit, jadeit và các loại đá quí khác: rìu, tượng, trượng, những đồ trang trái và những cục đá thô đều bị các thầy Tư tế chôn xuống đất gần các đền thờ và trên đảo thiêng Usokitoc-Peteng với nghi lễ đặc biệt. Nếu các thần quyết định kéo dài sự tồn tại của thế giới hiện nay thì thế giới này phải được xem như mới!

Hàng trăm thợ xây dựng tân trang lại các tòa nhà, cung điện và các đền thờ, đổ thêm đất mới trên nền cũ, tô mới lại tường, trang trí mới lại bên trong và bên ngoài các tòa nhà. Nhà của những nông dân thì đơn giản hơn: phá sạch và làm lại nhà mới.

Trên khu đất thiêng hầu như tất cả tượng đài đã được làm trong thời gian của vòng thiêng cũ đều bị phá hủy. Các phù điêu, như trụ đá, được giải quyết đơn giản: đặt một tấm đá trên nền đất cứng, dùng giá chống và dây thừng kéo tấm đá khác lên cao rồi thả tấm đá treo trên cao xuống, hai tảng đá đập vào nhau, vỡ ra nhiều mảnh. Bàn thờ và tượng các tiên vương được phá bằng cách khác: chỉ đập vỡ những phần quan trọng nhất là đầu và tay, dùng đục phá khuôn mặt của các vị thần. Những tác phẩm nghệ thuật “chết” được long trọng “chôn” sâu vào lòng đất.

Đương kim quốc vương của Nivannaa-Tracbolai nổi tiếng là người sùng tín và cũng là người con có hiếu, ngài luôn kính trọng người cha đã quá cố. Vì vậy khi biết nghi lễ sắp đến, ngài không vội vã làm tượng cha. Ý nghĩ về những người tạc tượng hôm nay và vài năm sau chính họ lại đập vỡ tượng tiên vương thành nhiều mảnh làm ngài lo lắng. Mặc những lời khuyên, kiên trì nhắc nhở của các thầy tư tế, nhà vua trì hoãn việc làm tượng vua cha, hy vọng là sẽ làm trong vòng thiêng mới nếu các vị thần cho phép ngài tiếp tục sống. Đức vua còn trẻ và ngài hy vọng vào tương lai tốt đẹp.

Nghi lễ “giết” các chiếc đầu khổng lồ của Lem-Hoolom là khó hơn cả. Hủy diệt chúng như các tượng đài khác là không thể được. Ah-Shacan chỉ đạo công việc, ông đã tìm ra lối thoát, nghĩ ra cách làm và được thầy thượng tế ủng hộ. Có thể trong lòng lão nghệ nhân còn đọng lại niềm thương tiếc, bởi vì một trong các chiếc đầu là tác phẩm của ông, còn một chiếc khác – bức tượng tuyệt nhất do người học trò giỏi nhất của ông là Tug-Anseng đã làm.

Dùng đục đánh mạnh vài cái vào tượng (nhưng chỉ những bức tượng cổ mới bị hư hỏng nhiều, còn bức tượng chiếc đầu của Shang hoàn toàn không đụng đến). Thầy trưởng quản điêu khắc cho lót dưới nền các bức tượng những lớp gỗ dài, cứng, họ đập vách tường phía sau những bức tượng nằm ở rìa đồi, trong hẻm núi ở phía dưới đã đào sẵn những chiếc hố, theo tính toán của nhóm thợ thì những bức tượng sẽ lăn vào đó.

Nhóm người đào hố chuẩn bị cho chiếc đầu của Shang gặp phải một bộ xương người đã vàng ố vì thời gian và nước mưa.

– Lạ quá, con người tội nghiệp này chết ngay cạnh kinh thành mà không được chôn cất theo lễ nghi xứng đáng. Người nông dân đứng tuổi thương xót nói, mắt nhìn bộ hài cốt.

– Có thể ông ta bị thú dữ tấn công? – Một người đoán.

– Không phải, nếu vậy thì xương phải rải khắp nơi và bị gặm. Có thể ông ấy bất ngờ bị bệnh và không đến được kinh thành. Nào, chúng ta thu hài cốt lại và chôn cất tử tế.

– Đào xong chiếc hố này, chúng ta đặt hài cốt xuống đáy. – Một người nói.

– Ông ta sẽ được chôn cùng bức tượng Lem-Hoolom, như vậy sẽ vinh dự hơn. – Người nông dân đầu tiên ủng hộ.

Và họ đã làm như vậy.

Theo lệnh của Ah-Shacan, hàng chục cánh tay lực lưỡng nắm lấy đầu những chiếc đòn bẩy đã đặt dưới bức tượng đầu tiên và bắt đầu bẩy. Chiếc đầu của hiện thân thần Ngô trẻ, bị quên lãng từ lâu, lúc lắc, nghiêng đi và lăn xuống dưới theo sườn dốc, đè nát những dây leo, bụi cây và cỏ. Nó lăn không đúng chỗ, còn cách xa cái hố đã đào cho nó. Mọi người phải gắng sức lăn, đẩy khối đá khổng lồ xuống hố.

Chiếc đầu thứ hai, thứ ba thì dễ hơn, chúng lăn đúng vào huyệt mộ đã chuẩn bị.

Công việc này chiếm mất nhiều thời gian. Đến lượt bức tượng của Tug-Anseng thì đã qua ngày thứ ba. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, cũng có thể là do họ đã có kinh nghiệm hoặc vì những lý do khác, chiếc đầu của Shang – bức tượng lớn nhất – nhẹ nhàng và chính xác lăn xuống dưới, rơi đúng vào hố. Giữa tiếng lăn đổ ầm ầm của tảng đá bazan nặng nhiều tấn, không ai nghe được tiếng gãy răng rắc của các mảnh xương và hộp sọ, hài cốt của thượng tế Anaib-Ungir ngày trước.

Do sự ngẫu nhiên kỳ lạ, bức tượng Lem-Hoolom cuối cùng nằm ngửa mặt lên trời. Những bức tượng khác cái thì nằm nghiêng, cái thì úp mặt xuống đất, tuy nhiên không ai để ý việc này. Những chiếc gậy đào vung lên lấp đất để chôn chặt các bức tượng già nua.

Chỉ những vệt đất đỏ mới giữa rừng xanh cho biết vị trí của buổi lễ chôn cất.

Hài lòng vì làm xong công việc nặng nhọc, những người nông dân ra về. Ah-Shacan leo ngược lên sườn đồi, chốc chốc dừng lại thở mệt nhọc. Ông chú ý nhìn kỹ nơi mà trong buổi lễ xuống hạt thiêng đã chôn chiếc đầu của Shang và chiếc rìu đá của Tug-Anseng. Biết chắc là trong thời gian làm việc chỗ bí mật không bị ai đụng đến, thầy trưởng quản điêu khắc đến nhà thầy thượng tế để thông báo đã hoàn tất công việc được giao, sau đó về nhà nghỉ và ăn bữa cơm chay.

Sáng sớm hôm sau, một đội chiến binh dũng cảm nhất lên đường đi xa. Đội trưởng là một người trong vô số những anh em cùng cha khác mẹ của quốc vương. Việc chọn một đại thần quyền quí như vậy làm thống lĩnh đội viễn chinh chứng tỏ mức độ quan trọng đặc biệt của nhiệm vụ – tìm một vật tế phù hợp cho buổi lễ đốt lửa mới. Theo phong tục, tù nhân phải là người ngoại quốc chứ không là dân bản xứ.

Cuộc hành quân đã thành công. Một tuần sau các chiến binh trở về Nivannaa-Tracbolai mang theo một chàng trai cao lớn, cân đối và khá đẹp, đấy là một thợ săn thuộc bộ tộc Shavel đã bị họ bắt trong núi. Mặc dù đã đoán biết số phận của mình, nhưng chàng trai cương nghị và kiêu hãnh. Các thầy tư tế chỉ buồn một điều: chàng trai không thuộc dòng dõi quí tộc.

Năm ngày cuối của vòng thời gian. Tất cả những công việc bình thường đều ngưng lại, chỉ các thầy tư tế là chuẩn bị hành động. Mọi ngọn lửa trong vương quốc đều được dập tắt, kể cả bếp lửa chính trong đền thờ thần giữ ngọn lửa thiêng, ngọn lửa này được giữ cháy liên tục trong 104 năm. Mọi người ăn thức ăn nguội, chủ yếu là gặm những hạt ngô khô. Những người sùng kính nhất phải dùng chay, không ăn gì hết ngoài uống nước suối. Trong kinh thành và các làng mạc bao trùm một sự im lặng rùng rợn, mọi người hạn chế nói và nếu có nói thì chỉ nói thầm.

Trong buổi hoàng hôn của ngày cuối một đoàn các viên tư tế trang trọng, chậm rãi đi vòng quanh kinh thành và dừng lại trên cánh đồng thiêng. Giờ đây ở đó trống trải một cách lạ thường, không có các trụ đá, bàn thờ, tượng và những chiếc đầu khổng lồ, nó như một bình nguyên trống trải bình thường. Chỉ có một chỗ, cách rìa cao nguyên không xa, nổi lên một công trình kỳ lạ làm bằng gỗ tươi giống như chiếc bệ thấp chỉ cao đến đầu gối, hai bên được trang trí bằng những cành cây và hoa tươi mới hái.

Các thầy tư tế mặc những bộ quần áo cầu kỳ để giống các vị thần của mình. Khuôn mặt khô khốc của Tumeh-Sahing hơi lộ ra từ chiếc mũ quái gở dạng đầu báo. Ông đóng khố, mang giày và đeo găng tay da báo dài đến cùi chỏ, bởi vì Thần Tâm đất thường biến thành vị chúa tể rừng xanh. Niang-Hinah thì hoàn toàn trần truồng với chùm lông kesal dài trên đầu – biểu hiện của thần Ngô trẻ, chỉ có cơ thể phì nộn của ông làm cho ông chưa hoàn toàn giống thần Ngô trẻ. Chiếc mỏ gỗ dài gắn vào miệng Mishpitiacuc thể hiện rằng thần Gió hùng mạnh với chiếc áo khoác trắng dài phủ lên vai ông. Các thầy tư tế và nữ tư tế còn lại cũng đại diện cho các vị thần của mình. Chỉ một mình thầy thượng tế Beleng-Hish là đóng chiếc khố trắng giản dị. Thân thể của ngài bóng lưỡng lên vì được bôi mỡ lợn rừng.

Khi đoàn tư tế đi qua các đường phố của kinh đô (lễ này cũng diễn ra đồng thời ở khắp các thành phố và làng mạc của vương quốc), dân chúng lập tức tìm cách giữ mình. Phụ nữ sắp sinh được giữ trong kho ngô đóng chặt cửa, nếu không họ sẽ bị biến thành những con thú rừng. Trong đêm đó trẻ con không được ngủ, giấc ngủ có thể sẽ là định mệnh: chúng có thể sẽ biến thành những con chuột cống khủng khiếp.

Lúc này các thầy tư tế tập trung ở rìa cao nguyên. Chỗ này có tên là Núi Sao để kỷ niệm đỉnh núi mà ở đó tổ tiên của họ đã tụ tập lại trong một trường hợp tương tự trên tổ quốc xa xưa của mình. Mặt trời đã lặn. Bóng đêm trùm lên. Mọi người im lặng dán mắt vào một điểm nhất định trên bầu trời gần đỉnh đầu. Nếu ngôi sao Keos bình yên đến được vị trí này thì thế giới hiện tại tránh được đại họa.

Phía sau các thầy tư tế, cạnh bệ gỗ, những người hầu trẻ đang loay hoay chuẩn bị chất đốt cho ngọn lửa mới, những cành cây dài tẩm nhựa để làm đuốc. Người tù nằm dài trên bãi, ngực quay lên trời, chân tay bị buộc căng vào bốn chiếc vòng đóng chặt vào bốn góc của bệ gỗ. Chàng nhìn lên trời, nhìn lên những ngôi sao đang mọc và im lặng. Chỉ mình chàng mong đợi thảm họa tận thế như là cách thoát khỏi đau khổ sắp đến. Tất cả hãy cùng chết chung!

Một thầy tư tế trẻ cầm mũi khoan gỗ để đánh lửa, người thứ hai cầm con dao bằng đá obxidian dành cho vật tế.

Những giây phút nặng nề chậm chạp trôi. Cuối cùng các thầy tư tế đồng loạt thở phào vui sướng. Ngôi sao Keos đã đến đúng điểm của vòm trời. Các vị thần nhân từ vô hạn đã quyết định kéo dài sự tồn tại của thế giới thêm một vòng thiêng nữa! Thiêng liêng và vinh quang thay các đấng tối cao, chúa tể vũ trụ! Nghĩa là các ngài hài lòng vì những người nuôi dưỡng và thờ cúng các ngài: loài người hiện tại.

Vinh quang và thiêng liêng thay các đấng tối cao!

Beleng-Hish vội vàng tiến đến bệ. Giờ đây cần đốt lên ngọn lửa mới để thần thánh biết được sự nhớ ơn của những người đã được các ngài cứu giúp. Các thầy tư tế còn lại vây quanh nơi hành động, mỗi người đứng vào một vị trí phù hợp với vị thần của mình để tiếp nhận nghi lễ cần thiết.

Bằng động tác quen thuộc, thầy thượng tế mở lồng ngực của tù nhân và bứt trái tim đang đập ra. Lập tức trái tim được bỏ vào chiếc bình đặc biệt và một người chiến binh lập tức mang bình chạy nhanh đến đền thờ Thần Tâm đất. Không để mất thời gian, Beleng-Hish đặt lên thi thể của vật tế bộ đồ đánh lửa, rồi thầy thượng tế lấy tay xe nhanh khúc gậy đứng. Một làn khói mỏng bay lên, bốc mùi gỗ cháy, cuối cùng một tia lửa nhỏ lóe lên, tia thứ hai… thứ ba. Đống bùi nhùi quanh mũi khoan và những mảnh vỏ bào mỏng bén lửa. Ngọn lửa yếu ớt, run rẩy soi sáng khuôn mặt mừng rỡ của thầy thượng tế. Ngọn lửa của vòng thiêng mới đã được thắp lên!

Bài thánh ca vui vẻ cất vang. Tất cả những người có mặt đều cảm thấy hạnh phúc. Chỉ riêng Mishpitiacuc là buồn, buồn vì ngài thượng tế Anaib-Ungir ngày trước đã từng mơ ước được hoàn thành công việc vĩ đại này biết bao. Ngài hoàn toàn có thể sống đến ngày lễ này. Một sự biến mất huyền bí, cũng có thể là vô lý. Nhưng tất cả đều là ý trời. Có thể chính ngài, thầy thượng tế trước đây, đã được các đấng toàn năng đưa lên trời và giờ đây đang tận hưởng buổi lễ vĩ đại ở trên đó, vui sướng vì bộ tộc của mình.

Trong vài phút nữa đây cột lửa khổng lồ đã được chuẩn bị sẽ bốc cao lên trời đêm. Đấy là tín hiệu chứng tỏ rằng Vũ trụ đã bình yên vượt qua mối nguy hiểm đe dọa nó. Hàng ngàn người từ khắp các hang cùng ngõ hẹp của thành phố và làng quê đều đứng im, mặt quay về phía cao nguyên, thở phào nhẹ nhõm sau khi thấy ánh lửa hồng bốc lên. Tin lành đã đến! Các thầy tư tế lần lượt bước đến đống lửa, đốt ngọn đuốc của mình và mang ngọn lửa thiêng về đền thờ để đốt hương thơm.

Sau họ là những đại diện các thành phố và làng mạc khác được phép đến khu đất thiêng. Những người này vội vàng đốt đuốc và chạy nhanh xuống dưới, về nơi của mình để đốt lên ngọn lửa mới. Sườn đồi được phủ kín các đốm sáng, báo tin khởi đầu một cuộc đổi mới, kết thúc những lo âu, những cực hình và những cơn đau đớn.

Vương quốc Đất Đỏ đã trải qua giây phút hồi hộp khôn tả – khởi đầu cho cuộc sống bình yên mới.

Vòng thiêng mới lại bắt đầu.

Lời Kết

Sao-Lorenso. Mexico.

Tình yêu không có tuổi, không ranh giới và bất tử!

• D. Golsuorsi. “Mùa hè cuối cùng của Forsait.”

Nhiều năm trôi qua từ khi vòng thiêng mới bắt đầu.

Trong làng Tahcum-Tracang không ai dám gọi đến tên của người phụ nữ quái gở này, bà ta đi hết nhà này qua nhà khác tìm kiếm thứ gì đó không rõ. Người ta gọi bà là lão bà, còn những kẻ bất kính trong đám thanh niên cũng chỉ dám thì thầm “bà điên”. Dân làng cho rằng bà bị thần ác ám và họ sợ hãi một cách sùng tín khi bà xuất hiện, họ mời bà ngồi cạnh bếp lò, mời ăn, uống. Đôi khi bà nhận thức ăn, đôi khi không nhận và bà chỉ gạt những cánh tay nhiệt tình ra. Bà rất ít nói, không để ý đến ai, không nhìn thẳng vào mặt người đối thoại mà nhìn vào khoảng không, lời của bà thường đứt đoạn và khó hiểu.

Bà lão mất trí vì đau khổ và thời gian, đó là bà Tiang thuộc tộc họ Socan. Bà không có nhà, không có người thân. Các con của ông chú do bà chăm sóc đã đi theo tiên tổ từ lâu, con của họ cũng đã mất. Cháu của họ thì xem bà như người xa lạ. Thực ra chúng không hiểu bà lão này là họ hàng thế nào với chúng. Đám con cháu của Tug-Anseng và Nam-Suc, vô số con trai và con gái của Cangah, không biết tên thật và số phận của bà.

Mỗi tháng một lần bà lão bị nỗi lo xâm chiếm. Bà như thoát khỏi cơn mê, động tác trở nên rõ hơn và mạnh hơn, đôi mắt mờ đục rực sáng. Bà ra khỏi làng, và theo đường vòng để không gặp ai trên đường, đi đến hẻm núi mọc đầy cây non ăn sâu vào khu đồi của thành phố, nơi ngày xưa người ta đã thực hiện những nghi lễ của vòng thiêng và chôn chiếc đầu đá của Shang. Khối đá khổng lồ quá lớn nên không thể chôn kỹ, chiếc hố quá cạn và lớp đất lấp trên bức tượng không đủ dày nên nước mưa từ sườn đồi dần dần cuốn trôi lớp đất đắp, để lộ ra khuôn mặt của bức tượng với đôi mắt bất động nhìn lên bầu trời.

Tiang cẩn thận dọn sạch cành khô, lá cây và dây leo tươi phủ trên khuôn mặt thân yêu và ngồi xuống cạnh đó.

Trong những ngày này bà trò chuyện hàng giờ với bức tượng y như với người sống.

“Hôm nay em ăn ngon lắm Shang à, – bà nói, – một cô gái mời em bánh ngô…, cô gái này giống em khi còn trẻ…, chàng nhớ không, chàng khen bánh ngô của em lắm mà, lúc đó chàng đã cười như bây giờ vậy… Xem này, đây là mảnh vỏ từ thân cây mà chúng ta đã ngồi lúc đó… Em giữ nó mãi mãi, em nhớ hết…, chúng ta yêu nhau biết chừng nào! Chỉ tiếc rằng chúng ta không có con; vì nếu có nó, anh đã có thể hãnh diện vì con trai của mình, em xin thề đó! Tất cả cũng chỉ vì lão Anaib-Ungir đáng nguyền rủa. Nhưng lão đã bị kiến ăn từ lâu rồi, ngay cả đống xương dơ bẩn của lão cũng đã mục trong rừng. Chỉ còn em ngồi đây tâm sự cùng anh, mặt trời vẫn chiếu sáng chúng ta…, chàng vẫn còn yêu em như ngày xưa chứ?”.

Và cũng trong một buổi gặp như thế, trái tim chung thủy, cháy bỏng yêu thương của Tiang đã ngừng đập – để mãi mãi hòa nhịp cùng tượng đá ngàn năm.

• Leningrad – Gumolosar, 1974 – 1977

THEO DẤU NHỮNG ĐỨA CON CỦA BÁO, HAY TẠI SAO XUẤT HIỆN CUỐN SÁCH NÀY

• (Lời kết của tác giả)

Giờ đây khi bạn đọc đã làm quen với những sự kiện trong cuốn tiểu thuyết, cần phải nói rằng, những hư cấu trong câu chuyện đã dựa trên các sự kiện có thực, những sự kiện khai mở cho ta thấy nền văn hóa cổ của người Olmec.

Lịch sử nghiên cứu nền văn hóa này thật thú vị và nhiều kịch tính.

Vào cuối năm 1946, nhà khảo cổ Mỹ Metu Stirling tiến hành khảo cổ ở bang Veracrus, Nam Mexico, gần khu làng của người da đỏ mà một giáo viên địa phương kiêu hãnh gọi là Tenochtitlan để kỷ niệm thủ đô cổ của người Aztec. Ban đầu, cuộc nghiên cứu được thực hiện cách làng năm cây số, tại nơi được gọi là Sao-Lorenso. Nhóm của Stirling không nhiều: bà Marion – vợ của ông, người bạn đồng hành thường xuyên trong mọi cuộc du hành, viên trợ lý Phillip Draker, người thợ chụp ảnh và sáu công nhân da đỏ.

Sau đó mọi người mới phát hiện ra rằng, những di tích cổ được gặp không chỉ có ở Sao-Lorenso và Tenochtitlan mà ở cả ngôi làng thứ ba – Potrero-Nuevo. Suốt ngày các nhà khảo cổ chạy hết chỗ này đến chỗ kia, tìm kiếm, dọn sạch cây rậm, mô tả di tích các công trình, tượng, bàn thờ và các tượng đá khác, chui vào các động sâu và tìm đồ gốm cổ. Phải làm nhanh vì thời hạn khảo sát sắp hết, đồng thời phải hoàn tất công việc trước mùa mưa này.

Hôm đó Maximo, người hướng đạo da đỏ, đưa họ đi xem Ele-Ray-“Vua”, là tên của một bức tượng khổng lồ. Theo lời Maximo, tượng được phát hiện một cách hoàn toàn tình cờ, nó nằm gần phế tích Sao-Lorenso.

Đường đi rất khó, và trời thì nóng nực.

Người hướng đạo đưa các nhà nghiên cứu đến một khe núi không cao nhưng dốc đứng, được tạo nên bởi dòng suối chảy xuống từ đỉnh Sao-Lorenso (chính thành phố nhỏ đã nằm trên ngọn đồi lớn kỳ quặc này). Mọi người bắt đầu thấy dễ chịu, hầu như không cảm thấy cái nóng cháy bỏng của mặt trời vì cây rậm dọc bờ khe đã tạo nên bóng mát.

Đi thêm vài bước nữa và tất cả bất giác dừng lại. Ngay cả Stirling, người đã quen với những phát hiện bất ngờ nhất, cũng run lên. Ông chưa lần được thấy kiệt tác nghệ thuật cổ của người da đỏ như thế này.

Ở đáy khe là một pho tượng khổng lồ bằng đá bazan xámlục cao gần ba mét và rộng hơn hai mét. Đó là chiếc đầu của một thanh niên. Cặp môi dày hé mở như muốn nói điều gì với người phát hiện ra mình. Đôi mắt to buồn bã nhìn về phía trước. Chiếc mũi ngắn như thấm mùi của rừng rậm thân yêu bị mặt trời đốt nóng sau nhiều năm chôn lấp.

Chiếc mũ gắn chặt vào đầu giống như mũ giáp của chiến binh với đường sống lồi ở giữa. Đường sống kết thúc ở trán bằng chiếc dĩa gắn bốn vỏ sò. Dưới quai mũ lộ ra các vòng khuyên vuông to nặng.

- Đây là Ele-Ray, Maximo trang trọng nói sau phút im lặng.

Stirling quay về với hiện tại, trước mặt ông là pho tượng của một vị vua nào đó! Trước đây, ông đã từng gặp nhiều tượng lớn như thế, nhưng không một pho tượng nào lại có ấn tượng chân thật, hùng tráng và đầy bi thảm như vậy.

Ai đã tạo ra kỳ quan này? Và nói chung những pho tượng như thế này giấu kín trong mình không phải chỉ một câu chuyện. Chúng thuộc các thời nào? Tại sao lúc nào chúng cũng mô tả những thanh niên? Cuối cùng, tại sao những nhà tạc tượng cổ luôn tạc chiếc đầu, không có thân? Mặc dù đã xem xét rất kỹ nhưng chưa bao giờ người ta tìm ra một mảnh thân, tay, chân… ở gần những bức tượng này.

Sau khi đo đạc kỹ lưỡng và chụp vài kiểu ảnh bức tượng, các nhà khảo cổ quay về làng. Thường vui vẻ và nói nhiều, nhưng hôm nay người trưởng đoàn im lặng. Ông cố nhớ lại tất cả những sự kiện đã xảy ra.

Stirling đến Sao-Lorenso không phải ngẫu nhiên. Chuỗi xích những hoàn cảnh kỳ lạ và khác nhau đã đưa ông đến đây, chúng bắt đầu đã khá lâu.

Năm 1862 trong khi nghiên cứu ở Nam Mexico, nhà địa lý người Mexico Hose Melgar-I-Cerrano bất ngờ phát hiện ra một chiếc đầu đá tương tự gần làng Tres-Sapotes. Ông công bố hình ảnh chiếc đầu trong hai tác phẩm của mình, gán công trình này cho những người châu Phi cổ đại. Melgar-I-Cerrano cho rằng, pho tượng do ông tìm thấy là của người Ethiopia và điều này chứng minh rằng, vào thời cổ xưa những người châu Phi đã đến và sống ở vùng này của Mexico. Bộ tộc cổ bí ẩn tạo nên pho tượng huyền bí trên đã được xác định lần đầu tiên như vậy.

Chiếc đầu ở Tres-Sapotes đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học từ đó cho đến bây giờ. Năm 1883 Alfredo Tavero, người Mexico, công bố bức ảnh chiếc rìu đá kỳ lạ và cho thấy rằng, về bố cục, mô tả trên chiếc rìu này rất giống với chiếc đầu bí ẩn. Di tích thứ nhì xuất hiện, nó có liên quan đến nền văn hóa cổ huyền bí. Năm 1905 Eduard Zeler, một nhà bác học lớn người Đức nghiên cứu về châu Mỹ, đã làm một cuộc hành trình dọc Mexico, ông đến thăm Tres-Sapotes và nghiên cứu chiếc đầu này. Nhưng ông cũng không giải thích được điều gì ngoài việc chứng minh rằng không có cuộc di dân của người Ethiopia đến vùng này: người da đỏ thường mang khuôn mặt như vậy.

Mãi đến bốn mươi năm sau công bố của Melgar, một phát hiện mới lại thu hút sự chú ý của các nhà khảo cổ đến vùng này của Mexico. Phát hiện lần này là một pho tượng nhỏ; tượng được làm bằng đá nefrit – một vật liệu quí của người da đỏ.

Loại đá này có nhiều màu sắc kỳ lạ. Trong số các màu sắc đa dạng, thường gặp là màu trắng sữa, xanh xám và xanh lục, từ màu cỏ non đến gần như đen. Tất cả chúng đều có đặc tính là mềm và độ sâu của sắc bóng ướt đặc biệt. Khi gõ, những tấm nefrit mỏng phát ra âm điệu trong và ngân vang. Những tính chất vật lý của đá cũng không kém phần quan trọng và hấp dẫn, nó rất trơn. Viện sĩ A. E. Fersman đã nhiều lần chứng kiến một nhà khoáng chất trẻ thiếu kinh nghiệm đập đá nefrit bằng búa kim loại để lấy mẫu. Đồng thời khoáng chất này dễ xử lý, cắt gọt và mài. Những tính chất này đã hấp dẫn con người ở thời xa xưa. Đối với người Mexico cổ, đá nefrit có giá trị nhất, còn hơn cả vàng. Bernal Dias, một người bạn chiến đấu của Cortes, đã kể lại trong hồi ký của mình một câu chuyện. Khi rút lui khỏi Tenochtitlan, nhiều người Tây Ban Nha mang nặng vàng, lúc vượt qua một con kênh họ đều chết hết vì túi nặng. “Còn tôi, – Bernal viết, – không bao giờ phải khổ sở vì lòng tham. Tôi chỉ lấy 4 cục traletriutle (đá nefrit theo tiếng Aztec), rất cần cho tôi khi phải chữa vết thương và mua thức ăn.”

Khi khai quật cánh đồng gần thành phố Sao-Andres-Tustla bang Veracrus, một nông dân nhặt được một pho tượng nhỏ bằng đá nefrit. Một pho tượng thật kỳ lạ mô tả một người đàn ông ngồi, đầu sói hơi ngửa ra sau, đôi mắt mở to, chân xếp lại. Trên vai tượng phủ chiếc áo khoác ngắn kiểu áo choàng. Phần dưới của mặt đeo một chiếc mặt nạ độc đáo có hình mỏ vịt. Cả hai chi tiết này chưa từng được thấy trong các di tích cổ của người da đỏ. Nhưng đáng quan tâm nhất là những ký tự tượng hình viết đầy tượng. Về hình dáng, chúng giống chữ viết cổ của người Maya.

Từ những dòng chữ, ở phía trước bức tượng, chỉ cho người ta một vấn đề: hệ thống mà những cư dân cổ của Mexico dùng để tính toán ngày tháng của mình. Như vậy, phần trước bức tượng tìm thấy ở Tustla đã ghi ngày tháng không thể hiểu được của người Maya cổ: 14 tháng 3 năm 162! Nhưng những di tích cổ nhất của người Maya, được biết vào thời đó, đánh dấu thời gian sau đó từ 3 đến 4 thế kỷ!

Những dòng chữ còn lại mang tính chất thông báo (cho thấy sự phát triển đáng kể của chữ viết) hoàn toàn không hiểu được và các nhà bác học không nói được điều gì. Hơn nữa cho đến nay người ta vẫn chưa giải mã được những dòng chữ này.

Hơn hai mươi năm nữa trôi qua.

Năm 1925 trường đại học tổng hợp Tul Tulein (Hoa Kỳ) cử đoàn khảo sát – dân tộc học đến những vùng ít được nghiên cứu của Mexico, Goatemala, Nicaragua. Đoàn có hai nhà bác học: France Blom người Đan Mạch và Oliver Lafarge người Mỹ, và cả hai người này rất xứng đáng! Họ cố gắng, nhiệt tình và kiên nhẫn đến kinh ngạc. Họ vượt rừng rậm, đầm lầy, leo lên hầu hết các đỉnh núi cao ngất và tìm được nhiều di tích đáng chú ý nhất của quá khứ (những điều này sau đó đã được họ kể lại trong cuốn sách “Các bộ lạc và đền thờ”). Nhưng do số phận trớ trêu, Blom và Lafarge không có khả năng hiểu và đánh giá đúng phát hiện tuyệt vời của mình.

Đi thuyền theo phụ nhánh của dòng Tonal, các nhà nghiên cứu đến hòn đảo nhỏ La-Venta. Bao quanh đảo là đầm lầy và rừng ngập mặn. Chỉ mới xem sơ đã thấy rằng trên đảo LaVenta có rất nhiều vết tích của các công trình cổ (trong đó có một đỉnh núi lớn) và những tượng đá lớn. Những di tích này bị phủ dày một lớp thực vật vùng nhiệt đới. Nhờ những người dân da đỏ địa phương dọn bớt cây cối giúp đỡ Blom và Lafarge, lập được bản đồ gần đúng của thành phố nhỏ và chụp ảnh vài bức tượng. Kỳ lạ nhất trong đó là một chiếc đầu đá khổng lồ giống như bức tượng ở làng Tres-Sapotes.

Vinh dự xác định nền văn hóa bí ẩn đã thuộc về nhà bác học người Mỹ và họa sĩ người Mexico.

Năm 1929 Marshall Cevill, giám đốc Viện Bảo tàng dân da đỏ Mỹ, đã công bố một tác phẩm nghiên cứu, trong đó có phần mô tả những đồ vật cổ (rìu, tượng, mặt nạ điêu khắc) được chế tác từ những loại khoáng chất khác nhau (nefrit, jadeit, avanturin, granit, chlopomelanit), tác giả liên kết một phong cách hoàn toàn mới của các pho tượng người: nhiệt tình, mạnh và rất gợi cảm. Nét chung thứ hai của chúng là những đường nét đặc trưng của khuôn mặt: chiếc mũi tẹt lớn, cặp mắt xếch dài, miệng hé mở để lộ những chiếc răng nanh lớn giống như mõm con báo gầm gừ nhe răng, rõ ràng là chúng phải thuộc về một nền văn hóa nào đó. Nhưng nền văn hóa đó ở đâu và của bộ tộc nào?

Cevill nhớ lại tác phẩm của Blom và Lafarge vừa xuất bản gần đây và tác phẩm cũ của Travero người Mexico. Nếu những đồ vật mà họ nghiên cứu có kích thước không lớn thì chúng có thể bị cuốn xa khỏi vị trí ban đầu, nơi chế tác ra chúng. Còn những tượng đài lớn như chiếc đầu ở Tres-Sapotes và La-Venta thì không thể trôi đi xa được. Sự trùng hợp về nghệ thuật giữa hai nhóm đồ vật này không còn nghi ngờ gì nữa. Cevill suy luận, nghĩa là ngọn nguồn của nền văn hóa này phải tìm đâu đó ở Nam Mexico, tại vùng duyên hải của các bang Veracrus và Tabasco. Nhưng ở đó đã phát hiện ra bức tượng Tustla! Tức là trung tâm của nền văn hóa này nằm đâu đó gần thành phố Sao-Andres-Tustla.

Nhưng ai đã tạo ra nó? Các nhà nghiên cứu lý giải câu hỏi này không kém phần logic. Theo tài liệu của người Aztec và của những nhà biên niên sử Tây Ban Nha đầu tiên, có một thời người Olmec đã sống ở các vùng duyên hải vịnh Mexico. Họ tự gọi mình như thế nào, vẫn còn là bí ẩn, bởi vì từ “Olmec” theo nguồn gốc Aztec có nghĩa là “Cư dân của Olman”, hoặc “cư dân của đất nước cao su”. Chính người Aztec đã phát hiện ra cao su để làm những quả bóng dùng trong môn chơi của một nghi lễ rất quan trọng. Từ khi xuất bản cuốn sách nhỏ, nhưng rất quan trọng này của Cevill, thuật ngữ “Người Olmec” được áp dụng cho nhiều di tích đã được phát hiện trong các vùng này của Mexico. Như vậy, tên gọi thứ hai (sau tên “Người Ethiopia” của Melgar-I-Cerrano) của dân tộc bí ẩn có vẻ có căn cứ chắc chắn. Cevill còn giải đáp được một câu hỏi nữa: nguyên nhân xuất hiện hình ảnh con báo trong những bức tượng. Ông giải thích là trong các câu chuyện huyền thoại của người da đỏ cổ, một trong những vị thần hùng mạnh nhất có bộ mặt báo. Do đó hình ảnh con báo không phải là ngẫu nhiên.

Nhà họa sĩ và dân tộc học tài năng người Mexico Covarrubias là một người say mê sưu tập các đồ cổ của dân da đỏ. Đi khắp đất nước thân yêu của mình vào những năm 30 của thế kỷ, ông thu thập được một loạt tượng bằng đá nefrit, cerpentin, jadeit và các đá khác thuộc nền văn hóa Olmec, một bộ tộc đầy bí ẩn. Ông cẩn thận nghiên cứu những đồ vật tương tự trong bộ sưu tập của Diego Rivera – nhà họa sĩ vĩ đại người Mexico (ông ta cũng là nhà sưu tập hăng say) và của những người ưa sưu tầm khác trong nước.

Với sự gia tăng số lượng các di tích được phát hiện, thấy rõ là khu vực tập trung của di tích (xét theo các vị trí khai quật) đã vượt ra khỏi ranh giới của các bang Veracrus và Tabasco là nơi đã phát hiện ra những bức tượng đầu tiên. Khối lượng chính được phát hiện ở các bang của Mexico: Veracrus, Tabasco, Triapas, Gerrero, Oahaca, Morelos và Nam Puebla; nhưng các tiêu bản riêng lẻ được gặp cả ở những lưu vực Mexico, Toluki, Tlashcala và cả ở Jucatana, Goatemala và Salvador. Từ đó Covarrubias có kết luận rằng, dù trung tâm chế tác ở đâu đi nữa thì những đồ vật này cũng đã được người Olmec mang theo trong các cuộc bôn ba của mình. Do đó chúng ta có thể nói về những dấu vết ảnh hưởng của chúng ở vùng này. Ngay lúc đó, họa sĩ người Mexico đã phát biểu, và đã trở thành lời tiên tri, đó là nền văn minh Olmec cổ xưa hơn các nền văn hóa cao khác ở Trung Mỹ. Ông dẫn ra những đối chiếu dân tộc học hết sức thú vị là từ trước đến nay người da đỏ Nam Mỹ tin tưởng vào những chú lùn tinh nghịch có khuôn mặt trẻ con – và đấy là những vị chủ nhân của bộ tộc.

Đến lúc này Metu Williams Stirling xuất hiện.

Năm 1918, khi còn là sinh viên trường đại học tổng hợp California, Stirling đã chú ý đến bức ảnh mặt nạ nhỏ bằng đá nefrit mô tả “Hài nhi khóc”. Trong chuyến đi châu Âu vào năm 1920 ông nhìn thấy nguyên bản ở Viện Bảo tàng Berlin và đã xúc động vì vật liệu và nghệ thuật chế tác. Đó là loại đá nefrit tráng lệ màu xanh da trời gần như trong suốt. Từ khoảnh khắc đó, như Stirling viết lại sau này, ý nghĩ về một dân tộc cổ bí ẩn đã tạo nên chiếc mặt nạ này không rời khỏi ông.

Hơn nữa, những chế tác bằng đá nefrit của dân tộc Olmec do phong cách độc đáo và nghệ thuật riêng đã chinh phục không chỉ Stirling. Năm 1890 Marshall Cevill tìm hiểu “Chiếc rìu của Cuns” – di tích bằng đá nefrit được công bố đầu tiên, từ đó ông bỏ ra hàng chục năm trời để tìm những đồ vật có phong cách tương tự như vậy.

Có thể kể những câu chuyện tương tự về các nhà sưu tập khác. Chính tôi cũng bị “mắc bệnh” người Olmec: mùa thu năm 1945 sau khi thấy bức tượng vị thần ngồi đẹp tuyệt vời ở Viện Bảo tàng quốc gia Ermitage.

Năm 1921 Stirling vào làm ở phòng khảo cổ của Viện Smitson Washington và được tiếp cận các cuộc nghiên cứu. Nhưng chỉ từ năm 1932, khi trở thành trưởng phòng này Stirling mới có thể bắt đầu chuẩn bị thực hiện ước mơ xa xưa của mình. Tuy vậy phải vượt qua rất nhiều khó khăn, trước hết là giải quyết vấn đề hóc búa về tài chính cho việc khai quật.

Năm 1938 hầu như rỗng túi, ông cùng vợ lên đường để đi xem chiếc đầu khổng lồ ở Tres-Sapotes. Nhưng chuyến đi này không chỉ là việc thực hiện ước mơ xa xưa. Là một nhà khảo cổ có kinh nghiệm, Stirling lập tức hiểu rằng ở đây không chỉ là một di tích đơn độc, mà là tàn tích của một thành phố cổ. Thành phố đầu tiên của bộ tộc bí ẩn! Hơn nữa những phế tích của nó có kích thước rất lớn. Trong rừng nhiệt đới, người ta thấy rõ những bức tượng đã được chôn một cách sơ sài và dưới các gò đống là vết tích của những tòa nhà. Nhất định phải kiếm cho được phương tiện để khai quật!

Năm 1939 tiền cho đoàn khảo sát đã có. Mùa thu năm đó một nhóm nhỏ các nhà khảo cổ đến thành phố.

Công việc nhiều, nhưng kết quả được bù lại thỏa đáng. Trước hết đã thấy rằng Tres-Sapotes là thành phố có lịch sử rất xa xưa. Vật chứng chính xác và trung thành là các đồ gốm đã cho thấy rõ điều này. Hai mươi công nhân làm việc suốt ngày để khai quật hoàn toàn chiếc đầu đồ sộ. Cuối cùng nó được đưa lên khỏi mặt đất. Ấn tượng thật đáng kinh ngạc! Chiều cao của khối đá là 180cm, chu vi – gần 550cm, còn trọng lượng theo sự đánh giá của Stirling là 10 tấn! Và mỏ đá gần nhất cũng cách xa vài chục cây số. Biết bao nhiêu nỗ lực của con người (người da đỏ cổ không có súc vật kéo) cần phải đổ ra để đưa tảng đá như vậy về đây…

Ở làng Tres-Sapotes có tất cả ba chiếc đầu như vậy. Và tất cả đều là những khuôn mặt thanh niên với chiếc mũi rộng, không lớn, môi dầy và cặp mắt hình hạnh nhân. Rõ ràng đây là chân dung của ai đó. Stirling cho rằng những bức tượng này để lưu danh các vị vua Olmec nổi tiếng và là tượng đài kỷ niệm…

Những di tích về kiến trúc ở Tres-Sapotes thì ngược lại với bức tượng, không gợi lên sự ngạc nhiên hoặc thán phục đặc biệt của các nhà khảo cổ. Hiện giờ những gò đất này không lớn, nhưng vào thời cổ chúng là những công trình khá đơn giản có tường đất nện bao quanh, dựng trên nền-móng đất đắp không cao và mái lợp lá. Ở đây không có gì giống kiến trúc uy nghi của người Maya hoặc Aztec.

Trong hai mùa thực địa (1939-1940) các khai quật ở TresSapotes đã phát hiện không ít những tượng đài khác, tạo nên ấn tượng người Olmec là dân tộc mà nghề tạc tượng của họ là một nghệ thuật tạo hình đa dạng hơn các dân tộc khác. Quả là đáng khâm phục, đồng thời phiến đá mà các nhà khảo cổ ký hiệu chữ A lại gợi lên những bí ẩn mới. Ở giữa bức hình nổi lên một người kỳ lạ hầu như cao gấp đôi cỡ người bình thường với chiếc mũ dạng chóp cao. Hai bên có thêm hai nhân vật nghiêng người quay về phía giữa, người bên trái cầm chiếc dao dài hoặc dao găm, người thứ hai cầm tóc của chiếc đầu người đã chặt đứt. Như vậy, cũng như các dân tộc khác của châu Mỹ, người Olmec cổ có phong tục tế người. Tất cả ba người đều đứng trên một chiếc đầu quái vật đã cách biệt hóa. Phía trên họ hình như tụ lại trong không khí chiếc mặt nạ khổng lồ của vị thần nào đó với những đường nét của báo.

Khi từ bãi khai quật trở về Tres-Sapotes, Stirling làm quen với Covarrubias. Họa sĩ tài năng và nhà sưu tập say mê, cả hai lập tức kết bạn với nhau. Stirling đánh giá cao ý nghĩa của các phát hiện và ủng hộ giả thuyết về tính cổ xưa của nền văn hóa Olmec.

Cuối cùng đến lượt La-Venta được phát hiện. Thực tế đã vượt hẳn sự mong đợi.

Trong khi tiến hành khảo sát, Blom và Lafarge trước đây và Stirling sau này đã tìm thấy trên hòn đảo nhỏ một loạt di tích có nguồn gốc Olmec – Những chiếc đầu khổng lồ, phù điêu đá, những bàn thờ độc đáo. Trong những khai quật vào năm 1942-1943 đoàn khảo sát Mỹ không chỉ tìm được những tượng đài mới mà còn phát hiện những nét bí ẩn hoàn toàn mới của nền văn hóa cổ huyền bí cho đến lúc đó.

Trung tâm của La-Venta là một gò cao khá nhỏ (gần 1,5 ha) nằm giữa đảo. Những nhà xây dựng cổ đã bố trí ở đây tổ hợp chính gồm một tháp lớn, một quảng trường nằm về phía bắc của tháp, được ngăn bởi các tường đất đắp và một hàng cột đá bazan. Tiếp đến là một kiểu công trình kỳ lạ có tên “Cột đá lăng mộ”, cuối cùng là một tháp nhỏ có bậc tam cấp mà thời cổ được dùng làm bệ đỡ một công trình nào đó (bàn thờ) bằng cây. Trục tâm của toàn bộ tổ hợp này được định hướng khá chính xác từ nam lên bắc, quanh đó có rất nhiều tượng.

Khó mà mô tả hay kể hết những gì do Stirling tìm được ở La-Venta. Chúng ta chỉ đưa ra một vài phát hiện tuyệt vời nhất. Nhưng cũng cần nói rằng, trong ba mùa khai quật ở thành phố nhỏ này nhà khảo cổ người Mỹ vẫn chưa tìm được nhiều. Về sau còn vài đoàn khảo cổ nữa đến làm việc ở LaVenta, nhưng cũng chưa phát hiện hết những báu vật cổ ở đó.

Ở Tres-Sapotes có một chiếc đầu khổng lồ, đó là di tích đầu tiên giúp phát hiện ra nền văn hóa Olmec. Ở La-Venta có bốn chiếc đầu. Tất cả đều là khuôn mặt thanh niên đội chiếc mũ độc đáo với những hoa văn khác nhau ở phần trước. Các “bàn thờ” cũng làm mọi người kinh ngạc vì nghệ thuật điêu khắc của chúng. Tên gọi qui ước này được các nhà khảo cổ đặt cho những tượng đá bí ẩn dạng khối lớn. Nổi tiếng nhất trong đó là bàn thờ số 5 (theo ký hiệu của Stirling). Hai bên bàn thờ khắc nổi 4 viên Tư tế, họ nắm những đứa bé có điệu bộ đang la hét. Phía trước bàn thờ chạm nổi cao một người đàn ông xuất hiện từ một hang sâu giống như miệng con báo đang há ra, một đứa bé nằm trên đôi tay vươn ra phía trước của thầy Tư tế. Khác với những đứa bé trên các phù điêu bên hông, đứa bé này hình như đã chết hay là đang ngủ, thân hình bé nhỏ của nó bình thản, bất động với đôi tay ép sát vào sườn và đôi chân dang ra.

Về phía bắc của tháp, như đã nói, là một bãi rộng, được ngăn bốn phía bằng hàng rào làm bằng đá bazan, trồng thẳng đứng. Những chiếc cọc hình trụ này là những cột đá tự nhiên thường gặp ở các mỏ đá bazan. Nhưng ở La-Venta và các vùng xung quanh không hề có loại đá này. Nghĩa là tất cả các di tích, kể cả quảng trường được rào, đều làm bằng đá bazan mang từ xa về. Nhưng từ đâu?

Giữa bãi đất nhô lên một công trình kỳ lạ cũng bằng loại đá bazan ngũ giác, tiết diện hình lăng trụ: kiểu như ngôi nhà nhỏ nhưng không có cửa sổ, một nửa âm xuống đất. Mái nhà gồm chín phiến đá bazan cùng loại dài đến 3 m, xếp sát nhau trên đỉnh các cột rào. Khi bốn phiến được tháo ra, Stirling leo vào được bên trong lăng mộ này.

Đây chính là hầm mộ, thời xưa hài cốt của các vị quyền quí được chôn ở đây, có thể là vua, vợ và các con của ông. Trong căn phòng ngầm có một chỗ ốp đá nhô lên, tô vẽ sặc sỡ. Xương người của ít nhất là ba cuộc mai táng vương vãi khắp nơi, cạnh đó là một đống báu vật đổ lộn xộn.

Ở đây không thiếu thứ gì! Tượng người đứng, ngồi, những người quái dị, ếch, ốc, những trang trí dạng hoa, chuỗi hạt, vòng khuyên. Tất cả đều làm bằng đá nefrit màu lục và màu da trời được chế tác tuyệt hảo. Tất nhiên không thể thiếu được hình tượng con báo, theo cách diễn đạt chính xác của một nhà nghiên cứu, đơn giản là người Olmec bị báo ám ảnh.

Ngay chỗ chiếc đầu của một vị vua (trong đất sình LaVenta xương không còn nguyên vẹn) có một chiếc mũ kỳ lạ – có lẽ ngày xưa đây là biểu tượng quyền lực và sức mạnh của vua, sáu chiếc lông nhím biển dài cắm vào sợi dây, giữa các chiếc lông là vài đồ trang sức bằng đá nefrit dạng hoa, lá. Trên mặt người được mai táng xưa kia có đeo chiếc mặt nạ gỗ cẩn đá nefrit và xà cừ. Tất nhiên mặt nạ đã mục nát. Tại đây còn lại những vòng khuyên lớn bằng đá nefrit.

Theo các nhà bác học, vật quí nhất tìm được trong hầm mộ này là bức tượng nhỏ bằng đá nefrit màu trắng xanh được đánh tuyệt bóng. Tượng mô tả một người phụ nữ ngồi, rõ là một mệnh bà quí phái, hai tay cầm chiếc gương đưa ra trước ngực, tóc chải cẩn thận, phía trước để mái, phía sau chảy dài xuống vai, khuôn mặt trái xoan với cặp mắt to hình hạt hạnh nhân, tượng có nụ cười bình thản và niềm nở. Nghệ nhân làm ra tượng này chắc chắn là một nhà điêu khắc tài ba.

Hầm mộ bằng cột bazan không phải là kiểu mai táng duy nhất ở La-Venta. Ngay gần đó Stirling tìm thấy chiếc quan tài đá hình con báo. Bên cạnh hài cốt, trong đó còn có những đồ vật bằng đá nefrit. Tất cả đều cho thấy rằng vào thời Olmec hòn đảo nhỏ này là thánh đường quan trọng nhất của dân tộc, nơi không chỉ để tiến hành những nghi lễ tín ngưỡng chính mà còn để chôn cất các thủ lĩnh, Thượng tế hoặc vua chúa.

***

Đây là hồi tưởng của Metu Stirling lúc quay về trại sau khi gặp chiếc đầu khổng lồ mới, lớn nhất trong tất cả các di tích tương tự của nền văn hóa Olmec cổ do ông phát hiện.

Các khai quật ở Sao-Lorenso, Tenochtitlan và PotreroNuevo tiếp tục trong hai năm 1945 và 1946. Tất nhiên chúng chỉ mang tính chất khảo sát, cho phép ghi lại những tượng quan trọng nhất nằm trên mặt đất (mười lăm cái ở Sao-Lorenso và bốn cái ở Potrero-Nuevo), hoặc người ta có thể đào vài hố thăm dò. Stirling không đủ thời gian và phương tiện nghiên cứu chi tiết thành phố lớn này.

Tuy vậy việc nghiên cứu sơ bộ ở Sao-Lorenso đã cung cấp những kết quả đáng ngạc nhiên. Phát hiện được năm chiếc đầu đồ sộ – bí ẩn số một của nền văn hóa Olmec -, các tượng vua cầm vương trượng và những phụ nữ với những đứa bé dạng báo, các bàn thờ: một cái ở La-Venta kiểu hình người trong động, cái khác với những người khổng lồ hai tay đỡ vòm trời. Những người khổng lồ này hoàn toàn không giống những người khổng lồ hùng mạnh trong thế giới cổ đại, đây là những đứa bé bụ bẫm, dễ thương.

Trên tất cả các di tích đều thấy rõ dấu vết phá hủy, đôi khi tàn nhẫn đến mức khó đoán được là chính họ đã sáng tạo ra chúng.

Chính ở thành phố này cuối cùng Stirling đã giải được bí ẩn vốn hành hạ ông từ lâu nay (và cả những nhà nghiên cứu khác), rằng: tại sao người Olmec sợ hãi thờ phụng giống báo. Trong số những tượng đã được phát hiện có hai tượng mô tả con báo đang ôm người đàn bà. Giờ đây đã rõ những hài nhi bán người, bán thú, những tượng này cho ta thấy được quan niệm của dân tộc cổ sống ở đây từ xưa, họ tin rằng tổ tiên họ là con trai của báo và người phụ nữ đầu tiên. Vào thời xa xưa con người cho rằng một lúc nào đó loài thú biết nói và hành động như con người. Do đó nhiều truyện cổ, truyền thuyết, chuyện hoang đường của tất cả các dân tộc trên thế giới cho rằng loài thú này hoặc loài thú khác là bà con hoặc thủy tổ của một bộ lạc nào đó. Người Olmec cũng vậy.

Chúng ta chia tay với Metu Stirling ở đây. Ông không còn đào bới trên đất Olmec. Sau Sao-Lorenso nhà bác học người Mỹ còn tiến hành khai quật khảo cổ ở Panama, Ecuador và Costa-Rica. Tháng 1 năm 1973, người mở cửa lại một nền văn minh Olmec đã từ trần. Nhưng những người khác vẫn tiếp tục sự nghiệp mà Stirling đã theo đuổi.

Khi Stirling còn sống, các nhà khảo cổ lại trở về La-Venta. Năm 1955 một đoàn khảo sát mới đã về đó. Đoàn làm việc vài năm tại thành phố nhỏ và đã có những phát hiện mới, đôi khi đến kinh ngạc. Giờ đây không chỉ các nhà nghiên cứu Mỹ mà cả Mexico cũng tham gia vào việc khai quật này. Phải làm nhanh lên vì trên đảo đã được phát hiện có dầu mỏ, người của Công ty Dầu mỏ quốc gia Mexico đã theo sát gót các nhà khảo cổ.

Lúc này các nhà vật lý đã nghiên cứu thành công phương pháp hoàn toàn mới xác định thời gian theo đồng vị phóng xạ carbon C-14, phương pháp cực kỳ chính xác so với những phương pháp trước đây mà các nhà khảo cổ đã áp dụng. Kết quả của những nghiên cứu ở La-Venta và các nơi khác, mà tôi sẽ kể ở dưới đây, cho thấy rằng Covarrubias và Stirling đã đúng. Giờ đây nền văn hóa Olmec đã được xác định niên đại: khoảng từ thế kỷ XII đến VI TCN.

Đây là ấn tượng mạnh đầu tiên. Nhưng ấn tượng khác cũng lần lượt xuất hiện.

Phát hiện cho thấy La-Venta không phải chỉ có một mà còn nhiều lớp văn hóa, nói theo ngôn ngữ thường, nó tồn tại trong một thời gian dài gần bảy thế kỷ. Khi dọn sạch một tháp núi lớn thì họ nhận thấy hình dáng của nó khác thường. Tất cả các tháp núi ở Trung Mỹ có dạng bậc thang. Stirling cho rằng đó là vẻ mặt thời cổ của La-Venta. Nhưng khi lập bản đồ chi tiết ranh giới dân cư, nhà khảo cổ Hazer ngạc nhiên thấy rằng tháp núi lớn ở La-Venta có hình chóp, hay nói một cách hình tượng, tháp có hình dạng của một ống loa máy hát khổng lồ mà miệng loa úp xuống đất. Hơn nữa, trên sườn núi lần lượt nối tiếp nhau những sống lồi dọc (tất cả có 10 sống lồi) và những rãnh máng sâu chạy từ trên xuống. Hazer suy nghĩ rất nhiều, tại sao những nhà xây dựng cổ lại tạo ra vẻ dáng khác thường cho công trình, nhưng vô ích. Lời giải đến ngẫu nhiên và bất ngờ. Một lần nhà khảo cổ bay trên các đỉnh núi của Tustla và bỗng thấy chóp núi La-Venta giống như hình dạng của vô số núi lửa xung quanh hồ Catemaco, chúng có dạng chóp và những sống lồi, rãnh sâu y như vậy trên sườn núi. Như vậy, để tưởng nhớ quê hương xa vời, người Olmec dựng lên trên đảo bằng phẳng một ngọn núi giống như trên tổ quốc xa xôi của họ. Giờ đây ngọn núi nhân tạo cao 33 m (thời cổ nó có thể cao hơn) được đắp bằng đất sét, trên mặt phủ lớp vữa vôi đặc cứng gần như xi măng. Hazer tính rằng việc xây dựng tháp núi này cần đến khối lượng công việc khổng lồ: nếu trên công trường với số lao động là 1.000 người thì phải mất ít nhất 800 ngày công mới hoàn tất được.

Đồng thời, giả thuyết cho rằng lúc đầu dân La-Venta sống ở vùng núi đã được xác nhận. Từ lâu các nhà khảo cổ đã quan tâm: người Olmec lấy đá bazan ở đâu để làm các tượng đài. Các nhà khoáng chất học chứng minh rằng, tất cả các khối đá đều được lấy từ sườn núi Tustla.

Những di tích mới được phát hiện ngay ở bãi hành lễ. Khi dọn dẹp mặt đất một công nhân thấy rằng có điều gì đó bất thường trên một khu vực. Một thành viên của đoàn khảo sát, nhà khảo cổ Mexico Eduardo Contreras, vội vàng bắt tay vào việc. Một lúc sau trước mắt ông hiện ra quang cảnh kỳ lạ.

Mười sáu bức tượng đá nefrit và cerpentin được chôn trong lòng đất, tạo nên một cảnh ngoạn mục. Mười bốn tượng quay mặt về hai bức tượng còn lại, sau lưng hai bức tượng này là sáu chiếc rìu đá nefrit cắm thẳng đứng vào lòng đất. Đặc biệt đáng lưu ý là một tượng trong cặp đó, khác với bức tượng kia, được làm bằng đá granit màu hồng đỏ, không được đánh bóng. Hình như người này đang bối rối hay sợ hãi nhìn đám đông đứng trước ông ta. Một vòng bán nguyệt quay về phía bức tượng thứ hai làm bằng đá nefrit gần như màu trắng, hình như đang nói gì đó với những người xung quanh. Chính dáng điệu, chiếc đầu dài, miệng hé mở, cái mũi lớn, cặp mắt to xếch cho thấy rằng nhà tạc tượng cố ý tách riêng nhân vật này, nhấn mạnh quyền lực và sự cao quí của ông.

Các nhà khảo cổ hiểu rằng nhóm tượng này ghi lại một sự kiện vô cùng quan trọng nào đó trong cuộc sống của cư dân La-Venta. Nhưng sự kiện nào? Sau khi các chiếc rìu và tượng đã được bố trí, khu bí mật được lấp kỹ và toàn bộ quãng trường được phủ một lớp đất sét dày màu cam và đầm chặt. Về sau lớp phủ này được đắp thêm lớp sét màu hồng (điều bình thường trong cuộc sống của các khu dân cư cổ và hiện nay, giống như đường phố của chúng ta được phủ mới lớp nhựa asfalt). Một thời gian sau lớp phủ màu hồng được thay bằng màu vàng, tiếp đến là màu trắng. Rồi về sau (không ai biết lúc nào) ai đó đã khoan một giếng hẹp ngay trên chỗ vật tế, khi thấy rõ là vật tế vẫn bình thường, giếng khoan được lấp lại. Từ đó thấy rõ rằng các thầy Tư tế Olmec có “Bản kê tài sản” hoặc bản đồ các kho báu mật, dựa vào đó đôi khi họ kiểm tra sự hiện hữu của các kho báu. Nhưng từ đó cũng thấy rằng “Vật tế” số 4 có ý nghĩa nào đó đặc biệt quan trọng về lịch sử hoặc thờ phụng.

Năm tháng trôi qua, những nghiên cứu về nền văn hóa Olmec vẫn tiếp tục. Các nhà khảo cổ tìm được những di tích của dân tộc bí ẩn ở các vùng của Mexico, đôi khi còn xa hơn nữa, ở các bang Veracrus và Tabasco. Hơn nữa không chỉ những chế tác nhỏ kiểu bức tượng ở La-Venta mà là những bức tượng và phù điêu lớn. Và không chỉ trên lãnh thổ Mexico mà đôi khi cả trên núi của Goatemala hoặc trên bờ Thái Bình dương Salvado cách xa hàng trăm cây số.

Gần làng Tralcasingo (miền Đông bang Morelos), người ta tìm thấy những phù điêu đẹp trên đá. Vào những năm 1970 đoàn khảo sát của David Grove đã làm việc ở đây, họ khai quật một điểm quần cư cổ và phát hiện ra rằng, một dân tộc khác đã sống ở Tralcasingo, còn những phù điêu phong cách Olmec, rõ ràng, là do nhóm người Olmec di dân đến đây chế tác, hoặc (theo ý kiến của một số chuyên gia) là những di tích của người Olmec đã xâm chiếm thành phố này một thời. Grove và sau đó là những nhà nghiên cứu khác cho rằng, khi đi tìm đá quí nefrit các điểm dân cư – pháo đài đã được thành lập trên những con đường thương mại quan trọng nhất. Qua đó các đoàn buôn Olmec tiếp tục đi xa. Các đoàn buôn được những người có kinh nghiệm hướng dẫn, họ là nhà buôn đồng thời cũng là nhà thám hiểm.

Phát hiện nối tiếp phát hiện. Từ lâu các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng, người Olmec có nền kiến trúc kém xa nghề tạc tượng, do đó họ được gọi là “Dân tộc tạc tượng”. Những bức bích họa đặc trưng của người Olmec đối với nền văn minh muộn của Trung Mỹ không được tìm thấy. Do đó các nhà bác học cho rằng họ không có hội họa. Một lần nữa thực tế lại cho thấy đôi khi những kết luận ban đầu nguy hiểm như thế nào.

Năm 1966 hai nhà khảo cổ nghiệp dư – Gay và Grifin hành trình dọc bang Gerrero theo bờ Thái Bình dương của Mexico, để tìm những di tích Olmec ở đó. Họ hết sức ngạc nhiên khi một người làng kể cho họ về những bức bích họa nào đó trong động có tên là Hushtlauac. Gay và Grifin lập tức đến đó. Đường ngầm dài hơn cây số, khi thì họ khó nhọc bò qua những ngách hẹp, khi thì đi qua hết động này đến động khác giữa những măng thạch và thạch nhũ bám đầy dơi. Sự quên mình của họ đã được ban thưởng: trong ánh vàng yếu ớt của ngọn đèn dầu hiện ra bức bích họa tuyệt diệu, chắc chắn là thuộc thời Olmec.

Hình dáng cao (gần 2m) của vua (hay vị thần) đối diện với người thứ hai nhỏ bé, đáng thương đang quì dưới chân. Chiếc áo khoác đen quàng qua vai trái vị vua để lộ bộ quần áo màu đỏ, sọc ngang. Khuôn mặt được tô đen. Trên đầu là chiếc mũ cao gắn chùm lông kesal màu lục, tai đeo vòng đá nefrit hình dĩa, chân mang giày da báo. Tay mang găng da báo dài chỉ về phía nhân vật nhỏ bé. Tay phải cầm quyền trượng kỳ lạ có bốn mấu, tay trái nắm chặt chiếc dây thừng lớn buộc vào eo bụng của nhân vật quì hoặc là kẻ bại trận.

Hai năm sau, theo gương Gay và Grifin, David Grove cũng lên đường đến vùng núi bang Gerrero. Ông tìm thấy loạt bích họa Olmec thứ hai ở vùng Oshtotitlan chỉ cách Hushtlauac ba mươi cây số.

Chủ đề của những bức bích họa Oshtotitlan hơi khác những bức bích họa Hushtlauac. Ở đây hình người ngồi trên ngai có thân thể màu nâu đỏ, y phục khác thường. Trên đầu là chiếc mặt nạ kiểu đầu chim dữ với chiếc mỏ lớn, một con mắt to màu vàng và đôi tai chấm lục. Đôi tay người ngồi phủ đầy lông vũ mịn màu lục và đỏ. Tấm che ngực màu ngọc bích và chiếc khố hẹp cùng màu bổ sung thêm cho trang phục của nhân vật. Toàn bộ bức bích họa quá khác lạ đối với nghệ thuật Olmec, đến nỗi nếu chiếc ngai không có dạng đầu báo thì nhiều nhà nghiên cứu đã nghi ngờ việc xác định nó.

Nhưng bức bích họa thứ hai giữ nguyên tinh thần Olmec. Hình người Olmec đứng, giơ cao tay phải và buông tay trái dọc thân. Ngoài khuôn mặt sáng sủa, toàn thân nhân vật được tô đen. Trước mặt nhân vật, một con báo cái đang giận dữ chồm lên, mõm nhe ra. Nhưng lạ là con thú không tấn công người mà là bỏ chạy.

Chúng ta rời rừng rậm của bang Gerrero, trở về SaoLorenso, nơi xảy ra diễn tiến của cuốn tiểu thuyết.

Nhà khảo cổ trẻ người Mỹ Michel Co chỉ đạo một đoàn khảo sát nhỏ của trường đại học Tổng hợp Iel khai quật ở Sao-Lorenso trong ba mùa thực địa (1966-1968). Lịch sử ngàn năm của thành phố này được sáng tỏ.

Công việc đầu tiên sau khi tổ chức trại là lập bản đồ địa hình, công việc tốn nhiều công sức và phức tạp, nhưng hoàn toàn cần thiết. Nó mang lại kết quả đáng kinh ngạc: khi mọi đo đạc đã được đưa lên giấy, các nhà nghiên cứu thấy rằng cao nguyên Sao-Lorenso… có nguồn gốc nhân tạo. Đúng, đúng, bạn đừng ngạc nhiên! Quả đồi cao gần 50 m và dài gần cây số vào thời cổ đã được đắp bằng đôi tay của người Olmec. Có thể hình dung là những cư dân cổ từ thế hệ này đến thế hệ khác đã mang những giỏ đất đến và đắp nó dần dần thành quả đồi vĩ đại như thế nào. Về khối lượng, công việc này đã vượt xa kim tự tháp nổi tiếng thế giới của pharaon Ai Cập Hufu (Keops). Trước hết, dạng đối xứng hoàn chỉnh cho thấy nguồn gốc nhân tạo của quả đồi. Trên bản đồ thấy rõ những chiếc “lưỡi” nhô ra – những chỗ lồi hẹp độc đáo ăn sâu vào thung lũng, những đê quai nối các điểm cao riêng biệt của cánh đồng. Những khai quật tiếp theo đã xác nhận điều này. Điều gì đã tạo nên qui hoạch phức tạp của công trình này, không thể nói được. Tất nhiên cũng mong muốn là trong hình dáng của quả đồi có thể nhìn thấy hai chiếc đầu báo đang há mõm, lè lưỡi và nhe nanh. Nhưng lời giải thích này có thể chỉ là sự tưởng tượng đơn thuần. Trên đỉnh cao nguyên người ta tìm thấy hai mươi hố sâu có hình dạng và kích thước khác nhau. Việc nghiên cứu chúng cho thấy rằng, thời xưa đây là những hồ chứa nước mà đáy và vách được lát bằng đá núi lửa.

Các khai quật cung cấp cả số liệu về biên niên sử của khu dân cư. Stirling và những nhà bác học sau ông đều cho rằng Sao-Lorenso là một thành phố tương đối muộn. Phân tích phóng xạ carbon từ những đống lửa cổ đã tan thành tro bụi xác nhận điều này. Kết quả cho thấy rằng Sao-Lorenso được thành lập gần 1300 năm TCN và phồn thịnh sau năm 1200 TCN, lúc đó đã xuất hiện người Olmec. Thành phố huy hoàng tồn tại đến thế kỷ thứ IX và sau đó không hiểu vì sao đã biến mất. Sau này thành phố lại trỗi dậy, nhưng những sự kiện này vượt ra ngoài cuốn tiểu thuyết của chúng ta.

Những khai quật của Co ở Sao-Lorenso giải thích thêm một sự kiện quan trọng và đáng chú ý. Như trên đã nói, đa số các bức tượng đều bị hư hỏng. Nhưng điều này không phải là hành động phá hủy vô thức hoặc sự xúc phạm của những kẻ xâm lược. Sau đó những di tích này đã được chôn cất cẩn thận, đôi khi có cả những vật tế. Ví dụ di tích số 21 (đánh số theo thứ tự đào được) – bức phù điêu tạc con thú chạy – đã được đặt úp xuống vật tế là 6 chiếc rìu bằng đá cerpentin và những hạt cườm cùng loại. Tất cả đã được lấp đất kỹ lưỡng. Theo đánh giá thời đó, hoàn thành nghi lễ như thế này cho bức phù điêu bị hư hỏng có ý nghĩa to lớn hơn nhiều.

Tất nhiên đoàn khảo cổ của trường đại học Tổng hợp Iel chưa khai thác hết những kho báu khảo cổ và nghệ thuật ở Sao-Lorenso, ở đó vẫn còn lại không ít công việc cho các nhà nghiên cứu tương lai. Rất khó đánh giá công việc của Co; và tất cả những người quan tâm đến nền văn hóa Olmec đều cần phải cảm ơn ông.

Trong cuốn sách này có mô tả cụ thể tất cả những nghiên cứu đã tiến hành trên mảnh đất của dòng dõi báo thần chưa? Tôi chỉ mong muốn kể lại một vài phát hiện đáng lưu ý nhất, đó là những điểm độc đáo của cuốn tiểu thuyết để bạn đọc có thể so sánh những sự kiện thực tế với hư cấu. Nhưng trước khi kết thúc cần phải nói đôi lời là giờ đây người ta đã biết gì về người Olmec chưa?

Sau những nghiên cứu lâu năm và kiên trì, các nhà bác học nghiên cứu châu Mỹ đã tìm hiểu được khá nhiều về dân tộc bí ẩn này. Giờ đây chúng ta đã biết không chỉ nghệ thuật tạo dáng và nền văn hóa vật chất mà cả tổ chức xã hội của dân tộc Olmec với tính phân cấp sớm như ở Sumer và Ai Cập cổ, biết được thời gian thành lập, thịnh vượng và suy tàn. Thậm chí có thể biết nguyên nhân của những sự kiện khủng khiếp cuối cùng. Quốc gia Olmec bị biến mất bởi những cuộc tấn công của các dân tộc Maya từ miền đông-nam.

Các nhà khảo cổ đã tái họa những đường nét chính về tín ngưỡng cổ của người Olmec, những nghi lễ thờ phụng có liên quan đến vụ ngô, những ngày lễ theo chu kỳ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của họ. Trong thời đó, tín ngưỡng ngự trị vô hạn trong tất cả các dạng tư tưởng.

Giữa các nhà bác học từ lâu đã có cuộc tranh luận: con cháu của người báo nói thứ ngôn ngữ gì? Tác giả cuốn sách này thống nhất với những người đã thấy nhóm ngôn ngữ lớn có vị trí tương lai trong những người Olmec tổ tiên, gồm cả Maya-Mihe-Uave-Soke. Vì vậy tên riêng của các nhân vật được lấy từ ngôn ngữ tái lập của nhóm Maya-Soke cổ.

Tất cả những số liệu khoa học này cho phép phục hồi bức tranh sinh động của những sự kiện đã xảy ra từ xa xưa ở SaoLorenso và các vùng phụ cận.

Đặc biệt có giá trị là vấn đề những mối quan hệ trước thời Columbus của Cựu thế giới với hai lục địa châu Mỹ. Một số nhà nghiên cứu nước ngoài ngạc nhiên trước sự phát triển sớm của nền văn minh Olmec, họ gán buổi bình minh của nó cho một sự thúc đẩy bên ngoài, là kết quả xuất hiện của những nhà hải hành từ một trung tâm văn hóa nào đó ở Cựu Thế giới đến Trung Mỹ. Nhà du lịch nổi tiếng Tur Haerdal cho rằng nền văn hóa Olmec chịu ơn nhờ sự xuất hiện của những người từ Ai Cập đến. Nhằm chứng minh cho giả thuyết này, ông đã chấp nhận chuyến đi huyền thoại vượt Đại Tây Dương của chiếc tàu “Ra”. Nhà nghiên cứu người Mỹ, bà Betty Meggers, thì ngược lại, bà cho rằng “Con cháu của báo” là những di dân từ Đông-Nam Á, họ rời bỏ quê hương sau cuộc tấn công của nhà Thương (triều Ân) ở Trung Hoa vào thế kỷ XI TCN. Những luận cứ này đã có thể được phát triển.

Những thuyền đánh cá hoặc tàu buôn trên đại dương đôi khi bị cuốn xa quê hương, tất nhiên do bão hoặc những dòng hải lưu. Cũng có những ngoại lệ, khi những nhà du lịch ngẫu nhiên này buộc phải cắt đại dương và xuất hiện trên đất lạ.

Các nhà văn La Mã còn giữ lại một câu chuyện là trong thời ngự trị của hoàng đế Claudia, bão đã đưa một chiếc thuyền với vài người da đỏ vào bờ biển Gallia (Pháp ngày nay). Đây là trường hợp đầu tiên lịch sử chứng minh sự xuất hiện của người da đỏ ở châu Âu. Ngược lại, nhà khảo cổ người Mexico Hose Garcia Paion phát hiện thấy chiếc đầu của bức tượng La Mã trong một ngôi mộ cổ, rõ ràng là nó được ai đó đưa đến từ bên kia đại dương. Trên bờ biển Venezuela đã tìm thấy một chiếc bình chôn với những đồng tiền vàng La Mã, nhân chứng câm của một vụ đắm tàu thời cổ. Tất cả những ví dụ này cho thấy cuộc du hành của một nhân vật trong tiểu thuyết – Suembahamon có thể đã xảy ra trong thực tế. Nhưng nó cũng chứng minh cho việc khác. Những người ngẫu nhiên xuất hiện ở một đất nước xa xôi, tất nhiên họ không thể tác động rõ đến nền văn hóa của dân tộc này, hơn nữa họ lại bị biến mất. Lịch sử dạy chúng ta rằng, mọi cái mới được hấp thụ chỉ khi trong xã hội tiếp nhận đã chín muồi những điều kiện cần thiết cho nó. Thực ra, những cư dân của thời đại đồ đá cũ có thể hiểu được gì nếu một người đương thời của chúng ta rơi vào xã hội của họ với chiếc xe hơi? Ngoài ra tài liệu của những khai quật gần đây không bác bỏ rằng nền văn minh Olmec là kết quả phát triển lâu đời của chính cư dân cổ ở Trung Mỹ.

NHỮNG NHÂN VẬT CHÍNH

Ah-Mash – Thầy Tư tế quản lịch và thời tiết.

Ah-Shacan – Thầy trưởng quản tạc tượng của kinh thành Nivannaa-Tracbolai.

Ah-Shooch – Nhà tạo tượng già, thầy của Tug-Anseng.

Anaib-Ungir – Thầy Thượng tế của đền thờ thần Ngô, về sau là thầy Thượng tế của kinh đô.

Beleng-Hish – Thầy Thượng tế của thần Mặt trời.

Cuocu – Hề của quốc vương Olmec.

Hang-Noc-Ping – Hoàng tử xứ Olmec, con trai thứ của vua.

Irinefer – Tài công người Ai Cập, phục vụ cho Suembahamon.

Ish-Can-Leosh – Nữ Thượng tế của đền thờ Đức mẹ các thần Tecaima-Poia.

Maash – Chú của Tiang.

Melcart-Mashal – Nhà đi biển và thương nhân Phinic.

Mishpitiacuc – Thầy Tư tế thân cận của Anaib-Ungir.

Nam-Suc – Con gái của Ah-Shooch.

Nebmaatranaht – Tể tướng của pharaon, tổng đốc thành Fiva, thượng cấp của Suembahamon.

Nesubanebjed – Pharaon Ai Cập Hạ.

Niang-Hinah – Thầy đại Tư tế của thần Ngô trẻ.

Osh-Tro – Mẹ của Shang và Tug-Anseng.

Paveraa – Lãnh chúa khu đông thành Fiva, trưởng quản vệ binh nghĩa địa của các hoàng đế.

Shang – Nông dân thuộc bộ tộc Caab.

Suembahamon – Quan đại thần Ai Cập, trợ lý của tổng đốc thành Fiva – kinh đô của Ai Cập Thượng.

Tene-Tung – Triều thần của quốc vương Olmec.

Tene-Tuvuic – Triều thần của Hang-Noc-Ping.

Tiang – Con gái của một nông dân bộ tộc Socan.

Tug-Anseng – Anh của Shang và là nhà tạc tượng.

Tumeh-Sahing – Thầy Trưởng tế của Thần Tâm đất – Thần động đất và âm phủ.

• Chú Thích •

[1] Pharaon chết được phong thánh và danh hiệu “Thần thiện”.

[2] Theo quan niệm của người Ai Cập cổ - âm phủ ở phương tây.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.