Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 03

3

Dương Khởi Long nhớ việc xưa trước miếu

Cao Sĩ Kỳ trị bệnh ngặt phủ Hàn

Khang Hy mong trời tạnh, nhưng có người lại thầm rủa trời tạnh. Hắn chính là Dương Khởi Long, kẻ giả danh Chu Tam Thái tử tập trung chúng dân kinh sư mưu phản hồi tháng chạp năm Khang Hy thứ 12, việc không thành trốn chạy ra ngoài kinh thành. Hắn đã ẩn trốn năm năm trong miếu Thiên vương trấn Tùng Chủng phía bắc thành Hàm Đan. Hai trăm mạng sống đổi cho hắn một mình trốn ra khỏi kinh thành, vốn hy vọng có thể chấn chỉnh cờ trống để đương đầu với triều đình, không ngờ cho đến hôm nay ước nguyện xấu xa không thành, trong lòng bao nỗi khổ, tức, hận như ngọn lửa bốc lên làm hắn trọc đầu, thôi thì bèn dùng tiền vàng mua thẻ tu hành xuất gia quy Phật.

Phía đông đối mặt xa xa với Tùng Chủng là trấn Hoàng Lương Mộng nổi tiếng. Mỗi khi mặt trời lên, đứng trên bậc thềm miếu có thể nhìn thấy nhà cửa miếu mạo lầu gác Hoàng Lương Mộng hiện lên mờ mờ trong sương. Dù là Tùng Chủng hay Hoàng Lương Mộng, hai cái tên này đối với hắn đều rất không có lợi, nhưng Dương Khởi Long lại chẳng quan tâm. Một là các nhà thờ ở Trực Lệ, Sơn Đông đều bị xóa sạch, hắn không muốn đi vào giang hồ dựa nhờ bọn thổ phỉ sông Lưu Thiết Thành; hai là hắn cảm thấy địa danh này luôn nhắc nhở hắn, hơi giống như loại hoa có gai, chỉ cần giơ tay vuốt ve là nó đâm cho chảy máu, làm hắn nhớ lại việc xưa đắng cay buồn tủi. Tháng trước hắn mới “vân du” Thiên Sơn, từ Chuẩn Cát Nhĩ xa xôi trở về, đã đỡ mệt dần dần. Ở nơi Trung nguyên dân cư đông đúc người ta đều gọi hắn là “Kim hòa thượng”, không ai ngờ được vị hòa thượng tướng mạo không ra gì đó đã từng làm tổng lãnh nhà thờ “Chung tam lang” có hơn hai triệu tín đồ một thời đã từng thét ra lửa, đến nay vẫn là “Chu Tam Thái tử giả” mà triều đình đang tầm nã nghiêm ngặt.

Giờ này đã vào canh khuya, Kim hòa thượng ngồi trên bậc thềm trước miếu, ngắm nhìn say sưa cảnh trời đêm tạnh ráo sau cơn mưa, ngầm căm hận: Vì sao không chịu mưa liên tiếp ngày đêm suốt ba năm ròng rã đi, để trở lại thế giới thời hồng thủy, chín châu đều chìm nghỉm, cho đất trời đảo điên? Cho dù mình bị chết chìm cũng cam lòng mãn nguyện! Hắn có lắm tiền bạc, đang chôn ở phía tây cách miếu khoảng hai trăm bước, dưới cây dâu già vườn sau của bà Hàn Lưu, một người đàn bà tài giỏi nổi tiếng trong vùng. Đó là sáu mươi vạn lượng quân lương từ Hồ Nam chuyển về Bắc Kinh hồi ấy cướp được còn nguyên phong đem chôn sâu có đến một trượng. Hắn cũng có vũ khí, dưới bậc thềm là một cái hầm đá, ngoài dao gươm mâu kiếm ra còn có một khẩu súng chế tạo tinh vi, là do đặc sứ nước La sát Tra-kha-lốp ở Chuẩn Cát Nhĩ tặng cho. Để cho bí mật vĩnh viễn không bị tiết lộ, hai tên tiểu hòa thượng giữ kho cho hắn trước đây, đã lần lượt “bệnh chết” cách đây hai năm.

Kim hòa thượng đăm đăm nhìn lên chòm sao “tử vi”: quả là thế giới đại thiên chẳng có thứ kỳ lạ gì mà không có! “Tam phiên” do Ngô Tam Quế cầm đầu đông đến cả triệu người, từng hoành hành trong mười một tỉnh, chỉ trong năm năm đã sụp đổ tan tành, nay chỉ còn là tro bụi, Huyền Hoa (tên của Khang Hy) tên nhóc con này dùng phép thuật gì mà thu phục lòng người nhanh thế? Hắn vỗ vào bậc đá lạnh ngắt, lại nhớ tới khẩu súng trong hầm đá, tình hình cuộc hội đàm bí mật với Cát Nhĩ Đơn ở Tây Bắc năm tháng trước lại hiện ra trần trụi trước mặt hắn...

“Cát Nhĩ Đơn Hãn” Thượng tá Tra-kha-lốp như cái thùng nước mặc một bộ quân phục thẳng đứng, đinh thúc ngựa dưới chân kêu lanh canh trên sàn gỗ, một chùm ria mép kiểu Cô-dắc vểnh lên rất có khí thế trên khuôn mặt trắng bạch, đôi mắt xám phát ra ánh sáng yếu ớt, “Đúng như ngài đã biết, trước mặt ngài là Thái tử điện hạ tôn quý của quý quốc Đại Minh. Tôi và huân tước Cơ-la-ni hân hạnh được biết ông ta ở Sát-cáp-nhĩ tôi xin nhắc ngài một lần nữa. Thời cơ, ừ, thời cơ rất công tâm và tàn khốc vô tình đối với bất cứ người nào. Phía nam Trung Quốc hiện vẫn đắm chìm trong hỗn loạn. Chu điện hạ thay mặt Đại Minh, ngài thay mặt Đại Nguyên, xua quân nam tiến, thì nỗi ô nhục của các ngài sẽ tiêu tan hết sạch, đây là thời cơ duy nhất - duy nhất, hiểu chứ?” Tiếng Hán, tiếng Mông hắn đều nói hay, hoàn toàn không cần thông dịch.

Cát Nhĩ Đơn xem ra chỉ hơn ba mươi tuổi, dưới cái mũ da là khuôn mặt vuông, có góc có cạnh. Ông ta lặng lẽ lắng nghe, một hồi lâu mới nói rành rẽ từng chữ từng câu: “Cảm ơn thượng tá nhắc lần nữa. Ngài thông minh tài trí, ta nghĩ Pi-ốt bệ hạ nhất định có nhiều huân chương khen thưởng cho các hạ. Nhưng thực tình ta không hiểu được điều này: sau khi quý quân bị bại ở trận Mộc Thành, vì sao chịu tiếp nhận điều ràng buộc do đề đốc Phụng Thiên Châu Bồi Công đưa ra, đã rút về toàn bộ năm trăm khẩu súng vốn định cung cấp cho ta? Xin nói thực lòng, tôi tin là triều đình quý quốc không tin tưởng ngài. Ta cũng không có ý muốn đánh xuống phía nam tranh cứ với Đại Thanh ở Trung nguyên, chỉ muốn khôi phục đất cũ Mông Cổ của ta. Loạn ba bộ Xa thần tuy đã bình định, nhưng thực lực của ta cũng bị tổn thất nặng; Lạt ma Tang Cát Nhân Thố Tây Tạng cũng do dự không quyết, không chịu hợp tác, tiến quân vào Trung nguyên chỉ là tham vọng hão”. Tra-kha-lốp bình tĩnh đợi ông ta nói xong, hắn trợn mắt suy nghĩ, bỗng phì cười, nói: “Đại Hãn, trước mặt người thật, không nói lời giả dối. Ngài đã không muốn chinh phục Trung nguyên, thì sao lại phái bao nhiêu người giả dạng dân tị nạn đến Thiểm Tây, Sơn Tây, Trực Lệ... dò la tin tức quân sự? Khôi phục đất cũ chắc là nói thật, Bắc Kinh tên cũ không phải là “Nguyên Đại đô” sao?, còn chuyện súng, về mặt ngoại giao chúng tôi không thể không phô diễn tấn trò, mà ngài cũng biết đó, đó là chuyện hồi trung tuần tháng bảy, hiện nay người nắm chính quyền của chúng tôi đã là Pi-ốt vĩ đại rồi...”. Nói tới đây, Phúc tấn Cát Nhĩ Đơn dùng mâm bạc bưng ra ba chén trà sữa, vừa đặt xuống mời khách, vừa cười nói với Cát Nhĩ Đơn: “Chim ưng cũng phải có thời gian ăn no chứ? Tôi nghe thượng tá nói đúng, vị Thái tử này” bà nhìn Kim hòa thượng cười mê hồn, “có ông ta dẫn đường, chim ưng thảo nguyên không thể bị lạc đường trên bầu trời Hoàng Hà”.

“Đa tạ Phúc tấn”. Kim hòa thượng nghiêng người đáp lễ, hắn bưng bát trà sữa, tuy cảm thấy tanh hôi nhưng vẫn uống cạn một hơi, rồi hắng giọng nói, “Đã nói với Đại Hãn nhiều rồi, nhưng Đại Hãn không chịu mạo hiểm, hết cách rồi. Tôi đến đây chẳng qua là để báo thù cho vua cha. Bản thân tôi từ lâu đã không muốn làm Hoàng thượng. Hôm qua Đại Hãn nói cho tôi tiền, xin nói lời lỗ mãng, bỉ nhân không thiếu tiền bạc. Đã như vậy, thì ngày mai tôi sẽ lên đường trở về”.

Cát Nhĩ Đơn cười nói: “Tam Thái tử, tôi tuy là người Di Địch như các ông nói, thực ra tôi rất thích Hán học. Người Hán có nói: “dục tốc bất đạt” (muốn mau không thành) tôi suy nghĩ nó cũng như là “hăng quá hóa dở”, việc gì phải nôn nóng như vậy? Hãy cứ ở đây rồi bàn bạc từ từ”.

“Bàn bạc từ từ?” Tra-kha-lốp ngửa hai tay, nhún vai cười nói, “Trong từ điển phương Đông các ông không có cái từ “vĩ đại”. Nhưng tôi phải nói, vị Hoàng đế trẻ tuổi Trung Quốc hiện nay thực tình là nhân vật vĩ đại. Ông ta nhẹ nhàng bắt giữ công tước Ngao Bái; hiện nay sắp dẹp yên vương gia Ngô Tam Quế, chiến tranh chưa dứt đã chuẩn bị tiến công Đài Loan. Tôi khẳng định, ông ta đang chú ý đến ngài! Nếu cứ kéo dài như thế này, về sau là ông ta đem quân đi đánh ngài chứ không phải ngài đi đánh ông ta!” Hắn nói vừa nhanh vừa nặng, giọng nói the thé chát chúa, mấy người trong sảnh bất giác thấy ớn lạnh, Kim hòa thượng chắp tay nói: “Túc hạ quan tâm đến công việc của Trung Quốc hơi quá rồi đó? Đại Hãn, hiện nay ngài đã không chịu đánh xuống đông, nghe nói đã làm biểu cầu hòa xưng thần với Khang Hy, tôi ở đây quả tình không có ích gì, ngày mai tôi nhất định lên đường quay về”.

Mấy ngày gặp gỡ Kim hòa thượng, Cát Nhĩ Đơn rất khâm phục tài Hán học của vị này. Tiến quân Trung nguyên là mục tiêu của hắn, hắn cũng muốn dưới trướng có một người dẫn đường như vậy. Nghe Kim hòa thượng nói thế, hắn cười nham hiểm nói: “Tam Thái tử, ta muốn xem ông như người bạn ý hợp tâm đầu. Ông nói “viễn giao cận công” (giao thiệp kẻ xa, tấn công kẻ gần) đạo lý tuy rất sâu sắc nhưng rất thực dụng, ta rất muốn giữ ông lại. Mông Cổ chúng tôi có nhiều tiền bạc, ngựa tốt và gái đẹp, con gái ta Chung Tiểu Trân rất thích người Hán, lại đặt tên Hán, Tam Thái tử nếu không chê thì hai người sao không kết nghĩa vợ chồng?” nói xong, hắn quan sát sắc mặt Kim hòa thượng.

Đang nói thì Tiểu Trân, con gái Cát Nhĩ Đơn từ hậu sảnh chạy ra như một cơn lốc, nói to: “Ta không muốn! Ta tuy hâm mộ Đại Hán, bởi vì từ xưa đã là một nhà. Ta không thích các ngươi những người mặt trắng xúi dục! Ta với Tiểu Mộc Tát Nhĩ đã đính hôn, vì sao bắt ta phải lấy tên hòa thượng này?” vừa nói, nước mắt lưng tròng, nàng lạnh lùng liếc nhìn Phúc tấn, rồi gọi to: “Ông Hồ, mang theo cây đàn đầu ngựa, theo ta ra đồng cỏ!”

Một ông già hơn năm mươi tuổi, mặc áo dài Mông Cổ bước ra, hơi ngần ngừ, vái chào Cát Nhĩ Đơn và Phúc tấn, nói: “Vương gia, quận chúa gọi tôi đi theo!” “Ông đừng chỉ theo Tiểu Trân học chữ Hán”, Phúc tấn ngồi xuống một bên, thấy Tiểu Trân không để ý tới mình, trong lòng không vui, bà nhướng đôi lông mày trách mắng ông Hồ: “Cũng phải dạy cho nó biết chút ít lễ nghĩa! Mẹ nó chết rồi, ta nay là Phúc tấn, ngay cả chào hỏi ra mắt cũng không thèm làm!” Cát Nhĩ Đơn biết hai mẹ con trước nay không hòa, trong lòng phiền muộn, phất tay nói: “Đi đi, đi đi!”

“Vương gia, ý tốt của Phúc tấn tôi xin nhận”. Kim hòa thượng nghiêng mình nói, “Tôi đã là người của hai thời đại, đã không có ý lấy vợ từ lâu. Hận nước mất, thù vua cha chưa trả, tôi không thể sống được. Nghe ý tứ của vương gia, tôi rất khó tuân lệnh!” Vừa nói vừa rút trong lò lửa ra một que cời than đỏ rực, nâng lên, ánh mắt toát lên vẻ thù hận, hắn nhìn que lửa, ước lượng, như chẳng có gì quan trọng, đưa que lửa gí vào má mình, một làn khói bốc lên, cùng với mùi khét thịt cháy nồng nặc cả đại sảnh. Cả sảnh bỗng chốc im phăng phắc, Tra-kha-lốp, Cát Nhĩ Đơn hoảng kinh, mặt mày trắng bệch, Phúc tấn chắp tay niệm Phật một tiếng rồi ngất xỉu.

“Tôi đến đây để khóc triều Tần”. Kim hòa thượng nhịn đau, từ từ bỏ que cời lửa xuống, cười khổ, “Xin binh không toại nguyện, ta không oán hận người nào. Ta hủy hoại dung nhan ở đây chỉ để nói lên nỗi lòng. Giống như que lửa này. Que lửa này hôm nay đốt tôi, mong có một ngày tôi có thể dùng ngọn lửa như thế này cùng sống chết với Khang Hy!”

Cát Nhĩ Đơn chưa từng thấy một người kiên cường như vậy, vội xông tới xúc động nắm vai Kim hòa thượng, nói run run “Người anh em tốt quá! Ông ông .... cứ đợi mà xem!” Tra-kha-lốp là đặc sứ do Cơ-la-ni phái tới vùng Bắc Á khích động Cát Nhĩ Đơn phát động chiến tranh, việc người Trung Quốc sống hay chết không liên can gì đến hắn, nhưng thấy tình cảnh này lòng hắn cũng xúc động. Hắn đi qua đi lại mấy bước, không quay đầu lại nói: “Chu tiên sinh, tôi biết ông có mấy chục cứ điểm bí mật ở Giang Nam, còn nắm được đội vũ trang mấy trăm người của Lưu Thiết Thành ở hồ Vi Sơn, nhưng chỉ dựa vào bấy nhiêu để tiêu diệt Khang Hy là không thể được ôm cây đợi thỏ là không thể được”.

“Biết việc không làm được mà vẫn làm”. Kim hòa thượng không ngờ Tra-kha-lốp hiểu rõ ràng việc nội bộ của mình đến thế, hắn ngạc nhiên trố mắt nhìn Tra-kha-lốp, nói không chút động lòng: “Tôi chỉ có thể miễn cưỡng tuân lệnh. Có điều các hạ chỉ biết một mà không biết hai, tôi có cách của tôi!”

“Thế hả?” Tra-kha-lốp quay người, khom lưng ghé sát mặt Kim hòa thượng, nói nhấn mạnh từng chữ “Vậy, có thể cho biết được không?”

“A di đà Phật!” Kim hòa thượng nhắm mắt lắc đầu.

Tra-kha-lốp cười khanh khách: “Nếu tôi đoán không sai, thì ông còn có người ở trong triều!” Tiếng cười như ma quái của hắn làm Kim hòa thượng lạnh toát người: hắn chỉ liện hệ với tổng đốc Giang Nam Cát Lễ, được nghe nói loáng thoáng vì chuyện Hoàng Thái tử mà Sách Ngạch Đồ và Cát Lễ có mâu thuẫn với Minh Châu.

“Chu tiên sinh, ông làm tôi cảm động, à không, làm Thượng đế cảm động!” Tra-kha-lốp thở dài, mắt ánh lên màu xám ma quái, “Lợi ích khác nhau nhưng lại có chung một mục tiêu, tôi có thể giúp ông một tay. Sứ giả đạo Đông chính Lô-mas-ca tiên sinh là một người lai đã ẩn nấp ở Kim Lăng hai mươi năm, vì ông, tôi quyết định sử dụng hắn để phối hợp với kế hoạch của ông. Tôi còn tặng ông một khẩu súng ngắn, cả thế giới không đâu tìm ra thứ vũ khí tốt thế này. Có lẽ ông không từ chối nó như đã không từ chối nhận vàng?” Kim hòa thượng chắp hai tay, nói: “Cảm ơn các hạ, tôi xin vái từ xa, xin nhận mối thịnh tình này!”

... Một làn gió thổi qua, Kim hòa thượng rùng mình, mới ý thức được mình đang đứng trước miếu Thiên vương phía đông trấn Tùng Chủng gần con đường cũ Hàm Đan. Ánh trăng mờ mờ phủ lên cảnh vật chung quanh một lớp thủy ngân. Sự việc xảy ra không lâu bỗng chốc trở nên xa xôi vời vợi. Hắn nghe ngóng động tĩnh bốn bên, trong chái đông một người ngủ ngon lành đang ngáy. Người này họ Cao, là một cử nhân nghèo vào kinh đi thi. Chái tây còn ngụ một người, là một tiểu hòa thượng, Kim hòa thượng thu nhận ba năm trước đây, tên tục là Vu Nhất Sĩ, võ nghệ cao cường, có thể tung người nhảy qua mái nhà, hay nhảy qua bờ sông bên kia, vì giết người, quan phủ truy nã nên cắt tóc đi tu làm đồ đệ của Kim hòa thượng. Ở Giang Nam, Kim hòa thượng bố trí hai mươi mấy cái hắc điếm, đầu bếp phần lớn là bạn bè cùng băng nhóm. Kim hòa thượng đang muốn trở về tịnh xá thì cửa chái tây cót két mở ra. Vu Nhất Sĩ khoác chiếc áo kép bước ra, lảo đảo đi ra phía sau điện, rồi lê dép trở về phòng, vừa quay mặt đã thấy Kim hòa thượng ngồi trên bậc thềm, hắn dụi đôi mắt ngái ngủ, lè nhè cất tiếng hỏi: “Hòa thượng, quá nửa đêm rồi, còn ngồi nhập thiền?”

“Không phải nhập thiền”, Kim hòa thượng cười nói, “Đêm nay không biết làm sao mà quá giấc, không tài nào ngủ được. Ban đầu nghe bà Hàn Lưu bên đó khóc lóc thảm thương, sau lại thấy bà ta đi Hoàng Lương Mộng đốt hương cho ông tổ họ Lữ. Đến bây giờ chưa thấy về, mong đừng xảy ra chuyện gì!”

Bà Hàn Lưu này là một người đàn bà giỏi giang, hiện nay có một đứa con nhỏ bị bệnh nặng, thầy thuốc giỏi nào cũng mời khám, nhưng không thấy thuyên giảm. Bà già tài cán giỏi giang này cũng mất phương hướng, đêm nào giờ Tý cũng đến Hoàng Lương Mộng cầu thần.

“Bệnh lao, có mời Cửu thiên đãng ma tổ sư xuống cũng chẳng ăn thua!” Vu Nhất Sĩ vừa nói vừa đẩy cửa vào nhà ngủ tiếp. Kim hòa thượng chôn vàng ở vườn sau nhà họ Hàn, mấy lần đến nhà khất thực định bước vào xem, đều bị ngăn lại ở ngoài cổng, muốn sai Vu Nhất Sĩ đi thăm Hoàng Lương Mộng một chuyến, để nhân dịp đó mà lẻn vào, thì gã thư sinh bên chái đông bị hai người làm tỉnh giấc, đã nói vọng ra từ trong cửa sổ: “Đại hòa thượng, ai bệnh đó?” Tiếp theo là tiếng sột soạt, mặc áo bước ra. Kim hòa thượng vội tới đón, chắp tay nói: “Làm kinh động cư sĩ, a di đà Phật, tội lỗi, tội lỗi!”

Người đi ra đó là Cao Sĩ Kỳ, cử nhân nghèo ở Tiền Đường, từ nhỏ thông minh khác thường, thơ ca từ phú, cầm kỳ thư họa, làm trò gây cười đều giỏi. Nghe nói có người bệnh, Cao Sĩ Kỳ đã bước ra, sửa lại chiếc mũ chiên sáu mảnh trên đầu, nhét vào trong nách áo những mụn bông vải thò ra, rồi buộc chặt lại chiếc thắt lưng dài, anh cười khà khà: “Đang buồn không có tiền uống rượu, bỗng nghe báo có người đưa tiền tới! Nói mau, ai bị bệnh, dẫn ta đi xem đi!”

“Ông tướng láo toét!” Vu Nhất Sĩ phòng phía tây cười ngặt nghẽo, nói: “Anh là Hoa Đà, Biển Thước, Trương Trọng Cảnh, hay là Lý Thời Trân? Không nên đùa đâu!” Kim hòa thượng nghiêm mặt bước vào phòng phía tây, quay mặt nói với Cao Sĩ Kỳ, “Cư sĩ mà tinh thông y thuật thì bần tăng xin đưa đến nhà họ Hàn, ông chủ trẻ họ Hàn vẫn còn có chút hy vọng, cũng là điều thiện của cửa Phật chúng ta, thiện tai, thiện tai!” Nói xong bèn cầm đèn đi trước dẫn đường.

Phủ Hàn ở bên đường trạm, ngay chỗ quanh phía đông trấn rẽ về bắc, đi một chút đã đến nơi. Nhưng người quản gia ở cổng không chịu cho vào, hai tay chống nạnh, người ấy nói: “Ông Kim hòa thượng này quả là không biết điều, nửa đêm nửa hôm thế này là lúc khất thực sao? Ngày mai hãy đến!”

“Vị này là thầy thuốc”. Kim hòa thượng nói, “Biết trong phủ có người ốm, ta tiến cử đến khám bệnh cho ông trẻ”. “Cũng không được”. Quản gia liếc nhìn Cao Sĩ Kỳ, nói dứt khoát, “Ô kìa, bà cụ nhà này trở về kìa, các ông đến nói thẳng với bà cụ”.

Hai người quay đầu nhìn, quả nhiên trên đường phía đông đèn đuốc sáng trưng, nhìn kỹ lại, mới thấy mười mấy con lừa có người cưỡi, hộ tống quanh một bà cụ tóc bạc trắng từ từ đi tới. Hai chân bà cụ ghếch sang một bên, đến cổng, hơi nghiêng người, xuống đất rất lanh lợi, ném dây cương cho một người đầy tớ, chỉ hơi liếc nhìn Cao Sĩ Kỳ rồi hỏi: “Mã Quý, có chuyện gì vậy?”

“A di đà Phật, xin chúc phúc lão thí chủ!” Kim hòa thượng vội bước tới trước dập đầu lạy, “Trước nay không đến thăm hỏi! Hòa thượng đêm khuya đến nhà không phải vì việc khất thực, được biết thiếu công tử không được khỏe, nên đưa vị Cao tiên sinh này đến đây chẩn bệnh...”.

“Mã Quý, trời lạnh lắm, gọi người cùng hai nữ tỳ đi Hoàng Lương Mộng, cho bà ăn mày đó một chiếc áo bông. Bị cóng trông thật đáng thương, ở ngay trong gian nhà nát cạnh ao to sau miếu ấy, nghe rõ chưa?” Vừa nói vừa nhìn Cao Sĩ Kỳ, bà nói chậm rãi: “Xế hôm nay Phương tiên sinh ở thành Hàm Đan đến khám, đã hết cách rồi, khi nào làm đạo trường hãy xin mời hòa thượng!” Nói xong bước vội lên bậc thềm.

“Ha ha ha ha...” Cao Sĩ Kỳ bỗng nhiên cất tiếng cười to.

Bà cụ Hàn dừng bước, đứng yên chỉ quay đầu hỏi: “Có gì đáng cười?”

“Ta cười người đáng cười, ta cười người đáng thương!” Cao Sĩ Kỳ ngước mặt nhìn trời, lạnh lùng nói, “Trong thiên hạ, con bất hiếu thì nhiều, nhưng mẹ không hiền từ thì hiếm, học trò như ta hôm nay coi như đã tận mắt nhìn thấy!”

Bà Hàn Lưu có lẽ lần đầu gặp một người như thế này. Bà chỉ hơi ngạc nhiên, trên mặt đã nở nụ cười, trong khoảnh khắc, ánh mắt tỏa ra tia hy vọng, bà bỗng trở nên thân thiết: “Có lẽ bà già này mắt đã quáng gà, ta nhìn ông không giống thầy lang, mà giống như người đi thi cử nhân ông là người nơi nào, đã đọc qua sách thuốc chưa?”

“Tam phần ngũ điển, bát sách cửu khâu, bách gia chư tử, học trò tôi đều thông thạo! Còn về thuốc chỉ là hạng chót!” Cao Sĩ Kỳ hai tay cho vào ống tay áo rách, cười nói, “Người bệnh hễ còn chút hơi trong người, đều có thể cứu chữa. Thành hay không là tại trời tại số, còn chữa hay không là tại người tại việc. Ngay cái lý này mà bà cũng không biết, thì chẳng những không có tấm lòng từ mẫu, mà ngay cả đạo làm người cũng khó nói”. Nói xong liền phẩy tay áo mà đi.

“Cao tiên sinh!” Bà Hàn Lưu bỗng kêu lên. Nước mắt lưng tròng, nhưng bà cố nhịn không để cho chảy ra, “Người mẹ nào không thương xót con? Từ mùa xuân con trai ta mắc chứng bệnh nghiệt ngã đó, ta đã mời đến không biết bao nhiêu thầy thuốc nổi tiếng, thuốc uống như đổ vào bãi cát, nhưng chẳng công hiệu gì. Bây giờ người đã gần đất xa trời, trong thẻ cầu Lữ tổ thì nói là “Quý tinh trên trời là Thái tuế, kỵ xung phạm... Không phải bà già này không biết lễ, nhưng còn cách nào khác?” Bà nghẹn ngào lau nước mắt, rồi tiếp, “Tiên sinh đã nói như vậy, ngài cũng là một cử nhân, có lẽ ngài là quý tinh, vậy thì ngôi sao gây họa cho con trai ta tất phải lui...” Nói xong, giơ tay nhường lối, mời Cao Sĩ Kỳ đi vào, rồi căn dặn Mã Quý: “Đi lấy hai lượng bạc, lấy một tấm lụa bố thí cho hòa thượng, rồi đưa ông ta về miếu”.

Cao Sĩ Kỳ cũng sợ kéo dài thời gian, người bệnh tắt thở, không dám nói gì nữa, liền đỡ vạt áo rách theo bà Lưu đi vào, để lại Kim hòa thượng ngoài cửa, ngơ ngác nhận bạc tiu nghỉu ra đi.

Con trai bà Hàn Lưu, Hàn Xuân Hòa đã ngạt đờm lịm đi, nằm thẳng đơ trên giường, sắc mặt trắng bợt như tro, bụng căng phồng, làm cho chiếc chặn đắp nhô lên rất cao. Cao Sĩ Kỳ không kịp chuyện trò trà lá, liền lật mí mắt người bệnh lên xem, dùng ngón tay bấm mạnh vào huyệt nhân trung, rồi vén chăn lên gõ hai cái vào đầu gối người bệnh, đều không thấy phản ứng. Trầm ngâm giây lát, anh ngồi xuống bên giường bệnh, bắt chân chữ ngũ, kéo cánh tay Hàn Xuân Hòa gầy như que củi lên, nhắm mắt bắt mạch. Một lát sau anh đứng lên, thư thái thở ra nói: “Mời ra bên ngoài thưa chuyện”.

Mọi người ra phía trước ngồi xuống, bà cụ Hàn chống tay lên gối nói: “Người đã như thế này rồi, nói ở đâu mà chẳng được!”

“Không phải vậy”. Cao Sĩ Kỳ nói, “Ta nói chuyện trong đó lệnh lang có thể nghe thấy”.

“Thế ư?” bà Hàn Lưu phấn khởi quay người, đôi mắt nhấp nháy, “Như vậy nó vẫn còn tỉnh táo!”

“Bệnh của lệnh lang, do thầy thuốc xoàng chẩm đoán nhầm, bà có biết không?” Cao Sĩ Kỳ nói giọng rất quan trọng, “theo mạch tượng này, ba bộ bên tả nhẹ như tơ, bên hữu thì đập mạnh, đó là do âm quyết làm tổn hại thái âm. Bệnh anh ta vốn không nặng, chẳng qua là dịch khô khí kết, không biết sinh ra khí gì, có thể do sốt ruột việc gì đó, kết quả mộc đông hỏa vượng lên tới thổ giữa, làm tổn thượng vị, tất ăn không được, ngay cả uống nước cũng nôn ra. Bà đừng lo lắng lắm, hãy nghe tôi. Không cần xem những phương thuốc thái y cho trước đây cũng biết họ đều cho loại thuốc như hạnh hương, đủ chứng tỏ họ điều trị theo chứng khí tụ, ai cũng biết đó là bỏ gốc, mà trị ngọn, đều trở thành thuốc hổ lang, âm dịch ngày càng kết đọng, làm cho gan ruột không thông, khí âm dương càng bị tắc nghẽn. Mà càng chữa, bệnh càng nặng, càng nặng lại càng chữa...” Anh lắc đầu lia lịa đang định nói tiếp, bà Hàn Lưu sốt ruột ngăn lại: “Tiên sinh nói đều đúng cả, không sai chút nào! Những điều vừa nói, ta không hiểu, chỉ cần tiên sinh nói chữa được hay không chữa được!”

Cao Sĩ Kỳ trầm ngâm một chặp, rồi đáp: “Người tới bước này, tôi không dám nói quá. Bệnh vẫn còn ba phần chữa được”. Anh đứng lên lê đôi giày rách rẹt rẹt mấy bước, rồi như nói với chính mình: “Ta thử dùng tễ Cam hoãn. Ừ, âm thổ thích mềm, cam có thể hoãn cấp. Đúng, trước trị gan, sau cứu vị!” Bà Hàn Lưu thấy anh ta học vấn như vậy, mà lại thận trọng, niềm vui hiện lên trên nét mặt, thấy đầy tớ gái mang lên nước sâm, vội tự mình bưng tới, nói: “Tiên sinh cứ mạnh dạn dùng thuốc trời lạnh thế này, mau đem lò than nhỏ tới cho Cao tiên sinh, bảo người chuẩn bị giường!” Cao Sĩ Kỳ lại suy nghĩ hồi lâu, mới đến trước bàn cầm bút viết đơn thuốc.

Bà Hàn Lưu nhận đơn thuốc xem, thấy:

Tiểu sài hồ 2 tiền, Cam thảo 4 tiền, Bạch thược 1 lạng, Nhị hoa 5 tiền

Ngân kiều 5 tiền, Thông thảo 1 tiền, Đồng ti thảo 1 tiền, Đậu Hà lan 1 tiền

Hồng khang 5 tiền. Thêm rượu lâu năm nửa lạng để dẫn cho lửa to sắc.

Toàn bộ đều là thuốc trữ sẵn trong nhà, bà bất ngờ ngơ ngác. Ngước đầu nhìn Cao Sĩ Kỳ, chỉ thấy anh ta mỉm cười im lặng. Bà Hàn Lưu vội liên tiếp gọi người “sắc thuốc”, bên này Cao Sĩ Kỳ đã sớm ngồi vào mâm nhai ngấu nghiến cho cái bụng rỗng. Bà Hàn Lưu thở dài một tiếng, ngồi yên lặng đợi nghe tin tức.

Khi trời hừng sáng, Cao Sĩ Kỳ đã no phễnh bụng. Một người đầy tớ từ trong chạy bổ ra, sung sướng kêu to: “Thưa cụ bà, ông trẻ ợ lên một tiếng, trung tiện một tràng dài, đã tỉnh lại rồi!”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.