Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 04

4

Bà Hàn Lưu cướp hôn cứu con dâu

Khách phiêu bạt phê thơ gặp người cũ

Thấy Cao Sĩ Kỳ dùng thuốc rất rẻ tiền, bà Hàn Lưu cũng không hy vọng nhiều, nghe nói người nhà nói như vậy vội vàng chạy vào. Cao Sĩ Kỳ hơi lảo đảo vì rượu cũng chậm rãi lê gót theo sau, lấy móng tay móc kẽ răng, đứng một bên nhìn.

“Mẹ ơi...” Hàn Xuân Hòa mở mắt, nói rất nhỏ như tiếng muỗi kêu, “Con... làm khổ cho mẹ già...”. Lòng bà Hàn Lưu vừa đau buồn vừa thư thái, vừa mừng vừa tủi. Không ngăn nổi những giọt nước mắt tràn mi, bà cúi người nhét góc chăn cho con, nói nhỏ: “Hòa con, bây giờ thì qua khỏi rồi. Đêm qua mẹ đốt hương trước Lữ tổ, nhà ta có Bồ tát sống cứu mạng. Sau này khỏi rồi, con phải cúi đầu thành kính lập bia trường thọ cho vị Cao tiên sinh này...”.

Cao Sĩ Kỳ thấy hai mẹ con tình tự, nghĩ lại phận mình mất cha từ nhỏ, mắt cũng thấy cay xè, ươn ướt, anh ghé sát vào giường bệnh, cười nói: “Tôi không phải là Bồ tát cứu mệnh, mà là chúng ta có duyên chữa bệnh. Bệnh của anh do tâm bệnh mà ra, phải dùng tâm dược để chữa. Có việc gì làm anh nôn nóng đến như vậy, phải báo cho mẹ anh hay. Khí uất không thông, lại không chịu nói, sẽ cứ đọng cái uất, tôi làm sao ở mãi đây để cứu anh được?” Bà Hàn Lưu vội nói: “Đúng là như vậy. Con làm sao mà bị bệnh như vậy, mau nói thật với mẹ đi!”

“... Con sợ...”.

“Con sợ cái gì, sợ ai?” Bà Hàn Lưu vội vàng hỏi.

“Con sợ gia pháp của mẹ...”.

Trong phòng lặng đi một lát. Bà Hàn Lưu chậm rãi lùi lại hai bước, ngồi phịch lên giường, lặng đi một hồi lâu mới nói: “Thằng ngốc của mẹ, cha con chết sớm, mẹ chỉ còn mình con, là hạt giống, chỉ mong con sau này đem lại vinh quang cho tổ tiên, không thể không dạy bảo con, mà con sợ đến nước này sao! Bây giờ con đã lớn, đã hiểu sự đời, mà để bệnh tới mức này, mẹ... còn lòng nào giở gia pháp ra nữa?” Vừa nói vừa lau nước mắt.

“Con...” Hàn Xuân Hòa ngập ngừng một lát, cuối cùng nói ra, “... Vẫn là nhà họ Châu đầu thị trấn tây... với Thái Tú...”

“Thái Tú?” Bà Hàn Lưu lặng đi một lát, suy nghĩ hồi lâu mới nói, “Là cô bé cắm hoa phù dung trên đầu, trong ngày hội xã Hoàng Lương Mộng ngày rằm tháng bảy năm đó? Chẳng phải năm ngoái hai mẹ con ta đã nói rõ, không lấy cái con...” Bà ngừng lại, mấy chữ “đĩ điếm” đã không thốt ra được, Hàn Xuân Hòa bất lực gật đầu, nói: “Chính cô ấy... chính mẹ bắt con nói không lấy...”.

Bà Hàn Lưu im lặng, nghiêng đầu suy nghĩ, bỗng bà bật cười: “Cô gái đó dễ thương. Nhưng đã hứa hôn, tháng này về nhà chồng. Con gái đẹp trong thiên hạ hiếm gì! Con khỏe rồi, mẹ sẽ chọn cho con một đám, con thật chẳng ra gì, chuyện đó thì đáng sá gì?” “Cô ta về nhà chồng còn do con...”. Con trai thều thào. Bà cụ lạ lùng hỏi: “Vì con?”

Đã nghe hiểu ra đầu đuôi, Cao Sĩ Kỳ chau mày suy nghĩ, cảm thấy quả thật là vấn đề nan giải. Nhưng thấy Hàn Xuân Hòa nói vẻ bẽn lẽn: “Cô ta... đã có mang”.

“À...” Bà Hàn Lưu từ từ đứng lên, như tự nói với mình, “Té ra là vậy, hóa ra là ta đã có cháu rồi...”. Bà nhìn ra cây thạch lựu ngoài cửa sổ, hồi lâu mới cười nói, “Cháu ta không thể để họ coi thường, việc này để mẹ lo!” Cao Sĩ Kỳ nghe bà nói quyết đoán như vậy, trong lòng hơi kinh ngạc, nhìn lại Hàn Xuân Hòa, anh đã thở phào, sắc mặt người bệnh đã ánh lên một chút sắc máu, tiếp theo là mấy tiếng trung tiện hạ khí thông, vốn là âm thanh tốt lành của thầy thuốc.

Ăn sáng xong, bà Hàn Lưu sai người đem đến cho Cao Sĩ Kỳ một bộ quần áo mới để thay, bà đánh lửa châm thuốc hút, cười nói, “Uổng cho Cao tiên sinh, tài học đã cao, y đức càng cao, đã thấy bao nhiêu cử nhân vào kinh, nhưng không ai bằng anh. Bà già này suy nghĩ kỹ, muốn nhờ anh giúp cho một việc, không biết có được không?” Cao Sĩ Kỳ mặc bộ quần áo mới toanh, mặt mày hồng hào, lau mồm cười nói: “Có việc gì, bà cứ nói!” Bà cụ nhìn xung quanh không thấy có người liền ghé tai Cao Sĩ Kỳ, vừa nói vừa ra bộ một hồi:

“Tuyệt diệu!” Cao Sĩ Kỳ vừa nghe vừa gật đầu, chưa nghe xong đã vỗ tay cười lớn: “Cao tôi đọc sách được thấy nhiều rồi, nhưng chưa hề làm việc thú vị thế này. Bà nếu là đàn ông thì có thể làm tướng lĩnh kinh lược, nhưng chỉ vì một cô gái, thì cũng uổng cho kế sách này!” Bà cụ cười khanh khách nói: “Đừng chọc tức bà già này, vì con cái, đành phải làm vậy thôi. Anh là cử nhân, là người có công danh, bọn chúng làm gì được anh. Đương nhiên người khác cũng làm được, bị đưa lên quan đánh cho một trận, là không tránh khỏi, vì con trai là một lẽ, nhưng trong bụng con dâu còn có cháu, một lần cứu ba người, âm đức này đáng để anh giành được chức Hàn lâm đấy!” Cao Sĩ Kỳ nghe nói rất mừng, bưng chén rượu còn dở, “ộc” một tiếng uống cạn, rồi chắp hai tay lại nói: “Được, xin nghe theo bà!”

Hành động của bà Hàn Lưu nhanh đến kinh người, chỉ chuẩn bị hai ngày mọi việc đều ổn thỏa. Ngày hôm đó trời vừa tối, đống rơm trên sân kho vụ thu nhà viên ngoại họ Châu phía tây trấn Tùng Chủng bỗng nhiên bốc cháy, ngọn lửa đỏ rực cả một góc trời. Nhà họ Châu như bịt tai nghe trống đâu biết đó là kế độc? Sân trước sân sau trừ người già đàn bà yếu ớt, đều đổ hết ra ngoài, kẻ xách thùng nước, người bưng chậu thau, bình lọ, đổ xô đi cứu hỏa, phèng la đánh vang động khắp trời. Bất ngờ không kịp đề phòng, bà Hàn Lưu tự dẫn hơn ba mươi gia đinh mạnh khỏe trong nhà, nhân đám người hỗn loạn, đưa mười chiếc kiệu tre nhẹ đã thuê trước 25 lượng bạc, trang hoàng sặc sỡ, xông vào cửa chính nhà họ Châu đi thẳng tới nhà sau, bắt cô dâu Thái Tú đang có bầu đưa lên kiệu khênh đi. Mấy bà già nhà họ Châu bước lên ngăn lại, đều bị số gia đinh mang gậy gộc bảo vệ kiệu đẩy cho ngã nghiêng, rồi tránh đường đi mất.

Mười chiếc kiệu nhỏ nhẹ vừa ra cổng lớn đã chia hai đường. Một đường về nam, một đường sang tây, vội vàng đi theo lộ trình bà Hàn Lưu đã sắp xếp kỹ lưỡng, riêng chiếc kiệu Cao Sĩ Kỳ ngồi từ Tùng Chủng đi một vòng rồi trở về phủ Hàn, đổi chiếc kiệu thuê ban ngày từ thành tới, đèn đuốc đốt sáng trưng cứ theo đường quan từ từ tiến lên phía bắc.

Lần cướp cô dâu này trước sau không tàn một điếu thuốc, nhưng mọi mục đích đều đạt được. Phu khênh kiệu người nào cũng trẻ trung vạm vỡ, cơm ăn no, cho tiền đủ, thì đi đã nhanh lại vững, một chia thành hai, rồi một chia thành hai nữa, càng rẽ đường càng đi nhanh, đã mất hút trên những con đường rẽ lờ mờ trong đêm tối. Thân hào họ Châu không ngờ kế điệu hổ ly sơn, cứ tưởng là thổ phỉ bắt cóc tống tiền, trở về nhà mới biết việc xảy ra như vậy, tức giận đùng đùng quát mắng gia nhân tìm cách truy bắt. Mãi tới lúc trời sáng mới chặn được một chiếc kiệu, còn những chiếc khác đã biến mất tăm như chui xuống đất vậy.

“Đưa vào đây!” Thấy kiệu bị giải vào sân, thân hào Châu giận tức điên lên quát bảo. Thời trẻ ông có lần làm tri huyện, nói năng cũng còn giữ khẩu khí nhà quan. Bà vợ ngồi bên mặc áo bông, sắc mặt trắng bệch, hai mắt như khờ, ngồi ngây không nói không rằng.

Kiệu đặt xuống đất, Cao Sĩ Kỳ khom lưng bước xuống, nhìn thấy cảnh tượng này, ban đầu ngơ ngác, hít vào một hơi rồi quay mặt nhìn chằm chằm thân hào Châu, lấy giọng nhà quan không nam không bắc nói: “Đây là đâu? Đã nghe nói bọn Lưu Thiết Thành ở Sơn Đông thường quấy nhiễu vùng này, cứ tưởng là bọn cướp đường, làm ta sợ phát khiếp! Thế nào? Cướp kiệu của ta để làm gì, hả?”

“Ông... là ai?” Thân hào Châu không ngờ trong kiệu lại là người đàn ông, thấy Cao Sĩ Kỳ đội mũ thêu hoa bạc dát vàng, là một hiếu liêm đường bệ, bất giác đâm hoảng.

“Ông lại còn hỏi ta là ai!” Cao Sĩ Kỳ nheo mày nói: “Ta chẳng hiểu chuyện gì, còn đang định hỏi tiên sinh là ai vậy đó!”

Thân hào Châu mặt trắng bệch, nghiến răng cười nhạt, quan sát bộ mặt Cao Sĩ Kỳ chưa hề quen biết, nói: “Một tên cử nhân, thông đồng với quân cướp đang đêm vào nhà dân cướp đoạt gái dân! Công danh, cái đầu đều không cần nữa sao?”

“Chà!” Cao Sĩ Kỳ nghển cổ, “Cũng chẳng biết ta là ai, mà dám vu vạ?” Thân hào Châu lấy tay chỉ cái kiệu hỏi: “Tôi hỏi ông, cái kiệu này từ đâu tới?” Cao Sĩ Kỳ nhìn lại chiếc kiệu, thân kiệu bọc vải đỏ, giá đỡ đen bóng thêm đôi gọng vàng, là một chiếc kiệu ấm thông thường, liền vỗ ngực trả lời: “Ông tra bắt cướp hay là hỏi chuyện? Ông đây không muốn trả lời! Lẽ nào cử nhân vào kinh không được đi chiếc kiệu rách này?”

Nghe nói như vậy, thân hào Châu liền ngập ngừng: Nghe giọng nói, tên hiếu liêm này không phải người địa phương, phu khênh kiệu đều thuộc cửa hàng cho thuê kiệu Hàm Đan, quả là bắt sai một cử nhân vào kinh đi thi, việc này gây phiền phức to đây. Thân hào Châu suy đi nghĩ lại không biết cách nào, hai chân mỏi nhừ, ngồi bệch xuống ghế, im lặng, sắc mặt xanh xám. Cao Sĩ Kỳ đã nhìn thấy vị thân hào cổ hủ này nông nổi bộp chộp, bất giác cười thầm trong bụng, giọng nói cứng rắn thêm, anh nghiêm giọng quát: “Phu kiệu đâu, không đi ra bắc nữa, khênh kiệu trở về phủ Hàm Đan! Xem thử ai dám cản đường ta?” Nói xong vén vạt áo bước lên kiệu còn quay đầu lại cười nhạt nói: “Thân hào lão gia, biết điều một tý, cùng đi với ta, đừng để trát quan tới đòi!”

“Ôi chao...” thân hào Châu hoảng lên vội nắm tay kéo Cao Sĩ Kỳ, mãi một hồi lâu mới cười khan nói: “Hiểu lầm... hiểu lầm rồi... Kẻ dưới không biết gì, tưởng là cô gái ngồi trên kiệu... làm kinh động túc hạ”.

“Tôi mặc kệ việc của ông, tôi phải đi rồi”, Cao Sĩ Kỳ nói, “việc này chưa xong đâu, lệnh ái bị thổ phỉ bắt đi rồi, thì ông phải chặn đường cướp bóc sao?” Nói xong vùng vằng ra bước lên kiệu.

Bà phu nhân có vẻ biết việc, thấy Cao Sĩ Kỳ không tha, vội đứng lên vái một cái, nói: “Bọn nô tài vô cớ làm tiên sinh hoảng sợ, bà già này xin cáo lỗi với tiên sinh, xin mời ngồi, đem trà lên đây!”

“Không phải như vậy”. Cao Sĩ Kỳ thấy đối phương nhũn trở lại, liền xuôi chiều, gượng cười nói: “Tôi làm sao để mất mặt như vậy được?”

Câu nói đã nhắc thân hào Châu, hắn càng không thể để cho thư sinh này đi. Thân hào Châu là người danh giá, vạn nhất câu chuyện này truyền lan ra ngoài thì nhất định là không tốt, liền cười lấy lòng nói: “Vừa rồi lão già này nôn nóng vô lễ, tiên sinh đừng trách...”. Vừa nhường đường mời vào nhà giữa, vừa hỏi: “Xin tiên sinh cho biết quý danh, quê quán?”

“Cao Sĩ Kỳ, tự Đàm Nhân, hiệu Giang Thôn, người Tiền Đường!” Cao Sĩ Kỳ không chịu thua kém, “Nhà tuy thanh bạch không có vốn bạc triệu, nhưng phẩm hạnh cao quý trong sạch, cả họ không có trai phạm pháp, nhà không có gái tái hôn, thế nào? Còn định trị tôi tội cướp bóc nữa không?”

Những lời này thân hào Châu và phu nhân nghe ra lời nào cũng như dao chém. Thân hào Châu mời Cao Sĩ Kỳ ngồi ghế đầu, nhẫn nhục nghe những lời móc họng, chỉ nhỏ nhẹ mời rượu: “Mời, mời dùng rượu, trước hết dùng đồ nguội, một lát nữa xin mang đồ nóng lên. Tôi rót một ly, trước hết để giải sợ cho tiên sinh!” Người nhà thấy ông chủ bắt vị thư sinh mà không làm được gì, tỏ ra cụt hứng đều bỏ đi.

“Không phải học trò tò mò”, Cao Sĩ Kỳ uống đến lúc cao hứng, nheo mắt cười nói: “Việc này làm thế nào mà lệnh ái khi không lại...”. Thân hào Châu mặt đỏ lên tận mang tai, chống đùi thở dài không lên tiếng. Bà phu nhân đứng lên đi vào phòng lấy ra một cái túi đặt trên bàn mở ra đẩy tới trước mặt Cao Sĩ Kỳ, mười thỏi bạc, có đến hai trăm lượng bạc thẻ, Cao Sĩ Kỳ hoảng kinh hỏi: “Đây là có ý gì vậy?”

“Một chút đỉnh”. Bà phu nhân nói, “Một là đã làm kinh động đến tiên sinh, hãy cầm lấy mua chút gì bồi bổ; hai là tôi thấy tiên sinh rất có tài, muốn mời tiên sinh giúp tính toán cho”. Cao Sĩ Kỳ rất hiểu rõ, cái gọi là “giúp” nghĩa là kín miệng không nói ra ngoài, cứ như kiến thức bà phu nhân này, so ra với ông già râu này thì thông minh hơn nhiều. Anh suy nghĩ một lát, rồi đẩy số bạc, cười nói: “Xin bà yên tâm, tôi làm sao dám phá hoại danh giá người ta? Bạc tôi không dám nhận, bà muốn bàn bạc việc gì cứ nói xem!”.

Bà phu nhân thấy Cao Sĩ Kỳ nửa đẩy đi, nửa muốn nhận số bạc, mới yên tâm than rằng: “Nói ra cũng là oan nghiệt, đứa con gái thứ ba mất nết của tôi, năm trước đi xem Hội miếu, không biết thế nào lại quan hệ với đứa con nhà họ Hàn. Ban đầu cũng không biết, sau thấy bụng to lên, gạn mãi mới chịu nói ra...” Nói xong, bà liếc nhìn chồng, thân hào Châu thẹn mặt đỏ như gấc, hiềm không có lỗ nẻ mà chui xuống đất. Bà phu nhân nói tiếp: “Ông lão trước thì nói cho nó chết. Anh nghĩ thử xem, con nó có mang, mà chết thì chết hai người; để cho nó sinh, con gái chưa chồng mà sinh ra đứa con, thì ông già cũng tức mà chết; phá thai ư, đã muộn rồi, theo lệ cũ muốn sinh con phải nhanh chóng gả đi...” Thân hào Châu đã bưng mặt nói như khóc: “Bà nói ít đi một chút!” Bà phu nhân trừng mắt nhìn chồng nói: “Có sao đâu, bây giờ không thể xem Cao tiên sinh là người ngoài, nếu không sau này càng chịu thiệt thòi!”

Bà phu nhân thành thật như vậy, mà Cao Sĩ Kỳ nghĩ đến mình lời nào cũng nói dối, bỗng thấy động lòng, bất giác cảm thấy thẹn, anh nghiêng người tới trước, nói nhỏ: “Cụ nói tới đây, học trò xin nói với cụ một câu, cô gái này gả cho nhà người khác có thích hợp chăng?” Bà phu nhân than thở “Tôi vốn cũng nói như vậy, nhưng ông cụ cứ gân cổ không chịu!”

“Con trai nhà họ Hàn chẳng phải bệnh hay sao!” Ông thân hào chống chế một câu.

“Lúc đó vẫn chưa bệnh tới vậy”. Bà phu nhân gạt nước mắt, nói bình tĩnh, “Ông cụ nhà tôi là người chính phái, chỉ phải hơi cổ lỗ. Nhà họ Hàn là người ngoài tỉnh đến, không nắm được kỹ lưỡng về gia thế, con họ thì bệnh không biết sống chết thế nào, làm sao dám đem con gái khuê các đi làm bà góa người ta? Cao tiên sinh ơi, việc đó quả rất khó cho chúng tôi!”

Cái “tức” của Cao Sĩ Kỳ lúc này đã tiêu tan hết sạch, nghe bà phu nhân nói những lời này, anh gắp một đũa sứa bỏ vào mồm nhai rào rạo, anh ngơ ngác một hồi, cười nói: “Việc đã đến nước này, con gái gả cho nhà khác, muốn dứt không dứt được. Bà thương con gái, không ngờ cô ta có bầu bảy tám tháng, hễ vào nhà chồng là sinh, nhà chồng đâu chịu thừa nhận, cả một đời đừng mong ngẩng đầu, đó mới gọi là sống tội vạ!” Thân hào Châu thô lỗ cãi lại: “Bây giờ ta cũng nghĩ ra rồi, thì đã muộn, bây giờ con gái bị người ta cướp đi mất. Vậy thì người nào cướp đi?” Cao Sĩ Kỳ giả vờ khuyên giải: “Mẹ nào chẳng thương con, thiên hạ đều như vậy. Không dấu gì hai cụ, tôi có biết chút ít nghề thuốc, ông Cao tổ là đệ tử ruột của Lý Thời Trân. Xin nói cho bà cụ biết một câu, thiên hạ chỉ có tâm không chữa được, chứ không có bệnh không chữa được. Tôi suy đoán, theo kiểu này, lệnh ái hay là bị nhà họ Hàn cướp về làm việc hỉ để trừ tà khí, vì bệnh của công tử họ Hàn có thể vì lệnh ái mà sinh ra. Vậy thì, tôi dứt khoát cùng bà đi một chuyến tới nhà họ Hàn, một là dò xét động tĩnh, xem có phải nhà họ cướp người không, hai là chữa bệnh cho Hàn công tử nhà họ, nếu chữa được, thì là rể quý nhà ta. Cái việc xấu xa này có thể xem như cho qua, ông bà xem thế nào? Lúc đó ông bà chớ quên cảm ơn tôi đó!”

“Đàm Nhân tiên sinh quả thật là người lanh lợi nhanh miệng nhanh mồm! Chữa khỏi cho Hàn Xuân Hòa, tôi sẽ đưa thêm ba trăm lượng nữa để tạ!” Thân hào Châu nghe nói không nhịn được cười, rồi lại than, “Thực ra trong ba đứa con gái ta thương nhất vẫn là con Thái Tú này nhưng nhà họ Vương mới hứa gả cho họ thì làm sao từ hôn đây?” Cao Sĩ Kỳ cười nói: “Cụ tiên sinh quả là suy nghĩ quá nhiều. Chuyện ầm ĩ hôm qua làm cho bốn chung quanh đều biết, nhà họ Vương sợ e thoái hôn không kịp chứ, còn phải để cụ đi từ hôn!”

Màn kịch vui cướp vợ đã kết thúc như vậy đó. Nhìn thấy rêu phong lên xanh màu, sông Kiềm Dương nước ấm vịt trời tung tăng, hoa hạnh nở hoa nhụy trắng, cây liễu toát vỏ vàng tươi, đã là tháng hai năm Khang Hy thứ 18. Hội ngày rồng cất đầu năm đó thôi thúc mọi người, chung quanh mấy mươi dặm, thiện nam tín nữ nườm nượp đi lễ. Cao Sĩ Kỳ đã tính đến chuyện tiến kinh. Mặc chiếc áo kép màu xanh da trời, không đội mũ, mái đầu bóng loáng, bím tóc thả dài đến thắt lưng kêu lào xào, anh luồn lách vào trong đám người đông đúc. Xem hát một chặp, xem bán thuốc một chặp, thấy trên sàn diễn chỉ là màn “Phòng mây mười lần thử Lã Động Tân”, cảm thấy nhàm chán, anh bèn đến Tiền Mộng Đường, đứng xem cá trong bể phóng sinh bên cạnh bia thần đạo, suy tính nước cờ sẽ đi sau khi tiến kinh.

“Khó thật!”, anh đập vào ngực mình nghĩ thầm: “Nếu chỉ dựa vào tài năng thực sự, nếu chỉ xét từ văn chương thì việc gì mình phải cầu lụy đến ai? Biết làm sao được, những vị quan lớn tại chức Minh Châu, Sách Ngạch Đồ đều dám đưa tay vào quan tài đòi tiền! Một ngàn lạng bạc hai nhà Châu, Hàn cho, e rằng chẳng đủ nhét kẽ răng cho họ! Cho dù may mắn thi đậu, thì nhiều lắm chỉ với tới chức tri huyện, không biết chừng chỉ là một tên thừa phái, không bằng ta làm nghề bốc thuốc, bán tranh chữ!” Anh lắc đầu cười chua chát. Gió khẽ lay mặt nước hồ xuân, phía bờ bên kia, hoa hạnh như tuyết, tơ liễu như mưa, phong cảnh tháng hai quả là rung động lòng người. Anh nghĩ tìm ý thơ, thấy trên bức tường trắng giữa những tấm bia chỗ nào cũng có người đề thơ, anh vội đi tìm tiểu đạo sĩ hỏi mượn bút mực, vừa đi, vừa xem, thấy thơ là phê, quay qua quay lại chỉ phê có ba chữ “rắm chó thối”, “thối chó rắm”, “chó rắm thối”...

Phê đến hàng bia phía bắc, thì có hai bài thơ đáng chú ý. Một bài viết:

Khói mây bờ liễu ý mơ màng

Mù mịt quay đầu nhớ cố hương

Son phấn tẩy xong còn nét kẻ

Mũ quan cởi bỏ dấu kê vàng.

Cầu tiên khó cứu khổ trần gian

Độ thế đâu cần khách phấn son

Đặc biệt không kham đời đói lạnh

Ngâm xong lòng những luống bàng hoàng.

Tiếp theo là một bài thơ tứ tuyệt:

Phú quý vinh hoa mấy chục thu

Xem ra giấc mộng cũng phong lưu

Mà nay lếch thếch Hàm Dương đạo

Cùng bạn bên nhau mượn gối đầu.

Khoảng không phía dưới có mấy chữ: “Trần Hoàng Tiền Đường”, chữ mực đậm nét, kiểu thể Nhan viết rất thoải mái. Cao Sĩ Kỳ cố nhớ lại, trong số người mình quen biết không có ai tên “Trần Hoàng”, đang định đặt bút phê thì phía sau có người cười nói: “Cao Giang Thôn, bút phê phải nể tình một chút chứ!”

Cao Sĩ Kỳ quay đầu lại nhìn, người mới đến khoảng hai sáu, hai bảy, người gầy đen, nhưng đôi mắt sáng quắc, rất có hồn. Chàng ta mặc một chiếc áo dài lụa hoa xanh, hai tay chống nạnh, chân dạng rộng đứng mỉm cười.

“... Hả... túc hạ... là Trần Thiên Nhất đó hả!” Cao Sĩ Kỳ hơi ngập ngừng, bỗng nhận ra, anh gác bút cười lớn nói: “Làm sao mà đen như thế này! Trần Hoàng là tên thật của anh, bây giờ tôi mới nghĩ ra! Thế nào, lại ông anh bắt phải vào kinh tìm công danh chứ gì?” Trần Hoàng cười nói: “Ông anh bây giờ cũng nghĩ ra rồi, xem ra cuộc đời tôi là ngũ hành thiếu nước, cả đời không rời khỏi sông. Lập đức, lập công đều không thành, nên đành phải lập ngôn. Tôi đã khảo sát xong kênh Vận Hà nam bắc, định vài ngày nữa sẽ từ Nương Tử Quan vào Tấn, đến thị trấn Hà Khúc xuôi theo Hoàng Hà về nam. Cuốn Hà phòng yếu thuật của tôi còn thiếu một số chỗ, ví như muốn làm trong nước sông Hoàng Hà thì phải tìm cho ra căn nguyên cội nguồn...”.

Nói đến đi thi, Trần Hoàng chau mày nhăn mặt, nhưng nói đến tác phẩm của anh, nói đến trị thủy, thì anh chàng đen gầy này lại cười nở mày nở mặt, thao thao bất tuyệt, “... ra vào khanh tướng là việc của những người như ông anh Giang Thôn. Còn tôi, chỉ đáng làm một con chuột nhắt”. Cao Sĩ Kỳ cười hì hì, nghe xong mới nói: “Công lao sự nghiệp vua Vũ để tiếng ngàn thu, tôi đâu dám coi thường anh! Cứ kiểu này, xem ra anh sống làm hà bá, chết làm thủy thần. Từ chỗ lệnh huynh, tôi đã mượn đọc cuốn sách của anh rồi, quả thật là những lời quan trọng cứu dân trị nước. Về việc trị thủy tôi chẳng biết chút gì, nhưng anh đã nói cái điều chưa ai nói, đã phát ra việc chưa ai thấy, riêng chỗ nhắc nhở đó cũng đáng phải tấm tắc ngợi khen!”

Trần Hoàng quan sát kỹ Cao Sĩ Kỳ, rồi nói: “Thật không dám nhận ra anh rồi, một anh chàng thư sinh lụn bại bây giờ trở nên hào hoa như vậy!” Bây giờ Cao Sĩ Kỳ mới thuật lại việc chữa bệnh cho nhà Hàn Lưu, nhưng lại dấu đi đoạn cướp cô dâu nhà họ Châu. Xong lại hỏi: “Xem thơ anh, nào là “nhớ quê hương”, nào là “lưu lạc”, “mượn gối”. Bây giờ lòng anh đã toại nguyện, cầu nhân được nhân thì còn oán trách cái gì? Còn kêu ca nỗi gì?” Trần Hoàng ngẩn tò te một hồi, rồi mới cười nói: “Không dấu gì ông anh, hành trình còn xa mà lộ phí đã cạn, làm sao mà không buồn?”

“Cứ để tôi lo!” Cao Sĩ Kỳ cười, “Trong lưng không có tiền thì không dám làm ngang, rốt cuộc anh vẫn mang tính công tử. Hãy xem ta Cao Sĩ Kỳ, trong người không có một đồng, chẳng đã từng từ Triết Giang đến đây hay sao? Đi, cùng tôi đi tới nhà họ Hàn, bảo họ dành cho một phòng trống, ông anh cứ nghỉ ngơi thoải mái, cũng xem qua những bài khảo sát, di dưỡng tinh thần rồi, tôi bắc anh tây, mỗi người đi theo con đường của mình”.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.