Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 11
11
Người sa sút đường cùng gặp quyền quý
Kẻ sĩ phong lưu thất ý gặp người tình
Trang trại của Minh Châu mới được ban thưởng nằm ở chếch phố Cây Hòe, vốn là nơi nghỉ mát tại kinh sư của Phúc vương nhà Minh trước. Phủ Phúc vương ở tít Lạc Dương, theo luật nhà Minh các vương không có công việc không được phép về kinh, cho nên trang trại này thực ra bỏ vắng thường xuyên. Nói về quy mô và sự hoa lệ của nó thì tám vương phủ hàng đầu của kinh sư khó lòng bì kịp. Trước năm Khang Hy thứ 8, do Ngao Bái nắm quyền, người ta sợ cây to gió cả không ai dám hỏi đến. Sau năm Khang Hy thứ 10 có mấy vị vương gia muốn thỉnh chỉ vào ở đó, nhưng vô cớ đồn rằng có ma. Hiện nay nhà cửa lâu đài chạm trổ, cây cối um tùm rậm rạp, nhưng không người nào dám ở đó. Chỉ riêng Minh Châu không sợ ma quỷ, sau khi tâu với Khang Hy, ông đến đó ở. Kể cũng lạ, từ khi Minh Châu ở đó, không thấy ma quỷ nữa.
Biết Khang Hy muốn tới gặp Cao Sĩ Kỳ, Minh Châu về phủ, việc đầu tiên là sai người sửa sang phủ đệ, đem các thứ đồ quý như tấm gương soi pha lê to, đồng hồ chuông dát vàng, chuỗi hạt châu như ý làm bằng ngọc, con ngựa bằng ngọc tráng vàng đều chuyển hết vào nhà kho sau vườn hoa. Rồi ra chợ phía xưởng pha lê mua bát nháo mấy chục hòm sách cũ về bày biện tại nhà trước, bận rộn mãi đến giờ Thìn ngày hôm sau mới tạm coi vừa ý. Lúc đó Minh Châu mới nghĩ tới từ khi trở về mãi chẳng thấy Cao Sĩ Kỳ đâu, bèn sai người đến thư phòng gọi con trai Tính Đức tới hỏi chuyện. Ông mệt mỏi ngồi đó mới vừa hớp một ngụm trà, ông già Vương gác cổng đưa vào một tấm thiếp bẩm rằng: “Thưa quan lớn Trung đường, có Trung thừa Cận Phụ tới thăm!”
“Mau mời vào!” Minh Châu chống bàn đứng dậy, vừa ra đến sân thấy Cận Phụ đã vào cổng trong. Minh Châu mặt cười tươi như hoa, vòng tay nói: “Anh Tử Hoàn, lâu ngày không gặp! Từ khi chia tay nhau tại phủ Phượng Dương năm Khang Hy thứ 12, chốc mà đã năm năm, người anh em này rất nhớ nhung”. Thấy sau lưng Cận Phụ còn có một cô gái áo vải quần thô và hai cậu bé còn để chỏm liền hỏi: “Hai vị này là...”.
“Chúng ta vào nhà sẽ nói”. Cận Phụ đáp, Minh Châu thấy Tính Đức đi tới liền đưa mắt ra hiệu đợi dưới nhà ngang, rồi quay mặt lại cười nói với Cận Phụ: “Ông anh, ngơ ngác cái gì vậy? Mời, mời vào, đem trà đại hồng bào Thánh thượng ban cho pha thành bốn chén, rồi gói một bọc tặng cho Cận đại nhân!”
“Tử Hoàn”, Minh Châu vừa tự mình bưng trà cho Cận Phụ và Lý Tú Chi vừa cười nói: “Anh đến mấy lần tôi đều không có ở nhà, thật tình xin lỗi, thiệp không dám nhận, đành phải trả lại. Có điều ông anh ông cứng nhắc quá, nếu để lại địa chỉ nơi ông ở, lẽ nào tôi không đi thêm mấy bước tới thăm ông? Đã gặp Thánh thượng chưa, có ý chỉ gì chưa?” Vừa nói vừa liếc nhìn Lý Tú Chi, quan tâm hỏi: “Bà cứ dùng trà đi, đừng khách sáo”.
Cận Phụ thấy Minh Châu ân cần hiếu khách như vậy, cảm thấy an lòng, cười nói: “Thánh thượng đã triệu kiến ba lần, vì bận nên chưa nói hết chuyện, lệnh cho tôi ở lại kinh sư thêm mấy ngày...” Rồi kể lại đại khái tình hình mấy ngày từ lúc về kinh, và cũng đem chuyện ba mẹ con Lý Tú Chi kể lại cho Minh Châu nghe.
“À... tốt, tốt!” Minh Châu nói úp úp mở mở rồi ngồi xuống, hai tay bưng chén trà, ngẩn ngơ hồi lâu, rồi hỏi Tú Chi: “Bây giờ bà tính thế nào?”
“Tôi cũng chưa biết nữa...” Tú Chi cúi đầu lau nước mắt nói.
Cận Phụ trầm ngâm một chặp, nói: “Tấn Khanh không chịu nhận, bà ta lại không có chứng cứ gì, việc này thật khó. Nếu làm kinh động Hoàng thượng thì hơi quá ngặt với Tấn Khanh, Tú Chi cũng không nỡ làm vậy nếu thực không cách nào khác, thì đành tạm đưa về nhà mẹ...”.
“Việc này anh Tử Hoàn khỏi phải lo, một tay Minh Châu đệ xin chu tất!” Minh Châu đã quyết ý liền nói, “Việc này cần chứng cứ gì nữa? Giờ đây Lý Tú Chi chẳng phải là nhân chứng? Bài thơ Tấn Khanh viết chẳng phải là vật chứng sao? Anh xem hai đứa trẻ này, thật đáng thương, quả thật như in là hai Lý Quang Địa bé!” Lời chưa dứt, Lý Tú Chi đã không nhịn được, nàng khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Minh Châu không để ý, kêu to: “Già Vương, gọi quản gia tới đây!” Cận Phụ và Lý Tú Chi hoảng hốt nhìn nhau, không hiểu ông Minh Châu này định làm trò gì, đang suy nghĩ thì lão quản gia đã chạy vào, chào mọi người rồi hỏi một cách cung kính:
“Ông chủ có gì sai bảo?”
“Ở Thông Châu có một trang trại mới mua phải không?”
“Vâng ạ, đã giao cho ta rồi, ba lần cửa, ba cái sân, đằng sau còn có một vườn hoa nhỏ...”.
“Được rồi”. Minh Châu cắt ngang lời hắn, chỉ Tú Chi nói: “Đây là phu nhân của Lý Bộ Đường. Trang trại đó cho bà ở. Ngươi sai hai mươi nô tỳ, ba bà già đi theo hầu. Mỗi tháng theo lệ của phu nhân đưa sang 40 lạng bạc, hãy coi chừng việc này để lộ người khác biết, thì ta lột da ngươi trước!”
Cận Phụ mở to mắt nhìn nét mặt vui vẻ của Minh Châu. Ông đã nghe nói Minh Châu cởi mở, rộng lượng, coi nhẹ tiền tài, thích giúp mọi người, nhưng mới gặp lần đầu đã hậu đãi như vậy, có phải là hơi quá chăng? Lý Tú Chi ngước cặp mắt ướt đẫm nước, ngạc nhiên nhìn qua Cận Phụ, nàng đứng dậy sửa sang quần áo nói: “Thưa Minh Trung đường, không thể như vậy được! Tôi đến để nhờ vả Lý Quang Địa, hai đứa trẻ này là giọt máu của anh ta, anh ta không thể bỏ mặc. Tôi xuất thân hèn mọn, không có số hưởng phúc, làm thế tổn thọ tôi mất...”.
“Chị không nên nói như vậy, Minh Châu tôi cũng từng đi ăn xin, nấp bóng người ta không hay ho gì!” Minh Châu thở dài nói: “Quang Địa không phải là người vô lương tâm, bây giờ không dám nhận mẹ con chị nhất định ông ta cũng có khó khăn. Trước mắt ông ta sắp làm đại học sĩ, không thể vì việc này mà hỏng việc, thôi như vậy thì nhà cửa và người hầu coi như Minh Châu tôi cho chị mượn, chị cũng không nhờ vả gì ở tôi, sau này tôi sẽ tính toán với anh Tấn Khanh. Nhưng chị đừng nóng vội. Dần dà tôi sẽ nói chuyện với anh ta. Anh ấy trẻ tuổi, tân tiến, đang là lúc cần giữ thể diện, bức bách lắm sẽ làm hỏng việc, cũng không vừa ý chị! Tử Hoàn huynh cũng ở đây, tôi đã nói rõ rồi, hai người nên yên tâm”.
Những lời nói vô cùng xúc động, vừa che đỡ cho Lý Quang Địa, vừa chu toàn cho mẹ con Lý Tú Chi, lại thanh minh mình không có ý đồ gì, Cận Phụ nghe như xói vào trong tim, ông gật đầu nói: “Không ngờ tể tướng Minh Châu lại nhiệt tình như vậy!” Lý Tú Chi đã cùng hai đứa trẻ quỳ mọp xuống đất, khóc òa như mưa.
“Không thể giữ lâu Tử Hoàn huynh ở đây”. Minh Châu ngước đầu nhìn trời, đã là giờ Ngọ, rất sợ Khang Hy tới bất ngờ gặp việc này sẽ không hay, bèn cười nói: “Bây giờ anh về, hai ngày sau, tôi sẽ tới thăm anh, nhất định sẽ phải có mấy chén! Nghe nói ngoài cửa còn thu của anh hai trăm lạng bạc, tôi đã tra xét việc này, những tên chó má này chẳng ra thể thống gì! Xin anh hãy nhận lại, ở kinh sư cần dùng nhiều tiền lắm!” Nói xong, đưa ra một tờ ngân phiếu. Cận Phụ đâu chịu nhận, nhân thấy Minh Châu còn bận việc, liền cười nói: “Thưởng cho gia nhân uống trà vậy”.
Sắp xếp cho ba mẹ con Lý Tú Chi xong, Minh Châu thở phào nhẹ nhõm, rồi mới gọi Tính Đức vào hỏi: “Chú Cao con đâu?”
Nạp Lan Tính Đức mới để đuôi sam không lâu, cậu ta mặt trắng môi son ăn mặc chỉnh tề khom người đứng đợi. Từ khi Cao Sĩ Kỳ đến đây, hàng ngày Tính Đức bâu theo ông đòi giảng thơ từ cổ văn, hai người giống như bạn tâm giao không rời nhau nửa bước. Cậu ngước đầu nhìn cha, nói nhỏ nhẹ: “Hôm qua chú Cao, bác Từ dẫn con đi xem chợ hoa. Sau chú Cao bảo bác Từ lấy kiệu đưa con về, nói là có việc phải ở ngoài một ngày, xế hôm nay mới về!”
Cao Sĩ Kỳ thường như vậy, không có gì lạ, Khang Hy cũng chưa chắc hôm nay đến. Minh Châu không hỏi nữa, chỉ nói: “Chợ hoa có gì đáng xem mà đi tới một ngày? Còn bác Từ đâu?” ‘Bác Từ’ tức là Từ Càn Học, trạng nguyên khoa thi trước, do đến phủ nhiều lần, nên cũng như người nhà. Nghe cha hỏi, Tính Đức vội nói: “Bác Từ phụng chỉ đến chùa Phật Lớn thăm hai vị tiên sinh Cố Viêm Vũ và Phó Thanh Chủ. Trở về lại hẹn với quân môn Mục Tử Húc cùng đi gặp Thi Nhuận Chương, Đỗ Nạp, nói là đi một lát về ngay...”.
“Ôi chao, thừa tướng Minh!” Hai cha con đang nói chuyện với nhau thì từ cửa thứ hai đã vang vọng tiếng Từ Càn Học cười sang sảng, “Làm sao mà trong một đêm phủ ta đã thay đổi như thế này? Nếu không có hai con sư tử bạch ngọc to trước cổng thì vãn sinh ngại đã bước nhầm vào nhà ai rồi chăng!” Nói xong đã vén màn bước vào, vừa chắp tay làm lễ vừa nhìn lên bốn phía, “À, sách chất đầy giá, bút mực đầy phòng, quả thật làm đắm say lòng người...”.
Tướng mạo Từ Càn Học rất bình thường, mắt cá vàng, mũi mỏ ưng, những chiếc răng vẩu ra ngoài bị khói thuốc hun đen kịt, cái kính gọng đồi mồi có dây buộc thả thòng trên vạt áo lắc la lắc lư, khi nói chuyện thì hai hàm râu chuột mấp ma mấp máy, càng nhìn càng mất cảm tình. Ai đã nhìn thấy bộ mặt ông ta cũng đều nghĩ rằng: “Tướng người như vậy sao có thể là một trạng nguyên?” Nhưng ông ta đích thực sự là tiến sĩ đứng đầu nhất giáp, là trạng nguyên, học vấn, văn chương không có gì phải nói.
“Ngồi đây!” Minh Châu phủi phủi mép sạp, khoát tay ra hiệu cho Tính Đức lui xuống, rồi vội nói: “Đến phủ Hà Quế Trụ hội văn hả? Bọn Thi Ngu Sơn thế nào? Lý Quang Địa là hàng xóm của Hà Quế Trụ, chắc cũng nhân tiện đến xem chứ!”
Từ Càn Học đánh lửa, hít một hơi thuốc kêu rột rột, xong mới nói: “Phu nhân Hà Quế Trụ mất rồi, việc tang phía trước làm rất ồn ào, vườn hoa phía sau hội văn không thành, nói chuyện một hồi rồi giải tán. Hai vị tiên sinh này không bằng hai vị chùa Phật Lớn, hai người Thi, Đỗ lại rất vui thích, còn nói, ‘dù không đỗ cũng không uổng công một lần tới kinh sư’ vậy thì còn nói gì nữa? Tấn Khanh có đến chỗ đó, nghênh ngang lắm, không gặp được, nói là đóng cửa hối lỗi, thực ra tôi cũng đã tính trước Trần Mộng Lôi đã giao cho ty Đại lý xét tội, có thể Vạn tuế còn ngự xét việc làm quan của hai người, ông ta chẳng qua chỉ là tránh khỏi bị nghi ngờ thôi”.
“Tốt thôi, làm đại học sĩ rồi, chỉ còn chờ vào phòng dâng thư rồi leo lên tể tướng!” Minh Châu nhếch miệng cười, “Cách nói của Vạn Tuế e rằng không thẩm tra nữa. Nhưng nhà vua muốn giết Trần Tỉnh Trai lại là sự thật, nên biết những việc trái lòng người trong thiên hạ nhiều lắm! Báo ông biết Hoàng thượng đã bí mật triệu kiến Trần Mộng Lôi. Lại hỏi tôi nên xử lý thế nào. Ông nghĩ xem, việc của ông ta và Tấn Khanh, chết không có đối chứng, con người thích giết ẩu chăng? Trần Tỉnh Trai học vấn cao như vậy, Hoàng thượng trước nay rất yêu trọng, tôi xin Hoàng thượng đày ông đi Phụng Thiên, đợi hai năm sau khi sóng gió qua rồi thì điều về là xong”.
“Cái án này không cách gì thẩm tra”. Từ Càn Học nheo mắt cười nói, “Ty Đại lý thẩm án ông nghe nói chỉ hỏi có một câu là bãi việc”. Minh Châu kinh ngạc hỏi: “Làm sao như vậy được?”
“Người ta hỏi, ‘Trần Mộng Lôi, vì sao ông chịu đi làm quan trong quân phiến loạn Cảnh Tinh Trung?’ ” Từ Càn Học nói, “Trần Mộng Lôi nói ‘là vì Hoàng thượng trực tiếp sai đi làm vào ngày 10 tháng 10 năm Khang Hy thứ 9!’ - Sau đó hỏi gì nữa?”
“Thế là giải tán?” Minh Châu bất giác lên tiếng cười to, Từ Càn Học cũng cười theo: “Người ta không dám mời Hoàng thượng tới Ty Đại lý đối chất chứ gì!”
Hai người đang nói cười, ông già Vương ôm một chồng thiệp hồng bước vào, cung kính đặt lên bàn, rồi chậm rãi lui ra. Minh Châu biết đây là trải không biết bao nhiêu khâu điều chỉnh, quan lại tuyển chọn mới đưa lên được, bây giờ ông không muốn xem, nhân thấy Từ Càn Học định từ biệt bèn nói: “Mang những tờ thiệp này đi trả lại cho họ. Người muốn làm quan có hàng ngàn hàng vạn, ai không muốn lấp chỗ khuyết? Ai cũng đến cầu cứu tôi, tôi có như Quan âm ngàn tay cũng không làm kịp, bảo họ tới bộ Lại xếp hàng chờ đến lượt!”
Từ Càn Học nhận thiệp, hơi càu nhàu. Những người muốn làm quan không biết bỏ ra bao nhiêu lạng bạc mới tới bước này. Chỉ cần Minh Châu cho gặp một lần cũng không được. Ta hà tất phải đi làm người ác? Ông ngẫm nghĩ, mở từng tờ thiệp trong tay ra xem. Bỗng cười lên như điên, “Lại có bậc cha mẹ đặt cho con cái tên như thế này sao! Từ Càn Học học hành bao nhiêu năm, chưa gặp qua bao giờ, quả là thế giới bao la chẳng thiếu một điều kỳ lạ nào!” Minh Châu giật lấy xem, phía trên tờ thiệp viết mấy chữ ngay ngắn “Từ Cầu Mao kính lạy Minh tướng vạn an”, bỗng ông cũng ôm bụng cười to, liền bảo già Vương ra ngoài truyền lời: Gọi tên họ Từ này vào, những người khác nửa tháng nữa hãy tới. Từ Càn Học sợ Minh Châu lại sai làm việc khó khăn nữa bèn cúi chào từ biệt.
Một chốc, một người mặt vuông miệng rộng nhanh chân bước vào, mang chiếc áo dài thêu tám trăn năm móng, có thêu chim nhạn trắng, đội mũ chỏm thủy tinh, đứng trước sân đánh tay áo ngựa, khấu đầu, báo cáo chức danh.
“Ừm”. Minh Châu ngồi trên ghế hơi ngước nhìn, cố nhịn cười hai tay mân mê tờ thiệp, lấy giọng quan kéo dài ra nói: “Vào đi! Anh bỏ tiền mua quan hả?”
“Dạ, vâng”. Quan viên này mặt mày hớn hở, cười nói: “Tệ chức mua chức huyện thừa vào năm Khang Hy thứ 14, dần dần tiến lên hàm tri phủ... Lần này về kinh, cha nhà lệnh cho ông anh mang theo cái nghiên tốt, kính dâng Trung đường, kính mong chiếu cố...”. Quan viên này vừa nói vừa rút trong túi ra một gói bọc lĩnh hồng vuông vắn trình lên.
Minh Châu nhận lấy, tay nặng trĩu, biết là làm bằng vàng ròng bèn không vội mở ra xem. Ông như không để ý, đặt “nghiên” xuống bàn, nói: “Làm tri phủ chẳng tốt ư, vì sao còn muốn leo lên nữa?” “Trung đường minh xét: Ý hạ quan muốn làm rạng rỡ tổ tông, muốn gắng sức vì Hoàng thượng!” Minh Châu cười nói: “Con người anh xem ra còn lanh lợi, nhưng theo tôi nên thêm vào một câu, cũng muốn làm một chút gì tốt đẹp cho bá tánh. Còn việc bổ sung chỗ thiếu, đợi ty quan bộ Lại mang phiếu lên điền vào sau đó tất có tin”.
“Cảm ơn Trung đường!”
Minh Châu thấy anh ta bưng chén trà lên uống biết ông ta muốn cáo lui, liền cười nói: “Anh đừng vội. Tôi xem như anh có đọc sách chút ít, vì sao lấy cái tên như vậy, thì làm sao có thể vào trình ngự lãm?”
“Ty chức xếp hạng thuộc đời chữ ‘cầu’, vì bổn mạng thiếu nước nên ông nội đặt cho tên ‘Cầu Nhâm’ ”. Từ Cầu Nhâm ngơ ngác nói “Tại sao không trình lên Hoàng thượng được?”
Minh Châu nghe nói mới biết anh ta vốn tên “Từ Cầu Nhâm”, không biết ai đã vẽ thêm cái móc sau hai chữ “Cầu Nhâm” nên đã biến thành “Cầu Mao”, bây giờ cũng không tiện nói thẳng ra, chỉ cười hỏi: “Cái thiệp này anh giao cho viên thư lại nào vào trình lên?”
“Không phải thư lại”, Từ Cầu Nhâm vội khom người mỉm cười nói, “mà là một vị họ Cao trong quý phủ vừa đến phòng dâng thư nhận thiếp của ty chức...”.
Mọi cái đã rõ, lại là tên Cao Sĩ Kỳ này trêu cợt người ta! Tiễn Từ Cầu Nhâm đi xong Minh Châu bỗng nổi cơn tức giận. Nào là “trống Hạt bốn gõ”, nào là “Cao vượt trên Đỗ”, hắn toàn lấy người ra trêu đùa; nhất định là Cao Sĩ Kỳ nhận bạc của họ Từ, nhưng lại sợ ta làm khó không chịu tiếp kiến nên mới tạo ra trò đùa này. Càng nghĩ bất giác từng luồng ớn lạnh xói thẳng vào tim Minh Châu. Ông không sợ mình bị mắng, điều làm ông ớn lạnh là con người này sao mà thông hiểu cặn kẽ tính khí ông, trêu đùa ông như lật bàn tay! Suy đi nghĩ lại lúc này cũng chưa có cách gì trừng trị Cao Sĩ Kỳ. Minh Châu ánh mắt u buồn, không nói một lời, vừa những tờ thiệp sang một bên, ông nghiến răng tự nhủ: “Ta nhất định không cho họ Từ bổ sung chức khuyết, để cho hắn cắn mi!”
Cao Sĩ Kỳ không biết chuyện gì đã xảy ra trong hơn một ngày anh rời phủ. Tại chợ hoa cửa nam anh cho Từ Càn Học và Tính Đức về trước là có lý do. Anh đã thấy Phương Lan dẫn một con hầu đi lễ ở miếu Bạch Y chếch phố Cây Hòe. Có lẽ việc buôn bán trong nhà tốt hơn nên Phương Lan càng ngày càng xinh đẹp duyên dáng thêm. Nàng mặc chiếc áo hồng thêu hoa trên có thắt nơ con bướm, ngoài khoác chiếc áo lục chẽn màu mơ vàng, chiếc váy gấp nếp phía dưới lại là màu xanh. Cao Sĩ Kỳ nhìn trân trân chiếc kiệu nhỏ lắc lư đi qua; rồi liền đi theo sau cách một khoảng không xa cũng không gần, trong lòng đắn đo toan tính: “Nói về xuất thân đương nhiên không bằng nàng của Trần Thiên Nhất; nói về duyên dáng phong lưu thì khá hơn ngàn lần! Chà, khuê tú nhà quan gì, sắc nước hương trời gì, đâu có bằng viên ngọc bích nhà dân này?”
Thấy Phương Lan xuống kiệu tại cột cờ trước miếu, nàng và con hầu rửa tay ở chậu nước trước bậc thềm, Cao Sĩ Kỳ vội đi nhanh tới, không đợi con hầu đổ nước, anh đã vội vàng lấy nước đó rửa tay, nhưng hình như quên mang theo khăn tay nên xòe tay ướt ra đứng ngẩn ngơ.
“Có phải Cao tiên sinh đây chăng?” Phương Lan quay người thấy Cao Sĩ Kỳ, nàng vừa sợ vừa mừng vội khom người chào vạn phúc, rồi che miệng cười nói: “Chào ngài, mấy ngày nay không gặp, khí sắc ngài khá hơn trước nhiều. Mai Hương, lấy khăn tay của ta cho Cao tiên sinh lau tay!”
Mấy tiếng yến oanh thỏ thẻ, lại thêm nụ cười duyên dáng, sóng mắt đưa tình đã làm mê mẩn Cao Sĩ Kỳ, anh nghĩ cách chậm rãi lau tay, hỏi: “Sao nàng... cũng tới nơi này?” Người đọc sách rất ít tới miếu Quan âm dâng hương nên câu này phải là Phương Lan hỏi mới đúng, nhưng Cao Sĩ Kỳ đã hỏi trước làm Phương Lan ngơ ngác. Thấy Cao Sĩ Kỳ lau tay xong giũ giũ chiếc khăn rồi nhét vào tay áo, Phương Lan bất giác đỏ mặt, tim đập dồn dập, nàng cúi đầu im lặng hồi lâu. Cô hầu Mai Hương thì mau mồm, đứng bên nói lời thay chủ: “Chủ quán Lưu hứa gả cô con cho nhà họ Hồ cửa đông, mới sính lễ đã nghe nói ông chủ nhỏ họ Hồ bệnh lao, đang thúc cưới cô con về để xả xuôi... Cô con đến đây xin Quan âm Bồ tát cứu giúp cho được toại nguyện...!”
Cao Sĩ Kỳ nghe nói “hứa cho nhà họ Hồ” thì đầu óc đã ù ù, những lời sau đó không lọt được vào tai, cho dù xối cả một thùng nước lạnh cũng không lạnh bằng. Anh run lên, một hồi lâu mới định thần lại, miễn cưỡng cười nói: “... Cũng đáng như vậy thôi. Các người đi cầu Phật, tôi sẽ tới đó chúc mừng. Một lát trở ra, tôi có chuyện muốn nói...”.
Nhìn hai người đi vào miếu, Cao Sĩ Kỳ ngồi bệt xuống bậc thềm, anh ôm gối ngửa mặt suy nghĩ hồi lâu, vẫn cảm thấy sự tình gay go, không nghĩ ra được kế gì hay.

