Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 53

53

Thiên tử cư tang bàn nghi lễ

Quyền quý mới đêm nói cách lấy lòng vua

Bạch Minh Kinh có trình bản tâu vạch tội Minh Châu “Lòng dạ đen tối, làm lung lạc gốc nước, mưu đoạt đông cung”, không ngờ lại có tác dụng. Ty đại lý và quan viên lục bộ dậu đổ bìm leo, tới tấp gửi sớ tâu lên điện Dưỡng Tâm, nhưng đều không có hồi âm, Sách Ngạch Đồ vốn định để Bạch Minh Kinh tổng hợp ý kiến quan viên, mượn gió bẻ măng, ra tay tiêu diệt bè đảng Minh Châu, bộ Hình thậm chí làm đã xong mẫu phiếu bắt giam, cách chức quan viên, đến cuối cùng chỉ cách chức được một người vô thưởng vô phạt là Cận Phụ, đem Trần Hoàng giam trong Ngục thần miếu, phạm nhân chính Minh Châu thì cách những chức quan trọng, nhưng được nhàn tản qua lại trong phủ hai người con, được cung dưỡng đầy đủ, ăn uống béo tốt, mặt mày rạng rỡ tinh thần phấn chấn. Nghĩ lại chuyện đó, Sách Ngạch Đồ rất hận Bạch Minh Kinh, cứ nghĩ Bạch Minh Kinh là môn đồ Hùng Tứ Lý, bày ra mưu kế cao sâu như vậy nhất định là thuộc hạ của Hùng Tứ Lý, trong bụng một bầu tâm sự không vui. Tiếc rằng Hùng Tứ Lý trước nay không lạm quyền, làm việc vô cùng cẩn thận, Hoàng thái tử cũng có cảm tình tốt với vị sư phụ này. Sách Ngạch Đồ mấy lần sai người bới móc trừng trị Hùng Tứ Lý, đều bị Thái tử Dận Nhưng ngăn chặn, làm cho Sách Ngạch Đồ dở khóc dở cười.

Đến tháng chạp, Thái hoàng Thái hậu bệnh càng nặng thêm, Khang Hy dừng hội triều, ngày đêm trực ở cung Từ Ninh, ban đại xá thiên hạ, lại tự đến Thiên đàn cúng tế, tình nguyện giảm bớt tuổi của mình để tăng thọ cho Thái hoàng Thái hậu. Thuốc thang lễ bái đều không linh nghiệm, đến ngày 23 tháng chạp, vào đúng giờ Thân, “cụ Phật bà” từng hưởng hết mọi phú quý trần gian, cũng trải bao hiểm nguy đấu tranh chính trường đã quy về trời tây.

Vừa đúng ngày đó không phải phiên trực ban, khi nhận thánh chỉ, Sách Ngạch Đồ vừa ăn cơm xong, cũng không kịp chuẩn bị kiệu, ông lôi từ trong chuồng ra một con ngựa phóng như bay tới cửa Tây Hoa, đã thấy Hùng Tứ Lý và Cao Sĩ Kỳ đứng đợi ở cửa. Ông vội lăn xuống ngựa hỏi: “Hai vị sao đều ở đây? Phòng dâng thư ai lo việc này?” Hùng Tứ Lý nói: “Ý chỉ Hoàng thượng, bắt đầu từ hôm nay Trương Đình Ngọc trực một mình, chúng ta không cần theo hầu”.

“Ông ta chỉ mới tới mấy ngày đã có thể cáng đáng một mình?” Sách Ngạch Đồ ngạc nhiên nói, “Cũng tốt, chúng ta đỡ phải ba ngày vào cung một lần”. Cao Sĩ Kỳ nhìn thấy ngay cái tua đỏ trên đầu Sách Ngạch Đồ, vừa bước chân vào cửa Tây Hoa, vừa nói lạnh lùng: “Trung đường, Thái hoàng Thái hậu đã quy tiên, ông cạo cái đầu trọc hếu, lại đội mũ tua đỏ, e rằng không hợp!” Sách Ngạch Đồ hoảng kinh, nhìn lại thấy Hùng Tứ Lý và Cao Sĩ Kỳ không đính tua đỏ, cái đầu tóc khoảng một tấc ló ra dưới vành mũ, trong lòng thấy hối hận, ông vừa đi vừa gỡ cái tua đỏ ra, nói: “May mà Giang Thôn nhắc nhở, tôi thật không chú ý. Chỉ một điều này, tôi cũng đã phải mang tội chết...” Hùng Tứ Lý nói: “Việc xảy ra do vô tình, tội chết không có đâu, chứ cách chức thì khó tránh”. Ba người vừa đi vừa nói, đã tới cửa Long Tông, thấy Trương Đình Ngọc cánh tay đeo băng đen đón tại cửa Vĩnh Hạng. Bốn người gặp nhau, liền cùng đi vào cung Từ Ninh.

Cung Từ Ninh đã dùng giấy trắng dán vào môn thần, linh phướn, màn trắng, trướng trắng, làm thành một màu trắng toát. Mấy vương công mặc áo trắng quỳ trước cửa cung, bên trong quỳ từng hàng từng lớp nào Vương gia, Bối lặc, Bối tử, Phúc tấn, phu nhân các công, cáo mệnh nhất nhị phẩm, Huệ phi Nạp Lan, đại A ca Dận Đề, Vinh phi Mã Giai, Tam A ca Dận Chỉ, Đức phi Ô Nha, tứ A ca Dận Chân, lục A ca Dận Tộ, Nghi phi Quách Lạc La, hoàng tử thứ năm Dận Kỳ, Thành phi Đái Giai, hoàng tử thứ bảy Dận Hựu, Lương phi Vệ thị, bát A ca Dận Tự phàm những hoàng tử sáu tuổi trở lên, ai cũng theo mẹ. Còn có Quý phi Nữu Cô Lục, A Tú đã đổi tên là Chương Giai, Định phi Vạn Lưu Cáp, Mật phi Vương thị, Cần phi Trần thị, Tương tần Cao thị, Hy tần Trần thị, Cẩn tần Sắc Hách Đồ, Tịnh tần Thạch thị, Mục tần Trần thị, quỳ theo thứ tự. Ngoài ra còn có mười mấy tên đáp ứng, thường tại, quý phi không nằm trong hàng tần ngự, nhưng từng được kề cận với Hoàng đế, quỳ ở cuối hàng. Xem ra, mới đây vừa khóc một trận tơi bời, người nào mặt không trang điểm son phấn, nước mắt còn hằn dấu, khóc đến da mặt vàng ra.

Bốn vị đại thần nhón chân nối đuôi nhau vào, thấy Khang Hy và Thái tử mặc áo gai trắng phủ phục trước linh cữu, khóc nức nở. Bốn vị nhìn nhau ra hiệu, cất mũ, đến trước quan tài Thái hoàng Thái hậu làm lễ, cùng lên tiếng khóc to. Khang Hy mới nghe khuyên bảo vừa ngừng khóc, nghe họ khóc càng đau lòng, đã vỗ ngực đập đất kêu gào thảm thương. Người bên ngoài tưởng tư lễ cử hành lễ ai điếu, người nào cũng thi nhau gào vang đông một vùng. Sách Ngạch Đồ bỗng nhớ lại việc xưa, năm đó thụ mệnh trừ Ngao Bái, Thái hoàng Thái hậu bí mật điều quân cần vương về kinh, ngồi trước điện đốc chiến, với thái độ quả quyết cương nghị xiết bao. Vị anh hào trong nữ lưu này đã đi vào chốn hoàng tuyền xa xôi vời vợi... càng nghĩ nước mắt càng tuôn ra như mưa, các thái giám cung nhân đứng bên lén nhìn ban đầu không vui khi thấy ông cạo đầu láng bóng, bây giờ thấy ông khóc lóc thiệt tình mới bỏ qua cho. Chỉ Hùng Tứ Lý trong lòng có việc mới trụ vững được, ông khóc một lát rồi gạt lệ, nghiêng mình nói với Khang Hy: “Vạn tuế, Thái hoàng Thái hậu quy tiên là điều không may của cả nước, thần hiểu rõ nỗi buồn của Hoàng thượng. Mong Hoàng thượng giữ gìn ngọc thể, bớt buồn, để phúc... thiên hạ mong mỏi. Huống chi... hậu sự cụ Phật bà thế nào, cũng mong Hoàng thượng có chủ ý định liệu...”

Khang Hy đầu óc mê mẩn ngước đầu lên, mặt không có chút máu, tái nhợt đáng sợ, đôi mắt sưng vù nhìn sững Hùng Tứ Lý, hồi lâu mới nói: “Nằm bệ đất cư tang, giữ mộ phần ba năm, lo trọn tấm lòng con cháu, đó là phép tắc hiện hành, có gì phải bàn?”

Bốn đại thần thấy Khang Hy không chịu đứng lên, bèn sụp lạy cầu khẩn: “Xin Vạn tuế mình rồng tạm đứng lên cho chúng thần tâu rõ...” Sách Ngạch Đồ khoát tay gọi Võ Đơn, Tố Luân lại, mỗi người một bên nâng Khang Hy hai chân quỳ đã tê dại đứng lên, từ từ đến ngồi trên chiếc ghế nệm trắng trên sạp gỗ, rồi bốn người mới đi tới kiến lễ.

Sắc mặt Khang Hy đỡ hơn nhiều, chỉ vẫn còn ngơ ngác, hình như tâm sự nặng nề lại như chẳng nghĩ tới chuyện gì, chỉ nói: “Các khanh có gì cần Trẫm? Nói gọn đi, lòng Trẫm bải hoải, mệt mỏi lắm rồi”.

“Thiên tử cư tang không giống người thường”. Hùng Tứ Lý nói chầm chậm, “lấy ba số chín, là hai bảy tháng. Đã ghi trong Chu lễ, xin Hoàng thượng minh xét!” Khang Hy lắc đầu nói: “Lòng như nhau thì lễ cũng giống nhau. Trẫm lấy hiếu trị thiên hạ, làm gương cho người, điều này không được hàm hồ”. Sách Ngạch Đồ nghĩ Khang Hy nằm mồ nhất định Thái tử giám quốc, những muốn thời gian kéo dài thêm. Nhưng lại sợ động đến kỵ húy của Khang Hy, bèn nói: “Hùng Tứ Lý nói, nô tài xem ra có lý, 27 tháng nằm trong Chu lễ, theo lễ mà làm là đạo hiếu, xin Chúa thượng quyết định”.

Khang Hy trầm ngâm một chặp, hỏi Cao Sĩ Kỳ, “Khanh thấy thế nào?” Cao Sĩ Kỳ ngập ngừng một lúc rồi nói: “Chu lễ có nói thiên hạ cư tang số chín, có thể nói chín năm, cũng có thể nói chín ngày, cũng không nhất định phải hai bảy tháng. Con người Hoàng đế là cái phúc của muôn dân, phía bắc có việc quân hệ trọng đang đợi, theo phép quyền biến, chín năm quá dài, còn chín ngày hình như quá ngắn, thần cho rằng nên lấy ở mức giữa, chín tháng là tốt nhất”.

“Lấy hai bảy tháng đúng hơn”. Sách Ngạch Đồ kiên trì nói, “Hùng Tứ Lý là đại nho kinh học, khảo chứng chu đáo, quyết không thể sai lầm. Tùy tiện thay đổi, đời sau cũng không thể theo được”. Ba vị đại thần có hai cách nghĩ, người nào cũng có tâm tư riêng của mình, lẽ ra phải tranh cãi, nhưng trong đám tang đau buồn, coi trọng “giữ buồn là lễ”, nên không dám biểu lộ ra bên ngoài.

“Hoàng thượng”, Trương Đình Ngọc vẫn cứ trầm mặc không nói, thấy Khang Hy nhìn mình mãi, anh nghĩ kỹ mới nói: “Bất kỳ thời gian dài ngắn, luôn phải lấy lòng hiếu làm chính, cho nên Lễ nói ‘cư tang phải buồn’. Ngày, tháng đi trọn ngày đêm cũng là một lẽ tự nhiên, nô tài cho rằng lễ của thiên tử không giống dân thường, có thể lấy ngày thay tháng, hai mươi bảy ngày thay hai mươi bảy tháng, nhưng trong lòng tang ba năm, Chúa thượng chỉ nên tâm niệm điều đó trong lòng, thì không ai bắt bẻ được gì về mặt lễ”.

Khang Hy suy nghĩ rồi lắc đầu nói: “hai mươi bảy ngày ngắn quá không được!”

“Không phải hai mươi bảy ngày mà lấy ngày thay tháng!” Trương Đình Ngọc nói, “đó chỉ là nói tang về lễ, còn tang trong lòng vẫn cứ ba năm là tình người lẽ trời, quyết không thể thiếu!”

Đây là một đạo lý lớn, anh ta chia cái tang của thiên tử thành lễ tang và tâm tang, lễ tang hai mươi bảy ngày thay cho hai mươi bảy tháng, tâm tang ba năm không thiếu, vừa không hỏng việc nước, lại thấu tận tình người, Cao Sĩ Kỳ và Hùng Tứ Lý đều ngầm thán phục. Sách Ngạch Đồ mặt đỏ lên nhưng không nói được gì.

“Vậy...” Khang Hy do dự rất lâu, nói “Vậy thì đành theo khanh tâu”. “Nước không thể một ngày không vua”, Trương Đình Ngọc lại chêm một câu “Trong hai mươi bảy ngày, nếu có việc nước việc quân trọng đại, Hoàng thượng vẫn có quyền xét việc. Trong ba năm, Hoàng thượng mỗi ngày đến cung cũ của Thái hoàng Thái hậu làm lễ. Với nước với dân, với thánh thần, với linh hồn Thái hoàng Thái hậu trên trời đều được an ủi...”.

Định xong việc đại sự, mấy người thở phào, tiếp đến bàn hiệu thụy của Thái hoàng Thái hậu. Việc này trước hết phải nghe ý kiến Hùng Tứ Lý. Hùng Tứ Lý nhíu mày đào kiếm câu chữ hay ho nhất, cuối cùng mới nói: “Thái hoàng Thái hậu một đời công đức to lớn, có chữ “thánh” mới phù hợp thực tế, thần suy nghĩ nếu có gì không thỏa đáng xin Chúa thượng sửa ngay cho: Chiêu thánh từ thọ cung giản dực chương khánh đôn huệ ôn Trang khang hòa Tuyên hoằng tịnh Thái hoàng Thái hậu”. Không biết được không?” Khang Hy vừa nghe vừa suy nghĩ, thở dài nói: “Cũng được thôi, chỉ cụ Phật bà một đời thương nghèo xót già, cứu nguy giúp yếu, nên thêm chữ ‘nhân’ ”. “Vậy cũng dễ thôi, nên thêm chữ ‘nhân’ trước chữ ‘tuyên’ thì vế cuối dễ nhớ hơn”. Tiếp đến bàn việc quàn linh cữu và các việc khác, theo lệ cũ, bộ Lễ ghi chép từng việc đã bàn, lại lệnh đưa toàn bộ thái giám cung nhân cung Từ Ninh dời sang gần bên Hiếu Lăng núi Xương Thụy, xây lại cung điện, gọi là “Tạm phụng an điện”, đưa linh cữu đến giữ gìn ở đây. Những ý này đương nhiên không nói rõ, đợi sau khi Khang Hy trăm tuổi, hai lăng đồng thời an thổ, nhằm để cho bà cháu dưới đất cũng được thường gặp nhau. Vua quan năm người bàn xong việc lớn, chỉ Cao Sĩ Kỳ và Trương Đình Ngọc về phòng dâng thư xem sớ tâu, còn lại đều quỳ thỉnh an cáo từ lui ra. Lúc này đã gần nửa đêm.

Nói là xem sớ tâu, kỳ thực không có sớ mà xem. Cao Sĩ Kỳ mở tráp vàng ra thấy đều là tấu chương mấy ngày trước, hết tờ này sang tờ khác đều là tội trạng của Minh Châu, bèn gác sang một bên. Nằm trên sạp mới nghĩ lại khi vào áo mặc mong manh, sợ lạnh sinh bệnh, liền ngồi dậy đến ngồi bên lò than im lặng say sưa nhìn ngọn lửa. Trương Đình Ngọc là một người lạnh lùng, không nói một câu thừa, ngồi bên bàn cúi đầu viết không ngừng. Một lúc sau, mực trong nghiên đóng băng, anh ta mới bưng nghiên bước sang gần lò sưởi ấm.

“Hoành Thần”, Cao Sĩ Kỳ kêu tên hiệu Trương Đình Ngọc nói, “Nghe nói sớ tâu mấy ngày nay ông ba Sách đều mang về nhà xem, việc này, anh có biết không?”

Trương Đình Ngọc im lặng nhìn ngọn lửa trong lò, rất lâu mới gật đầu nói: “Hoàng thượng vốn có ý chỉ, phòng dâng thư do ông ta cầm đầu mà”. Cao Sĩ Kỳ nghiêng đầu suy nghĩ, nói: “E không đúng. Nếu như vậy thì phòng dâng thư còn trực làm việc gì nữa? Hồi trước Ngao trung đường cũng làm như vậy, đó chẳng phải là tự ý chuyên quyền sao?” Trương Đình Ngọc thấy mực đông đã tan chảy, liền bưng lại bàn ngồi viết như cũ, chỉ đáp một tiếng: “Có khác chứ”. Nhưng khác như thế nào thì anh lại im lặng.

Cao Sĩ Kỳ cảm thấy chán lại thấy buồn cười. Anh với đại học sĩ Trương Anh rất quen thân. Trương Anh là một người rất thích nói cười. Làm sao lại sinh ra đứa con như thế này? Ngẩn ngơ một hồi lâu, lại hỏi: “Anh viết cái gì vậy, đêm tuyết mù trời chính là lúc ngồi quanh lò lửa mà tán gẫu!” Trương Đình Ngọc hà hơi vào tay nói: “Đã không có chuyện làm, ngồi không buồn chán. Tôi ngày nào cũng viết bút ký, mấy tháng nay đã được mấy vạn chữ rồi.” Cao Sĩ Kỳ không nhịn nổi cười nói: “Làm gì phải tự làm khổ mình thế, việc của Hoàng thượng là chú ý quan lại, việc của anh bản thân anh không nhớ sao?”

“Nhớ được chỉ có thể coi là nhân chứng, ghi lại thành văn thì mới có vật chứng”. Bây giờ Trương Đình Ngọc mới đặt bút xuống, chậm rãi bước tới ngồi xuống. “Tể tướng Cao, nơi này gọi là kêu trời trời chẳng thấu, gọi đất đất không nghe, vấp một cái là ngả chỏng gọng, không còn có lúc núi đông lại nổi dậy được nữa! Tôi ghi bút ký không phải hoàn toàn vì cẩn thận. Có một ngày lui về rừng núi, nhuận sắc lại chút ít đã có thể thành tác phẩm, chẳng phải là một niềm vui lớn của con người đó sao!”

Con người mới lên mấy ngày đã có tâm tư như vậy! Cao Sĩ Kỳ bỗng nhớ lại mình, phải chăng chỉ biết tiến mà không biết lui? Nghĩ vậy anh dịch ghế ngồi lại sát Trương Đình Ngọc, than rằng: “Hoành Thần, im lặng để đến xa, đạm bạc để rõ chí, anh có thể nói là người kỳ lạ! Đồng Thành có phải là quê anh không? Đó là nơi anh tài tụ hội! Anh còn trẻ mà thâm trầm, lịch lãm như vậy, Cao Sĩ Kỳ tự thấy không bằng”. Trương Đình Ngọc thấy Cao Sĩ Kỳ nói thành tâm, nên cười ý nhị nói: “Tuy nói là ơn vua, nhưng Giang Thôn đối với tôi có ơn tiến cử, Đình Ngọc không một phút dám quên ơn. Vừa rồi anh nói im lặng, đạm bạc, tôi không dám nhận, đêm nay chỉ có hai ta, tôi có một câu tự đáy lòng muốn nói ra, nhưng lại động đến điều kiêng kỵ của anh...” “Anh cứ nói đi”, Cao Sĩ Kỳ ngạc nhiên đùa nghịch que cời than, nhìn kỹ Trương Đình Ngọc, “Đây có gì kiêng kỵ không kiêng kỵ?”

“Hôm trước Hùng Tứ Lý viết sai mẫu của Bộ, lại tự ý nâng bậc quan của cháu ông lên một bậc”. Trương Đình Ngọc ngửa người, lửa than hừng hực chiếu cả người anh đỏ bừng, anh nói chậm rãi: “Việc đó anh biết không?”

“Tôi có biết”. Cao Sĩ Kỳ nói, “Tôi đã bảo bộ Lại chữa lại rồi, chút sai sót này không cần tâu lên”.

“Vậy là anh làm hại Hùng Đông Viên rồi!”

Trương Đình Ngọc đột nhiên thêm một câu: “Hùng Đông Viên làm người như thế nào, sao lại có thể sai lầm như vậy? Ông ta là ông quan lý học nổi tiếng, tại sao lại làm ô thanh danh?”

“Anh định nói...”.

“Ông ta vậy là hướng về họa nhỏ mà tránh họa lớn!” Trương Đình Ngọc than thở, “Hoàng thượng định thay đổi lớn các quan trong phòng dâng thư, có điều ngắt ngọn trước Minh Châu, đáng tiếc Sách Ngạch Đồ không hề biết gì, ngay cả người thông minh như anh cũng ù ù cạc cạc!”

Cao Sĩ Kỳ ngồi ngay lại như bị điện giật, rất lâu mới thấy mình căng thẳng quá độ, anh thả lỏng một chút rồi nói: “Lời nói đáng sợ, có điều, bằng chứng ở đâu?”

“Anh là đại thần phòng dâng thư, Hoàng thượng điều lương thực, bổ nhiệm tướng tài, đưa binh ra cửa Cổ Bắc, chuẩn bị xuất quân đánh Cát Nhĩ Đơn, anh biết không?”

“Không biết”.

“Nhưng tôi biết”. Trương Đình Ngọc nói hờ hững Cao Sĩ Kỳ lại lạnh toát mồ hôi. Trương Đình Ngọc nói: “Hùng Tứ Lý cũng biết, Sách Ngạch Đồ và anh lại không biết, còn nữa, sẽ sai Sách Ngạch Đồ đi Nê Bố Triều bàn với nước La Sát về biên giới đông bắc, có lẽ anh biết?”

Cao Sĩ Kỳ suy nghĩ, nói: “Trong tháng 9, Hoàng thượng có lộ cho biết, sau đó không nghe nói tới nữa”. “Đó là anh biết rồi”. Trương Đình Ngọc hơi hối hận vì mình nói nhiều, nhưng đã mở miệng rồi thì dứt khoát nói: “Lang Thẩm và Phi Dương Cổ theo lệnh Hoàng thượng ban bố đã điều binh khiển tướng, ngày đêm về kinh thỉnh thị. Phi Dương Cổ sẽ theo Hoàng thượng chinh tây, Lang Thẩm theo Sách Ngạch Đồ đi đông bắc, e rằng những việc này anh vẫn không biết, những việc biết và không biết này, anh nghĩ kỹ xem có phải là bằng chứng không?”

Lòng Cao Sĩ Kỳ rối bời, một hồi nóng, một hồi lạnh, liên tưởng đến vụ án Minh Châu, Khang Hy từng che chở mình, nhưng hình như còn để lại cái đuôi, không biết được “thánh ý” thế nào, qua những việc Trương Đình Ngọc nói, thật là như trong mơ mới tỉnh! Vốn nghĩ Trương Đình Ngọc là kẻ hậu sinh, chẳng qua có tài văn chương, lại đọc đâu nhớ đó, nên mới tiến cử được dùng ngay. Không ngờ anh ta không nói không rằng, nhưng có mưu mẹo, được Hoàng đế ân sủng. Cao Sĩ Kỳ không thể không kính nể chàng thư sinh trẻ ít nói này, anh suy nghĩ một lát, đứng lên sửa lại khăn áo, vái dài một cái nói: “Hoành Thần, xin tiên sinh dạy cho tôi!”. Trương Đình Ngọc thấy anh trịnh trọng như vậy, vội đứng lên đáp lễ, nói: “Con nít hậu sinh, đâu dám!” “Hàn Xương Lê có nói ‘sinh sau ta, mà đã nghe đạo học, thì là trước ta, ta theo coi là thầy dạy’ ”. Cao Sĩ Kỳ kéo tay Trương Đình Ngọc ngồi xuống “Cao tôi là người gì mà dám tự cao tự đại? Xin dạy cho!”

“Tể tướng Cao tha thứ cho sự ngông nghênh của tôi!” Trương Đình Ngọc bỗng bật cười, nói: “Không biết anh xem đương kim Hoàng thượng là quân chủ như thế nào?”

“Đương nhiên là minh quân!”

“Đâu chỉ là minh quân!” Trương Đình Ngọc cười nhạt nói, “Là một thánh quân năm trăm năm mới xuất hiện một người! Không nói những công tích văn võ trước kia, chỉ về học vấn, biết thơ từ, biết thư họa, rành luật bát âm, thông bảy thứ tiếng di địch, phép toán hình học bậc nhất ai bì, tự đo hai đường hoàng bạch, tinh thiên văn, rành địa lý, soạn mấy chục thiên văn chương học thuật, ngay cả đạo y lý e không kém hơn anh Giang Thôn! Giang Thôn học nhiều đến mười xe sách, không sách nào là không đọc, xin hỏi: dù Hoàng thượng không phải Hoàng đế, thì anh có bì kịp không?”

Lời tuy sắc cạnh, nhưng đều là sự thực, Cao Sĩ Kỳ bất giác lắc đầu.

“Chỉ vì Hoàng thượng học vấn uyên bác nên mới có lượng bao dung”. Trương Đình Ngọc lấy hơi nói: “Minh Châu, Sách Ngạch Đồ không nhìn ra điều này nên mới dám cướp quyền mưu lợi riêng. Tội mưu lợi riêng người đời thường mắc, Hoàng thượng còn có thể tha thứ, nhưng tội cướp quyền là điều kiêng kỵ, việc đó phải trừ khử ngay mới được! Anh là người Hán, không dám nhảy vào hai cái vòng đó, nếu quả thật phụ họa theo Minh Châu, e lần này người rủi ro nhất là các hạ!” Anh ngước đầu nhìn Cao Sĩ Kỳ đang trừng mắt há mồm “Anh cho rằng tôi không thích nói cười hả? Tôi nếu không làm quan này, không ở vị trí này, thường thì cũng biết đàn ca văn chương góp vui, một tay ôm người đẹp, một tay cầm cỏ thơm! Giang Thôn, e rằng anh chưa nghĩ tới điều này. Chúa thượng thích anh lanh lợi khôi hài, tài hoa tràn trề, một ngày sông cạn tài mòn, cũng như hoa hồng nhạt mùi phai sắc, làm gì có chuyện che chở tới cùng?”

Cao Sĩ Kỳ nghe tới đây bất chợt than rằng: “Lời của anh quả thật đinh tai điếc óc! Muốn ngựa kêu lên, không có cỏ mà được à!”

“Cũng không phải như vậy, ‘con ngựa’ anh kêu còn ít sao? Chẳng qua Hoàng thượng thích nghe thôi, một khi không muốn nghe thì thật là ‘không có cỏ?’ rồi!” Trương Đình Ngọc cười: “Tôi chỉ nhớ kỹ câu châm ngôn: ‘nhiều lời thì gánh nhiều, chi bằng im lặng’ ”.

Cao Sĩ Kỳ nhìn ngọn nến, ngẫm nghĩ câu cách ngôn ‘nhiều lời thì gánh nhiều, chi bằng im lặng’, hồi lâu không lên tiếng.

Trương Đình Ngọc nói không sai chút nào, 27 ngày Khang Hy chịu tang trong cung, vẫn lâm triều xét việc, họp phòng dâng thư, bàn bạc việc Hùng Tứ Lý từ chức.

“Hùng Đông Viên”, Khang Hy vô cùng cảm khái, ôm gối im lặng rất lâu, mới nói, “Khanh không đi không được sao? Hơn hai mươi năm vất vả theo Trẫm giờ đây bỏ Trẫm mà đi sao? Chút xíu sai lầm đó của khanh Trẫm đã tính rồi, làm gì đến nỗi không cứu vãn được! Bên bộ Lại, Trẫm sẽ nói hộ cho khanh”.

Hùng Tứ Lý quỳ mọp trên nền gạch xanh phòng dâng thư lạy ba lạy, nghẹn ngào nói: “Hoàng thượng càng nói như vậy, thần càng không có đất dung thân. Thần già rồi, nên về hưu quay về chốn rừng núi âu ca thánh triều, tắm gội sạch sẽ. Nhường chức vụ lại cho các sĩ phu mới vào, đối với Chúa thượng, đối với thần, đối với quốc gia xã tắc đều có lợi, thần không có chút xíu ân hận trong lòng”. Khang Hy nhìn Hùng Tứ Lý đầu tóc bạc phơ, gật đầu than: “Lời này cũng là tình thực. Đã như vậy, thì khỏi xử tội. Khi Trẫm đi thị sát phía nam, thấy Kim Lăng là nơi đất tốt, khanh không cần trở về Hồ Bắc, ban cho khanh một ngôi nhà, về ở Nam Kinh. Ngụy Đông Đình, Mục Tử Húc đều ở đó, các khanh sớm tối có thể gặp nhau, giúp đỡ lẫn nhau chuyện vãn lúc tuổi già. Trẫm đi thị sát phía nam lần nữa, vua tôi còn được gặp nhau...” Nói xong giọt lệ to như hạt đậu lăn trên má. Thấy vua tôi nặng tình như vậy, Cao Sĩ Kỳ, Sách Ngạch Đồ và Trương Đình Ngọc quỳ bên cạnh cũng bất giác gạt nước mắt.

“Chúa thượng giữ gìn!” Hùng Tứ Lý khóc nói: “Thần ở Nam Kinh sớm chiều nguyện ước, mong Chúa thượng vạn Vạn tuế!” Nói xong định đứng lên. “Đừng vội thế”, Khang Hy lau nước mắt cười nói, “Trẫm còn có lời muốn nói: Người phải giữ gìn là khanh, phải nghỉ ngơi an nhàn giảm bớt lao lực, đừng quản việc địa phương, thấy họ có gì sai, viết thư cho Trẫm. Khanh làm mếch lòng họ thì ở đâu cũng không được yên thân. Trẫm đã lệnh cho Đồng Quốc Duy vào làm việc ở phòng dâng thư, còn chuẩn bị kiếm thêm mấy người nữa, việc ở đây, khanh cũng đừng lo lắng. Khanh là người có công lao hai triều, phải biết giữ gìn, sống lâu một chút, tốt hơn một chút làm gương cho người trong triều!” Nói xong gọi: “Hà Trụ Nhi!”

“Dạ!” Hà Trụ Nhi lách người bước vào đáp.

“Đưa Hùng Tứ Lý đến điện Văn Hoa ban yến!” Khang Hy bảo, “Trẫm còn viết thơ đưa tiễn, xong rồi ngươi trở lại đây lấy. À, phải rồi, bảo nhà bếp làm mấy món ăn cho người già để Hùng Tứ Lý mang theo; nhớ chưa?”

“Dạ!” Hà Trụ Nhi hào hứng dạ, vái một cái rồi quay lại đỡ Hùng Tứ Lý bước đi từng bước một.

Vì Lang Thẩm và Ba Hải về kinh báo cáo công việc còn đợi ở cung Càn Thanh, Khang Hy tiễn Hùng Tứ Lý đi xong cùng mấy người trở lại. Vừa vào đến cửa Nguyệt Hoa đã thấy Thái tử Dận Nhưng dẫn Dận Đề, Dận Chân từ phía bắc đi tới, liền dừng lại hỏi: “Đi làm gì đó?”

“Bẩm A Ma”. Thái tử nghiêng mình cười nói, “Hôm nay Thập tam đệ đầy tháng, anh em chúng con đi tới thăm, rồi trở ra vườn hoa ngự luyện tập võ nghệ...”

“Ngươi nhìn lại bộ dạng của ngươi: có giống một người kế vị hay không?” Khang Hy mặt tối lại mắng, “Bà cố ngươi vừa mới mất mấy ngày, ngươi đã mặc lãnh lụa! Còn cậu cả, sao ngươi dám dùng hầu bao vàng sáng giống Thái tử: các ngươi nhìn chú Ba đây, mang theo tác phẩm của Trần Mộng Lôi, đó mới là phải phép! Chú Tư mới tí tuổi đầu, đã biết tập họp số kẻ vô công rồi nghề, bọn lêu lổng không an phận Ô Tư Đạo dơ bẩn, thối nát vào trong phủ, là có ý gì? Bây giờ Trẫm không rảnh tính sổ với các ngươi, các ngươi hãy liệu hồn!” Nói xong vung tay bỏ đi, để mấy vị A ca quỳ ngay ngắn khá lâu dưới đất, ngạc nhiên nhìn nhau. Trương Đình Ngọc và Cao Sĩ Kỳ cũng liếc mắt với nhau, vội đi vào trong bàn việc.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.