Khang Hy Đại Đế - TẬP 3 - Chương 58
58
Tây vực yên, thiên hạ về nhất thống
Hoàng Hà trong, trời đất hiện điềm lành
Đại quân Khang Hy lại đi tiếp. Đây là một mùa thu lạnh lẽo, hàng mảng hàng mảng cỏ khô, lá khô nhấp nhô như sóng trên sa mạc. Bão tuyết rào rào, hành quân ban ngày không cảm thấy gì, chứ đến ban đêm sương lạnh nước đóng băng, quân sĩ ngủ trong lều ai cũng lạnh run răng đánh nghe cầm cập, nhưng áo lạnh mùa đông phải nửa tháng nữa mới đưa tới được. Càng chịu không nổi là con đường tiếp lương càng ngày càng xa, hoàn toàn không thể cung ứng. Binh sĩ đành phải giết ngựa lót dạ. Khang Hy mấy lần sai người lệnh nghiêm khắc cho Sách Ngạch Đồ tức tốc chuyển lương thực tới, lần nào Sách Ngạch Đồ cũng trả lời sẽ cố hết sức nhưng lương thực đưa tới quá ít, hầu như vừa dùng đã cạn. Phi Dương Cổ biết đây là hậu quả việc Sách Ngạch Đồ điều về đông toàn bộ quân lương sau chiến dịch U-lan-bu-thông, nhưng ông là chủ soái không dám tấu rõ sự thực, đành chỉ lệnh cho quân lộ bắc bớt mặc nhịn ăn, thắt chặt thắt lưng mà hành quân.
Đến đầu tháng 9, trung quân của Khang Hy chỉ còn ba ngày lương, nhưng còn cách Tháp Mễ Nhĩ đến mười ngày đường, vừa lúc nhận được quân báo của Phi Dương Cổ, quân lộ bắc đã hết lương thực! Võ Đơn, Tố Luân đi cùng thấy Khang Hy lo lắng đến mặt mày hốc hác, đều khuyên dừng quân, để chờ quân lương.
“Hôm nay là mồng 9”, Khang Hy như cảm khái vô cùng, cười đau khổ nói, “đúng là ngày kinh sư đang lên leo núi chúc rượu, thưởng cúc tiêu hàn, bọn họ đâu có biết Trẫm đang chịu khổ ở đây? Sớ tâu đưa tới đều nói ‘Cung thỉnh thánh an’, ai biết lòng họ nghĩ gì!”
A Tú và Tố Luân đưa mắt nhìn nhau, lòng họ cũng đang khổ sở, nhưng không dám trả lời Khang Hy. Võ Đơn than rằng: “Ở đây cách Cam Thiểm gần như vậy, mà lại phải đi điều lương từ Khoa Nhĩ Tẩm, Long Hóa, thật không biết những ông lớn đó điều động kiểu gì vậy!”
Câu nói làm Khang Hy tỉnh ra, nhớ lại mình đã bí mật đặt ở Diên An, Du Lâm mấy ty, ở đó có nhiều lương thực, vì sao bỏ gần mà tìm xa? Lúc này Khang Hy mới thật khắc cốt ghi lòng biết ơn Châu Bồi Công. Tinh thần phấn chấn hẳn lên, vua nói: “Phóng nhanh ngựa tới Phi Dương Cổ truyền chỉ: Sai người đi Du Lâm, Diên An, Y Khắc Chiêu lấy lương thực toàn bộ cung cấp cho quân lộ bắc!” “Vậy chúng ta bên này làm thế nào?” Tố Luân hỏi. Khang Hy nói: “Quân lộ bắc phải cắt đứt con đường Cát Nhĩ Đơn đi về tám thành giàu, lại phải đánh thành chiếm đất, đường đi xa vợi, không thể để thiếu lương. Chúng ta bên này, kể từ hôm nay, từ Trẫm tới người giữ ngựa, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, đợi Sách Ngạch Đồ tiếp tế!”
“Thế sao được?” Võ Đơn sửng sốt, há hốc mồm, nhưng không nói ra lời, hồi lâu mới lạy, nói nghẹn ngào: “Nô tài... tuân chỉ. Chỉ xin Hoàng thượng Người...”.
“Đừng khuyên nữa”. Khang Hy mắt ngấn lệ, nhìn người thị vệ đã theo mình bao nhiêu năm, “Trẫm với mọi người như nhau, thì sĩ khí mới giữ được, nếu không thì đi càng chậm...”.
Hoàng đế và người giữ ngựa như nhau, mỗi ngày chỉ ăn một bữa giữa trưa! Chiếu chỉ truyền xuống, tướng sĩ ai cũng khóc lóc. Nhưng Khang Hy không để tâm. Ngay trong ngày, triệu tập quan chức tùy giá từ thiên tổng trở lên, lệnh cho toàn thể ngồi xuống chiếu, nhà vua nói lời nặng ý sâu: “Trẫm tuy chưa biết cái đói là gì, nhưng cũng biết đói rất khó chịu. Được cái là chúng ta hành quân trên thảo nguyên, loài dê rừng, chồn sói cũng có khi gặp, có thể vừa đi săn vừa hành quân. Tướng sĩ theo Trẫm, Trẫm đã sai người ghi tên, Trẫm không quên các ngươi. Hôm nay có khổ cùng chịu, ngày sau đương nhiên có phúc cùng hưởng, đây là điều giờ đây Trẫm nghĩ tới trước tiên”. Ánh mắt thâm thúy nhìn về phương xa, Khang Hy nói tiếp: “Hơn nữa, bây giờ quốc gia đang trong thời thịnh vượng nhất, kể từ khi Đại Thanh dựng nước. Hôm qua Trẫm xem thông báo, sơn tả được mùa, sơn hữu được mùa, Giang Nam cũng được mùa to, lương thực trong kho nhà nước nhiều đến mười năm dùng không hết! Quân ta thiếu lương thực chỉ vì một lúc chưa chuyển kịp. Cát Nhĩ Đơn cố thủ Tháp Mễ Nhĩ, cũng là lính mệt, lương thiếu, lại không có nguồn tiếp tế. Không mấy ngày nữa lương thực quân ta sẽ chuyển tới, mọi người hà tất vì khó khăn một lúc mà lo lắng? Chiến dịch này của Trẫm là vì nhất thống thiên hạ, Tây vực Trung nguyên vĩnh viễn không chịu cảnh binh đao loạn lạc, xuất quân có mục đích, đường đường chính chính, chưa nói có lương thực phía sau, cho dù không có lương thực, Trẫm có phải ăn tuyết, cũng phải truy đuổi tới cùng, trừ diệt cái gốc gây họa cho Trung Hoa ta... Thấy các ngươi bị mệt, bị đói, lòng Trẫm rất buồn...”. Nói tới đây, Khang Hy cúi đầu xuống, tiếng sụt sùi nổi lên khắp lều.
“Hãy phấn chấn tinh thần lên!” Khang Hy bỗng cao giọng hô to, “Bản tâu của Tuần vũ Hà Nam nói sông Hoàng Hà trong rồi, đó là điềm lành trời giáng. Hoàng Hà trong, thiên hạ nhất thống, đó là nguyện ước bao lâu nay của Trẫm! Trái lẽ trời không lành, thuận lẽ trời thì hưng thịnh, nguyện cùng mọi người gắng sức!” Quan tướng nghe tới đây, đồng loạt quỳ xuống, dao găm, đinh thúc ngựa kêu rỏn rẻn, đồng thanh hô vang trời:
“Dạ!”
...Bụng đói hành quân tám ngày, quân tiên phong đã nổ súng với quân Cát Nhĩ Đơn. Xem ra, quân Cát Nhĩ Đơn cũng đói tới mức còn sống thoi thóp, hai bên xáp trận một lúc rồi ai về trại nấy. Đến giờ Tỵ, hậu doanh Khang Hy báo tới, nói lương thực đã chuyển đến, tuy nói chỉ có bốn trăm thạch, nhưng trong lúc này giống như đại hạn gặp mưa, quân sĩ lập tức lấy nồi nấu cơm, chuẩn bị buổi chiều dốc toàn lực tiến công doanh trại Cát Nhĩ Đơn, phá tan cái sào huyệt cuối cùng này.
Không ngờ, sau buổi cơm trưa, trại địch bốc cháy. Nơi đây chiến tranh loạn lạc lâu ngày, không ai chăn thả bò dê, cỏ hoang mọc cao đến thắt lưng, mùa thu gió mạnh, cỏ khô dày đặc. Trong chốc lát từ nam đến bắc, một biển lửa cuồn cuộn ngút trời, ngọn lửa bốc cao, khói đen cùng lá cỏ cháy tung lên thật cao, gặp gió tây cuốn dần tới. Doanh trại quân Thanh lập tức hỗn loạn.
Khang Hy vừa đi thị sát doanh trại trở về, nghe bên ngoài người la ngựa hý, nghĩ là Cát Nhĩ Đơn liều mạng đến cướp trại. Một bước nhảy ra ngoài lều, liền bị Võ Đơn và Tố Luân mỗi người một bên xốc đưa lên ngựa. Võ Đơn kéo dây cương, mồ hôi nhễ nhại, ông la to: “Hoàng thượng chạy mau, nô tài dẫn trung doanh dập lửa, dù có chết cũng kéo dài đến một canh giờ nó mới cháy tới!” Tố Luân đẩy Võ Đơn một cái, nói: “Hoàng thượng không thể thiếu anh, anh hộ tống Hoàng thượng chạy đi. Việc này là của tôi. Nhanh, anh nhanh lên!” Nói xong quay người lệnh cho tùy tùng: “Ai có gan thì theo ta tạo ra một đường lửa!”
“Khoan!” A Tú bỗng vén rèm bước ra, sắc mặt nàng bình tĩnh lạ lùng, “Các ngươi không biết lửa trên thảo nguyên, chỉ cần không có mưa, anh có chạy cho đến khi ngựa đứt hơi chết, nó cũng đuổi theo anh như thường!”
“Con mẹ thối!” Võ Đơn đã quên mất lễ nghĩa, mở miệng mắng to, “Nếu không có bà, một người âm trong quân ngũ, thì làm sao kéo lửa dương về? Không chạy lẽ nào chịu chết cháy ở đây?”
A Tú cười gằn, nói: “Ngươi thô lỗ nói trong lúc cấp bách ta không chấp, nhưng điều ta nói là thực!” Nói xong, lấy mồi lửa sát mạnh, rồi ném xuống đất, cỏ dưới chân lập tức bắt lửa.
Khang Hy liền tỉnh ngộ. Trên mình ngựa, vua rút kiếm ra lệnh: “Truyền lệnh các doanh, lập tức đốt lửa, đốt ra một khoanh trống chuyển đại doanh vào đó!” Trong khoảnh khắc, trại quân Thanh cũng là một biển lửa, cháy lan về phía đông, đến khi lửa to bốn bên cháy tới, thì Khang Hy đã an toàn chuyển dời doanh trại.
Màn đêm buông xuống trên thảo nguyên cháy rụi. Không có cỏ, cũng không có tiếng xào xạc quen thuộc ban đêm, không có chim thú, không có tiếng sói gào lang hú thỉnh thoảng truyền tới, thật là một cảnh im lặng hoàn toàn. Khang Hy đi thị sát doanh trại trở về, thấy Võ Đơn đi qua đi lại bên cạnh lều, bèn hỏi: “Không phải sai ngươi đi sắp xếp số lương thực chuyển đến sao? Ngươi làm gì ở đây?” Võ Đơn đỏ mặt, cúi đầu lấy chân khều cọng cỏ, nói: “...Nô tài hôm nay phạm tội thô lỗ, chửi bậy quý chúa, nô tài...” Khang Hy cười thoải mái, mắng rằng: “Ngươi là con lừa bướng, ai chấp ngươi! Đi làm chuyện của ngươi đi!” Nói xong đi vào lều, cười nói với A Tú: “May mà đưa khanh theo, nếu không Trẫm đã đi gặp ông bà tổ tông rồi! Võ Đơn vừa cúi đầu nhận tội, Trẫm cho nó đi rồi”.
A Tú nhíu đôi chân mày, hồi lâu mới thở ra một hơi nói: “Hoàng thượng, Người đã nghĩ tới chưa? Chúng ta đốt mồi lửa đó, đã ngăn con đường chuyển lương phía sau...” Khang Hy nghe bất giác ngẩn người, rất lâu mới nở mày cười nói: “Vận chuyển lương thực đều là người Mông Cổ, bọn họ không sao đâu! Có điều... e phải chậm một chút”. Đang nói thì bên ngoài Tố Luân vào bẩm: “Hoàng thượng, Niên Canh Nghiêu quân lộ bắc đã tới, cầu kiến Hoàng thượng!”
“Niên Canh Nghiêu?” Khang Hy một lúc không nhớ ra, rất lâu mới cười nói “Có phải là ông tướng dũng mãnh mặc áo trắng! Cho vào!” Lời vừa dứt, Niên Canh Nghiêu đã bước vào, quỳ sụp xuống đất lạy, nói: “Nô tài Niên Canh Nghiêu cung kiến Vạn tuế xin chịu tội!”
Khang Hy ngạc nhiên, hỏi: “Ngươi xin chịu tội gì? Từ từ nói, đừng vội!”
“Quân Lộ Bắc đã hội quân với bộ lạc Hồi, ngăn chặn con đường Cát Nhĩ Đơn chạy về tây và nam. Cháu của Cát Nhĩ Đơn, A Lạp Bố Thản đưa biểu xin quy thuận triều đình! Cát Nhĩ Đơn dẫn một trăm người phá vây không được, đã nuốt vàng tự sát ở A Sát A Mộc Tháp. Nô tài...”.
“Khoan!” Khang Hy không tin lỗ tai mình, cắt ngang Niên Canh Nghiêu, “Ngươi nói cái gì?”
“Nô tài nói Cát Nhĩ Đơn đã chết rồi”. Niên Canh Nghiêu nói, “quân địch mặt chính do con gái Cát Nhĩ Đơn chỉ huy, vốn muốn ngăn chặn quân ta, để Cát Nhĩ Đơn chạy thoát, bà này không biết quân ta đã đứt mất đường về.”
“Chết, cũng còn có xác chứ?” Khang Hy còn chưa tin. Niên Canh Nghiêu tay run rẩy, từ trong chiếc ủng lấy ra tờ giấy hai tay dâng lên, nói: “Đây là thư tuyệt mệnh của Cát Nhĩ Đơn. Phi Quân môn lệnh cho nô tài chuyển lời, chưa bắt sống được con sói này là phụ lòng gửi gắm của Thánh thượng...”
Khang Hy vồ lấy tờ giấy mở ra xem, trên đó viết chữ Hán nghiêng nghiêng ngả ngả:
Cánh cung gãy, vây cánh tan, bạn thân phản, sĩ chúng tan, trời diệt ta, không phải là tội đánh giặc. Cát Nhĩ Đơn tuyệt bút.
Ngạc nhiên ngẩn ra hồi lâu, Khang Hy bỗng nhiên cười ha hả, nói: “Ngươi xin tha tội vì chuyện này hả? Trẫm nói bắt sống Cát Nhĩ Đơn, chẳng qua cũng chỉ là để chứng tỏ luật lệ phép tắc mà thôi. Hắn đã chết rồi, Trẫm còn chưa kịp vui mừng nữa. Có rượu không, rót một chén lên đây!”
“Nô tài đã giết chết Cát Lễ!” Niên Canh Nghiêu nói thêm một câu, nói xong dập đầu thật nặng xuống đất.
Mọi người trong lều nghe nói đều giật mình, Niên Canh Nghiêu là một viên tướng quèn mạt hạng, sao dám làm như vậy? Ai cũng sợ tái mặt, A Tú mừng quá hóa khóc, cũng ngạc nhiên ngước nhìn, một lúc trong lều im phăng phắc.
“Vì sao vậy!” Một hồi lâu Khang Hy mới hỏi.
“Ông ta bớt phần quân lương Cam Thiểm chuyển cho quân Lộ Bắc!” Niên Canh Nghiêu cứng cỏi trả lời, “Đại soái lệnh cho thần đốc lương. Ông ta nói toàn bộ lương thực đã phân phát cho dân bị nạn. Nô tài đích thân đến kho lương Du Lâm, Diên An, thấy trong kho vẫn còn hơn một trăm vạn thạch, buộc ông ta lập tức phát ra, ông ta chối quanh chối quất, nói không xe không ngựa, không rút được quân vận chuyển. Nô tài nóng ruột, mắng ông ta hai câu, ông ta nói nô tài cấp dưới phạm thượng, không chịu cải tà quy chính, nô tài tức giận liền chém ông ta!”
Người này tuổi mới “nhi lập”, chức vị thấp hèn, không phải tự anh ta nói ra thì không ai tin anh hung dữ không biết sợ như vậy. Khang Hy trừng mắt nhìn anh một chặp, nói: “Ngươi là người cờ nào?”
“Bẩm Hán quân cờ vàng”. Niên Canh Nghiêu lớn tiếng trả lời, “Hiện làm việc trong dinh Tứ gia. Nô tài giết chết đại thần, thỉnh chỉ xin đền mạng”.
“Tên Cát Lễ này mới vừa phục chức Tổng đốc Cam Thiểm”, Khang Hy quay người ngồi xuống, nói, “Hộ tòng như mây, thân binh như rừng, ngươi làm sao giết chết ông ta được?” Niên Canh Nghiêu lạy nói: “Sĩ tốt trung quân đói chết gần một ngàn, mấy lần đốc lương không tới, nô tài mượn thanh thiên tử kiếm của đại soái, giết chết hắn, thỉnh chỉ xin trị tội!” Khang Hy suy nghĩ rất lâu, chẳng bảo đúng cũng chẳng bảo sai: “Việc này tạm gác lại, ngươi không cần về doanh, cứ ở ngự doanh đợi lệnh, đi đi!”
Cho tất cả lui ra, Khang Hy muốn một mình suy nghĩ một lát. Trước khi rời Bắc Kinh, từng mật chiếu cho các tỉnh phía bắc, dốc toàn lực chi viện Phi Dương Cổ. Cát Lễ sao dám to gan như vậy, đã công nhiên kháng chỉ? Khoa Nhĩ Tẩm và Sát Cáp Nhĩ cung cấp sáu ngàn xe chở lương thực, vì sao không dùng, lại dùng ngựa tiếp tế nhỏ giọt cho tiền tuyến? Càng kinh ngạc hơn, việc đặt các sở Du Lâm... ngoài mình và Cao Sĩ Kỳ ra, không một người nào được biết, Cát Lễ làm sao nắm được thông tin đích thực, lẽ nào Cao Sĩ Kỳ dám tiết lộ chăng? Hàng loạt mối nghi ngờ làm cho đầu óc Khang Hy nóng lên. Nhà vua đứng lên, bước tới mấy bước, bỗng nghe bên ngoài phía xa xa có tiếng tiêu nghe réo rắt rất thê thảm, vua nghiêng đầu nghe một hồi, cảm thấy đã từng nghe qua khúc nhạc này ở đâu rồi, bèn gọi Tố Luân vào hỏi: “Ai thổi tiêu đó?”
“Minh Châu ạ”. Tố Luân trả lời, “Vừa rồi Võ Đơn trở về, nói Minh Châu mang theo mấy ống tiêu, ra gò đất giải sầu...” Đang nói thì Võ Đơn bước vào, Khang Hy bèn hỏi: “Võ Đơn, ngươi nghe xem, cái điệu này chúng ta đã nghe hồi nào?”
Võ Đơn nghiêng tai nghe rất lâu, cười nói: “Đoạn sau nô tài nghe ra rồi, năm đó tại nhà Ngụy Đông Đình ở con hẻm Lau sậy, Minh Châu đã thổi!” Khang Hy lại nghe một hồi nữa, bỗng nhiên bừng tỉnh. Hai mươi sáu năm trước lần đầu gặp Ngũ Thứ Hữu, và tụ tập thị vệ tại nhà Ngụy Đông Đình đặt kế hoạch diệt trừ Ngao Bái, những chuyện cũ cùng hiện ra trong lòng Khang Hy. Nhà vua lấy tấm vải bạt treo trên vách lều khoác lên người, im lặng bước ra ngoài, Võ Đơn và Tố Luân đành chỉ đi theo phía xa xa.
Mấy ngày này, người khổ nhất trong toàn quân phải kể là Minh Châu. Từ lúc trung quân thiếu lương thực, ông ta bị giảm còn hai bữa, Khang Hy ra lệnh toàn quân ngày ăn một bữa, càng bị người ta khấu thêm, có túc tùy tiện vất cho hai nắm bánh ngô. Tình người ấm lạnh, thế thái đa đoan Minh Châu trải qua khá nhiều, mà không để ý lắm, đáng sợ nhất là số thân binh giám sát ông, họ đối với ông ngày càng hung ác, động một tí là trút giận vào ông: “Người đáng chết thì phải biết tự mình đi chết, cần gì phải đợi Hoàng thượng ra lệnh?” Minh Châu giống như con phượng hoàng gẫy cánh, còn biết cách gì? Không có gì giải khuây qua những ngày thu buồn tẻ, bất giác ông suy nghĩ miên man, rồi dựa vào gò đất lấy tiêu ra thổi một lúc. Trong cơn buồn ngủ mơ mơ màng màng bỗng nghe có người nói: “Minh Châu vẫn còn hứng thú đấy chứ, có phải ngươi thổi tiêu không?”
“Vạn tuế!”
Minh Châu hoảng kinh sửng sốt, ông bật người dậy quỳ mọp xuống đất, nói: “Vạn tuế, nô tài Minh Châu không ngờ thổi tiêu kinh động thánh giá. Kính mong tha tội!”
“Đứng dậy đi”. Khang Hy vẩy tay, dưới ánh trăng thấy Minh Châu gầy còm gương mặt hốc hác, đầu tóc dài có hơn hai tấc, nghĩ một đại thần phòng dâng thư đi xuống tới nước này, bất giác động lòng thương xót, “Mấy ngày nay thiếu lương thực, e ngươi chịu khổ sở càng nhiều, thật khó cho ngươi phải chịu đựng!”
“Nô tài tấm thân nhỏ nhoi có gì đáng nói!” Minh Châu nghẹn ngào nói, “lần này Cát Nhĩ Đơn trốn thoát, toàn quân thiếu lương thực, thật là cái họa do người gây nên!”
“Họa do người gây nên là thế nào?”
“Có người muốn Hoàng thượng chết đói trên thảo nguyên!”
“Ai?” Khang Hy xúc động trong lòng, nghiêm khắc hỏi: “Ngươi vẫn muốn hại người ta sao?”
“Thần đâu dám!” Minh Châu không sợ, nói to, “Cuộc đời này của thần hãm hại người đã nhiều, Ngũ tiên sinh, Châu Bồi Công đều do thần hãm hại mà chết, bây giờ thần hối hận không kịp, đâu dám đi hại người khác. Thần đã bỏ ý xin Hoàng thượng tha chết - mà đã chết vì hối hận, thì xin Hoàng thượng cho thần được nói hết trước khi chết! Hoàng thượng cứ nghĩ xem, ai đã điều toàn bộ quân lương Hà Bắc, Thiểm Tây đến U-lan-bu-thông? Mông Cổ có cả triệu con ngựa, vì sao chỉ dùng một ngàn con vận chuyển lương thực? Lẽ nào thiếu lương thực? Trận đánh U-lan-bu-thông, bố trí như thiên la địa võng, làm sao lại để thoát tên cầm đầu? - Phi Dương Cổ danh tướng một thời sao lại có thất thoát như vậy? Nếu không phải là có người ngáng chân bên trong, thì làm sao có chuyến đi vạn dặm này của Hoàng thượng!” Nói xong kêu gào khóc to: “Nô tài là người đáng chết... gặp thời thế tốt, lẽ ra phải làm hiền thần, lại đi làm gian thần... Vạn tuế, Người giết nô tài đi...”.
Khang Hy nghe sắc mặt càng tái nhợt, liên hệ với những chuyện quái đản khi thị sát phía nam, trong lòng đã nghĩ ra dẫu còn như mờ như tỏ. Một hồi lâu vua mới nói: “Ngươi... cũng đừng nên như vậy. Kể từ ngày mai, có chuyện cứ trực tiếp tâu với Trẫm...” Nói xong im lặng trở về lều, bố trí ngày hôm sau toàn lực tiến công trại quân của Tiểu Trân.
Nhưng không cần phải đánh nhau nữa. Sáng sớm ngày hôm sau, cửa giữa trại chính của Tiểu Trân mở toang, Mục Tát Nhĩ và Tiểu Trân lấy dây lĩnh vàng tự trói mình đến đại doanh Khang Hy đầu thú. Chỉ còn ba ngàn quân phiêu kỵ của Cát Nhĩ Đơn bỏ dao vất cung, xếp thành hàng theo sau hai người, đến trước lều to của Khang Hy, quỳ đen trước lều. Khang Hy vội vàng sai người mở trói, đón vào trong lều nói chuyện. Nguyên Tiểu Trân tưởng chồng mình đã chết trong tay quân Thanh, định thề chết quần đánh với Khang Hy. Mục Tát Nhĩ đi đường vòng mấy ngàn dặm, ngày hôm đó về đến đại doanh, lại nghe tin Cát Nhĩ Đơn chết. Vợ chồng Tiểu Trân vốn không muốn đối địch với triều đình, bàn với nhau đem toàn quân đi đầu thú. A Tú và Tiểu Trân vốn là bạn tốt với nhau, nói ra, Tiểu Trân còn cứu mạng A Tú, bây giờ chị em gặp mặt, bất giác ôm nhau mà khóc, người Mông, Mãn, Hán trong lều thấy tình cảnh này ai cũng xúc động rơi lệ.
Khang Hy lúc này vui buồn lẫn lộn, xoa tay liên tiếp xuýt xoa. Nỗi lo lắng mấy chục năm nay bỗng tiêu tan mây khói! Nhưng hai đội quân đều không có lương thực, ngựa, lạc đà đều đã giết gần hết, giải quyết làm sao đây? Đang lúng túng, thì Niên Canh Nghiêu lại nói: “Có phải Hoàng thượng lo lắng về lương thực chăng? Thần nghĩ, quân địch mặt chính không còn thì lương thực bên Phi quân môn có thể chuyển tới! Hôm nay phóng ngựa đi truyền chỉ, thần nghĩ trong vòng ba ngày nhất định có số lương thực lớn chuyển tới!” Khang Hy nhìn trừng trừng Niên Canh Nghiêu rất lâu, cười to nói: “Tốt, tốt, không nhận ra ngươi nữa, quả là có tài làm tướng! Ngươi giết Cát Lễ là thay trời thi hành lệnh, Trẫm không bắt tội, ngươi yên tâm!”
Tin tức vừa truyền ra, quả nhiên chiều tối ngày thứ tư, hai ngàn cỗ xe to chở đầy gạo, cao lương, yến mạch, ngô, thịt lợn, thịt bò, dê từ phía tây kéo đến, lại do chính Phi Dương Cổ áp tải. Tiếng hò reo vang dậy trong doanh trại quân Thanh và trại quân Mục Tát Nhĩ. Binh sĩ các bộ lạc vui hò nhảy múa, hô to “Vạn tuế”. Tiếng hoan hô, tiếng hát ca như sấm dậy trên bờ sông Tháp Mễ Nhĩ, những con người vui vẻ, không phân bên này bên kia, họ ôm nhau nhảy múa, tiếng tiêu tiếng sáo, tiếng đàn đầu ngựa vang lừng trên bầu trời thảo nguyên.
“Vạn tuế, Người gầy nhiều rồi, để cho Người chịu khổ như vậy, lòng thần...” Phi Dương Cổ tấm thân gầy đét phủ phục trước mặt Khang Hy, ông đã khóc không thành tiếng, lời nói lộn xộn, “...Được cái là Cát Nhĩ Đơn coi như chết thảm, lương thực cũng cung... cung cấp được rồi, quân của thần chết đói một ngàn bốn trăm mười một người...”.
Khang Hy hai tay đỡ ông dậy, nhìn ông rất lâu nói: “Đừng khóc, hôm nay là ngày vui mà! Hôm nay hai đoàn quân gặp nhau, còn tướng tá của Mục Tát Nhĩ đầu hàng, có rượu, có thịt, có lương thực, chúng ta vui vẻ thoải mái hết mình! Khanh cũng gầy... đến nỗi Trẫm không nhận ra được nữa, trở về bảo Mặc Cúc nuôi dưỡng cho tốt...”. Cứ nói, cứ nói, mắt Khang Hy cũng chảy tràn ra những giọt nước mắt to bằng hạt đậu.
Đêm đó từ trong lều lớn trung quân của Khang Hy, đến các doanh, kể cả doanh trại Mục Tát Nhĩ đều tổ chức tiệc mừng, quân sĩ nhiều ngày đói đến đầu choáng mắt hoa, nâng ly chúc mừng nhau dưới ánh đèn đuốc sáng trưng, họ ăn uống thoải mái. Trong lều lớn trung quân, Khang Hy đứng đầu, bên cạnh có Phi Dương Cổ. Võ Đơn, Tố Luân cũng phá lệ cho ngồi chếch phía bên phải. Đầu kia, Mục Tát Nhĩ và Tiểu Trân ngồi nghiêm chỉnh, lại có A Tú ngồi bên. Chén ly chạm nhau, tiếng hoan hô, tiếng cười rộn ràng, thể hiện cảnh tượng hòa mục, thân mật không chút ngăn cách.
“Vạn tuế”, Phi Dương Cổ nhân có rượu, cao hứng, thấy Khang Hy vui vẻ, mặt tỏa sáng hồng hào, ông nói: “Sau khi Cát Nhĩ Đơn thất bại, cháu ông ta Sách Vọng A La Bố Thản đã đoạt quyền làm Hãn, xưng thần với triều đình. Hãn Thổ Nhĩ Hộ Đặc là nhạc phụ của Sách Vọng cũng bắt tay giảng hòa với triều đình, các bộ lạc tây Mông Cổ đều đã êm thấm vô sự. Nô tài nghĩ...”.
“Ừm”, Khang Hy nghe rất chuyên chú, thấy Phi Dương Cổ do dự liền quay đầu nói: “Nói tiếp đi”.
“Nô tài nghĩ, phải bắt chước trung nguyên, đổi chính thể các bộ lạc Ca Nhĩ Ca thành chế độ quận thú”. Phi Dương Cổ nói, “Như vậy, sự tiết chế của trung ương mạnh hơn, có thể bảo đảm tây cương vĩnh viễn không có nạn binh đao!”
Nghe những lời này, Mục Tát Nhĩ, Tiểu Trân, A Tú đều sửng sốt, dừng rượu lại, nhìn sững Khang Hy. Khang Hy suy nghĩ căng thẳng, rất lâu vẫn không nói gì. Sau đó rất lâu, một ông già Mông Cổ râu bạc trắng ngồi sau Tiểu Trân, cầm chiếc đàn đầu ngựa, run lật bật nói: “Hãn Bác Cách Đạt, người Mông Cổ không uống rượu khan. Chúng tôi từ lâu đã mong mỏi có thể thấy được phong độ của ngài, hôm nay không thể ngồi không. Tôi họ Hồ, tuy là người Mông Cổ, nhưng cùng với công chúa Cách cách của tôi đều theo họ Hán, tôi có chút nghề mọn, muốn dâng lên cho mọi người thêm hứng thú.”
“Được!” Khang Hy một lúc chưa có chủ định gì, bèn cười nói “Thử nghe cái đàn đầu ngựa của ông, để thư giãn khoan khoái một chút”.
Già Hồ nghiêng mình làm lễ, ngồi xếp bằng xuống, thử dây, chiếc đàn đầu ngựa du dương lập tức lên tiếng, già Hồ hát:
Hoa tuyết như tơ phủ chiến bào,
Đoạt lấy Hoàng Hà làm tàu ngựa,
Diệt vương của ta hề, bắt ca kỹ ta.
Ta muốn đi hề không lạc đà!
Ô hô Hoàng Hà lên bắc hề phải làm sao!
Ô hô Bắc đẩu về nam hề phải làm sao!
Hát xong nằm phủ phục đau thương, nước mắt nước mũi chảy đầm đìa, cử tọa thảy đều sụt sùi. Khang Hy nghe bất giác cũng động lòng, bèn nói với Phi Dương Cổ: “Điều khanh nói không được, vẫn để người Mông Cổ tự trị là tốt. Có điều không để từng nơi muốn làm gì thì làm như trước. Thủ lĩnh bộ Ca Nhĩ Ca vẫn có thể xưng Hãn, nhưng phải chia làm 49 cờ, quân đội nơi nào do trưởng cờ nơi đó chỉ huy, trực thuộc trung ương. Trẫm còn chưa suy nghĩ kỹ. Thân nhân quyền quý của Ca Nhĩ Ca lưu lạc ở trung nguyên và sa mạc bắc phải về đất cũ, phân phong chia ra các đẳng cấp thân vương, quận vương, bối lặc, bối tử, trấn quốc công, phụ quốc công. Đại thể là như vậy, thì Ca Nhĩ Ca xem như đặt dưới sự quản lý của triều đình rồi. Việc này trở về phải bàn kỹ lần nữa với các đại thần phòng dâng thư, sau đó làm chiếu công khai ban bố cho thiên hạ!”
Khang Hy mới nghĩ sơ sơ, việc bàn bạc lần này đã cho thấy là không quận, không phủ, vì có quận phủ chẳng những chính phủ phải tăng chi tiêu, mà giữa người Mông và người Hán rất khó đồng tâm hiệp lực đến cùng, mỗi khi gặp biến cố, trời thì cao, Hoàng đế thì ở xa, roi dài không với tới, vẫn sinh loạn như cũ. Người Mông tự trị, là phân quyền trực thuộc trung ương, họ rất khó lại kết thành một khối để đối địch với triều đình. Ổn định Ca Nhị Ca rồi, cũng có nghĩa là xây được một bức trường thành ở biên cương phía tây, chẳng những không sợ bộ lạc Chuẩn Cát Nhĩ ở Y lê lại nổi lên tâm địa khác, ngay cả con đường La Sát xâm nhập vào trong cũng bịt chặt. Người từ Mục Tát Nhĩ trở xuống, cả A Tú, Tiểu Trân không hiểu nổi ý sâu của Khang Hy, nhưng yêu cầu người Mông Cổ được tự trị đã làm họ sung sướng lộ ra ngoài mặt, bất giác lệ nóng tràn mi, nhất loạt nâng ly chúc thọ Khang Hy, cao hô: “Nguyện thiên tử chí tôn Hãn Bác Cách Đạt thánh thọ vô cương!”
Cuộc chiến tây vực kết thúc, xa giá lập tức hồi loan. Từ sa mạc to rộng, từ ngoài biên cương gió cát mịt mù lạnh lẽo tiến vào Cam Đông, đã là tiết Xuân Dương tháng 4. Cao nguyên Cam Thiểm cây cỏ xanh um, non xanh nước biếc, núi xa xanh thẳm, mây trắng nhởn nhơ. Đội quân chín phần chết một phần sống thắng lợi trở về, ai cũng có cảm giác như từ một cõi nào cách xa trần thế trở về. Vượt qua thành Đông Thắng, không xa là Hoàng Hà, đại quân qua sông tại đây, qua Đại Đồng, đi thẳng Bắc Kinh. Trên đường đi đọc sớ tâu nói nước Hoàng Hà trong rồi, Khang Hy còn nói là quan phía dưới báo láo mong điều tốt lành nhằm khích lệ lòng quân. Đến khi qua sông, tận mắt nhìn thấy, nước Hoàng Hà cuồn cuộn đổ về đông, quả thật lặng yên như cô gái trinh. Nhà vua tới bờ sông, hai tay vốc một vốc nước, tuy không phải không có chút bùn cát nào, nhưng những đường vân, chỉ tay đều nhìn rất rõ, như nước giếng mới vừa cảo xong, chỉ hơi đục một chút thôi.
“Trời!” Khang Hy đôi mắt nhìn lên trời xanh, để cho nước chảy qua kẽ ngón tay, “trong thật rồi” lòng ông bỗng xúc động, những người trị thủy kỳ tài như Cận Phụ, Trần Hoàng không được tin dùng, quả là một sai lầm lớn của người làm vua! Nhà vua vội lên thuyền, ra lệnh: “Nhanh, về Bắc Kinh nhanh lên!”
Cao Sĩ Kỳ và Sách Ngạch Đồ sau khi Cát Nhĩ Đơn chết liền thỉnh chỉ về Bắc Kinh trước. Nghe nói Thánh giá sắp hồi loan, toàn kinh thành đều sôi động. Từ Cư Dung quan đến Bắc Kinh toàn dùng đất vàng lót đường, hàng ngày quét dọn, ven đường mấy mươi dặm, bá tánh dùng hương hoa rượu ngọt hoan nghênh đội quân vua khải hoàn. Mấy trăm tòa cửa màu, dùng lụa vàng bọc quanh, lá tùng bách lấp lánh. Pháo tép, pháo tre đì đùng nổ liên tiếp không ngớt, quả là cảnh phồn hoa nhung gấm, phú quý phong lưu. Hoàng Thái tử dẫn Trương Đình Ngọc, Đồng Quốc Duy, Cao Sĩ Kỳ, Sách Ngạch Đồ, đi đón ngoài ba mươi dặm.
“Trẫm khỏe!” Khang Hy chỉ liếc nhìn Sách Ngạch Đồ quỳ sụp dưới đất lạy, giơ tay ra hiệu mọi người đứng lên, đưa mắt nhìn các đại thần người nào cũng tinh thần phấn chấn, hỏi: “Cận Phụ đâu, không đến hả?”
Đồng Quốc Duy vội tới trước nghiêng mình đáp: “Bẩm Hoàng thượng, ba tháng trước đây, Cận Phụ đã ốm chết rồi. Ông ta đã bị cách chức, theo lệ không tâu báo...”.
“Ừm”. Khang Hy nét mặt u buồn, nói rồi lên xe đi, các thức ăn của ngon vật lạ, trái cây, rượu ngọt chuẩn bị sẵn đặt trong lều rơm đều không động đến một miếng, làm cho văn võ bá quan ngơ ngác nhìn nhau, vội vàng theo xa giá vào thành.
Khang Hy vào thành yết bái thái miếu, lễ đàn sao, tế thiên đàn, về tới Tử Cấm Thành đã là giờ Dậu. Bọn thái giám Hà Ngọc Trụ, Lý Đức Toàn bận rộn bao nhiêu ngày, dọn dẹp nơi này mới tinh tươm, chỗ nào cũng đặt những thứ Khang Hy thích ăn, lại đặt thêm nhiều đồ chơi và vật cống của tây dương, Khang Hy đều không chú ý, chỉ truyền chỉ gọi Trương Đình Ngọc và Cao Sĩ Kỳ.
“Vụ án Minh Châu phải kết thúc thôi”. Khang Hy bảo A Tú mang lên nước sâm, vừa nhắp uống vừa nói chậm rãi: “Tham ô, gây tệ hại ở trường thi, hãm hại đại thần đều có cả, phải cách chức tản trật đại thần, cho nghỉ ngơi tại kinh, vĩnh viễn không được sử dụng”.
“Vâng”. Trương Đình Ngọc khẽ trả lời, rồi đi thảo chỉ. Cao Sĩ Kỳ nhân đó nói: “Vụ án Minh Châu liên can tới nô tài. Việc các quan vạch tội, tuy không thật chính xác, nhưng do thiên tử sáng suốt, không dễ có người bôi bẩn, nô tài mong thánh chủ mở cho một mắt lưới, cho nô tài do tội lỗi từ chức đại thần phòng dâng thư”.
Khang Hy im lặng rất lâu, nói: “Khanh tạm tránh đi một thời gian cũng tốt. Nhưng tài học của khanh cũng không thể phế bỏ. Sau khi Hùng Tứ Lý đi, quốc sử quán không người coi quản. Khanh rút khỏi phòng dâng thư, chuyên môn tu chỉnh lịch sử, được chứ?” Cao Sĩ Kỳ vốn rất lo lắng, lập tức yên lòng, vô cùng cảm kích, nước mắt trào ra, anh quỳ xuống tâu: “Quả là Thánh thượng yêu thần, bảo vệ thần, nô tài tuy kết cỏ ngậm vành, cũng không đủ đáp đền thánh ân muôn một...”.
“Vạn tuế”, Trương Đình Ngọc cầm bản thảo tờ chiếu lặng lẽ đi tới bên Khang Hy, nói: “Xin Thánh thượng xem qua”.
Khang Hy cầm lấy xem rất kỹ, nói: “Không có ai liên lụy, rất tốt, đem đi đóng ấn đi”. Trương Đình Ngọc nhận lại tờ chiếu, quay người đi ra, Khang Hy gọi giật lại: “Khanh đi truyền chỉ, Sách Ngạch Đồ kể từ hôm nay không cần vào trực, có cần gì để Giản thân vương Lạt Bố thay tâu lên. À còn nữa, lập tức đưa Trần Hoàng ở ngục Thần miếu đến gặp Trẫm ngay”.
“Vâng ạ”, Trương Đình Ngọc mắt lóe sáng, nghiêng mình đáp. Cao Sĩ Kỳ không muốn nán lại thêm một chút nào ở cái chốn thị phi này, liền xin cáo từ. Nhưng Khang Hy tỏ ra rất ôn hòa, đã đứng lên tiễn ra ngoài điện, vua đứng lại dưới hiên nói: “Khanh nếu có việc muốn gặp Trẫm, thì bảo Đình Ngọc một tiếng, vào đây trò chuyện với Trẫm giải khuây cũng tốt, thôi đi đi”.
Nửa canh giờ sau, Trần Hoàng phụng chỉ được đưa tới, nhưng phải dùng cáng khênh. Anh ta vốn đen gầy, bây giờ ốm còn như nắm xương, nằm thẳng đơ, nhắm mắt im lặng. Sắc mặt vừa tái vừa xám, đầu tóc rối bời, quần áo không biết bao nhiêu ngày không thay, lại có mùi hôi thối ngục tù. A Tú đứng tựa long án sắc mặt trắng bệch, câm lặng không nói được một lời.
“Trần Hoàng”, Khang Hy bước tới gần, khom lưng gọi khẽ, “Trần... Trần tiên sinh!”
Trần Hoàng từ từ mở mắt ra, thấy Khang Hy, ánh mắt lóe lên một tia lửa, rồi nhắm lại, anh nói giọng yếu ớt: “Là... Vạn tuế à... Tôi sáu mạch đều đã dứt, không còn hy vọng sống nữa... Người cứ xử tội đi... xử tội đi...”.
“Trẫm... Trẫm đã chuốc lấy sai lầm to, Trẫm phải dùng ngươi!” Khang Hy nói, “Còn Bành Học Nhân, Phong Chí Nhân, đều dùng hết. Ngươi không nên tuyệt vọng, Trẫm có thầy thuốc giỏi, có thuốc tốt, Trẫm phải chữa khỏi cho ngươi. Chẳng phải ngươi thích trị thủy sao? Trẫm giao Hoàng Hà cho ngươi! Hoàng Hà... đã trong rồi... Trẫm muốn nó phải tiếp tục trong, một ngàn năm, một vạn năm...”.
Thần trí Trần Hoàng bây giờ mới tỉnh táo lại, anh bất lực lắc đầu, nói: “Vu Thành Long là quan tốt, nhưng ông ta không biết trị thủy... trị Hoàng Hà... thực ra là trị cát... ông ta không biết, chỉ biết khống chế cát, không biết trị... Chúa thượng nhất định phải bắt ông trị... trị cát!” Tay anh run mệt nhọc rút trong túi ra một tập giấy nát như vải rách, “đây... đây là cuốn Hà phòng yếu thuật (Điều quan trọng về phòng chống lũ lụt sông)... giấy không tốt, bút không tốt... cũng không có bàn...” Anh đưa tập giấy cho Khang Hy, chợt nhìn thấy A Tú toàn thân run rẩy đứng tựa vào bàn!
Đời người có bao nhiêu cuộc gặp gỡ lạ lùng! Làm sao lại gặp nhau ở tại đây? Lúc này, người này, tình này, cảnh này, trong lòng A Tú bao mối tình cảm giao nhau dồn nén, nàng không nói được một lời. Trần Hoàng cũng chỉ ánh mắt lướt qua, lập tức hôn mê bất tỉnh. Khang Hy mấy bước đi ra ngoài điện, giật giọng gọi to: “Mau, bay đâu đưa nhanh Trần Hoàng tới viện thái y!”
Ngay đêm đó, cứu chữa vô hiệu, ngậm đắng nuốt cay, một đời bôn ba trên sông Hoàng Hà, Trần Hoàng đã vĩnh viễn ra đi. Đêm hôm đó, cả Khang Hy và A Tú đều mất ngủ, trong đêm tối, không ai nói ra lời, chỉ chong mắt long lanh, mỗi người nghĩ riêng nỗi niềm tâm sự của mình.
Trần Hoàng nói vô cùng chính xác, Vu Thành Long quả thực không biết trị cát. Ba năm nay, hạ du Hoàng Hà ứ đọng cát làm mực nước dâng cao. May mà cao nguyên Thiểm Cam trồng cỏ trồng cây, giữ núi dưỡng rừng, đất, nước giữ được tốt, giảm bớt cát chảy, nếu không thì đã vỡ đê rồi. Đến năm Khang Hy thứ 36, cơn lũ mùa thu tới thực sự không chống đỡ nổi, từ Lan Khảo về đông, bảy mươi hai nơi cùng bị vỡ, hủy hoại sạch sành sanh các công trình đập chia lũ, đập nước, kênh dẫn nước do Cận Phụ, Trần Hoàng khổ công xây đắp. Chỉ riêng đê họ Cao, Thanh Giang đã làm ngập bốn mươi hai vạn khoảnh ruộng, toàn bộ đồn điền hồi trước tranh chấp nhau đến vỡ đầu mẻ trán nay đã biến thành một biển nước mênh mông. Vu Thành Long mấy lần nhảy sông tự vẫn, đều được thuộc hạ cứu sống. Ông ta trở nên ngớ ngẩn, ngày nào cũng lê la trên bờ sông, các đồng liêu sợ quá, cứ phải theo sát, không dám rời ông nửa bước, sợ ông ta lại nghĩ cạn làm liều.
Vu Thành Long chết không được, nhưng thấy hàng ngàn hàng vạn dân gặp nạn kéo nhau đi ăn xin khắp phố, ông lại không muốn sống. Triều đình đối với ông rất ôn hòa, lại điều lương thực tiếp tế, lại sai quan đi ủy lạo an ủi, để cho ông phấn chấn mà sống, không hề nói một lời nặng nhẹ. Nhưng, bá tánh càng không có lời oán trách, triều đình không bắt tội, Vu Thành Long vẫn thấy xấu hổ trên cõi đời. Suy tính suốt mấy tháng, ông tự đóng gông mình, đi thuyền quan lên Bắc Kinh nhận tội.
Một vị đại sứ biên cương, mang gông vào kinh, trên gông lại viết “Tổng đốc vỡ đê Vu Thành Long”! Lập tức làm náo động cả Bắc Kinh. Khang Hy lệnh cho Võ Đơn thái giám cưỡng lôi ông ta lên kiệu, khênh vào cung Càn Thanh.
“Khanh làm cái gì vậy?” Khang Hy tự mở gông ra cho Vu Thành Long, “Đại thần quốc gia làm việc theo cảm tính như vậy, chẳng còn ra thể thống gì nữa! Trị thủy vỡ đê cũng là chuyện thường tình! Trẫm cũng không bắt tội!”
Vu Thành Long lạy nói: “Hoàng thượng không bắt tội, thì chưa chắc là không có tội. Có tội mà không bắt tội, càng đau buồn hơn là giết thần. Thần đã không thể chết, chỉ đành tự mình chịu nhục...”.
“Con người khanh quá cố chấp”. Khang Hy cười nói, “Đây lại là cốt cách nhà nghèo. Cận Phụ hồi đó trị sông cũng bị vỡ đê không ít, Trẫm cũng không vì vỡ đê mà làm gì ông ta”. Bây giờ nhắc tới Cận Phụ, lòng Vu Thành Long còn đau hơn dao cắt, ông cúi đầu thật thấp, chỉ biết nghẹn ngào, một hồi lâu mới khóc mà nói: “Thần bị sách cổ nhân làm hỏng việc gây nên lỗi lầm lớn, tuy biết cái sai ngày trước, nhưng đã không thể vãn hồi. Thần nguyện... chết để tạ tội Cận Phụ, Trần Hoàng..., đáng thương hai người lúc còn sống bị thần làm nhục, chưa được hưởng phúc một ngày.”
Lòng Khang Hy cũng đau nhói. Không lâu sau khi Trần Hoàng mất, A Tú muốn để tóc mà tu hành, Khang Hy không bắt tội, cũng không ân chuẩn, mà cho lập một cái ấp ở Long Hóa, nơi giáp giới Mông Hán, để người ngoài khỏi bình phẩm bèn đổi tên là làng Hoàng Cô. Còn đối với Vu Thành Long, nghĩ tới việc xưa, làm sao không thương tâm? Nhà vua hít vào một hơi dài nói: “Sách người xưa phải đọc, nhưng không thể cứ giữ lề thói cũ, một mực ăn tươi nuốt sống, sai lầm của khanh là ở đây. Đây có sách Hà phòng yếu thuật do Trần Hoàng viết, Trẫm đã sai người tu bổ, khanh cầm lấy đọc kỹ vào. Chức Tổng đốc hà vụ vẫn do khanh đảm trách, bây giờ không giống ngày trước, mỗi năm có thể rút cho khanh bốn triệu bạc, khanh nhất định phải trị cho tốt Hoàng Hà và đường vận chuyển sông!”
Vu Thành Long tạ ơn, mắt ngấn lệ lui ra đã quá giờ Mùi. Đã đến lúc truyền bữa tối, nhưng Khang Hy không muốn ăn một chút nào. Trong lò ngự, khói hương ngào ngạt, đồng hồ chuông kêu tích tắc. Bên ngoài hai bên con đường hành lang dài dằng dặc, các vệ sĩ và quân vũ lâm cầm dao đứng yên, một cảnh tượng nghiêm trang cung kính.
Thời thịnh trị vẫn có nỗi buồn lo, Khang Hy im lặng suy tư, bước ra ngoài điện. Giờ này nhà vua sợ nhất là trong nội bộ, giữa bức bình phong tiềm ẩn một nguồn gốc tai họa. Nghĩ vậy nhà vua ngước mặt ra lệnh: “Truyền mời Hoàng thái tử!”
“Truyền mời Hoàng thái tử!”
“Truyền mời Hoàng thái tử...”.
Tiếng này tiếp tiếng kia, tiếng hô càng truyền càng vang xa...
Hết tập ba

