Kỳ Án Săn Ma - Chương 5

V

CUỐN SÁCH MA THUẬT ĐÊM GIÁNG SINH

Giữa tháng 5 năm 1978, dù mùa xuân chưa tới nhưng hoa thủy tiên đã nở rộ ở vùng Connecticut. Lorraine lên kế hoạch dành cả thứ Bảy ngày 13 để trồng cây lá gấm trong khu vườn phía sau nhà, nhưng một đợt gió mạnh thổi qua tiểu bang và gây ra mưa lớn liên tiếp trong năm ngày sau đó. Thời tiết ảm đạm lúc này là cái kết phù hợp cho một tuần chẳng có gì diễn ra đúng như ý muốn. Thật ra Lorraine đã vô cùng căng thẳng kể từ đầu tháng, và bà biết điều gì đó sẽ sớm phải trao đi.

Với cơn mưa vẫn đang xối xả bên ngoài, vợ chồng nhà Warren dành cả buổi chiều thứ Bảy ẩm ướt đó để lên kế hoạch cho chuyến đi đến Anh sắp tới. Vì công việc, họ thường xuyen đến Vương quốc Anh, họ đã tích lũy được nhiều kiến thức chuyên môn về các địa điểm ma ám ở đây, và nhờ vậy nên được mời đến thuyết giảng trên tàu Nữ hoàng Elizabeth II vào tháng 6. Khi đến Anh, họ sẽ dành hai ngày ở London, sắp xếp một cuộc phỏng vấn cùng với BBC, sau đó chu du đến miền Yorkshire, Edinburgh, vùng cao nguyên Scotland gần Hồ Loch Ness và bãi đá cổ Stonehenge trước khi trở về thành phố Southampton vào tháng 7 để diễn thuyết.

Sau khi rút gọn các kế hoạch ở Vương quốc Anh vào chiều hôm đó, vợ chồng nhà Warren cùng nhau ra ngoài ăn tối. Về đến nhà sau nửa đêm, Lorraine ngồi xem lại các cuộc gọi nhỡ trên máy trả lời tự động: có một tin nhắn từ một người bạn ở Los Angeles; tiếp theo đó là một cuộc gọi từ con gái Judy của họ, con bé đang đi nghỉ ở Virginia; kế đến là một chàng trai trẻ yêu cầu được sắp xếp một cuộc hẹn với Ed; sau đó là một loạt những tiếng lách cách và âm thanh vù vù kỳ lạ, rồi giọng nói quẫn trí của một người phụ nữ xa lạ vang lên:

“Tôi hy vọng ông bà có thể nghe thấy tôi. Tên tôi là Foster, Sandy Foster. Tôi không biết chính xác chuyện gì đã và đang xảy ra ở đây,” cô ấy nói với giọng mất kiểm soát, “nhưng các con tôi bị đánh và… và… và bị truy đuổi bởi thứ gì đó…” cô ấy do dự, “Và có ai hay thứ gì đó ở trong nhà, trên lầu, tại một trong số các phòng ngủ của các con tôi. Xin hãy gọi lại cho tôi ngay khi có thể.”

Cả Ed và Lorraine đều im lặng lắng nghe khi người phụ nữ đau khổ đọc địa chỉ và số điện thoại của mình. Mặc dù lúc đó là 12 giờ 40 phút sáng, Lorraine lập tức cố gắng trả lời cuộc gọi của người phụ nữ. Ed giải thích: “Khi một trường hợp tìm đến chúng tôi, chúng tôi sẽ ngay lập tức liên hệ với cá nhân hoặc gia đình gặp rắc rối đó. Nếu vụ việc cần chúng tôi vào cuộc, chúng tôi sẽ đề nghị giúp đỡ. Chúng tôi sẽ nói với gia đình nạn nhân rằng chúng tôi không tính phí cho khoảng thời gian chúng tôi phải bỏ ra, nhưng chúng tôi cần họ hoàn trả những chi phí cơ bản [chẳng hạn như vé máy bay, phòng khách sạn, v.v.]. Nếu họ đồng ý, chúng tôi sẽ sắp xếp một cuộc hẹn sớm nhất có thể. Thông thường, chúng tôi sẽ lên đường trong vòng một hoặc hai giờ.”

Điện thoại của cô Foster reo liên tục, sau đó ngắt kết nối. Lorraine cúp máy và gọi lại. Lần này nghe có vẻ như ai đó ở đầu dây bên kia đã nhấc máy, nhưng điện thoại vẫn tiếp tục đổ chuông. Lần thứ ba thử số điện thoại đó, Lorraine cũng nhận được phản hồi gây khó chịu tương tự.

Lorraine không biết phải làm thế nào nên đã gọi cho tổng đài, tổng đài viên quay số nhưng cũng gặp phải vấn đề y hệt. Kết quả là, tổng đài viên buộc phải liên lạc với quản lý của cô ấy, người này sau đó đã lắng nghe lời giải thích của Lorraine về việc bà ấy đang cố gắng trả lời một cuộc gọi cầu cứu. Hiểu được tình hình, người quản lý thực hiện cuộc gọi thông qua một số quy trình kiểm tra điện tử nhưng cũng không có kết quả. Người quản lý bối rối thừa nhận: “Tín hiệu bên đầu nhận không có vấn đề gì cả; đáng lẽ ra cuộc gọi của bà phải được kết nối rồi.” Thế nhưng vợ chồng nhà Warren không thể làm được gì trong đêm đó.

Với kinh nghiệm của Ed và Lorraine, chuyện xảy ra với điện thoại của gia đình Foster không phải là hiện tượng lạ thường. Trên thực tế, những mánh khỏe tác động lên đồ điện tử như vậy rất phổ biến và thường do linh hồn quỷ dữ gây ra. Can thiệp, cản trở, gây bối rối – chiến thuật trì hoãn – là chiến lược quen thuộc của những linh hồn với khả năng thao túng cả những biến số vật lý và siêu hình.

Sáng hôm sau, Chủ nhật ngày 14, vợ chồng Warren lái xe đến nhà thờ. Trên đường đi, mùi phân nồng nặc xộc vào trong xe của họ. Sau đó, giữa buổi lễ nhà thờ, mùi hôi thối đó lại lần nữa toả ra xung quanh hai người. Một lần nữa, khi họ đang lái xe trở về nhà, họ lại cảm thấy buồn nôn vì mùi hôi thối kinh tởm. Tuy nhiên, Ed và Lorraine không cho rằng nó liên quan tới vụ việc ma quỷ mà họ sắp điều tra vào chiều hôm đó.

Khi vợ chồng nhà Warren từ nhà thờ trở về nhà, Lorraine ngay lập tức gọi điện cho gia đình Foster. Tới tiếng chuông thứ hai thì cô Foster nhấc máy trả lời điện thoại. Lorraine kể cho cô ấy nghe về những khó khăn mà bà gặp phải khi cố gọi cho gia đình họ vào đêm hôm trước. “Điện thoại vẫn hoạt động bình thường,” người phụ nữ trả lời, “nhưng nó không đổ chuông sau nửa đêm. Tôi biết rõ điều đó vì tôi luôn đợi phản hồi từ ông bà.” Vấn đề với chiếc điện thoại càng khiến người phụ nữ lo lắng hơn. Vì thế, Lorraine hẹn đến thăm gia đình họ vào chiều hôm đó.

2 giờ chiều, vợ chồng nhà Warren đến nhà gia đình Foster. Đó là một ngôi nhà phong cách Cape Cod điển hình nằm trên một khoảng rừng, Ed và Lorraine sau đó khám phá ra rằng gia đình Foster đã sống ở đây mười ba năm.

Tất cả các thành viên trong gia đình đều có mặt vào buổi chiều hôm đó. Al Foster, nhân viên sửa chữa và bảo dưỡng đường dây của công ty điện thoại, là một người đàn ông ba mươi lăm tuổi trông rất trẻ trung, phong độ. Vợ anh, người mà Lorraine đã nói chuyện qua điện thoại, trạc tuổi chồng cô, nhưng cô trông có vẻ u sầu và buồn bã. Tuy nhiên, họ không phải là những người chứng kiến hiện tượng dị thường. Người trải qua hiện tượng trên là ba người con của họ: Abby, mười lăm tuổi; Joel, mười bốn tuổi; và Hannah, mười một tuổi.

Ed đặt thiết bị thu âm trên một chiếc bàn gần đó, trong khi Lorraine xin phép họ đi xem xét trong nhà. Khi vợ chồng nhà Warren làm việc cùng nhau, Lorraine thường sẽ là người điều tra các ngóc ngách trong nhà nhờ khả năng ngoại cảm, còn Ed phỏng vấn gia đình nạn nhân. Bà sẽ bắt đầu ở tầng hầm rồi đi lên các tầng trên, dừng bước ở mọi căn phòng. Bởi vì thấu thị là một khả năng thuộc về giác quan giống như năm giác quan còn lại, nên bà không thể từ chối việc nghe hay nhìn thấy những chuyện tâm linh xảy ra xung quanh mình. Do đó, nếu có linh hồn hiện diện trong nhà, khả năng cao là Lorraine sẽ nhận thức được nó ngay.

Khi bà rời khỏi phòng, Ed bắt đầu hỏi sâu hơn vào các vấn đề.

Vợ chồng nhà Foster khẳng định rằng họ chưa từng trải qua bất kỳ hiện tượng nào mà những người con của họ nói đến. “Nhưng tôi nghĩ,” cô Foster nói, “đây có lẽ là lỗi của tôi ít nhất là vì tôi thiếu hiểu biết về vấn đề này. Meg luôn quan tâm đến những điều huyền bí – thuật phù thủy, bùa chú, những thứ tương tự như vậy. Con bé có một thư viện nhỏ, nhưng lại không có cuốn sách nào về triệu hồi cả. Vì vậy, Giáng sinh năm ngoái, tôi đã mua cho con bé một cuốn sách triệu hồi quỷ dữ làm quà. Thành thật mà nói, tôi không nghĩ rằng những thứ như vậy sẽ xảy ra.”

“Được rồi,” Ed nói, quay sang Meg. “Hiện giờ cuốn sách đó ở đâu?”

“Trên lầu ạ,” cô bé trả lời. “Đó là một cuốn sách bìa mềm. Nó dạy cách làm thế nào để triệu hồi mấy thứ kiểu như bảy mươi lăm con quỷ khác nhau. Trong đó cũng cho biết nghi thức chính xác và cảnh báo rõ ràng cái giá phải trả nếu thực hiện nghi thức.”

“Thế cháu đã thực hiện nghi thức nào chưa?”

“Rồi ạ.”

“Cháu đã triệu hồi những loài quỷ nào rồi?”

“Loài quỷ nào ư?” Cô bé lặp lại. “Cháu không biết. Cháu chỉ thực hiện một vài nghi thức dễ làm, những nghi thức mà cháu có thể hiểu và đủ dụng cụ để thực hiện. Tuy nhiên, khi cháu tiến hành, không có gì xảy ra cả. Vì vậy, cháu không còn bận tâm đến chúng nữa.”

“Đôi khi, kết quả của nghi thức đó sẽ đến trong vài ngày, vài tuần, vài tháng, thậm chí là vài năm sau đó,” Ed thông báo với cô bé. “Hãy kể cho chú nghe về những gì đã xảy ra với cháu trong tuần này. Chú tin là cháu gặp rắc rối rồi đấy.”

“Hai lần rồi ạ,” Meg nói.

“Ai ở đây đã có mặt khi chuyện đó xảy ra?”

“Joel, Erin và cháu, Meg trả lời, “Lần đầu tiên là vào thứ Năm vừa rồi. Lúc đó, bố mẹ cháu đến thăm nhà bạn của họ. Chúng cháu ở nhà vì phải đi học vào ngày hôm sau. Erin và Joel nằm ở trên giường. Cháu vừa mới tắm xong, đi xuống cầu thang để kiểm tra xem các cánh cửa đã được khóa chưa. Cháu cũng đã tắt radio và đèn ở tầng dưới trước khi quay trở lại tầng trên.”

“Khi đến phòng ngủ của mình, cháu đã nghe thấy tiếng nước chảy trong phòng tắm. Lúc đầu cháu không nghĩ nhiều, nhưng vài phút sau, cháu đi xuống hành lang và thấy rằng tất cả các vòi nước đều mở. Cháu đã tắt chúng đi. Nhưng rồi cháu lại nghe thấy tiếng radio ở tầng dưới. Đèn cũng bật sáng! Cháu đã hét lên: Ai ở đó? Nhưng không ai trả lời. Trước khi xuống lầu một lần nữa, cháu nhìn vào phòng của Erin. Em ấy đang ngủ trên giường. Cháu cũng ngó qua phòng của Joel, nhưng em ấy chưa ngủ. Cháu đã hỏi có phải em ấy bật radio ở tầng dưới không, nhưng Joel nói không phải em ấy làm. Vì vậy, cháu đi xuống dưới tắt đèn và radio lần thứ hai.”

“Khi cháu trở lại tầng trên, vòi nước trong phòng tắm lại mở tiếp! Điều này khiến cháu phát điên vì đinh ninh Joel đã làm mấy việc đó. Nhưng khi cháu bước ra khỏi phòng tắm, radio đang bật rất to và tất cả đèn đều sáng ở tầng dưới! Cháu đi vào phòng của Joel và nói: ‘Có ai đó đột nhập vào nhà.”

“Joel, cháu có nghe thấy tiếng radio không?” Ed hỏi.

“Vâng, cháu có nghe thấy, nhưng cháu không để ý mấy,” cậu bé trả lời.

“Cháu đã bật nước à?” Ed hỏi nhanh, hy vọng có thể bắt được đúng lúc cậu bé mất cảnh giác.

“Không hề!” Cậu bé trả lời. “Cháu thậm chí còn không rời khỏi giường.”

“Được rồi, Meg,” Ed nói, “hãy tiếp tục câu chuyện vừa nãy.”

“Từ trên lầu, cháu có thể nghe thấy tiếng radio thay đổi đài, vì vậy cháu lại quay xuống dưới ngay lập tức, chắc mẩm rằng bố mẹ cháu đã về nhà. Khi xuống đó, lần này cháu thấy mặt số radio tự di chuyển qua lại, cháu chỉ biết đứng đó và nhìn, rồi cháu bắt đầu cảm thấy sợ. Cháu tắt radio và đèn một lần nữa, nhưng khi đi được nửa cầu thang, cháu cảm thấy có một bàn tay lạnh như băng chạm vào vai, chỉ một tích tắc trong bóng tối. Cháu gần như đã suýt hét lên, nhưng đã kiềm lại được. Cháu đi thẳng lên phòng ngủ của mình, đóng cửa và tắt đèn. Thế nhưng, trước khi cháu lên giường, cháu nghe thấy tiếng bước chân, như thể ai đó đang bước ra khỏi phòng cháu và tiến về phía hành lang. Nhưng cửa phòng cháu đâu có mở!”

“Cháu không nghĩ rằng chuyện này có gì đó rất lạ sao?” Ed hỏi.

“Chắc chắn là có rồi ạ,” Meg nói. “Cháu sợ đến kinh hồn bạt vía!”

“Erin, cháu có nghe thấy tiếng radio không?” Ed hỏi cô bé.

“Không ạ, lúc đó cháu đã ngủ,” cô bé trả lời.

“Nào, Meg, có chuyện gì khác xảy ra sau khi cháu nghe thấy tiếng bước chân rời khỏi phòng không?”

“Có, rất nhiều tiếng bước chân! Lúc đó cháu lên giường, nằm xuống và nhắm mắt lại. Đột nhiên, cháu nghe thấy tiếng cửa đóng sầm thật mạnh ở tầng dưới. Sau đó là tiếng đồ đạc bị xô đẩy và đổ sụp, giống như có ai đó rất tức giận đang ném chúng vậy. Cháu thực sự nghĩ rằng có ai đó đang ở trong nhà mình, nhưng do quá sợ hãi nên cháu chỉ đành nhắm mắt lại. Mặc dù nhắm mắt, nhưng cháu vẫn he hé nhìn toàn bộ căn phòng của mình! Cháu mở mắt ra thì thấy cũng không có gì khác biệt. Thế là cháu lại nhắm mắt. Sau đó – qua mí mắt ― cháu thấy một vệt ánh sáng bạc phóng ra từ rừng và xuyên thẳng vào phòng ngủ của cháu. Nó vẫn ở đó kể cả khi cháu mở mắt ra. Điều tiếp theo mà cháu biết là có một thứ gì đó – một bàn tay nào đó – giật tóc cháu ba lần. Lần sau nó lại kéo mạnh hơn lần trước, đến lần thứ ba thì cháu đã đau đến chảy cả nước mắt. Sau đó, cháu hét lên và chạy vào phòng của Joel.”

“Joel,” Ed hỏi, “Cháu có nghe thấy tiếng động ở tầng dưới không.”

“Có ạ,” cậu bé trả lời.

“Tại sao cháu lại không làm gì cả?”

“Cháu quá sợ hãi,” cậu bé thừa nhận.

“Được rồi,” Ed nói, “Erin, còn cháu thì sao?”

“Cháu nghe thấy tiếng đồ đạc bị ném, và khi Meg hét lên, cháu cũng chạy vào phòng của Joel.”

“Những chuyện này đã xảy ra vào khoảng thời gian nào?” Ed hỏi.

“Đó là một điểm rất lạ,” Meg trả lời Ed. “Khi cháu ra khỏi phòng tắm là khoảng 10 giờ 30 phút, nhưng đồng hồ trong phòng ngủ của cháu đã chạy nhanh hơn ba giờ. Còn khi cháu bước vào phòng của Joel, đồng hồ của em ấy lại chạy chậm hơn ba giờ.”

“Được rồi, khi cháu ở trong phòng của Joel, tiếng động có dừng lại không?”

“Tiếng động thậm chí còn ồn ào hơn” Meg nói.

“Cháu có nghe thấy bất kỳ âm thanh nào khác trong nhà vào thời điểm đó không? Tiếng đập vào tường? Giọng nói? Hay tiếng gõ cửa chẳng hạn?”

“Không ạ, chỉ có tiếng cửa đóng sầm lại, tiếng bước chân và đồ đạc bị ném xung quanh,” Joel nói. “Còn Erin, cháu nghe thấy gì?”

“Tương tự như những gì Joel đã nghe ạ.”

“Cháu còn nghe thấy tiếng thì thầm lớn bên tai,” Meg nói thêm.

“Cháu không phóng đại lên chứ?” Ed hỏi cô bé. “Không ạ.”

“Còn bước chân thì sao?” Ed nói tiếp. “Nó có dẫn các cháu đến đâu không?”

“Họ đi vòng quanh theo vòng tròn,” Joel nói và Meg cũng gật đầu đồng ý.

“Sau khi các cháu đi vào phòng ngủ của Joel và nghe thấy những âm thanh này ở tầng dưới,” Ed lặp lại, “các cháu đã làm gì?”

“Chúng cháu cãi nhau,” Joel trả lời. “Meg muốn báo cảnh sát, nhưng cháu không cho chị ấy gọi vì cháu biết không có ai ở dưới đó cả! Nếu cảnh sát đến, cháu nghĩ họ sẽ buộc tội chúng cháu chơi khăm họ.”

“Cuối cùng, chúng cháu đã quyết định gọi cho bố mẹ,” Meg lên tiếng.

“Nhưng khi bố mẹ cháu trở về nhà, mọi thứ đã dừng lại. Họ nói rằng chúng cháu mệt nên tưởng tượng ra những chuyện như thế và không tin chúng cháu!”

“Cô Foster,” Ed hỏi, “cô đã bao giờ nhìn thấy hoặc nghe thấy bất cứ điều gì bất thường trong ngôi nhà này chưa?”

“Chưa, như tôi đã nói trước đó, tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì. Điều bất thường duy nhất mà tôi nghe thấy là tiếng chim sơn ca.” Cô ấy khựng lại. “Nhiều năm qua, chúng tôi có một cây thông lớn bên ngoài cửa sổ phòng ngủ. Vài tháng trước, chúng tôi đã đốn cái cây đó đi. Nhưng bây giờ, trong suốt ba tuần qua, đêm nào cũng vậy, Al và tôi nghe thấy tiếng một con chim sơn ca hót bên ngoài cửa sổ của chúng tôi, ngay vị trí cái cây đó.”

“Al, anh cũng nghe thấy tiếng chim à?” Ed hỏi.

“Vâng, hằng đêm,” anh trả lời. “Tôi không để ý chuyện này lắm, nhưng tôi thắc mắc là chim không hót vào ban đêm, phải không?”

“Không” Ed nói. “Không bình thường chút nào.”

“Chà, hóa ra tất cả mọi người đều đã trải qua sự kiện gì đó ở đây,” Ed tóm tắt, “mọi người có nghĩ rằng ngôi nhà này bị ma ám không?”

“Cháu nghĩ vậy,” Meg nói.

“Cháu cũng thế,” Joel trả lời. Erin và mẹ cô bé gật gù đồng ý.

“Còn anh Foster?” Ed hỏi.

“À, tôi không biết nữa. Tôi chưa bao giờ thấy tận mắt những điều như thế diễn ra.”

Ngay sau đó, Lorraine trở lại dưới lầu. Bà kín đáo gật đầu với Ed, ra hiệu cho ông biết rằng trong nhà có sự hiện diện của một linh hồn, rồi ngồi vào bàn ăn. Để không thay đổi không khí của cuộc trò chuyện, Ed chưa vội hỏi Lorraine về ấn tượng của bà mà tiếp tục ghi lại thêm vài thông tin từ gia đình Foster.

“Meg, cháu nói là những hiện tượng này đã xảy ra với các cháu hai lần,” Ed nhắc lại. “Lần thứ hai đã xảy ra chuyện gì?”

“Lần thứ hai là đêm qua,” Joel trả lời. “Chỉ có Meg và cháu ở đây. Gần giống như những gì xảy ra vào hôm thứ Năm. Lần này Meg đang ở trong phòng ngủ, còn cháu thì đi tắm. Khi bước ra khỏi phòng tắm, cháu nghe thấy tiếng radio ở tầng dưới. Radio lần lượt chuyển hết đài này sang đài khác và cháu đã hét xuống dưới đó là: ‘Đừng chuyển đài nữa. Nhưng khi cháu bước xuống cầu thang thì không có ai ở đó ngoại trừ chú chó. Nó gầm gừ dữ dội với thứ gì đó trong phòng. Điều đó thực sự kỳ lạ, bởi vì nó không thể nghe thấy bất cứ điều gì. Chó của chúng cháu bị điếc! Sau đó, cháu nhớ lại đêm hôm trước nên chạy lên tầng và đi ngủ. Khoảng năm phút sau, có tiếng bước chân đi xuống, khiến cả căn nhà rung lên. Đồ đạc bắt đầu bị ném xung quanh. Lần đầu tiên cháu đã sợ rồi, nhưng lần này là thực sự chết khiếp ạ.”

“Cháu cũng nghe thấy phải không, Meg?” Ed hỏi.

“Vâng, giống hệt như Joel kể. Cháu thậm chí còn hét lên với Joel rằng: ‘Em có nghe thấy không?” Nhưng em ấy lại hét lên với cháu là: ‘Im miệng đi!”

“Cháu nghĩ là bản thân không muốn thừa nhận việc kinh khủng đó thực sự đang xảy ra một lần nữa,” Joel bộc bạch.

“Khi cháu ở trong phòng của mình, cháu có nhìn thấy hoặc cảm thấy điều gì bất thường không?” Ed hỏi Joel.

“Không, không có gì bất thường cả.”

“Còn Meg thì sao?”

“Cháu càng cảm thấy sợ hãi thì mọi thứ càng trở nên ồn ào ở tầng dưới. Lần thứ hai, cháu thấy một đám mây tím đen trong phòng ngủ của mình. Cháu không dám nhìn thẳng vào nó chỉ liếc nhìn qua khóe mắt. Khi đám mây màu tím đó ở trong phòng, cháu cứ nhắm nghiền mắt lại để không phải nhìn thấy nó. Cháu nằm đó, hai tay nắm chặt thành nắm đấm. Đột nhiên cháu cảm thấy có một bàn tay vô hình cố gắng kéo những ngón tay đang siết chặt của cháu ra! Bàn tay đó rất khỏe, giống như của một người đàn ông trưởng thành. Nó không thể làm cháu buông tay, nên nó giật mạnh cánh tay cháu và cố gắng kéo cháu ra khỏi giường. Nó kéo cháu ra gần nửa giường thì cháu hét lên cầu cứu. Sau đó, nó buông tha, và cháu chạy vào phòng của Joel.”

Ed nhìn về phía Joel. “Chuyện gì xảy ra tiếp theo?”

“Meg và cháu muốn gọi cảnh sát, bố mẹ hoặc bất kỳ ai,” cậu bé trả lời, “nhưng chúng cháu không dám ra khỏi phòng. Meg đã kể cho cháu nghe về bàn tay vô hình đó, và cả hai đều cảm thấy sẽ có chuyện gì đó nữa xảy ra.”

“Kiểu như thế nào?”

“Chúng cháu không biết nữa,” cậu bé trả lời. “Nhưng chúng cháu cảm thấy một thứ gì đó rất khủng khiếp đang ở xung quanh mình. Cháu không biết phải diễn tả như thế nào. Dù sao thì chúng cháu muốn ra khỏi nhà, nhưng không muốn đi qua tầng dưới. Chị Meg nói rằng chúng cháu nên nhảy ra khỏi cửa sổ, nhưng cháu nghĩ làm thế thật điên rồ. Cháu bảo chị ấy là cả ba sẽ cùng chạy ra ngoài. Meg mặc quần áo lấy từ tủ quần áo của cháu vì chị ấy sẽ không quay trở lại phòng của mình. Sau đó, cháu mở cửa phòng ngủ, từ phòng ngủ có thể nhìn thấy đèn điện sáng ở tầng dưới và nghe thấy những tiếng bước chân xung quanh. Nhưng chúng cháu không quan tâm, chúng cháu chỉ muốn thoát ra: vì vậy chúng cháu quyết định tháo chạy thoát thân.”

“Chúng cháu an toàn đến được hành lang, không có gì xảy ra cả,” Meg nói, “ngoại trừ toàn bộ tầng trên đang nóng đến đổ mồ hôi. Vì vậy, chúng cháu chạy xuống cầu thang nhanh nhất có thể và lao ra ngoài bằng cửa chính.”

“Cháu có thấy đồ đạc bị lật tung ở phòng dưới tầng không?”

“Không, cháu không nghĩ vậy. Đồ đạc không ở đúng chỗ, nhưng cháu không nghĩ có món nào đổ vỡ.”

“Có phải không, Meg?”

“Cháu thậm chí còn không dám nhìn,” cô bé thừa nhận.

“Tất cả những gì ở trong nhà mà cháu còn nhớ,” Joel nói tiếp, “là radio đang không phát kênh nào cả – nó ù ù, giống như bị nhiễu sóng vậy. Dù sao thì chúng cháu cũng đã thoát ra khỏi nhà và quyết định chạy đến khuôn viên trường đại học để gọi cho ai đó. Cháu sẽ không bao giờ quên ngày hôm đó. Có những chú chó ở bên ngoài, và khi chúng thấy chúng cháu chạy, chúng cũng bắt đầu chạy cùng chúng cháu. Nhưng khi đến gần, chúng chạy ngược lại. Còn những con chim – khi chạy dọc theo bìa rừng, chúng cháu thấy cả khu rừng tràn ngập những con chim đang ríu rít inh ỏi!”

“Lúc đó là mấy giờ vậy, Joel?”

“Khoảng 11 giờ đến 11 giờ 30 đêm ạ.”

“Bên cạnh thực tế là chim không hoạt động vào ban đêm, còn điều gì bất thường trong việc này không? Cháu có để ý thấy tiếng ríu rít chỉ đến từ một phía, có lẽ là từ bên trái không?”

“Vâng, chỉ ở bên trái thôi ạ,” cậu bé nói một cách dứt khoát. “Làm sao bác biết được điều đó?”

“Làm sao bác biết không quan trọng” Ed nói với cậu bé. “Hãy tiếp tục kể lại những gì các cháu đã gặp trên đường.”

“Chúng cháu chạy trên đường, nhưng có thứ gì đó đuổi theo sau,” cậu bé nói tiếp. “Dù thứ ở trong nhà có là gì thì nó cũng đã đuổi theo chúng cháu. Chúng cháu chạy về phía đèn đường, bởi vì chúng cháu cảm thấy mình sẽ an toàn nếu đi đến đó. Nhưng có vẻ như chúng cháu sẽ không thể tới được phía ánh sáng. Chúng cháu không thể nhúc nhích thêm chút nào. Cứ như chúng cháu chỉ đang chạy tại chỗ. Chúng cháu bị một trường lực nào đó kéo lại.”

“Nếu thứ đó đuổi kịp cháu, Meg, cháu nghĩ điều gì sẽ xảy ra?” Ed hỏi.

“Nó đã bắt kịp chúng cháu!” Meg nói. “Nó rất nặng và nó cố gắng ép chúng cháu xuống đường. Nếu chúng cháu không đến được nơi có ánh sáng, nó sẽ giết bọn cháu.”

“Tại sao cháu lại nói như vậy?”

“Bởi vì lúc đó xung quanh chẳng có chút không khí nào để thở,” cô bé trả lời.

“Bằng cách nào đó,” Joel nhớ lại, “chúng cháu đã đến được chỗ có đèn đường. Từ đó, chúng cháu có thể nhìn thấy ngôi nhà. Chúng cháu vẫn chưa đi xa. Những con chim ríu rít ầm trời lúc nãy rơi rụng và chết trên mặt đất. Dưới ánh sáng, chúng cháu cảm thấy an toàn hơn; ít nhất là không còn cảm thấy áp lực bóp nghẹt hơi thở như ban nãy nữa. Nhưng ánh sáng dường như ngày càng mờ, vì vậy chúng cháu quyết định chạy đến khuôn viên trường mà không dừng lại. Tuy nhiên, khi chúng cháu rời xa ánh sáng, tiếng rít vang lên còn lớn hơn trước. Nó làm chúng cháu kinh hãi. Nhưng chúng cháu vẫn chạy, và tiếp tục chạy hết sức bình sinh cho đến khi đến được ngã tư, nơi có những chiếc xe. Đó là lần đầu tiên chúng cháu cảm thấy thực sự an toàn. Sau đó, chúng cháu đi dọc theo con đường cho đến khi tới được một cửa hàng còn mở cửa. Cháu mua đồ với tờ một đô-la và nhận về tiền lẻ. Sau đó, chúng cháu đi bộ đến khuôn viên trường và tìm thấy một chiếc điện thoại. Đôi chân Meg đã phồng rộp do đi giày của cháu. Vì vậy, chị ấy ngồi ở ngưỡng cửa, còn cháu thì gọi điện cho bố mẹ.”

“Cháu có gặp khó khăn gì khi liên hệ với bố mẹ không?” Lorraine xen vào.

“Không ạ,” Joel trả lời. “Cháu đã liên hệ được với họ và kể lại chuyện đã xảy ra, nhưng họ nói rằng chúng cháu đang mơ và tốt hơn là nên quay trở lại giường ngủ,” cậu bé trả lời có phần giận dữ. “Cháu nói với họ rằng chúng cháu hiện không ở nhà – chúng cháu đang ở trong khuôn viên trường và sẽ không về nhà! Trong khi đang nói chuyện thì cháu thấy có một chú cảnh sát tuần tra khuôn viên trường đã đi đến và bắt chuyện với Meg. Mẹ bảo cháu nhờ chú ấy đưa chúng cháu về nhà và nói với cháu rằng họ sẽ về với chúng cháu ngay. . Sau đó, không có gì khác xảy ra nữa cả — ít nhất là không có gì cho đến ngày hôm nay.”

Những người còn lại trong gia đình ngồi lặng lẽ, mỗi người đều đang cố gắng tiếp nhận câu chuyện kỳ lạ và khủng khiếp mà đám trẻ đã trải qua.

Ed sau đó hỏi Lorraine và bà trả lời với gia đình rằng: “Ở tầng dưới, tôi chỉ cảm thấy có một luồng năng lượng tiêu cực. Nhưng dường như có một thứ gì đó ở tầng trên, trong những phòng ngủ của một đứa nhỏ. Tôi không chắc là phòng nào. Khi tôi vào phòng ngủ của Joel, tôi đột nhiên cảm thấy hoang mang tột độ, như thể ai đó đang rút cạn không khí xung quanh vậy.”

“Chúng cháu cũng cảm thấy như vậy!” Meg ngạc nhiên đồng tình.

“Cảm giác ấy khiến tôi mất hết nhận thức về nơi mà mình đang đứng,” Lorraine nói tiếp. “Khi tôi tự mình thoát ra khỏi căn phòng đó, tôi đã đi đến một cánh cửa mà tôi cho là cửa phòng ngủ của Meg. Đứng cạnh cửa, tôi cảm thấy áp lực đè lên đầu và vai bắt đầu buộc tôi phải lùi về phía sau và đi xuống cầu thang. Tôi quyết định không đi vào căn phòng đó. Đó chính là nơi quỷ dữ hiện diện, và với khả năng của mình, tôi cho rằng linh hồn đó đang ở trong phòng ngủ của Meg. Cháu có để nến triệu hồi đen trong phòng không?” Lorraine hỏi.

“Có ạ,” Meg trả lời, ngạc nhiên trước câu hỏi mình nhận được.

Ed nhìn mọi người đang ngồi xung quanh bàn. Cả gia đình đều trông có vẻ sợ hãi và bất lực. Anh Foster dường như cảm thấy bản thân trở nên vô dụng vì không thể đối phó với vấn đề – mặc dù vô hình đang diễn ra trong chính ngôi nhà của mình.

“Nếu mọi thứ không đi quá xa,” Ed nói với họ, “Tôi sẽ cố gắng giải quyết vấn đề. Tại sao mọi người không lái xe ra ngoài vào Chủ nhật nhỉ? Rời khỏi ngôi nhà ngột ngạt này trong khoảng một giờ,” Ed đề nghị. “Và trong khi cả gia đình ra ngoài, đừng thảo luận hay nghĩ về những sự kiện trong những ngày qua. Khi mọi người trở về, chúng ta có thể bàn về vấn đề này tiếp.”

Họ vui mừng khi biết rằng vấn đề nan giải có thể giải quyết. Người chồng nhanh chóng đưa cả gia đình mình ra khỏi cửa trước, và trong vòng chưa đầy một phút, họ đã ở trong xe và lên đường.

Ed và Lorraine vẫn ở bên trong. Họ biết rằng những đứa trẻ không thể bịa ra câu chuyện của chúng vì nó có quá nhiều chi tiết cụ thể và chỉ có thể thuật lại được khi đã trải qua những điều đó. Đúng vậy, những điều bọn trẻ nói đều không quá mới mẻ với Ed và Lorraine. Tất cả các chi tiết mà đám trẻ kể đều khớp với những hiện tượng ma quỷ họ từng gặp phải trước đây. Tuy nhiên, bây giờ, nhiệm vụ của họ là tìm ra bản chất thực sự của linh hồn đang hiện diện – rồi xua tan nó.

Tại sao lại phải bảo gia đình nạn nhân ra khỏi nhà?

“Nếu thông tin mà tôi thu được trong cuộc phỏng vấn còn mơ hồ, hoặc nếu không có hiện tượng rõ ràng nào xảy ra,” Ed trả lời, “thì để xác định xem linh hồn hiện diện là người đã khuất hay quỷ dữ, tôi sẽ phải sử dụng đến những phép kích thích tôn giáo: nó nguy hiểm, nhưng cũng là phương pháp hiệu quả nhất giúp tiết lộ bản chất của linh hồn. Gần như bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra trong những tình huống kiểu đó, vì vậy nếu tôi phải dùng đến phép, tôi sẽ đề nghị mọi người trong nhà đi ăn trưa và ở lại một mình. Trong một số trường hợp, Lorraine sẽ ở lại cùng tôi, nhưng vai trò của cô ấy chỉ là nhận biết bản chất. Người có khả năng thấu thị không thể làm gì để chống lại một linh hồn quỷ dữ xảo quyệt, nhưng một thực thể tiêu cực lại có nhiều cách gây tổn hại nghiêm trọng đến các cá nhân nhạy cảm này. Khi tôi đi một mình, tôi sẽ sử dụng các phép kích thích bởi vì tôi không phải là một nhà ngoại cảm tôi cần kích động mọi thứ xung quanh thì mới nhận thức được sự tồn tại của linh hồn thông qua năm giác quan của mình như bất kỳ ai khác. Tôi luôn mang theo di vật của Thánh Padre Pio để bảo vệ bản thân; tôi càng thêm vào bên mình sức mạnh tôn giáo thì nó càng dễ kích động phản ứng lại hơn. Khi biết bản thân đang phải chống lại điều gì, nhiều khi tôi còn cảm thấy thoải mái hơn cả việc phải mang theo cần nạy lốp xe và một khẩu súng ngắn. Nhưng bạn không thể tiêu diệt thứ thực thể đã tồn tại từ thuở sơ khai.”

“Tuy nhiên, khi tôi ở đó một mình, ngôi nhà lại chìm vào tĩnh lặng. Dường như không có gì không ổn ở đây cả. Tôi sẽ đến khu vực nào xảy ra hỗn loạn trước. Nếu gia đình nạn nhân không rõ địa điểm сц thể xảy ra hiện tượng thì tôi sẽ đi từ phòng này sang phòng khác cho đến khi có chuyện xảy ra. Trong trường hợp một hồn ma là thứ đứng sau mọi chuyện thì nó chắc chắn sẽ để lại dấu hiệu khi tôi đi quanh nhà. Đó là lúc nó biết trò đùa đã kết thúc, một hồn ma thực sự không mong muốn đối nghịch với Chúa. Nhưng nếu đó là một linh hồn quỷ dữ, thề hận Chúa và bị các đồ vật tôn giáo đánh lùi, sớm muộn gì mọi thứ cũng sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát nổi. Nhiệt độ trong nhà sẽ giảm xuống cho đến khi không gian xung quanh lạnh cóng như nhà xác, hoặc tăng lên như nhiệt độ lò nướng. Nhiệt độ tăng sẽ khiến mùi hôi thối như thịt thối rữa hoặc một số mùi hôi khác nồng nặc hơn. Tôi có thể nghe thấy thứ gì đó phát nổ. Một giọng nói đe dọa, nghe không giống như giọng của con người, sẽ lệnh cho tôi cút đi. Tôi có thể nghe thấy tiếng bước chân – thông qua thần giao cách cảm – đang chạy lên cầu thang. Đây là âm mưu dụ tôi đi theo để dồn tôi vào góc phòng nào đó. Những bàn tay vô hình có thể viết nguệch ngoạc những dòng chữ tục tĩu trên bức tường trước mặt tôi. Nhưng cũng có lần chẳng có gì xảy ra cả. Và rồi khi tôi ít phòng bị nhất, linh hồn sẽ phản bội chính nó và bắt đầu hiện hình dưới dạng một cái bóng màu đen. Vậy tại sao quá trình sử dụng các phép kích thích tôn giáo lại hiệu quả? Là do có tôi ư? Không đâu. Nó hiệu quả vì linh hồn quỷ dữ ghét bất kỳ thứ gì đề cập đến tên của Chúa hoặc sử dụng các đồ vật tôn giáo. Thực thể này đầy tội lỗi, thù hận và ghen tị đến mức khi tiếp xúc với các phép kích thích tôn giáo, nó phải chịu đau đớn tột cùng.

Ở nhà Foster, vợ chồng nhà Warren làm việc cùng nhau. Với mục đích khiêu khích linh hồn, Ed đã sử dụng một cây thánh giá và nước thánh — cả hai vật phẩm đều là sự nguyền rủa đối với thứ quỷ dữ ghét cay ghét đắng. Tìm được đường xuống tầng hầm, Ed rải nước thánh ở cả bốn góc sàn. Rồi ông lớn tiếng tuyên bố:

“Nhân danh Chúa Jesus, ta lệnh cho tất cả các linh hồn – dù là người đã khuất hay ma quỷ – phải rời khỏi nơi này và không bao giờ được trở lại.” Vợ chồng nhà Warren chờ đợi phản hồi, nhưng không có bất kỳ điều gì xảy ra.

Tại sao Ed lại được phép sử dụng nước thánh trong khi ông không phải là linh mục?

“Được phép hay không không phải là vấn đề,” Ed nói. “Mọi người đều được phép sử dụng nước thánh trong nhà của mình. Sự khác biệt ở đây là nước tôi sử dụng trong công việc của mình đã được những vị linh mục đặc biệt, những thầy trừ tà, ban phước. Loại nước này mang nguồn năng lượng tích cực thực sự. Không phải nó quý giá, mà chính lòng mộ đạo nó thể hiện mới quyền năng. Tôi chỉ sử dụng nước, chứ không ban phước cho nó.”

Ở tầng một, Ed lặp lại nghi thức đó ở mỗi phòng. Quá trình này, được nhà trừ tà gọi là khắc chế linh hồn, khiến linh hồn xâm nhập vào ngôi nhà phải xuất đầu lộ diện (nếu có) hoặc rời đi. Sau khi “khắc chế linh hồn” ở căn hầm và tất cả các phòng ở tầng dưới mà không gặp bất kỳ chống trả nào, vợ chồng nhà Warren bắt đầu tiếp cận tầng hai, nơi họ biết hiểm nguy đang rình rập. Nhưng khi họ chuẩn bị hành động, một nỗi kinh hoàng đáng sợ lướt ngang qua họ. Đối với hai vợ chồng, thứ cảm xúc từ thần giao cách cảm mà có này, thứ mà cả hai người đều cảm nhận được cùng một lúc, là dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự hiện diện của linh hồn quỷ dữ. Ed nói: “Quỷ dữ gieo rắc nỗi kinh hoàng giống với cách con rắn đuôi chuông sử dụng tiếng kêu của nó như một lời cảnh báo.”

Một mùi nấm mốc nồng nặc bốc lên trong phòng. Đột nhiên có một tia sáng chuyển động ở đầu cầu thang. Sau đó, một cánh cửa đóng sầm lại – âm thanh đó thực sự khiến họ giật mình. Hai người suy nghĩ kỹ về việc tiến xa hơn. Họ biết rằng bất kỳ phán đoán sai lầm nào cũng đều ẩn chứa nguy cơ gây ra những sự kiện kinh hoàng có thể kéo dài trong nhiều năm.

Tuy nhiên, như thường lệ, vợ chồng nhà Warren tiếp tục dấn thân. Họ bắt đầu leo cầu thang để lên tầng hai. Tuy nhiên, dù có cố gắng hết sức, cả Ed và Lorraine đều không thể đi được hơn nửa chặng đường; một trường lực không thể xuyên thủng và không chịu khuất phục giữ chân hai người. Lorraine kể, “Có cảm giác như chúng tôi đang đi dưới dòng sông chảy xiết, ngập đến vai chúng tôi, đẩy tôi lại bằng một lực vô cùng mạnh.” Họ càng chống cự thì sức mạnh đối nghịch với họ lại càng lớn hơn. Vợ chồng nhà Warren từ từ lùi xuống cầu thang để không bị hất văng về phía sau.

Dưới chân cầu thang, trong một giây ngắn ngủi, một tiếng cười quỷ dị vang lên. Ed bực bội hắt thêm nước thánh lên cầu thang, khiến áp lực giảm bớt đi để họ lên được tầng trên. Tầng hai được chia thành các phòng ngủ tách biệt, một hành lang dài ở giữa chạy dọc theo chiều rộng của ngôi nhà.

Ed rắc nước thánh lên phòng Erin và đọc lệnh trục xuất, nhưng không có điều gì xảy ra cả. Sau khi khắc chế phòng của Erin, hai người chuyển đến phòng của Joel. Cánh cửa gỗ nhẹ, vốn mở ra trước đó, giờ đã đóng lại. Ed xoay núm vặn, rồi dùng đầu ngón tay đẩy cửa ra. Họ nhẹ nhõm vì căn phòng trống vắng không có gì cả. Một lần nữa, Ed thực hiện phép khắc chế mà không gặp rắc rối nào. Phòng của Meg là điểm dừng chân cuối cùng.

Cánh cửa phòng của cô con gái lớn cũng bị đóng lại. Hai vợ chồng không biết điều gì đang chờ đợi họ ở phía sau cánh cửa đó. Ed vặn tay nắm, mở khóa cánh cửa, sau đó đẩy nó mở rộng ra. Cả hai đều lùi lại. Có thứ gì đó trong phòng. Mặc dù vô hình, nó vẫn toát ra thứ cảm giác khốn khổ tột cùng; một xúc cảm đau thương đến tan nát con tim được tạo ra bởi một thực thể đáng nguyền rủa. Tuy nhiên, vợ chồng nhà Warren đủ từng trải để biết rằng họ không được vướng phải cái bẫy xúc cảm ấy. Đó chỉ là một mưu mẹo để lôi kéo lòng đồng cảm mà thôi. Với sự điềm tĩnh và cứng rắn, Ed bước vào phòng, tay cầm cây thánh giá.

Mặc dù không thấy có sự hiện diện hữu hình nào ở đây, nhưng phòng ngủ vẫn lạnh cóng. Ed vẩy nước thánh vào cả bốn góc phòng lần cuối. Sau đó, ông ra lệnh: “Nhân danh Chúa, ta lệnh cho ngươi hiện diện ngay bây giờ – hoặc rời đi.” … Một sự im lặng chết chóc kéo dài. “Hãy cho chúng ta thấy dấu hiệu ngươi đã rời khỏi,” Ed nói to trong căn phòng trống, “nếu không việc trừ tà sẽ được tiến hành ở đây ngay trong hôm nay.” Gần như ngay lập tức, cảm giác đau khổ và tuyệt vọng ban nãy bắt đầu rút đi khỏi căn phòng. Sau đó, nhiệt độ trong phòng dần trở lại bình thường. Câu thần chú đã bị phá vỡ.

Nhìn quanh phòng ngủ, vợ chồng Warren đã hiểu lý do tại sao linh hồn lại chiếm căn phòng này làm căn cứ. Phòng ngủ của Meg chứa đầy nến triệu hồi màu đen, những bộ lễ phục huyền bí và đủ loại sách viết về nghi thức ma thuật nhiều loại. Ed đặt đồ đạc của cô bé vào trong thùng rác, mang chúng ra hành lang, sau đó “niêm phong” căn phòng bằng lời cầu nguyện.

Công việc của họ đã hoàn thành, vợ chồng Warren bước xuống cầu thang. Đối với họ, hôm đó là một buổi chiều Chủ nhật dài và căng thẳng vì phải đối đầu với những thứ ghê rợn. Nhìn qua cửa sổ phòng khách, Lorraine thấy gia đình Foster đang ngồi trong xe của họ. Bà mở cửa và vẫy họ vào nhà.

“Mọi thứ phụ thuộc vào hành động trong tương lai của mọi người,” Ed giải thích khi họ bước vào. “Nếu có bất kỳ điều gì muốn thay đổi trong cuộc sống của mình thì nên bắt đầu ngay bây giờ. Chắc chắn,” Ed nói riêng với Meg, “không nên thực hiện bất kỳ nghi lễ nào nữa! Tất cả những cuốn sách huyền bí và đồ dùng liên quan đến ma thuật trong phòng ngủ của cháu đều đã ở trong thùng rác rồi.”

“Ngoài ra, tôi thực sự khuyên hai người nên nhờ một linh mục ở đây ban phước cho nhà mình. Hai người thấy đấy, những chuyện đã xảy ra là do con gái hai người có dính líu đến các nghi lễ siêu nhiên và điều đó đã thu hút một linh hồn quỷ dữ vào nhà. Hãy thực hiện lễ ban phước cho ngôi nhà để đảm bảo linh hồn đó không quay lại nữa. Tuy nhiên, điều đó sẽ chỉ thành sự thật nếu mọi người giữ được một bầu không khí cảm xúc không thu hút các linh hồn như vậy vào nhà. Lời khuyên của tôi là hãy sắp xếp thực hiện lễ ban phước trong hôm nay, không nên chờ đến ngày mai.”

“Trên hết,” Ed nhấn mạnh, “biện pháp bảo vệ tốt nhất trong thời gian sắp tới là nghĩ về những điều tích cực như một lá chắn chống lại năng lượng tiêu cực. Nếu mọi người theo tôn giáo, hãy cân nhắc đến việc cả gia đình cùng đi nhà thờ mỗi tuần một lần để thể hiện lòng thành. Hành động này là một khởi đầu tốt để chống lại những thực thể tâm linh bị lôi kéo đến đây. Nói tóm lại, con gái của hai người đã làm điều gì đó tiêu cực nên bây giờ phải tìm năng lượng tích cực để cân bằng lại. Với tình trạng hiện tại, tất cả mọi người đều dễ bị tổn thương nếu những chuyện này lặp lại – trừ khi mọi người đều khởi phát mong muốn mãnh liệt là chúng sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Lorraine và tôi đã làm tất cả những gì có thể. Phần còn lại là tùy thuộc vào mọi người.”

Ở cửa trước, Ed dặn dò những lời cuối cùng: “Nhân tiện, linh hồn trong ngôi nhà này đã bị phong ấn,” ông cảnh báo, “nhưng nó vẫn chưa biến mất hoàn toàn.”

Đúng lúc đó, kính mắt của Lorraine bất ngờ bay khỏi tay bà ấy trước sự chứng kiến của mọi người, vòng một vòng trong không trung rồi đập xuống sàn, làm vỡ mắt kính bên trái. Gia đình Foster kinh ngạc nhìn, mặc dù họ gần như không hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Họ chỉ là những nạn nhân, những người coi những điều siêu nhiên là một trò chơi, trong khi thực tế, họ mới là đồ chơi của các thực thể ấy.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.