Lược Sử Kinh Tế Học - Chương 21-30
CHƯƠNG 21: Sự Chuyên Chế Của Chính Phủ
Một đêm trong thời kỳ Thế chiến II, hai người đàn ông ngồi trên mái nhà một tiểu giáo đường cổ của Đại học King, Cambridge. Họ đã leo lên đó để bảo vệ tòa nhà tránh khỏi bom do máy bay Đức thả xuống. Năm vị vua của Anh đã phải mất hơn một trăm năm để xây dựng tiểu giáo đường này. Bây giờ hai người đàn ông này sẽ bảo vệ nó chống lại bom của kẻ thù - bằng xẻng. (Ý tưởng là sử dụng xẻng để hất bất kỳ quả bom nào rơi xuống mái nhà.)
Bộ đôi dũng cảm ấy là hai trong số những nhà kinh tế học nổi tiếng nhất của thế kỷ 20. Tuy nhiên, họ chắc hẳn đã tạo thành một cặp đôi kỳ quặc. Trước hết, hai người họ có tư duy kinh tế hoàn toàn đối lập nhau. Người lớn tuổi hơn, John Maynard Keynes, người mà chúng ta đã gặp trong một chương trước, lúc này đã có tiếng tăm - một người Anh tài giỏi, có sức thuyết phục và cực kỳ tự tin. Người trẻ hơn là Friedrich Hayek (1899-1992), gốc Áo, một người trầm lặng hơn với cách nói chuyện trang trọng và chính xác. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Đại học Kinh tế London, nơi Hayek là giáo sư, đã được sơ tán đến Cambridge và ông đã sống trong trường đại học của Keynes. Hai người hàng xóm có những phản ứng rất khác nhau với những thảm họa của thập niên 1930 và 1940, hiện trạng thất nghiệp hàng loạt trên toàn thế giới, và sự nổi lên của Đức Quốc xã ở Đức đã châm ngòi cho một cuộc xung đột rất lớn và đó là lý do họ dành cả đêm trên mái nhà.
Chủ nghĩa phát xít, tất nhiên, là một hệ thống khủng khiếp đầy tàn nhẫn và giết chóc. Thật dễ dàng để tin rằng, trong khi Đức Quốc xã đại diện cho cái ác triệt để, thì các nước đối lập hoàn toàn khác biệt so với nó - là những xã hội hoàn toàn tốt đẹp và công bình. Phản ánh mọi chuyện như thế liệu đã đủ hay chưa? Hayek nghĩ là chưa. Trong thực tế, ông đã phát ngôn ra những câu khá khó chịu - thậm chí gây sốc. Đúng là Anh và Mỹ là những kẻ thù lớn nhất của Đức Quốc xã và đã chiến đấu và đánh bại đế chế này, nhưng họ có nhiều điểm chung với Đức Quốc xã hơn là họ muốn thừa nhận. Nền kinh tế Đức được kiểm soát chặt chẽ bởi chính phủ Đức Quốc xã. Ở Anh cũng vậy, nhiều người tin rằng chính phủ nên điều hành mọi thứ. Hayek nói rằng niềm tin này cuối cùng có thể dẫn đến sự kiểm soát hoàn toàn của chính phủ, không chỉ đối với nền kinh tế mà là toàn bộ đời sống nói chung. Kết quả cuối cùng sẽ là “chủ nghĩa toàn trị”, một xã hội trong đó chính phủ là đấng toàn năng và yêu cầu mọi người phải hoàn toàn phục tùng nó. Nếu bạn trái lệnh, bạn phải đối mặt với nhà tù hoặc thậm chí là cái chết. Chuyện đó đã xảy ra ở Đức, và nếu mọi người không cẩn thận thì nó cũng sẽ xảy ra ở Anh.
Làm sao Hayek lại có thể so sánh Đức Quốc xã với các quốc gia tự do, dân chủ như Anh và Mỹ như thế? Chắc hẳn sự so sánh là lố bịch nhỉ? Để hiểu những gì ông ấy ám chỉ, chúng ta cần phải nhìn vào những gì đã xảy ra với nền kinh tế châu Âu trong Thế chiến II và sau đó. Khi chiến tranh nổ ra, các chính phủ đã tiếp quản việc điều tiết sản xuất. Tại Anh, chính phủ đã ra lệnh cho các nhà máy sản xuất nhiều súng và máy bay cho quân đội hơn và ít hàng hóa thông thường như quần áo và giày dép hơn. Điều đó có nghĩa là mọi người có ít thứ để mua hơn. Người mua được phân bổ một lượng hàng hóa cơ bản cố định như bơ, trứng và đường thay vì có thể mua bất cứ thứ gì họ muốn bằng tiền của mình.
Đó là một thay đổi lớn đối với hệ thống những thị trường tự do bình thường, trong đó chính phủ cho phép các công ty làm những gì họ muốn, và mọi người mua những gì họ muốn và làm việc ở bất cứ nơi nào họ muốn. Nhưng đây là những thời điểm bất thường và cuộc sống kinh tế không thể tiếp tục một cách bình thường. Đây là nội dung của một tờ áp phích thời chiến: “Gia tăng sản xuất của Anh. Mau chóng tiêu diệt Đức Quốc xã”. Sự kiểm soát của chính phủ đối với nền kinh tế đã giúp thực hiện điều đó. Rất nhiều người cảm thấy rằng chính phủ nên tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế khi cuộc chiến đã kết thúc, và vào những năm 1940, các nhà kinh tế học đã đi đến kết luận rằng các chính phủ có vai trò quan trọng, dù có chiến tranh hay không. Keynes đã lập luận rằng nền kinh tế có thể mắc kẹt trong tình trạng tỉ lệ thất nghiệp cao mà không có cách nào tự thoát được, và chỉ có chính phủ mới có thể khắc phục vấn đề đó.
Nhiều người bình thường đã bắt đầu suy nghĩ theo hướng tương tự. Bạn sẽ tưởng tượng rằng để đốt thời gian trong những hầm trú ẩn không kích, mọi người hẳn sẽ đọc những cuốn tiểu thuyết trốn tránh thực tại thú vị. Chắc chắn điều mà chẳng ai muốn làm là đọc về kinh tế học và tài chính của chính phủ, phải không? Nhưng ở thời điểm cao trào của cuộc chiến, cuốn sách bán chạy nhất ở Anh lại là một báo cáo chính phủ dày cộp nói về những điều đó. Nó có tên là Bảo hiểm xã hội và các dịch vụ đồng minh (Social Insurance and Allied Services), và vào đêm trước khi nó được bán, người ta xếp hàng dài trên đường phố để có thể mua được một quyển. Tại sao họ lại thích đọc một cuốn sách có vẻ nặng nề như vậy? Bởi vì họ bị thu hút bởi chính ý tưởng mà Hayek đã cảnh báo: rằng chính phủ nên can thiệp nhiều vào nền kinh tế. Bản báo cáo giải thích những gì chính phủ sẽ làm sau khi chiến tranh kết thúc. Nó được viết bởi William Beveridge, một học giả kiêm cây bút nổi tiếng, người mà khi còn là một thanh niên đã làm việc giúp đỡ người nghèo ở khu Đông London. Bản báo cáo đã biến ông thành một anh hùng dân tộc, và mọi người đổ xô đến nghe ông thuyết giảng về nó. Trước chiến tranh, chính phủ đã giúp đỡ người nghèo, nhưng sự giúp đỡ ấy chỉ mang tính nhỏ lẻ. Beveridge muốn chính phủ bảo vệ mọi người khỏi những biến động của thị trường một cách toàn diện - từ chuyện không bị mất việc làm, không có đủ tiền để nuôi con, vân vân. Chính phủ phải chiến đấu với năm “cái ác khổng lồ”: thiếu thốn, bệnh tật, sự bẩn thỉu, sự dốt nát và sự lười nhác. Chính phủ sẽ thiết lập một hệ thống “an sinh xã hội” có thể hỗ trợ người thất nghiệp và người ốm đau. Chính phủ sẽ cung cấp bệnh viện, trường học và nhà ở, và thực hiện các chính sách kinh tế giúp tạo ra việc làm.
Hayek không đồng tình với quan điểm này về nền kinh tế. Người thầy của ông là Ludwig von Mises, nhà kinh tế học người Áo mà chúng ta đã gặp trong Chương 16, người đã nói rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ có thể thành công được. Nhưng Beveridge và Keynes đã không đề xuất một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế hậu chiến là một nền kinh tế “hỗn hợp”, một nền kinh tế trung gian giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Chính phủ sở hữu các ngành công nghiệp lớn như than đá và đường sắt, kiểm soát giá cả của một số hàng hóa và trả tiền cho các trường học và bệnh viện, mang lại tính chất xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế. Nhưng những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại: có một số lượng lớn các công ty tư nhân chạy theo lợi nhuận. Hayek từ chối sự thỏa hiệp ấy. Ông nói rằng sự kiểm soát của nhà nước đối với nền kinh tế sẽ tước đoạt tự do của người dân, ngay cả dưới cách thức trung tính của nền kinh tế hỗn hợp.
Vấn đề như Hayek thấy, là chính sự tiến bộ kinh tế ngoạn mục trong vài thế kỷ qua đã mang đến cho mọi người một cảm giác quyền lực. Sự tiến bộ tạo nên bởi hàng ngàn thị trường thiết lập nên một nền kinh tế, chứ nền kinh tế không được tạo ra bởi bất kỳ một cá nhân nào. Mọi người trở nên mất kiên nhẫn và muốn tiến bộ nhanh hơn. Chính phủ bắt đầu can thiệp vào các thị trường với hy vọng nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Tại sao điều này lại phá hủy tự do, đặc biệt nếu nó được thiết kế để giải phóng mọi người khỏi khó khăn kinh tế như Beveridge mong đợi? Hayek nghĩ nó phá hủy tự do, bởi vì mọi người có những ham muốn khác nhau và bất đồng về việc ham muốn nào là quan trọng nhất. Một số người muốn có nhiều phòng trưng bày nghệ thuật hơn, những người khác muốn có nhiều bể bơi hơn. Không thể phản ánh mong muốn của mọi người trong một kế hoạch duy nhất. Nếu chính phủ nắm quyền kiểm soát nền kinh tế thì nó sẽ quyết định thay bạn. Bạn không thể lựa chọn và quyền tự do cá nhân của bạn bị chà đạp.
Hayek nói rằng việc mất tự do thậm chí có thể khiến bạn mất mạng. Ông nói, “Phương sách cuối cùng của một nền kinh tế cạnh tranh là những người tịch thu tài sản”, nhưng “hình phạt tối cao của một nền kinh tế kế hoạch là người treo cổ”. Ý của ông là trong một nền kinh tế thị trường tự do nếu bạn lười biếng thì bạn mất tiền của bạn (vì bị sa thải hoặc thua lỗ). Nếu mọi việc trở nên vô cùng tồi tệ, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là một viên chức của tòa án (một người thi hành án) có thể chuyển giao tài sản của bạn cho những người mà bạn nợ tiền. Trong một nền kinh tế do nhà nước kiểm soát, nếu bạn không làm tốt công việc của mình, bạn sẽ không làm mất tiền của mình mà là ngân sách của nhà nước. Toàn bộ xã hội trả tiền cho những sai lầm của bạn. Bạn không thể hoàn trả cho người dân trong nước bằng tài sản của riêng bạn bởi vì nhà nước sở hữu mọi thứ. Bạn phải trả giá bằng cách đi tù hoặc, trong một trường hợp cực đoan, bằng mạng sống của bạn. Những gì bắt đầu như là một nỗ lực để thoát khỏi sự bất công của chủ nghĩa tư bản chấm dứt trong chế độ độc tài.
Đối với Hayek, Anh chống lại Đức Quốc xã bằng xe tăng và máy bay - hoặc một đôi xẻng - là không đủ. Nó còn phải chiến đấu với phát xít bằng chính những tư tưởng. Ý tưởng phải chiến thắng là ý tưởng về tự do kinh tế - chính phủ để mọi người tự quyết định họ sẽ làm gì. Không có tự do kinh tế thì không thể có tự do chính trị. Không có tự do chính trị, mọi người không thể tự quyết định bản thân sẽ làm gì được nữa. Chính phủ bảo bạn phải làm gì, nghĩ thế nào, sống ra sao. Hayek đã cảnh báo khi cuộc chiến đang vào hồi kết trong cuốn sách Đường về nô lệ (The Road to Serfdom). Ông cảm thấy phải viết nó để cảnh báo mọi người dân về nguy cơ này, mặc dù ông biết rằng nó sẽ làm nhiều người trong số họ khó chịu. Hayek nói rằng nếu chúng ta cho phép chính phủ kiểm soát chúng ta, cuối cùng chúng ta sẽ kết thúc giống như các nông nô thời trung cổ: nông dân bị kiểm soát bởi một vị chúa đất, không được phép quyết định bất cứ điều gì cho bản thân họ. Bản thân nền văn minh phương Tây hiện đại dựa trên sự tự do của cá nhân, Hayek nói. Nếu chúng ta quên điều đó, thì nền văn minh ấy có thể sụp đổ.
Cuốn sách của Hayek trở thành một trào lưu (và đọc thú vị hơn so với sách của Beveridge), và nó làm cho ông nổi tiếng. Thủ tướng Anh thời chiến tranh và cũng là lãnh đạo Đảng Bảo thủ, Winston Churchill, đã đề cập đến nó trong một chương trình phát thanh trong chiến dịch tranh cử năm 1945. Ông chỉ trích chính sách để chính phủ điều hành nền kinh tế của Đảng lao động đối lập, so sánh họ với lực lượng cảnh sát mật tàn nhẫn của Hitler, lời cảnh báo của Hayek về chính phủ lớn. Nhưng cuốn sách đã làm nhiều người khó chịu. Nó xuất hiện ngay khi các nhà kinh tế học đang dần có niềm tin vững chắc về tầm quan trọng của việc chính phủ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế. Herman Finer, một trong số các đồng nghiệp của Hayek tại Đại học Kinh tế London, đã gọi cuốn sách là “hiểm độc” và “mù quáng”. Vì bị dư luận phản đối, Hayek đã từ bỏ kinh tế học. Ông trở nên nổi tiếng một lần nữa vài thập kỷ sau đó khi nền kinh tế thị trường tự do lại được ưa chuộng (xem Chương 29).
Sau cùng, các chính phủ lớn mạnh hơn trong các nền dân chủ phương Tây đã không dẫn đến sự xuất hiện của một Hitler mới (mặc dù Hayek không nói rằng mô hình chính phủ đó chắc chắn sẽ dẫn tới hiện tượng như vậy, mà chỉ là nó sẽ đưa chúng ta đến gần điểm đó hơn). Ngày nay, hầu hết các nền kinh tế đều là sự kết hợp của doanh nghiệp tư nhân và chính phủ hành động. Phần lớn các cuộc tranh luận giữa các nhà kinh tế học là tỉ lệ giữa hai thứ kể trên nên ở mức nào. Hayek đã chia tỉ lệ sâu hơn về phía thị trường tự do so với hầu hết mọi người. Nhưng thậm chí ông cũng nói rằng một số khoản chi tiêu của chính phủ trong nền kinh tế là cần thiết: để đảm bảo một cuộc sống cơ bản cho người thất nghiệp và cung cấp hàng hóa mà thị trường không thể cung ứng. Nó sẽ không đe dọa tự do nếu được thực hiện một cách có chừng mực. Điều này khiến ông bị chế nhạo bởi những người nghĩ rằng ông đã không đi đủ xa. Nhà triết học về thị trường tự do Ayn Rand viết nguệch ngoạc những lời bình luận thô lỗ về Hayek ở lề cuốn Đường về nô lệ của bà: ông ta là một “con lừa” và một “kẻ ngốc”.
Hầu hết các nhà kinh tế ngày nay không đồng ý với quan điểm cơ bản của Hayek cho rằng chính phủ can thiệp nhiều hơn có nghĩa là ít tự do hơn. Khi chính phủ cung cấp giáo dục cho mọi trẻ em, chắc chắn nó làm tăng sự tự do của mọi người chứ? Khi mọi người có thể đọc và viết, họ có thể tham gia đầy đủ vào xã hội - họ có thể kiếm được việc làm tốt và hiểu được chính sách của những người lãnh đạo mà họ bầu chọn. Sau chiến tranh, chi tiêu của chính phủ cho y tế và giáo dục đã giúp các nhóm chịu thiệt thòi như phụ nữ và người da đen có những thứ trước đây chưa từng có và giúp họ định hình cuộc sống của chính mình. Cuối cùng, phần lớn cuộc tranh luận xoay quanh ý nghĩa của tự do - một câu hỏi khó mà các nhà kinh tế học thường để lại cho người khác. Đối với Hayek, đây là vấn đề chúng ta cần phải đối mặt. Đó là câu hỏi trung tâm, không chỉ cho các triết gia, mà còn cho các nhà kinh tế học nữa.
CHƯƠNG 22: Cú Hích Lớn
Ngay trước nửa đêm ngày 6 tháng Ba năm 1957, tổng thống Ghana, Kwame Nkrumah, đứng trên bục phát biểu và nhìn xuống đám đông quần chúng đồng bào đang hò reo cổ vũ. Trong suốt tám mươi năm trước đó, Ghana là một thuộc địa (một quốc gia bị cai trị bởi một quốc gia khác), nhưng khi đồng hồ điểm mười hai giờ, Nkrumah tuyên bố rằng Ghana đã được tự do mãi mãi. Trong thời khắc đó, đất nước của ông đã trở thành nước thuộc địa châu Phi đầu tiên giành được độc lập. Tại sân chơi polo ở thủ đô Accra, nơi các lễ kỷ niệm chính thức đang diễn ra, lá cờ Liên Hiệp Anh - lá cờ của nước từng cai trị Ghana - đã bị hạ xuống và một lá cờ mang sắc đỏ, vàng và xanh mới được giương lên. Đám đông hát vang: “Những người con của Ghana vùng lên và giữ vững lý tưởng của mình”. Ghana là quốc gia mở đường. Một vài năm sau, thủ tướng Anh Harold Macmillan, đã nói về “những luồng gió thay đổi đang thổi qua lục địa này” và trong thập niên 1960 hàng chục thuộc địa ở châu Phi và những thuộc địa xa xôi đã giành được nền độc lập của họ.
Nkrumah đã gây dựng nên một quốc gia thống nhất, độc lập từ mớ chắp vá các tỉnh và các dân tộc khác nhau. Một đài tưởng niệm được xây dựng ở Accra, được khắc lên dòng chữ “1957 sau Công nguyên Tự do và Công lý”, đánh dấu kỷ nguyên mới. Nkrumah biết rằng những từ này có ý nghĩa hơn nhiều so với một lá cờ đầy màu sắc và một bài quốc ca mới. Tự do và công lý sẽ chỉ tồn tại khi nhân dân của ông có đủ cơm ăn, khỏe mạnh, có nhà để ở và biết đọc biết viết. Trước khi giành được độc lập, Ghana đã kiếm được rất nhiều tiền từ việc bán ca cao. Một phần số của cải này đã được dùng vào việc xây dựng đường sá và đường sắt. Mặc dù vậy, giống như nhiều quốc gia mới thành lập, Ghana là một đất nước nghèo. Gần một phần tư số trẻ em chết trước ngày sinh nhật thứ năm và thu nhập trung bình chỉ bằng số lẻ mức thu nhập của các nước châu Âu. Nkrumah hứa rằng Ghana sẽ trở thành một thiên đường trong vòng một thập kỷ.
Tham gia vào lễ kỷ niệm độc lập là cố vấn kinh tế của Nkrumah, Arthur Lewis (1915-1991), người lớn lên tại một vùng hẻo lánh nghèo nàn của Đế quốc Anh, đảo Saint Lucia ở vùng biển Ca-ri-bê. Khi còn là một thiếu niên, ông hy vọng trở thành một kỹ sư, nhưng sớm nhận ra rằng các chủ đồn điền đường da trắng sẽ không bao giờ thuê một kỹ sư da đen. Sau khi tốt nghiệp Đại học London vào những năm 1930, tạp chí The Economist đã từ chối nhận ông vào làm việc với lý do ông sẽ phải phỏng vấn những người không muốn nói chuyện với một nhà báo da đen. Sau này, chiến thắng đã đến: năm 1938, ông trở thành người gốc Phi đầu tiên được bổ nhiệm làm giảng viên tại Đại học Kinh tế London và năm 1979 ông được trao Giải Nobel Kinh tế, và cho đến ngày nay ông vẫn là người da đen duy nhất làm được điều này.
Lewis quan sát thấy rằng, không giống như các nước giàu, nền kinh tế của các nước nghèo có sự tương phản rất rõ rệt giữa “hiện đại” và “truyền thống”, ví dụ như giữa các cửa hàng sang trọng và những người bán hàng rong ngồi quanh bên ngoài. Phần hiện đại bao gồm các trang trại tư bản và các ngành công nghiệp thuê công nhân để sản xuất hàng hóa bán lấy lợi nhuận. Phần truyền thống bao gồm các trang trại gia đình và các hộ kinh doanh chia sẻ số tiền thu được giữa người thân và bạn bè thay vì tối đa hóa lợi nhuận. Ở một nước nghèo, hầu hết nền kinh tế là truyền thống. Lewis gọi đó là một nền kinh tế “kép”: “các miếng chắp vá phát triển mạnh... bị bóng đen kinh tế vây quanh”.
Nền kinh tế truyền thống có rất nhiều người lao động và nhiều người trong số họ đóng góp rất ít vào sản xuất. Có những người thím làm những công việc lặt vặt trên phần đất của dòng họ, những thanh niên trẻ tuổi mang túi xách giúp du khách và những chú bé truyền tin ngồi chờ đợi bên ngoài cửa các văn phòng. Trên thực tế, Lewis nói, khu vực truyền thống có nguồn cung lao động “không giới hạn”, theo nghĩa là bạn có thể giảm một nửa số lượng người lao động mà không làm ảnh hưởng đến sản xuất. Mặc dù vậy, đây lại là căn nguyên của quá trình tiến bộ kinh tế. Khu vực kinh tế hiện đại có thể sử dụng nguồn lao động dồi dào với mức lương thấp, nhờ đó kiếm được lợi nhuận cao. Lợi nhuận được đầu tư vào máy móc và nhà máy. Khu vực hiện đại của nền kinh tế mở rộng và khu vực kinh tế truyền thống co lại. Bóng tối kinh tế rút đi.
Lewis đã góp phần hình thành lĩnh vực nghiên cứu “kinh tế học phát triển”. Phát triển gợi ra sự tiến bộ và sự cải tiến: một em bé sơ sinh trở thành một đứa trẻ tập đi, học cách giao tiếp và cuối cùng trở thành một người trưởng thành có nhiều hiểu biết xã hội. Vào thế kỷ 19, nước Anh phát triển từ một xã hội nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp mạnh mẽ. Hiện nay, các quốc gia châu Phi và châu Á đang cố gắng đi theo con đường đó. Một nhà sáng lập khác của kinh tế học phát triển là nhà kinh tế học người Anh gốc Ba Lan Paul Rosenstein-Rodan (1902-1985), là người, trong Thế chiến II, ở trong một biệt thự trang nhã trên một quảng trường yên tĩnh ở London, nơi cách xa tiền tuyến, đã tập hợp một nhóm đồng nghiệp để nghiền ngẫm về triển vọng kinh tế của các quốc gia mới. Họ tin rằng sự phát triển nhanh chóng của châu Phi và châu Á là điều thiết yếu để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn sau chiến tranh.
Tất cả những nhà tư tưởng kinh tế vĩ đại, như Adam Smith và David Ricardo, đều bị thu hú bởi quá trình phát triển của các nền kinh tế. Vậy thì tại sao lại cần đặc biệt chú ý đến “kinh tế học phát triển”? Không phải toàn kinh tế học đều chú trọng phát triển hay sao? Theo một nghĩa nào đó thì đúng như vậy. Nhưng Ghana và các quốc gia mới giành được độc lập khác như Ấn Độ và Ai Cập được sinh ra trong một thế giới khác với Manchester thế kỷ 19, nơi tuyến đường sắt đầu tiên của Anh được xây dựng. Cho đến những năm 1950, châu Âu và nước Mỹ đã vượt xa phần còn lại của thế giới. Họ đã tìm ra cách để tạo ra điện với giá rẻ và phát minh ra mọi thứ từ đài radio đến những viên đường trên dây chuyền sản xuất kéo dài. Các quốc gia mới nổi sẽ không phải phát minh lại tất cả những thứ đó. “Những gì các quốc gia khác đã phải mất 300 năm hoặc nhiều hơn để đạt được, một vùng lãnh thổ từng phụ thuộc [thuộc địa] phải cố gắng hoàn thành trong vòng một thế hệ,” Nkrumah nói.
Rosenstein-Rodan và Lewis tin rằng các quốc gia còn xa mới đạt được các tiềm năng kinh tế của họ. Họ gọi các quốc gia đó là các nước “kém phát triển” hoặc “đang phát triển”. Điều tối quan trọng là, họ tin rằng có những chính sách có thể làm cho các nước đó giàu hơn. Các nhà kinh tế học phát triển và các nhà lãnh đạo của các nước đang phát triển nghĩ rằng tạo ra các ngành công nghiệp là điều thiết yếu. Nkrumah nói rằng chỉ khi khói nhà máy che tầm nhìn người dân của ông từ bờ bên này sông Volta sang bờ bên kia thì lúc đó họ mới hạnh phúc. Nhiệm vụ sau đó là biến các quốc gia đang phát triển như Ghana, những xã hội chủ yếu bao gồm các trang trại nhỏ và làng mạc rải rác, thành các đất nước công nghiệp sản xuất ô tô và hóa chất.
Cho đến những năm 1940, hầu hết các nhà kinh tế học tin rằng thị trường sẽ là đủ: viễn cảnh về lợi nhuận sẽ khuyến khích các doanh nhân xây dựng nhà máy và mạng điện thoại. Nhưng các nhà kinh tế học phát triển mới nghĩ rằng thị trường không hoạt động tốt đến mức như vậy ở các nước nghèo. Lewis đã chỉ ra cách các nền kinh tế đang phát triển cần đưa nguồn lao động dồi dào ở nông thôn đặt vào trong các nhà máy, nhưng Rosenstein-Rodan nói rằng điều này sẽ không tự động xảy ra.
Vấn đề là để có lợi nhuận, một nhà máy phụ thuộc vào việc có các nhà máy khác. Để kiếm tiền, một nhà máy cá mòi đóng hộp mới thành lập cần bán cá mòi của mình. Ai sẽ mua chúng? Mọi người trong khu vực truyền thống của nền kinh tế kiếm được rất ít tiền và không có tiền để mua cá mòi đóng hộp. Các công nhân của chính nhà máy sẽ chi tiêu một phần, không phải tất cả, tiền lương của họ để mua cá hộp; họ cũng muốn mua cả giày nữa. Nếu đồng thời một nhà máy sản xuất giày cũng mở cửa, thì công nhân của nhà máy đó sẽ mua cá mòi và công nhân của nhà máy chế biến cá mòi sẽ mua giày. Mỗi nhà máy tạo ra một thị trường cho các sản phẩm của nhà máy khác. Sau đó, để công nghiệp hóa xảy ra, người lao động cần phải được đưa từ ruộng đất vào nhiều ngành công nghiệp khác nhau cùng một lúc. Cùng nhau, các nhà máy sẽ có lợi nhuận, nhưng nếu đứng một mình, chúng sẽ không có lợi nhuận, vì vậy nếu bạn là một doanh nhân đang suy nghĩ về việc thành lập một nhà máy chế biến cá mòi, bạn sẽ cảm thấy nản chí do thiếu các ngành công nghiệp khác trong nước. Các cảng biển, nhà máy kim loại và nhà máy đóng tàu phụ thuộc lẫn nhau và cần được xây dựng cùng một thời điểm. Các nước đang phát triển phải đi từ không có gì đến có mọi thứ, và Rosenstein-Rodan đã lập luận rằng chỉ có chính phủ mới có thể tính toán thời điểm để thực hiện bước nhảy vọt một cách chính xác. Nó phải đầu tư những khoản khổng lồ vào rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Ông gọi đó là “cú hích lớn”.
Ghana đã thử làm điều ấy. Chính phủ đã xây dựng các nhà máy điện, bệnh viện, trường học và một bến cảng hiện đại. Các nhà máy và khu công nghiệp mọc lên. Dự án lớn nhất là xây dựng một con đập trên sông Volta. Tám mươi nghìn người đã phải chuyển chỗ ở để nhường chỗ cho nó và nó đã tạo ra hồ nhân tạo lớn nhất thế giới. Các quốc gia giàu có đã “viện trợ”: cung cấp tiền để giúp thanh toán cho các dự án. Chính phủ kỳ vọng rằng sự giàu có đã ở rất gần rồi.
Nhưng một cú hích lớn là một nhiệm vụ quá khó khăn, đặc biệt là đối với các chính phủ mới thành lập với ít kinh nghiệm. Ở Ghana, thực sự là nó đã mang bệnh viện, điện thoại và nước sạch đến cho người dân, nhưng nó cũng tạo ra rất nhiều công ty hoạt động không hiệu quả. Nhiều công ty hoàn toàn không đem lại một chút lợi ích nào. Nhà máy chế biến xoài được xây dựng mặc dù nguồn cung xoài rất ít ỏi. Một nhà máy khổng lồ có thể tạo ra nhiều kính hơn mức sử dụng của cả nước. Các công ty không tạo ra động lực để nền kinh tế có thể phát triển; thay vào đó, các động cơ nổ đôm đốp và nền kinh tế rơi tự do. Cú hích lớn cũng tạo ra rắc rối ở nhiều quốc gia khác ở châu Phi, châu Mỹ La-tinh và cả châu Á. Một lý do là chính trị và kinh tế bị liên kết theo hướng làm tổn thương sự phát triển. Khi chính phủ bỏ tiền vào các ngành công nghiệp mới, các doanh nhân sẽ làm mọi thứ để đảm bảo rằng lượng tiền sẽ tiếp tục tăng lên. Họ ủng hộ chính phủ để duy trì mối quan hệ tốt. Một số người trong số họ sẽ nỗ lực nhiều hơn trong việc thuyết phục quan chức nhà nước cung cấp cho họ tiền và ưu đãi thay vì làm cho các nhà máy của họ kinh doanh hiệu quả.
Tuy nhiên, một số nước đã thành công. Hàn Quốc là một ví dụ. Vào cuối Thế chiến II, Triều Tiên bị chia tách thành hai quốc gia, miền Bắc cộng sản và miền Nam tư bản, và hai miền đã đi đến chiến tranh vào đầu những năm 1950. Hàn Quốc ra khỏi cuộc chiến và rơi vào trong hỗn loạn. Hàng triệu người đã thiệt mạng và những người sống sót phải sống trong cảnh nghèo đói khốn cùng. Nhiều người trong số họ đã mất nhà và phải tìm kiếm thức ăn trên những ngọn đồi. Năm 1961, một vị tướng quân đội tên là Park Chung-hee đã lên nắm quyền và bắt đầu thực hiện cú hích lớn của Hàn Quốc, nhằm biến quốc gia này thành một cường quốc công nghiệp. Park tổ chức cú hích của Hàn Quốc thông qua các chaebol, các doanh nghiệp lớn với mối liên kết chặt chẽ với chính phủ. Chính phủ chỉ đạo các chaebol đầu tư vào các ngành công nghiệp cụ thể và cho các doanh nghiệp này các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp. Ban đầu, các công ty này được bảo hộ khỏi cạnh tranh nước ngoài, nhưng chính phủ cương quyết đòi hỏi rằng các công ty này phải trở nên cạnh tranh hơn và cuối cùng phải xuất khẩu hàng hóa của mình.
Nền kinh tế Hàn Quốc cất cánh. Đất nước phát triển các ngành công nghiệp dệt may và quần áo trước khi chuyển sang thép, ô tô và đóng tàu. Vào những năm 1950, Bắc Triều Tiên có nền kinh tế mạnh hơn, nhưng không lâu sau đó, miền Nam đã vượt qua nó và cũng đã bỏ lại nhiều quốc gia dạng phát triển khác sau lưng. Hai thập kỷ sau khi Park nắm quyền, nền kinh tế tăng trưởng gấp mười lần. Hai chaebol của Hàn Quốc, công ty điện tử Samsung và nhà sản xuất ô tô Hyundai, đã trở thành những cái tên nổi tiếng ở châu Âu và châu Mỹ. Ngày nay người Hàn Quốc tận hưởng tiêu chuẩn sống ngang hàng với các quốc gia giàu có. Mọi người gọi kỳ tích của Park là “Phép lạ sông Hàn”. Điều đặc biệt ở Hàn Quốc là chính phủ đã có thể ngăn chặn các ngành công nghiệp mới không trở nên trì trệ. Khi trao cho các doanh nhân các khoản vay lãi suất thấp, họ phải đảm bảo rằng các công ty hoạt động tốt, và Park thậm chí còn lấy lại khoản vay từ các công ty không đủ khả năng cạnh tranh để bán hàng của họ ra nước ngoài. Một số nền kinh tế châu Á khác - Singapore, Đài Loan và Hồng Kông - cũng đã cất cánh sau chiến tranh. Đối với thành tích tuyệt vời của họ, các quốc gia này được gọi là Những con Hổ châu Á.
Đáng buồn thay, ở một số quốc gia, sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế lại trở thành một điều tồi tệ hơn nhiều so với một cú hích lớn bị đình trệ. Lãnh đạo của Zaire (nay là Cộng hòa Dân chủ Công-gô), Mobutu Sese Seko, đã đánh cắp hàng triệu đô la tiền ngân sách, xây cho mình hàng chục cung điện và đi xuôi dòng sông Zaire trong một chiếc du thuyền lớn được trang bị ghế xô-pha hình con hàu bọc lụa màu hồng. Trong khi đó, người dân của ông ta phải vật lộn để tồn tại và đường sá thì xuống cấp trầm trọng. Vì vậy, các nhà kinh tế học đã quay lưng lại với ý tưởng về cú hích lớn. Trong những năm 1980, họ bảo chính phủ của cả các nước giàu lẫn các nước nghèo dừng can thiệp vào nền kinh tế của nước mình. Chính sách thị trường tự do mới cho sự phát triển của các quốc gia nghèo đã được đưa ra, như “tư nhân hóa”, việc bán các công ty thuộc sở hữu của nhà nước cho các doanh nhân tư nhân. Nhưng những chính sách ấy cũng là một nỗi thất vọng và các nhà kinh tế học bắt đầu nhận thấy rằng không có công tắc đánh lửa duy nhất nào để bấm vào cho nền kinh tế cất cánh bất kỳ khi nào chính phủ lựa chọn.
CHƯƠNG 23: Kinh Tế Học Vạn Vật
Nếu bạn sở hữu một cửa hàng thì khi bạn đang làm việc, đầu óc bạn sẽ liên tục tính toán. Có đủ trứng không? Chúng ta có nên mua thêm tủ lạnh để trữ đồ uống không? Có nên bỏ thêm tiền để thuê một nhân viên bán hàng mới không? Cả ngày bạn tổng hợp doanh thu và chi phí để cố gắng kiếm được nhiều lợi nhuận nhất có thể. Sau khi bạn đóng cửa hàng kết thúc ngày làm việc, bạn trở về nhà và chuẩn bị bữa tối, dọn dẹp nhà cửa. Có lẽ bạn nghĩ rằng vào thời điểm này tâm trí tính toán của mình sẽ được nghỉ ngơi. Chắc chắn cuộc sống gia đình - nấu nướng, dọn dẹp và chơi đùa với bọn trẻ - chẳng liên quan gì đến kinh doanh và kinh tế học? Các nhà khoa học xã hội khác nghiên cứu các khía cạnh phi kinh tế của cuộc sống - các khía cạnh “xã hội” của nó. Các nhà nhân chủng học nghiên cứu phong tục và văn hóa của con người, các nhà xã hội học nghiên cứu các hoạt động của xã hội theo phạm trù rộng nhất. Các nhà nhân chủng học và các nhà xã hội học nghĩ về những thứ như hôn nhân và gia đình, và về những chủ đề đen tối hơn như tội phạm và phân biệt chủng tộc. Bạn có thể cho rằng các nhà kinh tế học thì khác: họ tìm hiểu các chủ đề kinh tế liên quan chặt chẽ đến các ngành công nghiệp và các công ty, giá cả và lợi nhuận.
Vào những năm 1950, Gary Becker (1930-2014) đã phá vỡ sự phân chia giữa “kinh tế” và “xã hội”. Ông là một nhà kinh tế học hàng đầu tại Đại học Chicago, nơi mà khoa kinh tế trở nên nổi tiếng đến nỗi mọi người thường xuyên nói về trường phái kinh tế Chicago. Triết lý của Chicago là thị trường và giá cả là cơ sở của cách xã hội hoạt động. Becker phát triển triết lý này xa hơn hầu hết mọi người khác. Tại nơi làm việc, chủ cửa hàng tính toán chi phí và lợi ích để kiếm được nhiều lợi nhuận nhất. Ở nhà, họ cũng bận rộn tính toán chi phí và lợi ích, Becker nghĩ. Họ bắt con tắt tivi và làm bài tập ở nhà vì những đứa trẻ làm bài tập ở nhà sẽ kiếm được nhiều tiền hơn khi chúng trưởng thành, và người trưởng thành nào có tiền thì sẽ có thể chăm sóc cha mẹ già tốt hơn. Trong thực tế, Becker nhìn thấy những tính toán kinh tế hiện diện ở khắp mọi nơi. Một trong những bài giảng của ông có tên là “Nhìn cuộc sống bằng con mắt kinh tế” (The Economic Way of Looking at Life). Becker nghĩ rằng kinh tế học có thể được sử dụng để tìm hiểu hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Một buổi chiều, Becker đang chạy xe đến một cuộc họp quan trọng cận giờ. Nếu ông đỗ xe trong bãi đậu xe được chỉ định, ông chắc chắn sẽ bỏ lỡ phần khai mạc của cuộc họp. Sẽ nhanh hơn nếu đỗ xe một cách bất hợp pháp trên đường. Ông nhận thấy mình đang cân nhắc chi phí và lợi ích của các chuỗi hành động khác nhau. Nếu ông đỗ xe trên đường, ông sẽ đến buổi hợp đúng giờ, nhưng phải chịu rủi ro là sẽ phải nộp phạt. Chi phí của việc đậu xe bất hợp pháp đối với ông là mức tiền phạt được điều chỉnh bởi xác suất bị bắt. Ông cho rằng chi phí đó thấp hơn so với lợi ích của việc dự cuộc họp đúng giờ và vì vậy ông quyết định đỗ xe trên đường. Hành vi vi phạm pháp luật của ông là một vấn đề về tính toán kinh tế.
Trải nghiệm này đã truyền cảm hứng cho Becker phát minh ra lý thuyết kinh tế học về tội phạm. Becker bác bỏ lập luận rằng những người phạm tội khác với những người dân tuân thủ pháp luật, rằng họ phạm tội vì bị bệnh tâm thần hoặc bị những người khác đối xử tệ bạc, rằng theo nghĩa nào đó họ bị hoàn cảnh xô đẩy. Theo Becker, những người phạm tội không khác những người còn lại trong chúng ta. Họ không nhất thiết phải độc ác, bệnh tật hay liều lĩnh, mà là những người có đầu óc logic, biết tính toán. Becker không phủ nhận rằng nguyên nhân của tội phạm là phức tạp. Quan điểm của ông cho rằng chi phí và lợi ích đóng vai trò quan trọng trong chuyện này giống như đối với một người bán hàng vậy, và việc phòng ngừa tội phạm cần phải cân nhắc đến chúng. Ví dụ, các cơ quan quản lý đậu xe có thể tiết kiệm tiền bằng cách đơn giản là tăng tiền phạt thay vì chi tiêu rất nhiều để cố gắng bắt người vi phạm bằng cách cử các nhân viên kiểm soát giao thông tìm xe đỗ bất hợp pháp. Khi người lái xe máy tính toán một cách hợp lý, một mức tiền phạt cao đi kèm với khả năng bị bắt thấp có thể tương đương với một mức tiền phạt thấp đi kèm khả năng bị bắt cao. Cách tốt nhất để loại bỏ tội phạm là làm cho nó không sinh lời. Đối với việc đỗ xe bất hợp pháp, điều đó có thể đồng nghĩa với một mức tiền phạt cao hơn, đối với trộm cắp là một án tù lâu hơn.
Becker sử dụng các nguyên tắc kinh tế tiêu chuẩn để phân tích đủ các loại hành vi của con người. Một nguyên tắc là mọi người có một tập hợp các sở thích rõ ràng không thay đổi nhiều: hôm nay bạn thích nhạc rock hơn nhạc jazz và nhiều khả năng tuần tới bạn cũng sẽ thích như vậy. Một nguyên tắc khác là mọi người đều có suy nghĩ hợp lý: họ tính toán quá trình hành động đáp ứng tốt nhất sở thích của họ. Họ làm điều tốt nhất cho bản thân mình với số tiền họ có và chi phí họ phải bỏ ra. Điều này ngụ ý rằng có sự đánh đổi ở mọi nơi. Người bán hàng so sánh lợi ích với chi phí của việc mở một cửa hàng mới, kẻ trộm xe so sánh giá trị của một chiếc Mercedes bị đánh cắp với nguy cơ bị phạt tù vì ăn trộm nó.
Khi còn là sinh viên, Becker sử dụng các nguyên tắc kinh tế tương tự để xem xét tư tưởng phân biệt chủng tộc. Các đồng nghiệp của ông đã bị sốc. Hẳn là tư tưởng phân biệt chủng tộc phải liên quan đến thái độ của người dân và những bất công của xã hội chứ? Đó là một chủ đề dành cho các nhà xã hội học. Kinh tế học thì có liên quan gì đến nó? Becker tin rằng kinh tế học có thể giải thích được rất nhiều thứ.
Trong những năm 1950, người da đen ở Mỹ bị phân biệt đối xử nghiêm trọng trong vấn đề việc làm và tiền lương. Becker đã xem sự kỳ thị người da đen của một người sử dụng lao động phân biệt chủng tộc như một loại sở thích. Nếu bạn thích nhạc rock hơn nhạc jazz, thì tức là so với nhạc rock bạn không thích nhạc jazz, và bạn sẽ không sẵn sàng trả nhiều tiền cho một album nhạc jazz như một album nhạc rock. Cũng theo cách này, những người chủ cửa hàng phân biệt chủng tộc không muốn trả lương cho một người da đen nhiều như cho một người da trắng để làm cùng một công việc. Giả sử một người da đen phải chấp nhận mức lương thấp hơn 50 đô la so với người da trắng để có cơ hội nhận được một công việc từ một chủ cửa hàng phân biệt chủng tộc. Becker gọi 50 đô la đó là “hệ số phân biệt đối xử”. Chủ cửa hàng phân biệt chủng tộc sẵn sàng trả thêm 50 đô la cho nhân viên da trắng. Do đó, họ sẽ phải trả nhiều hơn cho nhân viên của mình so với các nhà tuyển dụng không phân biệt chủng tộc, những người có được nhân viên có trình độ tương tự mà chỉ tốn một phần chi phí. Người ta thường cho rằng sự phân biệt đối xử của người da trắng với người da đen làm cho người da đen luôn nghèo và người da trắng luôn giàu. Ở đây Becker cho thấy rằng những người phân biệt chủng tộc cũng chịu thiệt hại.
Người Do Thái cũng bị phân biệt đối xử trong việc làm. Nhưng họ chỉ chiếm một phần nhỏ dân số và do đó chịu ảnh hưởng ít hơn bởi vì họ có thể đảm bảo rằng họ chỉ chấp nhận việc làm từ các nhà tuyển dụng không phân biệt chủng tộc. Ở Mỹ, người da đen chiếm một phần dân số lớn nên không phải tất cả họ đều có thể tìm được việc làm từ những người sử dụng lao động không phân biệt chủng tộc. Nhiều người sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài làm việc cho các ông chủ phân biệt chủng tộc. Do đó, lý thuyết của Becker cho thấy rằng tiền lương trung bình của người da đen sẽ thấp hơn tiền lương trung bình của người Do Thái ngay cả khi người sử dụng lao động phân biệt chủng tộc ghét người Do Thái cũng nhiều như họ ghét người da đen. Nhóm bị phân biệt đối xử càng lớn thì càng có nhiều thành viên của nó phải làm việc với mức lương thấp cho các ông chủ phân biệt chủng tộc, những người trả nhiều tiền hơn để thuê người từ nhóm chủng tộc họ ưa chuộng. Đó là lý do tại sao, Becker nói, chế độ a-pác-thai ở Nam Phi, trong đó người da đen bị áp bức chiếm phần lớn dân số, là một sự lãng phí về mặt kinh tế cũng như một sự phi đạo đức.
Becker cũng áp dụng kinh tế học cho các khía cạnh tích cực của cuộc sống, hôn nhân, gia đình và nuôi dạy con cái. Ở nhà, mọi thứ không được mua và bán bằng tiền, nhưng Becker tin rằng các nguyên tắc kinh tế cũng hoạt động ở đây.
Một ngôi nhà là một nhà máy nhỏ, trong đó đầu vào như bột mì, rau và kỹ năng nấu ăn được sử dụng để tạo ra một đầu ra: một bữa ăn gia đình quanh bàn ăn trong bếp. Đối với các nhà kinh tế học, bột mì và rau quả là khan hiếm: mặc dù bạn có thể dễ dàng tìm thấy chúng trong các cửa hàng, nhưng số lượng của chúng là có hạn nên có một giới hạn số lượng mà chúng ta có thể có. Một yếu tố đầu vào thiết yếu đối với sản xuất hộ gia đình là thời gian, cũng khan hiếm. Một số yếu tố đầu ra của hộ gia đình cần rất nhiều thời gian. Becker gọi chúng là “thâm dụng thời gian”. Ở nhà xem phim Chiến tranh giữa các vì sao thâm dụng thời gian vì nó lấy đi của bạn nhiều tiếng đồng hồ. Chi phí chính để thực hiện nó không phải là số tiền bạn trả cho điện và bỏng ngô bạn ăn. Đó là những thứ khác mà bạn đáng lẽ có thể làm với thời gian đó (đến thăm một người bạn chẳng hạn) - chi phí cơ hội. Đối với một người có mức lương cao, chi phí cơ hội xem phim Chiến tranh giữa các vì sao cao vì việc dành thời gian xem phim thay vì làm việc khiến họ phải từ bỏ khả năng kiếm được rất nhiều tiền.
Becker áp dụng ý tưởng về độ thâm dụng thời gian cho quyết định có con. Ông nói rằng một đứa trẻ cũng có chút giống với một món hàng mà bạn mua. Khi bạn mua một chiếc xe bạn trả một khoản chi phí và nhận được một dòng lợi ích theo thời gian. Có con cũng như vậy. (Khi ông lần đầu tiên đưa ra so sánh này tại một hội nghị, khán giả cười vào mặt ông.) Trẻ em là hàng hóa thâm dụng thời gian vì cần nhiều thì giờ để chăm sóc cho chúng. Do đó, các chi phí của việc có con, giống như xem phim cả buổi chiều, là thu nhập tiền lương bạn từ bỏ khi bạn ở nhà để chăm sóc con của bạn. Do đó, chi phí chăm sóc cho một đứa con cao hơn khi bạn kiếm được mức lương cao hơn. Thông thường, các khoản thu nhập bị từ bỏ là của những người phụ nữ khi họ ngừng làm việc để chăm sóc con cái của mình, vì vậy trong thế kỷ 20, khi nhiều phụ nữ đi làm hơn, chi phí của việc có con tăng lên. Kết quả là phụ nữ bắt đầu sinh con ít hơn .
Vào thế kỷ 19, nhà kinh tế học Alfred Marshall mô tả kinh tế học “không phải là một tập hợp sự thật khách quan, mà là một động cơ để khám phá ra sự thật khách quan”. Quan điểm này xem kinh tế như một phương pháp phân tích, áp dụng các nguyên tắc về suy nghĩ hợp lý và sự lựa chọn cho bất kỳ tình huống nào bạn thích. Cũng như vậy, đối với Becker, kinh tế học là một “công cụ” chứ không phải là một “vật”. Nó không nhất thiết chỉ chú trọng đến “nền kinh tế” - các cá nhân và công ty tiêu thụ và sản xuất hàng hóa. Nó có thể là hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm cả những thứ như tội phạm và nuôi dạy con, những điều luôn luôn được cho là nằm bên ngoài giới hạn đối với các nhà kinh tế học. Tiếp bước Becker, các nhà kinh tế học đã phân tích hệ thống pháp luật, khủng bố, thậm chí là cả việc đánh răng và đấu vật sumo Nhật Bản! Nhiều nhà kinh tế học nghĩ rằng đây là một bước phát triển rất tốt. Sức mạnh của phương pháp kinh tế học là nó linh hoạt và có thể được áp dụng ở mọi nơi. Đó là một phương pháp mạnh mẽ để giải thích đủ loại hành vi của con người.
Những người khác nghĩ rằng bản thân kinh tế học đang dàn trải quá mức. Bằng cách đưa tất cả năng lượng vào việc học cách sử dụng phương pháp của họ, các nhà kinh tế học bỏ bê nghiên cứu về chính nền kinh tế, cách nó hoạt động hằng ngày và cách nó phát triển theo thời gian. (Nếu bạn học kinh tế học tại trường đại học, bạn sẽ dành rất nhiều thời gian để học cách áp dụng các nguyên tắc suy nghĩ hợp lý và lựa chọn, thay vì học nền kinh tế Mỹ hoặc Nhật Bản thực sự hoạt động như thế nào chẳng hạn.) Tiếp đến là câu hỏi phương pháp kinh tế học mạnh mẽ đến thế nào. Khi chúng ta gặp nhà kinh tế học Thorstein Veblen trong Chương 17, chúng ta thấy rằng ông đã bác bỏ lý thuyết tiêu chuẩn về suy nghĩ hợp lý sự lựa chọn của các nhà kinh tế học. Các nhà kinh tế học không đi theo lối suy nghĩ thông thường như ông nói rằng kinh tế học cần phải tích hợp các mô hình phong phú hơn về hành vi của con người vượt ra ngoài sự tính toán chi phí và lợi ích. Và nhiều nhà kinh tế học hiện nay tin rằng chủ cửa hàng quản lý kho hàng của họ trên thực tế là rất ít suy nghĩ hợp lý, chứ chưa nói đến những người nấu bữa tối tại nhà (xem Chương 36).
Dẫu vậy, nhiều ý tưởng của Becker đã trở nên có sức ảnh hưởng đến nỗi người ta dễ quên rằng chúng đã từng gây tranh cãi đến thế nào. Ngày nay các nhà kinh tế học liên tục nói về “vốn con người”, ý tưởng cho rằng mọi người đóng góp vào sản xuất giống như máy móc, và mọi người có thể nâng cao vốn con người và triển vọng công việc bằng cách đạt được các chứng chỉ giáo dục. Mọi người đã phẫn nộ khi Becker đề xuất ý tưởng này. Ngày nay, quan niệm cho rằng sinh viên đi học đại học để đạt được các kỹ năng sẽ giúp họ có được việc làm với mức lương cao khi tốt nghiệp hầu như chẳng bao giờ bị chất vấn.
CHƯƠNG 24: Lớn Lên
Khi bạn còn nhỏ, chắc hẳn bố mẹ bạn đã đánh dấu trên tường mỗi năm vào ngày sinh nhật của bạn để xem bạn cao thêm bao nhiêu. Bạn tự hào khi dấu đó ngày càng nhích lên cao hơn: khi bạn lớn lên và cao hơn, bạn có thể làm nhiều thứ hơn so với khi còn nhỏ. Nếu bạn có em trai hay em gái, thì ban đầu dấu của mấy đứa chúng sẽ ở bên dưới dấu của bạn một đoạn dài, nhưng sẽ dần dần bắt kịp. Các nhà kinh tế học cũng nghĩ về kinh tế theo cách đó.
Các nền kinh tế giống những con người đang lớn lên: một số, thường là “trẻ”, lớn nhanh và bắt kịp với người già. Và giống như trẻ em, khi một nền kinh tế phát triển, nó có thể làm được nhiều điều hơn: có nhiều hàng hóa hơn để mọi người tiêu thụ và có nhiều nguồn lực hơn để xây dựng trường học và phòng chống bệnh tật. Theo một nghĩa nào đó, làm thế nào và tại sao các nền kinh tế phát triển là những câu hỏi quan trọng nhất của kinh tế học. Khi một nền kinh tế phát triển, nó trở nên giỏi hơn trong việc cung cấp những gì mọi người cần. Vì vậy, ngay cả khi không sử dụng thuật ngữ hiện đại “tăng trưởng kinh tế”, rất nhiều người trong số các nhà tư tưởng mà chúng ta đã gặp từ trước đến nay đã quan tâm đến nó. Họ muốn biết cách các xã hội trở nên giàu có hơn và phức tạp hơn theo thời gian, và một phần lớn trong điều này là nền kinh tế trở nên lớn hơn như thế nào - cách chúng tăng trưởng.
Sau Thế chiến II, các nhà kinh tế học bắt đầu suy nghĩ về sự tăng trưởng kinh tế theo một cách mới. Vào những năm 1930, trong thời kỳ Đại khủng hoảng, nền kinh tế đã làm điều ngược lại với tăng trưởng. Chúng trở nên nhỏ hơn: các quốc gia sản xuất ít hơn, các doanh nghiệp ngừng kinh doanh và hàng triệu người mất việc làm. Nếu cuộc Đại khủng hoảng là sự khủng hoảng, thì tính bình thường về kinh tế là một điều gì đó khác: tình hình mà trong đó một quốc gia sử dụng tất cả các nguồn lực của mình để tạo ra hàng hóa, để có ít người bị thất nghiệp và ít nhà máy nhàn rỗi. Theo thời gian, nền kinh tế tăng trưởng; khả năng sản xuất hàng hóa của nó tăng lên và xã hội trở nên giàu có hơn. Giữa các cuộc khủng hoảng, đây là điều thường xảy ra. Cho đến Thế chiến I, nhiều quốc gia hàng đầu thế giới đã tăng trưởng đều đặn mà không gặp phải khủng hoảng kinh tế lớn; sau Thế chiến II, một giai đoạn mới của tăng trưởng bắt đầu.
Nhà kinh tế học người Mỹ Robert Solow (sinh năm 1924) ngày nay là một trong số ít các nhà kinh tế học đã sống qua thời kỳ tăng trưởng kinh tế xuất hiện sau Thế chiến II cũng như cuộc Đại khủng hoảng xảy ra trước đó. Khi chiến tranh kết thúc, ông đã giải ngũ và quay về con đường học tập bị gián đoạn tại Đại học Harvard, nơi ông vốn đang nghiên cứu xã hội học và nhân chủng học. Có chút ngẫu hứng - vợ ông gợi ý rằng ông có thể thấy chủ đề ấy thú vị - ông đã chuyển sang nghiên cứu kinh tế học. Đó là một lời khuyên đúng đắn. Solow sử dụng toán học và thống kê để đem một sự thay đổi hiện đại vào những câu hỏi cũ kỹ về kinh tế. Các lực lượng nào làm cho nền kinh tế tăng trưởng để qua thời gian mức sống của người dân được cải thiện? Tại sao một số quốc gia tăng trưởng nhanh hơn các quốc gia khác?
Solow - và song song với ông, một nhà kinh tế Úc bị lãng quên, Trevor Swan (1918-1989) - đã đưa ra một lý thuyết để giải thích cách các nền kinh tế tăng trưởng trong các thời kỳ bình thường khi chúng sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có để sản xuất hàng hóa. Họ yêu cầu chúng ta tưởng tượng ra một thế giới được đơn giản hóa trong đó hàng hóa được thực hiện bằng cách sử dụng vốn (máy móc và các nhà máy) và sức lao động. Một xã hội có thể sản xuất hàng hóa bằng cách sử dụng kết hợp vốn và sức lao động theo nhiều cách khác nhau: nó có thể đào một đường hầm bằng cách sử dụng một vài máy đào cơ khí và hàng trăm người dùng xẻng, hoặc sử dụng rất nhiều máy đào và chỉ một vài người điều khiển chúng. Các nước giàu là những nước có nhiều vốn so với dân số. Điều đó có nghĩa là họ có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm trên đầu người hơn. Sản phẩm đầu ra trên đầu người chính là thước đo thích hợp về mức độ giàu có của xã hội. Một xã hội gồm mười người sản xuất ra hàng hóa trị giá 100 bảng thì giàu gấp đôi xã hội có hai mươi người sản xuất ra khối lượng tương đương. Xã hội mười người có thể cung cấp trung bình gấp đôi số lượng hàng hóa cho mỗi người dân của họ và họ có mức sống cao hơn so với xã hội có hai mươi người. Lý thuyết của Solow tập trung vào việc giải thích sự tăng trưởng theo cách đo lường quan trọng là bình quân thu nhập đầu người.
Nếu bạn đầu tư thêm một chút vốn - vào một lò nướng bánh mì khác chẳng hạn - bạn bổ sung vào đầu ra của nền kinh tế bởi vì nhiều bánh mì được tạo ra hơn. Trong lý thuyết của Solow, khi bạn bổ sung thêm vốn cho cùng một số lượng công nhân, số lượng sản phẩm đầu ra bạn ép được thêm sẽ ngày càng thu nhỏ. Hiệu ứng này được gọi là “năng suất cận biên giảm dần”. Hãy tưởng tượng một quốc gia chỉ có một vài lò nướng bánh mì. Đầu tư thêm một lò nướng nữa sẽ bổ sung rất nhiều vào sản lượng của thợ làm bánh. Tuy nhiên, khi có thêm nhiều lò nướng được lắp đặt, việc tìm được người vận hành chúng trở nên khó khăn hơn, vì vậy lò nướng thứ một trăm gia tăng cho sản xuất ít hơn nhiều so với lò nướng thứ mười.
Năng suất cận biên giảm dần có nghĩa là khi nền kinh tế tăng thêm vốn và sản xuất nhiều hơn, tốc độ tăng trưởng của nó giảm dần. Cuối cùng, tất cả lợi ích nguồn vốn đầu tư bổ sung đều cạn kiệt. Nếu vốn là điều duy nhất tạo ra tăng trưởng kinh tế, thì nền kinh tế sẽ kết thúc ở một trạng thái mà trong đó thu nhập bình quân đầu người không tăng trưởng. Trong thực tế, có một thứ tạo ra tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người về dài hạn: cải tiến công nghệ, về mặt kinh tế, công nghệ là một công thức biến đầu vào, chẳng hạn như vải, chỉ và kim loại, thành đầu ra, chẳng hạn như một chiếc quần bò. Công thức ấy là kiến thức: làm thế nào để cắt vải, làm thế nào để may các mảnh vải lại với nhau, vân vân. Kiến thức trở nên tiến bộ hơn khi ai đó phát minh ra kỹ thuật may hiệu quả hơn. Quần bò sau đó có thể được may một cách dễ dàng hơn. Nền kinh tế trở nên “năng suất hơn.” Tiến bộ công nghệ cho phép nhiều hàng hóa hơn được sản xuất với vốn và nguồn lao động mà một quốc gia đang có. Nó cũng tạo ra những hàng hóa hoàn toàn mới mẻ. Xã hội tiến bộ khi nó chuyển từ phiến đá đến giấy da, từ giấy da đến giấy và từ giấy đến máy tính bảng kỹ thuật số. Năng suất cao hơn xuất phát từ tiến bộ công nghệ, Solow nói, tiến bộ công nghệ chính là động cơ thực sự của sự tăng trưởng.
Lý thuyết của Solow là một lý thuyết lạc quan. Nó chỉ ra rằng mức sống ở các nước nghèo có khuynh hướng bắt kịp với những nước giàu có, cũng như một đứa trẻ nhỏ cuối cùng cũng đạt được chiều cao gần bằng anh chị của nó. Một đất nước nghèo có rất ít vốn tăng trưởng nhanh hơn đất nước giàu đã có rất nhiều vốn và đã cạn kiệt hầu hết những thứ mà số vốn thêm vào đạt được. Bởi vì đất nước nghèo phát triển nhanh hơn, mức sống của nó bắt kịp với mức sống của nước giàu. Cả hai quốc gia đều tiến dần đến một vị trí trong đó nguồn tăng trưởng duy nhất là công nghệ được cải tiến; một quốc gia càng xa vị trí đó, nó càng di chuyển về điểm cuối đó nhanh hơn .
Sau Thế chiến II, Mỹ là quốc gia có nền kinh tế tiên tiến nhất trên thế giới. Châu Âu đã bắt kịp với nó, giống như Solow nói. Các nước châu Âu đã sử dụng công nghệ mới như linh kiện bán dẫn và máy tính và xây dựng các nhà máy tự động lớn như những nhà máy ở Mỹ. Vào cuối cuộc chiến tranh, thu nhập bình quân đầu người châu Âu chỉ bằng một nửa của người Mỹ, nhưng đến giữa những năm 1970 thì đã gần bằng ba phần tư. Bên ngoài châu Âu, Nhật Bản đã đạt được những bước tăng trưởng khổng lồ.
Sự tiến bộ ổn định đó diễn ra trong nhiều thập kỷ, và không có cuộc Đại khủng hoảng nào lặp lại. Các nhà kinh tế học đã coi những năm tháng đó như một “Thời đại Hoàng kim” của tăng trưởng và mức sống. Vào đầu những năm 1950, chỉ có 20% số hộ gia đình người Pháp sở hữu xe hơi, nhưng đến đầu những năm 1970, con số đó tăng lên 60%. Tủ lạnh và tivi, vốn rất hiếm ở Pháp ngay sau chiến tranh, đã nhanh chóng trở nên phổ biến. Và trong khi mọi người tiêu thụ nhiều hơn, họ làm việc ít hơn. Ngay cả nước Anh - không còn là đầu tàu kinh tế khi các nước láng giềng châu Âu vượt qua nó - cũng thấy được lợi ích. Ngày nghỉ và các buổi đi xem phim trở thành chuyện bình thường. Một bộ phim đình đám của Anh vào năm 1963 là Kỳ nghỉ hè (Summer Holiday), trong đó một nhóm thợ máy mượn xe buýt trong giờ ăn trưa và lái xe về phía Nam, cuối cùng đến một bãi biển ở Hy Lạp. Đó là những năm mà khi đó người thợ cơ khí và tài xế xe buýt, chứ không còn chỉ là những người giàu có, hy vọng có được một kỳ nghỉ hè dưới ánh mặt trời. Năm 1957, thủ tướng Anh, Harold Macmillan, cảm nhận được tâm trạng ấy: “Hầu hết người dân của chúng ta chưa bao giờ có nhiều tiện ích đến thế. Đi vòng quanh đất nước... và bạn sẽ thấy một trạng thái thịnh vượng chúng ta chưa từng có trong cả cuộc đời tồi - thực sự là cũng chưa bao giờ trong lịch sử của đất nước này.”
Nhưng nó chỉ là Thời đại Hoàng kim đối với một số quốc gia. Trong khi châu Âu đã làm tốt, hầu hết các nước khác trên thế giới vẫn nghèo. Một số quốc gia, chẳng hạn như Hàn Quốc, đã bắt đầu bắt kịp, như lý thuyết của Solow dự đoán, nhưng phần lớn châu Á và châu Phi tụt lại phía sau. Trước Solow, các nhà kinh tế học nghĩ rằng các nước nghèo giàu lên khi họ xây dựng rất nhiều nhà máy, đường sá và bến cảng. Trong một chương trước, chúng ta đã thấy các quốc gia đang phát triển cố gắng làm điều đó như thế nào. Solow cho thấy rằng đầu tư nhiều vốn hơn - các nhà máy và máy móc - nhiều nhất là chỉ thúc đẩy tăng trưởng được tạm thời. Để tăng trưởng dài hạn, nền kinh tế cần công nghệ tốt hơn. Nhưng lý thuyết của Solow không giải thích được công nghệ mới đến từ đâu. Nó bỏ lại công nghệ như là “yếu tố ngoại sinh”: thứ gì đó xuất phát từ bên ngoài nền kinh tế và không thể kiểm soát được, khá giống như ánh sáng mặt trời khiến khu vườn phát triển. Điều này được giả định là công nghệ có sẵn cho tất cả các nền kinh tế một cách bình đẳng, cho dù đó là Malawi hay Thụy Sĩ. Khi Malawi sử dụng công nghệ mới, nó trở nên giống Thụy Sĩ hơn. Trong thực tế, có đủ các loại rào cản ngăn trở một nước nghèo áp dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến nhất. Đất nước đó có thể thiếu các kỹ năng cần thiết để sử dụng chúng đúng cách hoặc có thể những công nghệ đó không đem lại hiệu quả về mặt chi phí cho các doanh nghiệp của nước đó.
Hơn nữa, công nghệ không phải là ngoại sinh: công nghệ được tạo ra bởi các nhà phát minh và kỹ sư của một xã hội. Vào những năm 1990, nhà kinh tế học người Mỹ Paul Romer (sinh năm 1955) đã khởi xướng một làn sóng mới về lý thuyết tăng trưởng, coi công nghệ là “nội sinh” - được tạo ra trong nền kinh tế. Quan điểm của Romer là tiến bộ công nghệ không giống như ánh sáng mặt trời. Người ta phát minh ra động cơ xe hơi tốt hơn bởi vì họ có thể kiếm tiền từ việc bán chúng. Công nghệ đặc biệt bởi một khi đã được phát hiện ra, nó có thể được sử dụng hết lần này đến lần khác. Khi một công ty hàng không chi tiền vào nghiên cứu điểm nóng chảy của kim loại, nó sử dụng kiến thức đó để tạo ra cánh máy bay nhẹ hơn, thứ mà sau đó nó có thể bán kiếm tiền. Kiến thức tương tự sau đó có thể được một nhà sản xuất thiết bị nhà bếp sử dụng để tạo ra lò nướng tốt hơn. Nhà sản xuất thiết bị không cần phải chi tiền để thực hiện nghiên cứu một lần nữa. Điều này làm cho kiến thức khá khác biệt với hầu hết mọi thứ mà mọi người mua và bán. Các nhà kinh tế học gọi đó là một hàng hóa “không cạnh tranh”. Tương phản với nó là một mũi khoan: nếu bạn đang sử dụng mũi khoan, tôi không thể sử dụng nó, và mũi khoan sẽ bị hao mòn và cuối cùng phải được thay thế. Tuy nhiên, khi được phát hiện ra, chúng ta sẽ biết điểm nóng chảy của kim loại mãi mãi và những khám phá mới thêm vào đó, làm tăng lượng kiến thức của chúng ta mà không có giới hạn.
Bởi vì công nghệ không cạnh tranh và có thể tiếp tục tăng lên, nó dẫn đến sự giàu có ngày càng tăng lên. Mặc dù vậy, có một khó khăn. Vì một số lợi ích của một ý tưởng mới thường đến với những người khác chứ không phải là nhà phát minh ban đầu, nghiên cứu và phát triển có xu hướng xuất hiện quá ít so với những gì sẽ là tốt nhất cho nền kinh tế nói chung. (Điều này là một ví dụ về thất bại thị trường, một ý tưởng chúng ta đã thấy khi gặp Giáo sư Pigou trong Chương 14.) Lý thuyết về công nghệ và tăng trưởng của Romer ngụ ý rằng các chính phủ có thể đóng vai trò quan trọng bằng cách trả tiền cho nghiên cứu và phát triển để mang lại nhiều ý tưởng hơn so với những gì một mình thị trường tư nhân tạo ra.
Ở nơi mà trong lý thuyết của Solow, tăng trưởng có xu hướng chậm lại, thì trong lý thuyết của Romer, nó có thể tiếp tục khi những ý tưởng mới lan truyền trong nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là các nền kinh tế lớn - những nền kinh tế giỏi tạo ra những ý tưởng mới - có thể tiếp tục ngày càng lớn hơn mà không hề chậm lại. Những nền kinh tế nhỏ hơn sẽ không tự động bắt kịp. Thật không may, đây là số phận của rất nhiều nước trong số những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Cuối cùng, điều đó có nghĩa là họ không có nhiều nguồn lực để cung cấp lương thực, giáo dục và chỗ ở cho người dân của họ. Đó là lý do tại sao tăng trưởng là tối quan trọng, cũng là lý do khiến nhà kinh tế học người Mỹ Robert Lucas nói rằng một khi bạn bắt đầu suy nghĩ về nó, “thật khó để nghĩ về bất cứ điều gì khác”.
CHƯƠNG 25: Sự Hòa Hợp Ngọt Ngào
Khi bắt đầu những tiết học của ngày mới, học sinh lớp toán xuất hiện tại Phòng 15 để học phân số trong một giờ và học sinh học địa lý vào Phòng 12. Khi lớp học kết thúc, một số học sinh sẽ vào Phòng 12 để học lịch sử và những người khác đi đến Phòng 3 để học tiếng Anh. Chuyện cứ diễn ra như thế, ngày này qua ngày khác. Làm thế nào mà các học sinh biết mình phải đi đâu? Hiển nhiên là bởi vì một số người đã ngồi vào bàn làm việc và đặt ra một thời khóa biểu. Sẽ thật là hỗn loạn nếu thời khóa biểu đó không hiệu quả: giáo viên cố gắng dạy tiếng Pháp cho học sinh học vật lý và học sinh từ các lớp khác nhau ngồi chen chúc trong cùng một phòng. Ngược lại, khi thời khóa biểu hoạt động, mỗi ngày học tập là một ngày của sự hòa hợp.
Thời khóa biểu điều phối nhiều người với những mục tiêu khác nhau: học sinh học các môn học khác nhau. Người thiết kế ra lịch trình phải biết các mục tiêu đó để sắp xếp số lượng phòng và giáo viên hiện có sao cho phù hợp. Nền kinh tế là một vấn đề điều phối khổng lồ. Ngay bây giờ, bạn muốn có một cặp tai nghe mới, bạn của bạn muốn một trò chơi điện tử và tôi muốn một tách cà phê. Có những người ngoài kia, những người muốn tất cả những thứ kỳ lạ mà chúng ta có lẽ chẳng bao giờ muốn, như kẹo cao su vị thịt viên (thật, nó có tồn tại đấy). Nếu bạn và bạn của bạn đi xuống con phố trung tâm, sẽ có những cửa hàng bán tai nghe và trò chơi điện tử, còn nếu tôi ngừng viết và đi ra ngoài, chắc chắn tôi sẽ tìm ra ai đó sẵn sàng bán cà phê cho mình. Ngay cả những người có nỗi ám ảnh với kẹo cao su kỳ lạ có thể tìm thấy những gì họ thích ở đúng địa điểm.
Điều tương đương với những học sinh đến học ở đúng phòng trong nền kinh tế là những công ty cung cấp đúng chính xác số lượng của rất nhiều hàng hóa khác nhau mà mọi người muốn: các nhà sản xuất tai nghe làm ra tổng cộng một triệu đôi tai nghe khi mọi người muốn mua một triệu đôi, tương tự với các nhà cung cấp cà phê và trò chơi điện tử. Vậy ai là người thiết lập thời khóa biểu cho nền kinh tế? Ai bảo các nhà sản xuất tai nghe sản xuất ra một triệu đôi tai nghe? Trong nền kinh tế tư bản, không ai làm thế. Trên thực tế, chúng ta quá quen với nó, chúng ta hầu như không dành cho nó một chút suy nghĩ nào. Thông thường, chúng ta chỉ thực sự nhận thức được vấn đề về điều phối kinh tế khi mọi thứ đi chệch ra khỏi quỹ đạo: khi một công ty sản xuất linh kiện máy tính ngừng kinh doanh và bạn phát hiện ra rằng máy tính xách tay bạn muốn đã hết hàng. Nhưng ngay gần sát chúng ta, một cái gì đó thục sự khá phi thường đang diễn ra liên tục. Hầu hết thời gian nền kinh tế hoạt động tốt mà không có ai thiết lập thời khóa biểu cho nó. Vậy thì tại sao nó không ở trong tình trạng hỗn loạn liên tục?
Vào những năm 1950, một nhóm các nhà kinh tế học dẫn đầu bởi nhà kinh tế học Kenneth Arrow người Mỹ (1921-2017) và Gérard Debreu sinh ra tại Pháp (1921-2004) đã cố gắng trả lời câu hỏi này. Lý thuyết cơ bản về các thị trường được Alfred Marshall hoàn thiện vào thế kỷ 19 nghiên cứu cung và cầu trong một thị trường duy nhất. Cung và cầu cho tai nghe phụ thuộc vào giá của tai nghe, cũng như cung và cầu cho dầu mỏ phụ thuộc vào giá dầu. Khi cầu của dầu lớn hơn cung, giá dầu được đẩy lên, khiến mọi người có nhu cầu về dầu ít hơn và các công ty dầu mỏ cung cấp nhiều hơn. Cuối cùng cung và cầu được đưa trở lại vào trạng thái cân bằng. Tại trạng thái cân bằng, giá nằm ở mức mà ở đó các nhà sản xuất dầu cung cấp chính xác số lượng mà người mua muốn. Nếu cung và cầu là hai đầu của cái bập bênh, thì trạng thái cân bằng là khi hai đầu cái bập bênh không chuyển động.
Vấn đề là giá dầu không chỉ ảnh hưởng đến thị trường dầu mỏ. Arrow chỉ ra những tác động khác nhau của giá dầu thấp, kết quả của việc phát hiện ra mỏ dầu mới ở Texas và Vịnh Ba Tư vào những năm 1930. Mọi người bắt đầu sưởi ấm nhà họ bằng dầu thay vì than đá, điều này khiến việc làm trong các mỏ than giảm. Các nhà máy lọc dầu trở nên lớn hơn, đẩy cầu về thép tăng lên. Dầu giá rẻ khuyến khích mọi người mua xe nhiều hơn, dẫn đến sự suy giảm của đường sắt. Sự dịch chuyển trong một thị trường tạo ra những gợn sóng trong nhiều thị trường khác. Lý thuyết về cung và cầu của Marshall là một lý thuyết về “trạng thái cân bằng từng phần”: nó bỏ qua những gợn sóng.
Nắm bắt những gợn sóng là việc khó khăn. Theo lý thuyết cân bằng từng phần, chúng ta nghĩ rằng sự chuyển động của cái bập bênh thị trường dầu chỉ phụ thuộc vào giá dầu. Làm thế nào chúng ta có thể tính đến sự tương tác giữa các thị trường khác nhau? Hãy tưởng tượng cái bập bênh thị trường dầu mỏ được kết nối với cái bập bênh thị trường xe hơi. Khi một cái bập bênh chuyển động, những cái khác cũng chuyển động theo. Mỗi cái bập bênh được kết nối với hàng chục, có lẽ là hàng trăm, cái bập bênh khác.
“Trạng thái cân bằng tổng quát” là việc phân tích về các chuyển động được kết nối giữa những cái bập bênh. Nó được bắt đầu vào thế kỷ 19 bởi nhà kinh tế người Pháp Léon Walras (1834- 1910). Trạng thái cân bằng của một thị trường đơn lẻ có thể được diễn giải bằng một phương trình đơn giản: cung = cầu. Theo lý thuyết của Walras, cung và cầu cho dầu phụ thuộc vào giá của mọi hàng hóa khác trong nền kinh tế, cũng như cung và cầu cho tai nghe, cà phê và mọi thứ khác. Nếu có một triệu hàng hóa, bạn kết thúc với một triệu phương trình, mỗi phương trình phụ thuộc vào một triệu mức giá. Khi cung bằng cầu ở mọi thị trường, tất cả những cái bập bênh không chuyển động. Trong thuật ngữ toán học của Walras, nó xảy ra khi tất cả các phương trình được giải cùng một lúc. Walras không tìm ra được lời giải cho vấn đề toán học của mình; Arrow và Debreu đã làm được.
Vào những năm 1940, khi Arrow và Debreu đang học kinh tế học, môn học không liên quan đến toán học cho lắm. Mở một cuốn sách kinh tế học thời kỳ đó và bạn thấy rằng hầu hết nó được diễn giải bằng lời. Arrow và Debreu là những nhà toán học đã chuyển sang kinh tế học. Vào những năm 1950, họ làm việc tại một viện nghiên cứu tại Đại học Chicago là Ủy ban Cowles, nơi đã trở thành một trung tâm quan trọng của toán kinh tế. Trong các tác phẩm của họ, rất nhiều ký hiệu toán học được đan xen giữa các từ (giống như các tác phẩm của các nhà kinh tế học ngày nay). Khi Arrow nhận được giải thưởng cho công trình của mình vào những năm 1950, một trong những đồng nghiệp của ông đã gợi ý rằng ông nên bắt đầu lời phát biểu cảm ơn sau khi nhận giải thưởng bằng những từ “Tôi không diễn tả được bằng ký hiệu”.
Arrow và Debreu bắt đầu với các giả định về hành vi của con người và sau đó, sử dụng lý luận toán học chặt chẽ, xem những hành vi đó có hàm chứa ý nghĩa gì cho nền kinh tế. Một số giả định liên quan đến việc mọi người có lý trí hoặc nhất quán trong lựa chọn của mình. Ví dụ, nếu bạn thích chuối hơn lê và bạn thích lê hơn đào, thì nhất định là bạn phải thích chuối hơn đào. Họ thấy rằng khi sở thích của mọi người hợp lý thì có thể tất cả các thị trường trong nền kinh tế đều ở yên chỗ. Trong ngôn ngữ chuyên môn của các nhà kinh tế học, một trạng thái cân bằng tổng quát tồn tại. Khám phá này quan trọng bởi vì nếu trạng thái cân bằng là không thể đạt được thì sẽ không có một tập hợp giá mà tại đó nhu cầu của mọi người được thỏa mãn bởi các công ty của nền kinh tế. Theo thuật ngữ toán học, nền kinh tế sẽ “không đồng nhất”. Tập hợp những cái bập bênh kết nối với nhau sẽ không bao giờ ngừng chuyển động. Chúng sẽ rơi xuống đất, va vào nhau và bị rối tung lên. Hỗn loạn sẽ xảy ra.
Nhưng câu hỏi liệu các thị trường có hoạt động liên quan đến nhiều thứ hơn là liệu chúng có “thống nhất” hay không. Hãy tưởng tượng chúng ta biết rằng nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng. Cùng với việc mô tả tình hình, các nhà kinh tế tự hỏi nó phục vụ nhu cầu của xã hội nói chung tốt đến mức nào. Chúng ta hãy giả sử sau khi mua sắm vào buổi sáng tại chợ địa phương, mỗi người chúng ta trở về nhà với một túi trái cây. Đó có phải là một điều tốt không khi mà tôi có từng này quả lê, bạn có từng này quả chuối? Vào đầu thế kỷ 20, một nhà kinh tế học người Ý, Vilfredo Pareto (1848-1923), đã đưa ra một phương pháp để đánh giá. Một kết quả kinh tế được đánh giá là không mong muốn hoặc “không hiệu quả” nếu vẫn có thể khiến cho ít nhất một người có nhiều lợi ích hơn mà không làm tổn hại bất cứ ai khác, ông nói. Giả sử tôi có bốn quả lê và bạn có bốn quả chuối. Bạn thích lê và chuối như nhau, nhưng tôi thích chuối gấp đôi lê. Nếu chúng ta đổi số chuối của bạn với số lê của tôi, thì tôi sẽ được gấp đôi lợi ích và lợi ích của bạn vẫn như trước. Nó được gọi là “cải thiện pareto”. Nếu chúng ta không thực hiện trao đổi, các nguồn lực của nền kinh tế sẽ không tận dụng được công năng tốt nhất của chúng: chuối có thể được sử dụng để làm tôi hạnh phúc hơn, nhưng lại không được dùng, và vì vậy theo nghĩa nào đó bị lãng phí. Một kết quả kinh tế được coi là đạt “hiệu quả pareto” khi tất cả các giao dịch hoán đổi đã được thực hiện. Từ vị trí đó, không thể làm cho một người có nhiều lợi ích hơn mà không làm tổn hại đến lợi ích của người khác. Ý tưởng đó nghĩa là một nền kinh tế không nên chứa các tài nguyên “bị lãng phí” như nải chuối của bạn.
Arrow và Debreu đã chứng minh rằng nếu có một trạng thái cân bằng tổng quát trong nền kinh tế thì ắt hẳn nó phải đạt hiệu quả pareto. Đó là một kết quả đáng mong ước trong kinh tế học. Các nhà kinh tế đặt cho nó một cái tên đặc biệt: Định lý phúc lợi thứ nhất. Điều đó có nghĩa là khi một nền kinh tế cân bằng thì không có tài nguyên nào bị lãng phí như số chuối của bạn. Với những mức giá đem lại trạng thái cân bằng, tôi có thể bán lê và sử dụng số tiền đó để mua chuối và bạn có thể bán chuối để mua những thứ khác. Trên thực tế, hàng triệu người làm điều tương tự cho đủ các loại hàng hóa. Một khi các giao dịch được thực hiện không ai có thể đạt được thêm lợi ích nữa: không còn tài nguyên bị lãng phí. Vì vậy, Arrow và Debreu đã chỉ ra rằng mặc dù không ai tổ chức, một nền kinh tế của các thị trường giống như một trường học được tổ chức tốt. Nó dẫn đến sự hài hòa: ham muốn của con người được đưa vào cân bằng và không có gì bị lãng phí.
Tuy nhiên, hãy cẩn thận đừng để tất cả những điều này khiến bạn hào hứng đến mức mất tự chủ. Thứ nhất, hiệu quả pareto là một khái niệm tối thiểu về những gì tốt cho xã hội. Tất cả những gì nó làm là loại trừ các trường hợp tài nguyên bị lãng phí. Nhưng có rất nhiều kết quả đạt hiệu quả pareto. Một trong số chúng sẽ là kết quả trong đó một người giàu có sở hữu mọi thứ và tất cả những người khác không có gì. Việc chuyển hàng hóa từ người giàu sang những người còn lại sẽ làm cho phần còn lại có nhiều lợi ích hơn nhưng sẽ làm giảm tài sản của người giàu. Nó sẽ không gây ra một sự cải thiện pareto mặc dù chúng ta có thể nghĩ rằng kết quả đó rất đáng mong muốn. Kết quả của các thị trường, ngay cả khi hiệu quả, có thể rất bất công.
Thứ hai, các giả định mà lý thuyết của Arrow và Debreu dựa vào khác xa so với cách thức thị trường thực sự hoạt động trong thực tế. Họ phụ thuộc vào việc các thị trường mang tính cạnh tranh để không có người mua hoặc người bán nào có thể một mình gây ảnh hưởng lên giá. Trong thực tế, có những công ty quyền lực thực sự gây ra ảnh hưởng đến giá cả thị trường, thường là do “nền kinh tế quy mô”. Ví dụ, một nhà sản xuất máy bay phải đầu tư vào thiết bị đắt tiền trước khi nó có thể sản xuất một chiếc máy bay. Khi nó sản xuất nhiều hơn, chi phí lớn ban đầu được dàn trải trên số lượng máy bay lớn hơn mà nó bán được. Một công ty như vậy thường sẽ mở rộng quy mô cho đến khi chiếm lĩnh một phần lớn thị trường; tại thời điểm đó, thị trường không còn hoàn toàn cạnh tranh và Định lý phúc lợi thứ nhất không còn đứng vững. Nó cũng không đúng khi sự tiêu thụ hoặc sản xuất của một người ảnh hường đến sự tiêu thụ và sản xuất của người khác nhưng không được tính vào giá, ví dụ như khi ô nhiễm do nhà máy điện gây ra làm giảm thu hoạch của các trang trại gần đó.
Arrow và Debreu đưa một biến đổi hiện đại vào cho một câu hỏi cũ về kinh tế: tại sao hàng triệu người làm việc của riêng họ lại dẫn đến sự hòa hợp trong nền kinh tế. Adam Smith mô tả nó như là “bàn tay vô hình”, và một số nhà kinh tế học đã lấy Định lý phúc lợi thứ nhất làm bằng chứng cho ý tưởng của Smith. Nhưng bởi vì các giả định cần thiết để chứng minh định lý ấy xa rời những gì xảy ra trong thực tế, bạn cũng có thể coi thông điệp từ định lý là trong thực tiễn thị trường khó có khả năng hiệu quả. Do đó, có lẽ chính phủ sẽ phải vào cuộc để giúp thúc đẩy nền kinh tế theo hướng hiệu quả hơn. Chính phủ đôi khi cố gắng phá vỡ tình trạng độc quyền để làm cho thị trường cạnh tranh hơn chẳng hạn, hoặc đánh thuế bảo vệ môi trường để làm cho nền kinh tế phản ánh tốt hơn mong muốn có không khí trong lành của xã hội. Dù vậy, ngoài phạm vi toán cao cấp, lý thuyết cân bằng tổng quát có một thông điệp cơ bản và quan trọng: rằng việc kiểm tra một thị trường cô lập có thể nguy hiểm. Những thay đổi trong một thị trường gây ra những thay đổi ở những thị trường khác, về mặt kinh tế mà nói, mọi thứ đều được kết nối với nhau.
CHƯƠNG 26: Thế Giới Chia Đôi
Vào tháng 11 năm 1956, tám mươi hai người đàn ông căng buồm từ Mexico trên chiếc thuyền cũ vốn chỉ đủ chỗ cho hai mươi người và chất đầy trên đó đồ ăn, súng trường cùng súng chống tăng. Những người trên thuyền bị say sóng kinh khủng, chiếc thuyền bị rò và một người đã ngã xuống biển, nhưng bảy ngày sau, cả nhóm đã vượt qua khó khăn để đến được Cuba. Trên tàu có hai người đàn ông trẻ tuổi, những người sau này được xem là hai trong số những nhà cách mạng nổi tiếng nhất của thế kỷ 20. Fidel Castro, thủ lĩnh của nhóm, trước đó đã cố gắng lật đổ chính phủ Cuba. Bác sĩ của tàu là một người Argentina, Emesto “Che” Guevara, người đã dành những năm tháng sinh viên đi du lịch khắp Mỹ La tinh bằng xe máy. Ông thấy phẫn nộ trước sự nghèo túng và nỗi thống khổ mà ông chứng kiến trên hành trình của mình.
Guevara và Castro đều căm ghét chính phủ Cuba. Họ nói rằng chính phủ không quan tâm đến những người nghèo ở làng quê nơi mà con cái nhà nghèo phải đi chân đất và không được đến trường. Chính phủ quan tâm đến các công ty Mỹ kiếm bộn tiền ở Cuba và những người giàu có tận hưởng ở các sòng bạc của Havana nhiều hơn. Guevara và Castro muốn lật đổ chính quyền này mãi mãi - đó là lý do tại sao họ thực hiện hành trình nguy hiểm của mình. Thuyền của họ đáp xuống một vùng đầm lầy rậm rạp nơi rất nhiều người của họ bị quân đội Cuba giết hại. Guevara, Castro và một vài người khác đã trốn thoát vào núi. Từ đó họ bắt đầu một cuộc chiến chống lại chính phủ.
Guevara và Castro tin rằng sự nghèo đói ở Cuba và ở các quốc gia khác của châu Mỹ La tinh là do sự tham lam của các nước giàu, đặc biệt là Hoa Kỳ. Họ nói rằng các nước giàu đã “bóc lột” các nước nghèo. Karl Marx nói rằng các nhà tư bản bóc lột công nhân bằng cách buộc họ trải qua những ca làm việc vất vả, kéo dài và sau đó lấy đi hầu hết những gì họ sản xuất ra để kiếm lợi nhuận. Chính từ “bóc lột” làm người ta liên tưởng đến cái gì đó bất công và sai trái. Nhưng làm thế nào ý tưởng này có thể áp dụng cho các nước? Làm thế nào mà cả một quốc gia như Mỹ - nơi có hàng triệu người lao động và các công ty - lại bóc lột một nước nghèo như Cuba?
Nhà kinh tế học Andre Gunder Frank (1929-2005) đã đưa ra một thuyết cho thấy mọi chuyện xảy ra như thế nào. Frank sinh ra ở Đức và vào những năm 1960, ông định cư ở châu Mỹ La tinh. Trước khi đi về phía Nam, ông đã lấy bằng tiến sĩ tại trung tâm nổi tiếng của kinh tế học thị trường tự do, Đại học Chicago. Đối với giáo sư của Frank, ý tưởng của Marx rất không chính xác. Toàn bộ ý tưởng về sự bóc lột, cho dù là giữa ông chủ và công nhân hay giữa các quốc gia khác nhau, không hề có ý nghĩa gì cả. (Khi công nhân nhận một công việc, họ tự do chấp nhận mức lương được đề nghị. Không ai bóc lột bất cứ ai cả.) Tuy nhiên, Frank đã không chấp nhận các bài học mà giáo viên mình giảng dạy. Giống như Guevara, ông nói rằng ông nhận được sự giáo dục thật sự trên đường phố, khi quá giang xe hàng ngàn dặm vòng quanh nước Mỹ. Sau đó, ông đi từ nước này sang nước khác khắp châu Mỹ La tinh, sử dụng lý thuyết của mình để tư vấn cho các nhà lãnh đạo cấp tiến mới đang lên nắm quyền.
Kinh tế học tiêu chuẩn cho rằng mậu dịch với các nước giàu giúp các nước nghèo giàu hơn. Frank nghĩ theo hướng ngược lại: mậu dịch thực sự làm hại các nước nghèo. Vấn đề, theo Frank, là lợi nhuận từ việc xuất khẩu hàng hóa từ các nước nghèo - những hàng hóa như chuối và cà phê - không góp phần vào phát triển kinh tế thực sự như trường học hoặc các ngành công nghiệp mới. Nền kinh tế của các nước nghèo bị chi phối bởi các công ty lớn của nước ngoài. Ví dụ như ở Cuba, các công ty này sở hữu ba phần tư đất nông nghiệp. Các công ty nước ngoài điều hành các đồn điền và khu mỏ và họ là những người thu được lợi nhuận từ mậu dịch. Đúng là một số người dân địa phương đã giàu lên, như những chủ đất quyền lực và số ít những người may mắn làm việc cho các công ty đó; họ nướng tiền của mình vào xe ô tô nhập khẩu và quần áo nước ngoài xa xỉ.
Frank coi các công ty nước ngoài như là phiên bản hiện đại của các nhà thám hiểm châu Âu trong thế kỷ 15 và 16 đã phát hiện ra Nam Mỹ và sau đó cướp phá mảnh đất này, lấy đi một số lượng lớn vàng mang về châu Âu. Một trong những kẻ chinh phục hiện đại là Công ty Trái cây Hoa Kỳ (United Fruit Company) từ Mỹ, vào đầu thế kỷ 20 công ty này đã điều hành một đế chế thương mại trên khắp châu Mỹ La tinh. Công ty này xây dựng cả một thị trấn bên cạnh đồn điền chuối, hoàn thiện với tuyến đường sắt để vận chuyển trái cây. Nó thậm chí còn có lực lượng cảnh sát riêng. Báo chí Mỹ La tinh gọi công ty này là “Bạch tuộc” vì tai tiếng của nó trong việc bóc lột công nhân và điều khiển các quan chức chính phủ, đôi khi là cả các nước. Khi các công nhân Colombia tiến hành đình công vào năm 1928, quân lính đã bắn họ. Những xúc tu của công ty trườn đến khắp mọi nơi, hút sạch hết của cải của lục địa và bóc lột người dân.
Frank nghĩ rằng theo thời gian, khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo trở nên lớn hơn thay vì thu hẹp lại. Chủ nghĩa tư bản thế giới chia thành hai phần. Ở trung tâm của hệ thống đó là bộ phận “nòng cốt”, tức là các nước giàu ở châu Âu và Bắc Mỹ. Ở rìa của hệ thống - thuộc “ngoại vi” của nó - là những nước nghèo châu Mỹ La tinh, châu Á và châu Phi. Cốt lõi chiến thắng trong khi ngoại vi phải trả giá. Số phận của các nước nghèo - trở nên nghèo hơn - do đó “phụ thuộc” vào những nỗ lực của các nước giàu để làm cho mình giàu có hơn. Đó là lý do tại sao ý tưởng của Frank được gọi là “lý thuyết phụ thuộc”. Thay vì sự phát triển và tiến bộ được giảng dạy bởi kinh tế học phổ biến, Frank tin rằng chủ nghĩa tư bản thế giới dẫn đến điều ngược lại. Ông tóm tắt lý thuyết của mình bằng tiêu đề một trong những tác phẩm của mình: Sự phát triển của sự kém phát triển (The Development of Underdevelopment).
Một nhà kinh tế học người Argentina, Raúl Prebisch (1901- 1986), đã có một lý thuyết khác về những cạm bẫy của mậu dịch đối với các nước nghèo, về cách thức mà người giàu cuối cùng đạt được sự thống trị đối với người nghèo. Prebisch trở thành giám đốc ngân hàng trung ương của Argentina và sau đó giữ chức vụ quan trọng tại Liên Hiệp Quốc. Prebisch không cấp tiến như Frank nhưng ý tưởng của ông vẫn mâu thuẫn với kinh tế học truyền thống. Nó đề cập đến mức giá mà các nước nghèo có thể bán hàng hóa của họ. Quan điểm thông thường mậu dịch dựa trên lý thuyết của nhà kinh tế học người Anh thế kỷ 19 David Ricardo. Nếu các quốc gia chuyên sản xuất hàng hóa mà họ đang làm tương đối tốt hơn (nói cách khác, thuộc lợi thế so sánh của họ) và trao đổi mua bán với các quốc gia khác, thì tất cả các quốc gia sẽ đều có nhiều lợi ích hơn, Ricardo nói. Nếu Cuba thấy việc trồng mía đường dễ dàng hơn là làm ô tô thì Cuba nên bán đường cho Mỹ và mua xe của Mỹ. Mậu dịch tự do sẽ giúp các nước nghèo như Cuba đạt được các tiêu chuẩn sống gần hơn với các nước giàu, lý thuyết ấy phát biểu như vậy.
Prebisch nói rằng điều này là sai. Các nước nghèo như Cuba có khuynh hướng xuất khẩu các sản phẩm “thô” như đường, cà phê và chuối. Các nước giàu có xu hướng xuất khẩu các sản phẩm đã qua quá trình sản xuất như tivi và xe hơi. Khi mọi người trở nên giàu có hơn, họ chi tiêu nhiều hơn cho tivi và xe hơi chứ không chi tiêu nhiều hơn vào đường và cà phê. (Hãy tưởng tượng thu nhập của bạn tăng gấp mười lần. Bạn có thể chi gấp mười lần cho xe hơi và đồ trang sức. Mặt khác, bạn có thể mua thêm một tách cà phê mỗi ngày nhưng hẳn là bạn sẽ không mua nhiều gấp mười lần số cốc lúc trước.)
Prebisch thấy rằng điều này báo hiệu một vấn đề đáng lo ngại cho các nước nghèo. Khi nền kinh tế của một đất nước nghèo phát triển, nhu cầu của nó đối với những chiếc xe mà nó nhập khẩu từ các nước giàu tăng lên. Nhưng khi một nước giàu phát triển, nhu cầu về đường mà nước này nhập khẩu từ các nước nghèo tăng chậm hơn nhiều. Kết quả là, giá xe tăng nhanh hơn giá đường: “điều kiện mậu dịch” của các nước nghèo trở nên tồi tệ hơn. Vì vậy, khi dân số của nước nghèo đòi hỏi nhiều xe hơn, nước này phải xuất khẩu nhiều đường hơn để trả tiền cho số xe đó. Nó biến thành một vòng luẩn quẩn tàn nhẫn: đất nước nghèo chuyên môn hóa hơn vào việc sản xuất đường để trả tiền cho xe hơi, nhưng theo thời gian mỗi tấn đường mua được ít xe hơn. Cuối cùng, đất nước nghèo không thể tăng trưởng nhanh như quốc gia giàu có. Tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo ra nhu cầu cao đối với xe ô tô mà nước này sẽ không thể đáp ứng được với doanh thu từ xuất khẩu đường. Điều này trái ngược với tầm nhìn lạc quan của các nhà kinh tế học thế kỷ 19! Bây giờ có vẻ như mậu dịch giữa nước giàu và nước nghèo bẫy các nước nghèo vào việc xuất khẩu đường và cà phê giá rẻ, và việc luôn luôn tụt hậu so với thế giới giàu có.
Lối thoát nào cho các nước nghèo? Prebisch nói rằng họ không nên chuyên môn hóa, họ nên đa dạng hóa - nghĩa là, tạo ra rất nhiều hàng hóa khác nhau. Họ cần sản xuất đường và cà phê cũng như cả xe hơi và ti vi nữa. Thay vì sử dụng tiền từ xuất khẩu đường để mua xe hơi nước ngoài, họ nên đóng cửa biên giới của họ với xe hơi nước ngoài và sử dụng số tiền đó để xây dựng nhà máy sản xuất xe hơi của riêng mình. Trong những năm 1950 và 1960, đây là những gì mà nhiều quốc gia đã làm, ở Mỹ La tinh cũng như ở châu Phi và châu Á (xem Chương 22).
Prebisch không phải là một nhà cách mạng. Ông tin rằng với chiến lược kinh tế đúng đắn, chủ nghĩa tư bản có thể giúp các quốc gia nghèo. Ngược lại, Frank, giống như Guevara và Castro, tin rằng chủ nghĩa tư bản không thể được sửa chữa. Cách mạng là câu trả lời duy nhất. Người dân phải nắm lấy quyền lực và thiết lập một hệ thống xã hội chủ nghĩa kết thúc sự bóc lột. Đó là những gì Castro và Guevara đã cố gắng làm sau khi chiến thắng cuộc chiến chống lại chính phủ Cuba. Tại vùng đồi núi, họ đã xây dựng một nhóm gồm 800 người đàn ông đánh bại quân đội 30.000 người của Cuba, và tiến vào Havana trong tư thế chiến thắng vào những ngày đầu tiên của năm 1959. Castro đã thành lập chính phủ và nắm quyền kiểm soát các công ty nước ngoài bị căm ghét.
Vào những năm 1970, số lượng các nhà kinh tế học thị trường tự do của Chicago đang trên đà tăng và lý thuyết phụ thuộc đã không còn nhận được nhiều sự chú ý (mặc dù ý tưởng về sự bóc lột của Frank vẫn quan trọng đối với nhiều nhà phê bình chủ nghĩa tư bản). Những cuộc xung đột quân sự bạo lực đã đánh bại các chính phủ xã hội chủ nghĩa trên khắp châu Mỹ La tinh. Frank đang sống ở Chile khi quân đội tiếp quản ở đó. Ông chạy trốn, trở về Đức bốn mươi năm sau khi trốn thoát khỏi Đức Quốc xã. Ở Chile, sự quay trở lại chủ nghĩa tư bản được lãnh đạo bởi các nhà kinh tế học Chile được đào tạo tại Chicago, những người, không giống như Frank, đã tiếp nhận thông điệp từ các giáo viên của họ về thị trường tự do; họ được biết đến với cái tên “Những chàng trai Chicago”. Chỉ có Castro ở Cuba đã tiếp tục chiến đấu cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lúc đó Guevara đã qua đời, bị xử tử vào năm 1967 bởi quân đội Bolivia - với sự giúp đỡ của người Mỹ - trong khi đang cố gắng bắt đầu một cuộc cách mạng khác. Hôm nay bạn thường nhìn thấy hình ảnh của ông trên áo phông và áp phích, và ông thường được nhớ đến với biệt danh của mình, Che. Mái tóc bồng bềnh và chiếc mũ bê rê của ông đã trở thành biểu tượng của người chiến sĩ sẽ không dừng lại vì bất cứ thứ gì trong cuộc đấu tranh cách mạng.
Không chỉ các nhà kinh tế học theo trường phái thị trường tự do bác bỏ lý thuyết của Frank; thậm chí một số người Mác-xít cũng đã chối bỏ nó. Marx nói rằng chỉ khi nào đã đạt được một mức độ cao của sự phát triển tư bản chủ nghĩa thì xã hội mới có thể thực hiện bước nhảy vọt tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội đích thực phải được xây dựng trên cơ sở là chủ nghĩa tư bản. Các nước nghèo ở Mỹ La tinh còn xa mới đạt tới mức phát triển đó. Frank đã tiếp nhận ý tưởng về sự bóc lột tư bản chủ nghĩa của Marx nhưng đã quên rằng chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn cần thiết trên con đường dẫn đến chủ nghĩa xã hội, như các nhà phê bình nói.
Các nhà lý thuyết phụ thuộc chắc chắn đúng khi chỉ ra nhiều bất công trong hệ thống kinh tế và chính trị toàn cầu. Các nước giàu có thường xuyên thực thi một hệ thống mà theo đó xuất khẩu của họ được bán tự do cho các nước nghèo, trong khi họ lại chậm chạp trong việc cho phép nhập khẩu từ các nước nghèo. Một bất công khác là sự can thiệp của Hoa Kỳ trong thương mại và chính trị của các quốc gia độc lập ở Mỹ La tinh và các nơi khác. Chính phủ Mỹ ủng hộ các cuộc đảo chính chống lại các chính phủ xã hội chủ nghĩa như Chile vì Mỹ đang cạnh tranh sức ảnh hưởng với đối thủ của mình, Liên bang Xô viết, một đồng minh của các chính phủ xã hội chủ nghĩa. Hoa Kỳ xâm chiếm các nước khác - Grenada và Cộng hòa Dominica - và tiến hành một cuộc chiến tranh dài ở Việt Nam để giảm bớt sức ảnh hưởng của “chủ nghĩa cộng sản”.
Nhưng nói rằng có sự bất công là một chuyện. Một chuyện khác khá quan trọng là khẳng định đây là một phần không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản, như Frank nói. Sự gia tăng tài sản của châu Á cho thấy các nước nghèo có thể trở nên giàu có hơn trong một thế giới tư bản. “Những con Hổ châu Á” - Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông và Đài Loan - đã tự biến đổi từ các nước nghèo vào giữa thế kỷ 20 thành các quốc gia công nghiệp tiên tiến vào cuối thời kỳ đó. Họ đã xoay xở nhanh chóng để đa dạng hóa nền kinh tế của họ, cuối cùng sản xuất tàu, ô tô và máy tính, như Prebisch khuyến nghị. Mậu dịch với các nước giàu hơn không làm suy yếu Những con Hổ ấy: đó là đòn bẩy cho sự phát triển của họ. Ngày nay, Trung Quốc đang lặp lại kỳ tích này.
CHƯƠNG 27: Đổ Đầy Bồn Tắm
Một trong những cuốn sách có sức ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế từng được viết ra là Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền bạc (The General Theory of Employment, Interest and Money) của Keynes, được xuất bản vào năm 1936. Nó cũng là một trong những cuốn sách khó nhất và các nhà kinh tế học vẫn tranh luận về ý tưởng thực sự của Keynes. Sau Thế chiến II, những môn đồ của Keynes đã giúp đưa ý tưởng của ông vào phạm vi các tư duy kinh tế được chấp nhận. Một trong số họ, Paul Samuelson (1915- 2009), người Mỹ, đã đánh giá cuốn sách này một thập kỷ sau khi nó được xuất bản. Ông cho rằng quyển sách được viết rất tệ, kiêu ngạo và đầy những nhầm lẫn. Những phân tích của nó là hiển nhiên, nhưng cũng hoàn toàn mới. “Tóm lại”, Samuelson kết luận, “đó là một tác phẩm thiên tài”. Samuelson, cùng với một người Mỹ khác, Alvin Hansen (1887-1975), và ở Anh, John Hicks (1904-1989), đã rút gọn cuốn sách to lớn lộn xộn của Keynes thành một vài đồ thị và phương trình gọn gàng. Phiên bản của họ đã trở thành kinh tế học Keynes được dạy cho các thế hệ sinh viên kinh tế và được sử dụng để phục vụ việc hoạch định chính sách kinh tế của các chính phủ sau chiến tranh. Keynes đã lập luận rằng để tránh lặp lại cuộc Đại khủng hoảng của những năm 1930, chính phủ cần can thiệp vào nền kinh tế của họ. Những người trẻ tuổi theo học thuyết kinh tế Keynes đã vào làm việc tại các bộ của chính phủ và tư vấn cho các quan chức biết phải làm gì.
Năm 1946, năm mà Samuelson ca ngại trí tuệ thiên tài của Keynes, sức ảnh hưởng của những người theo học thuyết Keynes đối với việc hoạch định chính sách thực tế đã chạm đến một cột mốc quan trọng. Mỹ đã thông qua một đạo luật trao trách nhiệm cho chính phủ trong việc đảm bảo nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và tạo ra đủ việc làm để thuê người dân của mình. Một cột mốc khác xuất hiện vào đầu những năm 1960 khi Tổng thống Kennedy áp dụng chính sách Keynes cấp tiến.
Kennedy nói rằng nền kinh tế lúc đó có khả năng sản xuất lớn hơn. Nếu mọi người chi tiêu nhiều hơn, thì nền kinh tế sẽ sản xuất nhiều hơn và những người thất nghiệp sẽ quay trở lại làm việc. Ông lên kế hoạch cắt giảm thuế rất lớn để đạt được điều đó, và chúng đã được Tổng thống Lyndon Johnson thực hiện vào năm 1964. Ông này đã xuất hiện trên truyền hình để thông báo về những kế hoạch ấy. Việc cắt giảm sẽ cung cấp cho người tiêu dùng thêm 25 triệu đô la để chi tiêu mỗi ngày, ông nói: “tiền sẽ lưu thông trong nền kinh tế, nâng cao nhu cầu đối với hàng hóa lên gấp nhiều lần số tiền thuế cắt giảm”. Tóm lại, đây là cách chính sách kinh tế Keynes hoạt động.
Theo Keynes, sự suy thoái xảy ra khi tiền tiết kiệm không được đầu tư vào các nhà máy và máy móc. Khi mọi người tiết kiệm thay vì chi tiêu và các doanh nhân ngừng đầu tư, về tổng thể sẽ có ít chi tiêu hơn và nền kinh tế ngừng tăng trưởng. Trong Chương 18, chúng ta đã hình dung chi tiêu như mực nước trong bồn tắm. Khi có nhiều nước chảy ra dưới dạng tiền tiết kiệm hơn so với nước chảy vào dưới dạng các khoản đầu tư, mực nước giảm dần và nền kinh tế rơi vào suy thoái. Theo ý kiến của những người theo học thuyết Keynes, nếu mọi người không chi tiêu, thì chính phủ phải chi tiêu. Nó có thể ngăn chặn sự suy giảm nhanh chóng thông qua việc đầu tư vào đường sá, bệnh viện, vào các chậu cây cho văn phòng, thực ra là vào hầu như bất cứ điều gì. (Keynes nói rằng thà chính phủ chôn tiền giấy trong lòng đất còn tốt hơn là không làm gì cả. Điều đó sẽ tạo ra chi tiêu và công ăn việc làm khi các doanh nhân thuê người lao động đào tiền lên.)
Nếu chính phủ đổ chi tiêu của chính mình vào bồn tắm đủ nhiều, nó có thể bù đắp cho khoản chi tiêu chảy ra dưới dạng tiền tiết kiệm. Trên thực tế, những gì chính phủ làm là vay những khoản tiết kiệm chưa được sử dụng đang chảy quanh nền kinh tế và tự mình chi tiêu số tiền đó; chính phủ chuyển hướng chúng trở lại bồn tắm. Trong khi làm điều này, chính phủ chi tiêu nhiều hơn số tiền thu được từ thuế (tương tự khi ai đó vay tiền từ ngân hàng để mua một chiếc xe hơi và do đó chi tiêu nhiều hơn số tiền họ kiếm được). Chính phủ quản lý một khoản “thâm hụt ngân sách”. Sau đó, khi nền kinh tế tăng trưởng và nhiều người đang làm việc và kiếm tiền hơn, chính phủ thu số tiền thuế lớn hơn và thâm hụt biến mất.
Một cách khác là cắt giảm thuế - chính sách của Kennedy. Nó làm điều tương tự bằng cách đặt thêm đô la vào tay của người tiêu dùng. Mặc dù người tiêu dùng tiết kiệm một vài đô la, họ cũng mua nhiều thứ, điều này thúc đẩy chi tiêu trong nền kinh tế. Trong bài phát biểu trên truyền hình của mình, Johnson tưởng tượng điều xảy ra với những đồng đô la. Thay vì chảy vào Kho bạc của chính phủ, chúng sẽ được ai đó dùng để mua thực phẩm tại cửa hàng. Cửa hàng sử dụng chúng để thanh toán cho nhà cung cấp sữa của mình. Nhà cung cấp sữa trả tiền cho một trong số những nhân viên kế toán của họ. Cô kế toán dành tiền đó để mua vé xem phim, v.v. Một đồng đô la chi tiêu ban đầu, cho dù được tạo ra bởi việc cắt giảm thuế để đặt thêm tiền vào tay người tiêu dùng hay do chính phủ chi tiêu chính đồng đô la ấy, chảy qua nền kinh tế, tạo ra chi tiêu mới giá trị nhiều hơn một đô la. Hiệu ứng chi tiêu đó được gọi là “số nhân”: tác động cuối cùng đến nền kinh tế là giá trị được nhân lên của mức tăng chi tiêu hoặc cắt giảm thuế ban đầu. Chẳng bao lâu sau, các công ty bắt đầu sản xuất nhiều hơn và thuê thêm công nhân mới. Nền kinh tế bắt đầu chuyển động trở lại.
Các nhà kinh tế học gọi bất kỳ chính sách nào liên quan đến chi tiêu của chính phủ và đánh thuế là chính sách “tài khóa” (fiscal). Ở thời đế chế La Mã cổ đại, fiscus là rương kho báu của hoàng đế, vì vậy chính sách tài khóa nói về việc nhà nước lấp đầy kho bạc của mình với các loại thuế và khiến chúng trống rỗng thông qua việc chi tiêu. Nhà nước lấp đầy chúng bằng cách đánh thuế vào khoản thu nhập mà mọi người dân kiếm được và làm rỗng chúng bằng cách mua các vật dụng - thuốc men, sách giáo khoa, xe tăng. Chính sách của Kennedy và Johnson là một chính sách tài khóa theo học thuyết Keynes và dường như đã thực hiện được nhiệm vụ của mình. Sau đó, tăng trưởng kinh tế tăng và tỉ lệ thất nghiệp giảm.
Một loại chính sách khác là chính sách “tiền tệ”: bất kỳ điều gì làm thay đổi số tiền trong nền kinh tế hoặc lãi suất được tính để vay tiền. Loại đơn giản nhất là việc chính phủ in thêm đô la. Quan điểm của những người theo học thuyết Keynes về chính sách tiền tệ dựa trên lý thuyết của họ về lãi suất. Điểm khởi đầu là để thấy rằng mọi người có những lựa chọn về cái họ làm với tiền bạc của họ. Họ có thể chọn cách cất giữ nó, đơn thuần là tiền cũ, các loại tiền giấy và tiền xu không đem lại cho họ bất kỳ khoản lợi nhuận nào. Hoặc họ có thể mua các sản phẩm tài chính như trái phiếu. Trái phiếu là chứng chỉ trả lãi cho bất kỳ ai sở hữu chúng. Các công ty hoặc chính phủ bán trái phiếu cho người dân khi họ muốn vay tiền. Khi tỉ lệ lãi suất trên trái phiếu cao thì mọi người không muốn giữ tài sản của họ dưới dạng tiền không sinh ra lãi - họ sẽ mua trái phiếu. Trong trường hợp này, chúng ta nói rằng cầu cho tiền là thấp. Ngược lại, khi lãi suất thấp, cầu cho tiền của mọi người là cao. Giả sử rằng bây giờ chính phủ in thêm nhiều đô la hơn (tăng nguồn cung tiền). Để mọi người nắm giữ số tiền đã được in thêm, thay vì sử dụng tiền để mua trái phiếu, lãi suất phải giảm. Sự suy giảm làm cho cung tiền bằng với cầu. Điều quan trọng ở đây là lãi suất thấp hơn ảnh hưởng đến quyết định của các doanh nhân. Sẽ không đáng để xây dựng một nhà máy mới hứa hẹn mang lại cho họ một lợi nhuận nhất định trong khi họ phải trả rất nhiều lãi trên số tiền họ vay để xây dựng nó. Nhưng khi lãi suất đủ thấp, thì việc xây nhà máy lại đáng. Vì vậy, lãi suất thấp hơn kích thích đầu tư kinh doanh. Điều đó đồng nghĩa với việc chi tiêu nhiều hơn trong nền kinh tế và thu nhập quốc dân cao hơn và nhiều việc làm hơn.
Lý thuyết Keynes về tác động của tiền đối với nền kinh tế - nguồn cung tiền cao hơn lãi suất thấp hơn đầu tư cao hơn thu nhập quốc dân cao hơn và nhiều việc làm hơn - khác với những gì đã xuất hiện trước đó. Kinh tế học phổ biến của thời kỳ đó, thứ mà Keynes chỉ trích, dựa trên kinh tế học “cổ điển”: tư duy của các nhà kinh tế học thế kỷ 18 và 19. Kinh tế học cổ điển nói rằng tiền không có tác động “thực” đến nền kinh tế, đến số lượng ô tô hoặc viên gạch được tạo ra và số lượng người đang làm việc. Tiền chỉ đơn giản là công cụ để mọi người mua và bán mọi thứ. Nếu chính phủ tăng gấp đôi nguồn cung tiền thì người ta có gấp đôi để chi tiêu; kết quả duy nhất là tất cả giá đều tăng gấp đôi. Đây là “thuyết lưỡng phân cổ điển”, một sự tương phản giữa hai điều hoàn toàn khác nhau: khía cạnh “thực” của nền kinh tế, hoàn toàn tách biệt khỏi khía cạnh “tiền” của nó. Kinh tế học Keynes cắt đứt sự phân chia đó. Bây giờ các khía cạnh thực và tiền đã được kết nối. Số tiền trong nền kinh tế ảnh hưởng đến những điều thực tế: bao nhiêu đã được sản xuất và bao nhiêu người lao động có việc làm.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes quan tâm đến chính sách tài khóa hơn là chính sách tiền tệ. Họ bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm của cuộc Đại khủng hoảng trong những năm 1930 khi lãi suất rất thấp. Nếu lãi suất thấp như vậy, tại sao cuộc khủng hoảng lại kéo dài lâu đến thế, họ tự hỏi? Họ kết luận rằng tiền và lãi suất không ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế nhiều đến vậy. Những người theo trường phái Keynes tin rằng những gì thực sự thúc đẩy đầu tư là cảm giác lạc quan của các doanh nhân (những gì Keynes gọi là “tinh thần động vật”*), chứ không phải là lãi suất thấp.
Tư duy kinh tế thông thường, cái đã bị thay thế bởi kinh tế học Keynes, nói rằng những nỗ lực của chính phủ để giữ cho nền kinh tế tiếp tục chuyển động, cho dù thông qua chính sách tài khóa hay tiền tệ, sẽ là vô ích. Nền kinh tế sẽ tự tìm cách quay trở lại từ một cuộc suy thoái đến chỗ “việc làm đầy đủ”, tình trạng mà khi đó tất cả các công nhân và nhà máy đều có việc làm. Nó sẽ làm điều đó như thế nào? Tiền lương sẽ giảm, khuyến khích các công ty tuyển dụng nhiều lao động hơn, và giá cả cũng giảm xuống, khuyến khích mọi người mua một số lượng lớn các hàng hóa chưa bán được. Những người theo trường phái Keynes không cho rằng lý thuyết cổ điển hoàn toàn sai, chỉ là nó chỉ áp dụng được vào tình huống mọi người đều có việc làm đầy đủ. Keynes đã xem xét điều gì sẽ xảy ra khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái, ở mức thấp hơn việc làm đầy đủ. Ông nói rằng giá cả và tiền lương sẽ không suy giảm một cách dễ dàng - cả hai đã được các công ty và người lao động thỏa thuận - vì vậy những thứ đó không giúp hàng hóa được bán và người lao động thất nghiệp được thuê. Thay vào đó, trong một cuộc suy thoái khi mọi người ngừng chi tiêu, các công ty cắt giảm sản xuất và việc làm.
Sau chiến tranh, các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes đã pha trộn hai phương pháp tiếp cận. Giả sử nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái; các nhà máy và công nhân ngồi yên nhàn rỗi. Chính phủ chi tiêu nhiều hơn hoặc cắt giảm thuế, làm tăng cầu trong nền kinh tế. Các công ty sản xuất nhiều hơn và thuê thêm công nhân. Bởi vì có rất nhiều công nhân thất nghiệp, nhu cầu tăng thêm có thể được đáp ứng mà không làm tăng giá. Đây chính là nền kinh tế Keynes. Sau đó, tất cả các nhà máy hoạt động và mọi người đều được tuyển dụng. Đây là nền kinh tế cổ điển với việc làm đầy đủ mà bạn cuối cùng cũng đạt đến được trong dài hạn. Điều gì sẽ xảy ra nếu chính phủ cố gắng tăng cầu? Bởi vì nền kinh tế đang chạy hết công suất, nên nó không thể tạo thêm hàng hóa và cầu tăng thêm đơn giản đẩy giá lên cao. Quan điểm kinh tế học của Keynes là trước khi chúng ta có được kết quả lâu dài, chính phủ phải nhập cuộc để giúp đỡ. “Về lâu dài, tất cả chúng ta đều chết”, Keynes nói.
Trong thực tế, sự chuyển đổi từ nền kinh tế Keynes sang nền kinh tế cổ điển diễn ra dần dần. Nền kinh tế không đột nhiên đi từ mức giá hoàn toàn ổn định sang mức giá tăng vọt. Nhà kinh tế học người New Zealand Bill Phillips (1914-1975) đã nghiên cứu các mô hình thực tế trong nền kinh tế và tìm thấy một mối quan hệ mượt mà hơn. Khi tỉ lệ thất nghiệp cao, cho thấy rất nhiều tài nguyên không được sử dụng trong nền kinh tế, thì lạm phát - tốc độ tăng của giá - có xu hướng thấp. Khi tỉ lệ thất nghiệp thấp, lạm phát có xu hướng cao. Có một đường cong liên kết hai thái cực đó: tỉ lệ thất nghiệp ít hơn một chút đi kèm với lạm phát cao hơn một chút. “Đường cong Phillips” trở thành một phần khác của hệ thống Keynes, và nó cung cấp hướng dẫn quan trọng cho chính sách của chính phủ. Nếu nền kinh tế bị suy thoái, chính phủ có thể chi tiêu nhiều hơn, cắt giảm thất nghiệp với cái giá phải trả là lạm phát cao hơn. Mặt khác, nếu nền kinh tế đang vận hành quá nhanh dẫn đến lạm phát cao, thì chính phủ có thể giảm chi tiêu hoặc tăng thuế để làm nền kinh tế phát triển chậm lại.
Kinh tế học Keynes dường như có vị trí vững chắc khi vào năm 1971 Tổng thống Richard Nixon, thuộc Đảng Cộng hòa, đảng thường cảnh giác với vấn đề đánh thuế và chi tiêu theo cách của Keynes, nói rằng “Bây giờ tôi là một người theo học thuyết kinh tế của Keynes”. Mặc dù có một số thăng trầm, những thập kỷ sau Thế chiến II đã không chứng kiến một sự lặp lại của cuộc khủng hoảng khủng khiếp những năm 1930. Các nền kinh tế tăng trưởng đều đặn và đi kèm là mức sống tăng cao. Nhưng trong những năm 1970, kinh tế học Keynes đã mất đi hào quang của mình. Các nhà kinh tế học đặt câu hỏi liệu các chính sách theo trường phái Keynes có thực sự là nguyên nhân dẫn đến việc nền kinh tế hoạt động tốt. Có lẽ việc chính phủ chi tiêu quá nhiều đã khiến các nền kinh tế trở nên kém ổn định hơn bằng cách đẩy lạm phát tăng lên. Các trường phái kinh tế mới nổi lên và tấn công chủ nghĩa Keynes - chúng ta sẽ tìm hiểu chúng trong Chương 29 và 30. Nhiều ý tưởng của những trường phái đó hài hòa với truyền thống cũ hơn của kinh tế học mà Keynes đã phản bác. Các nhà lý thuyết cổ điển đang chuẩn bị phản đòn.
CHƯƠNG 28: Lãnh Đạo Bởi Những Tên Hề
Tháng 11 năm 1863, trong cuộc Nội chiến Mỹ, Tổng thống Abraham Lincoln đã có bài phát biểu nổi tiếng nhất của mình tại địa điểm diễn ra Trận Gettysburg ở Pennsylvania. Ông mong rằng sự tàn sát xảy ra xung quanh mình sẽ không phải là vô ích, rằng từ đống tro tàn của chiến tranh một nền tự do mới sẽ hình thành: “chính phủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Lời nói của ông thể hiện nhiệm vụ của chính phủ là vô cùng đạo đức, thậm chí đến mức anh hùng. Lincoln kêu gọi những người nắm giữ các đòn bẩy quyền lực sử dụng chúng để phục vụ xã hội nói chung.
Gần một trăm năm sau bài phát biểu của Lincoln, Charlie Chaplin đã nói: “Tôi chỉ còn là một thứ, một thứ duy nhất, và đó là một vai hề. Điều đó đưa tôi đến một vị trí cao hơn rất nhiều so với bất kỳ chính trị gia nào”. Phải chăng những người cai trị nước Mỹ đã biến từ anh hùng thành những thằng hề chỉ trong một vài thế hệ? Có lẽ Chaplin đang nghĩ về những trò hề của thị trưởng Chicago, William Hale “Big Bill” Thompson, người trong thập niên 1920 và 1930 đã biến nền chính trị ở Chicago trở thành trò hề. Xã hội đen đã tài trợ chiến dịch tranh cử của ông và chính quyền của ông bị chìm trong các vụ bê bối nối tiếp nhau. Để chuyển hướng sự chú ý, Big Bill đã tổ chức một chuyến thám hiểm không có thật tới vùng biển phía Nam để tìm ra một loài cá biết trèo cây trong truyền thuyết; đoàn thám hiểm đã đạt được mục đích thực sự là giữ cho ông ta không xuất hiện trên trang nhất các báo.
Vài năm sau thời kỳ của Big Bill, con trai của một người nông dân đã tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Trung Tennessee, nhờ xoay xở trả học phí bằng công việc vắt sữa bò. Khó có thể tin đó là bước khởi đầu của một nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, nhưng James Buchanan (1919-2013) đã trở thành nhân vật đó nhiều năm sau, thông qua các tác phẩm làm tan vỡ hình ảnh chính trị gia đạo đức. Buchanan tin rằng những tuyên bố của các chính khách rằng họ đang làm việc vì lợi ích chung của xã hội, như Big Bill, chỉ là những lời dối trá.
Đây là một thách thức lớn đối với kinh tế học thời đó. Sau Thế chiến II khi Buchanan bắt đầu sự nghiệp của mình, hầu hết các nhà kinh tế đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Keynes, người đã lập luận rằng các chính phủ cần đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể, chính phủ cần chi tiền để ngăn nền kinh tế rơi vào suy thoái. Các nhà kinh tế cũng nhận thấy một vai trò khác của chính phủ: đó là phân phối lại của cải bằng cách đánh thuế người giàu và đưa tiền cho người nghèo, và bằng cách cung cấp phúc lợi y tế và giáo dục. Sau chiến tranh, nhiều chính phủ bắt đầu thực hiện những nhiệm vụ này, chi tiêu nhiều tiền hơn cho nền kinh tế và chính phủ trở nên lớn hơn bao giờ hết. Các nhà kinh tế thực ra không đặt câu hỏi liệu các chính phủ thực sự có khả năng thực hiện các chính sách này hay không. Một khi các chính sách đúng đắn được đề ra, họ cho rằng chính phủ sẽ sẵn sàng và có thể thực hiện chứng.
Là một thanh niên, Buchanan đã tin vào sức mạnh của nhà nước trong việc sửa chữa mọi thứ và thậm chí còn có chút quan tâm đến chủ nghĩa xã hội. Gia đình ông nghèo: Buchanan lớn lên trong một trang trại tồi tàn không có điện và ông đã lái máy kéo từ lúc lên sáu tuổi. Mặc dù vậy, ông của ông đã trở thành thống đốc bang Tennessee dưới một đảng chính trị có tuổi đời ngắn ngủi muốn thách thức giới tinh hoa của nước Mỹ - những nhóm người có quyền lực và ảnh hưởng nhất như là các chủ ngân hàng giàu có chẳng hạn. Buchanan bắt đầu quan tâm đến cách xã hội hoạt động khi ông đọc những chồng sách chính trị đầy bụi bặm mà ông mình để lại trong phòng sau của gia đình. Nhưng khi ông đến Đại học Chicago để học tiến sĩ, nhận thức của ông đã thay đổi. Sáu tuần sau khi học kỳ bắt đầu, ông đã nhận ra sức mạnh của thị trường và từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Những gì ông giữ lại từ chồng sách cũ của mình là sự không ưa tầng lớp tinh hoa. Tuy nhiên, đối với Buchanan, giới tinh hoa đích thực không phải là các nhà công nghiệp và các ông chủ ngân hàng giàu có, mà là những người đến từ các gia đình có sức ảnh hưởng lớn và theo học tại các trường đại học danh tiếng như Harvard. Rất nhiều người trong số họ đã trở thành chính trị gia và các quan chức chính phủ. Từ địa vị quyền lực của mình, họ can thiệp vào xã hội và quyết định điều gì là tốt cho tất cả những người khác.
Sự không ưa của ông đã trở thành một học thuyết vào một mùa hè, sau khi ông đã hoàn thành các bài thi. Ông đang tìm sách trong thư viện của trường đại học và tại đó, một lần nữa, cuộc sống của ông đã thay đổi nhờ một tác phẩm bị bỏ quên trong bụi bặm. Cuốn sách ông lấy từ kệ sách là một cuốn tiếng Đức và được viết bởi nhà kinh tế học người Thụy Điển Knut Wicksell (1851-1926). Nó khiến Buchanan vô cùng phấn khích và ngay lập tức ông quyết định dịch nó sang tiếng Anh. Nói ngắn gọn thì, Wicksell đã phá vỡ quan niệm rằng các chính phủ hoàn toàn không tư lợi, chỉ quan tâm đến việc thực hiện các chính sách tốt nhất cho xã hội nói chung.
Buchanan đã phát triển ý tưởng của Wicksell thành một lĩnh vực kinh tế học mới. Các nhà kinh tế học cho rằng nhà nước có thể sửa chữa mọi thứ. Nhưng thực sự thế nào là nhà nước? Buchanan nói rằng đó chỉ là một nhóm người: các quan chức, những vị cố vấn và các bộ trưởng. Vấn đề với kinh tế học tiêu chuẩn là nó đã nhìn nhận những người đó là đa nhân cách. Khi tìm kiếm đôi giày có giá trị tốt nhất hoặc tìm hiểu xem nên bán xe của mình với giá bao nhiêu, các quan chức chính phủ hành xử như những “con người kinh tế lý trí”: họ hành động một cách chắc chắn vì lợi ích riêng của họ bằng cách tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Nhưng ngay khi các quan chức vào trụ sở cơ quan, kinh tế học tiêu chuẩn cho rằng họ chỉ nghĩ về lợi ích của đất nước và không còn quan tâm đến lợi ích cá nhân nữa. Họ thực hiện các chính sách đúng đắn mà không mảy may nghĩ ngại. Họ không bao giờ ngủ gục trên bàn làm việc hay nghỉ trưa ba tiếng. Cứ như thể “con người kinh tế” ích kỷ đã biến mất và được thế chỗ bởi ai đó khác, “con người chính trị”, một người hoàn toàn không ích kỷ, luôn luôn hành động theo những gì có lợi nhất cho xã hội.
Buchanan nói rằng điều này không nhất quán. Các hành động của chính phủ phải được kiểm tra theo cách giống như các hành động của các doanh nghiệp đang cố gắng kiếm tiền. Các chính trị gia và quan chức chính phủ là những người theo đuổi lợi ích riêng của mình như mọi người khác. Lĩnh vực kinh tế mới của Buchanan được gọi là “lựa chọn công cộng”. Ông mô tả nó là “chính trị không lãng mạn”. Các chính trị gia không phải là những anh hùng không ích kỷ - với Buchanan, đó là một ý niệm ngớ ngẩn và lãng mạn. Trong thực tế, họ quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ địa vị của mình và gắt gỏng hơn, ích kỷ hơn và ít đáng tin cậy hơn so với những gì mà các nhà kinh tế học đã tin.
Chính phủ Mỹ đã chi tiêu hàng loạt trong những năm 1960 và lý thuyết của Buchanan đưa ra một góc nhìn mới về nó. Sự tăng trưởng của chính phủ liên quan đến việc các chính trị gia và các công chức quan tâm đến bản thân họ hơn là việc giúp thị trường vận hành tốt hơn, ông nói. Vấn đề ở chính phủ không chỉ được thấy trong những lời phát biểu ngớ ngẩn của Big Bill. Các công chức mặc vest nghiêm chỉnh và các nhà lãnh đạo chính trị được tôn trọng ở Washington cũng tệ như vậy. (Khi John F. Kennedy được bầu làm tổng thống vào năm 1961, Buchanan đã quan sát thấy cha của Kennedy, một người giàu có và đầy tham vọng, gần như đã mua chức tổng thống cho con trai mình.)
Theo Buchanan, những gì mọi chính trị gia đều muốn, trên tất cả, là yên vị trên cái ghế của mình. Để giữ quyền lực, họ tạo ra “đặc lợi” và sau đó đưa chúng cho những người ủng hộ họ. Đặc lợi là phần doanh thu trên mức có thể kiếm được trong một thị trường cạnh tranh. Ví dụ, nếu chính phủ áp thuế trên xe hơi của nước ngoài thì các nhà sản xuất xe hơi trong nước, được bảo hộ trước sự cạnh tranh từ nước ngoài, thu được lợi nhuận lớn. Bằng cách trao đặc quyền cho các nhóm người đặc biệt, các chính trị gia hy vọng sẽ nhận được sự hỗ trợ chính trị, có lẽ thậm chí là cả tiền bạc.
Triển vọng kiếm thêm lợi ích cho dù chỉ phải làm rất ít khuyến khích việc “tìm kiếm đặc lợi”. Các doanh nghiệp chi tiền để cố thuyết phục chính phủ trao cho họ đặc quyền. Họ có thể mời các quan chức chính phủ bữa ăn trưa đắt tiền để cố gắng khiến các quan chức làm những gì họ muốn. Họ có thể thành lập một tổ chức để giúp cho vụ việc của mình, Hiệp hội các nhà sản xuất ô của Mỹ chẳng hạn. Các tổ chức như thế này thường được bảo vệ bằng lập luận rằng trong một nền dân chủ lành mạnh, chúng giúp truyền tải quan điểm của những nhóm người khác nhau. Trong lý thuyết lựa chọn công cộng, họ là những người tìm kiếm đặc lợi mà hoạt động của họ tận dụng hết các tài nguyên lẽ ra có thể được sử dụng một cách hữu ích hơn theo một phương pháp khác.
Tìm kiếm đặc lợi làm tổn thương người tiêu dùng bởi vì nếu thị trường ô tô và thị trường ô được bảo hộ trước sự cạnh tranh nước ngoài thì mọi người có ít lựa chọn hơn khi mua ô tô và ô. Vấn đề là người tiêu dùng, vốn là rất nhiều người phân bố rải rác, sẽ không bao giờ thấy xứng đáng với công sức cá nhân bỏ ra để dành thời gian tổ chức các nhóm riêng của mình để ngăn chặn sự bảo hộ này. (Tại sao không để cho người khác làm điều đó, và gặt hái những lợi ích sau này?) Ngược lại, các nhà sản xuất thường lớn và lại rất ít. Nhưng mỗi nhà sản xuất này đủ mạnh để gây áp lực khiến chính phủ trao cho họ những nhượng bộ. Nhưng các doanh nhân không phải là những người đáng trách, Buchanan nói. Vấn đề nằm ở chỗ có một chính phủ quá quyền lực có khả năng can thiệp vào nền kinh tế để giúp chính phủ đó được bầu lại.
Buchanan cũng đã phản bác lại các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes. Họ nói rằng chính phủ nên thúc đẩy nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái bằng cách chi tiêu nhiều tiền hơn. Việc thúc đẩy này khiến ngân sách của chính phủ trở nên thâm hụt vì chi tiêu vượt quá các khoản thu từ thuế mà chính phủ thu được. Theo những người theo học thuyết của Keynes, đây không phải là vấn đề, bởi vì chính sách giúp nền kinh tế hoạt động trở lại, và sau đó chính phủ có thể giảm chi tiêu, từ đó loại bỏ thâm hụt. Vấn đề là chuyện chi tiêu của chính phủ được cử tri ưa chuộng. Các chính trị gia muốn tiếp tục nắm giữ quyền lực và vì vậy sẽ làm bất cứ điều gì để tránh cắt giảm chi tiêu và làm cử tri khó chịu. Cuối cùng, chi tiêu cứ liên tục tăng lên và thâm hụt của chính phủ cũng vậy. Đây là những gì mà Buchanan tin là đã xảy ra trong những năm 1960.
Trong khi đó, ông lập luận, tính quan liêu của nhà nước - các quan chức, các ủy ban, các bộ - phát triển một cách mạnh mẽ. Các quan chức không thể tối đa hóa lợi nhuận như các công ty bởi vì họ không bán hàng hóa hay dịch vụ để kiếm tiền. Thay vào đó, họ muốn quyền lực và vị thế của việc điều hành một tổ chức lớn. Họ cố gắng làm cho ngân sách của họ trở nên càng lớn càng tốt, điều họ có thể làm vì họ có nhiều thông tin về các chương trình chi tiêu của chính mình hơn là người ngoài. Họ luôn có thể nói rằng họ cần nhiều xe limousine, tài xế và phòng hội nghị hơn để hoàn thành tốt công việc.
Đối với các nhà kinh tế học theo thuyết lựa chọn công cộng, không có nhiều việc có thể làm để biến các chính trị gia và các quan chức trở thành những người không tư lợi. Đây là số phận của chính trị thường nhật. Tuy nhiên, có một lĩnh vực chính trị nằm bên trên chính trị thường nhật: “quy tắc trò chơi” rộng lớn mà mọi người đều đồng ý và không phải chính phủ hoặc chính trị gia cụ thể nào cũng có thể dễ dàng thay đổi. Ví dụ, một trong số chúng, là mọi người nên được phép bày tỏ ý kiến mà không bị tống vào tù. Một số quy tắc thuộc loại này được quy định trong các văn kiện như Hiến pháp Mỹ. Để cải thiện hành vi của chính phủ, Buchanan tranh luận ủng hộ các quy tắc hiến định như quy định đưa ra yêu cầu pháp lý buộc chính phủ không được chi nhiều tiền hơn mức thu thuế - để có “ngân sách cân bằng”.
Buchanan và các nhà lý thuyết lựa chọn công cộng khác nhắc nhở chúng ta rằng thật ngây thơ khi cho rằng các chính phủ luôn đáng tin cậy và không tư lợi. Đối với họ, vấn đề không phải là thị trường đi chệch hướng, mà là chính phủ đi chệch hướng. Tuy nhiên, các nhà phê bình thuyết lựa chọn công cộng, cho rằng phần lớn những gì chính phủ làm là thiết yếu. Rất nhiều sự tăng trưởng trong chính phủ trong vài thế kỷ qua là kết quả của sự gia tăng chi tiêu xã hội, đặc biệt là trên phương diện y tế công cộng và giáo dục, những thứ này là cần thiết để xây dựng một nền kinh tế tiên tiến. Thật cường điệu khi nói rằng tất cả những điều đó là việc các quan chức chính phủ đang cố gắng tăng quy mô phòng ban của họ.
Những người phản đối Buchanan cũng chất vấn ý tưởng cho rằng một người chỉ có thể hành động như là “con người kinh tế có lý trí”. Trong thực tế, một người có thể có nhiều vai trò trong cuộc sống của họ. Người dân là người tiêu dùng, người cai trị, bố mẹ và cử tri, tất cả các vai trò này cùng hoạt động một lúc. Họ có thể hành động theo các nguyên tắc khác nhau tùy theo từng vai trò. Ví dụ, đời sống chính trị thường liên quan đến việc hành động dựa trên sự cảm thông với lý tưởng nào đó. Bạn có thể bầu cho một đảng chính trị vì nó muốn giúp người nghèo hoặc cải thiện môi trường chẳng hạn. Giá trị của các lý tưởng đối với bạn là nhiều hơn lợi ích của cá nhân bạn. Nếu không, bạn có thể tự hỏi tại sao bất cứ ai đó phải mất công đi bỏ phiếu, dù rằng sự thực là một phiếu bầu hiếm khi thay đổi kết quả bầu cử. Và nếu bạn hành động theo cách này, chẳng phải có khả năng các chính khách cũng làm như vậy hay sao?
CHƯƠNG 29: Ảo Tưởng Tiền Bạc
Suốt mùa đông 1978-1979, nước Anh bị bao phủ bởi tuyết cùng băng dày bất thường và phải trải qua những đợt đình công liên tiếp của người lao động. Ở Liverpool, người chết không được an táng tại các nghĩa địa khi những người đào mộ vứt bỏ xẻng của họ. Ở những nơi khác, các kệ siêu thị đều trống không vì các tài xế xe tải từ chối lái xe. Tiêu đề của các bài báo cảnh báo về nền kinh tế bị hủy hoại. Những tháng năm đau khổ này được biết đến với cái tên “mùa đông bất mãn” và thường được nhìn lại như thời điểm mà kinh tế học Keynes, chiếm ưu thế kể từ Thế chiến II, không còn được sử dụng nữa.
Tuy nhiên, những vấn nạn kinh tế đã được ủ bệnh ở Anh và Mỹ từ lâu trước những năm cuối thập niên 1970. Các chính sách theo học thuyết của Keynes được dựa trên đường cong Phillips, thứ cho thấy tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn đi kèm với lạm phát cao hơn, và tỉ lệ thất nghiệp cao hơn đi kèm với lạm phát thấp hơn. Các nhà kinh tế đã nghĩ rằng bằng cách chi tiêu, chính phủ có thể thúc đẩy nền kinh tế và giảm tỉ lệ thất nghiệp trong khi khiến lạm phát tăng lên một chút. Trong thập niên 1960, lạm phát đã dần dần tăng lên và vào những năm 1970, các nhà kinh tế đã phải vắt óc suy nghĩ vì lạm phát tăng cao cùng với tỉ lệ thất nghiệp cao kéo dài, chứ không phải ở mức thấp như đường cong Phillips dự đoán. “Lạm phát đình trệ” trở thành cái tên cho một sự kết hợp bất hạnh: tỉ lệ thất nghiệp cao - kinh tế “đình trệ” - và lạm phát cao. Đường cong Phillips đang sập xuống, và đi cùng với nó là nền tảng của kinh tế học Keynes.
Các nhà kinh tế học tìm kiếm lời giải thích. Một số người nghĩ rằng lạm phát là do giá dầu cao bất thường làm tăng chi phí của các công ty và kéo theo đó là giá cả hàng hóa của họ. Những người khác đổ lỗi cho các công đoàn lao động (các tổ chức đại diện cho quyền lợi của người lao động) vì đòi hỏi mức lương cao. Mức lương cao buộc các công ty phải áp mức giá cao hơn. Bề ngoài, các cuộc đình công dường như có mối liên hệ nào đó với nó. Chính phủ đang cố gắng kiềm chế lạm phát bằng cách khuyến khích các công đoàn và người sử dụng lao động đồng ý với mức tăng lương khiêm tốn. Mặc dù vậy, thông thường, họ sẽ thỏa thuận những khoản tăng lớn hơn và đôi khi các công đoàn rốt cuộc lại phát động đình công.
Keynes đã luôn là người khổng lồ trong tư duy chính sách kinh tế thế kỷ 20. Trong bối cảnh kinh tế rối ren của thập niên 1970, một người khổng lồ mới đã xuất hiện: một người đàn ông Mỹ nhỏ con, đầy quyết tâm tên Milton Friedman (1912-2006), người đưa ra một lời giải thích mới, lời giải thích cách mạng hóa kinh tế học. Ông sinh ra ở Brooklyn, New York, có bố mẹ là người Do Thái nghèo di cư từ Hungary sang, và bước sang tuổi trưởng thành trong thời kỳ Đại khủng hoảng vào những năm 1930. Giống như Keynes, nhiều ý tưởng của ông là phản ứng trước thảm họa kinh tế đó; nó đã truyền cảm hứng cho Friedman trở thành một nhà kinh tế học. Nhưng các lý thuyết của Friedman trái ngược với những lý thuyết của Keynes và họ đã vạch nên những chiến tuyến mới trong kinh tế học. Friedman tin rằng những vấn đề của thập niên 1970 là kết quả của sự can thiệp quá nhiều từ chính phủ, chứ không phải là quá ít. Giống như Keynes, ông không muốn suy nghĩ về lý thuyết kinh tế chỉ để nghĩ - ông muốn thay đổi thế giới. Cuối cùng, kinh tế học của Friedman đã chiến thắng lối suy nghĩ của Keynes.
Friedman là một trong những nhà vô địch nổi tiếng nhất của chủ nghĩa tư bản và là nhà kinh tế học hàng đầu của trường phái kinh tế học Chicago, trường phái đã tuyên bố rằng các nguyên tắc của thị trường nên chi phối xã hội. Trong cuốn sách Chủ nghĩa tư bản và tự do (Capitalism and Freedom) của mình, ông chỉ trích nhiều hình thức can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế: ví dụ, việc kiểm soát giá thuê nhà và đặt ra mức lương tối thiểu nên được bãi bỏ. Ban đầu, các nhà kinh tế học coi ông và những người ủng hộ ông là những kẻ kỳ quặc. Tuy vậy, Friedman là một nhà tranh luận sôi nổi - nhanh nhẹn, không mệt mỏi, sắc sảo. Ông tóm lấy những điểm sai sót trong logic và đánh bại các lập luận của đối thủ. Ông có hứng thú với mâu thuẫn và tranh cãi. Rất nhiều người ghét ông vì quan điểm thị trường tự do của ông. Tệ hơn nữa, vào những năm 1970, ông tới thăm Chile và cùng một nhóm đồng nghiệp có cuộc họp ngắn với Tổng thống Augusto Pinochet, một nhà độc tài đã giết và tra tấn hàng ngàn đối thủ chính trị và lúc đó đang theo đuổi chính sách thị trường tự do. Trong nhiều năm, Friedman đã phải né tránh các nhóm người biểu tình cáo buộc ông là bộ não đằng sau chế độ kinh tởm của Pinochet. Trong khi ông được trao giải Nobel kinh tế năm 1976, một người biểu tình đứng lên và hét lớn “Đả đảo chủ nghĩa tư bản! Tự do cho Chile!” Người đàn ông đó bị đuổi ra khỏi hội trường và Friedman nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt.
Ý tưởng của Friedman liên quan đến tác động của tiền tệ đối với nền kinh tế. Người theo học thuyết của Keynes đã nói rằng sự gia tăng nguồn cung tiền có thể kích thích nền kinh tế, nhưng trong thực tế nó khó có khả năng là một lực lượng mạnh mẽ. Mạnh mẽ hơn là chính sách tài khóa (chi tiêu của chính phủ và thuế). Friedman biến tiền tệ trở lại thành trung tâm của kinh tế học và trường phái tư tưởng của ông được gọi là “chủ nghĩa tiền tệ”.
Ông đã hồi sinh một ý tưởng có từ xa xưa: thuyết số lượng tiền. Để hiểu nó, hãy làm những gì các nhà kinh tế học thường làm - hãy tưởng tượng một nền kinh tế đơn giản đến mức nực cười để minh họa một lý thuyết. Hãy hình dung một hòn đảo với mười người bán dứa. Mỗi người bán một quả dứa một năm với giá 1 đô la. Với mười giao dịch 1 đô la, thu nhập quốc dân của hòn đảo này là 10 đô la. Bây giờ giả sử có năm tờ tiền 1 đô la trên đảo. Đối với mười giao dịch được thực hiện, mỗi tờ tiền phải qua tay hai người mỗi năm. Cung tiền (5 đô la) nhân với số lần mỗi đô la đổi chủ (hai lần) tương đương với thu nhập quốc gia. Các nhà kinh tế học gọi tốc độ mà tại đó đồng đô la đổi chủ là “vận tốc lưu thông”.
Giả sử rằng vận tốc lưu thông không thay đổi nhiều. Nếu ngân hàng trung ương của Đảo Dứa in thêm năm tờ tiền 1 đô la, thì cung tiền tăng gấp đôi lên thành 10 đô la. Với vận tốc lưu thông là hai, mỗi tờ tiền trị giá 10 đô la sẽ đổi chủ hai lần, tạo ra những giao dịch trị giá 20 đô la. Thu nhập quốc dân đã tăng gấp đôi.
Nếu không có vận tốc ổn định, mối liên hệ giữa tiền và thu nhập quốc dân sẽ trở nên yếu ớt. Đó là lý do tại sao Keynes nghĩ rằng tiền sẽ không đem lại tác động lớn. Điều gì sẽ xảy ra nếu vận tốc giảm xuống, khiến cho bất kỳ khoản tiền nào mà ngân hàng trung ương bơm thêm vào nền kinh tế rốt cục đều bị tích trữ trong ví của mọi người? Nếu vận tốc giảm xuống đủ nhiều - trên Đảo Dứa, từ hai xuống một - thì thu nhập quốc dân vẫn giữ nguyên như trước đây. (Mười tờ 1 đô la đổi chủ một lần cộng lại cho ra cùng thu nhập quốc dân như ban đầu, khi năm tờ 1 đô la đổi chủ hai lần.) Tuy nhiên, Friedman tin rằng vận tốc của tiền tệ khá ổn định và do đó tiền tệ thực sự có ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân.
Có một bước nữa trong lập luận của Friedman. Việc thu nhập quốc dân của Đảo Dứa tăng gấp đôi đến từ mức sản xuất cao hơn hay mức giá cao hơn. Thu nhập cao hơn có thể đến từ việc tăng gấp đôi sản lượng lên thành hai mươi quả dứa ở mức giá hiện tại là 1 đô la. Mặt khác, nó có thể đến từ việc tăng gấp đôi giá dứa lên thành 2 đô la với sản lượng hiện tại là mười quả dứa. Hoặc thu nhập quốc dân tăng gấp đôi có thể nhờ sự kết hợp giữa sản lượng cao hơn và giá cao hơn.
Friedman nói rằng, trong ngắn hạn, sự gia tăng nguồn cung cấp tiền khuyến khích chi tiêu và dẫn đến mức sản xuất cao hơn; tiền có hiệu ứng “thực”. Người bán dứa thuê nhiều người hơn để giúp họ thu hoạch dứa và do đó tỉ lệ thất nghiệp giảm. Trên thực tế, đây là cách mà đáng lẽ đường cong Phillips trong kinh tế học Keynes phải hoạt động. Khi chính phủ thúc đẩy nền kinh tế bằng cách tăng nguồn cung tiền thì sau đó tỉ lệ thất nghiệp giảm và nền kinh tế tăng trưởng. (Điều tương tự cũng xảy ra thông qua chính sách mà Keynes ưa thích là chính phủ chi tiêu nhiều hơn.) Khi có nhiều người ưa chuộng dứa hơn, giá bắt đầu tăng lên, do đó có mối liên hệ giữa tỉ lệ thất nghiệp thấp và lạm phát cao cũng tăng lên. Friedman tin rằng điều này chỉ có thể duy trì trong một khoảng thời gian ngắn. Mọi người làm việc nhiều hơn vì người bán dứa trả cho họ mức lương cao hơn. Nhưng sau đó không lâu, giá của dứa tăng lên. Tiền lương “thực” của mọi người - được đo lường bằng số lượng dứa họ có thể mua - không cao thêm nữa. Vấn đề là người lao động đã nhầm lẫn lương “tiền” với lương “thực tế”. Các nhà kinh tế học gọi đó là “ảo giác về tiền”. Một khi người lao động nhận ra sai lầm của họ, họ ngừng làm việc nhiều như thế và nền kinh tế lại quay trở về với tỉ lệ có việc làm như ban đầu, thấp hơn. Hệ quả duy nhất là lạm phát trở nên cao hơn.
Vì vậy, mặc dù việc thúc đẩy kinh tế có thể hiệu quả một chút, nhưng sau đó là các di chứng tai hại: tỉ lệ có việc làm như ban đầu trở lại đi kèm với lạm phát cao hơn. Chính phủ chỉ có một cách để duy trì sự thúc đẩy đối với tỉ lệ có việc làm, nhưng Friedman đã so sánh nó với hành động của người nghiện rượu. Cũng giống như một tay nghiện rượu giải quyết cơn chuếnh choáng bằng cách nốc thêm một ly whisky khác, chính phủ có thể cố gắng bơm tiền vào nền kinh tế một lần nữa. Tiền lương và giá cả tăng cao hơn và, như trước đây, tỉ lệ có việc làm tăng lên miễn là người lao động tin một cách sai lầm rằng mức tiền lương cao hơn của họ là cao hơn trên thực tế. Khi họ nhìn thấy sai lầm của mình, họ giảm nguồn cung lao động của họ. Một lần nữa nền kinh tế trở lại mức thất nghiệp ban đầu với lạm phát cao hơn. Tỉ lệ có việc làm ban đầu là mức “tự nhiên” của nền kinh tế - tổng số lượng công nhân mà các công ty sử dụng với mức họ có thể sản xuất. Cố gắng thúc đẩy nền kinh tế vượt lên trên mức đó là vô nghĩa. Tất cả những gì nó làm là gây ra lạm phát cao hơn bao giờ hết.
Với Friedman, không có gì ngạc nhiên khi đường cong Phillips sập xuống. Theo quan điểm của ông, sau chiến tranh, chính phủ đã bị nghiện việc thúc đẩy nền kinh tế và đẩy lạm phát tăng lên. Trong những năm 1930, đó là vấn đề ngược lại. Ngân hàng trung ương Hoa Kỳ đã tạo ra cuộc suy thoái tồi tệ nhất của thế kỷ - cuộc Đại khủng hoảng - bằng cách bơm quá ít tiền vào nền kinh tế. Nguồn cung tiền đã giảm một phần ba từ năm 1929 đến năm 1933. Keynes cho rằng cuộc khủng hoảng xảy ra là do chi tiêu quá ít. Friedman nói rằng mọi chuyện chẳng liên quan gì đến việc đó cả; vấn đề là có quá ít tiền.
Nếu tiền có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế trong ngắn hạn (nếu không phải về lâu dài) thì có phạm vi nào mà trong đó chính phủ có thể sử dụng tiền để điều tiết nền kinh tế không? Chính phủ có thể tăng nguồn cung tiền khi nền kinh tế phát triển chậm chạp, và giảm nguồn cung khi nó vận hành quá nhanh. Không, Friedman nói. Những tác động ngắn hạn của tiền không có hiệu lực ngay lập tức. Vào thời điểm chúng có hiệu lực, hướng đi của nền kinh tế có thể đã thay đổi rồi. Các nhà chức trách không thể dự đoán chính xác các điều kiện trong tương lai và điều chỉnh để các chính sách của ngày hôm nay phù hợp với những điều kiện đó. Rốt cuộc, họ sẽ gây hại nhiều hơn lợi.
Tốt nhất là để chính phủ cam kết giữ một tỉ lệ tăng trưởng cố định của nguồn cung tiền, chẳng hạn như 3% một năm, phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khi người bán dứa trồng cây mới, nền kinh tế phát triển. Với vận tốc lưu thông của tiền không đổi, nguồn cung tiền cần phải được mở rộng phù hợp với việc mở rộng sản xuất dứa, nhưng không thể nhiều hơn. Friedman thậm chí còn đề nghị bãi bỏ các ngân hàng trung ương quyết định số tiền lưu thông trong nền kinh tế và thay thế chúng bằng robot sản xuất tiền ở tỉ lệ ổn định cần thiết. Kết quả mong đợi? Một nền kinh tế tăng trưởng ổn định với lạm phát thấp.
Năm 1979, nước Anh đã bầu Margaret Thatcher làm thủ tướng mới. Ngay sau đó, Ronald Reagan trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Thatcher và Reagan cố gắng làm theo công thức của Friedman để giảm lạm phát cao bằng cách kiểm soát chặt chẽ nguồn cung tiền. Nhưng việc kiểm soát nguồn cung tiền là rất khó khăn và các chính phủ Anh và Mỹ hóa ra lại kém trong việc đó. Nhiều nhà kinh tế học đổ lỗi cho chính sách đó là đã làm cho cuộc suy thoái đầu những năm 1980 trở nên tồi tệ hơn mức cần thiết, ngay cả khi lạm phát cuối cùng đã giảm. Năm 1981, 364 người trong số họ đã viết một bức thư cho tờ báo The Times lên án chính sách kinh tế của chính phủ Anh.
Tuy nhiên, triết lý rộng lớn hơn của Friedman cho rằng sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế dẫn đến những rắc rối vẫn tồn tại trong tâm tưởng của Thatcher và Reagan và cả những người kế vị họ. Keynes tin rằng nền kinh tế không ổn định và những sự can thiệp của chính phủ sẽ khiến nó ổn định. Khuyến nghị của ông là cần bảo đảm có đủ chi tiêu trong nền kinh tế - đủ nhu cầu. Friedman tin rằng nền kinh tế, khi tự thân vận động, thực sự khá ổn định. Sự bất ổn - lạm phát phi mã trong thập niên 1970, khủng hoảng trong những năm 1930 - là hậu quả của sự can thiệp của chính phủ. Hãy để thị trường hít thở và rồi một nền kinh tế lành mạnh, ổn định sẽ ra đời. Con đường dẫn đến đó là cải thiện nguồn cung của nền kinh tế (những gì các doanh nghiệp của nền kinh tế có thể sản xuất), chứ không phải nhu cầu của nó. Các nhà kinh tế học nghĩ rằng nếu các chính phủ loại bỏ thuế thu nhập doanh nghiệp và nới lỏng các hạn chế trên thị trường, các doanh nghiệp sẽ được khuyến khích sản xuất nhiều hơn và sử dụng nhiều lao động hơn. Những ý tưởng này được biết đến là “kinh tế học trong cung”. Trong những thập kỷ sau mùa đông bất mãn, đây là những thứ mà chính phủ đã cố gắng thực hiện.
CHƯƠNG 30: Nhìn Vào Tương Lai
Trong cuộc sống, bạn luôn phải đoán xem điều gì sẽ xảy ra. Bạn biết rằng mình sẽ mất hai mươi phút để đi vào thị trấn, vậy nếu bạn cần ở đó lúc 9 giờ sáng, ngày mai bạn sẽ phải có mặt ở bến xe buýt lúc 8 giờ 40 phút. Làm thế nào để bạn biết xe buýt sẽ đi hết hai mươi phút? Bởi vì đó là khoảng thời gian cần thiết để xe buýt đi ngày hôm nay, hôm qua và cả những ngày trước đó, từ xa xưa nhất mà bạn có thể nhớ được. Một ngày, công ty ga thông báo rằng kể từ thứ Hai họ sẽ chặn một tuyến đường để lắp đặt đường ống mới; mọi phương tiện sẽ chuyển hết sang tuyến đường mà bạn hay đi. Vào thứ Hai chuyến đi của bạn kéo dài ba mươi phút bởi vì có nhiều xe cộ hơn. Bạn nghĩ rằng mình sẽ chỉ mất hai mươi phút giống như lúc trước, và thế là hôm nay bạn đã vào thị trấn muộn 10 phút. Điều tương tự sẽ tiếp tục xảy ra trong vài ngày cho đến khi bạn nhận ra chuyện gì đang diễn ra và đến bến xe buýt vào lúc 8 giờ 30 phút sáng.
Vào những năm 1970, các nhà kinh tế học bắt đầu quan tâm đến việc con người đưa ra các dự đoán như thế nào. Bởi vì các hoạt động kinh tế diễn ra hằng ngày, hằng tháng và hằng năm. Một nhà máy sản xuất lốp xe được xây dựng ngày hôm nay có thể chỉ tạo ra lợi nhuận sau 5 năm. Một công nhân chấp nhận một mức lương và tính toán rằng nó có thể trả đủ số tiền nhà trong sáu tháng. Các công ty và người lao động phải đưa ra các dự đoán về tương lai. Thị trường lốp xe sẽ lớn mạnh như thế nào trong 5 năm nữa? Tiền nhà sẽ tăng lên bao nhiêu trong sáu tháng tới?
Khi lên kế hoạch cho tương lai, bạn sử dụng “kỳ vọng thích nghi”: bạn dự đoán bằng việc quan sát những điều đã xảy ra cho đến thời điểm hiện tại. Đôi lúc việc đó hiệu quả, nhưng trong trường hợp công ty ga đào đường thì không. Các nhà kinh tế học bắt đầu lo lắng về thuyết kỳ vọng thích nghi mà hầu hết họ đều sử dụng. Bạn không hoàn toàn lý trí khi lên kế hoạch cho chuyến đi của mình. Bạn lẽ ra đã có thể làm tốt hơn nếu bạn kiểm tra các báo cáo giao thông và ngay lập tức để ý tới ảnh hưởng của hoạt động của công ty ga tới hành trình của mình. Các công ty và người lao động cũng sẽ thất bại nếu như họ không sử dụng tất cả các thông tin sẵn có. Nếu như một hãng lốp ô tô không xem xét đến những hạn chế mới được ban hành về việc sản xuất ô tô, nó sẽ trở nên quá lạc quan về sự mở rộng của thị trường lốp trong tương lai và tiến hành xây dựng một nhà máy sẽ không mang lại lợi nhuận.
Các nhà kinh tế học chấp nhận một giả thuyết mới gọi là: “kỳ vọng hợp lý”. Ý tưởng được đưa ra bởi một nhà kinh tế học kiêm nhà toán học người Mỹ John Muth (1930-2005), một người rất cẩn trọng trong công việc. Người ta đồn rằng ông đã giấu đi rất nhiều công trình nghiên cứu vì ông cảm thấy chúng chưa đủ tốt để cho mọi người xem. Bài báo mang tính đột phá của ông, “kỳ vọng hợp lý và thuyết về sự dịch chuyển của giá cả” xuất hiện năm 1961 lúc đầu không được mọi người chú ý. Ý tưởng đã đi trước quá xa so với thời đại và ông cũng không bận tâm đến việc quảng bá chúng. Ông từ chối những lời mời diễn thuyết tại các cuộc hội thảo, thay vào đó ông ở nhà và chơi đàn cello. Vào những năm 1970 một thế hệ các nhà kinh tế học mới đã nhận ra rằng ý tưởng của Muth mang tính cách mạng. Một số người đã giành được giải Nobel khi phát triển ý tưởng đó.
Ý tưởng của Muth không khó để diễn giải. Với kỳ vọng hợp lý bạn sẽ không còn gặp khó khăn nữa. Thay vì dự đoán thời gian của chuyến đi trên cơ sở nó đã tốn bao lâu trong quá khứ, bạn sử dụng tất cả các thông tin có sẵn vào ngày hôm nay, bao gồm cả thông báo của công ty ga. Vì thế, vào thứ Hai, bạn có thể dự đoán được xe buýt sẽ đi hết ba mươi phút. Dự đoán của bạn không phải lúc nào cũng chính xác. Có ngày xe buýt chỉ đi mất hai mươi tám phút, nhanh hơn hai phút, khi lượng xe di chuyển ít hơn bởi vì các công nhân của một công ty địa phương được cho nghỉ phép vào hôm đó. Vào ngày khác thì xe buýt đi hết ba mươi hai phút bởi vì một vụ tai nạn đã làm giao thông chậm lại. Khi bạn dự đoán lệch đi một chút thì đó là do những yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng đến tốc độ của xe cộ. Trung bình thì dự đoán 30 phút của bạn là một dự đoán tốt.
Một trong những người đầu tiên áp dụng ý tưởng của Muth là nhà kinh tế học Eugene Fama (sinh năm 1939). Ông thắc mắc kỳ vọng hợp lý ngụ ý điều gì về cách thị trường tài chính hoạt động. Hệ thống tài chính ngân hàng và giao dịch chứng khoán đổi dòng tiền từ tiết kiệm sang cho vay. Một người muốn gửi tiết kiệm 300 bảng vào một tài khoản ngân hàng và rút nó ra sau sáu tháng. Một tập đoàn muốn vay những khoản tiết kiệm đó, nhưng nó cần một khoản vay 10 triệu bảng để khai thác một cái mỏ và sẽ trả lại tiền sau năm năm. Hệ thống tài chính sắp xếp những khoản tiền này bằng việc gộp lại những khoản tiền tiết kiệm của hàng triệu người thành một số tiền lớn mà các công ty cần và kiểm soát thời gian ra và vào của dòng tiền. Ngân hàng làm điều đó bằng cách đóng vai người trung gian giữa người tiết kiệm và người vay tiền. Trong thị trường chứng khoán, các công ty cũng làm việc đó bằng việc bán cổ phần. Sau đó thì người mua cổ phần sở hữu một phần của công ty. Cổ phần có thể tạo ra nhiều lợi nhuận nhưng cũng nhiều rủi ro. Khi các công ty kinh doanh tốt, giá trị cổ phần tăng lên và các cổ đông kiếm được tiền lời bằng việc bán chúng đi, nhưng nếu công ty thất bại hoặc phá sản thì các cổ đông sẽ thua lỗ.
Để kiếm ra tiền ở thị trường chứng khoán, một nhà đầu tư cần có kỳ vọng về việc liệu giá cổ phần sẽ tăng hay giảm. Nhà giao dịch chứng khoán muốn thu được nhiều lợi nhuận đôi lúc sẽ phải nghiên cứu sự tăng giảm của giá cổ phần trong quá khứ để tìm ra quy luật dự đoán giá của nó trong tương lai. Khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, Fama được làm việc cho một trong số các giáo sư của mình để tìm ra những cách dự đoán sự dịch chuyển của giá cổ phần. Không có cách nào thực sự hiệu quả.
Lý thuyết của Fama đã đưa ra lời giải thích cho vấn đề này. Nó chỉ ra rằng các biện pháp dự đoán cũng đáng tin bằng với các nhà chiêm tinh học dự đoán bao giờ bạn kết hôn bằng việc nhìn vào vị trí của các ngôi sao. Giả sử các nhà môi giới chứng khoán thấy xu hướng tăng trên các biểu đồ của họ. Họ đưa ra kết luận rằng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tuần tới. Nếu các nhà môi giới có dự đoán hợp lý thì điều này là không thể, Fama nói. Nếu họ biết rằng giá cổ phần đó sẽ tăng thì họ sẽ mua chúng ngay hôm nay. Nếu họ không mua họ sẽ mất lợi ích từ việc mua rẻ và bán chúng đắt hơn. Bằng việc mua vào cổ phần ngày hôm nay, các nhà môi giới đẩy mức giá của chúng lên, vì thế mà giá sẽ tăng lên không đáng kể trong tuần tiếp theo. Nếu vẫn còn kỳ vọng giá tăng thì logic này lại được áp dụng một lần nữa. Thực tế, toàn bộ mức tăng mong muốn ban đầu có thể được bao trọn trong giá ngày hôm nay. Nếu không, các nhà môi giới sẽ bỏ lỡ một cơ hội gia tăng lợi nhuận.
Lập luận của Fama cho thấy rằng giá của cổ phần là không thể dự đoán được. Nếu bạn nghĩ rằng có chuyện gì đó sẽ xảy ra với giá, thì điều đó chắc hẳn đã được xem xét đến trong mức giá ngày hôm nay. Nhưng bạn có thể nghĩ rằng chắc chắn chúng ta có thể kì vọng một cách hợp lý vào sự tăng giá của cổ phần Nifty Wrap, một công ty đã phát minh ra giấy gói quà dạng xịt (có thể gói quà trong vòng một giây). Việc mua cổ phần của nó không phải là một ý kiến hay sao? Không nhất thiết. Những nhà giao dịch cổ phần hàng đầu là những nhà môi giới chứng khoán chuyên nghiệp, nghề của họ là hiểu biết về các xu hướng kinh tế và các công ty mà họ đầu tư cổ phần vào. Vì có những kỳ vọng hợp lý, các nhà đầu tư này sử dụng mọi thông tin có sẵn để quyết định việc mua và bán. Bạn và tôi sẽ không thể liên tục đánh bại được thị trường bằng việc dự đoán chuyển biến của giá cổ phần trong tuần tới. Thật không may cho chúng ta, giá cổ phiếu của Nifty Wrap đã tăng mạnh với sự xuất hiện của loại giấy gói quà bình xịt mới.
Lý thuyết của Fama được gọi là “thuyết thị trường hiệu quả”. Nó chỉ ra rằng giá cả trong thị trường tài chính phản ánh toàn bộ các thông tin có sẵn. Khi mà tất cả các thông tin đều ảnh hưởng đến giá cổ phần thì có nghĩa là các nhà đầu tư đã tận dụng mọi cơ hội để kiếm lời. Điều này không có nghĩa là giá cả không thay đổi - hoàn toàn khác ấy chứ. Nó có nghĩa là bạn không thể dự đoán được giá. Thay đổi là kết quả của những nhân tố ngẫu nhiên, không lường trước được. Chúng cũng giống như việc xe buýt của bạn bị chậm hai phút bởi vì vụ tai nạn. Khi con người lý tính, thị trường sẽ trở nên khó dự đoán hơn. Vì thế thật sự là không cần những cố vấn tài chính chuyên nghiệp tư vấn bạn nên mua cổ phần nào. (Một tờ báo Mỹ đã từng yêu cầu một vài người trong số họ lựa chọn những cổ phần có khả năng sinh lời nhất trong năm tới. Nó cũng cho một con đười ươi “chọn” những cổ phần mà nó thích. Vào cuối năm thì con đười ươi cũng làm tốt như những con người.) Bạn có thể nghĩ rằng sự ngẫu nhiên là sự hỗn loạn, nhưng theo như lý thuyết của Fama thì giá cả càng ngẫu nhiên, thị trường càng hoạt động hiệu quả, và thị trường tài chính càng hiệu quả thì nó càng làm tốt việc luân chuyển các dòng tiền trong nền kinh tế.
Kỳ vọng hợp lý góp phần chấm dứt kinh tế học Keynes. Hãy nhớ rằng Milton Friedman là người đặt nền móng đầu tiên. Ông tranh luận rằng đường cong Phillips, nền tảng cho chính sách Keynes, sẽ sụp đổ. Đường cong này chỉ ra rằng chính phủ có thể chi tiêu để thúc đẩy nền kinh tế, giảm thất nghiệp trong khi tăng lạm phát. Friedman nói rằng nó chỉ có hiệu quả tạm thời. Một cú hích cho nền kinh tế sẽ dẫn đến mức lương cao hơn và nhiều người có việc làm hơn. Vấn đề là người lao động chưa cân nhắc đến hệ quả của lạm phát cao hơn. Một khi họ nhận ra tiền lương thực tế (lượng hàng hóa họ có thể mua) không tăng, thì họ sẽ trở lại với mức có việc làm thấp hơn .
Nhà kinh tế học người Mỹ Robert Lucas (sinh năm 1937) cho rằng người lao động đang bị làm khó, giống như bạn vào buổi sáng thứ Hai. Họ đang hình thành các kỳ vọng của mình thông qua việc nhìn vào quá khứ. Khả năng thúc đẩy nền kinh tế của chính phủ, kể cả tạm thời, phụ thuộc vào việc họ bị lừa. Khi mà mọi người đều có kỳ vọng hợp lý thì điều này là không thể. Họ ngay lập tức dự đoán được những ảnh hưởng từ các hành động của chính phủ. Khi họ phân vân liệu có nên làm việc nhiều hơn, họ kỳ vọng lạm phát sẽ gia tăng trong tương lai. Họ hiểu rằng điều đó có nghĩa là lương thực tế của họ không tăng và vì thế họ không làm nhiều hơn. Chính phủ không thể thúc đẩy nền kinh tế, thậm chí trong ngắn hạn. Con người đủ tỉnh táo để không bị lừa hết lần này đến lần khác.
Lucas cũng tin rằng thị trường sẽ nhanh chóng đi đến một trạng thái cân bằng: hiếm khi có quá ít cung hoặc cầu cho một mặt hàng. Điều đó được đảm bảo bởi sự điều chỉnh của giá cả. Các nhà kinh tế học gọi đó là “kết toán thị trường”. Lucas cho rằng nó cũng áp dụng được cho thị trường lao động: giá của sức lao động (lương) sẽ điều chỉnh để cung lao động (lượng người tìm việc làm) tương đương với cầu (lượng người mà các công ty muốn thuê). Sẽ không có sự thiếu hụt sức lao động và cũng sẽ hiếm khi xảy ra trường hợp thiếu việc làm. Thất nghiệp không thể xảy ra, ít nhất là không trong một khoảng thời gian đáng kể - lương sẽ giảm nhanh và các công ty sẽ thuê thêm lao động. Kết toán thị trường kết hợp kỳ vọng hợp lý là một đòn giáng mạnh vào Keynes. Ông đã tranh luận rằng các nền kinh tế có thể mắc kẹt trong những tình huống mà nhiều người không thể tìm được một công việc. Kết toán thị trường có nghĩa là bất kỳ ai muốn một công việc với mức lương hiện tại đều tìm được việc; người lao động không có việc làm là họ chọn được thất nghiệp. Và kỳ vọng hợp lý có nghĩa là chính phủ không thể làm gì để cải thiện tỉ lệ có việc làm. Quan điểm của trường phái Lucas được gọi là “kinh tế học cổ điển mới”. Nó phục hồi những ý tưởng mà Keynes đã phản đối, những ý tưởng của trường phái cổ điển cho rằng nền kinh tế sẽ luôn nhanh chóng thích nghi để xóa bỏ sự thất nghiệp và sẽ không có ích gì khi chính phủ cố gắng thúc đẩy thêm nữa.
Kinh tế học cổ điển mới gây ra rất nhiều tranh cãi. Liệu có phải hàng triệu người thất nghiệp trong cuộc Đại khủng hoảng vào những năm 1930 hay là trong các cuộc suy thoái đều nghỉ việc một cách tự nguyện? Thị trường có thật sự nhanh chóng tự điều chỉnh không? Rất nhiều người nghi ngờ điều này. Nhiều câu hỏi cũng được đặt ra cho thuyết thị trường hiệu quả. Con người có thật sự thu thập và hiểu được lượng lớn thông tin kinh tế một cách nhanh chóng để không bỏ phí bất cứ cơ hội nào tạo ra lợi nhuận trên thị trường tài chính hay không? Ở đây, một số người nhắc đến các câu chuyện của người sinh viên và vị giáo sư kinh tế học, một người tin tưởng vào học thuyết kỳ vọng hợp lý, đang cùng đi vào lớp học. Anh sinh viên nhìn thấy một tờ tiền 10 bảng rơi trên sàn và đến nhặt lên. Vị giáo sư phản đối và nói, “Kệ nó. Nếu thực sự nó là tờ 10 bảng thì đã có người nhặt rồi!”
Ở phần kết câu chuyện của chúng ta, chúng ta sẽ xem xét lại cuộc khủng hoảng kinh tế ở đầu thế kỷ này khi mà thị trường tài chính ngừng hoạt động. Hóa ra là con người không có đầy đủ thông tin và thị trường tài chính không hề hiệu quả. Điều này cũng làm cho học thuyết kỳ vọng hợp lý và thị trường hiệu quả càng trở nên không đáng tin.

