Lược Sử Kinh Tế Học - Chương 31-40

CHƯƠNG 31: Những Kẻ Đầu Cơ Tấn Công

Hình mẫu giám đốc ngân hàng truyền thống vào những năm 1950 thường là một cá nhân được cộng đồng tôn trọng, thuộc típ người cẩn thận, thận trọng, đi ngủ sớm và không uống quá nhiều rượu bia. Bạn có lẽ sẽ thấy ông ta khá nhàm chán và cứng nhắc. Nhưng từ những năm 1970, một kiểu nhân viên ngân hàng mới xuất hiện - ồn ào, bề ngoài hào nhoáng và kiêu ngạo. Những nhân viên ngân hàng này thích mạo hiểm. Họ muốn làm giàu nhanh chóng và đổ tiền vào những chiếc siêu xe và những chai sâm panh đắt tiền. Họ kiếm tiền thông qua cái được gọi là “đầu cơ”. Thông thường, con người mua hàng bởi vì họ có nhu cầu sử dụng, ví dụ như là bột mì để làm bánh hay là xăng để chạy xe. Nhưng khi con người đầu cơ, họ mua hàng hóa ngay cả khi không có hứng thú sử dụng chúng. Họ có thể mua một đống lúa mì đơn giản bởi vì họ nghĩ rằng lúa mì sẽ tăng giá khi mà một trận hạn hán được dự báo sẽ xảy ra ở vùng trồng lúa mì. Nếu dự đoán của họ là đúng thì sau đó họ sẽ bán lúa mì để kiếm lợi nhuận.

Đầu cơ đã xảy ra suốt hàng thế kỷ. Nhưng từ những năm 1970 trở đi thì nó mới bắt đầu phổ biến. Các ngân hàng có đội ngũ riêng với nhiệm vụ là giao dịch bất cứ thứ gì có thể kiếm lời. Một vài nhà đầu cơ điều hành công ty riêng được biết đến là “các quỹ dự phòng”, hoàn toàn chuyên về việc kinh doanh đầu cơ. Một trong những công ty này, Quỹ Quantum, được thành lập bởi một chủ ngân hàng có niềm đam mê với triết học sinh ra ở Hungary có tên là George Soros. Ông khác với nhiều nhà đầu cơ khác, những người luôn yêu thích những chiếc đồng hồ Rolex hơn là sách vở, và ông đã trở thành một trong những nhà tài chính nổi tiếng nhất của thế kỷ.

Một cách để những nhà đầu tư như Soros kiếm tiền là giao dịch tiền tệ - đô la, euro, yên và nhiều loại tiền khác. Ngày nay, thị trường tiền tệ là thị trường tài chính lớn nhất thế giới. Giá của một loại tiền tệ chính là “tỷ giá” của nó: ví dụ, một đồng peso của Mexico đổi được bao nhiêu đô la Mỹ hay euro. Để mua một chiếc quần bò Mỹ, người bán hàng Mexico phải dùng đồng peso để mua đồng đô la Mỹ. Nếu chiếc quần bò có giá 10 đô la và 1 peso đáng giá 10 xen, thì chiếc quần có giá 100 peso. Nếu 1 peso chỉ đáng giá 5 xen thì chiếc quần sẽ có giá 200 peso. Như bất kỳ mặt hàng nào được mua và bán, tiền tệ cũng có cung và cầu. Nếu một chiếc quần bò Mỹ trở nên được ưa chuộng ở Mexico, thì người Mexico sẽ có nhu cầu có nhiều đồng đô la Mỹ hơn để mua chúng và khiến giá đô la tăng lên. Khi mà cung và cầu cho tiền tệ thay đổi thì tỉ giá cũng thế.

Khi mà giá trị của đồng peso so với đồng đô la thay đổi liên tục thì sẽ rất khó cho người bán hàng Mexico biết được nên đồng ý mua quần với giá nào cho đơn hàng trong vòng sáu tháng tới bởi vì mức giá đô la hợp lý hôm nay có thể không hợp lý trong sáu tháng nữa nếu đồng peso mất giá. Vài quốc gia chấp nhận điều này: họ để cho tỉ giá lên và xuống, được biết đến với cái tên tỉ giá hối đoái “thả nổi”. Các quốc gia khác thì cố gắng không cho tỷ giá dịch chuyển và “cố định” tỉ giá của họ. Nói cách khác thì giữ chúng ở một giá trị nhất định so với đồng đô la. Hy vọng ở đây là điều này sẽ mang lại sự đảm bảo cho người tiêu dùng và doanh nghiệp. Họ sẽ biết được số tiền mà họ có thể kiếm được khi bán sản phẩm của mình sang các nước khác và giá của hàng hóa nước ngoài là bao nhiêu.

Tiền tệ cố định tạo ra cơ hội cho các nhà đầu cơ kiếm tiền - bằng việc “tấn công” vào điểm cố định đó. Vào những năm 1970, nhà kinh tế học người Mỹ Paul Krugman (sinh năm 1953) đã đề xuất một lý thuyết về điều này. Để thấy việc tấn công vào mức tỉ giá cố định có nghĩa là gì thì đầu tiên chúng ta phải hiểu chính phủ gắn tỉ giá cố định cho tiền tệ như thế nào. Chính phủ làm việc này bằng cách mua và bán tiền tệ để giữ nguyên giá trị của nó. Điều tương tự cũng sẽ đúng nếu các nhà cầm quyền muốn cố định giá xăng ở mức 15 peso một lít. Nếu ở mức 15 peso cung cho xăng vượt qua cầu, thì chính phủ phải chi tiền để mua xăng nhằm ngăn không cho mức giá bị giảm xuống. Ngược lại, nếu cầu vượt quá cung thì chính phủ sẽ phải cung cấp thêm xăng để giá không tăng lên. Chính phủ cần phải tích trữ xăng để đề phòng các trường hợp như vậy.

Tương tự, giả sử vào tháng Năm, chính phủ Mexico đã định giá của đồng peso so với đồng đô la. Nếu vào tháng Sáu cầu cho đồng peso cao hơn bình thường thì chính phủ phải in thêm đồng peso để không cho giá của chúng tăng lên so với giá đã định. Nhưng nếu vào tháng Bảy, mọi người mua nhiều đô hơn và bán nhiều peso hơn thường lệ thì giá của đồng peso có nguy cơ bị giảm. Để giữ mức giá, chính phủ phải mua đồng peso trên thị trường bằng tiền đô la tích trữ. Các nhà kinh tế học gọi lượng tích trữ này là “dự trữ ngoại hối”; nó rất quan trọng cho việc điều chỉnh mức tỉ giá.

Theo lý thuyết của Krugman thì các nhà đầu cơ tấn công mức tỉ giá cố định khi mà chính phủ chi tiêu quá tay. Vào những năm 1970, Mexico cố định tỉ giá đồng tiền của nó với đô la. Chính phủ cũng đầu tư mạnh vào an sinh xã hội, các dự án nhà ở và giao thông. Chính phủ không muốn đặt ra những gánh nặng thuế lên người dân để chi trả cho những chi tiêu của chính phủ. Thay vào đó, họ in thêm tiền. Bởi vì có nhiều peso so với đô la hơn trước đây, giá trị của đồng peso dường như chắc chắn sẽ giảm xuống. Nhưng giá giảm sẽ phá vỡ tỉ giá cố định. Chính phủ phải ngăn chặn điều này bằng cách dùng dự trữ đô la để mua peso nhằm giữ vững lượng tiền peso trên thị trường. Điều này chỉ hiệu quả trong một thời gian - cho đến khi chính phủ dùng hết đô la dự trữ. Chính phủ tiếp tục in thêm tiền để chi trả cho các chương trình chi tiêu của mình, và vì họ không thể mua peso được nữa, cung cho đồng peso bắt đầu tăng. Vì vậy giá của peso so với đô la giảm xuống.

Thực tế, trong lý thuyết của Krugman sự giảm giá đã xảy ra trước khi đô la dự trữ cạn kiệt bởi vì hành động của những người đầu cơ tiền tệ. Họ biết rằng chính phủ đang in tiền và dùng đến đô la dự trữ. Họ biết rằng trong vòng 60 ngày tới, chính phủ sẽ dùng hết tiền đô la. Vào ngày thứ 60, khi mà đồng tiền bắt đầu mất giá, nhà đầu cơ bán hết tất cả các đồng peso nếu không họ sẽ lỗ. Đây là sự tấn công. Thực tế thì điều này diễn ra sớm hơn: vào ngày thứ 59 các nhà đầu cơ biết điều gì sẽ xảy ra vào ngày tiếp theo và sẽ vì thế bán tháo tiền peso của họ đi và vào ngày thứ 58 cũng vậy. Vì thế, một khoảng thời gian trước lúc chính phủ cạn kiệt đô la dự trữ, các nhà đầu cơ bán đồng peso và mua lại những đồng dự trữ đó. Tỉ giá cố định của đồng peso bị phá vỡ. Các nhà kinh tế học gọi đó là khủng hoảng tiền tệ. Các nhà đầu cơ được lợi khi mà họ chuyển tài sản của họ sang đồng tiền giá trị hơn như đồng đô la. Mexico chạm đến đỉnh của cuộc khủng hoảng năm 1976 và đồng tiền mất giá. Với đồng tiền giá trị thấp, nhập khẩu tiêu tốn của người dân rất nhiều tiền. Điều này làm giảm thu nhập thực tế của người dân và họ bắt đầu cắt giảm chi tiêu: nền kinh tế rơi vào suy thoái.

Sau đó, nhà kinh tế học người Mỹ Maurice Obstfeld (sinh năm 1952) chỉ ra cách các quốc gia có thể gặp khủng hoảng tiền tệ như thế nào ngay cả khi họ không in thêm tiền. Khủng hoảng xảy ra với cả những quốc gia giàu nhất. Đầu những năm 1990, đồng tiền của nhiều quốc gia châu Âu được giữ ở tỉ giá cố định so với đồng mark Đức, đồng tiền của nền kinh tế dẫn đầu châu Âu. Nhưng các quốc gia lại ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ví dụ như ở Anh, một mặt thì chính phủ muốn giữ mức tỉ giá cố định đó. Thủ tướng John Major đặt hết danh tiếng của mình vào chính sách đó, và nếu đất nước bãi bỏ nó, các ngân hàng có thể sẽ không còn tin tưởng vào Anh như trước và sẽ cẩn trọng hơn khi cho Anh vay tiền. Mặt khác, chính phủ lại muốn bãi bỏ mức tỉ giá cố định và để cho đồng bảng rớt giá. Để giữ giá trị của đồng bảng Anh chính phủ buộc phải để lãi suất cao: lãi suất cao có nghĩa là mọi người có thể kiếm được nhiều tiền hơn từ việc giữ đồng bảng, vì thế họ mua bảng Anh, làm cho giá trị của bảng Anh luôn cao. Nhưng lãi suất cao lại ảnh hưởng xấu đến những người Anh đã vay một khoản nợ lớn để mua nhà và gặp khó khăn trong việc trả các khoản lãi lớn.

Khủng hoảng ở Anh xảy ra khi mà các nhà đầu cơ không còn tin rằng chính phủ có thể giữ được mức tỉ giá cố định. Họ hy vọng đồng bảng sẽ giảm giá. Cuộc tấn công xảy ra vào tháng 9 năm 1992, vào ngày mà sau này được biết đến với cái tên Ngày thứ Tư đen tối. Đó là một trận chiến giữa những nhà đầu cơ - những người như Soros đã dự đoán đồng bảng sẽ giảm - với chính phủ. Những nhà đầu cơ bắt đầu bán đồng bảng Anh với số lượng lớn. Ngân hàng quốc gia Anh đã cố gắng kiểm soát tình hình bằng việc mua hết các đồng bảng trên thị trường. John Major đã thảo luận với các bộ trưởng và họ quyết định tăng lãi suất từ 10 lên 12%, một khoản tăng đáng kể. Sau cuộc hợp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Kenneth Clarke trở về văn phòng. Người lái xe của ông đã nói với ông rằng “Nó không hiệu quả, thưa ngài”. Người lái xe đã nghe về việc tăng lãi suất trên radio, và bây giờ thông tin còn tệ hơn: đồng bảng vẫn tụt dốc. Chỉ trong vòng vài phút Clarke quay trở lại chỗ thủ tướng. Họ tiếp tục tăng lãi suất lên 15%. Việc tăng lãi suất giống như một con thuyền giấy trong cơn bão. Các nhà đầu cơ có thể thấy rằng chính phủ cuối cùng cũng sẽ bỏ cuộc, và họ tiếp tục bán tháo đồng bảng. Tối hôm đó, chính phủ quyết định bãi bỏ mức tỉ giá cố định và John Major nghĩ đến việc từ chức. Bộ trưởng Bộ Tài chính Norman Lamont nói rằng lần đầu tiên trong nhiều tuần ông có thể chìm vào giấc ngủ say bởi vì ông không còn phải băn khoăn về giá trị của đồng bảng. Chính phủ đã phải chi hàng tỉ để bảo vệ đồng bảng Anh. George Soros kiếm được hơn một tỉ bảng và được đặt biệt danh là “người đã làm sụp đổ Ngân hàng quốc gia Anh”.

Một số nhà kinh tế học nghĩ rằng đầu cơ là một điều tốt. Các nhà đầu cơ tiền tệ chỉ là đang phản ứng với thực tế đang diễn ra trong nền kinh tế các quốc gia. Họ tấn công các tỉ giá cố định khi mà chính phủ thi hành các chính sách tồi tệ, như việc chi tiêu quá tay hay là đặt ra mức lãi suất cao không tưởng. Nếu vậy, Soros kiếm tiền từ một cú rớt giá tất yếu. Một số cho rằng các cuộc tấn công của các nhà đầu cơ có thể khuyến khích chính phủ ban hành nhiều chính sách thiết thực hơn. Nhưng vào cuối những năm 1990, mọi người kiên quyết đổ lỗi cho các nhà đầu cơ về một chuỗi các cuộc khủng hoảng ở châu Á. Thủ tướng Malaysia, ông Mahathir Mohamed, cho rằng giới đầu cơ là tội phạm. Ông gọi Soros là một tên khốn và nói rằng nên cấm giao dịch tiền tệ; Soros gọi Mahathir là một mối nguy hại và không đáng được coi trọng.

Các vấn đề ở châu Á bắt đầu từ cuối những năm 1990 khi mà nền kinh tế Thái Lan sụp đổ. Các công ty và ngân hàng phá sản, các tòa nhà xung quanh Bangkok phải ngừng thi công vì chủ đầu tư hết tiền. Malaysia và các quốc gia khác trong khu vực, như Hàn Quốc và Indonesia sớm gặp vấn đề giống như Thái Lan.

Nhưng những vấn đề ở Thái Lan liên quan gì đến các quốc gia khác? Các nhà kinh tế học tin rằng khủng hoảng kinh tế có thể lan rộng ra giữa các quốc gia giống như dịch cúm của con người. Họ gọi nó là “sự lây lan” kinh tế và chính những nhà đầu cơ đã lan rộng nó. Nhìn vào những gì đã xảy ra ở Thái Lan, các nhà đầu cơ bắt đầu lo rằng những điều tương tự sẽ xảy ra đối với Malaysia và các quốc gia lân cận. Nếu điều đó xảy ra, họ muốn bán tháo hết tiền Malaysia của mình. Nhưng họ không chỉ quan tâm đến sức khỏe của nền kinh tế Malaysia; họ còn lo lắng về suy nghĩ của các nhà đầu cơ khác. Nếu họ nghĩ rằng các nhà đầu cơ khác cũng lo lắng và bán tiền đi thì họ cũng sẽ bán. Nếu số lượng nhà đầu cơ nghĩ vậy đủ nhiều thì đồng tiền sẽ thật sự mất giá. Việc này giống như là hét “Cháy!” khi mà thực tế không có đám cháy nào và tạo nên một sự hỗn loạn. Các nhà kinh tế học gọi đó là một cuộc “khủng hoảng tự phát sinh”. Một số các nhà kinh tế học, như nhà kinh tế học người Mỹ Jeffrey Sachs (sinh năm 1954), nghĩ rằng các nhà đầu cơ có thể gây nên các cuộc khủng hoảng khi mà chẳng có sai lầm gì nghiêm trọng trong nền kinh tế. Nền kinh tế tại các nước châu Á đang vận hành rất tốt và được quản lý hợp lý bởi chính phủ của họ; không giống như Mexico những năm 1970. Các nhà phê bình cho rằng cuộc tấn công chỉ là một cuộc hoảng loạn không cần thiết trong giới đầu cơ. Đó là lý do mà Mahathir tức giận đến vậy.

Chúng ta sẽ trở lại với giới đầu cơ sau. Nhiều người còn đầu cơ vào các sản phẩm tài chính phức tạp hơn nhiều so với đô la và yên Nhật. Chúng ta sẽ thấy ở Chương 38, vào đầu thế kỷ 21, các nhà đầu cơ giao dịch những sản phẩm rất khó hiểu, làm cho mọi người bắt đầu nghi ngờ rằng tài chính là trò lừa đảo nguy hiểm. Họ cho rằng giới đầu cơ rất ngông cuồng và bất cẩn, và cần phải được ngăn chặn.

CHƯƠNG 32: Bảo Vệ Người Yếu Thế

Khi mới 11 tuổi, nhà kinh tế học người Ấn Độ Amartya Sen (sinh năm 1933) đã chứng kiến hậu quả của một cuộc tấn công thảm sát tại quê hương của mình ở Dhaka, ngày nay là thủ đô của Bangladesh. Những cuộc bạo loạn diễn ra liên tục trong thành phố, người Hồi giáo và người theo đạo Hindu sát hại lẫn nhau. Kader Mia, một người lao động theo đạo Hồi đang làm việc gần đó, chạy vào khu vườn của gia đình Sen, nằm trong khu vực người theo đạo Hindu của thành phố. Cả người ông đẫm máu sau khi bị một tên xã hội đen địa phương đâm sau lưng. Sen cho ông uống nước và gọi xe cấp cứu. Trên đường đến bệnh viện, Mia kể rằng vợ ông đã khuyên ông không nên mạo hiểm đi vào khu vực của người Hindu vì ông có thể bị hại, nhưng vì gia đình ông quá nghèo đói nên ông đã chấp nhận rủi ro để đi kiếm tiền. Người đàn ông này đã chết trong ngày hôm đó.

Vụ giết người đã ảnh hưởng lớn đến đứa trẻ tên Sen. Nó khiến cho ông nhận ra rằng nghèo đói không chỉ là sự thiếu thốn về tiền hay thức ăn. Người nghèo không có những sự tự do mà người giàu hơn được hưởng một cách hiển nhiên. Vì nghèo, Mia phải chật vật để kiếm đủ thức ăn cho gia đình của ông. Nhưng sự nghèo đói của ông còn đồng nghĩa với việc ông không thể tự do lựa chọn nơi chốn an toàn. Những người giàu không cần phải đến những nơi nguy hiểm để kiếm tiền; họ luôn có thể chọn công việc ở nơi khác hoặc mua thức ăn bằng tiền tiết kiệm của mình. Ngược lại, Mia không có lựa chọn nào khác và phải trả giá bằng tính mạng của mình.

Những trải nghiệm này đã hình thành tư duy kinh tế học trong Sen. Ông muốn hiểu được tình cảnh của những người nghèo, những người như Kader Mia. Sen vừa là triết gia vừa là nhà kinh tế học - không thường thấy ở những nhà kinh tế học đương thời, nhưng điều đó đã đặt ông vào cùng nhóm với những kinh tế gia đầu tiên, những triết gia quan tâm đến sự giàu có về vật chất của con người. Sự tò mò mang tính triết học của Sen đã khiến ông đặt câu hỏi về những giả định cơ bản nhất của kinh tế học.

Khi nghĩ về sự đói nghèo mà những người như Kader Mia phải đối mặt, Sen đặt ra câu hỏi: nghèo đói về cái gì? Câu trả lời của kinh tế truyền thống là sự nghèo đói về tiền hoặc thức ăn và chỗ ở. Con người trở nên nghèo đói khi họ thiếu hàng hóa vật chất. Đối với Sen, vấn đề không chỉ dừng lại ở đó. Thử nghĩ về lợi ích của việc sở hữu một chiếc xe đạp. Xe đạp giúp bạn đi đến những nơi mà bạn cần đến. Điều làm tăng sự giàu có của bạn không phải là bản thân chiếc xe đạp, mà là có một phương tiện di chuyển. Sen gọi việc di chuyển là một “khả năng”. Một cuộc sống tốt cần rất nhiều khả năng: được nuôi dưỡng, khỏe mạnh, trở thành một phần của cộng đồng, được an toàn, v.v. Sự liên kết giữa hàng hóa vật chất và các khả năng rất phức tạp. Một chiếc xe đạp tạo ra khả năng di chuyển cho một người khỏe mạnh chứ không phải cho một người bị khuyết tật không thể đạp xe.

Nếu nói rằng ai đó nghèo chỉ vì họ nạp ít hơn 2.000 calo trong một tuần, chúng ta đang dùng một thước đo “tuyệt đối” về cái nghèo. Có một lượng thức ăn xác định mà nếu có dưới mức đó bạn có thể xem người đó là người nghèo. Mặt khác, nếu cái nghèo là “tương đối” thì họ được xem là nghèo khi bị tụt xa so với mức trung bình. Trong một đất nước giàu, mức trung bình sẽ cao và vì thế, theo định nghĩa tương đối, một người nghèo hoàn toàn có thể sở hữu một chiếc tivi và một chiếc điện thoại di động. Quan điểm của Sen về khả năng kết hợp sự tương đối và sự tuyệt đối cùng với nhau: khả năng là tuyệt đối nhưng những yêu cầu về vật chất để đạt được những khả năng đó là tương đối. Ví dụ việc bạn có thể xuất hiện ở chỗ đông người mà không cảm thấy xấu hổ là một khả năng cần cho việc trở thành một phần của cộng đồng. Khả năng này là tuyệt đối bởi vì định nghĩa của việc không cảm thấy xấu hổ đối với một người New York cũng giống như đối với một người dân làng ở Ấn Độ. Tuy nhiên, những yêu cầu về vật chất là khác nhau. Đối với những người New York, yêu cầu bao gồm việc sở hữu một đôi giày. Sẽ rất xấu hổ nếu họ đi chân đất tới chỗ làm bởi vì họ không đủ tiền mua giày trong khi người dân làng ở Ấn Độ cảm thấy hoàn toàn bình thường với việc đó. Đối với những người dân ở nông thôn Ấn Độ, việc không cảm thấy xấu hổ phụ thuộc vào những chuyện khác, ví dụ như người mà con cái họ sẽ cưới.

Theo quan điểm của Sen, sự phát triển của xã hội là sự mở rộng các khả năng. Khi nhiều người có khả năng tham gia vào cộng đồng của họ và cảm thấy an toàn, khỏe mạnh thì xã hội phát triển. Giáo dục nói riêng cung cấp sự tự do để biến bạn thành một người có thể đọc, viết và suy nghĩ về mọi thứ. Chế độ dân chủ cũng đem lại cho con người cơ hội để tác động lên cách mà xã hội của họ vận hành, và đối với Sen thì đó cũng là một sự tự do khác là một phần của chính sự phát triển. Phát triển thật sự không chỉ là phát triển kinh tế được đo lường bằng sản xuất hàng hóa. Nó còn là phát triển con người: thêm nhiều người có sự tự do được mang đến từ những khả năng cần thiết để có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Liệu có phải điều này có nghĩa là việc có nhiều nhà máy hơn, công nghệ tốt hơn, hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn không hề liên quan đến sự phát triển con người hay không? Hoàn toàn không. Một xã hội muốn có trường học hay bệnh viện thì nó chắc chắn phải có các nguồn lực cần thiết để xây dựng. Nhưng sự phát triển kinh tế không giống như khái niệm rộng lớn của Sen về sự phát triển con người. Ví dụ như Pakistan, ngay cả sau nhiều thập kỷ phát triển kinh tế thì tỉ lệ người biết chữ ở đất nước này vẫn rất thấp, đặc biệt là phụ nữ. Vậy nên thu nhập quốc gia nhiều hơn không thể đảm bảo con người sẽ phát triển tốt hơn. Vì vậy Sen đã áp dụng những phương pháp đo lường mới cho sự phát triển kinh tế. Ông đã có thể đưa ý tưởng của mình vào thực tế trong những năm 1990 khi ông giúp Liên Hiệp Quốc cải tiến phương pháp đo lường truyền thống về sự phát triển - tổng sản phẩm quốc nội. Tổng sản phẩm quốc nội đo lường thu nhập quốc dân của một đất nước và được tính bằng cách cộng lại những gì được sản xuất mỗi năm. Sen nghĩ ra một phương pháp thay thế bao gồm việc tính cả tuổi thọ và mức độ biết chữ cùng với mức thu nhập. Nó được gọi là Chỉ số phát triển con người và nó nhấn mạnh vào sự khác nhau giữa sự phát triển con người và kinh tế: Sri Lanka được xếp hạng cao hơn cả Saudi Arabia về sự phát triển con người mặc dù Saudi Arabia giàu hơn rất nhiều. Bây giờ hầu hết các nhà kinh tế học đồng ý với Sen rằng sự phát triển không chỉ dừng lại ở thu nhập của một quốc gia mà còn về sức khỏe và giáo dục của người dân ở đó nữa.

Điều cơ bản nhất trong tất cả các khả năng là được nuôi dưỡng. Điều đó có nghĩa là có đủ thực phẩm, và sự thiếu thốn khắc nghiệt nhất là thiếu thức ăn, dẫn đến suy dinh dưỡng và chết. Ở điểm này, Sen lại quay trở lại với trải nghiệm trong tuổi thơ của mình. Vào năm 1943, chỉ một năm trước cái chết của Kader Mia, ông đã tham gia phát gạo cho các nạn nhân của nạn đói ở Bengal mà trong đó gần 3 triệu người chết. Ký ức về nạn đói trên diện rộng đã trở lại khi ông phát triển lý thuyết về nạn đói vài thập kỷ sau đó. Vào khoảng thời gian này, giữa những năm 1970 và 1980, châu Phi và châu Á chứng kiến những nạn đói khủng khiếp. Nguyên nhân rõ ràng nhất chính là thiếu thực phẩm: người dân chết đói khi không có mưa và mùa màng bị hủy hoại. Hoặc có lẽ là do sự gia tăng dân số nhanh chóng dẫn đến có quá nhiều người cần phải được cung cấp thực phẩm, như kết luận của Thomas Malthus trong thế kỷ 18.

Sen phát hiện ra những lỗ hổng trong những lời giải thích thông thường. Hạn hán vẫn thỉnh thoảng xảy ra ở Mỹ nhưng không có ai chết đói. Và trong khi Malthus cảnh báo về hậu quả của việc có quá nhiều người, nạn đói đã xảy ra ở Ethiopia và Sudan, những nơi mà dân số trải thưa thớt trên diện tích đất rộng lớn. Sen cho rằng chuyện con người không đủ ăn không có nghĩa là không có đủ thực phẩm trên tổng thể. Thức ăn không chỉ là thức ăn: nó là một mặt hàng mà con người mua từ chợ, và có rất nhiều lý do tại sao con người không thể mua đủ thực phẩm và bị đói.

Sen cho rằng nạn đói xảy ra khi “quyền” của con người về thực phẩm giảm xuống đến một mức quá thấp để được đủ ăn. Quyền của con người là lượng thức ăn họ có thể mua với thu nhập của mình và giá của thức ăn. Quyền ở đây cũng bao gồm những thực phẩm mà họ tự trồng tại nhà và được phân phát bởi chính phủ. Quyền về thực phẩm có thể giảm sút ngay cả khi không có tình trạng thiếu thực phẩm, hạn hán hay sự bùng nổ dân số. Không tình huống nào trong số đó là điều kiện tiên quyết khiến nạn đói xảy ra. Đôi khi đơn giản là người nghèo phải trả những cái giá cắt cổ để mua được thực phẩm. Điều này giúp lý giải những câu hỏi của Sen từ những điều ông thấy trong nạn đói ở Bengal. Nếu nạn đói xảy ra bởi không có đủ thức ăn, vậy thì tại sao nhiều người lại chết đói ngay trước những cửa hàng đầy thức ăn và tại sao nạn đói không hề ảnh hưởng đến những người bạn và họ hàng giàu có của ông?

Sen sử dụng quan điểm về quyền để giải thích cho nạn đói những năm 1970 và 1980. Trong một nạn đói ở Bangladesh vào năm 1974, thực phẩm được sản xuất rất nhiều nhưng một trận lụt làm gián đoạn việc sản xuất nông nghiệp khiến cho rất nhiều người lao động ở nông thôn bị mất việc. Những người khác lo lắng về trận lụt và bắt đầu tích trữ thức ăn khiến giá thức ăn tăng mạnh. Vậy nên rất nhiều người nghèo không có khả năng mua thức ăn bởi vì giá cao và họ không có thu nhập, và một số người trong đó đã chết đói. Khi giá trở lại bình thường, nạn đói kết thúc.

Sen cho rằng càng hiểu rõ hơn về cách những biến động của thị trường gây ra nạn đói như thế nào thì càng có nhiều cách để ngăn chặn nó. Ví dụ vào đầu những năm 1970, một trận hạn hán đã khiến các nông dân ở bang Maharashtra của Ấn Độ mất việc. Chính phủ thuê họ làm đường và đào giếng để trả lương cho họ và bảo vệ quyền lợi về thực phẩm của họ. Vậy nên nạn đói đã được ngăn chặn.

Sen nói rằng dân chủ và tự do báo chí là cần thiết để ngăn chặn nạn đói. Khi các nhà báo có thể viết về sự khó khăn mà người nghèo phải đối mặt, chính phủ sẽ có động lực để làm điều gì đó, nếu không thì khả năng họ sẽ không được bầu cho nhiệm kỳ tiếp theo rất cao. Sen cho rằng đây là lý do tại sao không còn nạn đói ở Ấn Độ kể từ khi đất nước giành được độc lập. Mặt khác, nạn đói lớn nhất của thế kỷ 20, xảy ra ở Trung Quốc vào cuối những năm 1950 khiến 30 triệu người chết, đã kéo dài lâu và khiến nhiều người chết đến thế bởi vì các nhà báo không được tự do viết những gì họ muốn. Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện chương trình Đại Nhảy vọt nhằm mục đích hiện đại hóa nền kinh tế, một phần trong đó là cuộc tái cơ cấu nông nghiệp thảm họa. Không có ai đưa tin về những điều đang diễn ra, chính phủ có thể tiếp tục thực hiện chính sách của họ với cái giá là vô số mạng sống của người dân.

Một nạn đói gần đây hơn xảy ra vào năm 1984 tại Ethiopia. Bản tin thời sự về nạn đói này đã khiến cả thế giới bàng hoàng và những ngôi sao nhạc rock bắt đầu phát hành các đĩa nhạc và tổ chức các buổi hòa nhạc lớn để gây quỹ cho châu Phi. Nhưng mặc dù nó thật khủng khiếp, nạn đói ở Ethiopia không là gì so với nạn đói giữa thế kỷ ở Trung Quốc hay nạn đói ở Liên bang Xô viết vào những năm 1930 với 8 triệu người chết. May mắn thay những nạn đói diện rộng hiện nay chỉ còn tồn tại trong quá khứ. Ngày nay nạn đói thường xảy ra ở một số vùng ở châu Phi nơi có chiến tranh. Thường trong những nạn đói này, con người ít chết vì đói hơn là vì những bệnh dịch chết người lây lan trong sự hỗn loạn của chiến tranh.

Mọi người thường xem kinh tế học là việc nghiên cứu thị trường chứng khoán, những ngành công nghiệp lớn và những quyết định được đưa ra bởi các doanh nhân. Những vấn đề này đương nhiên là rất quan trọng, nhưng Sen cho thấy rằng kinh tế học còn nghiên cứu nhiều thứ hơn thế nữa. Vào thế kỷ 19, Alfred Marshall nói rằng các nhà kinh tế học cần phải có trái tim nóng và cái đầu lạnh. Sen là một ví dụ cho kiểu nhà kinh tế học đó của Marshall: ông vận dụng logic để suy nghĩ về hoàn cảnh khó khăn của những người ở đáy của xã hội, hàng triệu người nhu Kader Mia phải vất vả mưu sinh và thường thất bại trong cuộc đấu tranh vì sự sống còn. Đối với Sen, kinh tế học là về những thứ mà những người nghèo nhất rất cần để sống một cuộc sống hạnh phúc và đủ đầy. Tiền để mua thực phẩm rất quan trọng nhưng việc biết chữ, khỏe mạnh và có cơ hội để tham gia điều hành xã hội cũng vậy. Phát triển con người thật sự chính là tăng trưởng của chính tự do.

CHƯƠNG 33: Biết Người Biết Ta

Trong một bữa tiệc lộng lẫy tại Stockholm được tổ chức để ăn mừng cho giải thưởng Nobel mà mình nhận được, nhà kinh tế học người Mỹ George Akerlof (sinh năm 1940) đã giải thích quan điểm về kinh tế học của bản thân cho các vị khách mời, trong đó có đức vua và hoàng hậu của Thụy Điển: “Đem một con ngựa già yếu tới chợ. Bỏ một con lươn sống vào họng của nó. Nó sẽ lại tràn đầy sức sống.” Những người bán ngựa già yếu sử dụng mọi chiêu để làm ngựa của họ trông có vẻ khỏe mạnh. Mặc dù những điều này có thể gây ra những hậu quả xấu: “Một phần của thị trường là những kẻ lừa đảo. Phần còn lại thì tránh những kẻ lừa đảo đó. Đến một mức cực đoan, thị trường sẽ hoàn toàn sụp đổ.”

Akerlof nổi tiếng nhờ một bài báo vào năm 1970, “Thị trường những quả chanh”, xem xét phiên bản thời hiện đại về tình thế nan giải của người mua ngựa: làm thế nào để mua một chiếc xe ô tô đã qua sử dụng. Chiếc xe mà bạn đang định mua từ người bán xe có thể là một chiếc xe tốt. Tuy nhiên, nó cũng có thể là một món hàng tồi (một “quả chanh”), chiếc xe mà khi ở sân trước gara xe thì nhìn rất ổn nhưng chắc chắn sẽ hỏng nếu được lái nhiều hơn vài dặm trên đường. Bạn sẽ không bao giờ biết được cho đến sau khi mua nó. Người bán biết chiếc xe có phải là một quả chanh hay không, nhưng sẽ luôn luôn nói với bạn rằng nó ở trong tình trạng tuyệt vời. Người bán và người mua sẽ sẵn sàng giao dịch chiếc xe tốt với giá cao và chiếc xe tồi với giá thấp. Vấn đề là người mua không biết chiếc xe nào tốt và chiếc nào tồi. Giả sử rằng một nửa là tốt và một nửa là tồi; vậy thì sẽ có 50% cơ hội chiếc xe mà bạn đang tính mua là một quả chanh. Bạn sẽ không sẵn lòng để trả giá cao cho nó; bạn sẽ chỉ sẵn sàng trả một khoản tiền trung bình giữa cao và thấp. Vấn đề là chủ nhân của những chiếc xe tốt sẽ không muốn bán xe của mình ở mức giá ở giữa, thấp hơn nhiều so với cái giá mà chiếc xe của họ đáng giá, vì thế họ sẽ không bán xe nữa. Mặt khác, người chủ của những quả chanh lại sẵn sàng bán xe; sự thật là nếu có ai đó muốn hạ giá bán xe của mình thì đó đã là một sự đáng ngờ. Vì thế, những chiếc xe tồi đã đuổi những chiếc xe tốt đi. Đó là một thất bại của thị trường bởi vì có rất nhiều người sẵn sàng trả giá cao cho một chiếc xe tốt.

Quan điểm của Akerlot là trong nền kinh tế, có vài người biết nhiều hơn những người khác. Có thể chuyện này nghe có vẻ rất rõ ràng, nhưng khi ông viết bài báo của mình, nó không được hiểu tường tận. Mô hình tiêu chuẩn của nền kinh tế cho thấy rằng các thị trường hoạt động tốt. Chúng mang lại kết quả mà trong đó nhu cầu của con người được thỏa mãn hết khả năng có thể với những nguồn lực sẵn có. (Chúng ta đã xem cách chúng làm việc đó như thế nào trong Chương 25.) Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào những giả định lớn. Các thị trường phải mang tính cạnh tranh và chúng không phải chịu những ảnh hưởng ngoại lai như chi phí cho việc gây ô nhiễm của một nhà máy đến khu vực ngư trường gần đó. Các nhà kinh tế học biết rằng trên thực tế, các thị trường thường thiếu sót so với kỳ vọng. Akerlof thấy rằng có một giả định khác về mô hình tiêu chuẩn đã bị bỏ qua. Để các thị trường hoạt động tốt, mọi người phải biết về mọi thứ: giá xe là bao nhiêu, chất lượng của chúng thế nào, liệu công nhân có chăm chỉ hay không, mức độ tin cậy của người vay tiền như thế nào. Nếu chúng ta làm ăn cùng nhau thì bạn muốn biết liệu tôi có đủ trình độ không và tôi cũng muốn biết điều tương tự về bạn. Giả định về “thông tin hoàn hảo” - rằng mọi người biết mọi thứ - hiếm khi bị đặt nghi vấn. Khi Akerlof cố gắng xuất bản bài báo của mình, hết tạp chí này đến tạp chí khác từ chối nó. Một biên tập viên nói rằng quan điểm này tầm thường. Biên tập viên khác cho rằng nếu điều này đúng, kinh tế học sẽ phải thay đổi. Cuối cùng, bài báo của Akerlof được xuất bản, nền kinh tế đã thực sự thay đổi. Nó giúp khởi đầu một lĩnh vực mới về “kinh tế học thông tin”.

Các nhà kinh tế học có một thuật ngữ chuyên ngành cho vấn đề những quả chanh - “lựa chọn bất lợi” - và nhận ra nó xuất hiện ở khắp mọi nơi. Lấy ví dụ về bảo hiểm sức khỏe. Khi bạn mua bảo hiểm sức khỏe, bạn trả cho công ty một khoản tiền mỗi tháng (phí bảo hiểm) và công ty hứa sẽ trả các hóa đơn viện phí nếu bạn bị ốm. Trong thị trường bảo hiểm, người mua - những người muốn được bảo hiểm là người biết nhiều hơn người bán là công ty bảo hiểm. Một công ty bảo hiểm sẽ muốn thu phí bảo hiểm cao hơn với những người không khỏe mạnh bởi vì họ có khả năng cao sẽ sử dụng những dịch vụ y tế thường xuyên và thu khoản phí bảo hiểm thấp hơn với những người khỏe mạnh. Tuy nhiên, rất khó cho công ty để chỉ ra ai là người khỏe mạnh và ai là người không khỏe mạnh. Vì thế, giống như người mua xe cũ, họ dịch chuyển đến điểm giữa và thu một khoản phí bảo hiểm trung bình với tất cả mọi người. Giống như những người chủ của chiếc xe tốt, người khỏe mạnh sẽ không muốn tham gia thị trường. Khoản phí bảo hiểm quá cao đối với họ khi cân nhắc đến nguy cơ bị bệnh thấp. Chỉ những người không khỏe mạnh mới mua bảo hiểm. Vì thế, những người không khỏe mạnh đuổi những người khỏe mạnh khỏi thị trường. Công ty bảo hiểm vì thế phải tăng mức phí bảo hiểm lên cao ngất ngưởng để chi trả những chi phí tăng lên xuất phát từ việc phải trả viện phí cho nhiều người ốm yếu mua bảo hiểm. Cuối cùng, chỉ có những người ốm yếu nhất mới sẵn sàng mua những khoản bảo hiểm đắt đỏ.

Lựa chọn bất lợi xảy ra khi người bán hoặc người mua không được biết những đặc điểm quan trọng, ví dụ như khi người mua không biết chiếc xe tốt như thế nào, hoặc người bán bảo hiểm không có mấy thông tin về sức khỏe của khách hàng tiềm năng. Các thị trường cũng bị gián đoạn khi các hành vi của con người là không xác định. Các nhà kinh tế học gọi đó là “rủi ro đạo đức”. Sau khi bạn mua bảo hiểm cho việc mất điện thoại của mình bạn có thể sẽ trở nên cẩu thả hơn với nó bởi vì bạn biết rằng mình sẽ có một chiếc điện thoại mới nếu bạn quên nó trên xe buýt. Công ty bảo hiểm biết điều đó, nhưng họ không thể theo dõi bạn. Kết quả là họ sẽ không muốn bảo hiểm toàn bộ cho bạn. Họ có thể yêu cầu bạn chi trả một phần của bất kỳ tổn thất nào. Một lần nữa, đó lại là sự thất bại của thị trường bởi vì bạn muốn có một bảo hiểm chi trả toàn phần và công ty muốn bán nó cho bạn nhưng sự thiếu thông tin đã ngăn cản cuộc giao dịch.

Người mua và người bán tìm được cách giải quyết một số vướng mắc này. Chẳng hạn, người ta vẫn mua và bán vẫn những chiếc xe cũ chất lượng và giá cả hợp lý. Những người mua cố tìm hiểu về lịch sử của chiếc xe mà họ muốn mua và người bán của những chiếc xe tốt có thể đưa ra sự bảo đảm. Một người tiên phong khác về kinh tế học thông tin, Michael Spence (sinh năm 1943) nghiên cứu cách con người giải quyết vấn đề thiếu thông tin bằng việc “ra hiệu” với nhau như thế nào. Ví dụ, các công ty muốn thuê những người làm việc năng suất nhất nhưng rất khó để đánh giá khả năng của con người. Một cách mà người ta thể hiện khả năng của mình là đạt được những chứng chỉ học thuật. Nhìn xa hơn, giáo dục có thể không làm con người giỏi hơn nhiều trong công việc; bằng cấp chỉ đơn giản là giúp người sử dụng lao động phân biệt được ai là người làm việc hiệu quả, ai là người không. Mặc dù vậy, đôi khi không có một giải pháp dễ dàng cho việc thiếu thông tin. Nếu một ngân hàng không có cách nào để phân biệt mình đang cho những doanh nhân có trách nhiệm hay những kẻ lừa đảo vay tiền, nó sẽ dừng việc cho vay đồng loạt. Như Akerlof cảnh báo, khi thông tin có quá ít, các thị trường sẽ ngừng hoạt động hoàn toàn. Thị trường sẽ dừng việc cung cấp những thứ hữu dụng mà con người và các tổ doanh nghiệp cần.

Trong thời gian ở Viện Công nghệ Massachusetts vào những năm 1960, Akerlof đã kết bạn với một người đồng môn, một người tiên phong trong tương lai của ngành kinh tế học thông tin, người sẽ đúng cùng sân khấu với ông tại Stockholm. Joseph Stiglitz (sinh năm 1943) xuất thân từ thành phố Gary tại bang Indiana, một thị trấn công nghiệp được Tập đoàn thép Hoa Kỳ tạo ra vào đầu thế kỷ 20, tập đoàn này là một công ty khổng lồ được thành lập vào năm 1901 bởi một nhóm những doanh nhân người Mỹ bao gồm cả Andrew Carnegie. Sự nghèo đói, phân biệt đối xử và thất nghiệp mà Stiglitz chứng kiến tại Gary đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của ông với tư cách một nhà kinh tế học. “Sau khi đã được chứng kiến mặt tối của nền kinh tế thị trường, sẽ rất khó cảm thấy hào hứng với những điều kì diệu của nó,” ông nói. Kinh tế học truyền thống, với mức độ nó bảo hộ các thị trường tự do trên tất cả, là hoàn toàn sai lầm.

Đối với Stiglitz, kinh tế học thông tin liên quan đến câu hỏi lớn nhất trong kinh tế, ví dụ như các nước nghèo làm thế nào để trở nên giàu có hơn. Vào những năm 1990, ông có thể áp dụng những lý thuyết của mình vào thực tế. Ông trở thành cố vấn cho Tổng thống Bill Clinton và sau đó tham gia vào Ngân hàng Thế giới ở Washington, nơi cung cấp các khoản vay và những lời khuyên về chính sách kinh tế cho các nước đang phát triển. Stiglitz không giống như các quan chức chính phủ thông thường; ông thường đeo chiếc cà vạt nhăn nhúm đi quanh và không quan tâm đến việc xúc phạm những người có quyền lực. Ở Washington, Stiglitz tranh cãi với những cán bộ và nhà kinh tế học cho rằng thị trường tự do là câu trả lời cho các nước nghèo.

Ngân hàng Thế giới và một tổ chức tương tự tại Washington, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đã thúc đẩy các quốc gia đang phát triển áp dụng các chính sách thị trường tự do, bao gồm cả việc mở cửa kinh tế đối với dòng chảy ngoại tệ. Họ cho rằng tiền sẽ được đầu tư vào các nhà máy và những con đường mới và như vậy sẽ giúp kinh tế phát triển. Số tiền lớn chảy vào các nền kinh tế Đông Á nhưng như chúng ta đã thấy trước đó, vào năm 1997, các đất nước này đã gặp những thất bại kinh tế. Những nhà cho vay quốc tế đã không lo lắng nhiều về việc liệu người mà họ cho vay có thể trả lại khoản nợ hay không. Họ cho vay trên cơ sở thiếu thông tin và cuối cùng rất nhiều người vay tiền không thể trả nợ. Rủi ro đạo đức làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn bởi vì những nhà cho vay hy vọng rằng chính phủ sẽ giúp đỡ họ nếu có chuyện gì tồi tệ xảy ra, vậy nên họ không có động lực để hành xử cẩn trọng trong việc cho ai vay tiền.

Thị trường tài chính hoạt động tốt phụ thuộc vào việc người cho vay có khả năng đánh giá chính xác mức độ đáng tin tưởng của người vay tiền, và vào việc các nhà đầu tư hiểu được sự rủi ro của những dự án mà họ đổ tiền vào. Thứ quan trọng nhất trong thị trường tài chính là thông tin, quan trọng hơn nhiều so với trong thị trường hàng hóa như dầu hoặc lúa. Khi thị trường tài chính không phát triển, như ở Đông Á, nó sẽ không làm tốt việc phân loại các thông tin phức tạp. Stiglitz phản đối những kiến nghị của các nhà chức trách tại Washington. Họ hoàn toàn bỏ qua những rủi ro của chính sách thị trường tự do cho phép dòng tiền vào và ra các quốc gia mà không có bất kỳ sự kiểm soát nào khi người cho vay không biết rõ về những người mà họ cho vay tiền. Ông đã ví chính sách đó như việc đặt một động cơ Ferrari vào một chiếc xe cũ, và sau đó khởi hành mà không quan tâm đến tình trạng của lốp xe hay kỹ năng của người lái.

Kinh tế học thông tin cũng liên quan đến những thử thách kinh tế lớn mà nền kinh tế tiên tiến phải đối mặt. Kể từ cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930, các nhà kinh tế học vẫn băn khoăn cái gì gây ra tình trạng thất nghiệp. George Akerlof đã băn khoăn điều này kể từ khi mới 11 tuổi vào lúc cha của ông bị mất việc. (Cậu lý giải rằng khi một người cha bị mất việc và không chi tiêu nữa, người cha khác cũng sẽ bị mất việc và tiếp tục như vậy - phản ứng dây chuyền tạo thành một đường xoắn ốc kinh tế đi xuống. Cậu bé George đã khám phá ra một trong những nguyên lý cơ bản của kinh tế học Keynes mà không hay.) Kinh tế học hậu chiến dựa vào nghiên cứu của Keynes cho rằng tiền lương sẽ không giảm xuống dễ dàng trong suy thoái và với lương cao sẽ khiến các công ty không tuyển thêm nhân công nữa. Tại sao lương lại không giảm? Kinh tế học thông tin đưa ra câu trả lời mới. Một ông chủ không thể theo dõi công nhân của họ mọi lúc vậy nên sẽ không biết họ đã làm việc chăm chỉ như thế nào. Để khuyến khích họ làm việc chăm chỉ, ông chủ tăng khoản lương mà họ được nhận. Khi tất cả các ông chủ làm giống như vậy, mức lương trung bình sẽ tăng. Ở mức lương cao, các công ty thuê ít nhân công hơn và nạn thất nghiệp tăng. Do đó, nguy cơ thất nghiệp sẽ khiến các nhân công làm việc chăm chỉ hơn. Cách nghĩ này về nạn thất nghiệp trở thành một phần trong cách giải thích mới của Keynes được nhiều nhà kinh tế học theo trường phái Keynes ngày nay đi theo.

Khi Akerlof và Stiglitz bắt đầu lĩnh vực mới của họ về kinh tế học thông tin, rất nhiều nhà kinh tế học nghĩ rằng các thị trường thường hoạt động tương đối hiệu quả. Họ vào trong “bàn tay vô hình”, quan điểm của Adam Smith rằng việc mua và bán trên thị trường sẽ dẫn đến cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực xã hội. Sự sụp đổ trong thị trường do vấn đề thông tin không có nghĩa là con người quá ngốc nghếch hay thiếu lý trí. Hoàn toàn hợp lý khi mọi người dừng việc mua ngựa vì nghi ngờ là họ đang bị chào mua những con ngựa già yếu. Nhưng sự sụp đổ có nghĩa rằng bàn tay vô hình không còn hoạt động nữa. Khi nhận giải Nobel của mình, Stiglitz gợi ý rằng lý do khiến bàn tay trở nên vô hình là bởi vì nó không ở đó - và nếu như có thì nó đã bị tê liệt.

CHƯƠNG 34: Những Lời Hứa Không Được Giữ

Con người đổi ý khi tốt hơn là không nên làm vậy. Lời tuyên bố không có gì đặc sắc này là cơ sở của một lý thuyết kinh tế cho rằng các chính phủ không thể không cản trở những mục tiêu của chính mình kể cả với những dự định tốt nhất. Họ giống như những giáo viên có thiện chí đổi ý về việc phạt những học sinh lười ở lại sau giờ học dù cho điều đó sẽ khuyến khích học sinh học hành chăm chỉ và vượt qua các kỳ thi. Các giáo viên dọa sẽ phạt học sinh ở lại sau giờ học nếu học sinh không làm bài tập về nhà, nhưng rồi vẫn tha khi học sinh không nộp bài. Tại sao lại như vậy? Nếu họ phạt học sinh ở lại sau giờ học, giáo viên sẽ phải ở lại trễ, trong khi họ rất muốn được về nhà đúng giờ. Học sinh biết rằng các giáo viên sẽ không làm theo những gì họ nói nên chúng không làm bài tập về nhà; chúng không bao giờ bỏ được thói lười nhác và trượt các kỳ thi. Nếu học sinh tin vào lời dọa của giáo viên, chúng sẽ làm bài tập và giáo viên sẽ có thể về nhà đúng giờ. Bởi vì những học sinh lười không tin vào những lời đe dọa của giáo viên, tất cả mọi người đều bị thiệt.

Tác động mà giáo viên đang cố tạo ra - mối đe dọa của hình phạt ở lại sau giờ học khiến học sinh làm bài tập về nhà - diễn ra qua thời gian. Vào thứ Hai, điều tốt nhất mà giáo viên nên làm là cảnh báo về hình phạt ở lại sau giờ học nếu bài tập về nhà không được nộp vào thứ Tư. Tuy nhiên khi thứ Tư đến, điều tốt nhất nên làm là tha cho các học sinh. Các giáo viên tự nói với mình rằng: bài tập về nhà vẫn chưa hoàn thành, vậy lợi ích của việc phạt ở lại sau giờ học và phải ở lại muộn là gì?

Vấn đề của việc cố gắng đạt được một mục tiêu qua một thời gian được nghiên cứu bởi hai nhà kinh tế học vào cuối những năm 1970. Finn Kydland (sinh năm 1943) lớn lên tại một nông trại ở Na Uy, là học sinh duy nhất trong khu vực học cao hơn bậc tiểu học. Trong lúc đang theo học tiến sĩ tại Đại học Carnegie Mellon ở Pittsburgh, ông đã gặp một người Mỹ tên là Edward Prescott (sinh năm 1940) và trong chuyến đi trở lại Na Uy ông đã thuyết phục Prescott dành ra 1 năm với mình tại Đại học Kinh tế Na Uy ở Bergen. Trong không gian tĩnh mịch của tòa nhà, thật lâu sau khi những người khác đã về nhà, Kydland và Prescott tìm ra lý thuyết mới của họ và đặt ra một thuật ngữ mới. Những giáo viên dễ dãi đối mặt với vấn đề “thiếu nhất quán theo thời gian”: điều tốt nhất trong hôm nay sẽ không còn là điều tốt nhất trong ngày mai.

Các nhà khoa học cố gắng kiểm soát các chuyến bay của tên lửa không vướng phải vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian. Khi họ phóng một tên lửa vào thứ Hai, họ cài hướng dẫn cho máy tính của tên lửa để đưa tên lửa tới mặt trăng vào thứ Tư với mức tiêu thụ nhiên liệu ít nhất có thể. Họ có thể cài đặt trước một loạt hướng dẫn trên máy tính vào thứ Hai, một vài hướng dẫn vào thứ Ba và vài hướng dẫn cuối vào thứ Tư. Không quan trọng là họ làm chúng như thế nào. Điều gì tốt nhất vào thứ Hai cũng tốt nhất vào thứ Tư. Máy tính của tên lửa luôn luôn giữ lời hứa của nó.

Khi bạn đối phó với con người thì điều đó lại không quan trọng. Vào thứ Hai giáo viên đặt ra một loạt hướng dẫn cho bản thân họ trong tuần tiếp theo: phạt học sinh ở lại sau giờ học nếu không làm bài tập về nhà. Vào thứ Tu họ đã làm khác đi. Con người khác với tên lửa bởi vì đoán trước tương lai. Họ biết điều có thể xảy ra vào ngày mai và vì thế họ thay đổi hành vi của mình ngày hôm nay. Các học sinh biết rằng giáo viên sẽ không thực hiện lời đe dọa và vậy là chúng không hề bận tâm đến việc làm bài tập về nhà.

Kydland và Prescott thuộc nhóm những nhà kinh tế học vào những năm 1970 tranh cãi rằng nguyên lý của kinh tế học Keynes cho rằng chính phủ có thể dễ dàng quản lý nền kinh tế là sai lầm bởi vì định luật ấy giả định nền kinh tế giống như một quả tên lửa. Điều đó chỉ đúng khi con người không hoàn toàn suy nghĩ hợp lý, họ nói. Cách tiếp cận mới với kinh tế học kiểm tra xem nền kinh tế hoạt động như thế nào nếu con người có kỳ vọng hợp lý, khái niệm chúng ta bắt gặp trong Chương 30. Khi con người có những kỳ vọng hợp lý, họ đưa ra các dự đoán về chuyện sẽ xảy ra, sử dụng tất cả thông tin có sẵn, bao gồm thông tin về các chính sách kinh tế của chính phủ. Họ không mắc sai lầm vì quên xem xét các thông tin quan trọng. Kydland và Prescott phát hiện ra rằng những kỳ vọng hợp lý dẫn đến sự thiếu nhất quán theo thời gian. Vấn đề của các giáo viên xảy ra bởi vì học sinh của họ đã đưa vào hành động của ngày thứ Hai dự đoán của chúng về những việc mà giáo viên sẽ làm trong ngày thứ Tư. Các nhà khoa học tên lửa chơi một trò chơi chống lại thiên nhiên nhưng giáo viên và chính phủ chơi trò chơi phức tạp hơn, trò chơi chống lại những người xảo quyệt.

Chính sách kinh tế Keynes theo sau trong những năm 1950 và 1960 dựa trên ý kiến cho rằng chính phủ có thể tác động đến đường hướng của nền kinh tế bằng việc điều chỉnh số tiền chính phủ chi tiêu. (Một chính sách thay thế, ít phổ biến hơn đối với những người theo trường phái Keynes, là chính phủ điều chỉnh số lượng tiền đưa vào lưu thông). Theo đường cong Phillips, cho thấy tỉ lệ thất nghiệp thấp đi kèm với lạm phát cao, chính phủ có thể sử dụng những chính sách này để giảm thiểu thất nghiệp với cái giá là lạm phát cao hơn một chút. Các nhà nghiên cứu lý thuyết kỳ vọng hợp lý cho rằng điều này là không thể. Nếu chính phủ thúc đẩy kinh tế, những người có suy nghĩ hợp lý thường tiên đoán rằng mức lương cao hơn sẽ bị nhấn chìm bởi mức giá cao hơn. Lương thực tế của mọi người (số hàng hóa thực tế họ có thể mua) không thay đổi và, biết được điều đó, họ sẽ không nhận thêm nhiều công việc hơn. Ảnh hưởng duy nhất của chính sách của chính phủ là đẩy nhanh lạm phát. Dưới cách nhìn này về nền kinh tế, điều tốt nhất mà chính phủ có thể làm là giữ lạm phát ở mức thấp bằng việc không in quá nhiều tiền hoặc không chi tiêu quá nhiều.

Tuy nhiên, ngay cả khi biết được điều này, chính phủ vẫn không thể ngăn chính nó khỏi việc cố gắng thúc đẩy kinh tế. Vào tháng Một, chính phủ đưa ra một lời hứa: chính phủ nói rằng sẽ giữ mức lạm phát thấp bởi vì nó biết rằng trong dài hạn việc cố gắng để thúc đẩy kinh tế là vô ích và chỉ dẫn đến lạm phát cao hơn. Tuy nhiên, vào tháng Năm, chính phủ không còn được tín nhiệm và một cuộc bầu cử sắp sửa diễn ra vào cuối năm. Mặc dù bình thường thì chính phủ không thể tác động đến việc làm, đôi khi nó có thể gây ra tác động trong tương lai gần nếu nó đột nhiên thúc đẩy kinh tế mà mọi người không hề biết trước. Vào tháng Năm, chính phủ cố gắng làm như vậy với hy vọng giành được lợi ích chính trị từ việc giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống thấp hơn. Trong một thời gian ngắn, mọi người nhận thêm nhiều việc làm hơn như một phản ứng trước mức lương cao hơn, nhưng nhanh chóng trở lại với mức có việc làm thấp hơn khi họ nhận ra rằng tiền lương cao hơn đã bị chìm nghỉm trong mức giá cả ngày càng leo thang. Chính phủ cố gắng làm điều tương tự vào tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám. Bởi vì các hành động của chính phủ chỉ có tác dụng khi chúng làm mọi người ngạc nhiên, chúng chỉ hiệu quả một vài lần (và chỉ trong thời gian ngắn); qua thời gian, tỉ lệ thất nghiệp sẽ không thấp hơn so với trường hợp chính phủ giữ lời hứa của mình. Điểm khác nhau là tỉ lệ lạm phát đạt mức 8% chứ không phải 2%. Mọi người hiểu tình thế tiến thoái lưỡng nan của chính phủ và vì thế không tin vào lời hứa giữ mức lạm phát thấp. Cũng giống như giáo viên, chính phủ muốn giữ lời hứa của mình nhưng khi thời hạn đến, nó không thể thực hiện đúng như vậy. Kết quả của những lời hứa bị phá vỡ là nền kinh tế trở nên dễ thay đổi hơn: với giá cả tăng nhanh nền kinh tế ít ổn định hơn và hỗn loạn cũng như khó đoán hơn.

Bạn có thể nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu một chính phủ (hoặc giáo viên) có thiện chí có được nhiều lựa chọn nhất có thể ở việc nên làm gì trong mọi thời điểm. Các nhà kinh tế gọi đó là “quyền tự do quyết định chính sách”: tự do hoàn toàn trong việc quyết định. Vào tháng Năm, chính phủ quyết định làm gì đó để phản ứng với hoàn cảnh hiện tại, và cũng quyết định làm gì đó trong tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám. Chắc hẳn là quyền tự do quyết định cho phép chính phủ đánh giá điều kiện hiện tại và sau đó hành động, đem lại kết quả tốt nhất qua thời gian? Lý thuyết của Kydland và Prescott chỉ ra tại sao quyền tự do quyết định có thể giảm quyền lực của chính phủ trong việc tiến hành chính sách tốt nhất. Chính phủ không thất bại bởi vì nó lươn lẹo hay ngu ngốc; thay vào đó, sự tự do khi ra quyết định tại mọi thời điểm dẫn nó đến những hành động tự gây ra thất bại.

Kydland và Prescott cho rằng thay vì sử dụng quyền tự do quyết định - đưa ra những quyết định riêng lẻ vào tháng Năm, tháng Sáu và tháng Bảy - chính phủ nên tuân theo một quy tắc được quyết định trước đó, giống như “giữ lạm phát ở mức thấp tại mọi thời điểm”. Nhưng làm sao chính phủ có thể thực thi nó? Chính phủ nắm giữ các đòn bẩy của quyền lực và vì thế sẽ luôn luôn phá vỡ quy tắc của chính mình. Vấn đề là khi chính phủ có càng nhiều quyền lực, nó dường như lại có càng ít. Dù chính phủ đã đưa ra lời hứa chắc nịch đến thế nào, không một ai tin nó (giống như giáo viên với lời đe dọa bị ngó lơ).

Sau khi Kydland và Prescott nghĩ ra lý thuyết của họ, các nhà kinh tế học đã tìm kiếm các giải pháp khiến chính phủ thực thi các quy tắc của mình và giải quyết vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian. Nhiều giải pháp trong số đó tập trung vào việc thay đổi cách ngân hàng trung ương hoạt động. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của chính phủ và là tổ chức phát hành tiền giấy và tiền xu. Ngày nay, các ngân hàng trung ương tiến hành các chính sách tiền tệ của chính phủ: các hoạt động thay đổi nguồn cung tiền và lãi suất. Các ngân hàng trung ương khởi đầu như những công ty tư nhân. Một trong những ngân hàng lâu đời nhất, Ngân hàng Anh quốc, được thành lập vào năm 1694 bởi một nhóm thương gia muốn đảm bảo rằng Anh có đủ tiền để đánh lại Pháp. Dần dần, ngân hàng trung ương gắn chặt với chính phủ. Năm 1946, Ngân hàng Anh quốc được đưa vào sở hữu công; Stafford Cripps, Bộ trưởng Tài chính Anh, vào cuối những năm 1940 từng gọi nó là ngân hàng “của ông ấy”. Các ngân hàng trung ương được chính phủ sử dụng để theo đuổi các chính sách Keynes. Chúng chịu sự kiểm soát của chính phủ và được dùng theo cách mà các chính trị gia thấy phù hợp.

Một giải pháp đối với vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian là chính phủ từ bỏ quyền kiểm soát tại ngân hàng trung ương. Lập luận của giải pháp này cho rằng nếu các ngân hàng trung ương độc lập thì chính sách tiền tệ sẽ không còn nguy cơ bị thao túng bởi các chính trị gia. Người đứng đầu của các ngân hàng trung ương không được bầu ra bởi cử tri và không có lợi ích gì khi thực hiện những hành động có thể khiến họ được tín nhiệm trong ngắn hạn, vì thế họ sẽ có thể thực hiện quy tắc giữ mức lạm phát ở mức thấp. Chính phủ thậm chí có thể chỉ định những người thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ cho việc giữ mức lạm phát thấp và sẽ làm mọi thứ trong quyền hạn của mình để đạt được điều đó làm nhân viên ngân hàng trung ương. Nó giống như việc các giáo viên khoan dung yêu cầu các học sinh lười nhác đến văn phòng của một giáo viên chủ nhiệm nghiêm khắc, người mà mọi người đều biết rất thích đưa ra hình phạt ở lại sau giờ học.

Vào những năm 1990, rất nhiều chính phủ để cho ngân hàng trung ương của họ độc lập. Họ sẽ đặt các mục tiêu cho lạm phát - giữ nó nằm trong khoảng từ 2 đến 3% chẳng hạn. Nhiệm vụ của các ngân hàng trung ương là sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ, bây giờ đã nằm trong quyền kiểm soát của họ, để đạt được mục tiêu. Ngân hàng Pháp đã được tách khỏi các nhà chính trị gia vào năm 1994, gần 200 năm sau khi nó được Napoleon xây dựng để khôi phục lại trật tự tài chính sau sự bất ổn của Cách mạng Pháp. Vào buổi lễ, đánh dấu sự độc lập của nó, ngài thống đốc đã trông đợi kỷ nguyên mới của một nền kinh tế ổn định. Khi Ngân hàng Anh quốc bắt đầu trở nên độc lập vào năm 1998, một hội đồng các chuyên gia bắt đầu họp vào mỗi thứ Tư. Họ sẽ biểu quyết tăng hay giảm lãi suất để đạt được mục tiêu lạm phát. Một vài nhà kinh tế học thậm chí còn gợi ý việc gắn mức lương của các thống đốc ngân hàng trung ương với tỉ lệ lạm phát. Khi New Zealand để ngân hàng trung ương của nó hoạt động độc lập, nó đã làm điều tương tự bằng việc tuyên bố rằng sẽ sa thải thống đốc nếu ngân hàng không đạt được mục tiêu lạm phát.

Nhiều nhà kinh tế học tin rằng sự độc lập của ngân hàng trung ương sẽ dẫn đến lạm phát thấp và tăng trưởng đều đặn. Đó là một bước ngoặt lớn kể từ thời kỳ lạm phát đình trệ những năm 1970 (tỉ lệ lạm phát và thất nghiệp cao). Chúng ta đang nói đến “Thời kỳ đại ổn định”, một nền kinh tế ổn định không có những thăng trầm lớn. Vậy sự độc lập có hiệu quả không? Quả thật là trong các nước có ngân hàng trung ương độc lập, lạm phát đã ở mức thấp, nhưng xác định có mối liên kết chặt chẽ giữa hai thứ thì rất rủi ro. Mức lạm phát thấp của những năm 1980 và 1990 giống một chút may mắn hơn là kết quả của một lý thuyết kinh tế thông minh đã giải quyết vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian. Vào những năm 1970, nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi những cú sốc khiến lạm phát tăng, giống như khủng hoảng chính trị tại Trung Đông dẫn đến giá dầu tăng mạnh. Có thể sự ổn định kinh tế của những năm 1980 và 1990 là kết quả của việc không có những cú sốc tương tự. Bên cạnh đó, Thời kỳ đại ổn định không kéo dài; nó kết thúc đột ngột vào năm 2008 khi nền kinh tế toàn cầu sụp đổ. Biến động kinh tế đã trở lại.

CHƯƠNG 35: Những Người Phụ Nữ Biến Mất

Vào đầu những năm 1990, nhà kinh tế học Amartya Sen tính rằng 100 triệu phụ nữ đã biến mất. Bởi vì phụ nữ sống thọ hơn đàn ông, dân số lẽ ra phải có nhiều phụ nữ hơn đàn ông. Tại Anh, Pháp và Mỹ có khoảng 105 phụ nữ tương ứng với mỗi 100 đàn ông, nhưng Sen nhận thấy rằng ở một vài đất nước số lượng đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Ở Trung Quốc và Bangladesh, chỉ có 94 phụ nữ tương ứng với 100 đàn ông, ở Pakistan con số đó là 90. Cộng những thiếu hụt đó lại, Sen thấy rằng trên toàn thế giới số phụ nữ đang ít hơn 100 triệu so với mức hợp lý. Họ đã đi đâu? Sen cho rằng họ là nạn nhân của sự thiếu thốn kinh tế tột độ: suy dinh dưỡng và thiếu thuốc men đã rút ngắn tuổi thọ của họ. Nghiên cứu của ông chỉ ra rằng các nền kinh tế không đối xử công bằng với đàn ông và phụ nữ: chúng chứa đựng thành kiến bất lợi với phụ nữ.

Vào những năm 1990, một nhóm các nhà kinh tế học cố gắng để giải thích thành kiến ấy. Họ kết hợp kinh tế học với chủ nghĩa nữ quyền - các quan điểm xã hội và chính trị dựa trên lòng tin về quyền bình đẳng của phụ nữ với đàn ông. Những nhà kinh tế học nữ quyền nói rằng thành kiến này có nghĩa là phụ nữ không được phân bổ công bằng nguồn lực của xã hội. Thành kiến còn tồn tại trong cách các nhà kinh tế học nghĩ về thế giới. Điều này quan trọng bởi vì cách chúng ta nghĩ về nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến cách mà nó thực sự đối xử với những người khác nhau trong thực tế.

Theo một khía cạnh nào đó, các lý thuyết kinh tế mà chúng ta đã nghiên cứu trong cuốn sách này - cạnh tranh hoàn hảo, quy luật cầu, v.v. - là những câu chuyện mà các nhà kinh tế học kể đi kể lại. Một lý thuyết nổi tiếng đó là bàn tay vô hình của Adam Smith. Tất nhiên thật sự không có bàn tay vô hình, chỉ là rất nhiều người mua và bán theo một cách có trật tự. Đó chỉ là một câu chuyện, mặc dù rất có ích. Diana Strassmann (sinh năm 1955), một người tiên phong trong kinh tế học nữ quyền, chỉ ra rằng hầu hết các câu chuyện kinh tế được đàn ông kể trước tiên, thường là trong thế kỷ 19. Nhiều nhà kinh tế học nam giới kể những câu chuyện đó đã có chung những cảm giác nghi ngại của xã hội về việc phụ nữ có một vai trò tích cực trong nền kinh tế. (Ngày nay, quan điểm này đã thay đổi, nhưng kinh tế học vẫn là một chuyên ngành do đàn ông thống trị.) Strassmann cho rằng, dù chúng ta không hay biết, những câu chuyện chúng ta kể phản ánh những thành kiến mà chúng ta thừa hưởng từ quá khứ. Kinh tế học đã nhìn thế giới theo cách nhìn của người đàn ông. Phụ nữ có vai trò không quan trọng trong những câu chuyện kinh tế của chúng ta và chịu sự thiệt thòi trong việc phân chia những nguồn lực có thật. Thành thật mà nói, kinh tế học phải nhận thức được những thành kiến của chính nó. Các nhà kinh tế nữ quyền cố gắng khiến những thành kiến ấy trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn .

Một câu chuyện được yêu thích trong kinh tế học truyền thống là điều mà Strassmann gọi là “vị gia trưởng nhân từ” - người đàn ông tốt bụng đứng đầu. Xã hội không bao gồm những cá nhân đơn lẻ mà là cả các gia đình, thường là một nhóm người lớn và trẻ em sống chung với nhau. Tuy nhiên, kinh tế học xem gia đình như một đơn vị duy nhất. “Người đứng đầu hộ gia đình” thường là một người đàn ông, kiếm tiền và chịu trách nhiệm về vợ và con cái, những người không kiếm tiền và phụ thuộc vào anh ta. Gia đình là một nơi hòa hợp. Không có tranh cãi về thức ăn hay tiền bạc. Người đàn ông đưa cho vợ và con những gì họ cần. Các nhà kinh tế học có thể tập trung vào hành vi của người đàn ông kiếm tiền mà không cần để ý quá nhiều đến những người sống dựa vào họ. Sau tất cả, với một người đàn ông công bằng và khôn ngoan lãnh đạo họ, phụ nữ và trẻ em sẽ luôn luôn được chăm sóc. Bằng cách này, các bà vợ và con cái trở nên vô hình trong mắt của các nhà kinh tế học.

Strassmann nói rằng câu chuyện này là một sự bóp méo. Những người phụ nữ biến mất của Sen chỉ ra rằng các nguồn lực không được phân bổ một cách công bằng. Không phải tất cả đàn ông đều công bằng, đôi khi họ sẽ cãi cọ với vợ mình, thường là về chuyện tiền bạc. Thông thường các cuộc tranh luận sẽ khiến các cô gái ở vào vị trí thấp nhất trong thang bậc gia đình. Trong một vài xã hội, con trai được thiên vị hơn con gái trong vấn đề thức ăn và thuốc men, và những cô bé bị ốm thậm chí bị bỏ mặc đến chết thay vì đưa vào bệnh viện như những cậu bé. Ngoài ra, người đứng đầu gia đình thường là phụ nữ thay vì nam giới, và các gia đình có phụ nữ đứng đầu thường xuyên chịu nhiều khó khăn lớn. Vì bỏ qua phụ nữ, kinh tế học đánh mất nhiều cách quan trọng mà nguồn lực bên trong gia đình được phân phối.

Một câu chuyện kinh tế cũ khác là câu chuyện về người phụ nữ được xem là “nhàn rỗi”. Nếu phụ nữ ở nhà thay vì đi làm, họ bị xem như là không làm gì. Nếu họ không kiếm ra tiền, họ chắc chắn chỉ làm công việc còn lại duy nhất mà kinh tế học có thể nhận ra, đó là nghỉ ngơi: có thể là đi ra ngoài ăn trưa hay xem ti vi. Nhà kinh tế học Nancy Folbre (sinh năm 1952) phản bác câu chuyện đó trong quyển sách của bà Ai trả tiền nuôi bọn trẻ? (Who Pays for the Kids?)

Folbre cho rằng phụ nữ phải gánh hầu hết các chi phí nuôi dạy lực lượng lao động trong tương lai. Kinh tế học tiêu chuẩn bỏ qua những chi phí đó bởi vì những người mẹ chăm sóc con cái của họ không được trả công bằng tiền. Khi một người đàn ông trả tiền người giúp việc cho việc dọn dẹp, nấu ăn và chăm sóc con cái của ông, sức lao động của cô ấy sẽ được tính vào thu nhập quốc dân của một nước. Nếu anh ta cưới cô ấy, cô ấy sẽ trở thành một phần của gia đình. Cô ấy sẽ tiếp tục công việc dọn dẹp và nấu ăn nhưng vì là vợ của anh ta nên cô ấy sẽ không được trả lương. Sức lao động của cô ấy không còn được tính trong thu nhập quốc dân. Dưới cách nhìn truyền thống, cô ấy trở thành một “người vợ không sản xuất”.

Hãy thử nghĩ về toàn bộ sức lao động đã trở thành vô hình bởi vì không được trả lương: mua sắm, nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc con cái. Ở các nước nghèo, phụ nữ thu nhặt gỗ, gánh nước, cày đất, xay ngô, sửa nhà. Tính toán của Liên Hiệp Quốc cho thấy rằng những công việc không được trả công có thể tương đương với 70% giá trị sản xuất kinh tế của thế giới. Hầu hết các công việc không được trả công là do phụ nữ thực hiện. Nếu các công việc không được trả công quan trọng như vậy, không phải các nhà kinh tế học nên tính cả nó khi đo lường nền kinh tế sao? Nhà kinh tế học nữ quyền người New Zealand Marilyn Waring (sinh năm 1952) bàn luận về trường hợp này trong cuốn sách của bà Nếu phụ nữ được tính đến (If Women Counted). Quyển sách tác động đến cách mà các nhà kinh tế học tính toán thu nhập của các quốc gia, nhưng các phép tính vẫn còn bỏ sót nhiều công việc quan trọng không được trả công.

Những nhà kinh tế học nữ quyền khác nhấn mạnh sự cần thiết của việc tạo thuận lợi cho phụ nữ dễ dàng tìm được việc làm hơn. Một trong những thay đổi kinh tế lớn nhất trong thế kỷ qua, đặc biệt ở châu Âu và Hoa Kỳ, là sự tham gia của phụ nữ vào các công việc được trả lương. Ở Mỹ, chỉ 20% phụ nữ được trả lương vào năm 1890. Cho đến những năm 1950, có một vài công việc không nhận phụ nữ có gia đình và phụ nữ sẽ bị đuổi việc nếu họ lập gia đình. Dần dần, xã hội bắt đầu chấp nhận phụ nữ như một phần của lực lượng lao động, và 60% phụ nữ có việc làm vào năm 1980. Nhiều công việc không được trả công mà phụ nữ vốn làm được chuyển qua cho các bảo mẫu và người dọn dẹp. Cho dù xu thế là như vậy, những công việc không được trả công trong nhà vẫn có vai trò rất quan trọng, và vẫn là phụ nữ - ngay cả những người có công việc được trả lương - hoàn thành phần lớn.

Strassmann cho rằng những câu chuyện yêu thích của các nhà kinh tế học - câu chuyện về lựa chọn tự do - cũng cần phải được viết lại. Kinh tế học tiêu chuẩn dựa trên khái niệm về “con người kinh tế lý trí”, người lựa chọn thứ để mua dựa vào giá và thu nhập cho phép. Mọi người có những sở thích rõ ràng. Họ biết rằng họ thích trà hơn cà phê, thích nhạc thính phòng hơn bóng đá. Cuộc sống của họ chủ yếu gồm việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu bằng số tiền mà họ có. Các nhà kinh tế nữ quyền cho rằng lý thuyết hành vi này cũng xuất phát từ quan điểm của nam giới. Đối với các nhà kinh tế học truyền thống - trong lịch sử hầu hết là những người đàn ông có học thức và giàu có - quan điểm về việc lựa chọn từ một loạt các tùy chọn được xem là hoàn toàn tự nhiên. Họ có tiền và có quyền lực để làm những gì họ muốn. Tuy nhiên, định kiến và sự phân biệt đối xử mà phụ nữ và các nhóm chịu thiệt thòi phải gánh chịu thường loại bỏ sự lựa chọn tự do. Lựa chọn tự do về ngành học có rất ít ý nghĩa trong các xã hội mà những bé gái bị giết vì đến trường.

Khi các nhà kinh tế học đánh giá kết quả kinh tế tốt đến mức nào, điều mà họ quan tâm nhất là con người có sự lựa chọn. Không cần phải so sánh phúc lợi giữa những người đàn ông và phụ nữ khác nhau: trên thực tế, các nhà kinh tế học cho rằng bất kỳ sự so sánh nào đều sẽ là vô nghĩa. Thay vào đó, họ đánh giá một vị trí kinh tế tốt đến đâu bằng cách sử dụng khái niệm hiệu quả pareto chúng ta đã gặp trong Chương 25. Những cải tiến duy nhất được nhận thấy dưới cách đo lường này là những cải tiến mà trong đó có ít nhất một người được lợi hơn nhưng không ai chịu thiệt hơn. Nhưng hầu hết mọi sự thay đổi trong nền kinh tế tạo ra người thắng và kẻ thua. Ví dụ, hiệu quả pareto không hề đề cập đến sự thay đổi với một vài người giàu trở nên ít giàu hơn một chút trong khi hàng trăm người phụ nữ thoát khỏi sự nghèo khó. Vì vậy, cách đánh giá nền kinh tế này sẽ có xu hướng bảo thủ theo nghĩa là không dễ dàng chấp nhận những thay đổi đối với mọi thứ hiện tại. Điều đó tất nhiên sẽ có xu hướng làm lợi cho những người có quyền lực nhất trong xã hội.

Các nhà kinh tế học nữ quyền tranh luận rằng toàn bộ cách tiếp cận này quá hẹp. Trên thực tế, con người có sự kết nối tâm hồn và biết cảm thông với những người khác. Rõ ràng người mẹ chăm sóc con cái mình xuất phát từ tình yêu, chứ không phải từ việc cân bằng giữa chi phí và lợi ích của chính họ. Thậm chí người mua, người bán và nhân viên làm thuê cũng hành động xuất phát từ sự cảm thông, chứ không chỉ là vì tiền. Ví dụ, khi một người ở San Francisco mua cà phê “thương mại bình đẳng” đắt đỏ, sản phẩm được cho là làm lợi cho những người trồng cà phê ở các nước đang phát triển, họ trả thêm tiền bởi vì họ muốn làm gì đó để giúp đỡ những người lạ ở cách xa hàng nghìn dặm. Nếu con người hành xử như vậy, chúng ta có thể thật sự cho rằng không có ích gì khi so sánh phúc lợi giữa những nhóm người khác nhau không?

Nhà kinh tế Julie Nelson (sinh năm 1956) ủng hộ một cách khác để đánh giá nền kinh tế đang hoạt động tốt đến đâu. Thay vì suy nghĩ về hiệu quả pareto và lựa chọn, bà sử dụng ý tưởng về “cung cấp”: làm thế nào để cung cấp cho con người những thứ mà họ cần để sống tốt. Bà thậm chí đề cập đến Adam Smith, nhà tư tưởng thường được gắn với quan điểm về lựa chọn tự do và trao đổi hàng hóa, và chỉ ra rằng ông đã nói một nền kinh tế khỏe mạnh là một nền kinh tế sản xuất những thứ cần thiết cho một cuộc sống đàng hoàng. Vậy bạn có thể định nghĩa thành công kinh tế là sự cung cấp đời sống cho tất cả mọi người bằng thức ăn, thuốc và sự chăm sóc đối với trẻ em và người già, thay vì đơn giản là việc con người đua ra lựa chọn tự do với càng nhiều tùy chọn càng tốt.

Ngày nay, một số sự thiếu thốn tồi tệ nhất mà phụ nữ phải đối mặt là kết quả của đại dịch HIV/ AIDS. Ở những đất nước nghèo, những người phụ nữ trẻ dễ bị lây nhiễm hơn so với đàn ông và đối mặt với những rào cản lớn nhất ngăn cản họ được chữa trị. Phụ nữ cũng chịu đựng gánh nặng làm thêm việc khi các thành viên khác trong gia đình bị lây nhiễm. Kinh tế học nữ quyền cho chúng ta biết rằng nếu không có những chính sách hỗ trợ họ, vấn đề về sự biến mất của phụ nữ sẽ trở nên nghiêm trọng hơn, nhưng thay đổi xã hội và chính sách tốt có thể giúp ích. Kerala nổi bật giữa các bang An Độ với nỗ lực giáo dục các bé gái, và nhiều phụ nữ ở đây hiện tại đã có công việc được trả lương. Sen nhận ra rằng Kerala, không giống hầu hết những vùng khác của Ân Độ, đã tìm lại được những người phụ nữ biến mất. Ở đây số phụ nữ nhiều hơn số đàn ông ở mức gần bằng các nước châu Âu và châu Mỹ.

Kinh tế học truyền thống không hoàn toàn bỏ qua những người phụ nữ, nhưng các nhà nữ quyền thường phản đối những câu trả lời mà nó đưa ra. Ví dụ như tại sao phụ nữ thường kiếm được ít tiền hơn nam giới? Một nhà kinh tế học truyền thống đã nói rằng đàn ông và phụ nữ đơn giản là có những sở thích khác nhau. Đàn ông thích học những thứ có thể dẫn đến một công việc được trả cao hơn - luật và khoa học chẳng hạn. Phụ nữ thường thích văn học và ngôn ngữ và trở thành giáo viên thay vì các quan tòa và kỹ sư. Tất cả vấn đề chỉ là đàn ông và phụ nữ chọn lựa cái gì, vì thế nếu phụ nữ muốn kiếm nhiều hơn thì tất cả những gì họ cần làm là thay đổi quyết định mà họ đưa ra. Các nhà kinh tế học nữ quyền phản đối quan điểm này: tất cả những gì mà quan điểm này làm được chỉ là biện minh cho những rào cản về kinh tế của phụ nữ bằng việc xem vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế là thứ mà bản thân họ đã chọn, chứ không phải là điều mà xã hội cho rằng là phù hợp với họ. Phụ nữ không cần phải thay đổi mà chính là bản thân nền kinh tế phải thay đổi. Sau tất cả, cả phụ nữ và nam giới đều hành động theo những cách phức tạp hơn so với những điều câu chuyện về “con người kinh tế lý trí” cho rằng họ sẽ làm. Các nhà kinh tế học nữ quyền cho rằng “con người kinh tế suy nghĩ hợp lý” cần một trái tim. Có lẽ điều đó có thể là sự khởi đầu của một câu chuyện kinh tế mới, một câu chuyện làm tốt hơn trong việc cải thiện cuộc sống của mọi người, cả đàn ông và phụ nữ.

CHƯƠNG 36: Tâm Trí Mịt Mù

Làm thế nào để bạn biết một cái cây cách bạn bao xa? Một phần, bạn sẽ đánh giá thông qua mức độ sắc nét và rõ ràng của nó. Cách này thường hiệu quả, nhưng đôi khi bạn bị ảo giác thị giác: chẳng hạn, khi có sương mù, bạn có thể nghĩ cái cây đó ở xa hơn thực tế.

Daniel Kahneman (sinh năm 1934) là một nhà tâm lý học người Israel nghiên cứu tâm lý học về nhận thức thị giác và sau đó chuyển sang kinh tế học. Với một nhà tâm lý học cộng sự, Amos Tversky (1937-1996), ông phát hiện ra rằng khi mọi người chấp nhận một công việc hoặc mua một tách cà phê, một làn sương mù tinh thần khiến họ không nhận thức được sự việc một cách hợp lý. Các nhà kinh tế học từ lâu đã tin rằng mọi người đều có suy nghĩ hợp lý, rằng họ cân nhắc một cách chính xác chi phí và lợi ích của các lựa chọn được bày ra trước mắt họ khi họ hành động. Kahneman và Tversky thấy rằng không phải như vậy. Họ đã dành nhiều thập kỷ quan sát việc ra quyết định trong đời thực của con người và đã góp công sức sáng tạo ra lĩnh vực nghiên cứu “kinh tế học hành vi”. Đương nhiên, tất cả mọi ngành kinh tế học đều nghiên cứu về hành vi, nhưng kinh tế học hành vi mới mẻ bởi vì nó xây dựng lý thuyết xung quanh những điều kỳ quặc trong việc ra quyết định thực tế của con người, thay vì chỉ đơn giản giả định rằng họ hoàn toàn suy nghĩ hợp lý.

Một điều kỳ quặc là mọi người cân nhắc lợi nhuận và thiệt hại khác nhau. Hợp lý mà nói, mức tăng 50 đô la sẽ bù đắp chính xác một khoản lỗ 50 đô la. Tuy nhiên, mọi người dường như ghét thua lỗ nhiều hơn là thích lợi nhuận. Khi còn là sinh viên, nhà kinh tế học hành vi Richard Thaler (sinh năm 1945) nhận thấy “sự chán ghét thua lỗ” trong một trong những giáo sư kinh tế dạy chính mình! Vị giáo sư ấy, một người yêu rượu, sẵn sàng trả giá cao cho một chai rượu vang thuộc loại nhất định để thêm vào bộ sưu tập của mình. Nhưng ông ấy thực sự ghét phải từ bỏ: ngay cả khi bạn đề nghị trả ông ấy gấp ba lần số tiền ông ấy đã trả, giáo sư vẫn sẽ không bán cho bạn một chai. Thaler và Kahneman đã tiến hành một thử nghiệm trên một nhóm người để xem điều gì đang xảy ra. Một số người trong số họ được tặng một cái cốc và sau đó được hỏi họ sẽ bán nó với giá bao nhiêu. Những người khác, chưa được nhận cái cốc, được hỏi họ sẽ trả bao nhiêu tiền cho cái cốc tương tự. Về cơ bản, hai nhóm được hỏi một câu giống nhau: họ định giá cái cốc là bao nhiêu. Tính hợp lý về kinh tế đòi hỏi họ phải đưa ra một mức định giá duy nhất. Nếu họ định giá là 5 bảng thì họ nên sẵn sàng mua hoặc bán cái cốc với giá 5 bảng; việc họ nghĩ rằng thứ gì đó đáng giá bao nhiêu không nên bị ảnh hưởng bởi việc họ có nó hay không. Nhưng sự định giá của người ta có bị ảnh hưởng bởi việc họ có chiếc cốc hay không. Khi họ đã có cốc thì họ định giá những chiếc cốc đó cao hơn so với khi họ không sở hữu chúng.

Cũng giống như một căn phòng có vẻ sáng hơn hoặc tối hơn tùy thuộc vào độ sáng bên ngoài, kết quả trông tốt hơn hoặc tệ hơn tùy thuộc vào “điểm tham chiếu” mà từ đó bạn bắt đầu. Nếu bạn bắt đầu mà không có cốc, điểm tham chiếu của bạn là không có cốc; nhận được một chiếc là lợi ích. Nhưng nếu bạn bắt đầu với một chiếc cốc, điểm tham chiếu của bạn là có cốc; từ bỏ nó được xem là tổn thất và điều đó đau đớn về tâm lý. Một khi bạn có một cái gì đó, nó trở nên có giá trị đối với bạn. Bạn giống như một đứa trẻ mới biết đi nắm chặt một cành cây tìm thấy trên mặt đất và mè nheo khi cha mẹ lấy nó đi mất. Bạn cần phải được trả khá nhiều tiền để từ bỏ chiếc cốc của bạn, cũng như giáo sư của Thaler nếu phải chia tay với rượu vang của mình.

Quyết định của mọi người có thể bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi cách một thứ gì đó được mô tả hoặc “đóng khung” so với một điểm tham chiếu. Hãy tưởng tượng rằng có một căn bệnh sẽ giết chết 600 người. Hai chương trình y tế có sẵn để chống lại nó. Một chương trình sẽ cứu được 200 người. Theo chương trình khác thì 400 người sẽ chết. Chương trình nào tốt hơn. Kahneman và Tversky phát hiện ra rằng mọi người thích chương trình đầu tiên hơn, mặc dù kết quả của hai chương trình là giống hệt nhau. Chương trình đầu tiên được diễn tả như là lợi ích, từ một điểm tham chiếu là tất cả mọi người đều chết, chương trình thứ hai như là một mất mát, từ điểm tham chiếu là tất cả mọi người đều sống. Các điểm tham chiếu ngăn mọi người ra quyết định một cách hợp lý trên cơ sở kết quả tiền tệ tuyệt đối. Nếu một chiếc máy tính xách tay được bán với giá 1.000 đô la có vẻ như chỉ là một món hàng tầm tầm, thì một chiếc máy tính xách tay giống như thế được giảm giá từ 1.500 đô la xuống còn 1.000 đô la có thể trông giống như một món hời. Các siêu thị lợi dụng điều này bằng cách thổi phồng giá của một số hàng hóa nhất định để họ có thể hạ giá chúng sau này.

Một điều kỳ quặc khác trong việc ra quyết định liên quan đến cách mọi người đánh giá sự không chắc chắn. Một người lao động đang suy nghĩ về việc làm việc tại một tiệm bánh địa phương cần phải đánh giá khả năng công ty sẽ không thể tiếp tục kinh doanh trong năm tiếp theo. Một công ty taxi muốn mở một văn phòng trong một khu vực mới của thị trấn cần phải đánh giá khả năng người dân ở đó sẽ muốn sử dụng các dịch vụ của công ty ấy. Nếu mọi người suy nghĩ hợp lý thì họ phải giỏi đánh giá xác suất của các sự kiện trong tương lai dựa trên thông tin mình có. Kahneman và Tversky cho thấy người ta không phải như vậy.

Hãy tưởng tượng một người phụ nữ tên là Carole thực sự thích âm nhạc và nghệ thuật và dành phần lớn thời sinh viên của mình đi biểu diễn nhạc jazz. Câu nào trong hai khẳng định sau đây có nhiều khả năng đúng hơn. Khẳng định một: Carole là một nhân viên ngân hàng. Khẳng định hai: Carole là một nhân viên ngân hàng và chơi kèn saxophone trong một ban nhạc địa phương. Hãy dành ít phút để nghĩ về nó. Kahneman và Tversky phát hiện ra rằng khi được hỏi loại câu hỏi này, mọi người có xu hướng nghĩ rằng khẳng định thứ hai có nhiều khả năng đúng hơn. Trên thực tế, tuyên bố một mới có nhiều khả năng là đúng hơn, bởi vì xác suất của một sự kiện rộng (Carole là một nhân viên ngân hàng) luôn luôn cao hơn của một sự kiện hẹp (Carole là một nhân viên ngân hàng và cũng chơi trong một ban nhạc). (So sánh với điều này: xác suất mưa ngày mai so với xác suất mưa từ 2 giờ chiều đến 4 giờ chiều ngày mai). Mọi người nghĩ rằng khẳng định thứ hai đại diện tốt hơn cho mô tả về Carole mà họ đã được cung cấp, nhưng mô tả đó là cái đánh lạc hướng và khiến họ đánh giá xác suất sai. Nếu mọi người bị mất phương hướng trong việc đánh giá những xác suất này, thì họ thậm chí còn dễ mắc sai lầm hơn khi đánh giá các tình huống phức tạp hơn, chẳng hạn như có bao nhiêu người trong một khu vực nhất định của thị trấn muốn sử dụng taxi.

Một số nhà kinh tế học thừa nhận những sự kỳ quặc trong quyết định của con người nhưng cho rằng chúng không quan trọng và rằng việc mô tả nền kinh tế lý trí là một sự ước lượng hữu ích. Ngược lại, các nhà kinh tế học hành vi cho rằng lý thuyết đặc biệt của họ là cần thiết để giải thích các sự kiện kinh tế quan trọng. Ví dụ, kinh tế học hành vi đã được sử dụng để giải thích tại sao trong những năm 1990 thị trường chứng khoán Mỹ cất cánh và sau đó vào năm 2000 lại chạm đáy, khiến các công ty bị phá sản và nhiều khối tài sản bị quét sạch.

Thị trường chứng khoán Mỹ đã trên đà lên kể từ đầu những năm 1980. Trong những năm 1990, mọi người đổ xô mua cổ phần trong các công ty công nghệ mới cung cấp các sản phẩm thú vị như trình duyệt web, công cụ tìm kiếm và mua sắm trực tuyến. Khi Yahoo! được niêm yết trên thị trường chứng khoán, giá cổ phần của nó đã tăng 150% vào ngày đầu tiên, lượng cầu cho cổ phần của nó lớn như vậy; hai sinh viên Đại học Stanford thành lập công ty từ nhà di động của họ nhận thấy khối tài sản của mình tăng thêm 150 triệu đô la. Nhưng nhiều công ty thu được lợi nhuận rất nhỏ. Amazon cảnh báo các nhà đầu tư rằng nó thực sự sẽ lỗ nhưng điều đó không ngăn được họ mua cổ phần của công ty này. Các nhà đầu tư tin rằng các công nghệ mới sẽ kiếm cho công ty lợi nhuận khổng lồ trong tương lai. Cuối cùng, những người bán hàng, người đi xe taxi và giáo viên còn mua cổ phần trong giờ ăn trưa của họ. Vào cuối những năm 1990, thị trường chứng khoán nhảy vọt 20, thậm chí 30% một năm. Vấn đề là thu nhập của nền kinh tế không tăng lên nhanh chóng như thế.

Một vài nhà kinh tế học đã cảnh báo rằng xu hướng này không thể tiếp tục mãi. Một người trong số họ là Robert Shiller (sinh năm 1946), người đã áp dụng kinh tế học hành vi vào thị trường tài chính. Thị trường đã được nâng lên bởi các nhà đầu tư quá phấn khích và ngay sau đó nó sẽ rơi thịch xuống mặt đất, ông nói. Vào tháng Ba năm 2000, ông đã khởi hành chuyến đi để quảng bá cuốn sách mới của mình có tên Sự hưng phấn bất hợp lý (Irrational Exuberance) - ngay đúng lúc thị trường chứng khoán sắp sửa sụp đổ. Một ngày nọ, Shiller tham gia một chương trình trò chuyện trên radio. Một người gọi điện thoại đến để nói với ông rằng cô biết ông sai: thị trường đơn giản phải tiếp tục tăng. Shiller nhớ lại sự run rẩy của cảm xúc trong giọng nói của người phụ nữ. Đối với Shiller, những gì đã xảy ra trong thị trường chứng khoán nghiêng về cảm xúc và tâm lý nhiều hơn là logic kinh tế học.

Kinh tế học nói rằng khi một công ty kiếm được lợi nhuận dồi dào, cổ phiếu của nó phải đáng giá rất cao. Các nhà đầu tư có suy nghĩ hợp lý sử dụng tất cả thông tin mà họ có về khả năng đem lại lợi nhuận của công ty để đưa ra quyết định cổ phần nào nên mua. Khi đủ người trên thị trường thực hiện điều này, giá cổ phần phản ánh tất cả các thông tin kinh tế có sẵn. Khả năng suy nghĩ hợp lý đảm bảo rằng thị trường tài chính hoạt động hiệu quả. Đây là điều mà các nhà kinh tế học gọi là thuyết thị trường hiệu quả, điều mà chúng ta đã gặp trong Chương 30, và Shiller đã bác bỏ ý tưởng đó. Ông nhận thấy rằng giá cổ phiếu bất ổn hơn so với những gì giả thuyết đó ám chỉ bởi vì chúng tăng lên và giảm xuống nhiều hơn so với mức tăng giảm của lợi nhuận công ty.

Những phát hiện của Kahneman và Tversky đã cho thấy những gì đang diễn ra. Trong thị trường tài chính, các nhà đầu tư làm điều tương tự như những người tin tưởng một cách sai lầm rằng Carole có nhiều khả năng hơn là một nhân viên ngân hàng biết chơi kèn saxophone. Thay vì nhìn kỹ vào khả năng sinh lợi của một công ty để đánh giá chính xác xác suất giá cổ phiếu của công ty đó sẽ tăng trong tương lai, mọi người liên hệ từ một tình huống trông có vẻ tương tự. Một tình huống tương tự hiển nhiên sẽ là những gì đã xảy ra với giá cổ phần trong những tháng trước. Nó đã tăng trong vòng năm tháng qua, vậy thì chắc chắn nó sẽ tăng trong năm tháng tiếp theo. Mọi người hô hào, hãy mua cổ phần nào. Tuy nhiên, những gì đã xảy ra cách đó 5 tháng, có thể không liên quan gì đến những điều kiện hiện tại, giống như mô tả về Carole chẳng liên quan gì đến xác suất thực.

Những điều kỳ quặc trong quyết định của mọi người nằm đằng sau việc thị trường chứng khoán thay đổi nhanh chóng. Đối với Shiller, thị trường chứng khoán trong những năm 1990 giống như thế giới thời trang hơn là kinh tế học dựa trên suy nghĩ hợp lý. Một năm nọ, kính râm mắt lớn là hợp thời trang, và càng nhiều người đeo chúng thì càng nhiều người muốn trở thành một phần của phong trào đó. Một thị trường chứng khoán thay đổi nhanh chóng là thời trang kinh tế thể hiện qua giá cổ phần. Các nhà kinh tế học đôi khi hình dung thị trường như một bầy đàn - hàng ngàn người chúng ta xông lên sau những người ở phía trước - hoặc như một bong bóng xà phòng trên một con gió mạnh, với giá cổ phiếu được nâng lên, nâng lên mãi. Trong những năm 1990, người ta thấy hàng xóm của họ giàu lên nhờ cổ phần công nghệ và vì thế cũng mua cổ phần, tin rằng giá sẽ tiếp tục tăng. Điều này đẩy giá lên cao hơn, khẳng định niềm tin của họ. Mọi người không mua cổ phần vì họ đánh giá tích cực về các sản phẩm của công ty và do đó giá cả liên quan rất ít đến giá trị thực của các công ty. Các nhà đầu tư có nguy cơ đổ tiền vào các công ty bất ổn - đây không phải cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực của nền kinh tế.

Đúng là máy tính và Internet đã biến đổi nền kinh tế, nhưng trong sự phấn khích về công nghệ mới đó, các nhà đầu tư loại bỏ tất cả các lý lẽ. Và chuyện đó không phải lần đầu tiên xảy ra. Vào thế kỷ 19, nhà báo người Scotland Charles MacKay đã kể về những bong bóng tương tự trong cuốn sách của ông Những ảo tưởng bất thường phổ biến và sự điên rồ của đám đông (Extraordinary Popular Delusions and the Madness of Crowds). Điều gì đã xảy ra với cổ phiếu công nghệ tại Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 20 cũng là điều đã xảy ra với hoa tulip Hà Lan trong thế kỷ 17. Ở Anh, trong thế kỷ 18, đã có một thời kỳ người dân phát cuồng với cổ phần của các công ty hứa hẹn các kế hoạch kiếm tiền điên rồ như nhập khẩu cây óc chó từ Virginia, một máy chuyển động vĩnh cửu và thậm chí là một cam kết mang lại lợi nhuận vẫn còn nằm trong vòng bí mật!

Giống như những bong bóng trước kia, bong bóng chứng khoán Mỹ tan vỡ. Khi đó, bầy đàn bắt đầu chạy theo hướng ngược lại. Người ta nhìn thấy những người khác bán cổ phần, vì vậy họ cũng bán và không lâu sau thị trường rơi vào hoảng loạn. Khi giá cổ phiếu sụp xuống, tài sản của các nhà đầu tư đã bị cuốn phăng và nhiều công ty công nghệ mới đã phải ngừng kinh doanh. Trong vòng một tuần, khối tài sản trị giá 2 nghìn tỉ đô la tan biến vào hư không. Chẳng bao lâu, bong bóng tiếp theo trôi vào tầm mắt. Shiller đã dự đoán được nó - lần này là nhà ở. Mọi người tranh giành các khoản cho vay mua nhà khi giá nhà cứ tăng lên. Và như chúng ta sẽ thấy về sau, khi bong bóng vỡ, toàn bộ hệ thống tài chính gần như đã bị phá hủy.

CHƯƠNG 37: Kinh Tế Học Trong Thế Giới Thực

Liệu chúng ta có nên cho phép việc mua bán nội tạng người - tim, thận và gan cần thiết cho những ca cấy ghép có thể cứu sống những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo hay không? Nhiều người trong chúng ta sẽ nói không. Chúng ta hoảng sợ trước ý nghĩ về những người nghèo hấp hối vì họ không đủ tiền mua thận mà người giàu có thể dễ dàng mua. Đó là lý do tại sao việc mua bán nội tạng là bất hợp pháp. Các bác sĩ quyết định những bệnh nhân nào sẽ có sức khỏe tốt hơn từ cấy ghép và sau đó cố gắng tìm những người hiến tạng phù hợp, nhưng bệnh nhân thường phải chờ một thời gian dài. Tại Hoa Kỳ, vào năm 2006, 70.000 bệnh nhân chờ đợi thận nhưng có chưa đến 11.000 ca cấy ghép được thực hiện và 5.000 người đã tử vong hoặc trở nên quá yếu nên không thể được ghép thận. Nhà kinh tế học người Mỹ Alvin Roth (sinh năm 1951) đã sử dụng các nguyên tắc kinh tế để tìm ra cách tăng số lượng nội tạng có sẵn để cấy ghép mà không diễn ra hành vi mua bán.

Giải pháp của Roth dựa trên thực tế là con người có hai quả thận nhưng có thể sống dù chỉ còn một quả, vì vậy nếu anh trai của bạn cần một quả thận, bạn có thể quyết định hiến tặng cho anh ấy một trong hai quả thận của mình. Vấn đề là khi các bác sĩ thực hiện các xét nghiệm với bạn và anh trai của bạn, họ có thể thấy rằng thận của bạn không tương thích - rằng quả thận đó không “hợp” với anh ấy. Anh trai của bạn phải tiếp tục chờ đợi một quả thận tương thích xuất hiện. Giả sử có một bệnh nhân khác và một người hiến tặng khác mà bạn hoàn toàn không biết cũng ở trong tình trạng tương tự. Điều gì sẽ xảy ra nếu thận của bạn phù hợp với bệnh nhân kia và người hiến tặng khác đó phù hợp với anh trai bạn? Chắc chắn hoán đổi vị trí sẽ là một ý tưởng tốt, phải không? Đây là điểm mấu chốt trong giải pháp của Roth. Đó là một phiên bản của một tình huống kinh tế cơ bản: nếu tôi có cá và muốn phô mai và bạn có phô mai và muốn cá thì chúng ta có thể trao đổi hàng hóa của mình, từ đó cả hai đều được lợi. Vấn đề là, thật khó để tìm thấy nhau, đó là lý do tại sao chúng ta sử dụng tiền: tôi bán cá của tôi với giá 3 bảng và sau đó đi mua một ít phô mai.

Roth thiết kế một hệ thống cho phép trao đổi thận thuận lợi mà không xảy ra việc tiền trao tay. Điều đầu tiên là lập ra một cơ sở dữ liệu về những người hiến thận và bệnh nhân cần ghép thận. Cơ sở dữ liệu được sử dụng để tìm ra những quả thận phù hợp và để trao đổi chúng. Với toán cao cấp và lập trình máy tính, Roth đã có thể tính toán các chuỗi trao đổi phức tạp giữa bệnh nhân và người hiến tặng, giúp tìm thấy thận phù hợp cho nhiều bệnh nhân hơn trước. Phương pháp của ông đã được sử dụng để tạo ra Chương trình Trao đổi thận của New England hoạt động trên mười bốn trung tâm cấy ghép thận ở New England, Hoa Kỳ. Hàng ngàn bệnh nhân đã nhận được thận, họ sẽ không thể có thận nếu không có chương trình ấy.

Hệ thống của Roth cho thấy kinh tế học có thể đem lại sự khác biệt lớn nhường nào đến cuộc sống của con người. Đây cũng là ví dụ về một loại hình kinh tế học khác. Cho đến nay, chúng ta đã nghĩ về kinh tế học như là việc mô tả cách nền kinh tế hoạt động và đánh giá nó hoạt động tốt đến đâu. Các nhà kinh tế học như Roth đi xa hơn: họ sử dụng các lý thuyết kinh tế học để tạo ra những bộ phận mới của nền kinh tế ngoài kia, trong thế giới thực. Mặc dù không liên quan đến việc mua và bán, trao đổi thận giống như một thị trường trên phương diện nó cho phép mọi người trao đổi vật phẩm với nhau. Khi Roth thiết lập cơ sở dữ liệu và chương trình máy tính của mình, ông đã tạo ra một cái gì đó tương tự như một thị trường ở nơi mà trước đây không có gì tồn tại. Đó là ví dụ về một lĩnh vực kinh tế học mới có tên gọi là “thiết kế thị trường”.

Tất nhiên là hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ cần phải tìm kiếm một quả thận. Một ví dụ thực sự nổi tiếng về thiết kế thị trường - ví dụ liên quan đến chiếc điện thoại di động nằm trong túi của chúng ta - ảnh hưởng đến nhiều người trong chúng ta hơn, và trái ngược với việc trao đổi thận, nó liên quan đến việc người mua trả một khoản tiền khổng lồ cho người bán. Trong những năm 1990 và 2000, chính phủ đã thuê các nhà kinh tế học để hỗ trợ bán giấy phép cho các công ty muốn sử dụng phổ tần số vô tuyến để thiết lập các mạng điện thoại di động. Khi bạn bán táo, chuyện đó thật dễ dàng: bạn nhìn vào giá bán táo và bán táo với mức giá đó. Nhưng các chính phủ không thể làm điều đó với các giấy phép phổ tần: các loại giấy phép này chưa từng được bán trước đây và không ai biết chúng đáng giá bao nhiêu. Chính phủ quyết định tổ chức đấu giá chúng. Trong đấu giá, một người bán cố gắng lấy mức giá tốt nhất từ một nhóm người mua cạnh tranh nhau. Đấu giá đã được sử dụng từ hàng thế kỷ trước để bán các tác phẩm nghệ thuật và hoa màu. Trong thời cổ đại đã có đấu giá nô lệ, và từng có thời kỳ toàn bộ Đế chế La Mã được đưa ra đấu giá. Điều khác biệt trong đấu giá ngày nay là nhiều trong số chúng được thiết kế bởi các nhà kinh tế học thông qua việc sử dụng một lĩnh vực kinh tế mới quan trọng được gọi là “lý thuyết đấu giá”.

Trong các cuộc đấu giá, một số người biết nhiều thông tin hơn những người khác. Trong phiên đấu giá tác phẩm hội họa, những người đấu giá biết họ đánh giá giá trị của các bức tranh là bao nhiêu, nhưng người bán thì không. Những người tham gia đấu giá muốn mua bức tranh với mức giá thấp nhất có thể. Họ muốn giả vờ rằng họ định giá bức tranh ít hơn mức họ thực sự nghĩ. Người bán, mặt khác, muốn đảm bảo những người trúng đấu giá trả với mức định giá thực sự của họ. Ở đây, người bán và người tham gia đấu giá đang chơi trò chơi với nhau, trong đó một số người có nhiều thông tin hơn những người khác, vì vậy lý thuyết đấu giá dựa trên các công cụ của lý thuyết trò chơi và kinh tế học thông tin mà chúng ta đã đi qua trong các chương trước. Thiết kế đấu giá là sự giải quyết các vấn đề về chiến lược và thông tin để đảm bảo rằng người tham gia đấu giá có định giá cao nhất trúng đấu giá và người bán có thể tối đa hóa lợi nhuận.

Lý thuyết đấu giá bắt đầu bằng cách xem xét những gì xảy ra trong các loại đấu giá khác nhau. Có thể bạn đã quen với đấu giá lên, thường được sử dụng để bán đồ cổ. Một nhà đấu giá đứng đằng sau một chiếc bình thời Minh và hét lên một mức giá, mời những người tham gia đưa ra mức giá tăng lên cho đến khi chỉ còn có một người đấu giá còn lại. Người bán đấu giá đập búa xuống và người trúng đấu giá trả tiền đấu giá rồi mang chiếc bình về nhà. Ở Hà Lan, hàng triệu bông hoa được bán mỗi ngày bằng cách sử dụng đấu giá xuống. Người bán đấu giá bắt đầu với giá cao và sau đó giảm giá cho đến khi có ai đó chào mua. Đấu giá xuống rất nhanh và rất hữu ích đối với việc bán những bông hoa cần phải được bán đi trước khi chúng héo. Nhà ở đôi khi được bán trong các phiên đấu giá “niêm phong”, trong đó mỗi người tham gia đấu giá gửi một giá đấu trong một phong bì dán kín. Người có giá đấu cao nhất trả số tiền họ đặt giá và nhận nhà.

Hãy tưởng tượng bạn đang tham gia đấu giá kín cho một ngôi nhà mà với bạn đáng giá 300.000 bảng. Bạn sẽ đặt giá bao nhiêu? Có lẽ không phải là 300.000 bảng. Bạn sẽ có chiến lược về chuyện đó và đặt giá đấu thấp hơn một chút, 250.000 bảng chẳng hạn, để nếu thắng bạn sẽ kiếm được “lợi nhuận” là 50.000 bảng. Các nhà lý thuyết đấu giá gọi nó là “che giấu” giá đặt của bạn. Nhưng người bán muốn có được mức giá cho ngôi nhà càng cao càng tốt và vì thế muốn bạn đặt mức định giá thực sự của mình là 300.000 bảng.

Vào những năm 1960, nhà kinh tế học người Canada William Vickrey (1914-1996) đã tìm ra một giải pháp vô cùng sáng suốt và phù hợp cho vấn đề che giấu. Ông nghĩ ra một loại đấu giá mà trong đó các nhà thầu có mọi động cơ để trung thực. Trong các phiên đấu giá kín thông thường, những người trúng đấu giá trả một khoản tiền bằng giá đặt của chính họ, giá thầu cao nhất. Thay vì đấu giá kín “giá cao nhất”, Vickrey đã đề xuất đấu giá “giá cao thứ hai” trong đó người trúng đấu giá là người đặt giá thầu cao nhất nhưng trả một khoản tiền bằng giá đặt cao thứ hai. Giả sử rằng trong một cuộc đấu giá nhà giá cao thứ hai, bạn đặt giá là 250.000 bảng, chứ không phải là mức bạn định giá thực sự là 300.000 bảng. Việc che giấu giá đặt của bạn sẽ không ảnh hưởng đến số tiền bạn sẽ trả cho ngôi nhà nếu bạn trở thành người đặt giá cao nhất bởi vì bạn chỉ phải trả mức giá thầu cao thứ hai. Nhưng khi đặt giá là 250.000 bảng, bạn sẽ không mua được nhà nếu ai đó đặt giá cao hơn 250.000 bảng, vì vậy, điều tốt nhất bạn có thể làm là đặt giá bằng với mức định giá thật của mình. Vickrey không phải là người đầu tiên nảy ra ý tưởng này. Vào thế kỷ 18, đại văn hào của nước Đức là Goethe đã bán cho một nhà xuất bản một trong những bài thơ của ông bằng cách sử dụng hình thức đấu giá giá cao thứ hai. Ngày nay, các phiên đấu giá của eBay hầu hết hoạt động theo nguyên tắc giá cao thứ hai, mặc dù chúng không phải là các phiên đấu giá Vickrey thực sự. Một điều khiến chuyện phức tạp hơn là giá thầu của người tham gia được tiết lộ khi thời gian bắt đầu điểm, điều này khuyến khích các chiến thuật như chờ đến phút chót để đặt giá đấu.

Điểm bất lợi tiềm ẩn của cách đấu giá của Vickrey là người bán phải chấp nhận một khoản bằng giá cao thứ hai thay vì giá thầu cao nhất. Đấu giá theo cách nào là tốt nhất? Điều đó còn tùy. Một yếu tố là thái độ của người tham gia đấu giá đối với rủi ro. Mọi người thường sợ những tình huống rủi ro - những tình huống mà ở đó họ có cơ hội thắng sẽ được rất nhiều hoặc thua sẽ không được gì cả. Việc che giấu giá đặt của bạn trong phiên đấu giá kín giá cao nhất là mạo hiểm. Nếu bạn đặt giá 250.000 bảng cho một căn nhà mà bạn định giá 300.000 bảng thì bạn có thể thắng và kiếm được lợi nhuận 50.000 bảng, nhưng bạn có thể bị người khác trả giá cao hơn và không có được gì hết. Nếu bạn ghét rủi ro, bạn sẽ có xu hướng che giấu ít hơn, có lẽ là đặt giá 290.000 bảng. Trong cuộc đấu giá giá cao nhất, nỗi ác cảm với rủi ro sẽ khiến bạn đặt giá gần với mức định giá thực của mình và số tiền đó là những gì bạn sẽ trả nếu bạn thắng. Trong cuộc đấu giá giá cao thứ hai, bạn chỉ phải trả giá đặt cao thứ hai. Trong trường hợp này, có thể người bán sẽ nhận được nhiều tiền hơn ở cuộc đấu giá giá cao nhất so với phiên đấu giá giá cao thứ hai.

Có rất nhiều loại đấu giá khác nhau về mặt lý thuyết, nhưng trong thế giới thực, các nhà kinh tế học phải điều chỉnh thiết kế của họ phù hợp với bối cảnh. Nhà kinh tế học người Anh Paul Klemperer (sinh năm 1956) đã lãnh đạo một nhóm thiết kế ra hình thức đấu giá giấy phép điện thoại di động thế hệ thứ ba của Anh được tổ chức vào năm 2000. Thiết kế này có phần giống với các phiên đấu giá nên được sử dụng để bán những mặt hàng như bình cổ. Nhưng chính phủ có một số giấy phép để bán, vì vậy chúng đã được bán cùng một lúc trong các vòng đấu giá lặp đi lặp lại. Tất cả các bên tham gia đấu giá phải đặt giá mua một thứ gì đó trong mọi vòng, điều này đã giữ cho cuộc đấu giá luôn sôi nổi.

Một vấn đề với loại đấu giá này là các nhà thầu có thể dùng mánh lới và sử dụng các vòng đấu thầu sớm để ra hiệu cho nhau ai nên mua giấy phép nào, sau đó giảm bớt giá đấu của họ. Điều này đã xảy ra trong các phiên đấu giá tương tự được tổ chức tại Mỹ trong những năm 1990. Hai công ty, U.S. West và McLeod, đang đấu giá để giành lấy một giấy phép với mã nhận dạng 378 ở Rochester, Minnesota. Giá đấu đang được đưa ra ở các mức giá làm tròn: 200.000 đô la, 300.000 đô la và cứ tiếp tục như vậy. Sau đó, U.S West đặt giá đấu là 313.378 đô la Mỹ cho một giấy phép ở Iowa mà trước lúc đó nó đã không đấu giá cao nhưng McLeod đã đặt giá nghiêm túc. U.S. West đang nói với McLeod: từ bỏ Rochester hoặc chúng tôi sẽ làm hỏng kế hoạch của quý công ty ở Iowa. Nó đem lại hiệu quả như dự kiến. McLeod đã từ bỏ cuộc đấu giá Rochester và U.S. West đã rời khỏi Iowa, mỗi bên để lại cho bên kia một con đường dễ dàng.

Klemperer muốn tránh điều này, vì vậy trong các cuộc đấu giá tại Anh, những người tham gia đấu giá không được phép đặt giá đấu cho nhiều hơn một giấy phép. Họ phải đấu giá giấy phép mà họ thực sự muốn, vì vậy họ không thể giở thủ đoạn cùng với các nhà thầu khác. Dự đoán các loại vấn đề như thế này là rất quan trọng đối với việc thiết kế đấu giá tốt. Đôi khi thiết kế thực sự tồi tệ có thể khiến một cuộc đấu giá hoàn toàn thất bại, giống như một cuộc đấu giá cho giấy phép hoạt động cho đài truyền hình ở New Zealand, chỉ thu hút một người tham gia đấu giá duy nhất, một sinh viên đại học được cấp giấy phép với giá 1 đô la New Zealand. Thiết kế của Klemperer tránh được những cạm bẫy và cuộc đấu giá ấy là lớn nhất từ trước đến thời điểm đó, huy động được 22,5 tỉ bảng cho chính phủ. Đó là một chiến thắng của kinh tế học trong thế giới thực.

Theo truyền thống, các lập luận về kinh tế học trước giờ luôn chú trọng đến các câu hỏi tổng quát. Chủ nghĩa tư bản có phải là một hệ thống tốt hơn so với chủ nghĩa cộng sản hay không? Tại sao các nền kinh tế của một số nước phát triển nhanh hơn nhiều so với các nước khác? Các nhà kinh tế như Roth và Klemperer đã hướng kinh tế học về phía những câu hỏi hẹp hơn nhưng vẫn rất quan trọng. Các nhà kinh tế học đầu tiên cũng đồng thời là các triết gia và nhà tư tưởng chính trị. Nhiều nhà kinh tế học ngày nay nhìn nhận bản thân mình giống như các kỹ sư thiết kế cầu và đập hơn. Giống như các kỹ sư có cần cẩu và đồng hồ đo, các nhà kinh tế học sử dụng các công cụ của riêng mình - các mô hình lý thuyết thông minh và toán cao cấp - để giải quyết các vấn đề cụ thể. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Roth và Klemperer khởi đầu là kỹ sư, sau đó chuyển sang kinh tế học và giúp biến các nguyên tắc kinh tế học thành những công cụ mạnh mẽ để thiết kế nền kinh tế trong thế giới thực.

CHƯƠNG 38: Những Chủ Nhà Băng Hưng Phấn

Vào cuối những năm 2000 ở San Antonio, Texas, một người phụ nữ đã viết những chữ lớn lên tường bên hông ngôi nhà của cô: “Cứu với!! Tịch biên nhà!!” Một ngân hàng sắp lấy đi quyền sở hữu căn nhà của cô ấy (nói cách khác, “tịch biên”) bởi vì cô không thể hoàn trả khoản vay mà cô đã vay để mua nó. Tại London, các chủ ngân hàng bước ra khỏi các văn phòng long lanh của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers, ôm chặt những hộp các tông có chứa đồ đạc từ bàn làm việc của họ. Ngân hàng của họ vừa mới phá sản, thất bại lớn nhất trong lịch sử công ty. Tại Athens vào năm 2010, hàng ngàn người đã xông vào quốc hội Hy Lạp, cuồng nộ với chính phủ vì việc cắt giảm lương và lương hưu. Ba người đã chết khi một số người biểu tình châm lửa đốt một ngân hàng. Những sự kiện này, dù cách nhau hàng ngàn dặm, được kết nối với nhau bằng một sự cố trong hệ thống tài chính của thế giới, sự cố mà sau năm 2007 đã làm cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu chao đảo. Sự sụp đổ đó được đặt những cái tên nghe thật u ám: Khủng hoảng tài chính toàn cầu, Khủng hoảng tín dụng, Đại Suy thoái. Ngày nay, chúng ta vẫn đang phục hồi và vẫn đang tranh luận về cách sửa chữa mọi thứ.

Cuộc khủng hoảng là một cú sốc toàn diện - ngay cả đối với các nhà kinh tế học. Trong những năm 1990, họ đã ca ngợi Thời kỳ đại ổn định, một kỷ nguyên của tăng trưởng kinh tế ổn định với tỉ lệ lạm phát thấp. Giờ đây, có vẻ như họ đã quá vui vẻ lạc quan. Mặc dù vậy, đôi khi, các nhà kinh tế học bước ra khỏi lối mòn tư duy thông thường và đi trước thời đại của họ. Người con nước Mỹ Hyman Minsky (1919-1996) là một người như thế. Mặc dù ông không còn sống khi cuộc khủng hoảng xảy ra, ông lại được nhắc tới khi nó bùng phát; nhiều người tin rằng ý tưởng của ông giải thích những gì đã xảy ra tốt hơn kinh tế học phổ biến. Những cuốn sách cũ của ông bắt đầu được bán với giá hàng trăm bảng Anh. Thế là cuộc khủng hoảng lại có một cái tên khác: “thời khắc Minsky”.

Trong những năm 1980, kinh tế học thị trường tự do đã trở lại. Các nhà kinh tế học tin rằng khi không bị can thiệp, nền kinh tế tương đối ổn định, không gặp sự tăng tốc hay sụp đổ nào ngoài tầm kiểm soát. Minsky, mặt khác, nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản lao đầu vào khủng hoảng. Điều này khiến ông ấy trở thành một người khá cấp tiến. Thái độ của ông có thể liên quan đến hoàn cảnh lớn lên của ông: cha mẹ ông là những người theo chủ nghĩa xã hội, những người nhập cư Do Thái-Nga đã gặp nhau tại một bữa tiệc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Karl Marx. Tuy nhiên, Minsky đã được truyền cảm hứng không hẳn bởi Marx mà bởi Keynes, người tin rằng nền kinh tế tư bản sẽ rơi vào tình trạng suy thoái nhanh chóng.

Ngay cả với những người theo trường phái Keynes, Minsky cũng không phải là một người có lối tư duy thông thường. Ông nhấn mạnh các khía cạnh trong tư tưởng của Keynes mà ông tin rằng những cách lý giải thông thường đã bỏ qua. Một là sự đầu tư diễn ra trong sự bất định sâu sắc. Nếu bạn xây dựng một nhà máy ngày hôm nay, bạn không biết mình sẽ kiếm được bao nhiêu tiền trong năm năm tới khi nó hoạt động. Một cách để xem xét vị trí này là coi nó như một tập hợp các xác suất về kết quả. Có 50% khả năng là thị trường của bạn sẽ tăng trưởng và 50% khả năng là thị trường sẽ thu nhỏ lại. Sự bất định sâu sắc thì khác bởi vì bạn không biết xác suất, hoặc thậm chí không biết những kết quả khác nhau có thể là gì. Do đó, việc đầu tư phụ thuộc vào việc mọi người cảm thấy lạc quan - Keynes gọi nó là tinh thần động vật của họ - chứ không phải là một sự tính toán toán học lạc quan về xác suất sinh lời trong tương lai. Khi tinh thần động vật của con người thui chột, đầu tư thất bại và nền kinh tế chùng xuống.

Keynes nghĩ rằng tiền là thứ cho phép các quyết định kinh tế diễn ra theo thời gian, đặc biệt là khi tương lai quá không chắc chắn. Một đặc điểm đáng ngạc nhiên của rất nhiều lý thuyết kinh tế học tiêu chuẩn là chúng đề cập rất ít đến tiền và ngân hàng, chính những điều mà bạn có thể mong đợi là trọng tâm của các học thuyết đó. Điều này là do lý thuyết cơ bản của thị trường liên quan đến việc mua và bán những hàng hóa thực. Bạn bán khoai tây cho tôi để bạn có thể mua cho mình một chiếc khăn quàng; điều quan trọng là bạn cần bán bao nhiêu khoai tây để có được chiếc khăn đó. Ở đây, tiền làm cho việc trao đổi khoai tây lấy chiếc khăn trở nên thuận tiện hơn, nhưng tự thân nó không làm được gì nhiều. Với Minsky, đây là một lối suy nghĩ ngược. Tiền, và các ngân hàng giúp tạo ra tiền bằng cách cho vay, là năng lượng của nền kinh tế - và rốt cuộc cũng là những thứ dẫn nó rơi vào khủng hoảng.

Minsky nói rằng khi chủ nghĩa tư bản phát triển, nó trở nên không ổn định. Lúc đầu, các ngân hàng thận trọng về những người đi vay. Khi bạn quyết định mở một doanh nghiệp với hy vọng có lợi nhuận, bạn đang đặt cược vào tương lai. Bạn trả tiền cho vụ cá cược này bằng cách lấy một khoản vay từ ngân hàng. Ngân hàng cố gắng tìm hiểu xem bạn có thể trả nợ hay không. Liệu bạn có thể kiếm đủ tiền để trả nợ? Bạn có xu hướng trả nợ trong quá khứ không? Ngân hàng cũng làm chuyện tương tự khi bạn mượn tiền để mua nhà hoặc xe hơi. Nếu bạn nhận được khoản vay, mỗi tháng bạn trả lãi cho ngân hàng cũng như một phần của khoản vay ban đầu. Số tiền của khoản nợ chưa thanh toán sẽ nhỏ dần đi và cuối cùng bạn trả hết tiền.

Minsky nói rằng chủ nghĩa tư bản thận trọng nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản táo bạo: nhiều người muốn vay hơn, và các ngân hàng muốn cho họ vay tiền vì việc đó đem lại lợi nhuận. Các ngân hàng bắt đầu cạnh tranh giành khách hàng vay và vì vậy họ phát minh ra các loại khoản vay mới để cung cấp cho các khách hàng có ít khả năng trả nợ hơn. Họ cho vay mà người vay mỗi tháng chỉ phải trả tiền lãi. Khi khoản vay ban đầu đến hạn trả nợ, ngân hàng gia hạn. Trong những năm dẫn đến khủng hoảng tài chính, các ngân hàng bắt đầu cho vay mua nhà ở theo các điều khoản như vậy. Minsky gọi nó là “cho vay đầu cơ”: các khoản vay là một vụ cá cược rằng giá nhà sẽ không giảm và lãi suất sẽ không tăng, vì vậy những người đi vay sẽ không gặp rắc rối với khoản vay của họ.

Chủ nghĩa tư bản táo bạo sau đó biến thành chủ nghĩa tư bản liều lĩnh. Nền kinh tế đang chạy đua về phía trước và thậm chí còn nhiều người muốn vay hơn. Các ngân hàng bắt đầu cung ứng các khoản vay cho những người có rất ít khả năng trả nợ - những người vay có mức thu nhập thấp nhất hoặc có tiền sử không trả nợ. Đây là những khoản vay mà họ thậm chí không phải trả tiền lãi. Mỗi tháng ngân hàng thêm tiền lãi vào nợ gốc và kích thước của khoản vay tăng lên. Các ngân hàng và người vay trông cậy vào giá nhà đang tiếp tục tăng nhanh đến mức nó sẽ vẫn lớn hơn giá trị của các khoản vay. Sau một vài năm, khi người vay bán nhà, họ sẽ kiếm đủ tiền từ giá trị căn nhà của họ để trả nợ.

Bấy giờ tinh thần động vật của những người cho vay và người đi vay được thổi bùng lên. Các ngân hàng cho vay với hy vọng giá nhà sẽ tiếp tục tăng, nhưng vì cho vay rất nhiều tiền, họ góp phần đẩy giá cả lên cao. Trong mười năm trước cuộc khủng hoảng, giá nhà ở Mỹ tăng hơn gấp đôi. Những người cho vay và người vay đã tạo ra một đường xoắn ốc đi lên tự thỏa mãn, những gì các nhà kinh tế học đôi khi gọi là bong bóng. Minsky gọi hệ thống cho vay mạo hiểm là “tín dụng Ponzi”, lấy theo tên một kẻ lừa đảo nổi tiếng người Ý là Charles Ponzi với những kế hoạch chiếm đoạt tiền bằng cách tạo ra các bong bóng lôi kéo ngày càng nhiều những nhà đầu tư nhẹ dạ cả tin.

Vấn đề của các bong bóng là chúng sẽ nổ tung. Sau đó, thời khắc Minsky đến, khi người cho vay bắt đầu cảm thấy bất an và yêu cầu khoản vay của họ được hoàn trả. Họ ngừng cho những người vay tiềm tàng rủi ro vay và giá nhà ngừng tăng nhanh. Điều đó làm suy yếu hệ thống tín dụng Ponzi, thứ phụ thuộc vào sự gia tăng nhanh chóng. Mọi người bắt đầu bán nhà và giá giảm. Những người đi vay thấy rằng họ không thể trả nợ và các ngân hàng bắt đầu tước quyền sở hữu nhà của họ. Các công ty xây dựng ngừng xây dựng nhà mới, đầu tư trong nền kinh tế bị đình trệ và đất nước rơi vào suy thoái. Đây là những gì đã xảy ra sau năm 2007.

Minsky nói rằng những đổi mới trong thị trường tài chính góp phần làm nảy sinh tín dụng đầu cơ và tín dụng Ponzi. Một điều quan trọng trong giai đoạn nước rút đến cuộc khủng hoảng tài chính là “chứng khoán hóa”. Chứng khoán là một tài sản tài chính, chẳng hạn như một cổ phần công ty có thể được mua đi bán lại. Khi một công ty bán cho bạn một cổ phần, cổ phần đó sẽ cho phép bạn nhận một khoản tiền thanh toán hàng năm (cổ tức). Khi bạn bán cổ phiếu, người mua cổ phiếu đó sẽ nhận được các khoản tiền thanh toán. Trong những năm trước khủng hoảng tài chính, các khoản vay mua nhà ở được sử dụng để tạo ra các chứng khoán có thể được mua và bán. Chứng khoán là một loại cocktail tài chính các khoản vay khác nhau. Bất cứ ai mua chứng khoán đều nhận được tiền trả nợ vay từ chủ sở hữu nhà. Tuy nhiên, có rất nhiều khoản vay là các khoản vay “dưới chuẩn”: những khoản vay được giải ngân cho những người có nguy cơ cao là không thể trả được nợ.

Trong bối cảnh giá nhà tăng nhanh, các loại chứng khoán trông giống như những ly cocktail khá ngon. Chúng cũng là những thứ cực kỳ phức tạp. (Để hiểu chính xác một số loại chứng khoán chứa gì bạn sẽ phải đọc một tỉ trang tài liệu!) Vì vậy, các nhà đầu tư mua chúng thực sự không hề biết thành phần là gì - và không thấy trước được cơn đau đầu nghiêm trọng mà chỗ chứng khoán đó sẽ gây ra cho họ. Trong thời kỳ của chủ nghĩa tư bản thận trọng, các ngân hàng quản lý chặt các khoản vay họ giải ngân và tìm hiểu nhiều nhất có thể về người vay của họ để đảm bảo rằng người vay có thể trả nợ. Có thời điểm các nhà quản lý ngân hàng quen biết riêng với khách hàng của họ và sẽ chỉ cho những người họ cho là đáng tin cậy vay. Khi các khoản vay được gói vào trong chứng khoán và sau đó được bán lại, tại sao lại phải bận tâm cẩn thận như vậy? Đối với người mua, chứng khoán trông giống như các khoản đầu tư an toàn. Kết quả là thông tin ngừng chảy qua các thị trường tài chính và, như chúng ta đã thấy trong Chương 33, không có thông tin thì thị trường không thể hoạt động tốt.

Vì sự chứng khoán hóa, những khoản tiền trả nợ vay của người phụ nữ ở San Antonio không nhất thiết được nhận bởi chi nhánh ngân hàng Texan tại San Antonio nơi cô vay. Chúng có thể đã tới một ngân hàng đầu tư ở London nơi đã mua một số chứng khoán mà khoản vay của cô đã đi vào. Ngân hàng ấy không biết gì về người phụ nữ đó, nhưng khi cô ngừng trả nợ khoản vay của mình, nó bị mất tiền. Lehman Brothers đã mua nhiều chứng khoán tới nỗi mà ngân hàng này phá sản khi hàng triệu chủ nhà ngừng trả nợ. Các ngân hàng ngừng cho vay lẫn nhau bởi vì họ sợ rằng các ngân hàng khác có thể bị phá sản. Họ cũng ngừng cho vay tiền đối với những người hoàn toàn có khả năng trả nợ. Toàn bộ hệ thống tài chính - việc chuyển tiền từ những người tiết kiệm cho những người sử dụng tiền để mua nhà hoặc thành lập doanh nghiệp - dần dần đình trệ.

Để đối phó với cuộc khủng hoảng, Mỹ, Trung Quốc và các nước châu Âu bắt tay vào đưa ra các chính sách báo hiệu sự trở lại của tư tưởng được khởi xướng bởi John Maynard Keynes - vị sư tổ về tri thức của Minsky. Như Keynes khuyến nghị, các nước này tăng chi tiêu để làm sống lại nền kinh tế, và những nỗ lực của họ dường như đã được đền đáp. Trong thời kỳ suy thoái, những khoản thâm hụt của chính phủ - khoảng cách giữa chi và thu - thường tăng lên, vì khi mọi người và doanh nghiệp kiếm được ít hơn, số tiền thuế thu được sẽ giảm. Chính phủ vay để bù đắp thâm hụt, do đó, các khoản nợ của họ cũng tăng. Sau một vài năm thực hiện chính sách Keynes, các chính phủ ở châu Âu bắt đầu lo lắng về việc thâm hụt ngân sách và các khoản nợ tăng lên. Họ đã đảo ngược chính sách đó thành chính sách “thắt lưng buộc bụng”: cắt giảm chi tiêu cho các dịch vụ công và phúc lợi xã hội. Những người theo trường phái Keynes cho rằng sự thắt lưng buộc bụng đến quá sớm. Thời gian để giảm thâm hụt là khi nền kinh tế được kích nổ một lần nữa, họ nói. Khi đó, nhiều người có việc làm và các công ty có lợi nhuận sẽ tăng nguồn thu thuế. Cho đến lúc đó, chính sách chi tiêu khắc khổ sẽ chỉ làm tăng trưởng chậm lại.

Tại Hy Lạp, chính sách thắt lưng buộc bụng là một điều kiện để nhận được sự giúp đỡ từ Liên minh châu Âu khi chính phủ phát hiện ra rằng họ không thể trả nợ. Khi chính phủ Hy Lạp cắt giảm chi tiêu cho các dịch vụ công như bệnh viện, những người biểu tình tràn ra đường. Các nhà kinh tế học thậm chí còn bắt đầu tự hỏi liệu đồng tiền của châu Âu, đồng euro, có thể tồn tại trong tình trạng hỗn loạn hay không. Ở Hy Lạp, hơn một phần tư dân số đã mất việc. Nhiều người rơi vào cảnh nghèo khổ, không đủ tiền mua thực phẩm và thuốc men, chịu cảnh ốm đau và trầm cảm. Hy Lạp là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất, nhưng sự đau khổ đã diễn ra trên khắp thế giới khi nhiều người mất nhà cửa và công việc. Đến năm 2009, thêm 30 triệu người đã mất việc.

Lý thuyết của Minsky cho chúng ta biết rằng cuộc khủng hoảng tài chính và cuộc suy thoái tiếp theo không hẳn là kết quả của những người đi vay hoặc các ngân hàng tham lam. Lý do sâu sắc hơn liên quan đến các tác động của chủ nghĩa tư bản tài chính. Những thập kỷ tăng trưởng kinh tế sau Thế chiến II đã gieo mầm cho cuộc khủng hoảng. Chủ nghĩa tư bản trở nên thiếu thận trọng hơn khi các trung tâm ngân hàng - Phố Wall của New York và thành phố London - đã giúp thúc đẩy tăng trưởng với các sản phẩm tài chính hào nhoáng, đặc biệt là từ những năm 1980, khi chính phủ đã loại bỏ những hạn chế đối với hoạt động của ngân hàng. Có lẽ, sẽ chính xác hơn khi ta gọi là Thời đại Minsky thay vì thời khắc. Phải mất nhiều thập kỷ để chủ nghĩa tư bản phát triển từ hình thức thận trọng của nó thành hình thức mạo hiểm.

CHƯƠNG 39: Những Người Khổng Lồ Trên Bầu Trời

Hãy tưởng tượng bạn đang xem một cuộc diễu hành kéo dài một giờ của người dân xếp hàng theo thứ tự thu nhập, từ mức thấp nhất đến cao nhất. Chiều cao của mỗi người tượng trưng cho thu nhập của người đó: người kiếm được mức trung bình có chiều cao trung bình và người nào kiếm được một nửa mức trung bình chỉ cao bằng một nửa. Bạn có chiều cao trung bình và bạn đang đứng trên vỉa hè xem cuộc diễu hành diễn ra. Bạn thấy gì nào? Bạn có thể trông đợi nhìn thấy một số người thấp đầu tiên; sau đó, khoảng giữa cuộc diễu hành, những người cao như bạn (những người có thu nhập trung bình đứng ở khoảng giữa của dân số); sau đó dần dần thấy những hình dáng cao hơn ở các giai đoạn sau, khi những người có thu nhập cao đi qua.

Trên thực tế, nếu cuộc diễu hành là của dân số Mỹ ngày nay, bạn sẽ nhận, thấy điều gì đó khác biệt. Trước tiên, bạn sẽ không biết rằng cuộc diễu hành đã bắt đầu bởi vì bạn sẽ không nhìn thấy những người ngay đầu hàng. Họ là những người có doanh nghiệp thua lỗ hoặc có nợ phải trả. Họ có thu nhập âm, vì vậy họ đang đào đường bên dưới mặt đất. Dù vậy, không lâu sau đó, bạn thấy mình đang nhìn xuống những hình hài bé xíu đi qua trước mặt với độ cao bằng bàn chân của bạn. Họ là những người làm công việc bán thời gian với mức lương thấp, những người già sống nhờ đồng lương hưu còm cõi và những người thất nghiệp được hưởng phúc lợi xã hội.

Sự kiện thực sự lớn đầu tiên của cuộc diễu hành là sự tiến tới của một đội quân người lùn kéo dài ra xa hút tầm mắt. Họ là những thành viên được trả lương thấp nhất của lực lượng lao động toàn thời gian, là xương sống của nền kinh tế. Bạn thấy hàng ngàn người lật bánh burger, nhân viên rửa bát và nhân viên thu ngân đi ngang qua. Họ hầu như không cao đến eo của bạn. Dần dần, mọi người trở nên lớn hơn. Tài xế taxi, nhân viên đóng gói thịt và nhân viên lễ tân đi ngang qua bạn, sau đó là nhân viên chuyển phát, nhân viên quản lý hồ sơ và chuyên gia trang trí. Ba mươi phút sau - ở khoảng giữa của dân số - những người đi qua vẫn chỉ cao đến ngực bạn. Chỉ đến sau khi đồng hồ điểm phút thứ bốn mươi, những người trong cuộc diễu hành mới có thể nhìn ngang tầm mắt bạn; bạn mỉm cười với các tiếp viên hàng không và thợ làm kim loại tấm khi họ đi qua.

Sau đó, những người diễu hành cúi xuống nhìn bạn. Nhân viên cứu hỏa cao hơn một chút so với bạn, và bạn thấy mình phải dướn cổ lên để nháy mắt với các nhà khoa học và nhà thiết kế web. Sau năm mươi phút, những người khổng lồ bước từng bước nặng nề qua: luật sư cao năm mét, bác sĩ phẫu thuật cao chín mét. Trong những giây cuối cùng, những người khổng lồ cao hàng dặm lao qua. Một số là giám đốc điều hành trong các công ty lớn như Apple và Facebook. Bạn thậm chí nhìn thoáng qua một vài ngôi sao nhạc pop và các vận động viên vô cùng to lớn - Katy Perry, Floyd Mayweather - đế giày họ cao bằng các tòa nhà, đầu họ phá tan những tầng mây.

“Phân phối thu nhập” là số tiền đi đến túi của người giàu, người có thu nhập trung bình và người nghèo, và đôi khi nó được mô tả qua hình ảnh của cuộc diễu hành này. Cuộc diễu hành minh họa điều gì đó quan trọng. Những người đứng cao nhất chuỗi phân phối thu nhập kiếm được nhiều tiền hơn phần còn lại rất nhiều, kéo mức thu nhập trung bình lên, có nghĩa là hầu hết mọi người trong dân số đều kiếm được ít hơn mức trung bình. Các nhà thống kê tóm gọn những gì bạn nhìn thấy thành một thứ biệt ngữ: họ nói rằng phân phối thu nhập của xã hội là “khập khiễng”. Các nhà kinh tế học gọi nó là sự bất bình đẳng.

Trong những năm 1970, cuộc diễu hành hẳn sẽ có đôi chút khác biệt. Bạn vẫn thấy những người khổng lồ ở cuối hàng, nhưng không phải những người có kích thước to lớn đến như vậy. Và bạn sẽ không dành quá nhiều thời gian của cuộc diễu hành nhìn xuống những người tí hơn nối bước nhau. Thu nhập được trải đồng đều hơn nhiều trong dân số. Kể từ đó, người giàu đã kiếm được lợi nhuận nhanh hơn so với phần còn lại: trong thập niên 1970, 1% người có thu nhập hàng đầu của Mỹ kiếm được dưới một phần mười thu nhập của quốc gia. Vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, những người đó kiếm được khoảng một phần năm.

Nhiều người lo lắng rằng sự bất bình đẳng đã trở nên quá rõ rệt. Trong vài năm qua, phong trào Chiếm đóng đã phản đối sự tăng trưởng nhanh chóng của những người khổng lồ cao nhất, cái gọi là “1%” của những người có thu nhập cao nhất. Ở các thành phố lớn, những người biểu tình đã cắm trại và thành lập các trường đại học tạm thời, nơi mọi người tranh luận về những lý do làm gia tăng sự bất bình đẳng và những gì có thể làm để giải quyết nó. Các giáo sư kinh tế học tham gia cuộc tranh luận. Nhà kinh tế học người Pháp Thomas Piketty (sinh năm 1971) đã xuất bản một cuốn sách vào năm 2014, Tư bản trong thế kỷ hai mươi mốt (Capital in the Twenty-First Century), phân tích sự nổi lên của những người giàu và khẳng định những lo sợ về việc họ đã vượt qua mọi người khác nhanh chóng như thế nào.

Làm thế nào mà những gã khổng lồ có thể trở nên to lớn đến vậy? Karl Marx nói rằng họ là những nhà tư bản bóc lột công nhân để kiếm tiền; Joseph Schumpeter thì nói rằng họ là những người táo bạo chấp nhận rủi ro và trở nên giàu có khi họ gặp may mắn. Kinh tế học phổ biến có một câu chuyện ít màu sắc hơn. Câu hỏi đặt ra là điều gì quyết định tiền lương, nguồn thu nhập của hầu hết mọi người. Kinh tế học nói rằng công nhân được trả tiền cho những gì họ đóng góp vào sản xuất. Những người có học thức có kỹ năng khiến họ làm việc hiệu quả hơn, vì vậy họ kiếm được nhiều tiền hơn. Trong những thập kỷ gần đây, tiến bộ công nghệ đã làm hiệu ứng đó mạnh mẽ hơn: những người được đào tạo trong ngành lập trình máy tính và kỹ thuật đã có thể kiếm được thu nhập tốt. Công nhân không có kỹ năng - những người lật bánh burger và người lau dọn - bị bỏ lại phía sau.

Piketty cho rằng mọi thứ không đơn giản như thế. Ông nói rằng thu nhập bất thường của những gã khổng lồ cao nhất không phải là kết quả của năng suất phi thường. Thật dễ dàng khi tính toán năng suất của một người chặt gỗ - đếm bao nhiêu khúc gỗ họ chặt mỗi ngày là được - nhưng làm thế nào để bạn tính toán sự đóng góp của một giám đốc điều hành trong một công ty lớn như Toyota? Thu nhập của công ty phụ thuộc vào nỗ lực của hàng ngàn người trên toàn cầu và năng suất của một người trong số đó là rất khó để chốt lại. Piketty cho rằng thay vào đó mức thu nhập hàng đầu được xác định bởi thói quen và phong tục của công ty, và theo những gì họ đã trả cho những người hàng đầu trong quá khứ.

Có một thành phần khác của sự bất bình đẳng: tài sản của mọi người, nhà cửa và cổ phiếu của họ, các doanh nghiệp và đất đai mà họ sở hữu. Thu nhập bổ sung vào tài sản, nhưng chúng không giống nhau: một người về hưu được hưởng một khoản tiền hưu trí nhỏ, sở hữu một căn nhà có giá trị thì có ít thu nhập và nhiều tài sản. Những người giàu nhất trong xã hội tích lũy được khối tài sản khổng lồ: Bill Gates và Warren Buffett, với tài sản của họ trị giá hàng chục tỉ đô la, là những ví dụ ngoạn mục.

Piketty đã tìm thấy cái mà ông gọi là “quy luật lịch sử của chủ nghĩa tư bản” giúp cho của cải ngày càng tăng. Người ta kiếm tiền từ tài sản của họ: lợi nhuận từ các doanh nghiệp và cổ phần, tiền thuê từ đất. Nếu doanh nghiệp, cổ phần và đất của bạn trị giá 10 triệu đô la và kiếm được cho bạn 1 triệu đô la một năm thì tỉ suất lợi nhuận trên tài sản của bạn là 10%. Piketty quan sát thấy rằng trong phần lớn tiến trình lịch sử, tỉ suất lợi nhuận trên tài sản vượt quá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ 3%, thì tài sản của bạn tăng trưởng nhanh hơn 7% so với sản lượng đầu ra của nền kinh tế. Tiền lương của người lao động được trả từ sản lượng kinh tế và tăng lên khi nền kinh tế cải thiện được năng lực sản xuất hàng hóa. Bởi vì tỉ suất lợi nhuận trên tài sản lớn hơn mức tăng trưởng kinh tế, tiền lương sẽ không tăng nhanh như khối tài sản 10 triệu đô la của bạn. Piketty tóm tắt nó với một công thức kết hợp tỉ suất lợi nhuận trên tài sản r, với tỉ lệ tăng trưởng của nền kinh tế g: r > g (Cuốn sách của Piketty đến mức một số người thậm chí còn bắt đầu mặc áo phông in r > g ở mặt trước!). Piketty nhận thấy rằng công thức này đã hoạt động ở Mỹ từ những năm 1970. Vào thế kỷ 21, 1% người giàu nhất nước Mỹ sở hữu khoảng một phần ba tài sản của quốc gia.

Các nhà kinh tế học đôi khi bị buộc tội không có một quan điểm vững chắc về phân phối thu nhập. Một số người trong số họ nói rằng tốt hơn là sống trong một xã hội giàu có, nơi một số người giàu hơn rất nhiều so với những người còn lại, so với sống trong một xã hội nghèo, nơi tất cả chúng ta đều bình đẳng nhưng sống trên bãi phế liệu. Và rất nhiều phần của kinh tế học hiện đại chú trọng đến hiệu quả hơn là phân phối. Trong Chương 25, chúng ta đã gặp gỡ Kenneth Arrow và Gerard Debreu, những người đã chứng minh Định lý phúc lợi thứ nhất: trong những điều kiện nhất định, thị trường có hiệu quả theo nghĩa là không có tài nguyên nào bị lãng phí. Vấn đề là có nhiều kết quả có hiệu quả, bao gồm cả những kết quả rất bất bình đẳng. Họ cũng đã chứng minh một điều khác. Giả sử rằng trong số các kết quả hiệu quả có một kết quả mà xã hội ưa thích, với sự phân phối thu nhập đồng đều. Họ cho thấy rằng với một chút thúc đẩy, thị trường có thể đưa bạn đến đó.

Để thúc đẩy thị trường, các chính phủ cần phải phân phối lại bằng cách lấy bớt nguồn lực từ người giàu và san sẻ cho người nghèo. Nhưng điều này làm rối loạn hiệu quả nếu nó ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người dân, đặc biệt là về mức độ chăm chỉ mà họ phải làm việc. Vì vậy, để đạt tới được điểm lý tưởng, chính phủ phải luân chuyển tài nguyên xung quanh mà không làm mọi người thay đổi hành vi của họ. Khi đó, thị trường đảm bảo tính hiệu quả và xã hội có thể đạt đến sự phân phối bình đẳng. Mặc dù vậy, trong thực tế, điều này là gần như bất khả thi. Cách duy nhất mà chính phủ thực sự có thể dùng để phân phối lại là đánh thuế trên số tiền mà những người giàu kiếm được và đưa nó cho người nghèo. Khi đó, các nhà kinh tế học lo lắng rằng quá nhiều thuế sẽ ảnh hưởng đến hành vi của con người: tại sao lại phải làm việc chăm chỉ nếu bạn bị trừ mất một phần thu nhập của mình vì thuế? Các nhà kinh tế học nói về sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả. Thị trường ban đầu có hiệu quả - Định lý phúc lợi thứ nhất cho thấy điều này - nhưng khi các chính phủ can thiệp bằng cách phân phối lại thu nhập, họ làm mất đi tính hiệu quả. Vì vậy, việc phân phối lại sẽ dẫn đến sự bình đẳng lớn hơn nhiều, nhưng khiến nền kinh tế tăng trưởng chậm hơn. Bạn có thể hình dung vấn đề như việc sử dụng một cái xô để mang tài sản từ người giàu sang người nghèo: sẽ luôn có nước sánh ra ngoài khi bạn xách nó trên đường. Xã hội nên cân bằng sự công bằng giành được với sự rò rỉ về hiệu quả như thế nào?

Nhà kinh tế học người Anh Anthony Atkinson (1944-2017) nói rằng tình thế tiến thoái lưỡng nan này đã bị phóng đại. Trước hết là vì, Định lý phúc lợi thứ nhất không đúng trong thực tế: thị trường không bắt đầu ở trạng thái hiệu quả mà sau đó sẽ bị phá vỡ bởi sự phân phối lại. Thị trường thường bắt đầu khá kém hiệu quả. Chiếc xô đã bị rò nước từ trước khi bạn xách nó lên. Ví dụ: thị trường không hiệu quả khi mọi người thiếu thông tin quan trọng. Một ví dụ là người sử dụng lao động không thể quan sát nhân viên của họ đang làm việc tốt đến đâu - nhưng mức lương cao hơn có thể khuyến khích mọi người làm việc chăm chỉ, nâng cao hiệu quả. Atkinson nói rằng mức lương tối thiểu hào phóng có thể làm giảm sự bất bình đẳng và tính cải thiện hiệu quả. Có nhiều lý do khác khiến sự bình đẳng và hiệu quả có thể đi cùng nhau. Các nhà kinh tế học đôi khi nói rằng sự bất bình đẳng là động lực thúc đẩy mọi người làm việc với hy vọng làm giàu. Nhưng hy vọng đó trở nên không thực tế khi sự bất bình đẳng là cực đoan. Trong trường hợp đó, sự bất bình đẳng không làm cho mọi người làm việc chăm chỉ; thay vào đó họ có thể lâm vào nỗi tuyệt vọng rằng sẽ không bao giờ có thể bắt kịp. Một nền kinh tế có năng suất cao cũng phụ thuộc vào việc lực lượng lao động của nó đang khỏe mạnh và được giáo dục, và điều này bị đe dọa khi nhiều người không thể chi trả cho việc chăm sóc sức khỏe hoặc đầu tư vào việc học hành của họ.

Nếu chúng ta nghĩ rằng sự bất bình đẳng cực đoan là không công bằng hoặc đe dọa hiệu quả kinh tế, chúng ta có thể làm bất cứ điều gì để giải quyết nó không? Có, Piketty nói. Bất bình đẳng một phần là kết quả của các lựa chọn mà xã hội thực hiện. Sau Thế chiến II, mức tăng trưởng cao và các chính phủ đánh thuế người giàu. Một g (sự tăng trưởng) cao và một r (tỉ suất lợi nhuận trên của cải) thấp kéo sự bất bình đẳng xuống. Từ những năm 1970, chính phủ đã cắt giảm thuế áp trên tài sản, đẩy r cao lên. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự suy giảm tăng trưởng kinh tế đã làm cho sự khác biệt giữa r và g thậm chí còn lớn hơn, do đó sự bất bình đẳng tăng lên. Chính phủ sau đó cắt giảm chi tiêu, làm tổn hại đến người nghèo khi dịch vụ công bị cắt giảm. Điều này tiếp tục đẩy lùi tăng trưởng, tăng cường xu hướng đang tiến triển của sự bất bình đẳng. Nếu tình trạng gia tăng của sự bất bình đẳng xuất phát từ cách chúng ta điều hành nền kinh tế, thì chúng ta hoàn toàn có khả năng xoay chuyển, Piketty nói.

Atkinson đồng ý. Cùng với đề nghị áp dụng mức lương tối thiểu, ông khuyến khích các công nghệ thúc đẩy sự bình đẳng. Thật dễ dàng nghĩ rằng công nghệ mới nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta, nhưng nó cũng là kết quả của các lựa chọn của chúng ta. Nếu chính phủ giới thiệu một hệ thống đặt lịch hẹn hoàn toàn tự động trong bệnh viện, nhân viên lễ tân sẽ mất việc làm trong khi các kỹ sư thiết kế hệ thống đó sẽ kiếm được nhiều tiền. Thay vì chi tiền cho việc phát triển hệ thống mới, chính phủ có thể quyết định đào tạo mọi người thành những nhân viên lễ tân rất hiệu quả. Điều này sẽ dẫn đến một kết quả bình đẳng hơn thông qua tỉ lệ có việc làm cao hơn (và làm cho mọi người vui vẻ hơn khi họ được nói chuyện với người thật tại bệnh viện). Và công thức của Piketty về r > g thì sao? Liệu có thể làm giảm sự bất bình đẳng bằng cách làm tăng trưởng kinh tế vượt quá tỉ suất lợi nhuận trên tài sản? Piketty nghĩ là không. Ông đề nghị giảm sự bất bình đẳng bằng cách giảm lợi nhuận trên tài sản: ông đề xuất một loại thuế toàn cầu đánh vào của cải của những người giàu nhất thế giới. Khả năng xuất hiện loại thuế đó là bao nhiêu? Trong thời điểm này, không nhiều, xét đến sức mạnh và tầm ảnh hưởng của những người khổng lồ cao nhất thế giới.

CHƯƠNG 40: Tại Sao Bạn Nên Trở Thành Một Nhà Kinh tế Học?

Hãy nghĩ về lần gần nhất bạn nghe một nhà kinh tế học nói trên bản tin, có lẽ là họ đang thao thao bất tuyệt những lời nói khó hiểu về giá cổ phiếu, lãi suất, hay bất cứ điều gì khác. Có lẽ bạn đã tin tưởng những gì nhà kinh tế học đó nói và tự nghĩ thầm trong lòng: “Chà, các nhà kinh tế học chắc hẳn phải biết họ đang nói về cái gì. Bây giờ quay lại xem bóng đá thôi”. Hãy để kinh tế lại cho các nhà kinh tế học chuyên nghiệp, bạn có thể đã nghĩ như vậy. Cùng lúc đó, các nhà kinh tế học thường phải chịu những lời chỉ trích nặng nề. Một số người nói rằng họ quan tâm đến mớ lý thuyết không thực tiễn của họ nhiều hơn là những điều thực sự tạo nên sự khác biệt cho cuộc sống của mọi người, và nhìn chung thì họ chẳng đáng tin cậy. (Hãy nhớ rằng trong thế kỷ 19, Thomas Carlyle đã nói rằng kinh tế học là “ngành khoa học ảm đạm”, trong khi Thomas de Quincey ám chỉ rằng các nhà kinh tế học có bộ não như cây nấm!)

Với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra vào đầu thế kỷ này, các nhà kinh tế học thậm chí còn bị chỉ trích nặng nề hơn. Ngay cả Nữ hoàng Elizabeth đệ Nhị cũng nghi ngờ họ. Trong cuộc khủng hoảng, bà đã đi đến Đại học Kinh tế London và hỏi các nhà kinh tế học tại sao không ai trong số họ đã nhận thấy cuộc khủng hoảng sắp tới gần. Nhiều người nghĩ rằng các nhà kinh tế học đã hoàn toàn mất liên hệ với thực tế. Họ vẽ ra các lý thuyết toán học thông minh nhưng không màng đến việc nền kinh tế thực tế bên ngoài não bộ của họ thực sự hoạt động như thế nào. Ngay cả các giáo sư nổi tiếng ngành kinh tế học cũng đã nói như vậy.

Các nhà kinh tế học đơn giản hóa thế giới và điều đó là tốt thôi. Để giải thích bất cứ điều gì, bạn phải loại bỏ những điều ít quan trọng nhất để thấy điều gì là quan trọng nhất. Nhưng các nhà phê bình nói rằng các nhà kinh tế học đã đi quá xa. Họ đã quên rằng thế giới bên ngoài lý thuyết của họ phức tạp đến nhường nào. Họ đã có hai sự đơn giản hóa nguy hiểm. Họ tin rằng thị trường hiệu quả - rằng nó dẫn đến việc tận dụng tốt nhất các nguồn lực của xã hội - và về mặt tổng thể, mọi người có suy nghĩ hợp lý - họ tận dụng tốt thông tin để cân nhắc chi phí và lợi ích. Trong cuộc khủng hoảng tài chính, thị trường đã thất bại nặng nề và mọi người chắc chắn đã không hành động hợp lý. Kinh tế học đã thất bại, có vẻ như vậy. Sau tất cả những điều này, có ai lại chọn trở thành một nhà kinh tế học cơ chứ? Trong thực tế, lần tới khi bạn thấy các nhà kinh tế học nói trên bản tin, thay vì chấp nhận những gì họ nói, có lẽ bạn sẽ muốn phi ngay một viên gạch vào màn hình.

Nhưng hãy giữ viên gạch của bạn lại một lát. Kinh tế học đã có những thành công của nó. Hãy nghĩ lại câu chuyện của chúng ta về cách các nhà kinh tế học thiết kế ra các hệ thống để ghép những người hiến tặng thận với bệnh nhân và bán đấu giá giấy phép điện thoại di động. Những điều đó sẽ là bất khả thi nếu các nguyên tắc kinh tế không được áp dụng một cách khéo léo và chính xác. Kinh tế học giải quyết tốt những vấn đề cụ thể này.

Mặc dù vậy, có lẽ những vấn đề này dường như quá chuyên biệt. Để kết thúc câu chuyện về kinh tế học của chúng ta, chúng ta hãy cùng xem xét một ý tưởng kinh tế học cuối cùng, một ý tưởng liên quan đến việc bảo vệ hành tinh này, nguồn tài nguyên tối thượng mà chúng ta phụ thuộc vào để tồn tại. Nó không có gì khác ngoài việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế cơ bản mà chúng ta đã thấy trong cuốn sách này. Nó giải quyết hiện tượng nóng lên toàn cầu, một vấn đề cụ thể mà kinh tế học có thể giúp ích rất nhiều, cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến mỗi người chúng ta, đến cả con cháu của chúng ta nữa. Nó cho thấy rằng kinh tế học không xa rời thế giới thực, như một số người nói - không hề. Kinh tế học quan tâm rất nhiều đến thế giới và có thể góp phần bảo vệ nó.

Hầu hết các nhà khoa học tin rằng lượng cácbon điôxít do các nhà máy thải ra khi đốt than hoặc dầu đã gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu - sự gia tăng nhiệt độ trung bình của đất liền và đại dương. Nó cũng làm cho khí hậu bất ổn hơn. Điều này sẽ có giá rất đắt: lũ lụt và hạn hán sẽ làm gián đoạn nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á. Khi các tảng băng tan, mực nước biển sẽ dâng lên và nhiều làng mạc và thị trấn sẽ bị ngập lụt; một số có thể sẽ thành không thể ở được.

Để ngăn chặn hiện tượng nóng lên toàn cầu, việc tất cả chúng ta đồng ý rằng nó thật tệ hại sẽ là không đủ. Chỉ mình điều đó sẽ không làm hành vi của chúng ta thay đổi. Để đối phó với vấn đề này, chúng ta cần một liều thuốc kinh tế học. Hiện tượng nóng lên toàn cầu là một phiên bản của một vấn đề mà các nhà kinh tế học đã nghiên cứu đi nghiên cứu lại: thất bại thị trường. Cụ thể, hiện tượng nóng lên toàn cầu là một ảnh hưởng ngoại lai. Như chúng ta đã thấy trước đó, một ảnh hưởng ngoại lai là tác dụng phụ không mong muốn của một cái gì đó, chẳng hạn như chuyện tiếng thổi kèn trumpet của người hàng xóm làm phiền bạn. Người hàng xóm của bạn không phải trả chi phí gì, vì vậy rốt cuộc là anh ta chơi quá nhiều. Nhà kinh tế học người Mỹ William Nordhaus (sinh năm 1941) cho rằng khí thải cácbon điôxít là một dạng ảnh hưởng ngoại lai đặc biệt bởi vì nó lan rộng trong không gian và theo thời gian. Nó trải rộng trên toàn cầu bởi vì khí cácbon điôxít phát ra từ một nhà máy ở Đức bổ sung vào tổng lượng loại khí này trong bầu khí quyển của trái đất và mức tổng gây ảnh hưởng đến khí hậu; khí thải của Đức ảnh hưởng đến nông dân ở Trung Quốc và Brazil. Nó kéo dài nhiều thế hệ bởi vì khí cácbon điôxít phát ra ngày nay sẽ làm nóng hành tinh trong nhiều thập kỷ tới; khí thải của Đức ngày nay sẽ ảnh hưởng đến hậu duệ chưa sinh ra của nông dân ở Trung Quốc và Brazil. Nordhaus gọi khí thải cácbon điôxít là một “ảnh hưởng ngoại lai kép”.

Bởi vì cácbon điôxít là một dạng ảnh hưởng ngoại lai có tính cực đoan như vậy, quá nhiều khí này đã được thải ra. Mức thải “đúng” là bao nhiêu? Giả sử rằng tấn khí cácbon điôxít cuối cùng do một nhà máy thải ra gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới với các vụ mùa bị tàn phá và các ngôi làng bị ngập lụt cộng lại là 50 bảng. Vì thế, bằng cách tránh thiệt hại, việc không phát ra tấn khí cuối cùng có lợi ích 50 bảng. Dù vậy, để không phát thải ra nó thì phải tốn chi phí. Có lẽ nhà máy sẽ phải lắp đặt các bộ lọc trong ống khói của nó. Nếu các bộ lọc có giá 40 bảng thì để nhà máy lắp đặt chúng và không phát ra thêm tấn khí sẽ tốt hơn cho toàn thể xã hội. Nhà máy nên giảm bao nhiêu khí phát thải? Các nguyên tắc kinh tế ngụ ý rằng nó nên giảm cho đến khi lợi ích từ tấn khí được giảm cuối cùng bằng đúng chi phí.

Giả sử một nhà kinh tế học tính tổng tất cả các chi phí và lợi ích và nói rằng xã hội phải giảm một nửa lượng phát thải của nó. Để giảm được đến mức này, chính phủ có thể yêu cầu mọi người giảm một nửa lượng phát thải của họ. Chính phủ thậm chí có thể cấm đốt than. Nordhaus nói rằng bằng cách sử dụng các nguyên tắc kinh tế học, các chính phủ có thể đạt được mức giảm với chi phí thấp hơn: họ có thể khiến mọi người giảm phát thải của mình bằng cách áp thuế trên khí cácbon. Ý tưởng là làm cho chi phí thải khí cácbon có ảnh hưởng lớn hơn đến các quyết định kinh tế của con người. Chính phủ nên đặt thuế suất ở mức bảo đảm rằng xã hội chỉ tạo ra một nửa lượng khí ô nhiễm so với trước đây.

Phương pháp dựa trên thuế rẻ hơn vì một số người có thể giảm phát thải dễ dàng hơn những người khác. Giả sử chính phủ áp thuế lên xăng. Những người giáo viên có thể bắt đầu đạp xe đi làm. Việc giảm lượng phát thải khí cácbon làm tốn của họ ít chi phí, ít hơn giá tăng lên của một lít xăng. Tuy nhiên, những người chơi contrabass chỉ có thể đến các buổi diễn tập bằng xe hơi, vì vậy chi phí mà họ phải bỏ ra để giảm lượng khí thải cácbon rất cao. Họ chấp nhận trả tiền xăng với giá cao và tiếp tục lái xe. Dưới thuế, người dân và các công ty chỉ tốn ít chi phí khi giảm phát thải cácbon giảm lượng cácbon họ sử dụng nhiều hơn những người phải bỏ ra chi phí cao. Chính phủ đã đạt được mục tiêu giảm phát thải với chi phí tổng thể cho xã hội thấp hơn so với việc chỉ đơn giản nói rằng mỗi cá nhân và công ty phải giảm một nửa lượng phát thải của họ.

Một giải pháp kinh tế khác là phát hành “giấy phép kinh doanh cácbon”. Chúng là giấy chứng nhận cho phép bất cứ ai sở hữu một giấy như vậy phát thải một tấn khí cácbon điôxít. Không có chứng chỉ đó thì bạn không được phép phát thải. Để đạt được số lượng tấn khí thải mục tiêu, chính phủ ban hành số lượng chứng chỉ tương ứng. Các công ty sau đó có thể mua và bán chứng chỉ. Một công ty khó cắt giảm khí thải có thể mua giấy phép từ một công ty có khả năng cắt giảm dễ dàng hơn. Như với một khoản thuế, những người gây ô nhiễm có thể giảm thiểu lượng khí thải của họ với ít chi phí là những người giảm thiểu lượng phát thải nhiều nhất. Vào những năm 1990, nước Mỹ đã sử dụng giấy phép để làm giảm sự ô nhiễm gây ra “mưa axit” hủy diệt các khu rừng và hồ nước.

Chúng ta chưa hề giải quyết được vấn đề ảnh hưởng ngoại lai kép của sự phát thải khí cácbon. Một giải pháp toàn diện sẽ đòi hỏi sự hợp tác giữa nhiều xã hội với thái độ khác nhau đối với môi trường. Tuy nhiên, với những vấn đề môi trường ít nan giải hơn như mưa axit, kinh tế học đã giúp ích, và Nordhaus tin rằng với việc ứng dụng quyết đoán công cụ cơ bản nhất của kinh tế học - cân bằng chi phí và lợi ích - chúng ta vẫn có thời gian để giải quyết vấn đề nóng lên toàn cầu và tránh được thảm họa ở quy mô hành tinh.

Mặc dù mang trong mình nhiều khiếm khuyết, kinh tế học là tối quan trọng đối với nhân loại. Các ý tưởng kinh tế cơ bản nhất là những công cụ mạnh mẽ để giải quyết tất cả các loại vấn đề, đặc biệt là những vấn đề cụ thể. Chúng bao gồm những thứ như sự nóng lên toàn cầu, điều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người ở các thế hệ mai sau.

Nhưng kinh tế học đã phải vật lộn với những câu hỏi rộng hơn về cách các xã hội loài người trên phương diện tổng thể vận hành. Các xã hội tiến bộ tốt hơn với thị trường tự do và cạnh tranh hay bởi những người đồng thuận và cùng nhau hợp tác? Thị trường tài chính nên đóng chính xác vai trò gì trong sự tăng trưởng của nền kinh tế? Những loại câu hỏi này khó trả lời hơn với các nguyên tắc kinh tế học đơn giản. Đó là một phần lý do tại sao nhiều nhà kinh tế học đã không nhìn thấy cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đang tiến đến. Và rất lâu trước khủng hoảng, các nhà kinh tế học đã sử dụng lý thuyết của họ về thị trường tự do và suy nghĩ hợp lý để thiết kế lại toàn bộ xã hội, chẳng hạn như ở châu Phi vào những năm 1980 và Nga vào những năm 1990 sau khi chủ nghĩa cộng sản kết thúc. Kết quả là thảm họa. Các nhà kinh tế học đã đẩy các nguyên tắc cơ bản của họ đi quá xa và không hiểu được các khía cạnh chính trị và, xã hội rộng lớn hơn của các xã hội mà lý thuyết của họ đã bỏ qua.

Nếu bạn nghiên cứu kinh tế học tại trường đại học, bạn chủ yếu học về những nguyên tắc kinh tế học cơ bản đó. Chúng rất mạnh và hữu ích nhưng bạn nên sử dụng chúng cẩn thận. Một số người nghĩ rằng chúng không thực sự “khoa học” chút nào. Họ nói rằng bên dưới phương trình của các nhà kinh tế học là một lý tưởng chính trị bảo thủ nói rằng thị trường tự do, cạnh tranh và nỗ lực cá nhân là những gì quan trọng hơn tất cả những thứ khác. Một vài năm trước, sinh viên ở Anh và Mỹ đã chán ngấy với các giáo viên kinh tế học của họ và bước ra khỏi lớp học. Họ tin rằng kinh tế học là một sự biến dạng của thực tế, và họ muốn nó chú trọng nhiều hơn đến thế giới thực, vốn lộn xộn và không thể đoán trước và khó thu lại thành những phương trình.

Nhưng cũng hãy nhớ rằng, trong quá trình lịch sử lâu dài mà chúng ta đã thấy trong cuốn sách này, các nhà tư tưởng đã xem xét nền kinh tế theo nhiều cách khác nhau và họ có đủ loại đức tin chính trị. Một số người ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản, một số muốn sửa chữa nó, một số muốn tiêu diệt nó. Những gì có xu hướng bị loại ra khỏi các khóa học kinh tế cơ bản là những ý tưởng của các nhà tư tưởng nổi loạn như Thorstein Veblen, Karl Marx và Friedrich Hayek, và ngay cả những người được chấp nhận nhiều hơn như Adam Smith và John Maynard Keynes. Tất cả họ đều quan tâm đến những câu hỏi lớn nhất về cách các nền kinh tế và xã hội phát triển và quan tâm ít hơn đến câu hỏi hẹp về cách mọi người và doanh nghiệp cân nhắc chi phí và lợi ích khi họ chọn tủ lạnh hoặc thuê văn phòng mới.

Các nhà kinh tế học mà chúng ta đã gặp trong các trang sách này đã đưa ra những ý tưởng khác nhau để giải quyết các vấn đề trong thời đại của họ. Trong kinh tế học, không có một câu trả lời “đúng” nào đúng mãi mãi, như trong các bài toán. Bằng cách trân trọng những phản ứng khác nhau của các nhà tư tưởng trong lịch sử, chúng ta có thể lấy cảm hứng để đưa ra ý tưởng mới của mình, những ý tưởng mới mà chúng ta cần để có thể đối mặt với các vấn đề kinh tế ngày nay, cho dù đó là sự bất bình đẳng cực đoan, khủng hoảng tài chính hay hiện tượng nóng lên toàn cầu. Xử lý những vấn đề đó một cách đúng đắn sẽ giúp nhiều người hơn trong chúng ta có cơ hội có một cuộc sống tốt đẹp; xử lý sai thì rất nhiều người sẽ phải chịu cảnh khốn khổ. Một số người sẽ chết nếu họ không thể có thực phẩm và thuốc men mà họ cần. Đó là một nhiệm vụ cho tất cả chúng ta, không chỉ cho các nhà kinh tế học chuyên nghiệp.

Ở đầu câu chuyện của mình, chúng ta đã gặp những người đầu tiên suy nghĩ về kinh tế học: các nhà triết học của Hy Lạp cổ đại. Họ quan tâm đến những câu hỏi cơ bản nhất của cuộc sống, những câu hỏi mà ngày nay chúng ta vẫn chật vật tìm lời giải. Phải làm gì để sống tốt trong xã hội loài người? Mọi người cần gì để được hạnh phúc và thỏa mãn? Điều gì làm cho họ thực sự phát triển mạnh mẽ? Đó là nơi kinh tế học bắt đầu và, sau tất cả các tranh luận và bất đồng, đó là nơi mà nó phải bắt đầu lại một lần nữa.

Bệnh hậu bối là một bệnh nhiễm khuẩn ở da thường liên quan đến nhiều nang lông. Vật liệu bị nhiễm tạo thành một cục u, xảy ra sâu trong da và có thể chứa mủ. (DG)

Juggernaut: (tên một vị thánh ở Ấn Độ; hình ảnh vị thánh này trước kia thường được đặt trên một chiếc xe diễu qua phố và những người cuồng tín thường đổ xô vào để xe cán chết. (DG)

Luật hạn chế nhập khẩu ngô vào Anh Quốc - Luật Ngô (Corn Law) là đạo luật của Anh ra đời năm 1815 và bị hủy bỏ vào năm 1846. Mục tiêu của đạo luật là giữ giá lúa mì ở mức cao bằng cách cấm nhập khẩu khi giá trong nước giảm xuống dưới một mức nhất định.

Animal Spirits, tinh thần động vật là thuật ngữ mà John Maynard Keynes sử dụng trong cuốn sách nàm 1936 của ông Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền bạc để mô tả bản năng, khuynh hướng và cảm xúc có ảnh hưởng và hướng dẫn hành vi của con người.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.