Lý sự cùn - Chương 06

NHẬN XÉT CUỐI CÙNG

Cách đây nhiều năm, tôi được nghe một giáo sư giới thiệu cách suy lý diễn dịch bằng cách dùng một ẩn dụ tuyệt vời, mô tả chúng như những ống dẫn kín nơi mà chân lý vào ở đầu này rồi chân lý ra ở đầu kia. Tình cờ, nó gây cảm hứng cho minh họa bìa của cuốn sách này. Đọc đến cuối sách, tôi hy vọng khi buông nó ra, bạn không chỉ hiểu tốt hơn về lợi ích của những lập luận chặt chẽ trong việc mở rộng và làm tăng hiệu lực của kiến thức, mà còn hiểu tính phức tạp của những lý lẽ quy nạp trong đó có vai trò của xác suất. Đặc biệt với tính xác suất ấy, tư duy phê phán tỏ ra là một công cụ không thể thiếu. Quan trọng hơn, tôi hy vọng khi buông sách xuống, bạn sẽ có ý thức sâu hơn về sự nguy hiểm của những lý lẽ hời hợt, tấm thường và nông cạn đang lan tràn trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta như thế nào.

• • •

Tôi thấy việc duy nhất thích hợp để kết thúc cuốn sách, là gửi lời cảm ơn đến những người mà nhờ họ tôi có niềm vui được nhìn thấy dự án này tiến triển từ lúc còn ở dạng phôi thai đến khi nó chắp cánh: Cảm ơn tất cả mọi người đã gửi những bình luận và phê bình của họ (sự phản hồi chắc chắn đã làm cho cuốn sách hay lên); cảm ơn 700.000 bạn đọc đã mua ấn bản trực tuyến, gần 4.000 bạn đọc đã ủng hộ dự án bằng cách quyên vốn hoặc mua những cuốn xuất bản lần đầu, các nhà sách đã có lòng tốt nhập về ấn bản đầu tiên, cho dù nó còn tối tăm, khó hiểu; và đặc biệt, xin cảm ơn những bạn tình nguyện đã dịch ấn bản online sang tiếng nước họ.

Đây là một hành trình tuyệt vời, và tôi tin rằng nó chỉ là một trong nhiều hành trình sắp tới.

CÁC ĐỊNH NGHĨA

LÝ LẼ (argument): một tập hợp những mệnh đề nhằm thuyết phục thông qua lập luận. Trong một lý lẽ, có một tập hợp con các mệnh đề gọi là tiền đề, dùng để chống đỡ cho một mệnh đề khác gọi là kết luận.

mệnh đề (proposition): một tuyên bố - hoặc là đúng, hoặc là sai - nhưng không bao giờ là cả hai. Ví dụ: “Boston là thành phố lớn nhất ở Massachusetts”.

tiền đề (premiss): một mệnh đề dùng để chống đỡ cho kết luận của một lý lẽ. Một lý lẽ có thể có một hoặc nhiều tiền đề.

có thể sai (falsifiable): một mệnh đề hoặc một lý lẽ là có thể sai khi nó có thể bị bắt bẻ/ bị bác bỏ thông qua quan sát hoặc kiểm nghiệm. Chẳng hạn: Mệnh đề “Tất cả lá đều xanh” có thể bẻ lại bằng cách chỉ ra một chiếc lá không phải màu xanh. Tính có thể sai là dấu hiệu về điểm mạnh của một lý lẽ, hơn là điểm yếu của nó.

NGỤY BIỆN LOGIC (logical fallacy): một sai lầm trong lập luận được dùng để chuyển từ một mệnh đề sang mệnh đề kế tiếp, dẫn đến một lý lẽ sai. Ngụy biện logic vi phạm một hay nhiều nguyên tắc làm nên một lý lẽ tốt - như cấu trúc tốt, tính nhất quán, rõ ràng, trật tự, sự liên quan và hoàn chỉnh. Điều quan trọng cần chú ý là việc tìm ra một ngụy biện trong lập luận không giống như việc chứng minh kết luận sai của nó - kết luận có thể là đúng, nhưng cũng có lập luận tốt hơn để chống đỡ cho nó đứng vững.

ngụy biện Hình thức (formal fallacy): một sai lầm trong lập luận là phi logic bởi vì cấu trúc của nó là sai. Có thể phát hiện ra loại ngụy biện này bằng cách phân tích hình thức của mệnh đề, mà không cần phải đánh giá nội dung của nó. (Chẳng hạn, xem ngụy biện “Khẳng định kết quả”, trang 32).

ngụy biện Phi hình thức (informal fallacy): một sai lầm trong lập luận là phi logic vì nội dung và ngữ cảnh của nó, hơn là do hình thức của nó. Để được coi là Ngụy biện Phi hình thức, thông thường sai lầm phải thuộc loại cầu viện - tức lợi dụng đến một cái gì đó (gần như tất cả các ngụy biện trong sách này là Phi hình thức).

LÝ LẼ DIỄN DỊCH (deductive argument): một lý lẽ mà trong đó nếu các tiền đề là đúng thì kết luận cũng phải đúng. Ta nói kết luận được suy ra một cách tất yếu logic từ các tiền đề. Thí dụ: “Tất cả mọi người đều phải chết. Socrates là một con người. Do đó, Socrates cũng phải chết”. Một lý lẽ diễn dịch nhằm đạt đến tính hợp lý, nhưng tất nhiên, nó có thể không đạt.

hợp lý (valid): Một lý lẽ diễn dịch là hợp lý nếu kết luận thật sự được suy ra một cách logic từ các tiền đề của nó. Nếu không, ta nói nó không hợp lý (invalid). Tính từ hợp lý và không hợp lý chỉ dùng cho các lý lẽ, không dùng cho các mệnh đề.

vững (sound): Một lý lẽ diễn dịch là vững nếu nó hợp lý và các tiền đẽ của nó là đúng. Nếu một trong các điều kiện trên không thỏa mãn, thì lý lẽ ấy là không vững. Sự đúng đắn được xác định bằng cách nhìn xem các tiền đề và kết luận của lý lẽ có ứng với sự thật trong thế giới thực hay không.

LÝ LẼ QUY NẠP (inductive argument): Một lý lẽ mà trong đó nếu các tiền đề là đúng thì có thể kết luận cũng sẽ đúng13. Kết luận không được suy ra từ các tiến đế một cách tất yếu logic, mà có tính xác suất. Chẳng hạn: “Trong mọi thời gian chúng ta đo tốc độ ánh sáng trong chân không, lúc nào nó cũng bằng 3x1 o8 m/s. Do đó, tốc độ ánh sáng trong chân không là một hằng số vũ trụ”. Lý lẽ quy nạp thường đi từ các trường hợp đặc biệt đến tổng quát.

mạnh (strong): một lý lẽ quy nạp là mạnh nếu, trong trường hợp các tiên đề của nó là đúng, thì xác suất cao là kết luận của nó cũng đúng. Ngược lại, nếu không chắc chắn kết luận của nó là đúng, thì nó được coi là yếu. Vì dựa trên xác suất nên các lý lẽ quy nạp không phải là truth-preserving (cái đúng của tiền đề được bảo tồn trong kết luận). Không phải từ những tiền đề đúng nhất thiết phải suy ra kết luận đúng.

chắc (cogent): một lý lẽ quy nạp là chắc nếu nó mạnh và các tiền đề của nó là thật sự đúng - tức là phù hợp với thực tế. Ngược lại, nó được coi là không chắc.

SÁCH THAM KHẢO

Aristotle, “Bắt bẻ ngụy biện” (On Sophistical Refutations), dịch bởi w. A. Pickard- Cambridge. http://classics.mit.edu/Aristotle/sophist_refut.html.

Avicenna, “Những luận văn của Avicenna vê' logic” (Avicennas Treatise on Logic), dịch và biên tập bởi Farhang Zabeeh. The Hauge: Nijhoff, 1971.

Lewis Carroll, “Những cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ sở diệu kỳ” (Alices Adventures in Wonderland), www.gutenberg.org/files/ 11/11-h/ll-h.htm.

Gary N. Curtis, “Hồ sơ ngụy biện” (Fallacy Files), http://fallacyfiles.org.

T. Edward Darner, “Tấn công lập luận sai: Chì dẫn thực tế cho lập luận không mắc lỗi ngụy biện” (Attacking Faulty Reasoning: A Practical Guide to Fallacy-Free Arguments), ấn bản lần 6, NXB Wadsworth Cengage Learning, Belmont, CA, 2009.

s. Morris Engel, “Với lý lẽ tốt: Giới thiệu Ngụy biện Phi hình thức” (With Good Reason: An Introduction to Informal Fallacies), NXB Bedford/St. Martin’s, Boston, 1999.

Graham Farmelo, “Con người kỳ lạ nhất: Cuộc sống bí ẩn của Paul Dirac - Nhà thẩn bí vể nguyên tử” (The Strangest Man: The Hidden Life of Paul Dirac, Mystic of the Atom), NXB Basic Books, New York, 2011.

James Fieser, “Bách khoa toàn thư Triết học trên Internet” (Internet Encyclopedia of Philosophy), www.iep.utm.edu.

Stuart Firestein, “Sự ngu dốt đã thúc đẩy khoa học như thế nào” (Ignorance: How It Drives Science), NXB Oxford Univ. Press, Oxford, 2012.

David Hackett Fischer, “Những ngụy biện của các nhà Sử học: Tiến tới một logic của tư duy lịch sử” (Historians’ Fallacies: Toward a Logic of Historical Thought), NXB Harper & Row, New York, 1970.

Antony Flew, “Suy nghĩ vẽ việc suy nghĩ” (Thinking about Thinking), NXB Fontana/ Collins, Glasgow, 1975.

Robert J. Gula, “Sự vô lý: sổ tay về những ngụy biện logic” (Nonsense: A Handbook of Logical Fallacies), NXB Axios Press, Mount Jackson, VA, 2002.

Charles Hamblin, “Những ngụy biện” (Fallacies), NXB Methuen, London, 1970.

Stephen King, “Về cách viết: Ký ức của Craft” (On Writing: A Memoir of the Craft), NXB Scribner, New York, 2000.

Marvin Minsky, “Xã hội của trí tuệ” (The Society of Mind), NXB Simon & Schuster, New York, 1988.

George Pólya, “Giải một bài Toán như thê nào? Một khía cạnh của phương pháp Toán học” (How to Solve It: A New Aspect of Mathematical Method), NXB Princeton Univ. Press, Princeton, 2004.

Charlotte Pritchard, “Sôcôla có làm bạn thông minh hơn?” (Does Chocolate Make You Clever?), BBC News Magazine, 19/9/2012. http://bbc.co.uk/news/magazine-20356613.

Bertrand Russell, “Những vấn để Triết học” (The Problems of Philosophy), NXB Williams & Norgate, London, 1912. http://ditext.com/russell/russell.html.

Carl Sagan, “Thế giới bị quỷ ám: Khoa học như một ngọn nến trong bóng tối” (The Demon-Haunted World: Science as a Candle in the Dark), NXB Random House, New York, 1995.

Donald E Simanek, “Sử dụng và Lạm dụng logic” (Uses and Misuses of Logic).http:// lhup.edu/~dsimanek/philosop/logic.htm.

Peter Smith, “Nhập môn Logic Hình thức” (An Introduction to Formal Logic), NXB Cambridge Univ. Press, Cambridge, 2003.

VỀ TÁC GIẢ VÀ HỌA SĨ MINH HỌA

All Almossawi, Thạc sĩ Thiết kế Công nghệ, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và Thạc sĩ Thiết kế Phẩm mềm của Đại học Carnegie Mellon. Anh sống ở San Francisco với vợ và con gái, tại đây anh giữ vị trí Nhà thiết kế Dữ liệu Thị giác trong Mozzilas Metric Team, và đôi khi cộng tác với Phòng Thí nghiệm Truyền thông của MIT. Trước đây, Ali dành thời gian ở cả Đại học Harvard và Viện Công nghệ Phẩn mềm (SEI), tại đây anh nghiên cứu nhằm tạo ra những mô hình dự đoán chất lượng mã nguồn. Các công trình của anh xuẫt hiện trên các tạp chí Scientific American, Wired, The New York Times, Fast Company và nhiều tạp chí khác.

Almossawi.com

Alejandro Giraldo có bằng Thiết kế đồ họa của ƯPB Medellin và bằng Chỉ đạo Nghệ thuật của ELISAVA (Trường Thiết kế và Công nghệ Barcelona). Anh sống ở Medellin, Colombia. Tại đây, anh làm việc cho nhiều dự án tự do.

AlejoGiraldo.com

Notes

[←1]

Còn về những việc nên làm, hãy tìm đọc cuốn “Tấn công luận điểm sai trái” (Attacking Faulty Reasoning) của T. Edward Damer.

[←2]

Nguyên tắc này nói rằng: Khi giải thích một hiện tượng nào đó, người ta không nên đưa ra bất kỳ phỏng đoán nào nhiễu hơn mức cần thiết, cũng còn gọi là “Nguyên tắc tiết kiệm" (The principle of parsimony).

[←3]

Phần minh hoạ dựa trên cuộc trao đổi giữa Alice với hoàng hậu Trắng trong tác phẩm Nhìn qua gương” (Through the Looking-Glass) của Lewis Caroll.

[←5]

Lối ngụy biện này còn được gọi là ngụy biện “loại trừ trung gian, ngụy biện “đen và trắng” hoặc “lưỡng phân giả”.

[←6]

Người ta đã chứng minh: Hóa ra ăn sôcôla và đoạt giải Nobel có mối tương quan chặt chẽ, dấy lên hy vọng cho những người ăn sôcôla (Pritchard, bbc.co.uk/news/magazine-20356613).

[←7]

Phần minh họa lấy cảm hứng từ câu trả lời của Neil deGrasse Tyson, cho một câu hỏi của cử tọa về UFO (bookofbadarguments.com/video/tyson).

[←8]

Khi một kẻ tấn công định nghĩa lại một phạm trù, dù biết rằng anh/chị ta làm thế là cố tình xuyên tạc nó, thì cuộc tấn công nhắc ta nghĩ đến ngụy biện “Bù nhìn rơm”.

[←9]

Đoạn trích này có trong: bookofbadarguments.com/video/hignfy.

[←10]

Một tổ chức có buổi hòa nhạc blues, country và rock hàng năm nhằm thúc đẩy nhận thức về nhu cầu bảo vệ và hỗ trợ các trang trại gia đình ở Hoa Kỳ.

[←11]

Ngụy biện “Suy diễn thảm cảnh” được mô tả ở đây là thuộc kiểu ngụy biện theo nhân quả.

[←12]

Phần minh họa được gợi hứng từ một cuộc tranh luận trên Usenet cách đây nhiều năm, trong đó có một lập trình viên quá hăng hái và bướng bỉnh tham gia.

[←13]

Trong khoa học, người ta thường đi theo phép quy nạp từ dữ liệu đến các quy luật, rồi đến các lý thuyết. Như vậy, quy nạp là nến tảng cùa rất nhíểu khoa học. Quy nạp thường được lấy để thừ một mệnh đề hay một mẫu (bởi vì nếu thử rộng râi hơn thì không thực tế), hoặc chỉ dùng suy lý (vì không có cách nào để thử).

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.