Một Nửa của 13 là 8 - Chương 03
3. Hãy trở nên có duyên sáng tạo
Gã kia trông không có vẻ sáng tạo gì cả, nếu có thì chắc cũng chẳng ra gì.
– SAMUEL JOHNSON
Ai cũng có giây phút thiên tài một đôi lần; một thiên tài thực sự sẵn có ý tưởng trong mình.
– G. C. LICHTENBERG
Con người có thể sống thiếu không khí trong vài phút, thiếu nước trong hai tuần, thiếu thực phẩm trong hai tháng và thiếu ý tưởng mới từ năm này qua năm khác.
– KENT RUTH
Chưa ai có thể hiểu vì sao mà não bộ, một vật thể hữu hình, có thể sáng tạo ra ý tưởng, một vật thể vô hình.
Chúng ta chỉ biết điều đó có thật. Có thể là ý tưởng đến với bạn không thường xuyên như với người khác. Nhưng vì ý tưởng đã đến với bạn một đôi lần rồi nên ta có thể chắc chắn rằng việc bạn không có nhiều ý tưởng không phải do suy nhược cơ thể, chẳng hạn như không có sự đột biến di truyền trong não. Bạn có thể có ý tưởng và điều đó đã được chứng minh rồi.
Do vậy, việc cần làm là tìm hiểu lý do vì sao bạn lại không có nhiều ý tưởng và nỗ lực tìm cách giúp bạn có nhiều ý tưởng hơn.
Khi còn bé, tôi thường chơi với một anh chàng tên là Johnny-Boy. JB rất vụng về. Cậu ấy luôn gặp xui xẻo, nếu tai nạn không tìm đến cậu ta thì cậu ta cũng tự tìm đến tai nạn.
Ngày nay, các nhà tâm lý học giải thích rằng JB gây ra tai nạn một cách vô thức, và đó là cách cậu ta làm để thu hút sự chú ý.
Ngày đó người ta cứ cho là cậu ta có “duyên với tai nạn” vậy thôi.
Khi lớn lên, tôi thường chơi với những người có “duyên sáng tạo”. Ý tưởng cứ đến với họ như cách tai nạn tìm đến JB ngày xưa. Rồi các nhà tâm lý học chắc cũng nói hệt như khi họ nhận xét về trường hợp của JB, rằng họ sáng tạo ra ý tưởng một cách vô thức, rồi thì đó là cách để họ tạo được sự quan tâm, chú ý.
Có lẽ vậy. Nhưng tôi nghĩ ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác tác động.
James Webb Young trích lời Vlfredo Pareto, người cho là trên đời có hai nhóm người: Người đầu cơ và người thụ hưởng.
Pareto cho rằng nhóm người đầu cơ luôn bận rộn với những khả năng kết hợp mới. Nhóm người này, theo cách Young gọi, bao gồm “tất cả những người ở bất kỳ lĩnh vực nào mà… không thể ngồi một mình quá lâu và luôn tính toán làm sao để thay đổi điều đó.”
Mặt khác, nhóm thụ hưởng bao gồm những người “lề thói, cẩn thận, thiếu trí tưởng tượng, cầu toàn và nhóm này bị nhóm đầu cơ lôi kéo.”
Young đồng tình với Pareto về sự hiện diện của hai nhóm người này và từ đó kết luận rằng “có nhiều người mà không kỹ năng nào có thể giúp họ sáng tạo ý tưởng được.”
Tôi không tán thành với kết luận đó.
Tôi không nghĩ những người có duyên sáng tạo mà tôi giao du lại có tài năng thiên bẩm để sáng tạo ý tưởng, hay có cách suy nghĩ độc nhất dẫn họ tới những chân trời mới, hoặc có nội nhãn xuyên thấu giúp họ nhìn ra trật tự và các mối liên quan, trong khi những người khác chỉ thấy một mớ hỗn độn.
Điều duy nhất khiến họ khác biệt là:
Người có ý tưởng nhận thức được sự tồn tại của ý tưởng và biết là họ sẽ tìm ra ý tưởng; người không có ý tưởng thì không biết đến sự tồn tại của ý tưởng và không biết rằng họ có thể tìm thấy nó.
Tôi xin nhắc lại:
Người có ý tưởng nhận thức được sự tồn tại của ý tưởng và biết là họ sẽ tìm ra ý tưởng; người không có ý tưởng thì không biết đến sự tồn tại của ý tưởng và không biết rằng họ sẽ tìm thấy nó.
Nhận thức sự tồn tại của ý tưởng
Khi mới bắt đầu giảng dạy, tôi nói với các sinh viên rằng mỗi vấn đề đều có một giải pháp, một câu trả lời, và một ý tưởng riêng.
Tôi đã nhầm.
Giờ tôi biết là có hàng trăm giải pháp, hàng trăm câu trả lời và hàng trăm ý tưởng.
Có thể là có hàng nghìn. Thực sự là có thể có vô tận các giải pháp và ý tưởng.
Cứ thử ngẫm mà xem:
Cho đến năm 1940 (tôi đoán có lẽ đó là lần cuối họ thống kê), có tổng cộng 94 bằng sáng chế cốc có quai. Trời ạ, cốc có quai!
Có khoảng hơn 1200 loại dây thép gai khác nhau.
Các loại sách nấu ăn được xuất bản ở Mỹ đủ để chất đầy một thư viện nhỏ.
Hay nghe Lincoln Steffens, viết vào năm 1931:
Chẳng có gì hoàn thiện cả. Mọi thứ trên thế giới đều cần được làm đi làm lại.
Bức tranh lớn nhất vẫn chưa thành hình, vở kịch vĩ đại nhất vẫn chưa được viết, bài thơ hay nhất vẫn chưa được ngâm. Trên thế giới vẫn chưa có một tuyến đường sắt hoàn hảo, hay một Chính phủ giỏi hoặc một đạo luật tốt. Vật lý, toán học, và đặc biệt là các môn khoa học chính xác hiện đại nhất vẫn đang được xem xét một cách cơ bản. Hóa học vẫn chỉ là một môn khoa học mới; tâm lý học, kinh tế học và xã hội học vẫn còn chờ đợi một Darwin của những ngành này. Công trình của Darwin hiện vẫn chờ đợi một Einstein tiếp tục công việc đó.
Nếu nhiều cô tú, cậu tú trong trường Đại học được dạy những điều này, chắc họ đã trở thành những sinh viên xuất sắc, chứ không đến nối thành những người ăn chơi tối ngày, những người không thể tốt nghiệp đại học. Tuy nhiên, họ không được dạy điều đó; họ được yêu cầu học những cái có sẵn. Điều này thật vô nghĩa.
Những gì ông viết vẫn đúng từ năm 1931 đến ngày hôm nay. Vẫn chưa có gì được hoàn thiện cả. Mọi thứ vẫn chờ đợi bạn hoàn thiện.
Để tôi kể bạn nghe một câu chuyện:
Trong suốt hơn 20 năm, tôi làm việc cho một công ty đã từng làm quảng cáo cho Smokey Bear. Điều đầu tiên mà người viết quảng cáo và đạo diễn nghệ thuật phải làm hàng năm là lên ý tưởng cho một áp phích cơ bản.
Quy định để làm áp phích không bao giờ thay đổi: Nó phải có kích thước và hình dáng nhất định; phải có hình vẽ Smokey; phải đơn giản để có thể gây ấn tượng ngay từ cái nhìn đầu tiên, phải rõ ràng để ngay cả người tối dạ cũng hiểu, và (nếu có chữ) ngắn ngọn sao cho người ta có thể đọc trong ba hay bốn giây thôi.
Nhiệm vụ của tấm áp phích cũng không bao giờ thay đổi: Nó cần thuyết phục người ta phải cẩn thận với lửa.
Nói cách khác, năm nào chúng tôi cũng phải làm một nội dung, chỉ khác về cách trình bày.
Và chúng tôi làm đúng như thế. Thật vậy, hàng năm chúng tôi có 15 đến 20 ý tưởng cho tấm áp phích. Năm nào cũng vậy, trong hơn 20 năm trời. Hơn 300 áp phích về Smokey với cùng một nhiệm vụ, nhưng không cái nào giống nhau hết.
Như tôi biết, người viết quảng cáo và đạo diễn nghệ thuật ở công ty đó vẫn làm như vậy với áp phích Smokey hàng năm và họ vẫn không thiếu ý tưởng.
Vậy nên đừng có nói với tôi rằng chỉ có một hay hai cách để giải quyết một vấn đề. Tôi không hề thấy vậy.
Hay đến với câu chuyện mà một người bạn từng kể cho tôi nghe:
“Tôi từng giảng dạy tại một hội thảo quảng cáo kéo dài ba ngày ở Chicago. Một trong những bài tập tôi giao cho sinh viên là tạo một biển quảng cáo cho con dao đa năng. Sáng hôm sau, đa phần sinh viên nộp biển quảng cáo theo đúng yêu cầu, nhưng một số khác giải thích họ nghiền ngẫm hàng giờ mà không nghĩ ra ý tưởng nào. Điều này xảy ra trong ba năm liền.”
“Năm thứ tư, tôi làm khác một chút. Thay vì một, tôi yêu cầu mỗi sinh viên phải làm ít nhất mười tấm biển quảng cáo cho con dao đa năng. Và thay vì cho họ cả một ngày, tôi yêu cầu họ phải làm trong giờ ăn trưa.”
“Sau giờ ăn trưa, mỗi người đều có ít nhất mười ý tưởng. Nhiều người nghĩ được nhiều hơn thế. Một sinh viên có đến 25 ý tưởng.”
“Qua đó tôi nhận ra rằng khi đối mặt với một vấn đề, đa số tìm kiếm một đáp án duy nhất vì họ được dạy như vậy. Khi còn đi học, họ phải trả lời các câu hỏi trắc nghiệm chỉ có duy nhất một đáp án. Và vì vậy họ cho là mọi câu hỏi hay vấn đề đều như vậy. Rồi khi họ không thể tìm được giải pháp hoàn hảo thì họ bỏ cuộc.”
“Nhưng phần lớn các vấn đề không giống câu hỏi thi trong trường học. Những vấn đề này có nhiều giải pháp khác nhau. Và ngay khi tôi buộc sinh viên của mình nhận ra điều đó, họ nhìn thấy ngay giải pháp.”
Bạn thấy rồi chứ? Khi sinh viên của ông ấy nhận ra rằng có nhiều giải pháp cho một vấn đề thì họ tìm thấy ngay được những giải pháp đó.
“Nếu bạn luôn nghĩ những gì mình phải làm là dễ dàng thì mọi chuyện sẽ dễ dàng thôi.” Émile Coué nói.
Khi bạn không chắc đáp án có tồn tại hay không, thì việc tìm ra đáp án có thể rất khó khăn. Khi bạn biết rằng có rất nhiều đáp án thì tìm ra một hay hai đáp án chẳng khó khăn gì.
Tiến sĩ Norbert Wiener cũng nhận thấy điều này: “Một khi nhà khoa học tiếp cận một vấn đề mà ông ta biết là có giải pháp thì thái độ của ông ta khác hẳn. Và như vậy ông ta đã đi được nửa quãng đường tới giải pháp rồi.”
Arthur Koestler đồng tình: “Chỉ cần nhận thức rằng khó khăn có thể xử lý được là bạn đã thắng được nửa trận đấu rồi.”
Đó là một trong những lý do mà một số người luôn tìm thấy ý tưởng. Họ biết là ý tưởng luôn ở xung quanh.
Một hôm tôi đang làm việc ở văn phòng với Larry Corby, họa sĩ cuốn sách này, để thiết kế một quảng cáo truyền hình cho một món đồ chơi trẻ em.
“Đóng cửa lại,” anh nói.
“Tại sao?”
“Trong này có một vài ý tưởng và tôi không muốn nó bay ra ngoài mất.”
Anh ta không đùa chút nào. Anh ta thực sự tin rằng ý tưởng chúng tôi đang tìm hiện hữu trong căn phòng. Bởi vì anh ta biết ý tưởng ở xung quanh nên chỉ năm phút sau anh ta đã có được vài ý tưởng.
Joseph Heller cũng tin điều đó là đúng. “Tôi cảm thấy những ý tưởng này trôi nổi xung quanh và chúng chọn tôi để gửi gắm.” Ông nói.
Cả Thomas Edison cũng tin vậy. Ông tin… không hẳn, ông biết rằng ý tưởng “có xung quanh”. Nếu ông không tìm thấy những ý tưởng này thì ai đó khác cũng sẽ tìm ra. Có kỳ lạ không khi ông tìm thấy nhiều ý tưởng đến vậy?
Lúc nào cũng có ý tưởng khác, và giải pháp khác cho vấn đề. Hãy chấp nhận sự thật đó.
Hãy hiểu rằng bạn sẽ tìm ra ý tưởng
Giờ bạn đã biết (tôi hy vọng là vậy) rằng có hàng trăm giải pháp cho một vấn đề, rằng ý tưởng tràn ngập xung quanh. Tốt rồi! Vậy tại sao bạn vẫn chưa tìm được ý tưởng?
Hãy xem xét ba sự kiện sau:
1. Bạn đã gặp trường hợp này nhiều lần: Một tay chơi golf chưa có tên tuổi đang dẫn đầu một giải đấu quan trọng trong ngày đầu tiên. Tên anh ta tràn ngập các trang báo. Mọi người nói về anh này. Rằng anh ta là Arnold Palmer mới, Jack Nicklaus mới, rồi Tiger Woods mới.
Ngày hôm sau anh chàng đánh quá tám gậy (+8), không đủ điểm qua vòng sau, và rồi mất tích khỏi cuộc chơi.
Chuyện gì đã xảy ra?
2. Có lần, tôi đang quay một đoạn quảng cáo ở nhà thi đấu Los Angeles Forum và phía bên kia sân tập bóng, Wilt Chamberlain đang ném bóng và có một vài đứa nhóc nhặt bóng cho anh ta. Anh ta hẳn đã ném khoảng hơn 100 cú rồi và tôi thấy chỉ có ba cú trượt rổ. Vút, vút, vút. Thật xuất chúng. Trong trận đấu tối hôm đó, anh ta lại trượt đến tám trong số mười hai cú ném ở vạch.
Chuyện gì đã xảy ra?
3. Bạn đã thuộc lòng bài thuyết trình trong chuyến đi công tác. Bạn biết chủ đề mình nói, bạn biết mình cần nói gì, và bạn biết phải nói như thế nào. Dễ ợt! Bạn tập bài thuyết trình trước gương. Điểm 10 hoàn hảo.
Nhưng khi bạn đứng trước đám đông, đầu óc bạn trống rỗng và bài thuyết trình được trình bày dở hết chỗ nói.
Chuyện gì đã xảy ra?
Bạn biết điều gì đã xảy ra mà.
Có rất nhiều cách để giải thích, nhưng về cơ bản, bạn, Wilt và tay golf bị lãng quên kia, vô tình hay cố ý đều trở nên hoài nghi về bản thân. Và chuyện gì xảy ra sau đó thì ai cũng biết.
Tay golf xuất sắc ngày đầu tiên, Wilt ở trên sân tập và bạn trong phòng khách sạn đều cảm thấy thoải mái với trình độ của mình khi đó.
Rồi không hiểu sao sau đó, các vị lại băn khoăn liệu mình có giỏi như vậy hay không. Phong độ các vị trên sân golf, trên sân tập và trong phòng khách sạn đều hơn hẳn hình ảnh các vị nghĩ về mình khi đó.
Do đó cơ thể cũng như đầu óc các vị tự nhiên làm giảm khả năng của các vị xuống đến mức thoải mái trở lại.
Và không có sức mạnh lý trí nào, không nỗ lực rèn luyện hay quyết tâm nào có thể đưa khả năng của các vị trở lại mức cao như trước.
Đó là vì sự tự nhận thức bản thân quyết định bạn như thế nào và khả năng của bạn ra sao. Không phải nỗ lực hay lý trí mà là sự tự nhận thức bản thân.
Vì thế, nếu bạn muốn trở nên có duyên sáng tạo, bạn phải chấp nhận hai điều:
Trước hết, bạn phải đồng ý rằng nhân tố quan trọng nhất giúp bạn thành công chính là cách bạn suy nghĩ về bản thân.
Sự tự nhận thức về bản thân ảnh hưởng… không đúng, quyết định cá tính, hành vi của bạn, việc bạn giao tiếp với người khác thế nào, bạn làm việc ra sao, tình cảm, đức tin, cống hiến, khát vọng của bạn, thậm chí cả tài năng và khả năng của bạn nữa.
Bạn hành động đúng như con người bạn hình dung trong tưởng tượng. Đơn giản vậy thôi.
Và đó là điều không cần bàn cãi.
Nếu bạn nghĩ mình thất bại thì nhiều khả năng bạn sẽ thất bại. Nếu bạn nghĩ mình thành công thì bạn sẽ thành công.
Bạn có cách giải thích nào cho người trông có vẻ tài cán lại thất bại trong khi người tưởng như trắng tay lại thành công?
“Họ có thể làm mọi điều vì họ nghĩ mình có thể làm được,” nhà thơ nổi tiếng La Mã Virgil nói, và chân lý cốt lõi về thắng lợi của sự tự nhận thức bản thân đến hôm nay vẫn đúng như cách đây 2.000 năm.
Henry Ford tán thành: “Dù bạn nghĩ mình làm được hay không thì bạn đều đúng.”
Tóm lại: Thái độ quan trọng hơn thực trạng.
Đặc biệt điều này có nghĩa sự khác nhau giữa người búng tay là ra ý tưởng và người thiếu sáng tạo chẳng liên quan mấy đến những khả năng bẩm sinh giúp tìm ra ý tưởng. Nó liên quan đến niềm tin là họ có thể tìm ra ý tưởng.
Những ai tin rằng mình có thể thì sẽ làm được. Ai không tin mình có thể thì không bao giờ thành công. Đơn giản vậy thôi.
Thứ hai, bạn phải chấp nhận điều mà William James gọi là “phát hiện vĩ đại nhất thế hệ này” là sự thực. Phát hiện đó là gì ư?
Con người có thể thay đổi cuộc sống của mình bằng cách thay đổi thái độ.
Triết gia Jean-Paul Sartre diễn giải như sau: “Con người tưởng tượng về bản thân thế nào thì họ là như vậy.”
Còn nhà văn Anton Chekhov lại diễn giải như sau: “Con người nghĩ về bản thân ra sao thì họ là như vậy.”
Điều này cũng không cần bàn cãi.
Tuy thế, đây lại chính là điều mà nhiều người, trong đó có thể có cả bạn, không tán đồng.
Bạn đồng ý là sự tự nhận thức bản thân định hướng cuộc sống của bạn, nhưng mặc cho bao dẫn chứng được đưa ra bởi các nhà hiền triết và các bậc phụ huynh, rồi các mục sư, bác sĩ, nhà thơ, nhà nghiên cứu rồi các triết gia, nhà tâm lý học, rồi thì giáo viên, huấn luyện viên, và mặc cho bao dẫn chứng sống trong hàng trăm cuốn sách về tu luyện bản thân, bạn phủ nhận sự thật là mình có thể thay đổi sự tự nhận thức về bản thân.
Bạn sai ở chỗ đó. Bạn có thể thay đổi được.
Bạn chấp nhận “As a man thinketh in his heart so is he.” (Vì hắn nghĩ trong lòng thế nào, thì hắn quả thế ấy.) Nhưng có vẻ bạn lại cho rằng nếu mình thay đổi cách nghĩ thì vẫn chẳng có gì thay đổi.
Có thay đổi đấy. Bạn sẽ biến thành một con người khác.
Hoặc bạn hay nghĩ mình không thể thay đổi cách tư duy, và cách tư duy của bạn được khắc vào một tảng đá rồi.
Và sai lầm của bạn là ở đó. Bạn có thể thay đổi tư duy của mình.
Ai cũng đồng tình rằng tư duy làm chủ bản thân. Điều này quả thật đã quá rõ ràng.
Kẻ nghiện dùng thuốc an thần thì không gặp tác dụng phụ, người dị ứng thì hắt hơi ngay cả khi thấy hoa giả, đứa trẻ thiếu tình yêu thương không phát triển về mặt thể chất, bệnh nhân được thôi miên có thể phẫu thuật không cần gây mê, nhiều người làm giảm huyết áp và mạch tim bằng ý chí, bệnh nhân ung thư cảm nhận sự thuyên giảm bất chợt, người tàn tật rời khỏi Lourdes lành lặn, vô số những ví dụ khác.
Nhưng cứ thử nghĩ xem, chấp nhận sự thật rằng điều này (tâm trí) có thể thay đổi điều khác (cơ thể) là một bước nhảy lớn, một bước nhảy quan trọng, thậm chí có lẽ đó là một bước nhảy vĩ đại.
Tôi chỉ mong các bạn thực hiện một bước nhảy nhỏ: tâm trí có thể thay đổi tâm trí.
Hãy chấp nhận điều này. Đó là chân lý.
Rồi sau đó hãy bắt đầu thay đổi sự tự nhận thức về bản thân bạn.
Trong cuốn sách này, tôi không đề nghị bạn phải làm như thế, tôi chỉ muốn nói với bạn điều này: Nếu bạn cứ tự nhủ rằng mình “không bao giờ tìm thấy ý tưởng” thì bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được hết.
Thay vào đó, hãy tự nhủ hàng ngày rằng bạn là cội nguồn của ý tưởng, rằng ý tưởng luôn bồng bềnh tuôn trào trong bạn như nước chảy. Ngày nào cũng vậy. Mà phải vài lần mỗi ngày. Dần dần bạn sẽ bắt đầu hình thành cho mình một hình ảnh mới về bản thân.
Tất nhiên là trong thư viện cũng như ngoài hiệu sách có hàng trăm đầu sách, băng ghi âm và ghi hình có thể giúp bạn thay đổi hình ảnh bản thân dễ hơn tôi có thể giúp bạn rất nhiều. Như cuốn The magic of believing (Tạm dịch: Phép màu của niềm tin); Change your life now (Tạm dịch: Hãy thay đổi cách sống ngay); Psycho-cybernetics (Tạm dịch: Tâm lý điều khiển học); Think and grow rich (Tư duy làm giàu); The power of positive thinking (Sức mạnh của sự lạc quan); Life’s too short (Tạm dịch: Đời quá ngắn ngủi); Unlimited power (Tạm dịch: Quyền lực vô hạn) và rất nhiều đầu sách khác.
Hãy thử đọc một trong những tựa sách này.
Về cơ bản tất cả đều có nội dung như nhau. Rằng bạn có thể thay đổi cuộc đời mình bằng cách thay đổi tư duy về bản thân.
Và tất cả họ đều nói đúng.
Hãy chấp nhận thực tế đó.
Một khi bạn đã biết rằng ý tưởng tồn tại và mình có thể tìm được, sự thanh thản bao trùm lấy bạn. Sự thanh thản mà bạn cần hơn bao giờ hết trong cuộc sống bận rộn này.
Lý do ư?
Lẽ ra cuộc sống này không được phép trở nên như thế.
Lẽ ra máy vi tính, fax, modem, thư điện tử, Internet, thư thoại, điện thoại di động, mạng kết nối phải làm cuộc sống của ta đơn giản và nhẹ nhàng hơn. Lẽ ra ta phải có nhiều thời gian hơn bao giờ hết để tìm kiếm ý tưởng.
Nhưng rất nhiều người, có lẽ cả bạn nữa, lại gặp phải điều ngược lại. Cắt giảm nhân lực đánh cắp thời gian mà tự động hóa tạo ra. Dường như giờ đây bạn có ít thời gian hơn để làm lượng công việc gấp đôi so với trước. Sự hạn chế đó khiến bạn hoang mang.
Chà… cứ bình tĩnh. Bạn biết là ý tưởng ở quanh đây thôi. Bạn cũng biết là mình sẽ tìm ra ý tưởng.
Cho nên đừng lo lắng về thời gian. Mặc dù có những ý tưởng cần nhiều thời gian để tìm ra hơn các ý tưởng khác, nhưng cũng lạ kỳ là tìm kiếm ý tưởng không phụ thuộc vào thời gian. Nó cũng không phụ thuộc vào nơi làm việc, lịch làm việc hay khối lượng công việc.
Bạn có thể tìm ý tưởng trong lúc ăn trưa, khi đang tắm hay khi dắt cún yêu đi dạo. Bạn cũng có thể tìm ra ý tưởng ngay khi bật động cơ xe hoặc bật công tắc đèn.
Tìm kiếm ý tưởng phụ thuộc vào niềm tin của bạn về sự tồn tại của nó, và hơn hết là tin vào bản thân.
Hãy tin tưởng bản thân.

