Một Thế Giới Thiếu Vắng Tình Yêu - Chương 01

Tiệm cơm Tây dương “Viên Phục Đình” tọa lạc trên một gò đất cao thuộc khu Hongo, quận Bunkyo, thủ đô Tokyo. Nó nằm nép mình trong một con hẻm nhỏ phố Hongo, vừa hay đối diện với Xích Môn[1] của trường Đại học Quốc gia T.

Vì đặc thù của vị trí địa lý nên đa phần khách đến thăm Viên Phục Đình đều là sinh viên hoặc nhân viên của Đại học T. Đương nhiên là cũng có nhiều người đến từ các công ty trong khu phố, mỗi khi đến giờ trưa, trong tiệm sẽ nhộn nhịp ra vào các thực khách từ đủ mọi lứa tuổi và đều đang đói bụng. Dẫu thế, nó cũng chỉ là một căn tiệm nhỏ với số lượng ghế và bàn chiếm gần hết không gian. Chẳng mấy chốc mà tiệm kín khách, con phố phía trước lại có một dãy người xếp hàng như rồng rắn lên mây.

Fujimaru Yota, một nhân viên sống trong tiệm đã nghĩ rằng, “Nếu chịu khó quảng cáo một chút thì cái hàng rồng rắn ấy dễ chừng sẽ thành vòi rồng cho xem.” Không chỉ nghĩ suông thôi, anh chàng còn đề xuất ý tưởng ấy với chủ tiệm Viên Phục Đình là Tsuburaya Shoichi hết lần này đến lần khác, nhưng ông chủ thì cứ mãi không chịu cắn câu.

“Chú mày bị dở hơi à! Làm việc đã chẳng ra gì còn đòi hăng máu kinh doanh. Có giỏi thì xắt hành tây nhanh tay lên đi.”

“Nhưng mà sư phụ à, chẳng phải bác lại vừa từ chối lời mời phỏng vấn của một tờ tạp chí tự do sao? Phí phạm quá đi mất. Chưa kể bây giờ khu Yanesen lại đang là điểm nóng phía đông của Đại học T nữa. Già trẻ lớn bé gì đều bị hút về bên đó hết, nghe bảo dòng người cứ ùn ùn kéo đến tấp nập lắm.”

“Làm gì có chuyện ùn ùn kéo đến.”

“Thôi, tóm lại là, mấy người đó khi đã rời khỏi phạm vi của Đại học T thì biết đâu sẽ kéo đến đây không chừng. Đó sẽ là thời cơ cho Viên Phục Đình tái thiết lại trước nguy cơ phá sản đó, sư phụ ơi!”

“Thằng ngu này! Làm gì có chuyện chúng ta sắp phá sản! Ông đây còn bận tối mắt tối mũi đến nỗi nhức hết cả eo đây, dẹp hết ba cái chuyện tái thiết gì đó đi!”

Ý của Fujimaru vốn là tái thiết tòa nhà theo nghĩa đen vật lý, nhưng Tsuburaya lại hiểu nhầm nó sang nghĩa kinh tế nên đã gạt phắt đề xuất đó của anh đi. Màn lệch pha trong suy nghĩ này thường xuyên diễn ra giữa hai người, nhưng chắc là do ai cũng cố làm việc theo ý mình nên mối quan hệ thầy trò này vẫn được tiếp diễn trơn tru trong khi chẳng bên nào chịu thừa nhận rằng giữa họ đang có vấn đề.

Cuộc đối thoại lần này của hai người vẫn trật khớp như vậy, Fujimaru nghiêng đầu với bộ dạng vẫn còn mù mờ, “Cũng phải ha. Cháu chỉ nghĩ mình nên tăng doanh thu để xây lại tiệm thôi mà.”

Viên Phục Đình đã cũ lắm rồi. Nó là một căn nhà hình hộp cao hai tầng, bức tường ngoài bị cây trường xuân phủ kín thật ra đã xuất hiện vết nứt. Fujimaru, vốn ngủ ở tầng trên của căn tiệm, đã từng tận mắt chứng kiến cảnh chiếc cốc thủy tinh mình vô tình làm rơi trên chiếu lăn đến góc phòng với một lực lớn đến nỗi không ai có thể nghĩ nó chỉ đơn giản bị rớt được. Nếu không phải vì hiện tượng tâm linh nào đó thì chắc chắn là do căn nhà đã bị nghiêng rồi.

“Đại loại là vì...” Tsuburaya nói “... đây là khu dân cư, nếu chúng ta kéo thêm khách đến thì hàng người bên ngoài sẽ gây cản trở đến hàng xóm xung quanh. Chỉ cần buôn bán sao cho đủ sống là được.”

Tsuburaya xếp tờ báo đang đọc lại, ra hiệu rằng cuộc nói chuyện đến đây là chấm dứt rồi đi vào nhà bếp. Fujimaru thở dài, lại một lần nữa bắt đầu dùng khăn lau chùi bàn ghế. Khách khứa buổi trưa cứ là ra vào nườm nượp, phải chờ lâu lắm anh mới có thể bắt đầu giờ nghỉ muộn của mình.

Viên Phục Đình sẽ bắt đầu mở cửa lại vào lúc năm giờ chiều nên anh chàng cũng không được thảnh thơi cho lắm. Quét dọn sơ qua cửa hàng, anh ăn vội vàng bữa cơm nhân viên do Tsuburaya nấu để còn mau chóng chuẩn bị cho ca tối nữa.

Fujimaru cẩn thận lau chùi tấm khăn trải bàn bằng nhựa sọc caro màu đỏ trắng. Anh phải lưu ý kiểm tra xem sàn nhà có rác không, ghế ngồi có chỗ nào bị dơ không, hoa cắm trong lọ trang trí ở mỗi bàn đã héo hay chưa.

Chủ tiệm Tsuburaya tuy có tính tình vừa ngoan cố lại vừa tùy tiện khiến anh phải bao phen đau đầu, nhưng tay nghề và thái độ đối với món ăn thì lại không chê vào đâu được, hơn nữa ông còn rất biết chăm chút cho vẻ ngoài của mình được sạch sẽ tươm tất. Như một lẽ tất nhiên, ông cũng đòi hỏi rất nghiêm từ nhân viên tiệm, tức Fujimaru đây, chỉ cần anh sẩy tay trong việc quét dọn thôi là một cơn lốc mắng mỏ “Chú mày là đồ ngu à!” sẽ ập đến ngay lập tức. Fujimaru cũng rất yêu cái tính ấy của Tsuburaya và cực kỳ thích thú với cuộc sống ở Viên Phục Đình nên anh luôn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Tsuburaya, giữ cho căn tiệm được sạch bong sáng bóng hầu như không có một hạt bụi.

Chỉ có điều, cổ nhân từng có câu: Anh hùng ắt khó qua ải mỹ nhân.

Fujimaru ngắm nghía bó cúc họa mi được trang trí trên bàn. Hoa trong tiệm cứ ba ngày một lần sẽ được bà chủ tiệm hoa trên phố Hongo giao tới. Nói trắng ra thì bà ấy là bạn gái của Tsuburaya. Tsuburaya hẹn hò với người kém mình những mười tuổi, giờ còn đang sống chung với nhau như vợ chồng ở tầng trên của cửa hàng hoa. Tsuburaya đã tầm bảy chục rồi, thế nên bà chủ hàng hoa cũng phải ngấp nghé thượng thọ. “Cô Hana ơi”, Fujimaru được Tsuburaya dạy phải gọi bà như thế, chứ tên thật thì anh chịu. Fujimaru còn trộm nghĩ, cái danh “cô Hana ở hàng hoa”[2] nghe đúng là vần thật.

Cô Hana góa chồng, một mình gồng gánh tiệm hoa, là một người phụ nữ tháo vát gợi cho người ta cảm giác về một người mẹ đảm đang. Nghe bảo con trai bà đã lớn rồi, giờ đang sống ở Osaka. Tsuburaya thì ngược lại, ông là người chủ đời thứ hai của Viên Phục Đình, từ thời trẻ đã mải miết đâm đầu vào việc nấu nướng. Không biết nguyên nhân khiến cho vợ con ông rời đi từ sớm là vì ông quá sức thờ ơ hay là do thói ngạo mạn gây họa.

“Không khí cửa tiệm ngày xưa đúng là sôi nổi hơn ha.” Đó là lời xác nhận thốt ra từ một vị khách quen. “Đến nỗi hồi đó ở mỗi bàn còn chuẩn bị sẵn thuốc bao tử cho khách nào tiêu hóa kém đấy nhỉ.”

“Phải rồi, phải rồi. Không biết có phải vì ảnh hưởng của tình cảnh ấy hay không mà cà ri đĩa nào cũng là loại cay nhất.”

Một vị khách quen thứ hai gật gù đáp.

Fujimaru trộm nghĩ, làm gì có chuyện đó, nhưng tóm lại là, vì phải ly hôn sau một vụ lằng nhằng khá rắc rối nên gần bốn chục năm sau, Tsuburaya vẫn lắc lư ca hát với cuộc sống độc thân của mình. Trong quãng thời gian ấy, đã có không biết bao nhiêu cô gái phải khóc hết nước mắt vì ông. Đó là chuyện anh nghe được từ đương sự. Sau khi thu thập hết bằng chứng từ mấy vị khách quen, anh đã rút ra được, “Cậu Sho vào ngày nghỉ ấy, chỉ toàn ra khu pachinko chơi thôi.”

Nhưng sau khi cặp với cô Hana, Tsuburaya ngay lập tức bỏ pachinko rồi chuyển vào sống ở tầng hai của tiệm hoa cách Viên Phục Đình năm phút đi bộ. Chắc do bác ấy đã nhìn ra nguy cơ phá sản của Viên Phục Đình rồi đây, Fujimaru đầy hoài nghi. Anh muốn ông nhận lời phỏng vấn của mấy tờ tạp chí tự do hay báo nào cũng được, rồi sau đó nhanh chóng xây dựng lại cửa tiệm. Thế mà bất chấp, Tsuburaya vẫn chỉ biết dính như sam với cô Hana, hết trang trí hoa cỏ trong căn tiệm đơn điệu rồi lại đến chuyện kéo nhau đi Hakone tắm suối nước nóng vào mỗi ngày nghỉ nữa chứ.

Nhờ Tsuburaya chuyển đến sống ở hàng hoa mà tầng trên của Viên Phục Đình mới trống chỗ. Fujimaru có thể vào làm ở Viên Phục Đình cũng là nhờ ơn phước đấy. Chuyện này tóm lại là như sau.

Fujimaru vốn xuất thân từ khu Tachikawa của Tokyo. Sau khi tốt nghiệp cấp ba, anh vào học tại trường trung cấp ẩm thực ở Ochanomizu. Anh hoàn toàn không muốn học lên đại học nhưng lại thích và giỏi nấu ăn từ bé nên mới nghĩ đơn giản là, “Thế thì lấy một cái bằng nấu ăn rồi làm đầu bếp thôi.”

Bố mẹ anh làm nhân viên văn phòng, cả hai đều vô cùng tán thành con đường sự nghiệp mà con mình đã chọn, “Ừ nhỉ, học lấy một cái nghề nghe hợp lý hơn đấy con”, “Nghề bếp bây giờ phổ biến lắm, chỉ cần một con dao thì đến đâu trên thế giới này mày cũng sống được con ạ.” Đứa em trai nhỏ hơn anh bốn tuổi đang ở độ dậy thì, miệng lúc nào cũng im thin thít như ông Địa Tạng thế mà cũng phải mở mồm lẩm bẩm, “Cơm anh hai làm ăn ngon lắm”, nghe như cũng ra điều ủng hộ anh đấy.

Thế là Fujimaru bừng bừng khí thế bước vào trường nghề. Cứ hễ đến tiết môn Dinh dưỡng là anh sẽ chăm chỉ chép bài, mặc dù thi thoảng cũng có trường hợp hồn vía anh vân du đến cõi nào đó vì tiết học quá sức buồn ngủ. Về phần thực hành thì anh cứ như cá gặp nước vậy: cắt tỉa rau củ quả thành thục, thái cá cũng đẹp mắt. Để có thể tiếp tục mài giũa những kỹ năng phức tạp hơn của nghề bếp thì ngoài việc học trên giảng đường, anh còn được trường giới thiệu vào làm thêm ở một tiệm ăn nữa. Anh vừa rửa bát cho một nhà hàng Nhật vừa học phương pháp nấu nước dùng dashi, vừa tiếp khách ở nhà hàng Ý vừa học cách ghi nhớ các hương vị đặc trưng của từng trái cà chua.

Những khi được phát tiền lương, anh sẽ thử lui tới các nhà hàng mà mình cảm thấy tò mò. Đối với một người sinh ra ở Tachikawa như Fujimaru mà nói, khu vực xung quanh Ochanomizu hoàn toàn xa lạ, thế là với khứu giác cực kỳ nhạy bén với mùi “ăn”, anh đã tự khám phá ra không biết bao nhiêu là hàng quán khiến mình phải thốt lên “Chính là đây!” trong khu.

Trong số đó, tiệm ăn đã bắt giữ cả cái lưỡi và con tim của Fujimaru chính là Viên Phục Đình ở Hongo này.

Mặc dù đã lỡ mang danh là “tiệm cơm Tây”, nhưng thực đơn của Viên Phục Đình lại hỗn tạp cực kỳ. Ngoài những món tủ của tiệm như hamburger, bít tết, cơm cà ri, cơm trứng cuộn, cơm gà chiên xù, mì Ý sốt cà chua thì tại sao thực đơn còn có thêm cả mì ramen với rau xào bát bửu chứ? Cơm phần cá kho cũng rất nổi tiếng thì đã đành, vào mùa thu thực đơn lại được bổ sung cả cơm phần cá thu đao nữa. Có thể nói tiệm được mọi người xếp loại vào “nhà ăn của xóm” với phong cách nửa Tây nửa Nhật. Cũng có thể là vì muốn thể theo nguyện vọng của các thực khách mà nhà hàng mới làm thêm những món chả ai hiểu nổi lý do thế này.

Từ nấu ăn cho đến tiếp khách, tất cả đều do một mình ông chủ tiệm với cá tính cứng đầu và thân hình gầy guộc đảm đương, cứ vào giờ trưa thì những vị khách quen sẽ biết ý mà tự đi châm nước hoặc phát khăn lạnh cho những ai mới đến lần đầu. Sàn nhà màu hổ phách lúc nào cũng được chà sạch bong ánh lên vầng sáng mềm mại dưới khung cửa sổ bằng gỗ hướng ra mặt đường. Quả chuông bằng đồng treo trên cửa ra vào sẽ kêu lên một tiếng đục ngầu báo tin mỗi khi có khách vào tiệm.

Khác hẳn với bầu không khí sinh long hoạt hổ vào buổi trưa, tối muộn là khoảng thời gian để các cặp vợ chồng luống tuổi trong xóm tụ tập lại chia sẻ thức ăn với nhau. Đôi khi sẽ có vài gia đình ăn mặc long trọng đến, cười đùa nói chuyện trông rất ư là vui vẻ. Cũng có những người đến dùng bữa tối một mình với một ly bia trên tay và một quyển sách mà họ sẽ lẳng lặng đọc.

Tất cả đều là những bầu không khí hết sức tốt đẹp. Bao nhiêu lần ghé chân đến Viên Phục Đình, Fujimaru đều muốn làm việc ở tiệm. Trên hết là đồ ăn ở đây vô cùng tuyệt vời. Không có gì cầu kỳ nhưng vẫn cho người ta biết bản thân chúng đã được làm ra với rất nhiều sự trân trọng. Đó chính là hương vị thấm đẫm sự quan tâm dành cho người khác mà ta có thể ăn mỗi ngày không biết ngán. Nói tóm lại là trái với diện mạo tồi tàn của căn tiệm và vẻ mặt khó ưa của ông chủ thì thức ăn ở đây ngon hơn những gì anh tưởng tượng và kỳ vọng. Hơn nữa, giá cả còn phải chăng. Nếu nói, đấy là một nhà hàng danh tiếng mà bạn có thể cảm nhận được khí khái và thực lực của người bếp trưởng cũng không ngoa.

Bỗng chốc hóa thân thành một nhà phê bình ẩm thực bị cảm động đến tận tâm can, Fujimaru đã vớ lấy tờ sơ yếu lý lịch ngay khi vừa tốt nghiệp trường trung cấp rồi đi đến Viên Phục Đình. Đó là lần đầu tiên anh được biết tên của chủ tiệm là Tsuburaya Shoichi, nhưng lúc bấy giờ ông chủ họ Tsuburaya ấy đã lạnh nhạt nói với anh rằng, “Ở đây chúng tôi không tuyển người.” Dù có hạ mình cách mấy thì ông cũng chỉ thô lỗ phẩy tay xùy xùy đuổi anh đi, tờ báo ông đang đọc như bức tường sừng sững chắn mặt anh.

Sau khi pha tiếp thị bản thân kết thúc trong thất bại, Fujimaru đành buồn thiu bước ra khỏi tiệm. Anh đã toàn tâm toàn ý hi vọng sẽ được vào làm việc tại Viên Phục Đình nên bây giờ thật sự không biết phải làm sao, cũng đâu thể để mình vô công rỗi nghề được. Sau khi tốt nghiệp trường trung cấp, anh vào học nghề hai năm tại một nhà hàng Ý ở khu Akasaka nhờ vào giấy giới thiệu từ giảng viên.

Thế nhưng anh vẫn chưa hết duyên với Viên Phục Đình, vào một ngày đông nọ, Fujimaru lại một lần nữa cầm sơ yếu lý lịch đến.

“À, được thôi.”

Tsuburaya nói. “Thế khi nào cậu bắt đầu được?”

Tờ sơ yếu lý lịch mà anh tỉ mẩn viết chẳng được ông ngó lấy một cái. Trước diễn biến quá bất ngờ và đột ngột này, Fujimaru chỉ kịp nghệch ra đáp, “Hả ơ?” Hơn nữa, Tsuburaya lại còn tỏ ra thân thiết và bảo anh chuyển lên tầng trên ở nữa chứ.

Fujimaru có thuê căn hộ rách nát dành cho một người ở tại quận Nakano nhân dịp trúng tuyển, nhưng lương của một đầu bếp trẻ cũng không khá khẩm gì. Vả lại, làm nhà hàng thường phải ở lại sau giờ đóng cửa để lau dọn cửa tiệm, sáng còn phải đến sớm để sửa soạn nên anh khó lòng mà đi từ Tachikawa đến đây. Vừa lúc anh đang nghĩ phải chi đỡ được tiền thuê nhà thì tốt quá.

Thế là sau đó mọi chuyện cứ như thuyền đã ra khơi. Một tháng sau khi Fujimaru gửi đơn xin nghỉ việc ở nhà hàng Ý, rốt cục anh cũng đã đạt được mong muốn trở thành nhân viên của tiệm Viên Phục Đình.

Từ đó đến nay đã được nửa năm. Dưới sự chỉ dạy nghiêm khắc của Tsuburaya, Fujimaru trải qua những tháng ngày đầy mãn nguyện, cố gắng đạt tới hương vị của Viên Phục Đình.

Nhờ vào thông tin được các vị khách quen tiết lộ và phán đoán từ hành động và lời nói của Tsuburaya thì dường như thời điểm Fujimaru đến xin việc lần thứ hai chính là lúc Tsuburaya đang muốn sống chung với cô Hana. Thế nhưng Viên Phục Đình lại là một tiệm ăn liền nhà ở không có cửa sập. Dù có nghiêng theo biên độ vật lý bao nhiêu đi nữa thì cứ để căn tiệm vườn không nhà trống thế này vào buổi tối sẽ rất nguy hiểm, lỡ có ai vào thì sao.

Thế nên Tsuburaya mới có thể dễ dàng tháo dỡ phương châm “tuyển người là một việc phiền phức” của mình để nhận Fujimaru vào làm một cách vô tư lự như thế. Thay vì nói ông muốn tuyển anh vào với tư cách một đầu bếp thì chi bằng huỵch toẹt ra là bởi ông muốn tuyển anh làm người trông nhà. Nhân tiện thì, Tsuburaya cũng đã quên béng lần đầu đến khẩn khoản xin việc của Fujimaru.

Việc ông không cần kiểm nghiệm tay nghề đầu bếp của mình mà chỉ hời hợt nói “À, được thôi” đã khiến anh thấy quái lạ lắm rồi. Fujimaru không khỏi tức giận. Bác ấy xem người ta không khác gì khúc gỗ cả. Nhưng anh cũng thầm nghĩ rằng, tính cách đó thật quá hợp với một người chủ. Tsuburaya là người tùy tiện vô cùng. Giả như Fujimaru có hoàn toàn không biết nấu ăn đi nữa thì ông cũng chỉ nghĩ đơn giản, cái tiệm này trước giờ vốn có mỗi mình mình đứng bếp nên chắc sẽ không sai sót gì đâu. Anh rất thất vọng khi biết bản thân không được đếm xỉa tới, nhưng trong lòng lại vô cùng ngưỡng mộ phong cách rất ngầu, ra dáng ông chủ của ông.

Để có thể mau chóng được thừa nhận, anh luôn bám theo Tsuburaya mỗi khi ông vào bếp để quan sát thủ pháp của ông. Cách ông khuấy nồi sốt đặc sệt và cả cách ông thêm lửa vào món thịt hamburger đều thấm đẫm nét bí truyền uyên thâm. Anh muốn học trộm hết tất cả thủ pháp ấy, cho dù lúc nào cũng bị Tsuburaya giận dữ quát rằng, “Chú mày làm ma ám ta đấy à? Suốt ngày cứ đứng chình ình ra đó xúi quẩy lắm!”

Tầng trên của Viên Phục Đình nơi Fujimaru đang sống được ghép từ sáu chiếu và bốn chiếu rưỡi theo chiều dọc[3], có hẳn một căn bếp nhỏ, một buồng tắm và nhà vệ sinh. Gian sáu chiếu hướng về phía lối đi nhỏ hẹp, được anh trải nệm làm thành buồng ngủ, gian bốn chiếu rưỡi không có cửa sổ thì được anh bài trí một chiếc bàn tròn lùn, là nơi dùng để ăn uống và xem tivi. Tuy nhiên, bữa trưa và bữa tối của anh đều là phần ăn cho nhân viên ở dưới tiệm, thành ra Fujimaru chỉ tự nấu cho mình một bữa đơn giản vào mỗi sáng và ngày nghỉ thôi.

Bữa ăn nhân viên có khi là do Tsuburaya làm, có khi lại do Fujimaru đảm nhiệm. Có những hôm anh phải chén sạch nồi cà ri hay ragu còn thừa. Ăn đồ do Tsuburaya làm hay tự mình nấu đều là một cách rèn luyện nên Fujimaru cực kỳ nghiêm túc với chuyện này.

Lúc rán món thịt nguội bọc bột chiên xù hay lúc canh nồi luộc mì Ý cũng vậy, hết sức hiển nhiên, Fujimaru luôn cảm thấy mình vẫn chưa đủ thực lực. “Làm sao mới có thể rán thịt vừa mọng nước lại vừa giòn tan như sư phụ đây?”, “Hình như bác ấy không biết khái niệm al dente[4] trong món mì Ý. Vậy mà sợi mì luộc ra vẫn không quá nở cũng không quá cứng, làm sao để tái hiện lại phương thức luộc mì hay ho ấy đây nhỉ...”, cứ như thế, anh phải lặp đi lặp lại những pha thử nghiệm đầy gian nan và khổ cực.

Không biết có phải là thành ý của anh đã được công nhận hay không mà dạo này Fujimaru không chỉ được giao mỗi việc xắt rau thôi, anh còn được cho phép phụ phần nấu sốt và canh lửa cho món cá kho nữa. Mặc dù anh vẫn bị Tsuburaya mắng té tát, “Sai rồi! Cậu là đồ ngu à!” nhưng Fujimaru tuyệt không sờn lòng.

Bởi lẽ anh rất thích nấu ăn. Chỉ cần đứng trước các loại nguyên liệu, anh sẽ háo hức tưởng tượng ra hương vị mình sẽ có nếu kết hợp thứ này với thứ kia. Anh vui sướng khi được nhìn thấy vẻ mặt tươi cười của từng vị khách khi nếm thử món ăn của Tsuburaya. Chỉ cần nghĩ đến phần việc tiếp khách và chuẩn bị cho những món ăn ấy là anh đã cảm thấy mình cũng cống hiến được chút gì đó rồi.

Mỗi khi cần mẫn thái rau, Fujimaru thi thoảng sẽ rơi vào cảm giác rất kỳ lạ. Gân của từng lá bắp cải đan xen hỗn loạn vào nhau cứ như một mê cung. Màu trắng gần như trong suốt của mặt cắt lát củ cải trắng dường như đang ẩn hiện bí mật nào đó được vẽ bên trong. Quả cà tím lúc nào cũng rỉ nước và hút dầu cho người ta cảm giác nó như một miếng bọt biển vẽ nên những đường viền hình tròn mà mắt thường không thể nhìn thấy được.

Mỗi khi đưa rau củ đã được xắt ra trước ánh sáng, chúng sẽ trở nên trong suốt và cho anh thấy những thứ hết sức diệu kỳ. Lát nào lát nấy trông cũng tinh tế và đẹp tuyệt, tựa như chúng được phỏng theo một bản thiết kế nào đó. Không chỉ có mỗi rau củ thôi đâu, ngay cả cách sắp xếp nội tạng bên trong một con cá, hình dạng xương cốt, nhãn cầu và xúc cảm từ vảy của chúng cũng tuyệt vời như vậy.

Những lúc như thế, Fujimaru lại cảm nhận được rằng mình đang ăn những vật còn sống. Rằng, mọi người đang sống nhờ vào việc ăn những thức rau củ quả, cá và động vật có kết cấu và hình thể tuyệt đẹp này. Cảm giác cũng rùng rợn phết.

Fujimaru không giỏi văn chương cho lắm, nhưng nói tóm gọn lại, anh chàng yêu thích công việc nấu ăn chính vì nó là hành vi kết nối giữa sự sống và cái chết.

***

Thế là sau khi nhận một người trong đầu chỉ có nấu nướng như sư phụ Tsuburaya làm thầy, Fujimaru đã hoàn toàn hóa thân thành một thằng khờ chỉ biết có đồ ăn, ngày nghỉ nếu không ra ngoài la cà ăn vặt thì cũng ngồi lỳ trong phòng chú tâm thực hành. Về phương diện xã giao anh hoàn toàn chẳng biết gì cả, khoản này thì lại hệt như Tsuburaya không khác tí nào.

“Cậu Fujimaru thi thoảng cũng nên hẹn hò đi chứ. Đã có bạn gái chưa?”

Đến mức mà bà thím tiệm giặt ủi bên cạnh cũng phải lo lắng thay cho anh. Còn đối với Fujimaru mà nói, anh hết sức hài lòng với tình trạng hiện tại của mình, vì một khi đã chuyên tâm vào công việc rồi thì làm gì có nổi hứng thú với ai nữa chứ.

Bác khách quen của tiệm thì lại bảo:

“Cái tiệm này danh nghe chả xứng với thực gì cả. Cái danh sư phụ này rốt cục cũng quen được cô Hana rồi chứ ha. Ông này nhìn vậy thôi chứ chả đào hoa gì đâu. Này không cần nói mọi người đều tự hiểu nha.”

“Ồn ào quá.”

Tsuburaya ló mặt ra từ phòng bếp. “Ăn nhanh nhanh, về lẹ lẹ giùm.”

Giờ phục vụ buổi tối vắng khách hơn, vậy mà ông cũng giục khách ăn vội ăn vàng. Fujimaru đang đảm nhiệm việc tiếp khách trong tiệm, liền nghe theo yêu cầu của ông bác mà đem thêm một cốc rượu trắng đến bàn. Bác ta vừa nhấm nháp món cá sòng chiên giòn, vừa khoái chí chậm rì rì thưởng rượu.

Trông thấy bộ dạng ấy của ông bác, Fujimaru liền ghé hỏi.

“Ban nãy bác nói danh nghe chả xứng với thực... là có ý gì vậy ạ?”

“Tiệm tên Mãn Phúc Đình mà lại chả ai có nổi gia đình hạnh phúc cả. Cậu Fujimaru cũng vậy, còn trẻ mà chẳng chịu chơi.”

Mãn Phúc Đình là gì? Chẳng biết có phải bác ta đã nhìn thấy dấu hỏi to đùng nổi lên trên đầu Fujimaru hay không mà lại đáp:

“Thì ý là có duyên với phụ nữ đó, cậu này.”

“À à.”

Fujimaru gật đầu. Quả thật anh không thể nhớ nổi mình đã có duyên với phái nữ bao giờ chưa, với cả tình trạng bây giờ của sư phụ cũng trông không có vẻ gì là đào hoa cả. Mỗi lần nghe cô Hana nói chuyện là ông lại cười hềnh hệch. Mặc dù lúc đó trông ông có vẻ thật sự rất vui.

Tsuburaya lại một lần nữa thò đầu ra khỏi bếp để bóc mẽ bác ta.

“Ê, uống hai ly rượu là đủ rồi nha. Coi chừng tôi mách bà xã ông đó.”

“Với cả, tiệm tôi tên là ‘Viên Phục Đình’. Có nghĩa là ‘thu phục thật nhiều viên bạc’, hay nói cách khác là ăn nên làm ra.”

“Ơ, hóa ra là vậy ạ?”

Lần đầu tiên nghe được ý nghĩa tên của cửa tiệm khiến Fujimaru bất ngờ thốt lên. “Sao mà nghe tham lam thế...”

“Khiếu đặt tên của bố ta có hơi dính với cái tính kẹt xỉ của ông ấy.”

Tsuburaya, người thừa kế đời thứ hai của Viên Phục Đình nói, đoạn ông quay ngoắt trở lại vào bếp.

“Cho hỏi.”

Chợt, một giọng nói từ góc nào đó của tiệm cất lên.

“Vâng, tới ngay đây ạ.”

Fujimaru rời khỏi bàn của bác khách quen. Gọi Fujimaru lại là một nhóm khách năm người. Họ ngồi ở ba cái bàn dành cho hai người ghép lại với nhau, bữa ăn thì đã dùng xong. Anh cứ nghĩ họ gọi tính tiền, ai dè cuộc trò chuyện của họ vẫn còn rôm rả lắm, họ gọi anh đến để kêu thêm bia.

Sau khi ghi chú vào sổ, anh đến vòi rót bia vào cốc. Được lắm, bọt bia nổi lên rất đẹp. Fujimaru đặt năm cốc bia lên khay rồi cẩn thận bưng chúng ra bàn. Một cô gái trẻ cất lời, “Cảm ơn anh”, rồi bắt đầu chuyền cốc vào tay mỗi người.

Năm người này cũng rất hay đến Viên Phục Đình. Nhưng về mối quan hệ hay nghề nghiệp của họ thì anh lại chẳng biết tí gì cả.

Nhóm năm người họ gồm ba nam hai nữ. Trong số những người nam thì có một người nom đã quá bốn mươi. Lúc nào anh ta cũng mặc âu phục đen, thế nhưng lại không đeo cà vạt. Chẳng biết anh ta đang trên đường về từ lễ tang nào đó hay là một sát thủ đang giờ tan tầm nhỉ? Anh ta tới lui im ắng khiến người ta hơi có cảm giác đây rõ là một nhân vật u ám.

Bốn người còn lại nom chỉ tầm hai mấy ba mấy tuổi. Bọn họ ăn mặc khá thoải mái, quần jeans áo thun, chân thì mang dép lê hay dép của hãng Birkenstock. Mà bọn họ nhìn cũng chẳng giống một nhóm người chuyện trò rôm rả sau một chuyến đi biển. Đang là giữa hè mà chẳng thấy ai rám nắng cả. Huống hồ gì cả bốn người họ đều không một ai nhuộm tóc, quả là chuyện hiếm thời nay mà. Nói gì đi nữa thì nom bọn họ cũng giống một nhóm người chăm chỉ và nghiêm túc.

Lúc Fujimaru bắt đầu để ý đến nhóm này sau nhiều lần đến tiệm thì ban đầu anh cứ nghĩ họ chắc là giảng viên và sinh viên từ trường Đại học T. Song, bây giờ đang là giữa kỳ nghỉ hè. Nhờ đó khung cảnh hỗn loạn của buổi trưa cũng bớt được phần nào, dạo này anh cũng hiếm khi bắt gặp bóng dáng sinh viên trường họ lắm.

Vậy mà mấy người kia cứ thi thoảng lại ghé tiệm vào giữa kỳ nghỉ thế này. Có khi đến đủ cả năm người, có khi sẽ đổi thành nhóm hai hay ba người gì đó, cũng lắm lúc chỉ có một người đến. Anh trộm nghĩ, dám chừng họ là nhân viên của công ty nào gần đây lắm, nhưng có vẻ chẳng ai giống người làm công cả. Năm người họ thường xuyên bàn luận sôi nổi về một chủ đề mà Fujimaru chả hiểu tí gì, chỉ thấy ai cũng hớn hở ra mặt.

Tuy Fujimaru chưa bao giờ làm nhân viên văn phòng, nhưng anh đoán rằng khi nói về mấy chủ đề liên quan đến thành tích công tác hay khách hàng thì nhất định, bọn họ không thể nào vui vẻ đến thế được. Phần lớn chủ đề trò chuyện của bọn họ nghe cũng không giống thành tích trong công ty hay là chuyện về khách hàng. Song, Fujimaru lại băn khoăn không biết có nên hỏi thẳng bọn họ hay không. Anh nghe hiểu được mấy từ mà họ đang nói đấy, cũng chắc chắn rằng đó là tiếng Nhật nữa, nhưng vào óc anh thì chúng lại chẳng có nghĩa gì hết.

Lúc anh đem bia đến, bọn họ lại tiếp tục bàn luận với nhau mấy câu như:

“Dòng chảy của auxin[5]...”

hay là,

“MYB[6] nó...”

Ô ký sinh là gì á? Fujimaru khó hiểu, Oxygen Destroyer[7] thì anh còn biết.

Hôm trước, Fujimaru hiếm hoi lắm mới dành ngày nghỉ của mình đến rạp để xem bộ phim mới về Godzilla. Sau đó vì cao hứng nên anh đã lôi điện thoại ra xem cho hết loạt phim đời đầu của Godzilla qua mấy trang web phim trên mạng. Dù màn hình chỉ bé xíu thôi nhưng anh vẫn thấy xúc động sâu sắc. Anh còn phấn khích mà đi hỏi Tsuburaya, “Có khi nào sư phụ là họ hàng của đạo diễn Tsuburaya không?”, song khi nhận được câu trả lời rằng, “Ta chả phải thân thích gì với ông ấy, tiếc thật” thì anh đã không khỏi thất vọng đôi chút.

Thôi, nói tóm lại là thân thế của năm người kia vẫn vô cùng bí ẩn. Bọn họ thường ra về vào khoảng chín rưỡi. Bác khách quen ngồi lỳ đến tận mười giờ, len lén né khỏi tầm mắt của Tsuburaya để nốc vào bụng ly rượu vang trắng thứ ba, nom còn có vẻ cao hứng lắm.

Sau giờ đóng cửa, anh và Tsuburaya cùng nhau dọn dẹp suốt một tiếng đồng để còn chuẩn bị mở cửa vào hôm sau. Xong xuôi, Tsuburaya trở về cửa hàng hoa của cô Hana, còn Fujimaru thì leo lên cầu thang cạnh nhà bếp để lên tầng.

Vì đang là mùa hè nên cửa sổ gian phòng sáu chiếu để mở toang. Anh mở luôn tấm cửa lưới rồi thò mặt ra ngoài, ngay lập tức Fujimaru thấy, dưới mắt mình là những đóa hoa trắng muốt mọc ra từ cây thục quỳ trồng trước thềm cửa nhà đối diện. Anh còn nghe được tiếng xe chạy từ đường Hongo vọng lại đây.

Fujimaru đi tắm rồi lấy trà lúa mạch đã pha sẵn để trong tủ lạnh ra uống. Hôm nay cũng là một ngày làm việc vất vả. Anh trải đệm trong gian phòng sáu chiếu rồi ngả lưng xuống, chiếc khăn tắm vẫn còn quấn quanh bụng.

Chợt nhớ ra còn phải đặt báo thức, anh vớ lấy chiếc điện thoại. Không có bất kỳ thông báo LINE[8] hay email mới nào từ bạn bè cả. Anh chợt nghĩ, cuộc sống của mình có đang nhàm chán quá không nhỉ, nhưng cơn buồn ngủ đã vội ập tới.

Anh kéo dây công tắc dài lòng thòng của chiếc đèn trên trần nhà, căn phòng lập tức tối đen. Anh luôn luôn đặt báo thức điện thoại vào lúc bảy giờ. Lũ ve kêu ran như đang phản đối sự oi ả của mùa hè. Đây chắc là bọn ve sầu đã lột xác bên trong khuôn viên của Đại học T vốn lắm cây nhiều cối đây mà. “Nhắc mới nhớ, ô ký sinh là gì ấy nhỉ?”, đó là dòng suy nghĩ cuối cùng của Fujimaru vào tối hôm ấy.

Mấy ngày sau, đúng lúc anh đang nghĩ sao Tsuburaya lại có vẻ háo hức khác với mọi khi vậy, thì ông đã mua lấy một chiếc xe đạp mới coóng từ cửa hàng xe đạp gần đó. Lại còn tự mình cưỡi lên nó, có vẻ yêu thích vô cùng.

Fujimaru hết sức ngỡ ngàng khi nhìn thấy chiếc xe đạp màu xanh da trời dựng ngay trước cửa Viên Phục Đình. Phía sau xe trang bị một cái thùng khá cao màu xanh đậm. Trông khá giống với chiếc xe máy giao hàng của tiệm ramen. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ đây là xe đạp chứ không phải xe máy.

“Ơ, tiệm nhà mình chuẩn bị mở dịch vụ giao hàng ạ?”

Fujimaru hỏi Tsuburaya. “Khu này có nhiều đường dốc lắm, cháu nghĩ đạp xe sẽ rất cực.”

“Vậy chứ chú mày có bằng lái không?”

Tsuburaya nói, ông bác chủ tiệm xe đạp đang đứng bên cạnh cũng tủm tỉm mà gật đầu.

“Hả?! Cháu là người đi giao hàng sao?!”

“Chú mày bị ngu à, không phải chú mày thì còn ai vào đây! Hông của ta nhức rần rần đây này. Còn bắt ta phải đi giao hàng nữa thì khác gì giết người chứ hả?”

Vậy thì cũng phải bàn trước với cháu một tiếng chứ, Fujimaru thầm nghĩ, nhưng dù có nói với Tsuburaya cũng vô ích thôi, nên anh đành chịu thua, “Thôi, vậy cũng được.” Tính tình Tsuburaya vốn đã tùy tiện thì không nói làm gì, nhưng kể đến sự vô tư lự thì Fujimaru cũng không thua ai.

Theo lời Tsuburaya thì vào cái thời bố ông còn làm chủ Viên Phục Đình thì cả nhà ai cũng phải xông vào phụ quán, nhờ đủ người nên còn thêm cả dịch vụ giao hàng nữa. Phụ trách việc ấy chính là cậu con trai sẽ kế nghiệp ông sau này, tức là Tsuburaya. Những món ăn theo kiểu Tây Âu khi được giao đến vẫn còn nóng hôi hổi đã từng vang bóng một thời với các cư dân trong khu và công nhân viên chức trường T. Với lại, nghe đồn lúc bấy giờ Tsuburaya dùng xe máy để đi giao hàng. Đúng là tính nhà quan, chỉ thích làm theo ý mình. Fujimaru có chút hậm hực.

Tsuburaya trả tiền xe đạp rồi nhanh chóng bắt tay vào việc viết giấy quảng cáo.

“Giờ hàng rau quả với cửa hàng tiện lợi nhiều lắm, không biết nhu cầu của mọi người là bao nhiêu nữa. Mà thôi, có được sức lao động trẻ như cậu thì chuyện làm ăn của tiệm sẽ nhanh phất ấy mà.”

Ông vừa nói vừa lấy bút lông ghi chữ thật to trên giấy: “Nhận giao hàng qua điện thoại (chỉ giới hạn buổi tối)”. Đoạn, ông đưa cho Fujimaru để anh ghim tờ giấy lên bức tường đằng sau quầy tính tiền.

Hiệu quả đã xuất hiện ngay trong ngày.

Vào tầm trưa, người đàn ông vận âu phục đen với vẻ u ám trong nhóm năm người nọ đến tiệm một mình rồi uể oải gọi một phần cơm cà ri. Trông anh ta cao gầy thế thôi chứ cơm lại đòi phải xới nhiều. Anh ta chén sạch sành sanh đĩa cơm không sót một hạt rồi thong thả nhâm nhi tách cà phê sau bữa ăn như một vị quý tộc Anh quốc đang thưởng thức ly hồng trà của mình vậy.

Vừa bận bịu tiếp khách và làm đồ ăn, Fujimaru vừa dành thời gian để quan sát anh ta. Chỉ còn ít phút nữa là hết giờ nghỉ trưa nên không khí trong tiệm cũng dần trở nên căng thẳng, ấy thế mà xung quanh người đàn ông lại lãng đãng nét yên tĩnh, cứ như anh ta chỉ là một cái cây.

Chậc, tuy rằng không có cái cây nào lại ngốn cả đĩa cơm cà ri to như thế. Nhác thấy có khách mới đang đứng chờ trước cửa tiệm, Fujimaru thờ ơ đi đến bàn của người đàn ông, dọn đi chiếc đĩa đã ăn xong. Lúc bấy giờ, người này mới sực phát hiện bên trong tiệm đã đông nghịt. Anh ta há hốc mồm như vừa tỉnh khỏi giấc mộng, vội vã uống hết tách cà phê rồi đứng dậy.

Fujimaru đem chén đĩa đặt lên quầy trong bếp rồi đi ra chỗ thanh toán để tính tiền cho người đàn ông.

Người đàn ông đứng trước quầy tính tiền thấp hơn Fujimaru một chút. Mái tóc được chải sao cho chỉ che cái trán một ít, trên mặt thì đeo cặp kính gọng mảnh. Tất cả vẽ nên hình tượng về một con người “nghiêm túc”. Thế nhưng ấn tượng ấy lại không ăn khớp với bộ âu phục đen trông như đồng phục của những tay sát thủ, không hợp với móng tay được cắt ngắn và mùi bùn đất lúc nào cũng vương trên người anh ta.

Không lý nào, biết đâu hắn vừa mới chôn xác ai đó sau khi vừa xử lý người ta xong thì sao, Fujimaru lẳng lặng quan sát kỹ người đang đứng trước mặt. Người đàn ông thì vẫn chẳng tỏ vẻ gì, chỉ móc từ túi áo của bộ âu phục mỏng mùa hè ra tờ 1.000 yên mới tinh. Tờ tiền chỉ có vài nếp nhăn. Mặc dù điều này thể hiện rằng anh ta là người khá kỹ tính nhưng sao không dùng ví tiền nhỉ? Lúc Fujimaru trả lại tiền thừa, người đàn ông nhận lấy rồi bảo:

“Tiệm mình cũng có giao hàng tận nơi à?”

Tuy rằng đã ghé tiệm không biết bao nhiêu lần, nhưng đây là lần đầu tiên anh ta bắt chuyện với Fujimaru. Tầm mắt của người đàn ông đổ dồn vào tờ giấy ghim trên bức tường sau lưng anh.

“Có ạ. Giao hàng bằng xe đạp nên chắc là cũng không được nhanh cho lắm.”

“Không sao. Ngay đối diện đây thôi.”

Người đàn ông vỗ vỗ mấy chiếc túi trên người, rốt cục cũng rút ra từ túi quần sau bên trái một tấm danh thiếp. “Sau này chắc phải nhờ đến tiệm mình rồi. Lúc ấy phiền cậu giao hàng đến địa chỉ này nhé.”

Nói đoạn, anh ta đưa tấm danh thiếp cho Fujimaru. Góc danh thiếp hơi cong. Người này không có hộp đựng danh thiếp à, Fujimaru trộm nghĩ.

Tấm danh thiếp mà Fujimaru nhận được có nội dung như sau:

Đại học T

Viện Nghiên cứu Khoa học Tự nhiên – Khoa Sinh vật học (tòa nhà B khu Tự nhiên – phòng số 361)

Giáo sư Matsuda Kenzaburo

Trông người này chỉ mới ngoài bốn lăm mà đã là giáo sư trường T rồi á? Mặc dù Fujimaru không hiểu biết nhiều cho lắm nhưng bản thân anh cũng cảm thấy người đàn ông này quá ư là tài giỏi.

Trong lúc Fujimaru vẫn còn mải nghĩ ngợi với tấm danh thiếp trên tay thì người đàn ông tên Matsuda Kenzaburo kia đã cúi chào anh rồi đi ra ngoài. Anh giật mình, vội cất lời “Cảm ơn quý khách” với theo tấm lưng khoác âu phục đen của anh ta.

Thế hóa ra không phải là sát thủ à. Ra thế. Vừa mời các vị khách ở trước tiệm vào bên trong, Fujimaru vừa thấy trong lòng hỗn độn giữa cảm xúc thất vọng và yên tâm. Thân thế của Matsuda thì đã rõ ràng rồi đấy, nhưng Fujimaru vẫn chẳng thể hiểu nổi cái ngành “Sinh vật học” ghi trên danh thiếp là môn học gì. Nếu là sinh vật học thì không biết anh ta có nghiên cứu luôn cả động vật không nhỉ? Vườn thú Ueno cũng ở gần đây, thế anh ta có đến đó để nghiên cứu đời sống của gấu trúc không...? À, có khi trang phục vest đen áo sơ mi trắng của giáo sư Matsuda là để tỏ lòng tri ân đối với lũ gấu trúc cũng nên. Fujimaru gật gù.

Nói cách khác, nếu Matsuda là thầy giáo ở Đại học T, điều đó có nghĩa đám người trẻ tuổi hay đến Viên Phục Đình với anh cũng là sinh viên trường T. Fujimaru cẩn thận cất tấm danh thiếp của Matsuda vào bên trong ngăn kéo của quầy thanh toán.

***

Hôm sau, trước giờ trưa, một cú điện thoại gọi đến Viên Phục Đình. Đầu dây bên kia là giọng một người phụ nữ trung niên.

“Nhờ các anh giao hàng giúp tôi.”

Đây chính là đơn hàng đầu tiên. Fujimaru nhận cuộc gọi rồi đáp lời với vẻ hết sức hăng hái.

“Mời quý khách đặt món rồi cho tôi địa chỉ ạ.”

“Ba phần mì Ý, hai phần cơm cuộn trứng. Tôi là thư ký phòng Nghiên cứu Matsuda ở Đại học T, tên Nakaoka ạ. Không biết cậu có thể giao đồ ăn đến phòng 361, tòa nhà B khu Tự nhiên của Đại học T được không?”

Phòng Nghiên cứu Matsuda! Matsuda vừa mới đưa anh danh thiếp đây thôi mà đã gọi giao hàng nhanh thế. Hơn nữa, ở trường còn có cả thư ký. Anh cứ nghĩ chỉ tầm giám đốc chủ tịch mới có thư ký thôi. Fujimaru ghi chú món ăn vào sổ tay.

“Vâng ạ, trong vòng 30 phút tôi sẽ giao đồ đến ngay. Dạ vâng, vâng, cảm ơn quý khách đã gọi món ạ.”

Dứt lời, anh cúp máy. Fujimaru báo lại đơn đặt hàng cho Tsuburaya đang ở trong bếp, thu xếp trả lời các thực khách đang ăn trưa rồi bỏ tiền lẻ dùng khi giao hàng vào túi tiền đã được chuẩn bị từ trước.

Tờ giấy ghim phía sau quầy tính tiền đã ghi rằng chỉ nhận giao hàng vào buổi tối, nhưng có vẻ Matsuda đã đọc không kỹ. Fujimaru như bước trên mây với đơn hàng đầu tiên của mình, còn Tsuburaya thì quên béng bản thân đã ghi gì trên giấy. Kết quả là từ đó về sau, Viên Phục Đình trở thành tiệm ăn luôn đáp ứng giao hàng trong suốt giờ mở cửa.

Chẳng mấy chốc mà mì Ý và cơm cuộn trứng đã xong. Fujimaru lấy giấy gói bọc từng đĩa từng đĩa lại một cách cẩn thận, đoạn, anh rót nước canh tiệm tặng kèm vào bình giữ ấm to bản. Anh còn chuẩn bị cả muỗng nĩa và năm chiếc cốc để rót canh, phòng trường hợp phòng nghiên cứu không có dụng cụ ăn uống nữa.

Đoạn, anh xếp tất cả vào chiếc thùng màu bạc được cố định trên chiếc xe đạp màu xanh da trời. Xong xuôi, anh nhìn lại một lần tấm danh thiếp cất trong ngăn kéo quầy thanh toán, niệm đi niệm lại trong đầu “Tòa nhà B khu Tự nhiên, phòng 361”. Tuy Đại học T khá gần Viên Phục Đình, nhưng Fujimaru chưa bao giờ xem qua vị trí mấy tòa nhà trong khuôn viên trường. Lấy danh nghĩa công việc để đường đường chính chính thâm nhập vào thế giới mà mình chưa bao giờ biết đến khiến anh cứ thấy vui vui thế nào.

Tsuburaya cũng dừng tay nấu nướng mà bước ra ngoài cửa tiệm.

“Trường T rộng lắm. Đừng có mà đi lạc đấy.”

“Dạ vâng.”

“Cũng đừng la cà, đi sớm về sớm biết chưa?”

“Không sao đâu mà. Sư phụ ơi, món thịt viên sắp khét rồi đấy.”

“Khét tí cũng chả ảnh hưởng gì đến sức khỏe đâu.”

Nhưng sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng của tiệm, Fujimaru ngầm phê bình rồi bắt đầu đạp xe đi.

“Vậy nhé, cháu đi đây!”

“Cẩn thận đấy. Chú mày mà dám làm đổ đồ ăn thì đừng mơ bữa nay được ăn cơm.”

Fujimaru phẩy tay rồi dùng sức đạp mạnh hơn nữa. Thùng hàng nặng hơn anh nghĩ, khiến toàn bộ chiếc xe cứ nghiêng ngả chao đảo. Thế nhưng một khi đã vào tốc độ rồi thì chiếc xe đạp màu xanh lại đều đều lăn bánh vô cùng vững chãi. Thùng hàng màu bạc gắn sau lưng anh cùng túi tiền anh treo ở cổ tay trái cứ vô tư lắc lư trái phải.

Ve sầu đang kêu. Đúng lúc anh đạp xe từ con hẻm nhỏ của Viên Phục Đình ra đến đường Hongo thì đã thấy ngoài trời chói chang ánh nắng mùa hạ. Anh nhấn bàn đạp xoay vòng. Mồ hôi lấm tấm bên thái dương. Làn gió sượt qua cánh tay khiến anh thấy thật dễ chịu.

Sau khi băng qua đường Hongo, chẳng mấy chốc mà anh đã đến trước Xích Môn của trường Đại học T. Fujimaru xuống xe rồi ngước nhìn lên chiếc cổng. Đúng như tên gọi của nó, cổng trường được sơn đỏ rực. Chiếc cổng được xây mái ngói trông oai vệ và mang phong cách như bước ra từ phim cổ trang. À không, thay vì gọi là chiếc cổng thì nên gọi đây là một “tạo tác kiến trúc” thì đúng hơn. Chiều rộng của nó trông như có thể nhét vừa những ba tiệm Viên Phục Đình. Nghe bảo tại vị trí của khu dạy học ở Hongo của Đại học T, vào thời Edo từng tọa lạc dinh thự của phiên Kaga[9]. Trước đây Tsuburaya có kể với anh, Xích Môn này chính là tàn dư từ thời đại ấy.

Mỗi lúc thức dậy vào sáng sớm, Fujimaru sẽ thi thoảng đi dạo trong khuôn viên trường T. Những lúc như vậy, ngôi trường gần như không một bóng người. Hít vào hương thơm từ mảng xanh bát ngát trong trường, anh chỉ nghe thấy tiếng hót của những chú chim lanh lảnh khắp mảnh trời tờ mờ sáng. Thế mà giờ đây bên trong cổng trường lại đầy người ra kẻ vào. Có người nom như sinh viên, có người nhìn như giảng viên, có cả người trông như chuyên viên được phép ra vào trường. Một đoàn khách tham quan còn đang đứng chụp quang cảnh của chiếc Xích Môn nữa.

Fujimaru không hiểu sao chợt cảm thấy tự ti. “Không biết trông mình có giống với sinh viên trường T không nhỉ? Không xong rồi, tạp dề vẫn đang đeo, lại vác theo thùng đựng thức ăn nữa chứ”, nghĩ đoạn, anh liếc trộm về phía bác bảo vệ rồi từ từ dắt xe đạp vào trong. Chiếc xe đạp màu xanh da trời còn lăn bánh kêu lạch cạch như đang lạy ông tôi ở bụi này.

Lúc vào được khuôn viên trường, anh lập tức thấy bản đồ hướng dẫn. Bốn góc có vẽ các tòa nhà mà đối với Fujimaru lại cứ như hằng hà sa số vậy. Tuy nhiên, tòa nhà B khu Tự nhiên mà anh đang muốn đến lại ở gần Xích Môn nhất, nằm ngay mặt đường Hongo. May quá, có thể giao đồ ăn tới nơi trong lúc vẫn còn nóng sốt rồi.

Fujimaru vừa dắt xe đạp vừa bước đi trong khuôn viên trường. Khuôn viên được vây quanh bởi một bức tường khá bình thường mà cũng không cao cho lắm. Song, bất chấp việc lưu lượng giao thông ngoài đường Hongo có đông đúc ra sao thì bầu không khí bên trong trường vẫn giữ được vẻ tĩnh lặng, hẳn là nhờ hàng cây chắn bớt tiếng ồn.

Tòa nhà B khu Tự nhiên chẳng mấy chốc đã hiện ra trước mặt anh.

Đó là một tòa nhà cổ kính. Không chỉ cổ, nó còn mang nét nghiêm trang đường đường và tao nhã. Tòa nhà có hai tầng lầu, toàn bộ được xây bằng loại gạch màu nâu nhạt, trông như thể nó vừa sừng sững mọc lên từ giữa lòng đất vậy. Có một bộ phận của tòa nhà cao đến tầng thứ ba, từ chính diện nhìn vào thì nó có dạng như hình chữ đột (凸). Thế nhưng anh lại có ấn tượng rằng tòa nhà này không vô hồn chút nào. Mặt tiền bề thế được xây thành ba đường vòm khổng lồ uốn lượn nối tiếp nhau. Bên trong như là cửa ra vào. Như để bắt nhịp với mái vòm ở chính diện, hàng gạch của bức tường ngoài cũng được xếp cong cong như mái hiên cho từng ô cửa sổ, vẽ nên một đường cung gợn sóng.

Tạo hình của tổ hợp kiến trúc này khiến người ta dù nhìn nghiêng hay nhìn thẳng cũng phải thốt lên đẹp tuyệt, Fujimaru cảm thán. Tòa nhà này không biết có đang được sử dụng không nhỉ? Ngầu thật đó. Nó đã ở trình độ như một viện bảo tàng rồi, giờ có bảo anh cả tòa nhà đều được bảo tồn để triển lãm thì cũng chẳng có gì lạ. Bên trong sẽ được chăng những dải thừng hết sức uy nghiêm đề mấy dòng như, “Cấm giẫm chân lên đây” hoặc “Xin đừng chạm vào hiện vật”.

Anh dựng xe dưới chân bậc thang dẫn lên mặt tiền tòa nhà rồi đứng chần chừ một lúc để xem sao. Fujimaru nhác thấy có vài người nam nữ ra vào. Xem ra tòa nhà không cấm người ta giẫm chân, nhưng hình như bên trong lại không có quầy lễ tân. Ai ai cũng một bộ dạng ra vào tự nhiên vô cùng.

Xem chừng mình cũng có thể vào bên trong nhỉ, anh đoán. Đoạn, Fujimaru dỡ thùng hàng màu bạc khỏi xe đạp. Tay trái anh xách theo nó, chân thì bước lên bậc thang dẫn đến mái vòm của tòa nhà.

Phía trước là một chiếc cửa mở hai cánh. Được lắp trên cánh cửa bằng gỗ sẫm màu hổ phách ấy là một tấm kính cao ngang eo anh. Trước tiên cứ nhòm qua cửa kính xem bên trong thế nào đã. Anh thấy tiền sảnh hai bên đều có cầu thang. Trần nhà rất cao, sàn nhà được ốp đá hoa cương. Kiểu cách cứ như Biệt thự Lộc Minh[10] cũ kỹ ấy. Có thể nói, tháng ngày mà nó trải qua đã hằn sâu vào từng không gian ngóc ngách.

Tuy bảo rằng khu nhà đã khá cũ kỹ, nhưng nếu có một tòa học viện trông hệt biệt thự Lộc Minh thế này cũng tuyệt vời quá đi. Trường học của mình chỉ như một “cái hộp màu xám xịt” thôi.

Vừa dâng trào xúc động thêm một lần nữa, Fujimaru vừa đưa tay nắm lấy tay đấm cửa bằng đồng thau. Cửa không mở. Ấn vào hay kéo ra cũng không ăn thua, cánh cửa vẫn đứng yên như bàn thạch.

Ơ, sao thế này? Cánh cửa nhìn như không cần dùng chìa khóa để mở kia mà, thế thì mọi người làm cách nào để ra vào tòa nhà? Fujimaru bắt đầu sốt ruột, anh nhìn quanh hòng tìm người tới giúp. Xui xẻo là cũng không thấy bóng lễ tân đâu. Nhìn kỹ lại, giờ anh mới phát hiện trên tấm cửa kính có dán một tờ giấy nhỏ xíu ghi dòng chữ, “Không phận sự cấm vào”. Tờ giấy cũng đã nhuốm màu năm tháng, mặt giấy ngả hẳn sang màu nâu vàng.

Có lẽ nào... cánh cửa có chức năng nhập mật khẩu hay nhận dạng vân tay chăng? Fujimaru hết nhìn nắm đấm cửa đến bức tường bên cạnh, cũng không tìm thấy bất kỳ hệ thống bảo an tối tân nào. Cứ thế này thì đồ ăn bên trong thùng bạc sẽ nguội mất. Anh bèn cắn răng cắn lợi dùng sức kéo ra ấn vào cánh cửa, khiến nó kêu lên lạch xạch lạch xạch không ngừng.

Đúng lúc đó, có bóng người xuất hiện phía bên kia tấm kính. Người nọ nhẹ nhàng mở cửa từ bên trong. Fujimaru lúc bấy giờ đang đè toàn bộ sức nặng của mình lên cánh cửa nên anh suýt chút nữa là vấp té vào bên trong tiền sảnh của tòa nhà. Khi anh vội sửa soạn lại tư thế của mình để còn nói cảm ơn với người kia, ánh mắt anh va phải diện mạo của cô.

Người đã mở cửa là một cô gái có vóc dáng nhỏ bé. Nom cô lớn hơn Fujimaru ít tuổi, chắc cũng phải trên hai lăm. Mái tóc óng ả được cô buộc gọn ra đằng sau, mắt thì đeo kính. Cô mặc một bộ trang phục khá thoải mái, quần jeans áo thun, chân mang dép cao su.

Fujimaru nhớ ra mình từng gặp người con gái này rồi. Cô ấy cũng nằm trong nhóm người hay đến Viên Phục Đình chung với giáo sư Matsuda đây mà. Ấn tượng của anh về cô là một người khá tinh tế trong việc chăm sóc người khác, cô sẽ lấy bia chia cho những người còn lại, sẽ tập hợp món ăn mà từng người muốn ăn để gọi món.

Cô gái cũng nhòm vào mặt Fujimaru rồi chuyển sang nhìn về phía cái thùng màu bạc mà anh đang xách bên tay trái.

“Anh là người của Viên Phục Đình đúng không ạ?”

“May quá. Tôi đã nghĩ chắc anh sẽ không biết bọn tôi ở phòng nào nên mới ra đón đây.”

“À... cô là thư ký Nakaoka ạ?”

Vừa dứt lời thì Fujimaru cũng đã trộm nghĩ, chắc không phải đâu ha. Đầu dây bên kia là một giọng nữ nghe có vẻ già dặn hơn nhiều. Người con gái đang đứng trước mặt anh lại có chất giọng trong trẻo như tiếng chuông gió.

“Dạ không, chị Nakaoka có mang theo cơm hộp rồi. Tôi là nghiên cứu sinh phòng nghiên cứu của thầy Matsuda, tên Motomura ạ.”

“Xin mời anh đi lối này”, nói đoạn, Motomura dắt anh lên cầu thang bên tay phải của tiền sảnh. Fujimaru lẽo đẽo theo sau. Cầu thang được lát ván gỗ, tay vịn bằng gỗ thì uốn lượn gấp khúc. Chắc do bị nhiều người sờ tới sờ lui nên góc cạnh của nó đã bị mài nhẵn, lóe lên thứ ánh sáng đục ngầu hay có trên mấy bức tượng Phật trơn bóng.

Trên thềm nghỉ của cầu thang, người ta bố trí một chiếc hộp bằng kính cao đến tận trần nhà với mục đích triển lãm. Bên trong hộp kính là những mẫu vật nom hết sức khó hiểu. Có một thứ trông như lá dừa khổng lồ, nhưng nó lại có màu đen thui. “Này là cái gì nhỉ?” Fujimaru tự hỏi khi đi ngang qua, và lúc lên đến tầng hai thì anh lại chợt nảy ra suy đoán, “Có khi nó là râu cá voi cũng không chừng.”

Hành lang tầng hai cũng được lát ván gỗ, trần nhà trát vữa được xây thành kiểu mái vòm có mấy thanh xà chặn ngang. Hai bên hành lang được xếp đầy mấy chiếc hộp bằng kim loại, trông như tủ đựng văn phòng phẩm hay dụng cụ thí nghiệm. Chen giữa chúng là những cánh cửa gỗ. Tay đấm cửa dĩ nhiên là bằng đồng thau. Lúc đi ngang qua mấy cánh cửa trông như dẫn vào phòng nghiên cứu hay phòng thí nghiệm, anh để ý thấy ngoài cửa sẽ gắn mấy tấm bảng gỗ bần thông báo bên trong có người hay không, hoặc những mảnh giấy lưu ý mọi người “Xin hãy đổi giày khi vào phòng”. Cũng có vài cánh cửa dán poster có hình con sứa hoặc đảo nhiệt đới nào đó, không thì cũng là ảnh chụp có màu sắc cực kỳ sinh động.

Tất cả mọi thứ đều mới lạ đối với anh, Fujimaru vừa đi dọc hành lang vừa ngó nghiêng khắp nơi, nhưng thi thoảng mắt anh sẽ dừng lại nơi gót chân của Motomura. So với gót chân của Fujimaru thì gót chân cô nhỏ đến nỗi anh không tài nào nghĩ rằng đó là cùng một bộ phận với mình được, lại còn có chút phiếm hồng nữa chứ. Anh cứ nhìn chòng chọc vào nó, thầm nghĩ, ừm, gót chân cô ấy xinh thật đấy. Để đánh lạc hướng bản thân, anh vội mở miệng.

“Cửa ra vào có gắn hệ thống bảo an nào không nhỉ?”

“Không có đâu ạ.”

Motomura đáp, đầu vẫn không ngoảnh lại. “Nhưng mà... cái đó cũng không thể nói là hệ thống bảo an gì được nhỉ.”

Motomura dừng chân trước một căn phòng nằm trong góc hành lang tầng hai, “Đến rồi, đây ạ,” cô vặn tay đấm cửa. Trên cửa có gắn một tấm biển, đề “Phòng nghiên cứu Matsuda”.

“Mấu chốt ở đây là anh phải đẩy cánh cửa lên một chút. Vì nó đã cũ lắm rồi nên đóng mở cũng khó.”

Lúc anh đang bị hớp hồn bởi nụ cười lần đầu tiên được thấy từ Motomura thì cánh cửa đã mở ra. Khi nhìn thấy bên trong căn phòng, Fujimaru vô ý thốt lên một tiếng đầy kinh ngạc.

Bên trong căn phòng tràn ngập cây xanh. Đây đó trên sàn nhà đặt toàn là chậu cây, mỗi gốc nom đều khỏe mạnh, cành lá sum suê. Không hề có lấy một loại thực vật mà Fujimaru biết. Có cây ra lá to như lá khoai môn, có cây trông như một loại lan, có cây rất giống hoa cúc dại. Tuy thấy được nhiều chậu cây như vậy, thế nhưng anh không nói nổi tên của bất kỳ loại cây nào. Trong đây không có cây trúc, chắc là họ không nghiên cứu gấu trúc rồi nhỉ, Fujimaru thầm nghĩ.

Trong góc của bức tường đối diện cửa có ô cửa sổ, trên bệ cửa sổ xếp một hàng các chậu cây bé tí hon. Thế nhưng vì có tấm bình phong chắn phía trước nên phần bên trái cửa sổ đã bị khuất hơn nửa. Từ trong góc tối của tấm bình phong, anh có thể thấy sách vở tạp chí chất đầy đến nỗi đổ đống xuống sàn nhà.

Tuy tổng thể nhìn có hơi hỗn loạn một chút, nhưng căn phòng vẫn có một bầu không khí ấm áp nhờ tràn ngập ánh sáng và màu xanh cây cỏ.

Bức tường bên tay phải nhìn từ cửa ra vào có một bệ rửa tay nho nhỏ cùng hai cái bàn. Tường bên trái thì kê ba cái. Bàn nào cũng để laptop, có ba người trẻ tuổi đang bận tập trung vào công việc. Mặt tường phía trên bàn đóng một cái giá sách cao đụng trần nhà, bên trong nhét kín sách, có cả sách tiếng Anh nữa.

Ở giữa phòng là một chiếc bàn lớn, Motomura chỉ vào nó rồi nói, “Nhờ anh để đồ lên đây.”

Đoạn, cô quay sang nói với mọi người trong phòng.

“Người của Viên Phục Đình đến rồi đây ạ.”

Đám thanh niên đang dán mắt vào máy tính liền đứng cả dậy, nhận lấy đồ ăn và muỗng nĩa từ Fujimaru rồi bắt đầu giúp phân phát khẩu phần cho nhau ở chiếc bàn to bản kia. Người đàn ông nom tầm ba chục kia tên Kawai, cô gái nhìn có vẻ sắp sửa bước qua tuổi ba mươi tên Iwama, gã thanh niên nghe bảo là bạn cùng tuổi với Motomura thì tên Kato.

Kawai là trợ giảng, Iwama là tiến sĩ nghiên cứu sinh, Kato là nghiên cứu sinh. Fujimaru nghe mà chả hiểu mô tê gì. Anh chỉ có thể đáp lại, “Tôi là nhân viên của Viên Phục Đình, tên Fujimaru.” Dù chẳng hiểu gì thì đây cũng là lần đầu tiên anh đi giao hàng, Fujimaru không biết mình nên phục vụ khách hàng đến đâu, thôi thì trước nhất cứ rót nước canh vào cốc mà anh đã mang theo vậy.

Phân khẩu phần đã xong. “Đúng rồi, mình còn chưa tính tiền nhỉ”, từng người trong nhóm bốn người trẻ tuổi của phòng nghiên cứu Matsuda bắt đầu móc ví tiền của mình ra. Trợ giảng Kawai vừa thọc tay vào cặp để mò ví, vừa quay sang tấm bình phong cất tiếng kêu, “Thầy Matsuda ơi.”

“Cơm trưa này, thầy Matsuda ơiiii.”

Từ trong góc khuất của tấm bình phong, có gì đó đang chuyển động. Nhón chân tránh giẫm vào mấy quyển sách đổ rạp ra sàn nhà, bóng dáng của thầy Matsuda Kenzaburo – chủ nhân phòng nghiên cứu này, đã xuất hiện. Matsuda vẫn giữ phong thái lạnh lùng của mọi khi, quay sang Fujimaru nói, “Chà, cảm ơn cậu nhé”, đoạn, thầy ra hiệu cho nhóm người kia dừng lại rồi ra tay thanh toán hết cho mọi người. Fujimaru móc tiền thối từ chiếc túi anh mang theo đưa cho thầy. Matsuda nhét bừa chúng vào bên trong túi quần rồi ngồi vào ghế. Sau đầu thầy đã có một mảng lớn tóc xù lên.

“Thầy lại ngủ nữa rồi.”

Iwama lạnh nhạt lên tiếng trách móc.

“Thầy không có ngủ. Chỉ là vừa suy nghĩ cái này thôi.”

“Sao mỗi lần bị bóc mẽ thầy lại nói dối ngay được nhỉ?”

“Căn phòng này chỉ có mỗi chỗ bên cửa sổ là có ánh sáng nhiều nhất ha.”

Iwama và Motomura vừa nói vừa cười rộ lên. Fujimaru đặt tay lên cái thùng bạc giờ đã rỗng không, cất tiếng hỏi một chuyện mà anh đã thắc mắc ngay từ lúc mới bước chân vào phòng.

“Cho tôi hỏi... Mọi người... đang nghiên cứu về cái gì vậy ạ?”

Mọi người trong phòng vừa tính bắt tay vào ăn món cơm trứng cuộn hay mì Ý của mình thì bây giờ lại ngồi nhìn nhau. Cuối cùng, người bị ánh mắt của tất cả đổ dồn về là thầy Matsuda bèn phải đại diện lên tiếng.

“Thực vật học.”

***

Nhìn thấy bộ dạng Fujimaru lúc quay về Viên Phục Đình, Tsuburaya nói:

“Gì chứ, mặt chú mày cứ như vừa mới từ long cung trở về ấy.”

Fujimaru chỉ biết hả một tiếng rồi lại bắt tay vào việc tiếp đãi những vị khách đang dần chen chúc trong tiệm.

Tranh thủ thời gian nghỉ kéo dài cho đến giờ ăn tối, anh đến Đại học T để thu thập lại muỗng nĩa. Theo lời dặn của Motomura, anh nâng cánh cửa ngay chỗ ra vào lên một chút rồi mới vặn tay nắm cửa.

Mặc dù bên trong không lắp máy lạnh, thế nhưng tòa nhà B khu Tự nhiên vẫn có vẻ mát mẻ và yên ắng. Cánh cửa phòng nghiên cứu Matsuda đóng chặt, dường như bên trong chẳng có ai. Chỉ có mỗi tiếng dép đi trên sàn nhà vọng lại từ đằng xa thôi.

Muỗng nĩa đã được rửa sạch và xếp bên cạnh cửa, phía ngoài hành lang. Fujimaru cất muỗng nĩa vào trong cái thùng màu bạc rồi rời khỏi phòng nghiên cứu, nhưng bản thân thì cứ ngoái đầu nhìn lại không biết bao nhiều lần.

“Gì chứ, mặt chú mày cứ như vừa mới bị nàng công chúa nào đó đá vậy.”

Tsuburaya nói. Fujimaru lại chỉ biết hả, tay thì thô bạo bào vỏ khoai tây. Gót chân của cô Motomura còn nhỏ và tròn trịa hơn cả củ khoai này nữa, anh thầm nghĩ. Khuôn mặt từng người ở căn phòng nghiên cứu bị phủ đầy màu xanh hiện lên trong đầu anh.

Tuy anh vẫn không hiểu sao mình lại trở nên tò mò đến thế, nhưng Fujimaru thực sự mong rằng mình có thể biết được môn Thực vật học mà họ đang nghiên cứu là cái gì.

***

Dịch vụ giao hàng tận nơi mà Viên Phục Đình vừa bắt đầu kinh doanh dần trở nên khá khẩm. Các cặp vợ chồng già trong khu, các công ty muốn tổ chức bữa trưa cho nhân viên, những gia đình có con nhỏ nên rất khó sửa soạn khi ra ngoài dùng bữa,... tiệm nhận được đơn đặt hàng từ rất nhiều đối tượng khách hàng. Fujimaru cưỡi trên con xe đạp xanh da trời chạy lòng vòng trong phạm vi khu Hongo. Anh vẫn tiếp khách, nấu nướng và dọn dẹp như mọi khi nên mỗi đêm lúc đặt lưng xuống đệm thì Fujimaru sẽ lăn quay ra ngủ ngay lập tức.

Một tối nọ, Tsuburaya nhận ra mình đã để quên điện thoại trong tiệm nên ông đến lấy nó rồi về tiệm hoa vào lúc giữa đêm. Sáng hôm sau, ông nhận xét tiếng ngáy của Fujimaru với vẻ mặt cực kỳ nghiêm trọng thế này:

“Ta còn nghĩ chú mày nuôi cả gấu trên tầng đấy.”

Tệ đến vậy hả, Fujimaru nghiêm túc nghĩ xem mình có nên mua miếng dán mũi phòng ngừa ngáy ngủ hay không, thế nhưng Tsuburaya đã gạt phắt đi, “Thôi khỏi thôi khỏi, chú mày sống có một mình thôi mà!” Hiện giờ anh làm gì đã có người chung chăn chung gối, vậy mà cũng cân nhắc đến mấy chuyện vớ vẩn như vậy. Mình có sức hút với phụ nữ không nhỉ, đây là suy nghĩ thầm lặng trong lòng anh lần này. Nhưng mà bi kịch làm sao, vừa ngả đầu lên gối thì chưa quá ba giây Fujimaru đã ngủ khò, thế là anh vẫn chưa thể tự rút ra kết luận cho bản thân được.

Cứ tầm mười ngày thì phòng nghiên cứu Matsuda sẽ nhờ anh giao đồ ăn đến. Thi thoảng họ sẽ chia nhau trả tiền, nhưng phần lớn là Matsuda bao những người còn lại.

“Thầy ấy quan tâm đến chúng tôi lắm.”

Motomura lén lút nói cho Fujimaru. “Tại vì cứ mãi bận nghiên cứu nên bọn tôi không thể làm thêm cái gì được.”

Sau nhiều lần ra vào phòng nghiên cứu, Fujimaru đã tạo được mối quan hệ với cả nhóm Motomura. Mọi người ở phòng nghiên cứu sẽ đến trường vào thứ Bảy, sau đó thì sẽ làm thí nghiệm hoặc đọc và viết luận văn đến khuya. Nghe đúng chuẩn cuộc sống đại học.

Đến tận bây giờ Fujimaru vẫn không hiểu nội hàm của những gì cả nhóm Motomura đang nghiên cứu. Song, khi chứng kiến những người đồng lứa mang đầy nhiệt huyết đối với một môn học như vậy, Fujimaru lại không khỏi cảm thấy, “Bản thân mình cũng phải cố lên”, và rồi chân nhấn bàn đạp và tay cầm dao phay của anh chợt trở nên tự nhiên và mạnh mẽ hơn nhiều.

Tháng Chín đã qua được một nửa, sắp sửa đến lúc kết thúc kỳ nghỉ hè của học sinh sinh viên và chuẩn bị đến buổi tựu trường rồi. Cũng vào lúc đó, Fujimaru đã hiểu ra sự khác biệt giữa sinh viên học cử nhân và nghiên cứu sinh.

Sinh viên cao học là những người đã tốt nghiệp đại học hệ bốn năm, nhưng vì muốn nghiên cứu chuyên sâu hơn về một lĩnh vực chuyên môn nào đó nên họ mới tiếp tục học lên. Các ngành đào tạo cử nhân dài bốn năm của Đại học T đã được mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực, sinh viên có thể tự do lựa chọn và so sánh giữa các môn học đa dạng.

Không biết có phải vì lý do đó không mà ở phòng nghiên cứu Matsuda không có sinh viên cử nhân, mà cả Motomura và Kato đều là sinh viên cao học. Trình độ cao học có hai cấp là thạc sĩ và tiến sĩ, chương trình thạc sĩ về căn bản kéo dài hai năm, sau đó sẽ lên đến trình độ tiến sĩ kéo dài ba năm, nghe bảo còn phải viết rất nhiều bài luận án.

Đối với người như Fujimaru thì anh không biết phản ứng sao ngoài thảng thốt, “Hê, vậy thì phải học mất mấy năm lận”, điều khiến anh ngạc nhiên hơn nữa là sau khi hoàn thành luận văn tiến sĩ và lấy được bằng tiến sĩ rồi, họ mới có thể chính thức trở thành nhà nghiên cứu. Họ có thể nộp đơn vào những cơ sở nghiên cứu của các công ty để thực hiện nghiên cứu và thí nghiệm mà bản thân đã theo đuổi từ lâu, có thể nói bọn họ là những người sở hữu tinh thần ham học hỏi đến mức cố chấp.

Nói tóm lại, tiến sĩ nghiên cứu sinh Iwama chính là một nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ, hiện đã đăng ký làm việc tại phòng nghiên cứu Matsuda. Trợ giảng Kawai theo lẽ hiển nhiên cũng đã là tiến sĩ, anh vừa theo đuổi nghiên cứu của mình vừa theo học các môn tại trường đại học, đồng thời phụ trách việc giảng dạy cho các sinh viên.

Chính Fujimaru cũng là người đang trong thời gian học việc vì khao khát trở thành một đầu bếp tài ba như Tsuburaya dù có phải đánh đổi cả đời đi nữa, thế nhưng Tsuburaya của chúng ta thì vẫn chẳng thay đổi gì, vẫn cứ chăm chăm chạy theo đuôi cô Hana hàng hoa, cứ đúng vào ngày nghỉ thì sẽ đi suối nước nóng hoặc xem kịch Kabuki. Thi thoảng ông lại thích thú tán dóc với mấy người khách quen ở tiệm. Nói về sự nghiêm túc đến mức cố chấp thì đúng là một trời một vực với những người ở phòng nghiên cứu Matsuda. Vùi đầu vào học vấn thật sự là một con đường đầy gian khổ mà, kẻ ngoại đạo là Fujimaru đây chỉ biết rùng mình.

Nhờ các tiết học ở học kỳ II có nhiều người đến dự hơn mà khuôn viên Đại học T trông tràn ngập sức sống. Tương phản với việc đó thì tiếng ve sầu cũng đã dần trở nên mỏng hơn nhiều.

Một ngày cuối hè, Fujimaru cũng cưỡi trên chiếc xe đạp màu xanh da trời, hướng đến tòa nhà B khu Tự nhiên để thu thập lại muỗng nĩa. Vì đã biết trước nên anh xếp muỗng nĩa được đặt gọn ngoài hành lang vào bên trong cái thùng màu bạc. Lập tức, cánh cửa bên cạnh phòng nghiên cứu Matsuda bật mở, đúng lúc Motomura bước ra ngoài.

“Anh Fujimaru, cảm ơn vì bữa ăn ngon nhé.”

“Cảm ơn mọi người rất nhiều vì đã ủng hộ. Thật ra thì... mọi người không cần phải rửa sạch muỗng nĩa thế này đâu.”

“Anh sẽ gặp rắc rối khi trở về ạ?”

“Không phải đâu, mọi người còn giúp tôi đỡ việc ấy chứ.”

Fujimaru vội vàng xua tay. Motomura hôm nay cũng mặc một bộ áo thun quần jeans, trên người không có trang sức gì. Trên áo thun in rõ to một bức hình đôi môi màu đen trông khá kỳ quái và rất bắt mắt.

“Cái đó... là hoa văn gì vậy ạ?”

“Là khí khổng đấy.”

“Hể?”

“Chính là những lỗ nhỏ nằm trên lớp biểu bì của lá cây đấy ạ. Tấm hình này được chụp từ kính hiển vi. Vì tôi thấy nó dễ thương quá nên mới in ra thử xem thế nào.”

Gò má Motomura đỏ ửng, cô nàng trông có vẻ khá là tự hào.

“À... À...”

Nhắc mới nhớ, anh cũng từng nhìn thấy ảnh chụp khí khổng trong sách giáo khoa môn Sinh học. Nó có đáng yêu không nhỉ? Trông có vẻ đáng sợ thì có... Fujimaru trộm nghĩ, nhưng dĩ nhiên là anh không dám nói ra lời bình phẩm ấy rồi.

Mỗi khi anh đến thu thập muỗng nĩa thì thường sẽ chả thấy nổi một bóng người xung quanh phòng nghiên cứu. Khó khăn lắm mới có cơ hội, anh muốn trò chuyện cùng Motomura thêm một lát. Fujimaru cụp mắt xuống, anh vừa nhìn chằm chằm vào hàng móng chân trông như những vỏ sò bé xíu của Motomura đang thò ra từ đôi dép, vừa tìm kiếm chủ đề bắt chuyện. Nhưng dù gì đi nữa thì người ta cũng là một cô gái mặc áo thun có in hình khí khổng. Không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ có thể nói về chủ đề “thực vật” thôi. Dù sao mình vẫn muốn biết về nó mà, nghĩ đoạn, Fujimaru ngẩng đầu lên.

“Motomura và các đồng nghiệp khác đang nghiên cứu về thực vật nhỉ? Tôi cũng rất thích rau củ quả đấy. Mỗi lần chuẩn bị rau củ trong nhà bếp, tôi đều nhìn chăm chú vào từng lát cắt của chúng, sư phụ cứ thấy cảnh đó là lại nổi điên lên.”

“Vậy ạ.”

Motomura bật cười. “Thực vật đúng là những tạo vật đẹp đến khó tin ha.”

“Chuyên ngành thực vật có phụ trách nghiên cứu cải tiến các giống rau củ không nhỉ?”

“Những nghiên cứu ứng dụng như vậy thường là do bộ môn Nông nghiệp phụ trách. Ở đây chúng tôi thuộc ban Khoa học Tự nhiên nên chỉ thực hiện những nghiên cứu mang tính cơ sở thôi.”

“Nghiên cứu mang tính cơ sở...?”

“Vâng. Chúng tôi tìm hiểu về những thứ như tế bào hoặc gen di truyền của thực vật, ví dụ như quang hợp được tiến hành dưới cơ chế nào chẳng hạn.”

Tế bào... Gen di truyền... Mấy thứ đó nào phải là “cơ sở”! Nội tâm Fujimaru điên cuồng gào thét.

“Phòng nghiên cứu của thầy Matsuda chủ yếu là nghiên cứu về lá cây.”

Motomura tiếp tục giải thích.

“Không phải là lá rau lá củ đâu nhé, lá cây là các loại...”

Cái đó mà cũng cần phải tìm hiểu nữa hả? Không biết có phải vì câu hỏi ấy hiện rõ trên khuôn mặt của anh không, mà vẻ mặt của Motomura bắt đầu có chút khó xử.

“Chúng tôi sẽ nhìn vào các loại cây cỏ để xem xem tại sao lá cây lại có hình dáng như thế này và cách mà chúng mọc thành như vậy. Tôi thì nghĩ thế đấy, nhưng có vẻ như anh Fujimaru lại nghĩ khác nhỉ?”

Khác chứ, khác hoàn toàn. Vừa tính trả lời như thế thì Fujimaru chợt suy nghĩ lại. Cây cối và ngọn cỏ có lá theo hình dạng ấy là lẽ đương nhiên, sao còn phải đắn đo làm gì, nhưng nghĩ lại thì nếu bị hỏi anh cũng không biết phải trả lời làm sao. Tại sao cây phong lại mọc ra những cái lá có dạng lá phong? Tại sao rau mùi lại có lá dạng rau mùi?

Bọn thực vật không biết có ý chí của riêng mình hay không nhỉ, đại loại như: “Ta chính là cây phong đây! Lá của ta phải nhìn giống như lòng bàn tay, vào mùa thu thì sẽ đổi màu!” kiểu như thế ấy? Vả lại, tuy anh cứ nói cây phong cây phong, nhưng Fujimaru cũng nhận ra rằng tùy theo chủng loại mà hình dạng lá cây của chúng sẽ rất khác nhau. Rất có thể bên trong tán cây của một cây phong còn mọc ra một chiếc lá có hình dạng khác hoàn toàn so với đại đa số những chiếc lá còn lại nữa. Dù hình dạng có giống nhau thì kích thước của từng chiếc lá cũng chênh lệch nhau nhiều.

Hình dạng và kích thước của lá cây rốt cục đã được quy định như thế nào ta? Đúng là Fujimaru chả biết gì hết. Vì chẳng biết gì cả nên anh chỉ thơ thẩn ngắm nhìn cây cối trên phố mua bán hoặc bên trong khuôn viên Đại học T thôi.

Fujimaru dĩ nhiên cũng không hiểu rõ cơ chế hoạt động của điện thoại thông minh, ti vi hay máy bay cho lắm. Trong trạng thái không hiểu, con người ta chỉ biết rằng sử dụng chúng rất tiện lợi mà thôi, nhưng để vận hành những loại máy móc ấy khó khăn đến cỡ nào thì họ chỉ thờ ơ mà phán rằng, bọn tôi là tay mơ nên mù tịt cũng phải. Nói đến đây thì, ngay cả lá cây của những loại thực vật hết sức gần gũi với mình trong đời sống thường ngày, cùng là sinh vật mà mình cũng hoàn toàn chẳng biết mô tê gì về chúng cả! Fujimaru vừa chịu đả kích vừa cảm thấy xúc động. Đả kích là vì, “Rốt cục thì bản thân mình là đứa thờ ơ đến mức nào chứ”, cảm động là vì, “Dẫu thế vẫn có những người ngoài kia cảm thấy vô cùng hứng thú với cơ chế hoạt động của lá cây... Bình thường thì khi thấy chúng, người ta cũng chỉ nghĩ rằng à, đó là lá cây thôi nhỉ.”

“Kể từ giờ trở đi, tôi sẽ cố gắng nghĩ về lá cây nhiều hơn nữa.”

Fujimaru đáp. Anh đang nghĩ không biết cô ấy có thất vọng khi thấy rằng trước đó mình không hề quan tâm tới lá cây không, thì Motomura đã mỉm cười mà rằng, “Vâng, anh đã hứa thì nhất định phải làm nhé” với vẻ mặt vô cùng hạnh phúc.

“Thế nhưng, làm sao mọi người có thể tìm hiểu về hình dạng của lá cây hay cách mà chúng mọc thành như thế? Mọi người hẳn là phải tìm kiếm rất nhiều chủng loại về nhìn và so sánh nhỉ?”

“Không đâu ạ, chúng tôi sẽ quan sát lá cây dưới kính hiển vi rồi đếm số lượng tế bào của chúng.”

“Ơ... đếm số tế bào á... chỉ có cách đó thôi hả?”

“Vâng ạ.”

Motomura cười tủm tỉm. Fujimaru bắt đầu thấy chóng mặt. Cái trò suy nghĩ về lá cây... có khi không dành cho mình rồi, Fujimaru nhanh chóng kết luận.

“Nếu như có thời gian thì anh muốn đến nhìn thử xem không?”

Motomura thản nhiên đưa ra lời mời, hình như cô vẫn chưa nhận ra rằng Fujimaru đang váng hết cả đầu lên kia. Não Fujimaru đang bắt đầu đem lòng hiếu kỳ của mình và bữa cơm của Tsuburaya ra cân đo đong đếm. Đáp án lập tức đã được định đoạt. “Sư phụ, cho đồ đệ xin lỗi!”, sự áy náy của anh dâng lên từ tận đáy lòng, nhưng tay thì đã đặt cái thùng bạc mình đang cầm vào một góc hành lang, “Đang giờ nghỉ trưa nên tôi có nhiều thời gian lắm.”

“Nhưng mà, liệu có ổn không đấy? Tôi là người ngoài ngành, lỡ như có thông tin cơ mật nào đó... À thôi, dù có lỡ thấy được thông tin cơ mật đi nữa thì tôi cũng chả hiểu gì đâu.”

“Chuyên ngành Hóa và Dược rất dễ đăng ký bằng sáng chế ngay lập tức, cho nên họ khá mẫn cảm với việc nắm giữ thông tin.”

Motomura xoay người lại, nắm lấy tay đấm cửa của căn phòng mà ban nãy cô vừa đi ra. “Nhưng mà giới nghiên cứu thực vật của chúng tôi thì vô tư. Dù sao thì thứ mà chúng tôi nghiên cứu cũng khó kiếm ra tiền.”

Motomura mở cửa. Căn phòng nằm cạnh phòng nghiên cứu Matsuda là phòng thí nghiệm. Nó rộng gần như gấp đôi phòng nghiên cứu, trên cái kệ kê sát vách tường để đầy dụng cụ và máy móc dùng để làm thí nghiệm. Nằm giữa căn phòng là mấy chiếc bàn thí nghiệm cỡ lớn, trông khá giống loại bàn được đặt bên trong phòng thực hành nữ công gia chánh của mấy trường cấp ba. Bàn nào cũng được sắp xếp vô cùng chỉnh tề.

“Tôi chọn lá cây Arabidopsis thaliana làm đối tượng nghiên cứu của mình.”

Motomura nhanh chân đi đến một góc của bàn thí nghiệm.

“Arabidopsis thaliana?”

Vừa ngó nghiêng quan sát các loại máy móc vô cùng mới lạ với mình được bày rải rác trong phòng, Fujimaru vừa bám theo cô.

“Nó là một loại cỏ khá đơn điệu, dù có mọc đầy đường đi chăng nữa thì cũng chẳng có ai ghé mắt tới. Thế nhưng nó lại được mệnh danh là cây mẫu hình, đóng một vai trò vô cùng trọng yếu trong môn nghiên cứu thực vật này. Vừa mới trưởng thành là nó có thể phát tán hạt giống của mình, hệ gen của nó lại được giải mã toàn bộ, người ta đã biết chỉ cần chạm vào ADN của nó là có thể dẫn đến biến dị nên rất dễ làm thí nghiệm.”

Mã gen... Biến dị... Đây là lần thứ mấy Fujimaru cảm nhận được ý thức của bản thân đang dần rời xa não bộ mình rồi? Thôi thì cứ xốc lại tinh thần, trước hết phải quan sát xem bàn tay của Motomura đứng trước bàn thí nghiệm đang làm gì đã.

Trên bàn có đặt một cái hộp, bên trong đựng những phiến kính lót hình chữ nhật dài hoặc kính đậy mỏng hình vuông. Những thứ này Fujimaru cũng từng sử dụng qua trong lớp nữ công gia chánh.

Hồi còn học tiểu học, có lần anh được học lớp thí nghiệm qua kính hiển vi. Anh dùng ống hút lấy một giọt nước từ thùng nước của cái ao ngoài vườn trường, nhỏ nó lên phiến kính rồi dùng kính đậy đặt lên trên. Fujimaru đã rất nóng lòng muốn nhìn thấy con rận nước hay tảo closterium, ấy vậy mà tổ của anh xui xẻo sao đó mà toàn bắt được hình ảnh của mảnh gì đen đen trông hệt như rác thôi, dù thử đi thử lại bao nhiêu lần vẫn thế. Không còn cách nào khác, anh chỉ có thể vẽ vào “Báo cáo thực nghiệm” mấy vật thể lí nhí trông như rác rồi nộp lên.

Thế nhưng, thứ mà bây giờ Motomura đang kẹp trong tay là vật thể mà lần đầu tiên Fujimaru được nhìn thấy. Nó làm bằng nhựa trong suốt, chiều dài chỉ có ba centimet. Nom khá giống hình nón. Phần đầu tròn là nắp đậy nên anh đoán đây chắc là đồ đựng của thứ gì đó. Có thể nói, hình dạng của nó trông khá giống một cây bút bi nếu bớt đi ba centimet từ phần thân rồi sau đó đóng nắp lại.

“Đó... là cái gì vậy ạ?”

“Đây là ống PCR đấy?”

Motomura vẫy vẫy cái ống đựng bé xíu ấy cho Fujimaru xem. Bên trong là dung dịch trong suốt không màu và một thứ gì đó mong mỏng nhìn khá kỳ quái. Nó có màu xanh lá, chắc chỉ to cỡ móng chân ngón út.

“Có lẽ nào... thứ đang đựng bên trong là lá cây sao?”

“Đúng rồi. Chính là lá của cây Arabidopsis thaliana đấy ạ. Bên trong rót đầy dung dịch cố định gọi là FAA[11].”

Khoảnh khắc chiếc lá bị trích ra, nó đã bắt đầu khô lại và bị phân giải protein. Dường như người ta phải ngâm nó vào dung dịch cố định để phòng ngừa quá trình kia tiếp diễn và để có thể quan sát từng tế bào trong tình trạng sống động vốn có của chúng.

Fujimaru được Motomura đưa cho cầm ống PCR rồi mở nắp nó ra theo chỉ thị của cô. Dung dịch cố định chứa đầy bên trong ống khiến anh gay cả mũi. Mùi như keo dán hay dung môi pha loãng sơn vậy. Mình đã từng ngửi qua mùi này ở đâu ấy nhỉ, Fujimaru lần mò lại ký ức và chợt nhớ ra.

Chính là món đồ chơi có thể thổi ra những quả cầu trong suốt và dai hơn bong bóng xà phòng. Thời còn bé, anh đã từng mua nó ở hàng bánh kẹo. Cái tuýp như tuýp màu nước đựng một chất keo trong suốt, còn đính kèm một cái ống hút ngắn cực mảnh nữa. Chỉ cần thổi vào ống hút là chất keo kia sẽ phình ra theo hình cầu. Không cần phải chờ quá lâu, anh có thể dùng lòng bàn tay tâng quả cầu keo như tầng túi đậu. Mùi của FAA hệt như mùi chất keo ấy.

Fujimaru vì quá hoài niệm thời thơ ấu nên đã đưa cánh mũi lại gần ống PCR để hít hà mùi hương kia. Trong lúc anh đang mải làm trò đó thì Motomura đã lấy một hộp bút ra từ ngăn kéo bàn thí nghiệm. Anh cứ nghĩ bên trong phải đựng bút viết dành cho việc ghi chú, nhưng không, bên trong hộp bút chỉ đựng đầy kẹp tăm. Là loại kẹp vừa mảnh lại vừa nhọn.

Motomura nhận lấy ống PCR từ Fujimaru, đoạn, cô dùng kẹp tăm gắp mẩu lá cây ra.

“Mấu chốt ở đây là anh phải gắp ngay vào cuống lá. Bởi vì chỉ cần kẹp phải phần nào trên phiến lá thôi là các tế bào ở đó sẽ bị phá hủy ngay.”

Nghe như cuống lá là phần dùng để kết nối giữa phiến lá và cành cây. Bản thân chiếc lá này chỉ bé bằng móng chân út thôi nên cái cuống nhú lên của nó cũng vừa nhỏ vừa mỏng manh. Độ dài chắc chỉ khoảng hai, ba milimet là cùng.

Cách cầm kẹp tăm của Motomura thoạt nhìn có vẻ rất chuyên nghiệp. Cô gắp chiếc lá Arabidopsis thaliana ra khỏi dung dịch cố định rồi đặt nó lên trên phiến kính. Cô lại lấy thứ gì đó từ bên trong hộp bút ra, lần này là lưỡi dao lam, dùng để rạch lên ba đường gân ở phần trên cùng của phiến lá.

“Tại sao mình lại phải rạch nó vậy?”

“Để phiến lá không bị cong lên. Anh Fujimaru có muốn làm thử không?”

“A, vậy... phiền cô cho tôi thử xem sao.”

Đây chính là lúc chứng tỏ tay nghề của một người đầu bếp. Fujimaru hào hứng cầm lấy ống PCR mới mà Motomura đưa sang, rồi lấy một cây kẹp tăm gắp chiếc lá bên trong ra. Anh đặt chiếc lá này nằm bên cạnh chiếc mà ban nãy Motomura vừa mới lấy ra, sau đó dùng dao lam cắt lên phiến lá. Phải cái là địch thủ quá bé đi. Tay trái anh giữ kẹp tăm để cố định cuống lá, tay phải thì lại cầm lưỡi dao lam rạch lên đường gân lá sao cho phiến lá không bị rách, còn công phu hơn cả lúc lọc xương vụn ra khỏi mấy con cá thu đao nữa.

Cuối cùng, sau khi đã vật lộn với chiếc lá xong xuôi, Fujimaru mới ngẩng mặt lên với vẻ tràn đầy tự hào. Motomura vốn vẫn luôn chú ý theo dõi thao tác của Fujimaru cũng gật đầu một cách hài lòng, “Ừ, anh làm tốt lắm”. May mà anh còn giữ được thể diện của một đầu bếp.

“Tiếp theo, chúng ta sẽ nhỏ dung dịch clohydrat lên trên phiến lá. Nói một cách chính xác thì đó là dung dịch pha trộn giữa clohydrat, nước và glycerol.”

“À... ừm...”

Nhìn thấu vẻ khó hiểu của Fujimaru, Motomura bổ sung.

“Glycerol dùng để làm sệt dung dịch. Clohydrat là để phiến lá trở nên trong suốt. Chỉ khi lá ở trạng thái trong suốt thì chúng ta mới dễ dàng quan sát tế bào của nó dưới kính hiển vi được. Lá cây Arabidopsis thaliana vì quá nhỏ và mỏng manh nên vừa mới nhỏ dung dịch lên là nó lập tức bắt đầu hóa trong. Chỉ cần để từ 20 đến 30 phút là nó sẽ hoàn toàn trở nên trong suốt.”

Fujimaru càng thêm cảm động trước lời giải thích tỉ mỉ của cô. Không khác nào cô giáo dạy môn Sinh học. À đâu, cô vốn là chuyên gia về lĩnh vực này nên rõ rành rành là một giáo viên chứ còn gì nữa?

Motomura với lấy món dụng cụ màu xám đang treo bên cạnh bàn thí nghiệm. Hình dạng nó trông chẳng khác gì một khẩu súng lục đến từ tương lai.

“Đây là ống micropipette.”

“Hả? Ống pipet sao?”

Nghe hệt như tên của một vị anh hùng chuyên chiến đấu với quái vật ấy, chứ chả giống tên của một loại dụng cụ gì cả. Chỉ cần nghe thấy tên “Micropipette” là ai cũng phải sợ đến khóc thét. Fujimaru nghĩ thầm.

Vả lại, ống pipet mà Fujimaru từng nhìn thấy trước kia làm bằng thủy tinh, phần đuôi được bịt một miếng cao su trông như đồ bao ngón tay vậy. Chỉ cần bóp phần cao su ấy là ống pipet có thể hút lấy dung dịch. Song, thứ mà Motomura đang cầm trên tay lại trông máy móc hơn nhiều, có cảm giác như vào bất cứ lúc nào nó cũng có thể bắn ra tia laser chết người ấy.

“Ống pipet có nhiều kích thước và phân lượng khác nhau, ống micropipette này nói một cách chính xác là loại tự động, có thể hút lấy dịch thể ở đơn vị vi lượng.”

Motomura dùng ống micropipette hút lấy dung dịch clohydrat rồi nhỏ lên hai chiếc lá được xếp trên phiến kính.

“Xong, giờ chúng ta chỉ cần lấy miếng kính đậy để lên nữa thôi. Để không cho không khí tràn vào bên trong...”

Trước lời thúc giục của Motomura, Fujimaru vội dùng kẹp tăm gắp lấy miếng kính đậy. Anh vừa chú tâm để không làm vỡ miếng kính mỏng, vừa nhẹ nhàng đặt nó lên trên hai chiếc lá. May thay là không thấy bọt khí nào nổi lên, hai chiếc lá được tẩm trong dung dịch clohydrat và được kẹp gọn giữa phiến kính hiển vi và miếng kính đậy.

“Anh đúng là lành nghề thật đó, anh Fujimaru.”

Đối với Motomura mà nói, mấy chiếc lá Arabidopsis thaliana này hẳn là tư liệu thí nghiệm vô cùng quan trọng. Vậy mà cô vẫn cho phép tay mơ như Fujimaru tham gia vào quá trình chuẩn bị. Lại còn tỉ mỉ giải thích cho anh hiểu về từng món dụng cụ và phương pháp nữa. Nếu Motomura tự mình làm thí nghiệm thì hiển nhiên công tác sẽ được tiến hành nhanh chóng hơn, kết quả cho ra cũng sẽ tốt hơn nữa. Dù cho bản thân chẳng được ích lợi gì cả, thế nhưng cô vẫn tận tình chỉ dạy cho anh, lại còn không tiếc lời ngợi khen anh nữa chứ. Trên đời sao có người tốt quá vậy. Fujimaru âm thầm biết ơn cô.

Vả lại, bản thân anh vốn chỉ biết có tác phong dạy dỗ kiểu thương cho roi cho vọt của Tsuburaya nên đối với phương pháp giáo dục “thưởng kẹo” này, Fujimaru hoàn toàn không quen tí nào.

“Vậy hả?”

Mặc dù trong lòng đang vui phát khóc, vậy mà anh lại lỡ đáp lời cô bằng một câu nghe hết sức mất cảm tình. “Chắc là do tôi cũng nấu nướng quen tay rồi. Vừa phải xắt, bài trí, quấy trộn, lại còn phải cân đo đong đếm cho ra liều lượng chuẩn xác nữa.”

“Có lẽ. Vậy sao tôi lại dở nấu nướng thế nhỉ? Một chút cũng không tiến bộ.”

“Chỉ cần cô nấu quen rồi là sẽ lên tay thôi, không phải sao?”

“Tôi sống có một mình thôi, đây đã là năm thứ ba rồi...”

“...”

Sự điêu luyện của bàn tay và năng khiếu nấu ăn là hai thứ hoàn toàn khác biệt nhau hả? Fujimaru cứng họng, không biết tiếp lời cô như thế nào, anh đành phải dời tầm mắt xuống phiến kính mà ban nãy hai người vừa mới làm xong. Bất giác, Fujimaru thốt lên một tiếng đầy kinh ngạc.

“Ô! Nó đã trở nên trong suốt rồi kìa!”

Bên dưới lớp kính đậy là hai chiếc lá cây Arabidopsis thaliana. Lúc anh ghé mặt lại gần để xem cho rõ thì mới thấy, hai phiến lá đã bắt đầu trở nên trong suốt từ phần lá có gân bị rạch lúc nãy.

“Đúng vậy. Nhưng ở tình trạng này màu xanh của lá cây vẫn còn sót lại nhiều lắm, sẽ khiến chúng ta khó quan sát tế bào dưới kính hiển vi hơn.”

Motomura gỡ miếng băng keo dán trên nắp ống PCR ra để dán lên phiến kính hiển vi. Trông như trên đó có ghi lại ngày tháng lấy mẫu lá. Sau khi dán xong miếng băng keo, Motomura mới lấy thêm một phiến kính khác từ ngăn tủ.

“Trên phiến kính này đã có sẵn lá cây được nhỏ dung dịch clohydrat để qua đêm rồi.”

“Ồ.”

Phiến kính mới được đặt lên bàn thí nghiệm đựng ba phiến lá Arabidopsis thaliana đã hoàn toàn chuyển màu trong suốt. Nếu không nhìn kỹ thì sẽ không phát hiện ra bên trong miếng kính có kẹp thứ gì, những chiếc lá đã được tẩy màu rất sạch.

“Cứ như chương trình ẩm thực ấy nhỉ. ‘Đây là khay nguyên liệu đã được chuẩn bị sẵn và để trong tủ lạnh 30 phút’.”

“Ừ ha.”

Fujimaru và Motomura cùng nhau bật cười.

Ở một góc bàn thí nghiệm có đặt một chiếc kính hiển vi. Fujimaru tưởng tượng chiếc kính hiển vi được trường đại học sử dụng thì phải vĩ đại và tối tân lắm, thế nhưng chiếc kính hiển vi này thoạt nhìn cũng chẳng khác mấy so với chiếc mà anh đã từng thấy ở trường cấp ba.

Motomura lắp phiến kính vào kính hiển vi, đoạn, cô vặn núm xoay để khớp ống kính vào mẫu vật.

“Những chiếc kính hiển vi có tính năng cao cấp hơn và có thể chụp được hình ảnh đều được cất giữ hết ở phòng kính hiển vi dưới tầng hầm rồi, muốn sử dụng chúng thì phải đặt trước cơ. Vì bây giờ không có thời gian nên anh hãy tạm quan sát lá cây Arabidopsis thaliana qua kính hiển vi này nhé.”

Motomura lách người ra, nhường chỗ cho Fujimaru bước lại trước chiếc kính. Fujimaru chần chừ ghé hai mắt sát vào ống kính hiển vi.

“Ôi... oa...”

Thứ mà anh thấy được qua lăng kính là từng hàng tế bào của chiếc lá, trông hệt như một bộ xếp hình trong suốt vậy. Chúng được dàn trải một cách vô cùng tinh tế như những chiếc lá trên tán cây hoa mộc, tế bào nào cũng có hình dạng răng cưa.

“Đây là tế bào trên bề mặt của phiến lá. Anh có thấy mấy hạt dạng gai nhọn không?”

Đứng bên cạnh anh, Motomura cất tiếng hỏi.

“Đây đây, có thấy, có thấy!”

Chú ý quan sát thật kỹ, quả nhiên anh có thể nhìn đến những hạt gai bé li ti nằm rải rác đây đó khắp các tế bào. Những hạt gai có dạng hình chữ Y.

“Trông chúng cứ như ăng-ten ấy nhỉ. Nhìn giống thứ mọc trên đầu của người ngoài hành tinh quá đi.”

“Haha. Đây là cây Arabidopsis thaliana có sẵn ngoài tự nhiên. Bên cạnh là lá cây Arabidopsis thaliana biến dị, anh hãy chú ý kỹ hơn những hạt gai của nó đi.”

Motomura kéo phiến kính ra một chút. Dưới tầm mắt của Fujimaru, những hạt gai ban nãy bỗng chốc được phóng to gấp nhiều lần. Hơn nữa, chúng còn có hình dạng bốn góc nhọn.

“Cùng là giống Arabidopsis thaliana, thế nhưng chủng loại biến dị lại có hình dạng lá và mật độ hạt gai khác hẳn so với bình thường. Anh có thấy chúng rất dễ thương không?”

Bây giờ Fujimaru vẫn chưa thể quyết định liệu chúng có dễ thương đối với anh hay không, anh chỉ biết rằng mình thật lòng muốn hiểu hơn về công tác thí nghiệm và quan sát của Motomura nhằm tìm ra đáp án cho việc tại sao những chiếc lá này lại mọc ra khác nhau đến vậy.

Fujimaru vẫn áp mắt vào ống kính hiển vi, tay thì dịch chuyển phiến kính ra vào để so sánh giữa hai loại lá cây hoang dại và biến tính. Hay tộc người ngoài hành tinh có ăng-ten ba cạnh trong suốt và tộc người ngoài hành tinh có ăng-ten bốn cạnh trong suốt.

“Để tôi cho anh thấy bề mặt bên dưới nữa của chiếc lá nhé?”

Motomura điều chỉnh núm vặn. Dưới cặp mắt của Fujimaru, những tế bào không màu đột nhiên chuyển động như kính vạn hoa. Vì độ sâu của tiêu điểm đã được thay đổi nên anh có thể nhìn kỹ hơn vào bên trong phiến lá.

“Oa!”

Ngay bên dưới lớp bề mặt là một thế giới rộng lớn hoàn toàn khác. Những tế bào hình tròn chen chúc nhau chật kín. Trông hệt như hộp trứng cá hồi trong suốt được nhét đầy vậy. Đúng là nhìn cũng có chút đáng yêu đấy, Fujimaru thầm nghĩ.

“Số lượng tế bào mà bây giờ tôi phải đếm đều nằm ở lớp này đây.”

Motomura nói. “Tầng dưới nữa sẽ có những tế bào có vách ngăn mềm hơn, chen chúc nhau một cách mất trật tự như lớp bọt biển đầy lỗ hổng. Lớp dưới cùng của chiếc lá, tức là lớp bên dưới bề mặt ấy, sẽ có lớp tế bào nhìn như bộ xếp hình tương tự mặt trên cùng vậy.”

Lá cây Arabidopsis thaliana đã nhỏ lại còn mỏng. Chắc là còn mỏng hơn cả giấy nến nữa, xúc cảm truyền lại lúc anh làm giải phẫu chiếc lá khiến Fujimaru đoán thế. Ấy vậy mà bên trong nó lại chứa đựng những bốn lớp cấu tạo, mỗi lớp còn là một hình thái tế bào khác nhau. Giống hệt món điểm tâm sang trọng mille-feuille[12] đầy ngon miệng, lá cây Arabidopsis thaliana thật là tuyệt vời quá đi. Fujimaru thở dài vì xúc động, đoạn, anh ngẩng đầu lên khỏi kính hiển vi.

Cửa sổ phòng thí nghiệm đã bị trang thiết bị và kệ tủ chắn hơn phân nửa, nên dù đang là ban trưa nhưng trong phòng vẫn phải bật đèn. Được chiếu sáng bởi thứ ánh sáng tái nhợt ảm đạm như thế nên cảnh tượng đang đập vào mắt Fujimaru hầu như chẳng thay đổi gì trong vòng năm phút. Hộp kẹp tăm được đặt trên bàn thí nghiệm. Mấy cái lọ dược phẩm chẳng biết là gì được xếp thành hàng trên kệ tủ. Motomura đang đứng bên cạnh kính hiển vi.

Thế mà, cảnh tượng này trong lòng anh vẫn giống như một giấc mơ. Đây chỉ là thế giới trong mơ chứ không phải là thực. Nó giống như vũ trụ thu nhỏ trong lớp tế bào trải rộng bên trong chiếc lá bé xíu xiu, người trần mắt thịt không tài nào có thể thấy được. Giống hệt như thế giới bên trong con cá, miếng thịt hay cọng rau mà trước giờ Fujimaru vẫn chế biến vậy.

“Nếu nhìn cơ thể của tôi dưới kính hiển vi thì chắc chỉ toàn thấy tầng tầng lớp lớp tế bào được xếp đan xen dày đặc thôi ha.”

“Đúng đó.”

Anh xúc động nghĩ rằng bản thân mình thật kém cỏi, rằng những thứ này thật quá quý giá. Dù là thực vật hay động vật, rau củ hay con người, tất cả đều đang sống và hoạt động nhờ lớp lớp các tế bào. Ý nghĩa của điều đó khắc sâu trong anh, khiến anh không khỏi cảm thấy vạn vật thật quá đỗi trìu mến.

“Hầu như ngày nào cô Motomura cũng phải nhìn vào kính hiển vi hết à?”

“Vâng ạ.”

“Cô không bị mỏi mắt sao?”

“Có chứ. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy chán cả.”

Motomura nói. “Lúc số lượng các tế bào trên phiến lá đột nhiên trở nên ít đi thì từng hạt tế bào sẽ trở nên to hơn bình thường. Có lẽ là để bảo toàn cho kích thước của chiếc lá không quá khác biệt so với những chiếc lá còn lại cũng không chừng. Trước mắt tôi chỉ có thể tùy tiện rút ra kết luận như vậy.”

“Thế ra lá cây Arabidopsis thaliana có thể tự đưa ra quyết định, kiểu như, ‘Ý, sao số lượng tế bào của mình lại giảm đi nữa rồi? Thế thì các tế bào còn lại phải to ra thôi’, như vậy đó hả?”

“Tôi cũng không rõ nữa. Cho nên để có thể nghiên cứu kỹ hơn cơ chế hoạt động nào có khả năng quyết định số lượng tế bào và kích thước của chúng, hằng ngày tôi đều phải đếm số lượng tế bào trên phiến lá.”

Thật ra thì lúc được cho nhìn tế bào của lá cây Arabidopsis thaliana, Fujimaru cũng hiểu đại khái. Nghiên cứu của cô không phải là loại sẽ giúp cho cuộc sống của mọi người trở nên tiện lợi hơn, nếu nói một cách chính xác thì nó như để giải đố vậy.

Vì giờ nghỉ trưa sắp sửa kết thúc nên Fujimaru quyết định quay về Viên Phục Đình. Anh nói lời cảm ơn với Motomura rồi mới xách chiếc thùng hàng màu bạc để chỏng chơ ngoài hành lang lên.

Motomura tiễn Fujimaru ra đến trước phòng nghiên cứu Matsuda.

“Nếu được thì lần sau tôi sẽ hướng dẫn anh qua kính hiển vi cất dưới tầng hầm nhé. Nếu quan sát bằng loại kính đó thì sẽ có thể thấy rõ lá cây Arabidopsis thaliana hơn nhiều đấy.”

Dứt lời, Motomura khẽ giơ tay vẫy chào Fujimaru. Fujimaru vội cúi đầu chào cô rồi bước ra ngoài hành lang. Lúc đi xuống cầu thang, anh có ngoái đầu nhìn lại nhưng chẳng thấy bóng dáng của Motomura đâu cả, chỉ còn mỗi âm thanh khởi động loại máy móc nào đó trầm thấp vọng lại mà thôi.

Các tế bào trong suốt được sắp xếp một cách tuyệt đẹp. Một người quá yêu thích lá cây Arabidopsis thaliana. Fujimaru rời khỏi tòa nhà B khu Tự nhiên mà không nhận ra trên mặt mình đang nở nụ cười.

***

Còn ở Viên Phục Đình, Tsuburaya đang chờ anh về với vẻ bực dọc.

“Chú mày la cà ở tít đâu đấy hả?”

“Cháu xin lỗi ạ.”

“Cơm trưa nay hết rồi. Bữa hôm nay là bò hầm còn thừa, ta phải cố để mà ngốn hết phần ăn của ba người đấy.”

“Hả! Sao bác không để đấy cho cháu?”

“Cậu bị ngu à! Hại ta nạp thừa calo lại còn trách ta à? Mãi không thấy gọi điện nên ta cứ tưởng chú mày đã ăn trưa chỗ nào khác cơ.”

Còn mập lên nữa là thể nào hông cũng yếu đi cho xem, Tsuburaya vừa lầm bầm vừa nắm cho anh ba vắt cơm nắm. Trên đĩa còn xếp thêm ba lát củ cải muối chua nữa.

“Hoan hô! Cháu cảm ơn bác ạ, sư phụ!”

Rốt cục cũng có bữa trưa muộn mằn, Fujimaru ngấu nghiến mấy vắt cơm nắm. Không chỉ được nêm muối vừa phải mà còn đầy nhân bên trong. Cá hồi khô, mơ chua, tảo bẹ. Nói thế nào nhỉ, sư phụ quả là người vừa chu đáo lại còn hiểu ý người ta, Fujimaru thầm nghĩ. Vậy cho nên cả cô Hana hàng hoa cũng phải thấy rung động trước tấm chân tình của ông.

Sau khi chén sạch đĩa cơm nắm chỉ trong vòng năm phút, Fujimaru lại nhanh chóng bắt tay vào công việc. Anh đem cái nồi đựng món bò hầm và cả nồi cơm điện trống không đi rửa sạch. Sau đó còn phải nấu cơm và xắt rau để chuẩn bị mở tiệm lại vào lúc chiều tối.

Món bò hầm cần ninh cho nhừ, bét nhất cũng phải để qua đêm, đợi hương vị thấm đẫm mới đem ra bán được. Phần dành cho tối nay đã có rồi nên anh chuẩn bị nấu phần cho hôm sau. Fujimaru xào hành tây và một ít cà rốt xắt sẵn với bơ lạt, sau đó trút toàn bộ vào chiếc nồi hầm cùng lượng thịt bò mà Tsuburaya đã ướp. Theo đúng chỉ dẫn của Tsuburaya, anh hầm nó với rượu vang đỏ.

Nồi cơm điện giờ mới bắt đầu sôi. Tiếp theo Fujimaru sẽ lau dọn lại bên trong tiệm. Tsuburaya đang ngồi trên ghế nghỉ ngơi một lúc. Ông vừa đọc báo vừa giơ chân hạ chân, phối hợp với cái chổi đang quét sàn của Fujimaru.

“Sư phụ này.”

“Hửm?”

“Ban nãy ấy, cháu vừa được cho coi kính hiển vi ở Đại học T đó. Tế bào lá của cái cây gọi là Arabidopsis thaliana đẹp cực luôn bác ạ.”

“Hể.”

Tsuburaya vẫn vùi đầu vào tờ báo, chỉ hơi nghiêng đầu. “Nó là một trong mấy loại thảo mộc dại dùng để nấu cháo rau bảy loại[13] hả?”

“Là sao vậy bác? Thảo mộc dại là gì thế?”

“Đấy mà cũng không biết à? Thảo mộc dại là kiểu như bông cải dại đó.”

“Vậy luôn? Cháu chỉ được thấy mỗi lá cây Arabidopsis thaliana thôi nên cũng không rõ nữa, nhưng mà ở đó họ không có cây bông cải dại bác à.”

Fujimaru lấy chổi lia khắp sàn nhà. “Nói chung là nó đẹp lắm ạ. Mấy hạt tế bào ấy.”

“Hê.”

Tsuburaya gấp tờ báo lại, đoạn, ông gác tay chống cằm lên bàn. “Ai cho cậu xem đấy?”

“Một nghiên cứu sinh trong phòng nghiên cứu Matsuda ạ.”

“Nữ nghiên cứu sinh à?”

Fujimaru loạt soạt quét sàn.

“À thì…”

“Có xinh không?”

Fujimaru nhớ lại chiếc áo thun in hình khí khổng mà Motomura mặc trên người, và cả hàng lông mi thật dài lúc cô nhòm vào kính hiển vi nữa.

“Không phải là cô ấy không xinh, có điều... để quan sát tế bào thì mặt đẹp hay không liên can gì?”

Bây giờ thì cái chổi đã lia qua lia lại với tốc độ hoa mắt, như đang không ngừng muốn ma sát lên sàn nhà vậy.

“Này, Fujimaru. Lại đây ngồi xuống, ta nói chú mày nghe chút.”

Tsuburaya thở dài thườn thượt rồi chỉ vào cái ghế đối diện mình. Fujimaru dựng cây chổi bên cạnh bàn rồi ngoan ngoãn ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Tsuburaya.

“Chú mày nghe đây nhớ, phòng nghiên cứu Matsuda là khách ruột của cái Viên Phục Đình này. Đừng có mà công tư lẫn lộn ở đây.”

“Khổng Tử bận rộn...?”

“Vậy mà cũng nghe nhầm được hả? Lúc nhận được đơn hàng từ phòng nghiên cứu, chú mày tuyệt đối đừng làm phiền bọn họ đấy.”

“Dạ vâng.”

“Chúng ta cũng không phải mấy cái cửa hàng sang chảnh bán trước cổng truyền thống dài cả dặm của trường. Ta đã từng thấy rất nhiều người học ở Đại học T rồi. Có một số người ra vẻ cực kỳ giỏi giang, cứ kệ bọn họ là được. Họ sẽ làm ra vẻ như thế đến cuối đời thôi.”

“Sư... sư phụ ơi...”

Vì quá sững sờ trước những lời độc mồm độc miệng của ông mà trước khi kịp nhận ra, Fujimaru đã vội mở miệng nhắc nhở rồi. Lỡ mà có ai nghe được thì sẽ đánh giá không hay về tiệm mất.

Tsuburaya thì lại chẳng màng đến nỗi đắn đo của Fujimaru mà vẫn cứ tiếp tục oang oang.

“Bởi vì bọn họ hơn nửa là một đám mọt sách chỉ biết vùi đầu nghiên cứu. Con đường nghiên cứu khắc nghiệt thế nào, ta chỉ đứng một bên dòm vào mà cũng cảm nhận được. Là con gái thì càng như thế.”

“Ý bác đang muốn nói gì vậy?”

“Thì là tiệc chia tay đó.”

Tsuburaya khoanh tay lại. “Đã có không biết bao nhiêu buổi tiệc chia tay các nữ nghiên cứu sinh được tổ chức ở Viên Phục Đình rồi. Ta đã nhìn thấy rất nhiều người phải bỏ dở công việc nghiên cứu vì chuyện kết hôn, sinh con, hoặc là theo chồng chuyển công tác.”

Bởi vậy cho nên, Tsuburaya kêu lên rồi nhoài người về phía trước, hai tay vẫn khoanh lại. Cảm giác áp bức như đang bị một tay xã hội đen lườm đến rát mặt khiến cơ thể Fujimaru co rúm và giật lùi về phía sau.

“Những cảm xúc phập phồng bay bổng ấy sẽ là thứ cản trở đến việc nghiên cứu. Có hiểu không?”

“Dạ hiểu...”

Sau khi nghe Fujimaru rên rỉ ra lời đó, Tsuburaya liền vỗ cái bộp lên vai anh rồi đứng dậy.

“Ở đâu trên thế giới này cũng có một số người thích làm ra vẻ. Nhưng chú mày tuyệt đối không được như thế. Con đường của một người đầu bếp cũng khắc khổ như việc nghiên cứu mấy cây bông cải dại kia vậy. Không có thì giờ rảnh rỗi để mà nhòm ngó sang thứ khác đâu.”

“Dạ vâng.”

Fujimaru dõi theo bóng lưng của Tsuburaya lúc ông vào bếp để xem món bò hầm.

Tối đó, ở tầng trên tiệm Viên Phục Đình, Fujimaru vừa ráng giũ cơn buồn ngủ khỏi người mình vừa ngồi khoanh chân trên nệm. Anh chằm chằm nhìn vào mười đầu ngón tay mình một cách thẫn thờ.

Tại sao vật cứng thế này lại chỉ mọc trên các ngón thôi cơ chứ? Rõ ràng Fujimaru không hề ra lệnh cho chúng là “Móng tay, mọc ra đi”, ấy thế mà... Giống như cơ chế nào đó đang điều chỉnh số lượng hoặc kích thước của tế bào phiến lá, các tế bào của Fujimaru cũng có cùng một cơ chế bí ẩn như vậy, khiến cho móng tay tự động mọc ra ở đúng một vị trí cố định.

Trước kia anh không hề nhận ra, nhưng quanh anh toàn những điều huyền bí. Fujimaru nhớ lại lúc đứa em trai nhỏ hơn mình bốn tuổi vẫn còn nằm nôi. Trên đầu ngón tay mềm mại của em đều đã mọc sẵn những chiếc móng bé xíu. Chúng trông vừa xinh xắn lại còn rất đáng yêu, thi thoảng Fujimaru sẽ khẽ khàng lén cầm nắm ngón tay của đứa em trai đang say ngủ, sờ mãi cũng không chán.

Cứ nghĩ đã quên mất tiêu rồi. Fujimaru mỉm cười.

Thứ mà nhóm của cô Motomura đang nghiên cứu, giải thích một cách ngắn gọn thì có khi là để tìm hiểu tại sao sinh vật được sinh ra, tại sao chúng lại sống như thế và vì lý do gì chúng chết đi. Đều là những thắc mắc mà rất nhiều người, bao gồm cả mình, đã từng một lần tự hỏi qua. Nhưng rất nhiều người, trong đó có mình, chỉ xem những thắc mắc ấy là những thứ “nghĩ cũng chả để làm gì”. Thế mà nhóm của cô Motomura lại không hề bỏ qua những thắc mắc ấy, mà còn chăm chỉ nghiền ngẫm về chúng nữa.

Fujimaru tắt đèn, nằm lên đệm, kéo chăn đến tận bả vai. Dường như anh có thể nghe được tiếng châu chấu kêu ngoài cửa sổ thay cho tiếng ve sầu.

Nếu nói cái gì là vô ích thì chẳng phải nấu nướng cũng là việc vô ích đấy sao, Fujimaru mơ màng nghĩ. Dù sao thì đồ ăn cũng chỉ có thể làm no bụng được một lúc. Dù có ăn bao nhiêu món ngon và dinh dưỡng thì cuối cùng chúng ta đều phải chết. Mà nếu thế thì hành động nào cũng hóa ra vô nghĩa còn gì? Cả mình, sư phụ và tất cả những người đi ngang đường Hongo, một lúc nào đó cũng phải chết đi. Dù là người làm chuyện tốt hay kẻ làm điều xấu, thì đến khoảnh khắc nào đó, mọi người đều sẽ trở thành quá khứ.

Giữa dòng thời gian hữu hạn từ lúc ta được sinh ra cho đến lúc chết đi, dễ tưởng tượng là người ta thường “muốn kiếm tiền” hoặc “muốn giúp đỡ người khác”. Nhưng vẫn còn nhiều kẻ đặt chí lớn vào việc “nghiền ngẫm chân lý”. Họ là những người hoạt động nhờ vào lòng nhiệt huyết rất ư giản đơn rằng “mình chỉ muốn biết mà thôi”, nó vượt qua cái được mất, vượt qua cái hữu ích hay vô nghĩa tầm thường. Thật là tuyệt quá, Fujimaru thầm nghĩ.

Tsuburaya đã dặn là, “Không được làm phiền họ”. Lời ông nói thật quá đúng. Kể từ ngày mai, mình sẽ tức tốc giao đồ ăn tới rồi tức tốc đến thu gom lại muỗng nĩa. Fujimaru tự thề với lòng mình rồi lấy điện thoại chỉnh báo thức.

Dòng suy nghĩ cuối cùng ngay trước khi anh rơi vào giấc ngủ chính là, “Có thể thao tác kính hiển vi xoành xoạch như vậy mà không ngờ cô Motomura lại dở chuyện nấu nướng đấy...”

Bầu trời đêm bị phủ một tầng mây, không thấy ngôi sao nào cả. Chẳng có một ai tận mắt chứng kiến cảnh Fujimaru lăn lộn trong giấc ngủ của mình.

***

Vì Fujimaru hẵng còn quá trẻ nên vào sáng sớm hôm sau, anh đã quên phắt cả lời cảnh báo của Tsuburaya lẫn lời thề tối qua của mình. Mỗi ngày anh đều háo hức ngóng trông đơn đặt hàng đến từ phòng nghiên cứu Matsuda.

Anh không thể dứt ra khỏi mong muốn được gặp Motomura, và cả cái cảm giác khi võng mạc anh in dấu hình ảnh tuyệt đẹp của những tế bào qua kính hiển vi.

Khi cú điện thoại chờ mong rốt cuộc cũng đến, Fujimaru nhận lấy các món ăn từ Tsuburaya rồi bọc chúng lại bằng màng bọc thực phẩm với vẻ mặt nghiêm túc. Lúc anh xếp mấy món ăn được đặt hàng vào bên trong cái thùng bạc, Fujimaru nghiêm trang gật đầu trước lời dặn dò của Tsuburaya, “Chú mày nhớ kỹ đấy.”

Tiếp theo đó, anh trèo lên chiếc xe đạp màu xanh da trời rồi lao đi.

Anh vừa thở hổn hển vừa mở cửa phòng nghiên cứu Matsuda thì lập tức thấy bên trong có cả Motomura lẫn trợ giảng Kawai. Nàng Motomura mà đã mười ngày rồi anh mới được gặp lại đang mặc một chiếc áo tay lửng. Phần ngực áo có in hình một chiếc giỏ đựng đầy nấm thông.

Kawai thay mọi người trả tiền ăn trước, Fujimaru cất mấy tờ tiền vào trong túi rồi lấy từ đó ra tiền lẻ để thối lại. Vào lúc như vậy mà mắt anh vẫn không thể rời khỏi chiếc áo tay lửng của Motomura. Mặc một chiếc áo có họa tiết nấm thông có phải là chuyện bình thường không nhỉ? À không, thật ra thì anh cũng không biết nên giải thích lý do tại sao mình lại thấy nó không ổn, nhưng đúng là nhìn cũng không hợp lý tí nào.

Motomura mở cái thùng bạc ra với bộ dáng đã quen tay rồi bắt đầu chia đồ ăn cho mọi người trên chiếc bàn họp ở phòng nghiên cứu. Lúc nhận thấy ánh nhìn của Fujimaru, cô liền nói:

“Xin lỗi anh vì đã tự tiện.”

“À không, không phải vậy đâu.”

Fujimaru lưỡng lự một lúc rồi hỏi. “Cái áo ấy... cũng do cô tự in hả?”

Kawai đang cầm bình giữ ấm để rót phần canh của mình vào cốc, nghe vậy chỉ biết phì cười. Xem chừng Kawai cũng để ý đến chiếc áo tay lửng của Motomura lắm.

Bị cả Fujimaru lẫn Motomura nhìn chằm chằm, Kawai đành phải nói xin lỗi rồi ghé sát vào bàn. “Tôi xin phép ăn trước nhé, hai người cứ tiếp tục đi.”

Mặc kệ Kawai đang ngồi bên cạnh đã bắt đầu xử lý phần cơm trứng cuộn của mình, Fujimaru và Motomura lại trở về với câu chuyện của hai người.

“Cái áo này tôi mua ở một cửa tiệm gần đây đấy.”

Motomura nói. “Đúng lúc bây giờ đang là mùa mà nấm thông ngon nhất, chẳng phải rất hợp lý đấy sao?”

Cửa tiệm ấy là cửa tiệm như nào nhỉ, Fujimaru tự hỏi. Người con gái này hết mang áo thun hình khí khổng lại đến họa tiết nấm thông. Đúng là khiếu thời trang ngộ thật. Mình có thật sự muốn gặp lại cô ấy không ta, anh tự thấy tình cảm của bản thân mình thật là đáng ngờ vực.

“Bộ không có hoa văn nào bình thường hơn chút hả? Nấm hương hay nấm khiêu vũ chẳng hạn?”

“Phụt”, Kawai chợt mắc nghẹn, và lại một lần nữa bị cả hai người nhìn chòng chọc, anh đành phải đáp, “À không, không có gì”, rồi quay về món súp.

“Chỉ có mỗi nấm thông thôi ạ.”

Motomura lại xoay mặt về nhìn Fujimaru. “Vả lại, tôi nghĩ rằng chắc cũng không có bộ nào vừa với anh Fujimaru đâu. Vì ở đó toàn bán đồ nữ thôi mà.”

“Không cần đâu, tôi chỉ muốn hỏi thử thôi.”

Trông thấy vẻ xin lỗi của Motomura, Fujimaru không khỏi hổ thẹn vì tâm hồn đen tối của mình. “Cô làm nghiên cứu thực vật nên hẳn là cũng thích nấm ha?”

“À, vốn dĩ nấm không phải là một loại thực vật đâu ạ. Nếu tính theo gen di truyền thì chúng gần với động vật hơn.”

“Vậy á? Nhưng lúc nào chúng cũng bị xếp vào quầy rau củ quả ở siêu thị cơ mà!”

Thấy Fujimaru thốt lên đầy kinh ngạc, Motomura bật cười.

“Giờ mà chúng được xếp vào quầy thịt thì cũng khiến mọi người thấy dị lắm ha.”

Dù trang phục của cô ấy có hơi kỳ quái nhưng tính ra cũng chả sao nhỉ, Fujimaru nghĩ lại.

Cảm xúc nôn nao muốn được trò chuyện cùng cô nhiều hơn cứ nấn ná không thôi trong lòng anh.

“Vậy... tí nữa tôi lại đến lấy muỗng nĩa nhé.”

Fujimaru cầm cái thùng màu bạc lên toan bước ra khỏi phòng nghiên cứu.

“Phải rồi, anh Fujimaru này.”

Chợt, Motomura gọi giật anh lại. “Lúc anh đến thu muỗng nĩa, có muốn nhân tiện xuống nhìn qua phòng giải phẫu không? Vừa hay có cây Arabidopsis thaliana mới trổ mầm đấy.”

“Muốn chứ!”

Fujimaru đáp. Giọng anh lạc hẳn đi.

Lúc đóng cửa phòng nghiên cứu lại, anh chợt bắt gặp ánh mắt của Kawai đang cố nhịn cười. Vẻ mặt của anh ta như đang muốn cổ vũ anh vậy.

Trở về tiệm Viên Phục Đình đang giờ náo nhiệt vì các thực khách đến ăn trưa, Fujimaru cố gắng duy trì nét mặt thản nhiên rồi mới đi báo với Tsuburaya bằng vẻ trịnh trọng, rằng mình không cần ăn trưa.

“Hả, không ăn á?”

Tsuburaya vừa cầm chảo đảo món mì Ý sốt cà, vừa hỏi. “Vậy chú mày tính ăn ở đâu?”

“Cháu đang tính ra cửa hàng tiện lợi mua cái bánh kẹp nào rẻ rẻ tí.”

“Nếu là bánh mì kẹp ngoài cửa hàng tiện lợi thì ở tiệm mình cũng có mà?”

Dù có khách gọi món không ở trên thực đơn đi nữa thì Tsuburaya vẫn có thể dựa vào các nguyên liệu có sẵn ở tiệm để nấu ra một món gần đúng ý họ. Những thứ có thể mua ngoài cửa hàng tiện lợi như cơm nắm hay bánh mì kẹp hầu hết đều có thể đến Viên Phục Đình ăn. Chỉ mỗi lần này là anh thấy cái trù nghệ thiên phú của Tsuburaya sao mà đáng ghét thế.

Fujimaru nhận lấy đĩa mì Ý sốt cà từ Tsuburaya rồi bưng ra bàn có khách đang đợi. Tiện thể, anh cũng ngó luôn một lượt bên trong tiệm xem có cốc nước nào cần được rót thêm không.

Lúc quay về nhà bếp, Fujimaru vừa rót thêm nước vừa bịa ra một cái cớ.

“Hôm nay trời đẹp, cháu muốn tiện thể ra ngoài đi dạo rồi ăn ở ngoài.”

“Hả?”

Tsuburaya đang cầm muỗng rưới nước sốt đặc sệt lên món hamburger nóng hôi hổi mình vừa làm xong. “Ra là cái này à?”

Món sốt bên trên hamburger được vẽ thành hình trái tim xinh xắn.

“Chờ đã, cái gì đây?!”

Fujimaru đỏ mặt cướp lấy cái muỗng từ tay Tsuburaya để rưới thêm sốt vào. Trái tim bị rửa trôi đi, lại quay về làm một lớp sốt bình thường.

Sau khi bưng đĩa hamburger đến bàn của khách, Fujimaru quay lại chỗ của Tsuburaya, không còn cách nào khác ngoài thừa nhận.

“...Ừ đấy, cháu muốn đến Đại học T.”

“Chú mày huỵch toẹt ra ngay từ đầu có phải hay hơn không.”

Tsuburaya thở dài, ụp phần cơm cuộn trứng lên đĩa từ cái chảo chiên. “Còn nhớ rõ lời ta dặn không đấy?”

“Còn ạ.”

“Vậy thì tốt...”

Tsuburaya nhìn vẫn còn lo lắm.

Cháu nhớ chứ. Tsuburaya đã bảo rằng, không được dùng những thứ tình cảm tầm thường cản trở con đường của những người miệt mài làm nghiên cứu.

Cơ mà, Fujimaru trộm nghĩ, lần này là do chính cô Motomura mở miệng mời, dù mình có đến phòng nghiên cứu đi nữa thì cũng đâu có gây cản trở gì đâu. Không có lấy một mili tình cảm dư thừa là lời nói dối, nhưng mong muốn thấy được cây Arabidopsis thaliana cũng là thật.

Vậy nên mình có thể kết luận là con tim mình chỉ xao động có đúng một milimet thôi!

Fujimaru nhanh nhảu hoàn tất công việc trong giờ trưa của tiệm, để lại sau lưng lời dặn dò “Nhớ ăn uống đàng hoàng đấy!” của Tsuburaya rồi thẳng tiến Đại học T lần thứ hai trong ngày. Lẽ dĩ nhiên, đó cũng là lần thứ hai chiếc xe đạp màu xanh da trời phải lao hết tốc lực.

***

Motomura chờ Fujimaru ở phòng nghiên cứu tòa nhà B khu Tự nhiên cùng với mớ muỗng nĩa đã được rửa sạch.

“Cũng có một căn phòng giải phẫu nằm bên trong phòng để kính hiển vi dưới tầng hầm đấy ạ.”

Motomura nói. “Căn phòng vừa hay có cây Arabidopsis thaliana nảy mầm là phòng ở tầng một ạ.”

Motomura hai bậc một bước mà nhảy xuống cầu thang. Thay vì nói cô muốn mau chóng cho Fujimaru thấy cây Arabidopsis thaliana thì nên nói rằng Motomura đang nóng lòng xuống chăm cây thì đúng hơn. Quả nhiên cô rất thích cây Arabidopsis thaliana. Fujimaru cười trừ, tay xách cái thùng bạc đựng muỗng nĩa đuổi theo sau.

Tuy sắp sửa sang tháng Mười nhưng Motomura vẫn mang dép cao su như cũ. Anh trộm nghĩ, bộ cô ấy không thấy lạnh sao ta. Gót chân bé nhỏ thì vẫn ửng hồng như hồi hè vậy.

Phòng giải phẫu mà Fujimaru được đưa tới là căn phòng nằm ngay bên dưới phòng nghiên cứu Matsuda. Motomura vừa nâng giữ cánh cửa vừa vặn tay đấm. Fujimaru đặt cái thùng ở một góc hành lang rồi nhòm vào bên trong căn phòng.

Căn phòng được phân gian khá dài, tương tự phòng nghiên cứu. Cửa sổ bên trong lại bị che phủ hoàn toàn bởi rèm tối. Có những chiếc kệ tủ bằng kính được lắp cửa trông như buồng điện thoại hay những tủ lạnh bằng kính dùng để đựng Coca Cola ở quán rượu. Ở giữa căn phòng là một chiếc bàn họp có vẻ được dùng để thay thế cho bàn thực hành.

Nguồn sáng của căn phòng bị kéo rèm ấy là những chiếc đèn huỳnh quang bên trong dãy tủ kính. Tám cái kệ tủ tám cái đèn.

“Đấy gọi là chamber ạ.”

Motomura đứng ở ngạch cửa mà chỉ vào một cái tủ kính bên trong. “Tiếng Nhật mình gọi là máy điều chỉnh khí hậu thủ công. Nó có thể duy trì nhiệt độ và độ ẩm theo tùy chỉnh và cũng có thể thay đổi ánh sáng theo căn chỉnh thời gian. Các loại thực vật dùng trong quan sát và thí nghiệm phải được nuôi trồng bên trong các chamber được quản lý nghiêm ngặt thế này.”

Bên trong từng hộp kính là các loại thực vật đang sống những chuỗi ngày và đêm nhân tạo. Fujimaru bước lại gần Motomura để có thể nhìn rõ hơn.

Lập tức, một tiếng bõm vang lên, lúc anh liếc xuống sàn nhà xem có chuyện gì thì phát hiện một vũng nước đọng.

“Aa!”

Motomura kêu lên. “Nước chảy ra rồi!”

Vách tường bên trái có một cái chamber. Đoạn ống nước gần chỗ chân Fujimaru thì đang nằm rũ xuống sàn nhà.

“Là chamber của thầy Matsuda...”

Motomura nói như rên rỉ, đoạn, cô cầm đoạn ống nước gắn lại vào đầu nối. Sau đó cô lấy miếng giẻ lau trên chiếc bàn họp để bắt đầu lau dọn vũng nước trên sàn. Fujimaru cũng cầm lấy một miếng giẻ lau phụ Motomura.

“Xin lỗi anh nhé. Giáo sư cũng có nhiều lúc đểnh đoảng lắm.”

“Không ngờ ha. Bề ngoài trông ông ta cứ như một tay sát thủ máu lạnh thế kia mà.”

Hả? Motomura trợn tròn mắt rồi bật cười, “Đúng thật.”

“Nhưng đó chỉ là vẻ ngoài thôi. Thực tế thì mỗi lần tìm kiếm giấy tờ hay tài liệu thầy ấy đều phải xới tung cả cái bàn lên. Vũng nước này chắc cũng do thầy quên gắn kỹ ống nước vào vì vội đi đâu đó sau khi sực nghĩ ra điều gì trong lúc mân mê cây cối đây mà.”

Trông thì có vẻ ngầu mà hóa ra lại vụng về quá nhỉ, Fujimaru cảm thấy hình ảnh của giáo sư trở nên gần gũi hơn.

Sau khi lau xong sàn nhà, hai người phơi giẻ lau lên khung sào mini. Fujimaru nhòm vào chamber của Matsuda. Bên trong được chia làm ba tầng, ngăn nào cũng chứa đầy các loại thực vật cành lá sum suê.

Có lá cây giống hình quạt tròn bị rách vài vết. Có lá cây màu xanh nhạt lại tròn vo. Có loại mầm lá nom như chiếc mũi khoan nhú ra từ khối gì đó trông như một loại quả bé xíu. Đây cũng toàn là các loài thực vật anh chưa nhìn thấy bao giờ, giống như mấy loại cây ở trong phòng nghiên cứu vậy. Dù một ngày nào đó chúng sẽ bị giải phẫu trong những chậu con hoặc trên những khay đựng nước, nhưng các loại thực vật này đều đang khoe cho anh thấy sức sống hết sức ngoan cường của mình.

“Cây nào cũng um tùm, hay thật ấy.”

“Giáo sư là người có ‘ngón tay xanh’ mà anh.”

“Tức là ngón tay của thầy ấy có màu xanh hả?”

Fujimaru lục lại ký ức. Anh nhớ là ngón tay Matsuda tuy có dính bùn đất thật, nhưng chúng hẳn là không có màu xanh đâu. Quan trọng nhất, nếu ngón tay mà biến thành màu xanh thì chẳng phải ngài ta nên ngay lập tức đến khoa da liễu ư?

“Không phải thế, ví dụ nhé.”

Motomura giải thích với vẻ rất ư là thật tình. “Người ta hay mệnh danh những người giỏi chăm sóc cây cỏ là những người có ‘ngón tay xanh’. Dù có là loại thực vật không hợp với khí hậu Nhật Bản đi nữa thì chỉ cần được giáo sư chăm sóc, chúng sẽ khỏe lên và dần sinh sôi nảy nở.”

“Ồ. Chắc là giáo sư phải có bí quyết gì nhỉ.”

“Thầy ấy chỉ nói rằng mình có thể cảm nhận được thực vật đang cần gì thôi.”

“Vậy còn cô Motomura thì sao?”

“Tôi thì chịu. Arabidopsis thaliana là loài cây dễ sinh trưởng nên tôi mới chăm được, chứ ở nhà thì ngay cả cây xương rồng tôi trồng cũng héo mà.”

Thấy bả vai Motomura chùng xuống với vẻ thất vọng, Fujimaru vội nói.

“Cây cối nhiều quá cũng bất tiện. Cỏ dại sẽ mọc hoang hết mất.”

“Nhắc mới nhớ, mấy hôm giáo sư nghỉ hè, thầy ấy đã bảo là để nhổ cho sạch đám cỏ ngoài sân đấy.”

“Quả nhiên.”

Bị lây nhiễm tiếng cười lảnh lót của Motomura, Fujimaru cũng mỉm cười theo.

“Nhắc đến cây xương rồng, cậu Kato học cao học cũng đang nghiên cứu về gai xương rồng đấy ạ.”

“Gai... xương rồng á...?”

Lại là một đối tượng nghiên cứu khiến người ta phải nhăn nhó nữa, Fujimaru nghĩ.

“Vâng ạ. Xương rồng tuy nhìn qua không có lá, nhưng gai của chúng chính là những phiến lá biến thành đấy. Tiện thể thì gai hoa hồng thật ra là nhánh trên thân chúng nhú ra, nhưng tại sao chúng lại biến đổi thành như thế thì có rất nhiều giả thuyết và vẫn không giải thích được.”

“Ồ~”

Đột nhiên cảm thấy các loài thực vật gần gũi với mình hóa thành những vật thể đầy bí ẩn, Fujimaru không khỏi nhìn vào tay mình để kiểm tra. May quá, lỡ như móng tay của mình bất thình lình trở nên nhọn hoắt thì cũng không biết tính sao đây.

“Cả cậu Kato lẫn thầy Matsuda đều là những người có ‘ngón tay xanh’ cả. Cậu ấy trồng nhiều cây xương rồng và sen đá trong nhà kính lắm.”

“Ở đây có nhà kính nữa ạ?”

“Vâng, gần tòa nhà B này thôi. Chỉ cần hỏi thăm thì Kato sẽ dẫn anh tham quan bên trong đấy.”

Cô Hana hàng hoa mà Tsuburaya đang quen dạo gần đây cũng bán rất nhiều chậu sen đá bé xíu trong cửa hàng của mình. Ngoài việc có màu sắc, hình dáng và chủng loại phong phú, đa số chúng có thể sống rất dai mà không cần tốn công chăm sóc nên đã trở thành một loại trang trí nội thất được mọi người ưa thích.

Đối với một người đã từng nhìn thấy tế bào của cây Arabidopsis thaliana như Fujimaru mà nói, anh cũng phải thầm nghĩ, “Thực vật dù gì cũng là sinh vật sống, đem ra làm đồ trang trí nội thất có được không ta?” Nhưng rất có thể đó là vì Fujimaru chả có tí hứng thú nào đối với chuyện trang trí nhà cửa cũng nên. Dù gì thì mấy món nội thất trong phòng của anh đều là đồ được thừa kế từ Tsuburaya. Rèm cửa thì không che được nắng gắt, bàn ăn thì lung lay đến nỗi anh phải gấp tờ rơi lại để kê dưới chân bàn, kể cả cái tủ lạnh cũng bị gắn đầy mấy cục nam châm trang trí nhìn chẳng có tí thẩm mỹ nào. Vì lớp vỏ nhựa đã tróc hết ra nên giờ mấy cục nam châm trang trí ấy chỉ còn là mấy cục đá từ bình thường thôi.

Với tình trạng như thế, anh không khỏi cảm thấy “Ba vụ trang trí phòng ốc bằng cây cỏ mình không làm nổi đâu”, nhưng những người quan tâm đến nội thất căn nhà thì tất nhiên rất mực cẩn thận với những loại cây mà họ chọn đặt trong phòng, vì họ sẽ bỏ công ra chăm sóc chúng thật cẩn trọng. Quan niệm về cách trang trí nội thất của hai bên quá khác biệt. Fujimaru cũng muốn làm gì đó cho căn phòng vô vị của mình nên đã âm thầm ghi nhớ trong lòng “Lần sau phải nhờ cậu Kato dẫn đến nhà kính xem sen đá mới được.”

“Đây là chamber của tôi.”

Motomura dắt Fujimaru đến một cái chamber nằm ở vách tường bên phải.

Chamber của Motomura được chia làm năm tầng. Khắp kệ tủ đều được đặt các khay nhôm – loại khay dùng trong nấu ăn. Mỗi chiếc khay hình vuông có chứa các vật thể hình lập phương kích thước 2 x 2 centimet trông giống hệt mấy miếng bọt biển, được xếp chỉnh tề ngăn nắp thành hàng.

“Cái này gọi là bông khoáng, chúng được dùng thay cho đất. Hạt giống cây Arabidopsis thaliana sẽ được vùi vào những lớp bông khoáng này để sinh trưởng.”

Motomura mở cửa chamber rồi lấy ra hai chiếc khay. Fujimaru so sánh chúng với mấy chiếc đặt trên bàn lớn.

Trên những chiếc khay được xếp thẳng hàng bên kia là những cây Arabidopsis thaliana đã trưởng thành và ra hoa. Thân cây cao khoảng 30 centimet. Nhánh cây cực kỳ mảnh, trên đó mọc lác đác vài phiến lá. Ở phần đầu của nhành cây mọc rẽ ra từ cành nở ra một đóa hoa nho nhỏ chỉ khoảng năm milimet. Cánh hoa tròn, màu trắng, trông như hạt gạo vậy.

Hình dạng của nó quả nhiên chỉ có thể dùng từ “hoa dại” để hình dung, thế mà có thể nói bông hoa này mang vẻ đẹp vừa mỏng manh lại vừa thuần khiết. Lần đầu tiên được chiêm ngưỡng diện mạo thật sự của giống Arabidopsis thaliana, Fujimaru quá đỗi xúc động, giờ thì anh đã hiểu ra, “Đúng rồi, vì hoa có màu trắng nên người ta mới gọi nó là ‘hoa cải chó trắng’[14].”

Bên khay còn lại xếp những cây Arabidopsis thaliana ra lá. Những chiếc lá xanh hình elip vươn lên khỏi miếng bông khoáng trông mới oai hùng làm sao. Cách sinh trưởng gần giống với mấy củ hành tây hay mầm đậu xanh mà anh trồng ở bậu cửa sổ lúc muốn tái chế mấy hộp đựng đậu nành lên men. Không hiểu sao lòng anh lại dâng lên tình cảm mãnh liệt với những cây hoa này, đến nỗi Fujimaru đã thầm nghĩ rằng đây quả là một loài cây thật đáng yêu. Nhưng vì sợ xấu hổ nên anh không dám nói ra.

“Cây mọc ngoài tự nhiên sẽ có lá trơn mịn, nhưng những cây biến dị sẽ có lá răng cưa, bản thân phiến lá vốn phải có dạng dài và mỏng, vậy mà ở đây chúng lại có hình dạng gần giống với hình tròn, thấy không?”

Trên mấy miếng bông khoáng có gắn những tấm thẻ nhỏ xíu khác nhau. Chắc là để nhận biết cây nào mọc hoang cây nào biến dị. Fujimaru ghé mặt lại gần chiếc khay hơn để quan sát sự khác biệt giữa hình dạng của những chiếc lá.

“Phải ha. Mấy phiến lá này vốn chỉ mới nhú ra thôi mà đã khác nhau rồi này.”

“Chỉ cần gen của chúng khác nhau một chút xíu thôi là cũng đủ để hình dạng trở nên khác biệt. Nhưng chúng tôi lại không biết cây nào là gen trội cây nào là gen lặn. Tất cả các cây Arabidopsis thaliana đều được nuôi trồng trong chamber như thế này.”

“Vậy là cũng giống như chúng ta...”

Fujimaru lẩm bẩm. Nét mặt, thân hình hay là màu da, tất cả đều khác biệt. Nhưng đó chỉ là những thứ vụn vặt. Mọi người đều đang trải qua cuộc đời của mình, đều cố gắng để bản thân được vui vẻ thoải mái hơn dù chỉ là một chút.

“Nhân hóa cỏ cây vốn là chuyện không nên làm đâu, với tư cách là người nghiên cứu chúng.”

Motomura mỉm cười. “Tìm hiểu về phiến lá, lai phối giống nhân tạo,... những việc đó rốt cục vẫn chỉ để phục vụ thí nghiệm thôi. Nhưng dù là như thế tôi vẫn hi vọng chúng sẽ được khỏe mạnh lớn lên.”

Nghe được từ “phối giống” bật ra từ miệng Motomura, trái tim của Fujimaru bỗng dưng đập mạnh. Giờ đây anh mới nhận ra, chỉ có mỗi hai người họ bên trong căn phòng giải phẫu nhỏ hẹp này, từ “lý tính” nảy lên trong suy nghĩ của anh. Fujimaru cố hết sức dùng cây bút chì tưởng tượng vạch đi vạch lại hai tiếng ấy trong đầu mình. Chỉ tiếc là từ “lý tính” vẫn có chữ “tính” bên trong. Không kiềm được bản thân, anh đành buột miệng hỏi.

“Phối giống... ấy hả?”

Anh yên tâm khi nghe thấy giọng nói của mình không bị cao vút lên, nhưng vẫn lén chùi bàn tay đầy mồ hôi sau đít quần.

“Có đấy ạ. Ở giai đoạn chúng vẫn còn là nụ hoa, chúng tôi sẽ lấy kim tăm nhẹ nhàng gắp cánh hoa ra để lấy bao phấn của nhị đực. Đó là bộ phận tạo ra phấn hoa. Chúng sẽ ngăn cản việc nhụy hoa tự ý thụ phấn. Khi hoa nở thì bào tử đực sẽ di chuyển đến nhụy hoa để thụ phấn.”

Hoa Arabidopsis thaliana bé xíu thế này. Thứ gọi là nụ hoa kia nom chỉ nhỏ bằng hạt mè thôi.

“Cô khéo tay thật đấy.”

Fujimaru lại một lần nữa kêu lên đầy xúc động. Anh thầm nghĩ, mình cũng muốn được giao phối nữa.

Motomura âu yếm dùng ngón tay vỗ về phiến lá của cây Arabidopsis thaliana mà không hề nhận ra Fujimaru đứng bên cạnh mình đang mang trong đầu những suy nghĩ vô cùng bất chính. Ánh sáng phát ra từ chamber giống hệt ánh mặt trời. Đường cong nơi gò má của Motomura trông thật dịu dàng và ánh mắt cô chuyên tâm quan sát cây hoa Arabidopsis thaliana, như thể đã quên mất việc Fujimaru còn ở trong phòng.

“Anh thích em.”

Fujimaru nói. Lúc thấy Motomura ngẩng lên nhìn với vẻ kinh ngạc, Fujimaru liền nghĩ, “Chết, lỡ nói mất rồi”, cùng lúc ấy, cánh cửa phòng giải phẫu cũng bật mở.

Fujimaru cùng Motomura theo phản xạ ngoái đầu nhìn về phía cửa. Matsuda đang đứng ở đó, tay anh vẫn để nguyên trên nắm đấm cửa.

Matsuda nhìn chòng chọc tới lui vào hai người, đoạn, thầy lấy tay còn lại đẩy mắt kính của mình lên rồi nói:

“Xin lỗi.”

Cánh cửa khép lại, bóng dáng của Matsuda cũng biến mất.

Sao lại thế này? Sao đúng vào lúc quan trọng thế này giáo sư Matsuda lại bước vào? Đã vậy còn tinh ý đoán được tình huống mà cáo lui nữa chứ! Mình phải làm gì với bầu không khí sượng chín người này đây? Thà bị người lạ nào phá đám còn hơn!

Nếu diễn dịch những cảm xúc quay cuồng của Fujimaru – người đang bị nhấn chìm trong sự hoảng loạn và xấu hổ thành lời, thì nó sẽ là như trên.

“Anh này…”

Một giọng nói khẽ cất lên. Fujimaru lúng túng nhìn về phía Motomura. Motomura đang cúi gằm mặt. Biểu cảm trên gương mặt cô có vẻ căng thẳng lắm, vì gò má cô cũng đang phớt hồng như gót chân cô vậy.

Fujimaru chợt có quá nhiều lời muốn thốt ra, cuộn trào như sóng vỗ. Bởi vì anh đang cảm thấy vô cùng chấn động trước việc mình buột miệng thổ lộ mà không hề có sự chuẩn bị nào, lẫn việc mình đã khiến Motomura kinh hoảng.

“Thành thật xin lỗi em. Nhưng ban nãy, tình cờ... à không, việc tôi thích Motomura nó không ‘tình cờ’ chút nào, nhưng bây giờ cũng không phải lúc nói chuyện đó, vậy nên... ừm, em có thể trả lời tôi bất kỳ lúc nào, em cũng đừng nên nghĩ quá nhiều về chuyện đó, tôi thật ra thì sao cũng được, nhận được lời hồi đáp thế nào cũng được, ừm...”

Rốt cục thì chính anh cũng không hiểu bản thân mình đang nói gì nữa, câu cú cứ loạn xà ngầu cả lên. Thế là Fujimaru buộc phải dừng bản thân lại với câu, “Chà, vậy thôi...,” rồi cứng còng xoay lưng về phía Motomura. Anh cứ lựng khựng như thế mà đi mấy bước về phía cửa, rời khỏi phòng giải phẫu.

Dù rằng anh đã nuôi một chút hi vọng, nhưng đến phút cuối cùng, Motomura vẫn chẳng nói lời nào. Trước lúc đóng cửa lại, anh ngoái đầu nhìn thì thấy Motomura vẫn đứng trơ ra như tượng đá dưới ánh đèn được chiếu sáng từ chamber, gương mặt thì vẫn cúi gằm.

Vừa bước ra hành lang, Fujimaru liền thở dài một tiếng nghe rõ não nề. Cảm nhận được có người ở ngay phía sau mình, anh nhìn lên. Đứng dựa lưng vào bức tường đối diện cắt ngang hành lang hẹp chính là giáo sư Matsuda đang khoanh tay.

“Trời trời trời trời ạ...!”

Fujimaru nhảy thót lên. “Sao thầy vẫn còn ở đây?!”

“Suỵt.”

Matsuda ra hiệu rồi đứng thẳng dậy, thầy ta giục Fujimaru rồi bước ra hành lang. Không còn lựa chọn nào khác, Fujimaru đành xách theo cái thùng bạc đựng muỗng nĩa, lủi thủi đi theo sau.

“Nghe thấy tiếng kêu của Motomura nên tôi nghĩ mình nên đi vào.”

“Thầy đang nghĩ tôi là một thằng cầm thú đúng không? Nhưng tôi không làm gì cả.”

“Xin lỗi cậu.”

“Hay là... ơ, không lẽ... thầy đang hẹn hò với Motomura?”

“Cậu nghĩ tôi là hạng người nào? Làm gì có chuyện tôi mờ ám với học trò của mình.”

“Xin lỗi thầy.”

Khi đứng bên cạnh Matsuda, Fujimaru cảm giác như mình đang bị một gã sát thủ truy sát đến tận bến cảng.

“Trong phòng giải phẫu xảy ra chuyện gì à?”

“Tôi vốn chỉ tính vào để kiểm tra xem ống nước của chamber có bị sao không.”

“Nếu là cái đó thì bọn tôi đã lau sạch sàn nhà rồi.”

“Tôi cũng nghĩ thế. Cảm ơn cậu nhiều nhé.”

Matsuda đi về hướng cầu thang. Xem chừng thầy tính quay lại phòng nghiên cứu trên lầu hai vì đã xong chuyện kiểm tra ống nước và canh chừng Fujimaru rồi. Con người này đúng là cá biệt, Fujimaru thầm nghĩ. Giờ nghỉ trưa sắp hết, anh đành phải đi về hướng cầu thang luôn. Ngoan ngoãn theo sau Matsuda.

Lúc hai người chia tay nhau ở cầu thang tầng một:

“Tôi chúc cậu may mắn.”

Matsuda nói. “Dù kết quả ra sao, nếu cậu vẫn còn hứng thú với thực vật thì cứ lại đây. Cánh cửa học vấn luôn luôn rộng mở với tất cả mọi người.”

Fujimaru vừa đi cầu thang xuống tầng trệt, vừa ngẫm nghĩ, “Thật ra tôi không tự tin về khoản học hành...” Nhưng dù gì, anh vẫn rất vui khi có thêm cơ hội được bước vào tòa nhà B khu Tự nhiên. Mặc cho Motomura có hồi đáp anh thế nào đi nữa.

***

Kết quả là phải đến gần lúc tiệm đóng cửa vào giờ phục vụ buổi tối thì Fujimaru mới sực nhớ ra sự thật là mình đã lỡ bữa trưa.

Lúc anh bưng chồng đĩa không quay vào trong nhà bếp thì chợt thấy chóng mặt. Bình thường dù bưng nguyên cái khay đựng hẳn mười cốc bia đầy thì anh cũng chả hề cảm nhận được tí ti sức nặng nào của nó, thế mà bây giờ... Trong lúc anh đang cảm thấy kỳ quái thì Tsuburaya đã nhạy bén chỉ ra:

“Chú mày vẫn chưa cơm nước gì hả? Mặt mày tái mét hết rồi kìa.”

Ngón tay không xanh, mặt mũi mới xanh lè. Vậy thì nguy thật. Fujimaru cứ như đang nghe chuyện của người khác, chỉ có mỗi Tsuburaya là nhanh chóng lấy ít bắp cải và thịt heo băm còn thừa làm cho anh món cơm chiên.

Chắc vì cả hai chuyện trọng đại là cái bụng rỗng và pha tỏ tình đều ảnh hưởng đến thể xác lẫn tinh thần anh nên mới gây ra thiếu máu. Từ lúc cha sinh mẹ đẻ tới giờ, Fujimaru vốn dĩ rất mạnh khỏe, thậm chí còn chưa từng bị cảm lần nào. Vì lẽ đó anh không hề nhận thấy bản thân đang ốm yếu, chỉ miên man băn khoăn mãi sao hôm nay mình lạ thế.

Đêm cũng đã khuya, những vị khách còn lại bên trong tiệm chỉ còn mỗi ông bác khách quen thích món cá sòng chiên giòn cùng bà thím chủ tiệm giặt ủi đang cố bấu víu lấy chai rượu uống trước khi ngủ. Trước sự thúc giục của Tsuburaya, Fujimaru đành phải ngồi vào bàn dành cho khách nằm trong góc để ăn món cơm chiên của mình. Sau miếng cơm đầu tiên, anh mới thật sự cảm nhận được mình rốt cục đang đói bụng đến mức nào, sau đó là một chuỗi ngấu nghiến bát cơm. Anh có thể nhận ra cơ thể mình trở nên ấm dần và sắc mặt cũng hồng hào trở lại.

“Phải thêm cả vitamin vào nữa,” được Tsuburaya bảo thế, sau bữa ăn, anh uống thêm một ly cam ép. Nhưng chẳng hiểu sao mà ông bác Cá Sòng Chiên Giòn cùng bà thím tiệm giặt ủi đều di chuyển đến bàn của Fujimaru. Ông bác thì ngồi đối diện Fujimaru, bà thím thì ngồi bên cạnh, ly rượu được bà đặt hẳn lên một cái ghế cho rảnh tay. Tsuburaya, sau khi tắt hết đèn đóm trước cửa tiệm, cũng ngồi vào bên cạnh ông bác.

“Mọi người... sao tập trung hết ở đây vậy?”

Fujimaru cảm thấy không thoải mái lắm nên lắc lắc cốc nước cam.

“Này nhé.”

Tsuburaya lên tiếng. “Fujimaru giờ đã thành Bị-Phũ-Maru rồi à?”

“Bị-Phũ-Maru là gì?”

“Thì tức là bị người ta phũ đó.”

Bà thím tiệm giặt ủi nhích cái ghế lịch kịch lại gần. Giọng bà nghe nghiêm túc đấy, nhưng cặp mắt thì lại sáng rỡ đầy tọc mạch.

“Bị-Phũ... à nhầm, Fujimaru này, cháu đừng quá thất vọng.”

Ông bác Cá Sòng Chiên Giòn cũng gửi cho anh một lời động viên hết sức vô ích.

Mặt Fujimaru đỏ lựng. Thậm chí anh nghĩ rằng, nếu cốc nước cam phản chiếu được khuôn mặt mình bây giờ thì chắc nó phải biến thành cốc nước cà chua rồi.

Tại sao mấy ông bà khách quen này lại biết đến tình hình yêu đương của mình cơ chứ. Không, nguồn tin tình báo chắc chắn chỉ có một.

“Sư phụ!”

Anh dằn cốc nước lên bàn rồi hét lên. “Sao bác lại đi nói với người khác?!”

“Xin lỗi, lỡ mồm.”

“Lỡ mồm là lỡ mồm thế nào!”

Fujimaru oán trách Tsuburaya mà quên mất rằng chính bản thân mình cũng lỡ mồm tỏ tình với người ta. Thế nhưng Tsuburaya chỉ thản nhiên rằng:

“Hê, vậy hóa ra chú mày bị người ta phũ thật à?”

Lông tóc toàn thân Fujimaru dựng đứng hết cả lên khi anh bị ông bác và bà thím mở lời vỗ về an ủi, nhưng anh vẫn ráng bình tĩnh cho bằng được.

“Không, vẫn chưa...”

“Vẫn chưa nghĩa là sao?”

Bà thím chồm hẳn người lên phía trước. “Thế tức là cháu vẫn chưa tỏ tình?”

Sao cháu phải nói chuyện đó với bác. Tuy trong đầu nghĩ vậy, nhưng thấy cặp mắt của bà thím tỏa ra vầng sáng lấp lánh, khoảng cách giữa hai người thì bị rút ngắn lại gần như má kề má trán đụng trán, Fujimaru đành thú thật.

“Cháu tỏ tình rồi.”

“Nhưng hồi đáp thì chưa.”

“Cậu bị người ta trêu đùa à?”

Ông bác huơ huơ ly rượu trắng. “Đúng là thứ con gái xấu xa.”

“Không phải như thế!”

Giọng nói của Fujimaru chợt cao hơn hẳn một tông. “Chỉ vì cháu đã nói cô ấy không cần trả lời cháu ngay bây giờ thôi.”

“Thế tức là chú mày nói xong bỏ của chạy lấy người chứ gì?”

Quả xứng danh sư phụ, Tsuburaya luôn bắt thóp được hành vi của Fujimaru. “Chả có ý chí chiến đấu gì cả, chú mày tệ quá.”

“Ông Masa nói hay nhỉ.”

Bà thím tiệm giặt ủi thay Fujimaru vặt lại ông. “Ai mất tận mấy năm mới thổ lộ được với bà Hana?”

“Xin lỗi xin lỗi.”

Ông bác Cá Sòng Chiên Giòn cũng nói. “Người con gái mà cậu Fujimaru đem lòng yêu thương thì sao có thể là người xấu được.”

“Nè, thế cô ấy là người ra sao đó?”

“Người ra sao ấy ạ...”

Bị bà thím hỏi thế, Fujimaru cũng á khẩu. “Yêu thích cây cối này, hay mặc mấy cái áo thun dị dị này...”

Nhưng dù dùng từ ngữ nào để giải thích thì anh vẫn không có cảm giác mình đã lột tả được Motomura. Khoảnh khắc cả hai cùng cười trước phiến lá Arabidopsis thaliana. Những ngón tay chỉnh thấu kính hiển vi cho anh. Đôi mắt tuyệt đẹp đằng sau cặp mắt kính những lúc cô ấy giảng giải về mật độ của tế bào. Con tim của Fujimaru lại bị cuốn vào vòng xoáy ký ức tự bao giờ.

Fujimaru thấy mình như đang bị thiếu máu.

Tảng lờ Fujimaru đang nín thinh sang một bên, nhóm người Tsuburaya bắt đầu rôm rả bàn tán xem “đối phương là người thế nào”.

“Có khi nào chúng ta đoán sai, cô nàng là gái giang hồ chăng?”

“Nhưng tôi nghĩ tuýp người thằng Fujimaru thích phải là mấy cô tiểu thư trong sáng cơ.”

“Người thích gái giang hồ chẳng phải là ông Masa đây sao? Bà Hana vốn dĩ là chị đại người ta mà. Mặc dù thời bọn mình thì vẫn chưa có cách gọi đó.”

“Bà bị dở hơi à! Hana vốn chỉ nổi loạn chút thôi!”

Mấy vị khách thường lui tới của Viên Phục Đình ngoài là bạn bán buôn trong khu chợ, còn có rất nhiều người đã quen nhau từ tấm bé. Chủ đề xem chừng đã chuyển từ “đối phương là người thế nào” sang “buổi tán dóc của hội đồng lứa” rồi. Chẳng mấy chốc mà đến cả Tsuburaya cũng uống bia.

Một người hết mực ra dáng mẹ hiền như cô Hana hàng hoa cũng từng là giang hồ á? Fujimaru thảng thốt né khỏi bà thím tiệm giặt ủi, rời khỏi bàn để vào trong bếp rửa chén.

Buổi nhậu nhẹt của hội Tsuburaya còn tiếp diễn đến tận khi cô Hana gọi điện sang.

“Ông Masa à, tôi chuẩn bị đi ngủ đây, có mang theo chìa khóa không đó?”

Fujimaru bị đùn đẩy việc dọn tiệm và chăm sóc người say, chỉ có thể lăn ra ngủ sau khi đồng hồ đã điểm sang ngày mới không lâu. Tâm trạng dễ chịu hơn rồi, anh nghĩ. Có khi đó là chiến lược ngay từ đầu của hội Tsuburaya cũng nên. Hoặc có thể bọn họ chỉ đơn giản là muốn chè chén nhậu nhẹt một phen thôi. Fujimaru cảm thấy lòng thành của hội ông bà già cao tuổi tràn đầy năng lượng quả đúng là khó hiểu mà.

Nói thì nói thế, nhưng dù anh nhắm mắt thì cơn buồn ngủ vẫn mãi không kéo đến. Hình ảnh Motomura đứng trơ như tượng đá cứ hiện lên trong đầu. Fujimaru chỉ đành lăn qua lăn lại và rên rỉ à a cho qua hết đêm này.

***

Thời điểm Motomura gọi điện đến Viên Phục Đình là ba ngày sau hôm Fujimaru bày tỏ nỗi lòng ở phòng giải phẫu.

Trong suốt ba ngày này, làm việc trong tình trạng không đêm nào chợp mắt là bất khả thi. Vừa hay Viên Phục Đình đang nghỉ định kỳ, Fujimaru có thể ngủ nướng cả buổi sáng. Ba ngày nay, anh luôn ôm nỗi kỳ vọng và bất an mà làm việc, nghĩ đến những chuyện như, “Khi nào mình nhận được lời hồi đáp của cô ấy nhỉ? Hay đi qua nhìn mặt tí xem sao... Thôi thôi, mình đã nói rằng sẽ chờ cô ấy rồi mà, mày phải kiên định lên chứ”, khiến cho anh chỉ thêm mệt mỏi.

Chợt nhận ra điện thoại của tiệm dưới lầu đang reo, Fujimaru bừng tỉnh ngay lập tức. Anh vứt cái gối đang ôm sang một bên rồi ù chạy xuống lầu. Trối chết như vậy là vì anh có dự cảm đấy là điện thoại của Motomura.

“Viên Phục Đình đây ạ, cảm ơn vì đã gọi đến tiệm chúng tôi!”

Anh háo hức bắt lấy ống nghe của chiếc điện thoại đặt trên quầy tính tiền. Không ngoài dự đoán, giọng Motomura vang lên:

“Anh Fujimaru đó ạ?”

“Vâng, anh, à tôi, à anh đây.”

Thậm chí anh còn không giữ nổi xưng hô bình thường của mình, thành ra câu trả lời trở nên vô cùng kỳ quặc.

“Motomura đây ạ. À, chuyện hôm nọ...”

“Vâng.”

Fujimaru chờ cô tiếp tục, nhưng Motomura mất một lúc vẫn không lên tiếng. Đầu dây bên kia chỉ truyền lại tiếng thở im ắng. Anh nhìn sang chiếc đồng hồ treo tường bên trong cửa tiệm. Mới hơn chín giờ sáng.

Mãi Motomura mới cất tiếng:

“Tôi muốn cho anh câu trả lời về chuyện hôm nọ.”

Giọng cô nghe như gió thoảng.

“Tôi nghĩ chúng ta nên gặp nhau ở đây. Vào giờ nghỉ trưa hôm nay tôi có thể gặp anh ở phòng chứa kính hiển vi dưới tầng hầm. Không biết lúc đó anh Fujimaru đến được không?”

Dù chẳng hiểu hồi đáp cho lời tỏ tình của mình và phòng chứa kính hiển vi thì có liên hệ gì với nhau, nhưng Fujimaru vẫn đáp:

“Không hề gì. Hôm nay là ngày tiệm đóng cửa.”

Sau khi cúp điện thoại, Fujimaru quay trở lại phòng mình rồi rửa mặt kỹ càng sạch sẽ hơn mọi khi. Anh lấp bụng bằng một lát bánh mì nướng dày kèm với trứng ốp-la và cà phê. Sau khi đánh răng cẩn thận hơn thường ngày, anh mặc vào chiếc áo thun tươi tắn nhất mà mình có cùng quần jeans. Xong xuôi hết thì cũng chỉ mới mười giờ kém nên anh đành ngồi bên cửa sổ dõi mắt trông ra ngoài.

Hoa thục quỳ nhà đối diện vẫn chưa tàn hết, dù bây giờ trời đã chuyển sang thu. Mà dường như những cánh hoa mỏng dính cũng đang bắt đầu mềm mại rơi rụng xuống mặt đường. Nhìn những bông hoa úa màu bẹp dí trên nắp rãnh thoát nước, Fujimaru thả hồn ngẩn ngơ một lúc lâu. Nỗi nhung nhớ không nói thành lời như từng vụn mây lác đác trên trời, cứ thoắt ẩn thoắt hiện trong tâm trí anh.

Tiếp theo, anh đi quét dọn trước cửa tiệm và lau chùi cửa kính để giết thời gian. Sẵn lúc đang quét rác thì anh cũng dọn luôn mớ hoa thục quỳ rơi rụng trên đường. Nhìn xuống nắp rãnh giờ đây đã sạch sẽ, anh chợt nhận ra vụn mây trong lòng đã bay đi.

Giờ hẹn cận kề, Fujimaru chạy tới Đại học T. Ban đầu anh vốn định dùng chiếc xe đạp xanh da trời theo thói quen, nhưng sau khi chợt nghĩ lại thì Fujimaru quyết định đi bộ đến.

Anh tay không băng qua đường Hongo rồi bước vào Xích Môn của trường. Lần đầu tiên đến đây giao hàng, anh cứ thấy nhút nhát khi bước vào trường với bộ dạng mặc tạp dề, dắt theo chiếc xe đạp treo lủng lẳng thùng đựng thức ăn. Thế mà bây giờ anh lại kinh hoảng phát hiện, bản thân đã trở nên ung dung khi đến thăm Motomura mà không vì bất kỳ danh nghĩa “công việc” nào.

Lúc anh bắt gặp bóng Motomura đang đứng ngoài tiền sảnh tòa nhà B khu Tự nhiên, Fujimaru liền la lên “A a” trong đầu. Anh cũng không hiểu sao đầu mình lại kêu “A a” nữa, chỉ là muốn kêu vậy thôi. Hôm nay Motomura vận một chiếc áo thun trơn. Màu của chiếc áo giống với màu chiếc xe đạp của Fujimaru, cũng trùng màu với bầu trời cao vời vợi bên trên tòa nhà B này.

“Xin chào.”

Hai người đồng thời ngượng ngùng chào nhau.

“Xin lỗi vì đã làm phiền anh vào ngày nghỉ thế này.”

“Không sao, dù gì cũng rảnh.”

Chẳng biết có phải vì nghe ra giọng điệu cộc lốc trong câu nói của Fujimaru không mà Motomura cúi gằm mặt xuống vẻ khó xử. Fujimaru vội vã nói:

“Cô muốn dẫn tôi đi xem kính hiển vi mà nhỉ?”

Anh chuyển sang chủ đề khiến Motomura cảm thấy dễ chịu. Motomura gật đầu rồi quay ngoắt đi.

Ở góc tiền sảnh là một đoạn cầu thang hẹp dẫn xuống tầng hầm. Motomura bước xuống bậc thang.

Mãi cho đến bây giờ, Fujimaru chỉ quan tâm mỗi phòng nghiên cứu nên không hề để ý tới chiếc cầu thang ngoài sảnh. Cầu thang đi lên mà anh vẫn thường sử dụng được lát ván gỗ trông cực kỳ sang trọng, thế nhưng chiếc cầu thang này từ bệ bậc cho đến vách tường đều chỉ phủ đúng một màu bê tông. Hơn nữa, không biết có phải do trên vách tường có cây đèn huỳnh quang nào bị hỏng hay không mà ánh sáng của nó khá nhợt nhạt. Mỗi lần bước xuống một bậc thang là anh lại thấy nhiệt độ như giảm thêm một nấc.

Cuối đoạn cầu thang mờ là một hành lang khá hẹp chạy dài thẳng tắp. Dọc theo hành lang có để mấy cái hộp vuông vức nom như bảng mạch điện hay là tủ mini dùng trong văn phòng, trên trần nhà thì ngoằn ngoèo bao nhiêu là đường ống.

Dãy hành lang này cũng rất âm u. Âm thanh ù ù như tiếng gầm dưới lòng đất vang vọng trong không gian nhỏ hẹp này. Fujimaru thi thoảng lại dừng bước để nhìn quanh. Xem ra cả vách tường lẫn trần nhà đều được đổ một lớp bê tông dày vô cùng kiên cố, đến nỗi có thể dùng như hầm tránh bom nguyên tử. Nó trông cũng khá cũ kỹ rồi. Khác với những công trình mang phong cách kiến trúc hiện đại, bên ngoài, tòa nhà B khu Tự nhiên thoạt nhìn nguy nga và tráng lệ, còn bên trong lại được xây dựng vô cùng vững chãi.

“Tòa nhà này có từ lúc nào ấy nhỉ?”

“Nó ra đời đã hơn tám mươi năm. Vì được thiết kế ngay sau trận động đất lớn ở Kanto nên nghe bảo tòa nhà đã được gia cố để có thể chống chọi với động đất và hỏa hoạn. Cách đây mấy năm có tin người ta sẽ bố trí thang máy cho tòa nhà B nhằm mục đích biến tòa nhà thành nơi tiện nghi cho người khuyết tật, nhưng vì vách tường quá kiên cố nên đội thi công đã phải rất vất vả mới có thể đục thủng một lỗ hổng trên đó.”

Còn có chuyện như thế á, Fujimaru nghĩ thầm. Dù nhìn bằng con mắt của kẻ nghiệp dư thì anh cũng hiểu rõ tòa nhà B này sẽ bền vững cùng năm tháng. Vì nó đã được xây cất đàng hoàng để có thể trơ gan cùng tuế nguyệt, được mài giũa bởi gió và tuyết, mãi mãi không già cỗi.

Lịch sử hơn tám mươi năm của tòa nhà B khu Tự nhiên này cũng chính là lịch sử của những người đã từng học tập và nghiên cứu tại đây. Fujimaru chợt cảm thấy choáng ngợp trước tháng năm trầm tích cùng bề dày học vấn của nó.

Thế nhưng, không thể phủ nhận rằng chính vì chồng chất quá nhiều thời gian và ký ức của con người mà gian tầng hầm của tòa nhà B mới có được một bầu không khí hết sức riêng biệt. Sự âm u nơi đây tạo cảm giác, dường như chỉ cần lên tiếng thì sẽ có thứ gì vồ ra vậy.

“Mà này... ở đây có lưu truyền câu chuyện kinh dị gì không đấy?”

Fujimaru dè dặt hỏi. Anh vội bám gót Motomura đi dọc theo hành lang.

“Với không gian này thì đúng là cũng không lạ khi thấy ma xuất hiện ha.”

Motomura bật cười khúc khích. “Nhưng mà, tôi chưa bao giờ nghe ai kể rằng đã thực-sự-nhìn-thấy-gì-đó ở tòa nhà B.”

Vậy hả? Mà dù sao thì ở đây ai cũng vùi đầu nghiên cứu, có vong hồn xuất hiện chắc cũng chả ma nào thèm để ý, Fujimaru tự diễn giải. Mấy cái bóng trắng mờ ảo hiện lên từ thinh không kể cũng tội nghiệp.

Sau khi đi được chừng mười mét thì Motomura mở một cánh cửa sắt nằm bên tay trái. Cánh cửa màu xám trông khá nặng nề, chắc là để phòng ngừa hỏa hoạn.

“Mời anh đổi sang dép lê ở đây. Vì nhất thiết không được mang bụi đất ở ngoài vào trong phòng.”

Ngay chỗ cửa mở có để sẵn một kệ giày. Cũng giống như phòng chờ bệnh viện, trên đó xếp mấy đôi giày của những người khác và dép lê. Fujimaru làm theo lời, tháo giày thể thao ra để mang dép vào. Motomura thì thay đôi hài cao su bằng một đôi dép lê có hình trái dâu trên kệ. Xem chừng đó là dép riêng của cô. Fujimaru yên tâm một chút khi thấy đôi dép có hình trang trí không quá kỳ khôi.

Gian tầng hầm sâu như mê cung hiện ra đằng sau tấm cửa sắt.

Dãy hành lang hẹp hơn ban nãy, những đường ống trườn bò trên trần nhà thì lại to hơn. Trần nhà có vài chỗ thấp hẳn xuống, Fujimaru phải cúi thấp người bước đi để tránh đụng đầu vào đường ống. Hai người vòng vèo qua biết bao khúc cua, thi thoảng lại bước xuống hai ba bậc thang. Mặt sàn bằng bê tông chỉ âm vang tiếng dép lê xoèn xoẹt của hai người.

Đôi lúc sẽ có vài cánh cửa sắt xuất hiện trên vách tường hai bên hành lang. Có cánh được gắn tấm biển đề “Phòng nồi hơi”, cũng có cánh được gắn bảng cảnh báo “Nguy hiểm! Không phận sự cấm vào”. Motomura lướt qua toàn bộ những căn phòng ấy, cuối cùng cô đến ngõ cụt của dãy hành lang hẹp.

Ở đó có một cánh cửa gỗ trông hệt như của mấy phòng tầng trên, với nắm đấm bằng đồng thau. Sau khi dạo qua gian tầng hầm vô vị toàn sắt và bê tông, Fujimaru cảm giác như mình đã tìm ra cửa hàng kẹo giữa rừng rậm sâu hun hút.

Motomura nâng cánh cửa lên rồi mới vặn nắm đấm.

“Đây là phòng kính hiển vi ạ.”

Đó là một căn phòng nhỏ nhạt nhẽo. Góc tường có để hai kệ tủ văn phòng mini màu xám cạnh nhau. Ngoài ra, bên trong còn đặt hai chiếc kính hiển vi khổng lồ chắc phải to gấp đôi cái trên phòng thí nghiệm. Bên cạnh hai chiếc kính đều được lắp đặt một chiếc máy tính để bàn.

“Để có thể chụp và lưu lại hình ảnh thì kính hiển vi phải được kết nối sẵn với máy tính ạ.”

Motomura đi thẳng vào trong phòng kính hiển vi mà không thèm bật đèn. Lý do cô ấy có thể làm như thế, là vì bên trong phòng kính hiển vi dường như còn có thêm một gian phòng phụ nữa, ánh đèn huỳnh quang từ đó rọi ra. Phòng kính hiển vi và gian phòng phụ không có cánh cửa nào ngăn cách, trên bức tường giữa hai gian chỉ có một lỗ hổng hình chữ nhật đứng.

“Đằng đó là gì vậy ạ?”

Fujimaru lên tiếng hỏi, mắt nhìn về phía lối vào gian phòng phụ.

“Đó là phòng giải phẫu. Do phòng giải phẫu trên tầng một không đủ để chứa hết các chamber nên chúng tôi cũng trồng cây Arabidopsis thaliana ở đây nữa.”

Nhắc mới nhớ, cô ấy cũng từng nhắc mình là dưới tầng hầm cũng có phòng giải phẫu, Fujimaru nhớ ra. Tưởng tượng ra cảnh các loại thực vật đang sinh sôi nảy nở dưới tầng hầm, nơi không có ánh sáng mặt trời chiếu tới, không hiểu sao anh lại cảm thấy chút ảo diệu. Anh trộm nghĩ, nếu mình mà là cây Arabidopsis thaliana thì nhất định sẽ muốn lớn lên bên vệ đường hơn là bên trong chamber dưới tầng hầm thế này.

Bị ống xả khói xe phả vào người, chịu cái nóng cái lạnh, bị sâu bọ gặm nhấm, tất cả những thứ đó tuy nghe có vẻ khổ cực, nhưng anh cũng muốn cảm nhận được làn gió quạt qua phiến lá của mình, muốn được tắm dưới ánh mặt trời, muốn được ngâm mình trong những trận mưa. Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng đó là quan điểm của một người được sinh ra trong hoàn cảnh mà tự do bay nhảy là lẽ hết sức đương nhiên, còn từ quan điểm của những hạt giống Arabidopsis thaliana cả đời chỉ biết đến cái chamber thì nơi đây có lẽ mới chính là thiên đường của chúng.

Bản thân Fujimaru cũng không thể ra ngoài vũ trụ hay thăm thú đại dương sâu thẳm. Cuộc sống của anh vẫn còn lay lắt kia kìa. Nếu nghĩ như thế thì tự do mà Fujimaru đang cảm nhận chẳng qua chỉ là “tự do của chim lồng cá chậu” mà thôi. Chính những cây Arabidopsis thaliana, tuy sinh trưởng bên trong các chamber, nhưng chỉ cần được điều chỉnh ánh sáng và lượng nước thích hợp, thì biết đâu lại đang thích ý hưởng thụ tự do.

Chắc hẳn Motomura cũng muốn xem thử phòng giải phẫu dưới tầng hầm, thế nên cô đã đi thẳng đến chiếc bàn có gắn kệ đặt bộ kính hiển vi. Ngay cả Fujimaru đang dợm bước đến cửa gian phòng phụ cũng ngoan ngoãn quay lại, đứng bên cạnh Motomura.

Motomura ngồi vào một chiếc ghế có bánh xe. Được mời, Fujimaru cũng đặt mình xuống một chiếc ghế khác.

Nhìn thoáng qua, anh để ý thấy toàn bộ các ngăn của cái bàn đều bị kéo hết ra ngoài. Nếu những ngăn kéo cất trữ tài liệu hay mấy thứ đại loại vậy không còn nữa thì người ngồi tại bàn sẽ có chỗ đặt chân ở khoảng trống dưới bàn. Lúc xoay qua xoay lại giữa kính hiển vi và màn hình máy tính đặt bên cạnh thì chỉ cần ngồi yên trên ghế cũng có thể thao tác dễ dàng.

Ra là vậy, quả là chu đáo. Ơ, nhưng mấy cái ngăn kéo bị lôi ra để đâu rồi nhỉ, Fujimaru nhìn quanh căn phòng. Trong căn phòng kính hiển vi âm u, mấy cái ngăn kéo rỗng không bị chất bừa bãi vào một góc. Anh lại cảm thấy mình có thêm điểm chung với mọi người, hóa ra những ai nghiên cứu thực vật đều không mấy hứng thú với trò trang trí nội thất.

Motomura chỉnh núm vặn của bệ đỡ, phiến kính đặt sẵn trên bàn ngay cạnh bàn tay cô lập tức sáng lên.

“Đây là một phiến lá khá non của cây Arabidopsis thaliana ạ.”

Fujimaru hơi cúi nửa người xuống, mặt ghé sát lại phiến kính. Anh nhìn rất rõ bên dưới lớp kính đậy là một vật hình tròn trong suốt có đường kính tầm hai milimet.

“Nó bé quá chừng.”

“Bởi vì tôi chỉ trích một phiến lá vừa nhú ra thôi. Sắc tố của nó đã bị rút đi hết rồi.”

Motomura chuẩn bị phiến kính lót cho chiếc kính hiển vi bên cạnh. “Mời anh.”

Fujimaru theo như lời mời, lạch cạch lăn ghế lại rồi nhòm vào ống kính hiển vi.

Tầm mắt anh ngập tràn những hạt li ti trong suốt nom như trứng cá hồi. Trước kia khi nhìn vào kính hiển vi trên phòng thí nghiệm tầng hai, anh cũng chỉ thấy đến thế này thôi. Lớp tế bào bên trong phiến lá. Những tế bào mà ngày ngày Motomura đều phải đếm đi đếm lại.

“Anh có thấy được không?”

Phiến lá đang nằm trên phiến kính lót nhỏ hơn rất nhiều so với phiến lá mà anh được xem trước đây. Nhưng các tế bào hình tròn vẫn xếp hàng chỉnh tề và dày đặc như trước, không có khác biệt gì. Fujimaru vừa thầm thán phục đám tế bào, vừa im lặng gật đầu trước câu hỏi của Motomura.

“Vậy thì tôi sẽ chuyển ánh sáng chiếu cho phiến kính từ màu trắng sang màu xanh lục nhé.”

Motomura khẽ vặn cái núm trên kính hiển vi. Bỗng chốc, thế giới phản chiếu trong mắt Fujimaru đổi khác hoàn toàn.

Thứ trải rộng mênh mông trước mắt anh chính là dải ngân hà. Giữa bóng tối dày đặc là vô số hạt sáng màu bạc đang lấp lánh.

Fujimaru không thốt nên lời, chỉ biết tha thiết ngắm thỏa thích bầu trời đầy sao phản chiếu bên trong kính hiển vi. Thực tế thì vì anh ghé mắt quá sát với thấu kính phóng đại nên phần màu xanh lục của biểu bì xanh đến nhức mắt.

Rốt cục, khi có thể ngẩng mặt khỏi kính hiển vi, Fujimaru mới dùng một tay dụi mắt, tay còn lại thì chỉ vào kính hiển vi, nói:

“Tại sao... Tại sao tôi lại thấy được sao trời? Cái kính hiển vi này cũng có thể dùng làm kính thiên văn à?”

Motomura im lặng lắc đầu.

“Thứ mà anh Fujimaru thấy nãy giờ vẫn chỉ là phiến lá Arabidopsis thaliana thôi. Các tế bào khi đang tái tạo chuỗi ADN sẽ phát sáng như những vì sao vậy?”

“Mấy hạt sáng lấp la lấp lánh đó là... tế bào hả...?”

Fujimaru trở nên hoang mang. “Tại sao tế bào lại có thể phát sáng?”

“Bởi các sắc tố tán xạ được dán vào một chất giống với bazơ, sau đó thì bị tế bào hấp thụ. Vì phiến lá này hãy còn non nên chúng đang tích cực tái tạo ADN của mình, khiến cho các nhân bên trong tế bào phát sáng khắp nơi như vậy.”

“Tái tạo ADN... rồi thì sao?”

“Nếu tôi để nguyên, không trích phiến lá này ra thì nhân tế bào sẽ tự phân chia và số tế bào sẽ được tăng lên.”

“Ờ...”

Tuy không hiểu quy trình phức tạp kia cho lắm, nhưng anh vẫn có thể tiếp thu: Nhằm dễ dàng quan sát tình trạng của tế bào hơn, phiến lá này đã được chuẩn bị sẵn để có thể phát sáng khi đang tái tạo ADN. Anh cũng ngộ ra rằng, vô số vì tinh tú đang lấp lánh kia vốn là bia mộ của các tế bào luôn luôn ngoan cường tìm cách lớn lên, cho tới tận lúc Motomura trích chúng đi mới thôi.

Fujimaru một lần nữa nhòm vào kính hiển vi. Đám tế bào chết đang phát sáng như thể cố chứng minh cho sinh mệnh đã từng của chúng. Dải ngân hà tuyệt đẹp tồn tại bên trong một phiến lá tí hon.

“Anh Fujimaru này.”

Nghe thấy tiếng gọi, Fujimaru quay sang phía Motomura. Motomura cũng đang nhìn thẳng vào Fujimaru.

“Tôi không thể đáp lại tình cảm của anh Fujimaru được.”

Biết ngay mà. Anh ít nhiều có linh tính trước rồi. Từ khoảnh khắc nhìn thấy dải ngân hà này. À không, có lẽ ngay từ lúc chuông điện thoại reo lên vào sáng nay kia.

Thế giới mà Fujimaru tuyệt đối không thể chạm vào đang ở bên trong Motomura.

Dù vậy, Fujimaru vẫn kiên trì đến cùng. Tuy nghĩ bản thân rõ là dở hơi, nhưng anh phải hỏi cho bằng được. Bởi đây là người anh thương. Bởi đây là người anh hi vọng sẽ thương mình.

“Kể cả việc chờ em cũng không được?”

Bờ môi của Motomura khẽ run rẩy. Nhìn cô như đang gắng để khỏi phải bật khóc vậy.

“... Vâng ạ.”

Motomura đáp, ánh mắt cô lảng tránh anh. “Nhưng không phải vì anh là anh Fujimaru nên tôi mới từ chối.”

Phòng kính hiển vi rơi vào thinh lặng. Từ gian phòng phụ phát ra âm thanh lục bục trầm đục, nghe như tiếng nước rỉ ra khỏi chamber. Ngay trong giây phút xấu hổ thế này thì những tế bào của cây Arabidopsis thaliana vẫn đang tái tạo thật nhiều ADN.

Ừm... Fujimaru suy nghĩ, “Không phải vì anh là Fujimaru nên em mới từ chối” có nghĩa là sao? Anh dốc hết chất xám trong não ra, cất giọng hỏi:

“Em đang hẹn hò với ai đó?”

“Không phải ạ.”

Để rồi bị phủ nhận ngay lập tức.

“Vậy thì...”

Sự hoang mang của Fujimaru càng ngày càng lộ rõ. “Nếu thế em không cần phải nương tay đâu. Cứ nói thẳng ‘Em hoàn toàn không thích anh nên sẽ không quen với anh’ còn hơn...”

Bởi vì hiện giờ trái tim đang nhói đau nên anh hi vọng được đối xử dịu dàng, nhưng sớm chết sớm siêu sinh mới là sự cứu rỗi đích thực.

“Thật ra tôi vốn dĩ không muốn nói, nhưng đây là suy nghĩ thực sự của tôi.”

Thấy Motomura thẳng lưng, Fujimaru cũng căng thẳng theo.

“Ừ.”

“Tôi... sẽ không bao giờ quen ai cả.”

Fujimaru thảng thốt trong một lúc rồi ngay giây sau buột miệng hét toáng lên:

“Cái gì?!”

“À, xin lỗi em, tôi lỡ to tiếng quá. Sẽ không quen ai... nghĩa là sao?”

Là do bị tín ngưỡng trói buộc hay vì vấn đề sức khỏe? Ngay cả như vậy, cũng có lúc phải lòng ai đó mà không lường trước chứ. Dù quyết tâm “không quen ai” mạnh mẽ cỡ nào thì liệu ý chí không thôi có đủ sức ngăn cản được tình yêu?

Với bao hoài nghi âm thầm khuấy đảo trong tâm trí, Fujimaru lại chất vấn:

“Không phải tôi muốn em chọn tôi, dĩ nhiên nếu được em lựa chọn thì tôi sẽ rất hạnh phúc, nhưng ta hãy tạm bỏ chuyện đó sang một bên. Sao em có thể quả quyết ‘Em sẽ không quen ai’ như vậy? Lỡ như sau này em được một anh chàng vừa cực kỳ đẹp trai vừa tốt tính lại còn giàu đến mức tiền xài không hết tỏ tình thì sao?”

“Anh đã nhìn thấy những vì sao lấp lánh kia rồi đúng không?”

Motomura chỉ tay về phía kính hiển vi.

“Ừ.”

“Bên trong cơ thể của mỗi người chúng ta đều có những tế bào đang hoạt động y như vậy. Thế thì tại sao tôi lại chọn đối tượng nghiên cứu là thực vật chứ không phải là người hay động vật?”

Đôi mắt của Motomura lại một lần nữa nhìn thẳng về phía Fujimaru. Dường như anh bị đôi mắt đen láy ấy hút hồn. Fujimaru như muốn ngừng thở, anh cẩn thận lắng tai nghe điều mà Motomura sắp nói.

“Thực vật không có bộ não, cũng không có hệ thần kinh. Nói cách khác, chúng không có suy nghĩ cũng như tình cảm. Không hề mang trong mình khái niệm mà loài người gọi là ‘tình yêu’, thế nhưng chúng vẫn sinh sôi nảy nở, mang nhiều hình thù sắc thái, thích ứng với những môi trường khác nhau để sống sót trên địa cầu. Anh không cảm thấy điều đó rất thần kỳ sao?”

Motomura giảng giải với giọng điệu thản nhiên, nhưng Fujimaru thì lại đang đắm chìm trong suy nghĩ, chẳng phải chính loài người mới là sinh vật kỳ bí hơn cả cây cối ư. Chẳng phải chính loài người mới là sinh vật ma quái và kỳ diệu khi không thể sinh sôi nảy nở nếu thiếu đi thứ tình cảm mơ hồ gọi là “yêu” kia à?

“Vậy nên tôi mới chọn thực vật. Tôi quyết định sẽ dành toàn bộ tâm huyết cho việc nghiên cứu những loại thực vật sống trong thế giới thiếu vắng tình yêu kia. Vậy nên tôi không thể hẹn hò với ai cả, tuyệt đối không.”

À à. Fujimaru thở hắt một hơi rõ to. Hóa ra Motomura bị cuốn vào vòng xoáy của dải ngân hà gọi là “thực vật”. Đấy, cứ nhìn vào mắt Motomura là biết. Hình ảnh phản chiếu bên trong là các tế bào của phiến lá đang tỏa ra ánh sáng màu xanh lục. Giữa màn đen nhạt nhòa như vũ trụ kia, chỉ cần nhìn thật kỹ thì sẽ phát hiện ra nguồn sáng lấp lánh. Nguồn năng lượng đang phân chia và tăng trưởng. Dù không có tình yêu hay tình thương thì chúng vẫn sôi sục, vĩnh viễn đua nhau chạy, đến chết mới thôi.

“Tôi đã hiểu rồi.”

Fujimaru đứng dậy. “Tôi sẽ không nói thêm bất cứ lời nào khiến Motomura khó xử nữa.”

Lời cảnh báo của sư phụ quả là xác đáng. Tỏ tình với Motomura chỉ tổ gây phiền nhiễu, mình không được phép cản trở công việc nghiên cứu của em ấy.

Fujimaru lẹp xẹp đi đến chỗ cửa phòng kính hiển vi rồi đẩy nó ra.

“À này, anh Fujimaru...”

Motomura dường như băn khoăn không biết có nên xin lỗi anh hay không. Fujimaru nặn ra một nụ cười thành thật rồi ngoái đầu nhìn vào phòng.

“Mà này, lần sau tôi lại tới có được không? Với tư cách nhân viên của Viên Phục Đình, một người hứng thú với việc nghiên cứu thực vật và muốn tham quan phòng giải phẫu và nhà kính nhân dịp đi giao hàng?”

“Được chứ ạ, đó là đương nhiên.”

“Cảm ơn cô nhiều nhé.”

“Để tôi tiễn anh ra ngoài sảnh lớn.”

Thấy Motomura nhổm dậy khỏi chiếc ghế, Fujimaru liền cản cô lại, “Thôi khỏi, thôi khỏi.”

“Tôi đi một mình được rồi. Vậy chào nhé.”

Rời phòng kính hiển vi, anh đóng cánh cửa gỗ sau lưng lại. Vì sợ Motomura sẽ đuổi theo nên anh bắt đầu rảo bước thật nhanh trên dãy hành lang hẹp. Nhưng chỉ sau ba bước chân vội vàng thì trán anh đã cụng phải đường ống lắp trên trần nhà thấp tè.

“Đau!”

Vừa xoa trán vừa chịu đựng cơn đau, Fujimaru bước đi trên con đường như mê cung. Anh đi nhầm lối không biết bao nhiêu lần, nỗi tuyệt vọng khi tưởng tượng ra mình sẽ thành mồi ngon cho con xác ướp bí ẩn nào đó dưới tầng hầm tòa nhà B khu Tự nhiên dần dâng lên trong anh. Đôi mắt lệ nhòa cũng là một phần nguyên nhân khiến anh thành trẻ lạc. Fujimaru ráng tự nhủ, mình khóc là vì cục u đau điếng trên trán và vì nỗi sợ không tìm được lối ra thôi.

Cuối cùng thì anh cũng đến được nơi có chiếc cửa sắt dày nặng. Fujimaru cởi dép ra và thay giày vào. Anh dằn lòng không ngó đến đôi hài cao su của Motomura.

Anh đi một mạch trên con đường thẳng tắp rồi leo lên cầu thang dẫn ra tiền sảnh.

Lúc vẫn còn ở dưới tầng hầm, anh cảm giác như thời gian đã trôi qua rất lâu, thế nhưng khi bước ra khỏi tòa nhà B khu Tự nhiên thì bầu trời chiều kia vẫn mang màu da trời như cũ. Giống hệt màu của chiếc áo thun mà Motomura mặc.

Dù đang tự dối mình thì Fujimaru cũng không dám chớp mắt vì sợ nước mắt sẽ tuôn trào, anh đi giữa khuôn viên Đại học T. Bước chân lơ đễnh như đang đi trên mây vì giờ này anh cũng chẳng còn tâm trạng nào.

Vì đã đoán trước nên anh mới tránh dùng xe đạp. Bên trong khuôn viên trường tấp nập kẻ qua người lại, nếu đạp xe với cặp mắt đục ngầu mờ nước thì nguy lắm.

Lúc ra tới Xích Môn, Fujimaru mới kêu thầm trong đầu. Trời ạ. Mình... thất tình mất rồi. Anh chỉ muốn gào lên thật to như thế. Chỉ muốn tìm cái hố trên mặt đường nhựa hay đâu đó để lẳng lặng chui xuống. Bị thúc giục bởi cảm xúc ấy, lúc đèn giao thông báo hiệu qua đường vừa chuyển xanh, anh liền bộc phát chạy hết tốc lực.

Anh cứ hùng hùng hổ hổ như thế mà mở khóa cửa Viên Phục Đình, tự tiện lấy bịch sữa tươi từ trong tủ lạnh nhà bếp ra rồi trực tiếp tu lấy tu để mà không thèm rót ra cốc cho đàng hoàng. Tại sao chỉ những ngày thế này tiệm lại cho nghỉ chứ? Anh đang muốn bị Tsuburaya cùng mấy ông bà khách quen trêu chọc và đâm vài phát kết liễu như “Lêu lêu Bị-Phũ-Maru”...

Nốc một hơi cạn sạch nửa bịch sữa còn dư, Fujimaru mới cảm thấy bình tĩnh lại. Anh lê lết đến phòng riêng của mình trên tầng rồi ngã uỵch vào tấm đệm vẫn còn chưa gấp.

Đành chịu thôi. Bị người mình thích từ chối là chuyện thường ngày ở huyện mà. Trước giờ đã có biết bao lần rồi, về sau sẽ còn nhiều hơn nữa. Dù là thế thì mình cũng không buồn đâu, nhất định mình sẽ lại yêu một người khác không phải Motomura. Ừ, đến chừng ấy biết đâu người ta cũng có ý với mình, rồi về sau bọn mình sẽ cưới nhau, sinh con đẻ cái. Đối tượng khác nhau nên tâm trạng cũng hoàn toàn khác với những mối tình trước, nhưng sự háo hức thì lần nào lần nấy đều sôi sục. Đó... chính là bản chất của tình yêu.

Nhưng dù sao thì bây giờ anh vẫn buồn ghê gớm. Giờ mà đi giao đồ ăn cho phòng nghiên cứu Matsuda thì anh phải buộc mình vờ như chả nghĩ gì đến chuyện đó. Nhưng làm sao anh có thể xóa sạch tình cảm trìu mến dành cho cô? Nghĩ đến lại thấy đắng lòng. Cơn đau nhức nhối hành hạ khắp tim phổi, ruột gan.

Fujimaru ôm lấy gối đầu, cuộn tròn người lại rồi nhắm mắt.

Mà thôi, mình thì sao cũng được. Bản thân anh cũng tự biết là một ngày nào đó anh sẽ lại phải lòng ai đó. Chỉ cần chịu đựng cho đến khi cơn đau này dịu bớt là được.

Nhưng Motomura tính sao đây? Em ấy sẽ mãi mãi một mình, chỉ biết nhòm kính hiển vi để đếm đi đếm lại các tế bào của cây Arabidopsis thaliana ư? Chẳng hiểu sao khi nghĩ đến viễn cảnh ấy, anh lại thấy nó có chút cô đơn.

Thật ra thì kinh nghiệm “Bị-Phũ-Maru” đó giờ anh vẫn có, mà chỉ toàn bị người ta từ chối với mấy lý do như “Em đã có bạn trai rồi” hoặc là “Mình chỉ xem Fujimaru là một người bạn”. Đây là lần đầu tiên anh bị phũ với lý do “Vì tôi muốn dành cả đời để nghiên cứu một thế giới không có tình yêu”. Điều này không khỏi khiến Fujimaru bồi hồi, “Đúng là rất có phong cách của Motomura, không biết nên nói em ấy là người quá tân thời hay là quá khác lạ nữa.” Dù kể cho bạn bè “Tao bị người ta từ chối như vậy đó mày ơi” thì chắc cũng chả ai hiểu hoặc thông cảm, chỉ mình Fujimaru mới thấu sự vật vã của nó.

Nhưng đó cũng chính là điểm khiến mình phải lòng Motomura, Fujimaru thầm nghĩ. Bản thân Motomura cũng mang trong mình đầy rẫy những câu đố Fujimaru không tài nào giải nổi, bao gồm việc nghiên cứu thực vật mà cô muốn cống hiến trọn đời. Rốt cục thì đám thực vật ấy có cái gì để Motomura phải mê mẩn đến vậy, anh càng ngày càng tò mò.

Anh không hề có ý đeo bám dây dưa khiến Motomura phải khó xử, cũng chỉ muốn nhanh chóng chôn lấp mảnh lòng không được hồi đáp này, vậy nên chắc từ nay về sau, chuyện giao đồ ăn đến phòng nghiên cứu Matsuda phải kiếm cớ từ chối khéo thôi. Thế nhưng suy nghĩ “muốn được biết” cứ lượn lờ trong tâm trí anh.

Thôi thì đã mang danh việc công, cứ đường đường chính chính mà tới tòa nhà B khu Tự nhiên đi. Mình sẽ âm thầm quan sát nhóm Motomura như lúc Motomura quan sát các tế bào Arabidopsis thaliana qua kính hiển vi vậy.

Fujimaru hạ quyết tâm. Tại sao nhóm Motomura lại đam mê với việc nghiên cứu thực vật? Nếu mãi không hiểu rõ điều đó thì dù mình có chôn kỹ mảnh tình này trong lòng, cũng sẽ có ngày nó vồ dậy thành xác sống thôi.

Đằng sau mí mắt anh lại hiện lên những vì tinh tú ánh bạc. Chúng phát sáng giữa màn đêm. Đẹp không tả xiết. Vẻ đẹp và nỗi cô đơn sao lại giống nhau đến thế?

Fujimaru vẫn ngắm dải ngân hà ấy với một đôi mắt nhắm nghiền.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.