Một Thế Giới Thiếu Vắng Tình Yêu - Chương 02
Motomura Sae ngẩn ra chừng năm giây.
Cô không biết mình nên đuổi theo Fujimaru Yota, người vừa rời khỏi phòng kính hiển vi, hay nên để mặc anh như thế.
Anh ấy đã mất công chân thành thổ lộ nỗi lòng, vậy mà không được chấp nhận, hẳn là cứ để mặc anh ấy thì hơn. Thường thức ở mức này thì chắc ngay cả Fujimaru cũng biết.
Chỉ có điều... phòng kính hiển vi nằm dưới tầng hầm của tòa nhà B khu Tự nhiên thuộc Đại học T. Đường đi vừa âm u vừa nhỏ hẹp lại còn đan xen chằng chịt. Cửa sắt thì đều giống nhau và được xây lắp không theo quy tắc nào. Đây chính là một cái mê cung. Ban đầu, ngay cả Motomura cũng đi lạc bao lần. Đến nỗi, thi thoảng sẽ có vài học viên cao học của phòng nghiên cứu nào đó đi ngang qua phải nức nở nhờ người dẫn đến phòng kính hiển vi cơ mà.
Cô cảm thấy lo cho Fujimaru, người hôm nay lần đầu tiên đặt chân vào chốn mê cung này, không biết anh có thể mò đến cửa ra vào hay không.
Quả nhiên là vẫn nên đuổi theo để dắt anh ấy ra sảnh lớn.
Motomura đứng dậy khỏi chiếc ghế văn phòng. Đúng lúc đó thì một giọng nói chợt vang lên.
“Thấy – hết – rồi – nhaaa!”
Cô giật mình quay người lại thì thấy chị Iwama, tiến sĩ nghiên cứu sinh của phòng nghiên cứu Matsuda đang đứng ở lối vào của gian phòng phụ.
“Mà nên nói là chị đã nghe thấy hết rồi mới phải.”
Iwama vừa cười vừa rảo bước sang phòng kính hiển vi mà Motomura đang đứng. “Khi nào muốn trả lời lời tỏ tình của người ta thì nên kiểm tra trước xem bên trong có ai không đã nhé.”
Đối với Motomura mà nói, Iwama là bậc đàn chị mà cô rất mực tin tưởng ở phòng nghiên cứu. Iwama có dáng người dong dỏng cao, tóc cắt ngắn, tính tình thì vừa quảng giao lại vừa chu đáo. Quan hệ giữa hai người là mối quan hệ thâm giao dựa trên việc trao đổi thông tin và thảo luận cùng nhau, vì chị cũng giống như Motomura, đều thí nghiệm trên cây Arabidopsis thaliana.
Tiện thể nói luôn, vì chuyên môn của Iwama là nghiên cứu khí khổng nên Motomura cũng tặng cho chị một chiếc áo thun đặc chế in hình khí khổng. Tuy rằng chị ấy thích nó vô cùng nhưng hình như vì quá ngại mặc ra ngoài đường nên chỉ dám lấy làm đồ ngủ mặc nhà thôi. Motomura vẫn luôn cho rằng chị ấy sẽ hợp với chiếc áo vô cùng, giá chị chịu mặc đến trường thì sẽ đẹp biết mấy.
“Ơ... Ơ...?!”
Trước sự xuất hiện đường đột của Iwama, Motomura trở nên kích động rõ rệt. “Có lẽ nào... Chị Iwama từ nãy đến giờ vẫn luôn ở trong phòng giải phẫu ạ?”
“Đúng rồi.”
Iwama thở dài ngao ngán. “Thì, dù chị bây có muốn lặng lẽ cáo lui, cũng đâu còn đường nào khác ngoại trừ xông qua phòng kính hiển vi. Đúng lúc chị bây đang cảm thấy khó xử thì cuộc nói chuyện của hai đứa lại trở nên riêng tư như vậy. Thế là đành chịu, chị phải vừa nín thở như đám cây Arabidopsis thaliana vừa cầu cho hai đứa đừng vào phòng giải phẫu đấy.”
“Em xin lỗi ạ.”
“Cơ mà, đó chẳng phải cậu nhân viên ở Viên Phục Đình sao? Chị cứ nghĩ bây sẽ thích nó lắm chứ, dè đâu từ chối rồi hả?”
“... Dạ vâng ạ.”
Thấy Motomura gật đầu, Iwama lại lẳng lặng buông một tiếng thở dài khe khẽ.
“Khờ quá. Motomura vốn là một đứa sáng dạ mà sao thi thoảng em tôi lại khờ thế không biết.”
Nhưng mà như vậy mới đáng yêu, Iwama bật cười, sau đó chị chỉ bảo Motomura cùng trở lên trên với mình, cứ như cuộc trò chuyện giữa Motomura và Fujimaru hoàn toàn không tồn tại.
Tỉ lệ nữ giới chọn vào chuyên ngành Sinh vật học tại ban Khoa học Tự nhiên vốn dĩ khá cao ở Đại học T. Tuy vậy, số lượng nam giới đang học cử nhân hay cao học những ban ngành Tự nhiên vẫn chiếm phần nhiều. Chỉ cần bước vào lĩnh vực nghiên cứu rồi thì giới tính hoàn toàn không thành vấn đề hay rào cản, nhưng Motomura vẫn cảm thấy đặc biệt vững tâm hơn khi tìm được một nữ đồng nghiệp hợp ý với mình ở phòng nghiên cứu vào những lúc thế này.
Cô theo chị Iwama rời khỏi phòng kính hiển vi.
Motomura vô thức đưa mắt nhìn ngó khắp nơi để xem xem Fujimaru có đang ngất xỉu ở đâu đó bên trong dãy hành lang ngầm này không. May thay, cô không bắt gặp bóng dáng anh đâu cả. Đôi giày của anh biến mất khỏi kệ nên Motomura muốn nghĩ rằng anh đã bình an rời khỏi tầng hầm hơn.
Lên tới phòng nghiên cứu ở tầng hai, hai người liền thấy Matsuda Kenzaburo đang bước đi trên hành lang. Rốt cục là thầy ấy có bao nhiêu bộ âu phục màu đen nhỉ, hôm nay Motomura vẫn thắc mắc về điều đó. Iwama kêu lên, “A, chào thầy”, rồi chạy bước nhỏ lại gần Matsuda.
“Mấy cái chamber dưới tầng hầm quả nhiên lại hỏng hóc nữa thì phải. Đấy, là cái đầu tiên trong phòng luôn.”
“Vậy hả? Dù gì thì nó cũng đã lâu đời lắm rồi. Đi nói với chị Nakaoka để kêu thợ tới xem giùm đi.”
Lách khỏi hai người Iwama và Matsuda đang bắt đầu đứng buôn chuyện, Motomura bước vào phòng nghiên cứu.
Chiếc bàn được phân làm chỗ của Motomura có vị trí gần cửa ra vào nhất. Cô ngồi vào ghế, khẽ chạm bàn phím laptop để bật màn hình. Hình nền của cô là ảnh chụp tế bào của cây Arabidopsis thaliana bằng kính hiển vi. Những hạt hình tròn được xếp cạnh nhau thật chỉnh tề. Cây Arabidopsis thaliana thì dường như đến từng tế bào cũng thật đáng yêu. Mỗi lần bật laptop cô lại đắm đuối ngắm hình nền một lúc.
Tâm trí cô chợt hiện lên khuôn mặt của Fujimaru khi anh hỏi, “Tại sao ở đây lại có bầu trời đầy sao?” Kính hiển vi cũng có thể dùng làm kính viễn vọng ư? Giá mà có thứ kính đa năng như vậy thật nhỉ? Motomura mỉm cười.
Nhưng trên thực tế, làm sao có thể lưỡng toàn? Nếu muốn một thứ kính có chức năng nhìn xa thì phải từ bỏ công năng quan sát tế bào, còn nếu muốn một thứ kính có thể quan sát tế bào thì buộc phải từ bỏ vai trò quan khán tinh tú của nó.
Nụ cười của cô chợt tắt ngúm. Motomura đăng nhập vào kho dữ liệu bài luận văn của mình trên laptop. Ánh mắt thoáng lướt qua dòng chữ tiếng Anh hiển thị trên màn hình, cô bắt đầu đọc lấy thông tin mới nhất liên quan đến bộ môn Thực vật học.
Fujimaru bị quên lãng ngay tức khắc.
***
Motomura vốn không học cử nhân ở Đại học T mà ở một phân nhánh trường đại học tư thuộc tỉnh Shinagawa. Cơ sở ấy vốn khá to, nó chứa toàn bộ các khoa Tự nhiên và một phần khoa Xã hội, Motomura trực thuộc phòng nghiên cứu khuẩn E. coli tại đó. Từ hồi còn là sinh viên, cô đã rất thích việc quan sát những thứ nhấp nháy qua kính hiển vi rồi.
Giống như Arabidopsis thaliana, khuẩn E. coli cũng được xem như một sinh vật trọng yếu trong giới sinh học phân tử với tư cách là một “sinh vật mẫu”. Vòng đời của chúng từ lúc được sinh ra cho đến khi chết đi rất ngắn nên giúp người ta dễ theo dõi liên tục những hình thức biến chuyển xen kẽ của chúng.
Thêm vào đó, khác với Arabidopsis thaliana, khuẩn E. coli là thể đơn bào nên chỉ cần cấy chúng lên thạch agar là có thể tự động tăng sinh bằng cách sinh sản vô tính. Thi thoảng chính Motomura cũng phải bất ngờ trước sức sống dồi dào ngoài dự đoán của nó những khi phải tạo ra từng đốm những ổ khuẩn E. coli đầy trên đĩa petri.
Sinh vật đơn bào dù gì cũng chỉ là những tế bào. Kiểu hình tái tạo chuỗi ADN của chúng có nhiều điểm chung với cơ chế ở những sinh vật đa bào, đơn cử là con người. Hay nói cách khác, thông qua việc nghiên cứu khuẩn E. coli, chúng ta có thể hiểu rõ cách mà mọi sinh vật đang hoạt động. Motomura, vì quá yêu thích và chờ mong những tháng ngày quan sát khuẩn E. coli, đã quyết định học lên cao học với mục đích được nghiên cứu sâu hơn về chúng.
Cùng lúc đó, cô cũng từng bối rối không biết có nên tiếp tục lấy khuẩn E. coli làm đối tượng nghiên cứu hay không.
Từ ngày còn bé, Motomura đã rất thích các loại thực vật. Chó, mèo hay thỏ ừ thì cũng đáng yêu đấy, nhưng chúng cứ chạy loăng quăng mãi. Đối với một đứa trẻ hay thẫn thờ như Motomura mà nói thì chuyển động của chúng quá chóng mặt. Dù có ẵm chúng trong tay thì ngay lập tức chúng sẽ nhảy phóc khỏi người mình mà lẩn đi đâu đó, khôn ranh đến nỗi một đứa trẻ lười vận động như Motomura có đuổi theo cũng không bắt kịp.
Về điểm đó thì thực vật sẽ khiến cô yên tâm hơn. Cỏ, hoa và cây sẽ chẳng chạy trốn đi đâu cả. Cô có thể ngắm nhìn chúng, ngửi mùi của chúng và chạm vào chúng thỏa thích. Chúng sẽ luôn an ổn lớn lên bên cạnh cô bé Motomura thích thần người.
Từ hồi tiểu học, Motomura đã trồng không biết bao nhiêu chậu cây tại bậu cửa sổ phòng riêng của mình. Tiếc thay, Motomura không có khiếu lý giải bọn cỏ cây cho lắm, cô sẽ thường tưới nước quá nhiều hoặc là tính nhầm thời điểm chiết cành vun cây mới nên tất cả đều bị héo sạch, thôi thì đó cũng là cách thức rất riêng mà Motomura nỗ lực chăm sóc các bạn thực vật bằng toàn bộ tình yêu của mình.
Khi nhìn những bông hoa trổ nụ và đám cành lá sum suê, Motomura luôn cảm thấy mình cũng đang trưởng thành với tốc độ như vậy. Thay vì viết nhật ký thì bài tập hằng ngày của cô lại là trò chuyện cùng hàng dài các chậu cây của mình trước khi vào giấc ngủ.
Chính vì lẽ đó nên cô mới yêu quý các loài thực vật, nhưng lại chẳng hứng thú mấy với khuẩn E. coli. Dĩ nhiên là cô vẫn có suy nghĩ, “A, bọn mày đang sinh trưởng kìa. Cố lên nhé” mỗi khi nhìn ổ khuẩn E. coli tăng dân số lục bục trên lớp thạch agar. Nhưng đôi lúc cô cảm thấy trở tay không kịp khi bọn khuẩn E. coli sinh sôi quá nhiều, chỉ còn cách đem chúng đi tiêu hủy thôi.
A! Mấy người đang làm gì vậy! Mau dừng lại đi! Đó là tiếng kêu thảm thiết của vô số con khuẩn E. coli đang bị tàn sát. Thế nhưng đâu đó bên trong Motomura, cô vẫn cho rằng chúng chẳng qua chỉ là những con khuẩn E. coli mà thôi. Cô rất sợ bản thân mình mỗi khi xuất hiện suy nghĩ như thế.
Nếu không tìm ra một đối tượng nghiên cứu mình có thể thực sự yêu thương, có khi nào mình sẽ trở thành một nhà khoa học điên chẳng làm được gì cho đời hay không? Nói thì nói thế chứ cô cũng không thể giải phẫu trên động vật thí nghiệm như chuột bạch hay chuột lang được. Không chỉ vì chúng lanh lợi mà còn bởi bộ lông dày ấm áp quá sức đáng yêu của chúng nữa.
Quả nhiên thực vật vẫn là tốt nhất. Không chỉ đáng yêu mà còn không mọc lông. À không, nói một cách chính xác thì cũng có vài loại thực vật mọc lông trên những phiến lá mảnh, nhưng nó hoàn toàn khác với lớp lông bông xù của bọn thỏ con hay thú nhồi bông. Nếu là thực vật thì cô sẽ ổn thôi.
Giờ nghĩ lại thì hồi đó cô nghĩ quá lên thật. Làm gì đến mức trở thành nhà khoa học điên. Mọi nhà nghiên cứu đều đối xử với những sinh vật mình đang dùng để thí nghiệm và quan sát bằng tất cả sự kiên nhẫn, bình tĩnh và tôn trọng cơ mà. Dù đối tượng nghiên cứu là khuẩn E. coli, chuột bạch, chuột lang hay thực vật thì cũng như nhau thôi. Để hiểu rõ hơn các bí ẩn của một sinh mệnh mà buộc lòng phải tước đoạt sinh mệnh đó, hành vi này không thể được tiến hành mà thiếu sự nhận thức. Chính vì nhận thức được gánh nặng ấy, các nhà nghiên cứu mới có thể hướng về công cuộc nghiên cứu của mình với thái độ nghiêm trang.
Hồi Motomura lên năm tư đại học, thay vì khuẩn E. coli, mong muốn nghiên cứu về sinh mệnh thông qua các loại thực vật, thứ mà cô luôn yêu thích nhiều năm trời, trở nên vô cùng mãnh liệt. Nhờ khuẩn E. coli cô mới khám phá ra sự sâu thẳm và thú vui của việc nghiên cứu. Cảm ơn nhiều nhé, E. coli!
Lúc bấy giờ, Motomura vẫn đang sống cùng với bố mẹ tại nhà của ông bà ở vùng Kashiwa, tỉnh Chiba. Mỗi lần đến trường đều mất những hai tiếng đồng hồ khiến cô vô cùng vất vả, nhưng cô vẫn thuận lợi leo tới tận năm cuối đại học. Nhưng vào thời điểm đó, bố mẹ cô đã hết sức khó xử khi nghe con gái nói muốn học lên cao học. Hai người thi thoảng vẫn nghe phong thanh lời đồn là lên cao học ngược lại càng khó kiếm việc làm. Mẹ cô còn bỏ nhỏ với cô rằng, “Đâu cần ráng học hành nghiêm túc đến mức đó...”
“Thì đấy, lên cao học tức là sẽ trở thành nhà nghiên cứu phải không? Tới chừng đó con tính thế nào về chuyện kết hôn?”
Kết hôn. Motomura chẳng có chút khái niệm nào về chuyện kết hôn, đến nỗi cô không thể ngay lập tức chuyển nghĩa từ đó trong đầu. Cô không hiểu mẹ cô đang lo âu chuyện gì.
Học lên cao học không đồng nghĩa với việc chắc chắn sẽ thành đạt dưới tư cách một nhà nghiên cứu. Chỉ có một bộ phận số ít người lưu lại trường và trở thành giáo sư. Thay vì chọn một con đường đầy chông gai và chẳng có gì bảo đảm như thế, sao con không tốt nghiệp ngành học của mình, kiếm việc làm, kết hôn ở thời điểm thích hợp rồi yên bề gia thất, hay nói cách khác là đi trên con đường “an toàn” hơn? Xuất phát từ nỗi lòng của người làm cha mẹ, hẳn là bà đã muốn nói những lời như thế.
Kết hôn thì sao cũng được, nhưng Motomura có sự hoang mang và nôn nóng của riêng mình. Ở đại học tư mà cô học, các khoa khá gần gũi nên dù là khoa Tự nhiên hay khoa Xã hội, sinh viên có rất nhiều cơ hội giao lưu với nhau. Bạn bè bên khoa Xã hội của Motomura hầu như một trăm phần trăm đều toàn tâm toàn ý với các hoạt động tìm việc. Nhóm bạn cùng lớp bên khoa Tự nhiên thì đa phần cũng đi tìm kiếm một công ty thay vì có ý định học lên cao.
Mình không thể cứ phụ thuộc vào bố mẹ như thế mãi. Quả nhiên vẫn nên đi kiếm việc thì hơn. Dù là lên cao học hay đi tìm việc thì cô cũng chưa có chuẩn bị gì cả, thế là Motomura bỗng cảm thấy bản thân quá thất bại vì đã tụt hậu so với mọi người.
Motomura rất siêng đi đến các khoa ngành có tổ chức hoạt động chào đón tân sinh viên. Bên trong khu vực được quy hoạch nhân tạo có một cây du cổ thụ sừng sững bắt mắt đang chuẩn bị trổ hoa đầu cành. Chỉ cần ít lâu nữa thôi thì màu xanh tươi mới nhẹ nhàng của lớp chồi sẽ trổ đầy tán lá.
Những nhánh cây thon gầy chằng chịt vươn ra của cây du khiến cô cảm giác như bầu trời đang xuất hiện những vết nứt. Khoảnh khắc nhìn thấy cảnh tượng ấy, thẳm sâu bên trong con tim của Motomura có gì đó đang reo lên.
Tại sao cây du lại có những nhánh cây hình dạng như thế? Tại sao mỗi loại thực vật lại có những hình dạng phiến lá khác nhau? Mình muốn biết, rất muốn, muốn lắm. Rốt cuộc thì các loại thực vật và cả bản thân chúng ta dùng cơ chế nào để quyết định dáng dấp của mình, và duy trì sự sống?
Bản thân mình vừa không muốn kết hôn vừa không muốn sinh con, liệu có phải là biểu hiện của một cá thể khuyết thiếu không?
Motomura đã hạ quyết tâm. Phải học lên cao học thôi. Mình muốn nghiên cứu về thực vật. Vì mình tò mò đến day dứt. Cho đến tận bây giờ, thứ quan trọng nhất đối với mình không phải chuyện tìm việc, không phải chuyện kết hôn, cũng không phải là thứ tương lai ổn định kia. Thứ quan trọng nhất đối với mình chính là có thể hoạt động trí não và chân tay, nhòm vào kính hiển vi, nhìn thẳng vào những loài sinh vật. Mình muốn truy cho ra cái quy luật vô vàn bí ẩn đang chi phối thế giới, chi phối mọi sinh linh mà cho đến giờ vẫn chưa ai có thể tường tận giải thích.
Chỉ có điều, trường đại học tư mà cô đang học lại không có thầy cô nào theo chuyên ngành Thực vật học cả.
Motomura bề ngoài chỉ là một người hay thích ngẩn ngơ, thế mà một khi cô đã quyết tâm làm gì đó thì sẽ hành động nhanh đến bất ngờ. Motomura đã khẩn khoản cầu xin bố mẹ và rốt cục thì cũng được ông bà đồng ý cho học lên cao học. Song song với việc đó, cô cũng bỏ công sức ra tìm hiểu về các trường cao học có chuyên ngành Thực vật học và cuối cùng cũng nhắm trúng phòng nghiên cứu Matsuda thuộc Đại học T. Nghiên cứu của Matsuda là tìm hiểu về sự hình thành hình dạng của phiến lá trên cấp độ gen di truyền và tế bào. Motomura đã có trực giác đây chính là nơi cô tìm kiếm bấy lâu sau khi đọc xong các bài luận văn được xuất bản của những thành viên phòng nghiên cứu, tiêu biểu là của giáo sư Matsuda Kenzaburo.
Sự cuồng nhiệt của cô không hề dừng lại ở đó. Cô không chỉ bắt đầu vùi đầu học tập để thi vào trường cao học của Đại học T, mà còn chủ động liên hệ với phòng nghiên cứu qua email của Matsuda vốn được công khai trên trang web của phòng, để xin đi tham quan phòng nghiên cứu. Cô quyết định rằng trước khi thi vào hệ cao học của trường thì nên đến thăm phòng nghiên cứu mình nhắm tới và thảo luận với giáo sư đã. Cứ thế mà nhập học cũng chẳng vấn đề gì, nhưng cô rất sợ mình sẽ không hợp với không khí phòng nghiên cứu và không thể thực hành nghiên cứu theo đúng ý nguyện của mình.
Motomura ngay lập tức nhận được hồi âm từ Matsuda. “Lúc nào đến cũng được.” Cô đặt lịch hẹn cho chuyến viếng thăm, và ngay ngày đầu tiên sau kỳ nghỉ dài Tuần lễ vàng, Motomura đã đứng trước tòa nhà B khu Tự nhiên của trường Đại học T rồi.
Tòa nhà B khu Tự nhiên mà cô lần đầu tiên được chiêm ngưỡng nom như một cây đại thụ khổng lồ trong mắt Motomura vậy. Nó sừng sững đến độ có cảm giác như gốc rễ đã cắm sâu và chằng chịt khắp nơi dưới lòng đất, hơn nữa còn mang đến cảm giác vô cùng ấm áp.
Cô bước lên cầu thang bên trong tòa nhà với vẻ hồi hộp và bắt đầu tìm đường đến phòng nghiên cứu Matsuda. Vừa gõ lên cánh cửa bằng gỗ thì một giọng nam đã cất tiếng mời cô vào. Thế nhưng dù cô có xoay nắm cửa thế nào thì nó cũng không chịu mở ra. Trong lúc cô vẫn còn vật lộn với cánh cửa bằng cách vừa đẩy vừa kéo thì cảm giác người trong phòng đang tiến lại gần và cánh cửa cuối cùng đã được mở ra từ bên trong.
“Mấu chốt là trò phải nâng cửa lên một chút.”
Người đàn ông mở cửa cho cô nói. Giọng nói giống hệt giọng người ban nãy đã cất lời mời cô vào. Người này chính là giáo sư Matsuda sao? Dù đã nhìn thấy ảnh của thầy trên mạng rồi, nhưng người thật nom lại có vẻ trẻ hơn nhiều. Matsuda vận một bộ âu phục màu đen bên ngoài áo sơ mi trắng. Bộ dạng giống thần chết thế, Motomura trộm nghĩ, nhưng ánh mắt ẩn đằng sau gọng kính của thầy lại rất đỗi hiền hòa nên sự căng thẳng trong cô bỗng chốc đã tan biến sạch.
Sau khi nghe Motomura tự giới thiệu, Matsuda mới nói, “Tôi là Matsuda”, đoạn mời cô bước vào phòng nghiên cứu. Trước không gian tràn ngập màu xanh, bừa bộn và có chút bám bụi, Motomura lập tức cảm thấy được chào đón.
Matsuda pha hai tách cà phê, dường như mọi người trong phòng nghiên cứu đã ra ngoài hết rồi. Motomura và Matsuda ngồi hai bên góc của chiếc bàn lớn đặt giữa phòng, vừa uống cà phê vừa nói chuyện với nhau. Đầu tiên là Matsuda giới thiệu về nội dung và những thí nghiệm đang diễn ra tại phòng nghiên cứu, cùng các dự án mà mọi người chuẩn bị lấy làm đề tài trong tương lai. Tiếp theo là Motomura kể về những nghiên cứu mình đã thực hiện hồi đại học và lý do cô muốn học lên cao học. Matsuda thi thoảng có xen vào hai, ba câu hỏi, nhưng đa phần là thầy sẽ trầm ngâm lắng nghe câu chuyện của cô.
Hai người chẳng ai thích nói nhiều nên sau khi trao đổi xong những thông tin cần thiết thì căn phòng lại chìm vào thinh lặng. Bầu không khí cũng không hẳn là ngột ngạt, chỉ có điều Motomura có cảm giác như mình đang làm phiền thầy Matsuda nên cô đành phải uống cạn tách cà phê để đứng dậy.
“Cà phê ngon lắm ạ. Thành thật cảm ơn thầy vì đã dành cho em chút thời gian quý báu.”
“Tôi nghĩ rằng phòng nghiên cứu này khá thích hợp với chủ đề Motomura muốn tìm hiểu đấy.”
Matsuda cũng đứng dậy, không cho Motomura giúp mình dọn ly tách mà tự lấy hai tách cà phê đã hết sạch mang đến bồn rửa. “Cố gắng hết mình với bài thi nhập học nhé.”
Đúng lúc đó, một người con trai khoảng hơn hai lăm tuổi bước vào phòng. Đó là Kawai, người sau này đã trở thành trợ giảng. Lúc bấy giờ anh vốn đang là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở phòng nghiên cứu.
“A, cậu Kawai.”
Matsuda gọi. “Đây là Motomura, người đang có nguyện vọng vào cao học của chúng ta. Cậu có thể dẫn cô ấy đi tham quan phòng thí nghiệm không?”
Kawai hào hứng dẫn Motomura đi tham quan không chỉ phòng thí nghiệm mà còn cả phòng giải phẫu nữa. Tòa nhà và cả máy móc tuy đã cũ lắm rồi, nhưng các loại hóa chất và trang thiết bị đều rất đầy đủ nên đáp ứng được hầu hết các loại thí nghiệm. Có thể nói đó là hoàn cảnh cực kỳ thích hợp cho việc nghiên cứu thực vật. Trên hết là không khí của phòng nghiên cứu rất tốt, cả Matsuda lẫn Kawai đều là tuýp người điềm đạm, điều này đã khiến cho Motomura âm thầm thề trong lòng rằng mình phải vào cao học trường Đại học T cho bằng được.
Nói thì nói thế, nhưng vì đã mất công đến tận đây xem thử nên phải tìm hiểu cẩn thận mới được.
“Thầy Matsuda là một giáo sư như thế nào vậy ạ?”
Motomura gặng hỏi Kawai. Lúc đó cô đang cùng với Kawai lấy giẻ lau dọn cho sạch vũng nước lênh láng từ chamber trên sàn phòng giải phẫu.
“Thầy ấy là người cực kỳ đam mê nghiên cứu, lại còn vô cùng tinh tế trong việc hướng dẫn sinh viên và học viên cao học nữa.”
Kawai đáp, đoạn, anh cười một chút. “Chỉ có điều, khả năng sắp xếp và chỉnh đốn của thầy ấy gần như bằng không. Vũng nước này cũng là bởi thầy ấy không đem nước trong ống đi đổ cho đàng hoàng đấy.”
Khả năng chỉnh đốn và sắp xếp của Matsuda thật ra còn kém hơn cả những gì Motomura tưởng tượng. Thầy ấy thường bị vùi lấp dưới mở sách vở ở phía bên kia tấm bình phong trong phòng nghiên cứu. Không thì cũng đang bận đào bới núi sách vở ấy lên để tìm kiếm gì đó. Motomura chỉ biết được điều này vào mùa xuân năm sau. Sau khi học tập thâu đêm suốt sáng thì cô cũng đã đỗ vào cao học trường Đại học T.
Cùng lúc đó, cô cũng bắt đầu sống một mình. Một khi đã lên cao học thì chuỗi ngày làm thí nghiệm, viết luận văn và phát biểu nghiên cứu cứ dồn dập không ngừng. Cô đã đi đến quyết định rằng mình không tài nào có đủ thời gian đến trường nếu cứ ở nhà với bố mẹ được.
Nhân dịp thi đậu cao học, Motomura có nhận được tiền học bổng, thế nhưng sớm muộn cô cũng phải trả lại số tiền này. Thực chất thì đó chính là khoản vay mà họ cho Motomura. Cũng có chế độ giúp đỡ cho những “nhân viên nghiên cứu đặc biệt” bằng cách trợ cấp tiền lương và trả phí nghiên cứu cho họ. Thế nhưng nếu cô chưa lên tiến sĩ thì đơn xin hưởng chế độ sẽ không được thông qua, dù có lập kế hoạch nghiên cứu chi tiết thế nào đi nữa thì với tỉ lệ chọi cao như vậy, cô cũng không có hi vọng gì. Thời gian rảnh để đi làm thêm cũng không có, rốt cục thì tiền học, tiền nhà hay tiền chi tiêu của cô hơn phân nửa vẫn phải nhờ vả bố mẹ.
Phần tiền học bổng phải hoàn lại là chuyện đương nhiên, thế nhưng cô vẫn muốn trả lại bố mẹ số tiền mà hai người đã chi cho mình. Chỉ có điều, cô vẫn chưa biết rõ sau khi tốt nghiệp cao học thì mình có tìm nổi một công việc ổn định hay không, vậy nên Motomura cũng đành giơ tay chịu trói. Tiền bạc đúng là nỗi khổ nơi trần thế. Bố mẹ Motomura còn vài năm nữa mới về hưu nên vẫn có thể trang trải được chi tiêu trong nhà, nhưng có lẽ rất nhiều gia đình không thể gánh nổi khoản chi như thế. Có nhiều người tuy có nguyện vọng mài giũa học vấn của mình nhưng vẫn phải từ bỏ ước mơ học lên đại học hay cao học vì lý do này hay lý do khác.
Motomura dồn hết tâm huyết vào các cuộc thí nghiệm ở phòng nghiên cứu Matsuda. Để có thể cắt giảm dù chỉ một ít tiền ăn, cô đã phải tự giác nấu cơm ở nhà mặc dù trước đó chưa từng thử qua. Đã từng có quãng thời gian mẹ của Motomura cứ liên tục gọi điện hỏi thăm cô vì quá lo cho con gái, nhưng đứng trước con đường học lên tiến sĩ của cô thì dường như bà đã hoàn toàn bỏ cuộc rồi. Từ đó về sau không thấy bà nhắc lại mấy từ như “kết hôn” hay “tương lai” gì nữa.
Con xin lỗi mẹ nhé. Con của mẹ đã lỡ kết hôn với các loại thực vật rồi...! Nếu chúng thụ phấn thành công thì con sẽ cho mẹ xem mặt cháu chắt. Mặc dù so với đối tượng kết hôn thì con và thực vật không thấu hiểu nhau cho lắm. Mấy chậu cây mà con trồng đều héo rũ hết cả, tế bào cây Arabidopsis thaliana thì cũng chẳng phát sáng như con trông đợi. À a, có khi con của mẹ vốn dĩ không có khiếu trở thành một nhà nghiên cứu cũng nên.
Hội bạn thời đại học của cô giờ đã đi làm được đến năm thứ ba rồi. Thi thoảng gặp mặt nhau thì mọi người sẽ nói về những chuyện như đã quen với công việc chưa, mãi vẫn chưa được giao việc nên nản quá,... Mọi người ai cũng đang tỏa sáng lấp lánh. Mình thì chỉ thụ phấn cho cây Arabidopsis thaliana và đếm số lượng tế bào thôi, không biết có ổn không đây. Cô sốt ruột.
Nhưng Motomura cũng không còn đường lui nữa. Hiện thực không có chỗ cho cô hối hận.
Chỉ cần nhòm vào kính hiển vi, toàn bộ thế giới mà Motomura luôn mong mỏi sẽ trải rộng trước mắt cô.
Một ngày của Motomura bắt đầu với việc bắt tay vào chăm sóc các chậu cây bên bậu cửa sổ căn hộ của mình.
Già nhất trong đám này phải kể đến cây kim tiền mà cô đã chăm những mười năm kể từ ngày còn học phổ thông. Mới đầu nó chỉ bé bằng cái chậu thôi, thế mà sau nhiều năm giương cành giương lá thì giờ đây cái cây đã cao to bằng lưng Motomura rồi. Chậu cây kim tiền thật to được đặt trên tấm chiếu, lá cây màu xanh lục sum suê đến nỗi có chiếc to bằng cả mặt của Motomura, mỗi khi chúng hắt bóng lên màn hình tivi thì cô khó mà thấy gì được nữa.
Ngoài ra còn có cây xương rồng cô lấy từ nhà bố mẹ lúc chuyển ra riêng, cây sen đá do Kato ở phòng nghiên cứu tặng, chậu rau thơm gồm nhiều chủng loại,... tất cả đều được đặt ngay ngắn trên khung cửa sổ. Motomura biết rõ mình “gây héo” mát tay, nên cô rất cẩn trọng, chỉ chọn lựa các loại thực vật dành cho người mới tập tành trồng cây.
Cho đến giờ, cái cây khiến cô phải tốn nhiều công sức nhất chính là cây hoa trạng nguyên. Nó được đặt bên cạnh chậu cây kim tiền, nhưng để lá cây có thể đổi màu, suốt một tháng từ giữa tháng Chín, cô buộc phải “xử lý ngắn ngày” cho nó. Tức là từ chiều tối đến tầm sáng, cô phải giữ sao cho cây hoàn toàn không tiếp xúc với ánh sáng. Motomura dùng một cái thùng các tông được dán kín, nhưng rất ít ngày cô được về lại căn hộ của mình vào buổi chiều nên thi thoảng cô sẽ quên đậy thùng đựng cây trạng nguyên lại.
Sáng hôm đó cô cũng háo hức lấy cây ra khỏi thùng, nhưng vì ảnh hưởng của pha xử lý sứt sẹo nên dù đã sắp sửa đến tháng Mười một rồi mà lá cây trạng nguyên vẫn còn giữ nguyên màu xanh. Ngộ thật. Năm ngoái lúc cô vừa mua nó về, lá cây vẫn còn là màu đỏ trông rất xinh kia mà.
Dù thất vọng cách mấy đi nữa thì cô vẫn thích việc tưới nước cho những chậu cây nhìn có vẻ khô cằn, tỉa những chiếc lá bị sâu ăn và dành thời gian để giao lưu với bọn cây cối. Dĩ nhiên cô còn trò chuyện với chúng nữa. Đại loại là mấy câu như, “Hôm nay trời rét nhỉ”, hay là “Phân bón thế này có đủ không?”... Cô thật sự không muốn để ai nhìn thấy bộ dạng mình những lúc như vậy đâu.
Căn hộ của Motomura nằm gần ga Tawaramachi, bên trong một tòa chung cư hai tầng vừa cũ vừa xám xịt màu vữa nên giá thuê rất rẻ. Bắt tàu điện đến trường Đại học T mất không đến 20 phút. Đoạn đường gần đến nỗi cô có muốn đổi gió, thay bằng đi xe đạp đến trường cũng không thành vấn đề.
Bố mẹ của Motomura vốn dĩ muốn cô tìm một căn hộ có an ninh nghiêm ngặt hơn, nhưng vì căn hộ hiện tại nằm trên tầng hai nên hai người nghĩ chắc cũng chẳng có vấn đề. Hơn nữa, vợ chồng chủ nhà tuy lớn tuổi nhưng lại vô cùng tốt bụng, nhà riêng của họ còn ở ngay phía sau tòa nhà nên có gì cũng nhờ cậy được, thế nên Motomura mới quyết định chọn căn hộ này. Đám cây cỏ bên bậu cửa sổ nhòm cũng ấm cúng. Motomura thì hầu như chỉ về nhà để ngủ nên phòng ốc có xoàng xĩnh một chút cũng chẳng sao.
Bên trong tòa chung cư còn tới năm căn hộ, nhưng cô gần như chẳng bao giờ giao tiếp gì với hàng xóm của mình. Một cậu là sinh viên, một anh chàng khá trẻ làm nhân viên văn phòng lúc nào cũng bận rộn, một cô tầm trung niên làm ở quầy bar trên Ueno. Quan hệ giữa mọi người chỉ dừng ở mức chào hỏi nhau ở chung cư nếu có lỡ đi ngang qua thôi.
Tiện nói luôn, tên của chung cư là “Chung cư Suzuki II”. Chung cư I vốn cũng ở gần đó, nhưng nghe bảo mấy năm trước đã bán mất rồi, phía trên nền nhà cũ giờ người ta xây lên một tòa nhà bút chì[15].
Trở lại câu chuyện. Sau khi đã thỏa thích tận hưởng quãng thời gian buổi sớm với các loại thực vật của mình thì Motomura sẽ ăn sáng và chuẩn bị cơm hộp. Thức ăn kèm với cơm sáng thường sẽ là những món đơn giản như đậu nành lên men hoặc trứng chiên. Ngay cả cơm hộp cũng chỉ toàn đồ thừa từ tối hôm trước, không thì nhét đầy đồ sẵn có trong tủ lạnh. Giống với chuyện chăm sóc cây cỏ, hết thảy mọi việc nhà đều là điểm yếu của Motomura. Thứ mà cô giỏi nhất chỉ có mỗi việc chăm chú nhòm vào kính hiển vi và tỉ mỉ đếm từng hạt tế bào li ti bé xíu.
Kể cả thứ Bảy thì cô cũng phải đến Đại học T, thế nên việc dọn dẹp nhà cửa và giặt là quần áo phải dồn sang Chủ nhật mới xong. Chủ nhật mà mưa là đời cô sẽ trở nên thảm ngay. Áo quần vừa giặt xong chất đống nên Motomura phải chịu khó hong khô chúng trong phòng, hậu quả là chúng vẫn bị ẩm và còn có mùi khó chịu, rốt cục cô đành cho vào máy giặt thêm lần nữa. Motomura không hề biết rằng sự tồn tại của nước xả vải là để cho áo quần được thơm tho. Dù có đến tiệm thuốc thì cô cũng chỉ ra về với túi thuốc giặt chứ chẳng thèm liếc mắt nhìn thêm thứ gì khác. Tệ hơn, đó còn không phải là nước giặt mà là bột giặt cơ. Bởi vì cô rất thích các hạt mà. Nhánh của cây kim tiền bị cô dùng làm chỗ phơi tất ướt trông như đang muốn khóc than đến nơi.
Để không phải quá bận bịu với việc giặt giũ thì Motomura mặc rất nhiều áo thun dài tay và ngắn tay loại rẻ tiền. Còn về phần những họa tiết trông quá sức ngộ nghĩnh thì lại là vấn đề riêng thuộc về gu của cô.
Sau khi ăn sáng xong xuôi và bỏ hộp cơm vào túi vải thì Motomura mới thay áo ngủ ra. Cô chọn một chiếc áo thun dài tay có họa tiết thêu tay hình quả quýt bên ngực trái và chiếc quần jeans mọi khi. Rửa mặt rồi khoác áo lạnh, cô khẽ kêu lên, “Trời đúng là rét thật”, sau đó mới xỏ vào đôi giày thể thao thế cho đôi dép kẹp.
Lúc đổi tàu ở ga Ueno-Hirokoji, cô mới nhận ra là mình đã quên trang điểm. Motomura không có thói quen mang theo đồ trang điểm bên người, đối tượng mà cô chạm mặt ở phòng nghiên cứu cũng chỉ có đồng nghiệp thân thiết và cây Arabidopsis thaliana thôi. Ngay sau đó cô liền mặc kệ chuyện ấy, cũng quên béng là bản thân chả điểm trang gì, trong đầu chỉ lo bắt đầu chương trình của một ngày mới.
Cô đến Đại học T lúc mười giờ kém, vừa vào là đến giờ làm việc ngay. Motomura vẫn đang học năm đầu tiên của chương trình tiến sĩ nên buộc phải tự quyết định nội dung nghiên cứu và cả lịch trình của mình. Vừa làm nốt mấy việc văn phòng như trả lời mail và soạn tài liệu, cô còn phải tưới nước cho cây Arabidopsis thaliana ở phòng giải phẫu, loại hạt giống, chỉnh sửa dữ liệu ảnh chụp từ kính hiển vi, đọc luận văn,... có cả núi việc để làm. Hầu như mọi ngày phải quá mười giờ khuya thì cô mới về tới nhà.
Thêm vào đó, cứ mỗi tuần, phòng nghiên cứu lại tổ chức một buổi họp. Người tham dự bao gồm giáo sư Matsuda Kenzaburo, trợ giảng Kawai, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Iwama, thạc sĩ năm hai Kato và cả Motomura nữa. Mọi thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda sẽ cùng ngồi vào chiếc bàn lớn để thảo luận với nhau.
Chủ đề của buổi họp xoay quanh giới thiệu về những bài luận mà mọi người thấy tâm đắc hoặc báo cáo về tiến độ nghiên cứu của mình. Cứ mỗi tháng một lần Motomura lại đứng ngồi không yên vì sắp tới phiên mình giới thiệu luận văn và báo cáo nghiên cứu. Cô phải tìm đọc một lượng không nhỏ các tạp chí nghiên cứu, vừa thấp thỏm rằng, lỡ mà nghiên cứu của mình qua mấy tháng vẫn chẳng thấy chút tiến triển nào thì sẽ khiến cho thầy Matsuda mặt cau mày có mất, khuôn mặt của giáo sư lúc ấy hẳn sẽ như muốn nói, “Hỡi người đã tới số kia, ta là Tử Thần đến đón ngươi đi, nhưng không ngờ ngươi lại tung tăng và tươi tắn hơn những gì ta tưởng tượng.”
Hơn nữa, suốt buổi họp, tính cả thời gian nêu và giải đáp thắc mắc, mọi người sẽ sử dụng tiếng Anh nên cũng khiến não cô mệt lừ. Tất cả các thành viên thuộc phòng nghiên cứu Matsuda cho đến hiện tại chỉ toàn những người dùng tiếng Nhật như ngôn ngữ mẹ đẻ. Thế mà chẳng hiểu sao lại cứ phải đối thoại với nhau bằng tiếng Anh, Kato ngao ngán than vãn. Nhưng dù gì đi nữa thì ngôn ngữ chung của cộng đồng nghiên cứu khoa học tự nhiên cũng là tiếng Anh nên đành vậy. Luận văn đã viết bằng tiếng Anh thì nếu không thể nói được tiếng Anh, làm sao giao lưu và trao đổi thông tin với các nhà nghiên cứu ở nước ngoài? Phải làm quen với việc sử dụng tiếng Anh cũng là một điều khiến Matsuda khá buồn lòng.
Nhà nghiên cứu sinh vật học – tính ra thì nghiên cứu thực vật cũng có thể gọi là nghiên cứu sinh vật – phải ghi nhớ rất nhiều chủng loại sinh vật đa dạng. Chỉ dùng một từ “thực vật” thôi thì làm sao có thể mô tả những hình thái và đặc tính đa dạng về loài mà chúng mang trong mình được? Vì sao đã có khuẩn E. coli mà còn có con mèo? Củ khoai tây và con người khác nhau ở hình thái và tính chất nào?
Nhờ ngẫu nhiên này nối tiếp trùng hợp khác mà trên Trái đất mới xuất hiện hệ sinh thái. Dù có lội ngược lại lược sử Trái đất một lần nữa thì mọi sự ngẫu nhiên cũng không thể xảy ra giống hệt như trước. Hiển nhiên, sự tiến hóa của sinh vật cũng là điều vô cùng dị thường nên những giống loài chào đời trên Trái đất nếu bị quay ngược lịch sử hẳn là sẽ trở nên khác lắm so với bây giờ.
Sự đa dạng giống loài được thiết lập nhờ vào cán cân tuyệt vời của tạo hóa, thứ mà ta không bao giờ có thể tái hiện một cách tương đối. Vì quá tò mò với điều đó, vì muốn giải đáp câu đố đó nên tất cả mọi người ở phòng nghiên cứu Matsuda mới thực hiện các thí nghiệm và theo dõi các loại thực vật.
Chỉ có điều, một bộ phận sinh viên cao học hiện giờ đang lâm vào cảnh khổ chiến với tiếng Anh. Tuy ai cũng tôn trọng và quý mến sự đa dạng giống loài, nhưng mỉa mai thay, rào cản ngôn ngữ vốn là một biểu tượng cho sự đa dạng ấy, giờ đây lại khiến họ phải tuyệt vọng. Thầy Matsuda vốn từng nhiều lần phát biểu ở nước ngoài dưới tư cách một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu hay Iwama có trải nghiệm du học tại một trường đại học ở Hoa Kỳ thì không nói làm gì, nhưng Motomura và Kato thì ba chìm bảy nổi với tiếng Anh, mỗi lần đến buổi họp là lại van xin Matsuda cho họ được thuyết trình bằng tiếng Nhật. Những lúc như thế, Matsuda bảo họ cứ tự nhiên nhưng lại trưng ra vẻ mặt “Hỡi những người tới số kia, ta là Tử Thần tới đón ngươi đi, nhưng không như ta tưởng tượng, các ngươi lại tích cực nhảy nhót như bọn nát rượu.”
Nghe đâu bộ phim mà Kato yêu thích nhất là Kill Bill của Quentin Tarantino. Tuy Motomura chưa bao giờ xem qua nhưng theo lời Kato thì có vẻ như trong phim đó, Lucy Liu diễn vai một nữ xã hội đen. Sau một lúc nói tiếng Nhật ngọng nghịu thì cô ấy đột ngột chuyển sang dùng tiếng Anh khi đi vào chủ đề chính yếu của cốt truyện “Để các người có thể thấu hiểu được sự nghiêm túc của ta, từ giờ ta sẽ nói chuyện bằng Anh ngữ.” Motomura cứ băn khoăn, giới xã hội đen thật sự có cái phương châm này à, nhưng mắt Kato thì lại sáng rỡ mà kêu lên, “Đó thật là một cảnh quay đột phá.”
“Tôi cũng muốn nói câu, ‘Vì tiếp theo là điểm trọng yếu của bài phát biểu này, tôi sẽ sử dụng Nhật ngữ để giải thích nó một cách chuẩn xác nhất’. Tôi còn muốn được Julie Dreyfus phiên dịch câu đó của mình sang tiếng Anh nữa!”
“Đừng có dại mà tuyên bố mấy câu vừa rồi trước mặt thầy Matsuda.”
Iwama nói với vẻ ngán ngẩm. Motomura thì không hiểu Kato đang nói gì cho lắm, nhưng vẫn đồng cảm với cậu vì cô thấu hiểu nỗi khổ của người dở tệ tiếng Anh.
Trên mạng vốn có dịch vụ đọc hộ phần khái quát của mỗi bài luận bằng tiếng Anh. Motomura vừa có thể viết mail, vừa nghe được tiếng đọc trôi chảy như radio và nắm bắt được những thông tin liên quan đến nghiên cứu nên cô xem chương trình này như báu vật. Motomura chăm chú lắng nghe với mục đích để tai mình quen tiếng, nhưng rõ là trình độ Anh ngữ của cô không thể nào thành thạo như tiếng mẹ đẻ được. Song, cô từng biết đến một bài luận văn nghiên cứu về số lượng tinh dịch được tích tụ bên trong cơ thể gián cái vào mỗi lần giao phối. Bài luận nói, nhờ có lượng tinh dịch ấy mà về sau gián cái không cần giao phối cũng có thể lần lượt đẻ trứng như thường. Đọc phải một thứ đáng sợ như vậy mà cô vẫn muốn đọc tiếp xem sao, Motomura phải bỏ qua suy nghĩ rằng chủ đề của bài luận ấy vốn chẳng có mấy liên hệ với mảng nghiên cứu thực vật.
Cứ như vậy, mỗi ngày của Motomura đều bận bịu vô cùng. Nghe bảo mọi người trong phòng nghiên cứu đòi đến Viên Phục Đình ăn tối hòng thay đổi không khí, nhưng Motomura thì lại rất ngại. Iwama cũng không mở lời rủ rê cô, chắc là bởi chị đã biết tỏng sự tình.
May mắn thay, Fujimaru trông như không hề để bụng đến chuyện kia mà vẫn giao bữa trưa đến trường như thường lệ. Mọi thứ chẳng thay đổi gì, cứ mỗi mười ngày một lần, phòng nghiên cứu Matsuda lại nhờ anh giao bữa trưa đến. Hầu hết các lần đều là thầy Matsuda trả tiền nên Motomura rất lấy làm biết ơn vì đã bớt được tiền ăn một bữa. Trên hết vẫn là niềm hân hoan khi cô không cần phải ăn hộp cơm do mình tự nấu, vốn hương vị không thể nói là ngon lành gì.
Motomura cũng không phải làm bằng sắt đá, cô cũng rất hiểu lời bộc bạch mà Fujimaru đã vô cùng nghiêm túc nói ra. Vậy nên cô mới mất những ba ngày trời mới có thể đưa ra cho anh lời hồi đáp. Cho đến bây giờ, cô cũng từng được vài chàng trai khác ngoại trừ Fujimaru tỏ tình rồi, nhưng đối với những trường hợp ấy cô chỉ thẳng thừng từ chối đến mức “tàn nhẫn” thôi.
Chỉ khi đứng trước lời tỏ tình của Fujimaru, Motomura mới thoáng cảm thấy dao động. Bởi vì Fujimaru đã bộc lộ cho cô thấy vẻ kinh ngạc và niềm hạnh phúc thuần túy của anh khi hào hứng hỏi chuyện về thực vật. Motomura cảm thấy sự tôn trọng rất mực của anh đối với cái thế giới mà cô đã trút hết tâm can vào, và trên hết là đối với cả chính bản thân cô. Điều đó khiến Motomura vui sướng vô vàn. Cô cũng rất thích Fujimaru ở điểm anh luôn cần cù làm việc ở Viên Phục Đình và dành hết nhiệt huyết cho chuyện nấu nướng. Thế giới chứa đựng nhiệt huyết của hai người tuy rất khác biệt, nhưng cô nhận thấy rằng cả hai luôn có thể trò chuyện về chúng bằng những từ ngữ giống nhau. Cảm giác như nếu là người này, cô nhất định có thể trải qua một quãng thời gian vui vẻ vậy.
Song, suy nghĩ của cô chỉ dừng lại ở đó.
Quãng thời gian vui vẻ, suy cho cùng là gì nhỉ? Là cùng nhau ăn một bữa cơm, hay là cùng nhau đến công viên giải trí? Nhưng mình chỉ quen ăn cơm vội vã và tranh thủ những lúc rảnh rỗi để loại thật nhiều hạt giống cây Arabidopsis thaliana thôi. Giả sử có thời gian trống đi hết trò này đến trò khác, leo lên leo xuống mấy con tàu trong công viên giải trí thì thà ngồi một chỗ im lặng quan sát tế bào cây Arabidopsis thaliana qua kính hiển vi còn vui hơn nhiều.
Một chiếc kính hiển vi không đủ chỗ cho hai người cùng nhòm vào. Motomura đến tận bây giờ vẫn chẳng hiểu hẹn hò thì vui thú ở chỗ nào. Không thể nghĩ ra trên đời còn có thứ gì mê hồn hơn việc nghiên cứu.
Fujimaru thì lại khác. Tuy anh cũng rất nỗ lực với công việc nhưng còn có thể đem lòng yêu một ai đó. Yêu đương được một thời gian thì có khả năng tiến tới hôn nhân. Với lối suy nghĩ như vậy nên anh không có bất kỳ ngờ vực hay bất mãn gì với chuyện tình cảm cả.
Motomura thấy lóa mắt trước sự “hoàn thiện” của Fujimaru. Chính vì cảm thấy, mỗi khi đứng trước tình huống buộc phải đưa ra lựa chọn, mình hẳn là sẽ không ngần ngại chọn lựa nghiên cứu, nên cô mới hồi đáp lại Fujimaru với câu “Tôi không thể hẹn hò với anh được.”
Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng sâu bên trong lựa chọn ấy, cô đã từng nghĩ rằng, “Cả anh Fujimaru lẫn mình đều biết bọn mình sẽ không có kết quả nên tốt nhất đừng lãng phí thời gian của nhau.” Motomura ý thức rằng bản thân đã quá ngạo mạn với cái suy nghĩ ấy. Fujimaru hẳn là sẽ đáp lại rằng, “Có kết quả hay không thì mình phải quen nhau thử mới biết được chứ”, nhỉ?
Việc không nắm chắc kết quả thì chỉ mỗi thí nghiệm thôi cũng đủ lắm rồi. Cô không muốn tinh thần và thể xác phải dao động nhiều hơn nữa. Motomura vốn dĩ chỉ muốn nghiên cứu mà thôi. Cô muốn để bản thân tập trung hết mình vào việc đó.
Cô hoàn toàn giao phó bản thân cho thứ nhiệt huyết đến mức cuồng si này. Dù hiểu rõ rằng có sống đến bao năm đi nữa thì bản thân cũng không thể hoàn toàn giải thích tường tận sự bí ẩn của thực vật, thế mà cô vẫn cứ đâm đầu vào nhìn ngắm những tế bào đang tỏa ra thứ ánh sáng lập lòe kia. Có giải thích lối nghĩ này cách mấy đi nữa thì cũng không thể khiến cho Fujimaru hoàn toàn thông cảm nên Motomura không còn cách nào khác ngoài đơn phương cự tuyệt lời tỏ tình của anh.
Mỗi lần đến giao thức ăn, Fujimaru đều chào hỏi Motomura như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Lúc được Kato dắt đi tham quan nhà kính, anh chỉ kêu lên, “Ghê thiệt. Hệt như cánh rừng luôn”, đoạn mỉm cười toe toét chuyện trò với tất cả mọi người trong phòng nghiên cứu, bao gồm cả Motomura. Anh đúng là một người vừa lạc quan lại còn tốt tính.
Dù là thế, anh cũng không thể bắt trọn con tim của Motomura như tế bào cây Arabidopsis thaliana.
Buổi họp đầu tiên của tháng Mười một diễn ra ở phòng nghiên cứu Matsuda. Mọi thành viên của phòng nghiên cứu vây quanh bàn họp, mắt nhìn chăm chú vào bản tóm tắt mà người thuyết trình phát cho. Dĩ nhiên là kể cả tờ tóm tắt in biểu đồ và hình ảnh cũng được viết bằng tiếng Anh.
Buổi họp lần này đến phiên Motomura giới thiệu về luận văn của mình, còn Kato sẽ phụ trách báo cáo về nghiên cứu của cậu. Đầu giờ chiều hôm đó đẹp trời, có tia nắng dịu dàng của mùa đông rọi vào bên trong phòng nghiên cứu. Hơn nữa, đó lại là lúc mọi người đều đã no căng bụng với bữa trưa là món cơm cuộn trứng hoặc thịt viên ngon tuyệt từ Viên Phục Đình. Thật là gian nan biết bao khi vừa phải vừa chống lại cơn buồn ngủ, lại còn phải vận động não hết tốc lực để có thể phát biểu và giải đáp thắc mắc bằng tiếng Anh.
Nhưng cả Motomura lẫn Kato đều nóng lòng chờ mong buổi họp mà mình gần như đã thức trắng đêm để chuẩn bị này. Để sự lao động vất vả ấy không hoài phí, nhất quyết phải ráng nói cho bằng được.
Bài luận mà Motomura giới thiệu có tiêu đề, Rễ cây Arabidopsis thaliana khi được nuôi trồng bằng hệ thống ánh sáng sẽ mọc ngắn hơn so với rễ cây sinh trưởng ở những nơi tối tăm như trong lòng đất. Hệ rễ của các loài thực vật vốn có tính chất mọc thành hình dạng dễ trốn tránh ánh sáng nhất. Nếu rễ cây mà sinh trưởng nhằm mục đích đón lấy ánh sáng thì chúng sẽ trồi lên khỏi mặt đất và không thể hoàn thành nhiệm vụ của một hệ rễ được. Không cần làm thí nghiệm, chỉ với trực giác, người ta cũng có thể tự hiểu rằng, “Ừ thì rõ ràng quá mà. Rễ cây phải tránh ánh sáng thì mới mọc được chứ”.
Có điều, rễ cây hoạt động với cơ chế thế nào để chúng có thể tránh né ánh sáng và ở yên trong lòng đất thì đến giờ vẫn chưa ai hiểu được. Phiến lá hay cành cây đều cần đến ánh sáng nên chúng đều sinh trưởng hướng về phía ánh sáng, thế mà rễ cây lại không thèm, tại sao lại như vậy? Bài luận văn mà Motomura giới thiệu là bài nghiên cứu theo đuổi câu hỏi ấy.
Theo như bài luận viết, rễ cây sinh trưởng trong tình trạng được chiếu sáng sẽ tích tụ rất nhiều một chất gọi là flavonol. Chất flavonol này sẽ cản trở sự vận chuyển auxin (một loại hoóc môn sinh trưởng của thực vật), khiến cho kích thước các tế bào phân chia của rễ cây trở nên bé lại. Điều đó kéo theo hậu quả là hệ rễ sẽ mãi không phát triển được.
Mọi thành viên trong phòng nghiên cứu bắt đầu thảo luận. “Biểu đồ được đăng tải trong bài luận gốc hình như không chứng minh rõ ràng lắm luận điểm của tác giả thì phải?”, “Mối quan hệ giữa flavonol và auxin có ảnh hưởng thế nào đến tế bào lá, thí nghiệm thế nào thì phù hợp nhất?”. Ai cũng nhao nhao đề ra các thắc mắc cùng hiểu biết của mình.
Motomura thở phào nhẹ nhõm vì giới thiệu được một bài luận khiến mọi người hứng thú. Không có gì buồn hơn những lúc cô giới thiệu bài luận mà bản thân thấy thú vị và có thông tin trọng yếu nhưng mọi người chỉ biết ậm ừ. Cô sẽ không khỏi nghĩ quá lên rằng, “Ơ? Cảm nhận của mình không lẽ dị đến vậy? Hay là vốn dĩ mình không có khiếu trở thành một nhà nghiên cứu, chỉ toàn thấy mấy bài luận văn khác thường là hay ho thôi”, khiến cho lòng tự tin vốn đã ít ỏi của cô ngày một hao mòn, suy nghĩ ngày một bi quan.
Sau khi thành công giới thiệu luận văn đợt này, Motomura ngồi lại vào ghế với tâm trạng tươi tỉnh. Theo sau đó, Kato liền đứng dậy và phát biểu về đề tài Phát hiện phương pháp khiến cho gai cây xương rồng trở nên trong suốt hơn.
Có một phương pháp kỹ thuật giúp cho mọi người dễ quan sát tế bào cây xương rồng dưới kính hiển vi hơn thông qua cách ngâm nó trong thuốc, vì phiến lá của cây vốn đã rất mảnh. Tuy nhiên, lá cây xương rồng không những có dạng lập thể trông như hình nón, mà còn không đồng nhất về độ dày. Rất khó để khiến phần dày nhất của gai xương rồng hoàn toàn chuyển sang trong suốt được. Thêm vào đó, số lượng nhà nghiên cứu cây Arabidopsis thaliana thì nhiều, mà số nhà nghiên cứu cây xương rồng, ngay cả thống kê trên phạm vi toàn thế giới, thì vẫn quá ít ỏi, họ cũng đã nản lòng thoái chí với biện pháp biến gai xương rồng thành trong suốt nên rất khó để tìm thấy bài nghiên cứu trên mạng, dù có cố công tìm kiếm thế nào đi nữa.
Thế mà Kato lại không chịu thua.
“Cũng có lúc tôi cảm thấy bản thân vô cùng đơn độc.”
Kato thuyết trình bằng thứ tiếng Anh có ngữ pháp ngộ nghĩnh. “Thế nhưng, rốt cục thì tôi cũng đã phát hiện ra. Quả là có công mài sắt có ngày nên kim. Mời mọi người nhìn vào tài liệu mình đang có trên tay ạ.”
Các thành viên trong phòng nghiên cứu nhòm vào bản tóm tắt của Kato. Trên tờ giấy in một tấm ảnh chụp bằng kính hiển vi tuyệt đẹp, cho thấy chiếc gai xương rồng đã biến trong suốt một cách hoàn hảo, ngoài ra còn có ghi chú công thức pha thuốc cần cho quá trình hóa trong trơn tru này.
“Ồ... à...?”
Phản ứng của mọi người khá là ảm đạm. Bởi lẽ ngoại trừ Kato ra, không còn ai có hứng thú với việc làm sao để thúc đẩy quá trình biến gai xương rồng thành trong suốt cả. Motomura thì lại vô cùng xúc động khi nhìn vào tấm ảnh chụp chiếc gai xương rồng trong suốt qua kính hiển vi, “Nhìn cứ như mực tươi ấy”. Chỉ có điều, đứng trước sự vất vả và một loạt thí nghiệm tìm ra lỗi sai của Kato thì cô lại ngượng mồm, không thể nói ra cảm xúc ấy.
Phương pháp biến gai xương rồng thành trong suốt này có lẽ chính là thành tựu đầu tiên trên toàn thế giới, nhưng thành tựu này có mức độ áp dụng linh hoạt đến đâu thì tạm thời vẫn chưa thể nói được gì. Bầu không khí trong phòng nghiên cứu bắt đầu trở nên lúng túng.
Matsuda lên tiếng nhằm xốc lại tinh thần của mọi người, chắc là thầy cũng nghĩ không nên làm nản chí người hiếu học.
“Chỉ bằng những loại thuốc thông thường trong phòng thí nghiệm mà có thể biến gai xương rồng trong suốt đến mức này, giỏi lắm. Trò đã đi xin quyền sở hữu trí tuệ chưa?”
Ngành Hóa, Nông hay Dược là những ngành có quan hệ mật thiết với dây chuyền sản xuất thành phẩm nên luôn phải đi xin giấy phép sở hữu trí tuệ, nhưng các lĩnh vực nghiên cứu nền tảng thì lại không quá chú trọng đến điều đó. Dù sao thì cũng hiếm khi có chuyện kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm. Vả lại, mọi người đều có tư tưởng rằng, chỉ cần có thể mở rộng và công khai nghiên cứu của mình, khiến nó trở nên hữu ích là đã đủ.
Thầy Matsuda vốn chỉ đùa vui khi nhắc đến chuyện xin “cấp phép sở hữu trí tuệ”, thế mà Kato lại đáp lời với vẻ nghiêm túc.
“Không cần đâu thầy ạ, không cần đâu. Vì tương lai của công cuộc nghiên cứu xương rồng, chỉ cần phương pháp biến gai xương rồng thành trong suốt này có thể được phổ cập đến mọi người là em đã thấy vui lắm rồi.”
“Phổ biến chứ.”
Iwama chỉnh lại lỗi sai tiếng Anh của cậu.
“Ừ nhỉ. Chỉ cần phương pháp này được phổ biến đến mọi người theo cách tích cực là em vui rồi.”
“Không nói đến vụ quyền sở hữu trí tuệ thì cậu cũng phải nhanh chóng viết bài nghiên cứu rồi đăng lên tạp chí chứ?”
Kawai đề xuất.
“Em... dở tiếng Anh lắm. Nhưng em nhất định sẽ cố gắng.”
Kato trả lời với vẻ ngượng ngùng.
Vừa đúng lúc, buổi họp lần này kết thúc tốt đẹp. Kawai đi đến bồn rửa được lắp đặt bên trong phòng nghiên cứu để pha cà phê. Mọi người vừa nhâm nhi cà phê vừa xôn xao tán gẫu nhân lúc giải lao.
Đúng lúc đó, cánh cửa phòng nghiên cứu Matsuda chợt bị mở toang. Đồng nghiệp của thầy Matsuda, Morooka Gohei, đang đứng ngay thềm cửa. Thầy ta vốn là giáo sư chỉ còn vài năm nữa là về hưu, trước giờ vẫn luôn nghiên cứu về các giống khoai. Thầy trồng và ăn rất nhiều loại khoai, nhưng tướng tá trông lại gầy nhom, còn mái đầu thì đã lòa xòa bạc phếch.
Mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda đều hết hồn nhìn thầy Morooka. Lúc nào thầy ấy cũng là người trầm tĩnh và nghiêm nghị. Trong mắt Motomura, mái tóc bạc của thầy như đang bốc khói, cho thấy thầy ta đang trong tâm trạng gấp rút thế nào. Ngay dưới chân thầy là Fujimaru của Viên Phục Đình đang ngã chổng vó. Xem chừng anh đã bị Morooka đá một cú quá mạnh nên mới ngã lăn ra thế này, chắc là lúc đó anh đang ngồi xổm trước cửa phòng để thu thập mấy món dụng cụ ăn uống sạch trơn.
“Qua... Quát háp bần?! (What happened!?)”
Vẫn còn vớt vát với quy tắc trong buổi họp, Kato dùng tiếng Anh thay mặt mọi người bày tỏ cảm xúc bây giờ.
“Đừng có nói tiếng Anh nữa!”
Morooka hét lên. Ngay sau đó, thầy chợt chú ý tới Fujimaru đang lồm cồm bò dưới đất, liền giúp đỡ anh dậy. “Xin lỗi, xin lỗi.”
“Trước tiên, mời giáo sư vào trong đã.”
Matsuda lấy ra một chiếc ghế trống cho tiền bối Morooka của mình. Morooka vừa dìu Fujimaru đang bận xoa eo, vừa bước vào bên trong phòng nghiên cứu. Thầy đỡ Fujimaru ngồi vào ghế còn mình thì vẫn đứng nguyên, nhìn một loạt các gương mặt trong phòng với vẻ cáu tiết.
“Anh có sao không?”
Motomura nhỏ giọng hỏi Fujimaru.
“Không sao, may phước mà ông đó dùng sức cũng không lớn lắm.”
Fujimaru dừng xoa eo lại rồi dè dặt nhìn về phía Morooka. “Ông ta nhìn cứ như đang phát cáu ấy, ông ấy là giáo sư ở đây hả?”
“Vâng ạ. Thầy ấy là giáo sư Morooka ở phòng nghiên cứu bên cạnh. Chủ yếu là nghiên cứu về các loại khoai.”
“Giáo sư ban Tự nhiên chắc sẽ không đi nghiên cứu làm sao để tăng sản lượng khoai đâu, nhỉ?”
Cho đến giờ, thông qua những gì mình được quan sát và dạy bảo, Fujimaru xem chừng cũng đã hiểu khá rõ về sự khác nhau giữa ban Nông lâm và ban Khoa học Tự nhiên. Motomura gật đầu, trong lòng thầm nhận thấy anh quả là người đáng trông cậy.
“Chuyên môn của thầy Morooka là nghiên cứu về cành. Trong khoai tây thì dây leo sẽ biến thành củ, còn trong khoai lang thì là rễ. Thầy ấy đang tìm hiểu tại sao lại xảy ra biến dị của các loại cành, thông qua việc nghiên cứu nhiều chủng loại khoai khác nhau.”
“Ồ...”
Trong khi Motomura và Fujimaru mải thầm thì với nhau thì thầy Morooka lại đang nổi cơn thịnh nộ.
“Matsuda! Phòng nghiên cứu của cậu ngày càng vượt quá giới hạn rồi đấy!”
“Xin lỗi giáo sư.”
Matsuda ngoan ngoãn cúi đầu.
“Thầy à, sao xin lỗi lẹ vậy.”
Iwama nhỏ giọng trách. “Phòng chúng tôi vẫn nghiên cứu đàng hoàng từ trước đến giờ. Nếu có chỗ nào là ‘vượt quá giới hạn’ thì xin giáo sư Morooka giải thích tường tận cho.”
“Chúng tôi có chỗ nào làm mếch lòng thầy ạ?”
Matsuda hỏi Morooka, bất chấp Iwama đang bực bội. Khuôn mặt của Morooka đỏ lựng vì tức giận. Quả đầu bạc phếch của thầy nom như bị nhuộm thẫm trong ánh lửa.
“Chính là cái nhà kính đấy!”
Morooka hét lên. Vẻ mặt của Kawai như đang muốn kêu lên “Úi cha” sau khi quan sát sự tình, nhưng những người còn lại thì đến bây giờ vẫn chẳng hiểu mô tê gì cả, ai cũng ngơ ngác nhìn nhau tự hỏi nhà kính thì thế nào. Đặc biệt là Motomura, vì đối tượng nghiên cứu của cô là cây Arabidopsis thaliana được trồng trong phòng giải phẫu nên cô hầu như không hề bước chân vào bên trong nhà kính.
“Có chuyện gì vậy?”, “Ai mà biết...”. Cùng cảnh ngộ, Iwama vốn cũng chỉ tìm hiểu về Arabidopsis thaliana nên hai người âm thầm trao đổi với nhau qua ánh mắt.
“Nhà kính đó vốn thuộc quyền hạn của phòng nghiên cứu Matsuda và phòng nghiên cứu của tôi, hai bên đã thỏa thuận sẽ phân chia công bằng và sử dụng nó một cách hòa hợp.”
Dứt lời, Morooka tiếp. “Thế mà bây giờ cái nhà kính chỉ toàn cây xương rồng. Vậy là sao?!”
Nói đến đây, tất cả mọi người ngoại trừ Kato đều đã vỡ lẽ nguyên cớ cơn thịnh nộ của thầy Morooka. Người ngoài như Fujimaru thì chỉ biết hỏi Motomura, “Không phải nhà kính vốn để trồng cây xương rồng sao?”
“Thành thật xin lỗi.”
Mọi người trong phòng nghiên cứu lại xin lỗi thầy Morooka lần nữa, bắt đầu từ Iwama. Ngay cả Fujimaru bị cuốn vào chuyện này chả hiểu sao cũng lục đục đi tạ lỗi. Nhưng chỉ có thủ phạm gieo trồng cây xương rồng hàng loạt là Kato lại thản nhiên nói.
“Ôi trời ạ, nhà kính đó vốn dĩ là nơi vô cùng thích hợp để xương rồng và sen đá sinh trưởng mà. Khi chúng lớn rồi thì sẽ ngừng phát tán hạt giống thôi. Cả thầy Morooka nữa, nếu muốn lấy mấy cây thì cứ nói cho em biết. Chậu cây bé xíu à nên cũng dễ trồng trong phòng thường.”
Kato, vốn là người yêu xương rồng như mạng, vốn chỉ nói những lời xuất phát từ ý tốt của mình, thế nhưng Motomura thì chỉ muốn kêu lên, “Nhìn tình hình một chút đi, Kato!” Không ngoài dự đoán, mái tóc bạc của thầy Morooka liền dựng ngược hết cả, nom chẳng khác gì mấy cái gai xương rồng.
“Ta đã nhịn cậu đủ rồi.”
Morooka nói như thể đang nghiến từng chữ qua kẽ răng. “Xương rồng trong nhà kính giờ mọc to đến nỗi bên trong nhìn y hệt phong cảnh ở Mexico, mấy cây sen đá cũng tốt tươi lắm, đến nỗi trông như mấy cái kệ trong phòng thí nghiệm của Nausicaä[16] vậy, nhưng tôi vẫn làm thinh không nói gì.”
“Ông giáo sư này biết Nausicaä á? Không thể trông mặt mà bắt hình dong nhỉ.”
Fujimaru nhỏ giọng nói với vẻ trầm trồ. Motomura thì rất sợ rằng Morooka sẽ nổi trận lôi đình như Quân Đoàn Cự Thần trong phim nên liền suỵt Fujimaru im miệng.
“Dạo gần đây, không hiểu sao đến mấy cây dương xỉ cũng mọc tràn lan đến nỗi cành lá của chúng cuốn lên đến tận trần nhà kính như thác lũ, nhưng vì ta cứ nghĩ, sinh viên cao học tâm huyết với nghiên cứu thực vật thế này thì cũng tốt, nên tận bây giờ vẫn giữ im lặng không hé lấy nửa lời.”
Trước mặt thầy Morooka đang ra sức bộc bạch suy nghĩ và tâm tình của mình, đồng thời mắng vốn về tình trạng của nhà kính, Kato thành thật khai nhận.
“À, cây dương xỉ đó là do em thích nên mới trồng đấy.”
Cậu chàng lại còn tỏ vẻ đặc biệt tự hào nữa chứ.
“Chúng có hương vị và chiều sâu khác hẳn loài xương rồng nên em cũng mê lắm.”
“Có thể trồng được nhiều loài thực vật có xuất xứ và điều kiện sinh trưởng khác nhau trong cùng một nhà kính, quả là một thành tựu vô cùng đáng khen đấy. Cậu giỏi thật nhỉ, cậu Kato.”
Morooka nghiến răng nghiến lợi nói. Liền sau đó, thầy ta lại lập tức quát tháo lên. “Chính vì vậy ta chịu hết nổi rồi! Con giun xéo lắm cũng quằn chứ!”
Mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda, bao gồm cả Fujimaru, đều co rúm lại trước Cự Thần Morooka đang há miệng phóng tia laser kia. Chỉ có mỗi Kato vẫn bình chân như vại, vẻ mặt của cậu trở nên khó hiểu như đang muốn hỏi, “Ơ kìa? Em đã nuôi trồng theo đúng quy trình của nhà kính rồi mà, sao thầy lại có vẻ giận dữ thế?” Matsuda cũng không còn cách nào khác ngoài cười trừ, “Đúng là mệt thật đấy.”
“Rốt cục thì nhà kính đã xảy ra chuyện gì khiến cho một người lúc nào cũng hiền lành như thầy đây phải nổi trận lôi đình thế này?”
Nghe Matsuda hỏi, Morooka lần này chỉ như quả bóng xì hơi, mặt thầy buồn xo.
“Môn của ta... môn của ta...”
Cơ thể thầy bắt đầu run lên bần bật.
“Môn là... tên thú cưng của thầy hả?”
Fujimaru thì thào hỏi.
“Tôi nghĩ ý thầy ấy đang muốn nói đến củ khoai môn đấy.”
Motomura khẽ đáp. “Nó là một loại khoai thuộc họ ráy, rất thường xuất hiện trong bữa ăn ở các nước thuộc khu vực nhiệt đới.”
Morooka vẫn không hay biết gì về đoạn trao đổi giữa Motomura và Fujimaru, thầy chỉ đang kể tiếp chuyện mình với vẻ bi thống tột cùng.
“Chúng nó héo hết cả rồi...!”
“Chính vì xương rồng và sen đá cứ mọc tràn lan nên chúng mới bị dồn vào một góc trong nhà kính, phần ngọn của chúng thì toàn bị dương xỉ đè lên. Rõ ràng là chúng bị héo vì thiếu ánh sáng.”
“Ra là vậy, nếu không thế thì đám khoai môn của thầy vẫn còn đang sống khoẻ.”
“Cũng có khả năng là thầy ấy quên tưới nước cho cây mà.”
Thấy mọi người bắt đầu xôn xao bàn tán, thầy Morooka buồn bã ỉu xìu.
“Xin lỗi thầy.”
Cả nhóm người phòng nghiên cứu Matsuda, lần này bao gồm cả Kato, đều hướng đến Morooka mà hối lỗi. Bị cuốn theo đám đông, Fujimaru lại phải đi tạ lỗi người ta.
“Cậu Kato. Mau đi dọn dẹp lại nhà kính để chừa chỗ cho phòng nghiên cứu Morooka đi.”
Nhận được mệnh lệnh của Matsuda, Kato gật đầu. “Vâng ạ.”
“Fujimaru có muốn lấy mấy cây xương rồng không?”
“Cậu cho thật hả?!”
Fujimaru ngẩng đầu lên với vẻ vui sướng. “Tôi cũng muốn thêm cây cỏ gì đó cho phòng mình. Cảm ơn cậu nhiều nhé.”
Thấy rằng cuộc chiến giành chỗ ở nhà kính rốt cục cũng có triển vọng, thầy Morooka mới tỏ vẻ hài lòng. Chỉ có điều, Motomura trộm nghĩ, “ngón tay xanh” của Kato thật sự rất mạnh, dù có dọn dẹp lại nhà kính thế nào đi nữa thì nó cũng sẽ trở về làm thiên đường của bọn xương rồng, sen đá và dương xỉ thôi. Nhưng dĩ nhiên là cô vẫn làm thinh, không nói điều dư thừa.
“Mà dù sao thì khoai môn của ta vẫn không sống lại được.”
Thầy Morooka lắc đầu, vẻ mặt như sắp thốt ra “Đành phải chịu thôi.”
“Ta muốn mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda nhất định phải chịu trách nhiệm cho việc này.”
Ông giáo sư này đang nói gì vậy? Mấy củ khoai môn chết ngắc rồi thì làm sao gọi hồn về được nữa? Cả hội ngơ ngác nhìn nhau. Trợ giảng Kawai thay mặt mọi người rụt rè giơ tay lên trước mặt Morooka.
“Nói đi, cậu Kawai.”
“Chịu trách nhiệm... tức là sao vậy ạ?”
Morooka lộ vẻ tươi cười như thể đã thực hiện được ý đồ của mình.
“Mọi người phụ ta một tay thu hoạch đám khoai lang là được.”
“Hả?!”
Dù chuyên môn của mọi người là Thực vật học, nhưng đối tượng của các thành viên phòng nghiên cứu Matsuda hầu hết đều là cây Arabidopsis thaliana. Mấy chuyện như đi thu hoạch hay làm nông đều quá đỗi xa vời với họ.
“Từ hồi mẫu giáo em chưa đi đào khoai lần nào ạ.”
“Nếu cần nhân lực thì chẳng phải phòng nghiên cứu của thầy cũng có sinh viên cao học đấy sao? Lại còn đông hơn cả bên đây nữa.”
Nhiều lời phản đối bắt đầu cất lên. Nhưng thú thực, bình thường chỉ mỗi việc nghiên cứu thôi cũng đã bận bịu lắm rồi, giờ còn phải đi đào khoai gì đó thì rõ là phiền phức. Thế nhưng, riêng Motomura thì lại không giống với các thành viên còn lại của phòng nghiên cứu, cô thật lòng muốn tham gia. Suốt ngày cứ ru rú trong phòng cũng không tốt cho lắm, vả lại, đi đào khoai lang nghe có vẻ cũng vui. Thi thoảng được vọc đất, được tiếp xúc với những loài thực vật khác ngoại trừ cây Arabidopsis thaliana, biết đâu bản thân sẽ phát hiện ra điều gì mới thì sao.
“Không thể chấp nhận được. Một đám ẻo lả như mấy cọng giá!”
Morooka quát hết những người đang càng ngày càng tỏ thái độ. “Mà không, nói thế thì cũng xin lỗi mấy cọng giá quá. Tóm lại là ngày mai, sáng bảy giờ các anh chị phải tập trung trước giảng đường vườn Y cho tôi! Nghe rõ hết chưa?”
“Hả!”
“Làm gì mà sớm dữ vậy!”
“Thái độ chuyên chế quá...”
Ai cũng làu bà làu bàu trong miệng.
“Ôi, mấy củ khoai môn số khổ của ta...”
Nhưng khi thấy thầy Morooka bắt đầu rên rỉ, mọi người đành phải chấp nhận hiện thực, dù nghi ngờ thầy đang giả vờ giả vịt.
“Dạ vâng, chúng em sẽ có mặt ạ.”
“Tốt quá, tốt quá rồi. Cộng thêm cả thầy Matsuda nữa là, để xem... sáu người nhỉ. Ta sẽ chờ mọi người vào ngày mai nhé.”
Morooka rời khỏi phòng nghiên cứu với vẻ dương dương tự đắc.
“Tất cả đều là do tôi chăm cây cỏ quá tốt, thành thật xin lỗi mọi người.”
Kato cúi đầu xin lỗi. Lời xin lỗi thì đúng là chân thành, không chút ác ý, dù giọng điệu không giấu nổi sự kiêu ngạo. Chẳng biết có phải do bản thân quá mải mê với đám xương rồng hay không mà những khi tương tác với loài người, Kato lại không giỏi dùng từ ngữ cho lắm.
Lúc mới vào cao học, Kato luôn rúc vào một góc phòng nghiên cứu với vẻ cực kỳ nhút nhát. Chỉ khi nói về cây xương rồng thì cậu mới chủ động mở miệng ra tiếp chuyện người khác. Trong vòng chưa đầy hai năm, thông qua nỗ lực hết mình, Kato dần dà mở lòng, để rồi giờ đây cậu có thể tham gia cười đùa với mọi người về những chủ đề khác ngoại trừ xương rồng. Song song với việc đó, khu nhà kính mà phòng nghiên cứu Matsuda không hay dùng đã hóa thành thiên đường cây xanh của riêng cậu.
Motomura rất hiểu sự cố gắng và tình yêu dành cho thực vật của Kato, người duy nhất có vai vế thấp hơn cô trong phòng nghiên cứu, vậy nên cô chỉ khẽ lắc đầu.
“Không cần phải xin lỗi đâu. Thật ra, ngay từ đầu tôi đã muốn đi thử rồi. Đào khoai nghe có vẻ vui lắm chứ.”
“Nói cũng phải.”
Kawai cũng gật gù. “Dù không tự tin mấy nhưng thôi, cứ đi thử xem sao.”
Tuy trước đó phàn nàn rất nhiều, nhưng cả Iwama cũng ước chừng rằng chuyện đi đào khoai này là cần thiết.
“Tôi không biết liệu mình có dậy sớm nổi hay không đây...”
Matsuda đẩy gọng kính lên, đoạn, thầy dùng tay xoa xoa hai bên đuôi mắt. “Trước tiên thì cậu Kato đi dọn dẹp lại nhà kính đã. Tôi cũng sẽ phụ một tay. Mọi người nếu có rảnh thì cũng đến nhé.”
“À này, xin hỏi...”
Fujimaru gia nhập cuộc trò chuyện với vẻ rụt rè. “Tôi... tôi phải thu thập xong muỗng nĩa rồi quay về Viên Phục Đình, nhưng có chuyện này tôi rất muốn hỏi mọi người...”
“Ồ, là gì đấy?”
Matsuda nhìn thẳng vào mặt Fujimaru.
“Giáo sư Trồng Khoai kia, ban nãy có nói là ‘sáu người’ nhỉ? Hình như ông ấy đã lỡ đếm chung tôi vào với mọi người rồi, giờ phải làm sao đây?”
Tất cả mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda chỉ biết ngửa mặt lên nhìn trần nhà.
***
Sáng hôm sau, bảy giờ, Matsuda và mọi người ở phòng nghiên cứu tập trung trước vườn giảng đường Y. Fujimaru của Viên Phục Đình cũng đi cùng.
Không ai có can đảm dám trình bày với Morooka rằng Fujimaru chẳng qua chỉ tình cờ có mặt ở hiện trường lúc đó thôi. Lỡ mà thầy ta biết nhân lực không đủ, dễ chừng thầy sẽ lại tức giận hoặc khóc than lắm.
Tình trạng của nhà kính không được ổn cho lắm. Matsuda vốn đến đó để phụ Kato một tay, nhưng phải tầm hai tiếng sau thầy mới về lại được phòng nghiên cứu.
“Đúng là tệ thật.”
Thầy nói với vẻ bất lực. “Không thể xử lý xong chỉ trong vòng hai, ba ngày đâu.”
Kết quả, để tránh bị thầy Morooka chửi mắng mãi về sau, Motomura buộc lòng phải gọi điện đến Viên Phục Đình ngay lập tức.
Cảnh tượng náo nhiệt bên trong tiệm giữa giờ cơm tối có thể nghe rõ mồn một qua ống nghe điện thoại.
Motomura vội nhanh miệng nhờ vả, “Bởi vì chúng tôi khó mà mở miệng giải thích với thầy Morooka nên nếu được, anh có thể đến giúp mọi người đào khoai không?”
Fujimaru thì chẳng hề nhận ra sự hoảng loạn của cô chút nào, anh vui vẻ đáp, “Cô chờ tôi một chút nhé.”
Đoạn, bên kia đường dây vang lên tiếng nhạc chờ trong khoảng không đến một phút. Giai điệu bài Lễ hội của Kitajima Saburo ngân nga với những âm thanh điện tử. Sau khi đoạn điệp khúc hùng tráng của bài nhạc chuyển thành âm thanh “bíp bíp”, Motomura đang trộm nghĩ, kỳ này vô vọng rồi, thì bỗng nhiên:
“Alô, cô Motomura?”
Fujimaru đã trở về bên ống nghe điện thoại. “Sư phụ đồng ý vụ này rồi nên không sao hết nha. Sáng mai tôi cũng sẽ đến đào khoai với mọi người.”
Vì lẽ đó, Fujimaru – chàng trai luôn phát huy hết mức lòng tốt của loài người – cũng chạy đến trước vườn giảng đường Y từ lúc trời còn tinh mơ. Thêm vào đó, mọi người ai cũng mặc bộ áo liền quần màu xám. Đó là đồ lao động mà các sinh viên cao học ở chỗ Morooka đã cho phòng nghiên cứu Matsuda mượn từ chiều hôm trước. Có vẻ như phòng nghiên cứu Morooka thường có sẵn đồ lao động thế này vì họ phải làm việc đồng áng khá nhiều.
Nhà Motomura gần trường nên không gặp mấy khó khăn khi phải dậy sớm hơn thường lệ một chút. Cô chỉ thấy tiếc vì thời gian trò chuyện với đám cây cảnh của mình bị ít đi thôi. Cây hoa trạng nguyên hôm nay vẫn xanh tươi khỏe mạnh.
Thế nhưng, Iwama vì mất những một tiếng ba mươi phút để đến trường nên đang trong tình trạng không mở mắt nổi.
“Tôi đến đây bằng chuyến tàu điện sớm thứ hai của ngày đấy. Tại vậy mà không kịp trang điểm gì luôn. Ở tuổi này mà lại... Không thể tin được.”
Thấy Iwama than vãn như thế, Kato liền mời cô một lon cà phê nóng. Kawai thì xem chừng đã lên mạng tìm hiểu phương pháp thu hoạch khoai lang từ trước đó, anh đang đọc tờ giấy in mà mình vừa lôi ra từ trong túi.
“Trong đây ghi là, ‘Đầu tiên phải cắt dây leo rồi mới bắt đầu đào’, nhưng chẳng phải dây leo chính là tài liệu quan trọng đối với phòng nghiên cứu của thầy Morooka đấy sao? Chúng ta nên làm thế nào đây?”
Matsuda từ đầu đến giờ không hé một lời. Mặt mũi thầy tái mét như đang bị hạ đường huyết, đầu thì cứ lắc qua lắc lại.
“Hình như thầy mình đang đứng ngủ đấy, không biết có sao không đây...”
Motomura đứng bên cạnh nói với Iwama.
“Vậy thì đến đó đánh thức thầy ấy dậy là được.”
Iwama vừa ngáp một cái rõ to vừa đáp.
“Nhắc mới nhớ, thầy mình rốt cục là sống ở đâu ấy nhỉ?”
Nghe Kato hỏi vậy, người quen với Matsuda lâu nhất là Kawai cũng đành phải lắc đầu.
“Xung quanh đời sống cá nhân của thầy Matsuda toàn là bí ẩn thôi.”
“Fujimaru này, cậu hỏi thử xem.”
Bị Iwama gọi lại như thú cưng, Fujimaru chỉ biết rón rén nhìn bộ dạng thầy Matsuda trong bộ đồ lao động màu xám đang lắc lư với vẻ không bình thường cho lắm.
“Tôi không dám ạ. Trong phim hay có mấy nhân vật kiểu vậy xuất hiện lắm. Họ tự xưng là ‘Kẻ thanh trừng’, chuyên đi hủy thi diệt tích...”
“Ghê, thiệt luôn hả?”
“Thầy ấy xem chừng rất giống á.”
Đúng lúc mọi người đang xôn xao cười giỡn với nhau thì thầy Morooka bỗng đi tới từ phía tòa nhà B. Thầy ta cũng mặc một bộ đồ lao động màu xám, trên tay ôm mấy cái giỏ như giỏ đi siêu thị.
“Chà chà, chào cả nhà. Đã để mọi người chờ lâu rồi.”
“Chào buổi sáng ạ.”
Mọi người đồng loạt cất tiếng chào thầy Morooka, người đang đứng quay lưng lại với cửa ra vào khu vườn giảng đường Y. Còn Matsuda thì chắc vì vẫn chưa tỉnh hẳn nên chỉ thấy miệng thầy lép nhép gì đó.
Motomura và Fujimaru đỡ lấy mấy cái giỏ mà thầy Morooka đang ôm. Chắc là để đựng khoai lang thu hoạch được đây mà. Tổng cộng có bảy cái.
“Thầy ơi...”
Iwama cất tiếng hỏi với vẻ lưỡng lự. “Mấy sinh viên cao học ở chỗ thầy Morooka đâu rồi ạ?”
“Hội đó hôm nay đi thu hoạch ở cánh đồng bên khu Itabashi rồi.”
“Vậy tức là... bây giờ chúng em cũng di chuyển đến Itabashi đúng không ạ?”
Trước câu hỏi của Kawai, thầy Morooka chỉ lắc đầu, “Không, không.”
“Chỗ mấy anh chị đào khoai là đằng kia kìa.”
Nhìn theo hướng mà Morooka chỉ, bọn Motomura thảng thốt.
“Hảaaaaa?!”
Vườn giảng đường Y được hoàn công vào năm 1925, vốn là biểu tượng của Đại học T. Không những tường của nó được xây bằng loại gạch đỏ, mà nhìn từ chính diện còn thấy một tòa tháp hình chữ nhật vô cùng uy phong lẫm liệt mọc lên ở chính giữa tòa nhà. Tuy nhiên, mặt sau lại có một khu nhà vòm hình bán nguyệt, khiến cho tổng thể tòa nhà nhìn từ mặt bên trông như dáng đứng của một quý phu nhân. Tòa tháp chính là nửa thân trên của quý bà đang đứng nghiêm với tư thế vô cùng khoan thai. Phần mái vòm chính là chân váy bồng bềnh chiết eo của bà.
Đằng trước vườn giảng đường Y chính là khu quảng trường có bãi cỏ khá nhỏ. Xung quanh bãi cỏ mọc nhiều dây leo nom như đã được bàn tay con người chăm sóc. Nơi mà Morooka chỉ tay chính là một góc bãi dây leo ấy.
“Quả nhiên...”
Kawai lạc cả giọng. “Tôi đã thắc mắc sao chỗ dây leo ấy giống dây khoai lang thế. Nhưng mà, ngay trước vườn giảng đường Y sao?!”
“Thầy đã được ban giám hiệu cho phép chưa vậy?”
Iwama cũng nhìn thầy Morooka với vẻ ngờ vực.
“Ai biểu chỗ này có nhiều ánh sáng nhất trong cơ sở Hongo.”
Hiếm thấy là, thầy Morooka không trả lời vào thẳng câu hỏi.
Cả hội bắt đầu đeo găng tay mang theo từ trước vào, rồi từng người cầm lấy cái bay và giỏ siêu thị lên, đi đến khu dây leo trước mắt. Chính là khu dây leo ở góc quảng trường, xa khỏi cổng vào vườn giảng đường Y nhất. Hai rãnh khoai lang được trồng ngay ngắn ở khoảnh đất được cày xới chạy dọc bãi cỏ. Chiều dài từng rãnh khoai ước chừng phải tới năm mét hơn.
Nhìn chòng chọc vào mớ lá xào xạc mỏng dính có hình trái tim mọc đầy trên mặt đất, Kato nói.
“Đúng là trước giờ không để ý tới luôn.”
Đam mê của Kato hầu như chỉ xoay quanh xương rồng và sen đá thôi, nên dù lá khoai lang có đập vào tầm mắt cậu đi chăng nữa thì cũng không bao giờ có chuyện não bộ cậu có thể nhận biết được đây là gì.
Còn mình thì sao, Motomura thầm nghĩ. Bản thân cô cũng hoàn toàn không nhận ra trước vườn giảng đường Y là cả một ruộng khoai lang. Motomura thường sẽ đi tản bộ quanh khu giảng đường để thay đổi tâm trạng mỗi khi thấy mệt mỏi với việc nghiên cứu trong nhà. Cô đã đi ngang qua trước vườn giảng đường Y không biết bao nhiêu lần. Thậm chí vào những hôm trời đẹp, cô còn mang cả cơm hộp ra bãi cỏ ngoài quảng trường ngồi ăn nữa cơ.
Ấy vậy mà cô lại nhìn lướt qua lá khoai lang mà chẳng hề hay biết rằng, ngoại trừ đám dây leo họ đỗ quyên kia thì bãi cỏ còn trồng loại thực vật khác. Sự chủ quan đã khiến cô bỏ lỡ một sự thật rành rành, và dập tắt bản năng cơ bản là thắc mắc khi bắt gặp một hiện tượng khác thường. Cứ thế này thì dù có quan sát tế bào cây Arabidopsis thaliana bao nhiêu đi nữa thì cô e mình cũng không thể nắm được cái cốt lõi của nó.
Motomura lấy Arabidopsis thaliana làm đối tượng nghiên cứu vì nó là thực vật kiểu hình. Cô nghĩ rằng nếu được thì thông qua việc quan sát và nghiên cứu cây Arabidopsis thaliana, cô sẽ có thể lý giải tường tận về toàn bộ giới thực vật, giải được câu đố về sự sinh trưởng và cơ chế hoạt động của phiến lá. Đó là điểm khác biệt giữa cô và Kato, người vốn chỉ nghiên cứu chuyên về mảng “gai xương rồng”.
Kato không nhận dạng được lá khoai lang thì cũng đành, nhưng mình thì không được. Phải nhạy bén hơn nữa khi quan sát các loại thực vật thôi.
Motomura vừa răn dạy bản thân vừa ngồi xổm xuống nhòm vào mấy chiếc lá khoai trong bụi dây leo. Ở chỗ gần tiếp giáp với mặt đất, mấy chiếc lá lớn nhỏ đang cố hết sức ngẩng mặt đón lấy ánh mặt trời. Dù có phải chen chúc đi nữa, nhưng để tránh cản trở nhau, cuống lá của mỗi chiếc có độ dài rất khác. Những chiếc lá có cuống dài đều vươn lên khỏi những chiếc lá xung quanh. Những chiếc lá có cuống ngắn cũng có chỗ để ngẩng đầu với chúng bạn.
Đáng ngưỡng mộ làm sao, cô chợt nhân hóa chúng lên và cảm thấy xúc động. Bọn mày thông minh quá, Motomura trầm trồ. Thực vật không có não bộ, cũng không có đầu hay đuôi, thế mà chúng vẫn cần đến thủ thuật để sinh tồn và để chung sống hòa thuận với nhau. Dù có nghĩ rằng chúng khôn ngoan hơn cả loài người thì cũng chẳng có gì quá đáng.
Nhưng cô cũng cảm nhận được sự cách biệt giữa thực vật và con người. Motomura là con người, nên cô không thể bỏ cái thói cố gắng thấu hiểu các loài thực vật thông qua lý lẽ và cảm xúc của loài người. Mặt khác, thực vật vì không có não bộ cũng không có cảm xúc nên chúng hoàn toàn thờ ơ trước suy nghĩ của Motomura, chỉ biết nảy nở sum suê cành lá, điều chỉnh độ dài những chiếc cuống của mình và cắm rễ thật sâu xuống lòng đất. Tất cả chỉ để có thêm nhiều ánh sáng và nước khoáng, hòng kéo dài sinh mệnh đến đời sau. Chúng không sử dụng từ ngữ, biểu cảm hay động tác gì, chỉ đơn giản hoạt động theo một cơ chế phức tạp mà nhân loại không tài nào đoán xuể.
Nghĩ đến đó, Motomura lại nhận thấy thực vật rõ là một loài sinh vật vừa quái gở lại còn bí ẩn vô cùng. Motomura sẽ không bao giờ có thể thấu hiểu chúng, dù cô có mong mỏi điều đó đến thế nào đi nữa. Dù mấy chiếc lá khoai lang kia có thấy Motomura nom có vẻ hơi đáng sợ thì cô cũng không biết. Chúng làm sao nghĩ đến việc mình sắp bị đào lên, tận giờ phút này vẫn rất khỏe khoắn mà quang hợp.
Cách Motomura một khoảng không xa, Fujimaru cũng đang ngồi xổm ngắm nghía đám lá khoai. Chợt nghe thấy Fujimaru reo lên một tiếng nho nhỏ, Motomura mới ngẩng đầu lên nhìn về phía anh.
“Gân lá giống hệt màu của vỏ khoai luôn này. Thú vị thế.”
Fujimaru chỉ đang tự lẩm bẩm một mình, đoạn, anh ghé mặt sát lại gần đám lá hơn nữa để có thể chăm chú so sánh mấy chiếc lá với nhau.
Motomura cũng nhìn lại mấy chiếc lá chỗ mình. Nói ra mới thấy. Gân lá chằng chịt trên phiến lá có dạng hình trái tim màu phấn hồng nhàn nhạt, như thể đang báo hiệu với mọi người rằng, “Những củ khoai có màu thế này đang lớn lên trong lòng đất đấy.”
Khi nhìn vào mấy đường gân lá nom như mạch máu, cảm giác quái gở ban đầu cô cảm nhận được lại dần dà nảy lên trong lòng. Thực vật quả nhiên đang sở hữu cơ chế hoạt động khác biệt hoàn toàn so với con người. Chúng sinh trưởng trong một thế giới nơi mà “lẽ thường” của nhân loại sẽ không bao giờ có thể chạm tới. Thế nhưng, vì đều là những sinh vật cùng nhau tiến hóa trên Trái đất nên cũng không thể tránh khỏi việc loài người và chúng chia sẻ rất nhiều điểm chung.
Ngay lập tức kết luận những thứ mình không hiểu, có phần khác biệt với mình là “quái dị” và “đáng sợ” để rồi xa lánh chúng, đó chính là khuyết điểm của mình. Cũng không hẳn, có lẽ nên nói đó là khuyết điểm chung của toàn nhân loại thì đúng hơn. Motomura lại mải cảnh tỉnh bản thân. Tuy có thể nói rằng, loài người chính vì có được tình cảm và suy nghĩ nên mới sinh ra tật xấu này, nhưng cũng chính tình cảm và suy nghĩ sẽ giúp chúng ta vượt qua những thứ cảm xúc như “quái gở quá” hay “đáng sợ thật”, nhằm thực sự hiểu được đối phương. Tại sao “tôi” và “bạn” lại khác nhau đến vậy? Muốn phân tích và chấp nhận được điều đó, ta phải cần đến lý trí và tri thức. Để có thể tôn trọng điểm khác biệt của nhau, không thể vắng bóng thứ tình cảm làm ta biết nghĩ cho người khác.
Nếu có thể trở thành loài sinh vật không có não bộ cũng không có tình cảm như thực vật thì sẽ tự do tự tại biết dường nào. Motomura thở dài đánh thượt. Thật mỉa mai làm sao, thực vật vốn là loài không có suy nghĩ và cảm tình, thế mà lại dễ dàng chấp nhận kẻ khác và sống một cuộc đời ung dung hơn nhân loại nhiều.
Dù là thế đi chăng nữa thì anh Fujimaru cũng là một người rất tuyệt vời. Motomura thầm nghĩ. Trong lúc mình đang mải ngẩn ngơ suy nghĩ, anh Fujimaru đã cầm lấy những chiếc lá khoai với hình dạng vốn dĩ của chúng và phát hiện ra màu của vỏ khoai được phản chiếu trên từng phiến lá. Anh ấy trông vô tư như vậy mà lại có ánh mắt sắc bén vô cùng. Anh Fujimaru ắt hẳn sẽ không bao giờ phán xét người ta, hay cái gì đó, là “thứ quái gở” đâu. Dù có thoáng nghĩ thì anh cũng sẽ ngay lập tức “Gượm đã, gượm đã” và bắt đầu chăm chú quan sát, suy tư thật nhiều điều, để rồi cuối cùng cũng tiếp nhận đối phương như cách mà họ vốn dĩ đã thế. Bởi vì anh là một người rộng lượng lại hiền từ.
Cô vừa mải nhìn Fujimaru vừa cảm thán trong lòng nên khi Fujimaru phát giác ánh mắt ấy của cô, Motomura chỉ biết cười ngượng ngùng. Trông anh như đang nghĩ rằng vẻ ấu trĩ của mình đã bị cô bắt gặp. Motomura muốn giải thích với anh rằng không phải thế đâu, nhưng vì trước đó cô đã cự tuyệt anh rồi, nên bây giờ Motomura vô cùng bối rối không biết có nên tỏ thái độ gần gũi với Fujimaru hay không. Rốt cục thì cô chỉ làm thinh cúi gằm mặt xuống.
Morooka và Matsuda, giờ đây đã đánh bay cơn buồn ngủ, đang đứng trao đổi với nhau trước đám khoai lang.
“Thầy trồng được nhiều quá nhỉ. Là khoai beni-haruka ạ?”
“Đúng vậy. Chỉ mỗi góc này là khoai beni-azuma[17] thôi.”
Morooka chỉ tay về một góc của bãi khoai. “Dạo gần đây bọn sinh viên không còn thiếu thức ăn nữa hay sao mà một ruộng khoai lang đầy um ngay trước mắt thế này cũng chẳng có tên trộm khoai nào. Thời nạn đói thì làm gì tưởng tượng nổi chuyện đó.”
“Giáo sư Morooka và cả tôi đều không phải lứa đã từng trải qua nạn đói mà?”
“Thì nói thế thôi. Mỗi lần nhìn vào mớ lá khoai ta đều ngứa tay muốn đào hết lên ấy. Thầy Matsuda không phải cũng thế sao?”
“Không ạ, tôi sẽ không bao giờ đi đào khoai trộm đâu. Bởi vì đây là những củ khoai thầy Morooka đã phải vất vả gieo trồng.”
Hai người thân thiết với nhau thật. Nghe lỏm được cuộc trò chuyện trên, Motomura mới biết rằng Matsuda đã để ý thấy trước vườn giảng đường Y có cả một ruộng khoai lang. Cô lập tức xốc lại tinh thần, “Quả nhiên, mình cần phải mài giũa thêm khả năng quan sát mới được.”
“Nào nào, tất cả mọi người. Bây giờ ta sẽ giảng cho mọi người nghe cốt lõi của việc đào khoai.”
Morooka cất cao giọng. Motomura và Fujimaru đều đứng dậy. Mọi người xếp thành hình vòng cung, tập trung trước mặt thầy Morooka.
“Đầu tiên, ta sẽ xử lý đám dây leo phiền phức này.”
Nói đoạn, thầy Morooka với tay ra sau lưng để tóm lấy cán lưỡi liềm mà mình giắt trên người. Có vẻ như thầy đã giắt nó ở chỗ dây nịt của bộ đồ lao động rồi mang theo đi đến đây.
“Cẩn thận, cẩn thận!”
“Thầy đừng có tay không bắt lấy lưỡi liềm như thế!”
“Sao mấy vị giáo sư khoa Thực vật học toàn là những người giống ‘Kẻ thanh trừng’ vậy nè?”
Mọi người đồng loạt nháo nhào hết cả lên. Mà dĩ nhiên là Morooka chả thèm để tâm gì đến cả hội rồi. Thầy trông phấn khởi khi đứng trước ruộng khoai đang nghênh đón mùa thu hoạch này.
“Chúng ta chỉ chừa lại một đoạn cành thôi, để mọi người có thể lấy đó làm mốc rồi hẵng bắt đầu cầm bay xúc đất lên. Mấu chốt là không được đào khoảnh đất ngay phía dưới cành. Bởi vì sẽ chọc phạm phải củ khoai. Hiểu hết chưa? Đo khoảng cách bằng một bàn tay tính từ cành lá, nhớ là phải nhẹ nhàng đào ngay vị trí đó nhé.”
“Đã rõ ạ.”
“Vừa đào đất, vừa lấy tay còn lại kéo dây khoai lên, để các củ khoai khác trồi lên mặt đất.”
Chỉ đơn giản thế thôi sao? Cả nhóm Motomura nhìn nhau với ánh mắt vừa hoang mang vừa đầy vẻ ngờ vực, nhưng mọi người chỉ đành ngoan ngoãn mà đáp lại thầy ta bằng một tiếng dạ.
“Một khi giỏ đã đầy rồi, mọi người hãy mang chúng đến tòa nhà B. Ta đã trải sẵn chiếu ở mặt tiền tòa nhà, mọi người cứ xếp khoai ra đó để gió hong khô chúng. Chỉ cần mặt ngoài chúng được tiếp xúc với độ ẩm là sẽ dễ bảo quản hơn.”
“Thầy trồng tới hai loại khoai phải không ạ?”
Motomura cất tiếng hỏi. “Lỡ như chúng em trộn lẫn hai loại khoai với nhau thì sao ạ? Thầy có phương pháp nào để chúng em có thể phân biệt chúng không?”
“Miễn cưỡng mà nói thì khoai beni-haruka có vỏ ngoài sậm màu hơn, nhưng vì bị vùi trong lòng đất nên chắc trong mắt mọi người thì chúng đều như nhau nhỉ? Phòng nghiên cứu của ta sẽ phân loại chúng sau nên mọi người đừng lo lắng quá.”
Không biết có phải do thầy Morooka sốt ruột quá không mà chân thầy đã giẫm lên bãi khoai trong lúc còn đang nói chuyện. Thầy đứng khom lưng giữa mấy luống khoai, vừa vạch bụi khoai lang sum suê ra vừa thô bạo phạt lưỡi liềm xuống mấy đoạn dây leo.
“Nào mọi người, mau đào lên đi!”
Được Morooka đốc thúc, cả nhóm Motomura cũng sà vào bụi cây. Matsuda thì giúp thầy Morooka gom đám dây leo bị cắt đứt ra một chỗ. Thầy buộc chúng lại với nhau bằng mấy sợi dây để dễ ôm tới ôm lui. Tuy rằng ban nãy ngủ gật đôi chút, nhưng có vẻ như thầy vẫn chuẩn bị sẵn vật dụng cần thiết cho vụ đào khoai này.
“Không có dấu hiệu để biết củ khoai nào nằm dưới đoạn dây leo nào ư?”
Kawai hỏi với vẻ lo lắng.
“Không sao đâu, không sao.”
Thế mà Morooka chỉ lo mải mê hùng hục làm cỏ đám dây leo. “Mọi người cứ thu hoạch khoai là được rồi.”
Sau khi cắt hết lá và dây leo thì chỉ còn sót lại một đoạn cành dài khoảng 15 centimet, nom như khúc cây vớt cá vàng được làm từ đũa gỗ dùng một lần vậy. Đoạn cành trồi ra khỏi phần rãnh giữa mấy luống khoai.
“Làm thôi chứ?”
Iwama vỗ vỗ hai bàn tay đang đeo găng của mình. Bụi bám trên đôi găng lơ lửng nhảy múa trong nắng sớm.
Thời tiết hôm nay đẹp thật. Bên dưới vòm trời có màu xanh nhàn nhạt, nhóm Motomura ngồi xổm dọc theo từng luống khoai rồi bắt đầu đào đất. Cái rét sớm tan đi ngay khi cả hội bắt tay vào việc. Ánh ban mai khẽ khàng xoa trên lưng từng người. Ngay cả đám bùn đất chui vào bên trong găng tay cũng phảng phất hơi ấm.
Vẫn còn lâu tiết học mới bắt đầu nên sân trường khá vắng lặng, đến nỗi chỉ loáng thoáng có tiếng xe chạy ngoài đường Hongo ùa vào vườn giảng đường Y, vốn được xây ở vị trí trung tâm của khoa. Thi thoảng cũng xuất hiện vài sinh viên đi ngang qua bãi cỏ ở quảng trường trên đường đến khu giảng đường. Có người đưa mắt nhìn cả hội với vẻ ngờ vực như đang tự hỏi “Mấy người này đang làm trò gì vậy?”, cũng có người nhanh chóng lướt qua mà chẳng màng gì đến sự tồn tại của bọn Motomura.
A, mình cũng đã từng bỏ qua đám khoai lang như thế. Vừa nghĩ vậy, Motomura vừa cẩn thận lấy bay xúc đất từ luống khoai lên. Lớp đất mềm hơn cô tưởng nên Motomura không tự tin cho lắm trong khoản dùng lưỡi bay cảm nhận vị trí của mấy củ khoai. Tay trái còn rảnh của cô nắm lấy đoạn cành còn lại rồi thử kéo mạnh nó lên, thế nhưng vẫn chẳng có gì xuất hiện cả. Không biết là do sức lực của cô quá yếu hay do mấy củ khoai quá cứng đầu nữa.
Hết cách, cô đành phải xới tung luống khoai xung quanh đoạn cành lên rồi sau đó dùng tay bới đất. Ngay lập tức, đào ra rồi đào ra. Bộ rễ khỏe mạnh bên trong lòng đất đã phình to thành sáu, bảy củ khoai lang lớn nhỏ. Mặc dù cô không rõ đây là khoai beni-haruka hay beni-azuma, nhưng ngay cả khi củ nào củ nấy đều lấm lem bùn đất, vỏ ngoài đỏ thẫm của chúng vẫn trơn bóng mượt mà. Củ nào cũng dài hơn cả mặt của Motomura, to đến mức tay cô cầm không hết.
“Oa!”
Motomura mừng rỡ. Sau khi xác nhận rằng trong đất không còn khoai sót lại, cô lập tức chuyển sang cành khác ngay. Cô dùng bay xúc luống khoai lên rồi lấy tay bới đất. Lúc đã quen với nhịp điệu của thao tác, Motomura liên tiếp đào hết củ khoai này đến củ khoai khác.
Fujimaru cũng đào khoai loanh quanh Motomura. Hai người chẳng hề bàn trước, thế mà bằng cách nào đó vẫn lúi húi làm việc ở cự ly cách nhau chỉ một đoạn cành. Fujimaru nắm lấy cành khoai rồi hò dô một tiếng, giật phắt lên. Nhưng xem chừng trong lòng đất còn sót mấy củ khoai bị đứt ra nên cuối cùng thì anh vẫn phải dùng tay bới luống khoai lên để tìm cho hết. Nom bộ dạng anh hệt như một chú chó bự con đang hì hục chơi đào cát trên bãi biển vậy, đáng yêu hết sức.
Kato thì lại la oai oái có giun ở luống khoai đối diện. Iwama đang đào khoai ở luống đất chung với Kato liền quay sang mắng cậu đàn em rằng la lối cái gì, đoạn, cô bắt lấy con giun văng sang chỗ mình rồi trả nó về với đất. Kawai thì vừa bận gom vào rổ mớ khoai lang mà mọi người đào được, vừa bận thao tác cái bay một cách điêu luyện để đào khoai.
Sau khi Morooka phát sạch sẽ mớ dây leo và Matsuda hoàn thành việc buộc chúng lại, họ bắt đầu cày xới luống khoai từ hướng ngược lại với nhóm Motomura. Hai người vừa cầm khoai mới đào vừa trò chuyện vui vẻ với nhau không khác gì khi trước.
Liếc thấy tình hình đó, Kawai liền lầm bầm trong miệng:
“Ruộng khoai này chắc chắn là chả liên quan gì đến chuyện nghiên cứu sất.”
“Ý anh là sao?”
Motomura ngơi tay một tí để nhìn sang Kawai ở phía đối diện.
“Thu hoạch khoai mà không lưu lại dây leo với cành, cô có thấy kỳ lạ không? Tôi đồ rằng, vốn dĩ ruộng khoai được dùng cho mục đích thí nghiệm là ở khu Itabashi cơ. Huống hồ khoai lang là loại biến dị rễ nữa chứ. Xét từ góc độ đề tài nghiên cứu thì chẳng phải thầy ấy nên gieo trồng khoai tây, vốn là loại biến dị cành sao? Suy ra thì thứ được trồng ở đây chỉ là mớ khoai lang mà thầy Morooka muốn lấy ăn ở phòng nghiên cứu thôi.”
“Nghe cũng hợp lý phết.”
Iwama cũng nhảy vào cuộc tán gẫu. “Hôm qua, lúc thầy Morooka nổi đóa với bọn mình ấy, chắc chắn là thầy ta đang diễn kịch. Bởi vì sức lao động không đủ nên thầy mới tính lôi chúng ta đi thu hoạch khoai hộ.”
“Thế nghĩa là... em bị mắng oan uổng?”
Kato cũng cất lời với giọng đáng thương. “A, nhưng mà, giả sử thầy Morooka có không thật sự nổi giận đi nữa thì em vẫn phải đi sửa sang lại nhà kính thôi.”
“Đúng rồi, cậu vẫn nên dọn dẹp lại nhà kính thì hơn.”
“Phải đó. Vốn dĩ là mỗi bên một nửa, vậy mà cậu Kato lại nỡ lòng nào đi xâm chiếm lãnh thổ của người khác.”
Thấy Kawai và Iwama cùng hùa nhau trêu mình, Kato đành phải ỉu xìu quay lại đào khoai.
Khoa Sinh vật học thuộc ban nghiên cứu Khoa học Tự nhiên của cao học T có tổng cộng ba mươi phòng nghiên cứu. Trong số đó, có năm phòng nghiên cứu đang tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực Thực vật học như của giáo sư Matsuda và giáo sư Morooka.
Nói thì nói thế, nhưng rất khó để có thể vạch ra ranh giới rõ ràng giữa thực vật và động vật – trong đó có con người. Nếu thử nghiên cứu từ góc độ gen di truyền thì giới nấm cho đến giờ vẫn bị gán “vì không động đậy, nên chúng là thực vật”, nhưng xét về mặt tiến hóa thì quá trình của loài nấm lại giống với động vật hơn. Chính vì lẽ đó, các nghiên cứu ở mảng thực vật bây giờ đa số vẫn bị xếp vào ngành lớn là “Sinh vật học” hay là “Khoa học Sinh vật” mà thôi.
Khoa Sinh vật học tính ra có tới ba mươi phòng nghiên cứu, ngoài năm phòng nghiên cứu về mảng thực vật vừa nêu, nó còn phân nhánh ra thành nhiều lĩnh vực như vi khuẩn, nấm men, cá và hươu nữa.
Dù sao thì chúng vẫn rất khác với những ngành như Vật lý học phân tử, thường sẽ không cần đến một lượng nhân lực khổng lồ hay là trang thiết bị thử nghiệm hoành tráng. Ngành Sinh vật học vào mấy năm gần đây cũng bắt đầu có nhiều tổ đội nghiên cứu về mảng so sánh các hệ gen trên diện rộng. Không dám nói ngoa, có cả trường hợp phần đầu của một bài nghiên cứu đề tên cả trăm vị tác giả cùng cộng tác thực hiện. Mà phòng nghiên cứu Matsuda ít nhiều gì cũng được cái ấm cúng.
Phòng nghiên cứu Matsuda và phòng nghiên cứu Morooka ngoại trừ chuyện đều lấy đối tượng nghiên cứu là những đề tài đã được phân loại một cách rõ ràng vào mảng “thực vật”, lần lượt là “phiến lá” và “khoai”, thì tự thân hai bên đều là hàng xóm láng giềng, thành viên của mỗi phòng thường thường đều có giao tình khá thân thiết.
Vì lẽ đó nên mọi người sẽ không ngại giúp bên kia đi đào khoai, Motomura trộm nghĩ. Thầy Morooka không cần diễn một màn kịch khuấy động như thế, chỉ cần đến hỏi nhờ mọi người một tiếng đàng hoàng là được mà. Ờ thì, chắc là bản thân thầy ấy cũng thật lòng muốn nhà kính được chỉnh đốn lại. Làm sao để vừa có được một cái nhà kính gọn gàng, vừa có nhân sự đi đào khoai mà không cần phải làm ầm ĩ lên? Vở kịch nho nhỏ thầy đã nghĩ ra cho thấy Morooka rõ là một người rất biết cách dụ dỗ người khác.
Phòng nghiên cứu Matsuda và phòng nghiên cứu Morooka lúc nào cũng là quan hệ anh thiếu gì tôi cho nấy, nên cả bọn cũng không phiền lắm với vụ này. Có điều, Fujimaru vốn chỉ vô tình bị cuốn vào sự việc mới phải đi đào khoai phục vụ cho chuyện ăn uống của phòng nghiên cứu Morooka. Anh đang nghĩ gì trong đầu nhỉ? Không biết anh có thấy phiền không, Motomura len lén nhìn về phía Fujimaru đang đứng cạnh cô.
Nhất định là anh có nghe lỏm được cuộc đối thoại của hội Kawai, thế nhưng Fujimaru vẫn chẳng tỏ vẻ phiền lòng, chỉ chuyên tâm hì hục kéo dây khoai. A, anh Fujimaru đúng là lành tính quá mà, Motomura không khỏi thán phục, tâm tình lo âu nãy giờ cũng hết hẳn.
“Cũng kha khá rồi đấy.”
Iwama thở dài khi xếp mớ khoai vừa đào lên mặt đất. “Mới sáng sớm đã đi đào khoai, không biết ban giám hiệu mà nhìn thấy có nổi giận không đây...”
Đúng lúc Fujimaru đang hùng hục kéo một củ khoai khác. Đoạn, anh giơ mu bàn tay lau mồ hôi trên trán, rồi lần đầu tiên trong ngày mới mở miệng hỏi, “Ô, thế cơ ạ?”.
“Giáo sư Khoai thì đương nhiên phải trồng khoai và đào khoai rồi, có thể gây ra chuyện gì được chứ?”
“Để phục vụ cho việc nghiên cứu thì được, còn nếu chỉ để ăn thôi thì...”
Kato nói với vẻ rụt rè.
“Lại còn ở ngay trước vườn giảng đường Y nữa chứ...”
Iwama cũng nhún vai. Đó là điệu bộ mà cô học được từ thời du học bên Mỹ. Motomura nghĩ rằng cử chỉ ấy của cô vô cùng ngầu, thế là, một tay còn cầm bay xúc, cô cũng thử bắt chước theo, kết quả lại thành ra bộ dạng vụng về, trông hệt như mấy người đang cố thư giãn cơ vai vậy. Cô thầm thất vọng.
May thay, không ai chú ý tới thử nghiệm nho nhỏ vừa rồi của Motomura cả.
“Tại lối ra vào của vườn giảng đường Y sẽ có bảo vệ đến đứng vào giữa trưa.”
Kawai giải thích cho Fujimaru hiểu. “Để không cho người ngoài tự tiện ra vào. Thầy Morooka vì muốn tránh mặt nhân viên bảo vệ nên mới bắt chúng ta phải đi vào sáng sớm thế này.”
“Ồ, thì ra chỗ này an ninh nghiêm ngặt đến thế?”
Fujimaru ngước lên nhìn vườn giảng đường Y với vẻ trầm trồ ngưỡng mộ. “Hoành tráng quá vậy, tòa kiến trúc cổ có khác.”
“Bởi vì nó được công nhận là di sản văn hóa mà. Thời nổ ra cuộc đấu tranh ở Đại học T, sinh viên biểu tình đã đứng đông nghẹt để chống lại quân cơ động đấy. Tòa nhà này còn có ý nghĩa về mặt lịch sử.”
“Hả? Có cả chiến tranh á? Ở tòa nhà này ư?”
“Không phải chiến tranh, mà là cuộc vận động sinh viên...”
Kawai vốn tính giải thích thêm nhưng cuối cùng lại quyết định giữ im lặng. Chắc là anh đang cảm nhận được khoảng cách thế hệ giữa mình và Fujimaru nên mới thấy không ổn rồi bỏ cuộc. Motomura nghe lỏm hai người nói chuyện, tính xen vào nhưng bản thân cô cũng không hiểu biết nhiều về thời đại đầy rẫy các cuộc biểu tình của sinh viên.
Vườn giảng đường Y có hẳn một khoảng không gian vừa thông thoáng lại vừa tĩnh lặng, bao bọc lấy quảng trường và bãi cỏ. Thế nhưng, lồng ngực của những thanh niên tụ tập trước tòa nhà này đã từng cháy lên những nỗi niềm: hi vọng, buồn tủi, nhiệt huyết và cả mỉa mai. Đến tận bây giờ có lẽ điều ấy cũng chưa hề đổi thay.
Fujimaru dù không hiểu cho lắm, nhưng anh cũng đã ý thức được rằng vườn giảng đường Y là một tồn tại mang tính biểu tượng của Đại học T.
“Tự tiện trồng khoai lang trước một tòa nhà như vậy, chẳng trách bị mắng ha.”
Đoạn, anh tự gật gù một mình. “Giáo sư Khoai chắc là cũng đã từng đắp thành lũy đấu lại quân cơ động. Có khi là vì ký ức ấy nên thầy ta mới trồng khoai lang ở ngay chỗ này để tích trữ lương thực phòng ngừa cũng nên.”
Fujimaru thốt ra một giả thuyết được dựng nên từ hình ảnh kỳ quái pha trộn giữa cuộc chiến thủ thành thời Chiến Quốc, Thế chiến II và sự kiện biểu tình ở vườn giảng đường Y. Khái niệm thời không của anh Fujimaru méo mó quá rồi, Motomura thầm nghĩ.
“Mấy người nghĩ ta bao nhiêu tuổi vậy hả?”
Một giọng nói vang lên. Khi mọi người đồng loạt nhìn về phía mình, thầy Morooka lại quay lại với việc hì hục đào khoai. Thầy ta đáng lẽ bắt đầu đào từ luống khoai ở phía đối diện kia mà, sao chỉ trong phút chốc đã ở sát rạt bọn Motomura? Đúng là tốc độ không tầm thường chút nào. Thầy Matsuda thì vẫn vụng về thao tác với cái bay, tốc độ còn chưa bằng một nửa Morooka nữa.
“Lúc xảy ra nổi loạn ở Đại học T, ta mới học cấp hai thôi.”
Morooka đưa mắt nhìn về thửa đất trước mặt rồi nói. “Làm gì có chuyện đứng làm tường người ở vườn giảng đường Y kia chứ.”
“Ra là vậy ạ? Thành thật xin lỗi thầy, tôi thiếu hiểu biết quá.”
Fujimaru thành thật xin lỗi.
“Anh Fujimaru đừng lo, tôi cũng nghĩ thầy Morooka từng chọi đá vào quân cơ động rồi ấy chứ.”
Kato thì thầm.
“Đối với thanh niên như mấy cậu thì hồi chiến tranh vừa kết thúc và cả thời vận động sinh viên đều là ‘quá khứ xa xăm’ cả thôi.”
Vẻ mặt và giọng nói của thầy Morooka như pha giữa lời than thở và tiếng cười, bí ẩn hệt như chuỗi xoắn ADN vậy. “Với ta mà nói, tuy chưa từng trải qua, nhưng năm 1945 vẫn là ‘một quá khứ hết sức gần gũi’. Năm 1969 thì được ‘ký ức’ ta lưu trữ mọi biến động xã hội với tư cách người chứng kiến. Mà, thời gian trôi qua nhanh thật sự...”
Giáo sư Morooka vốn chỉ hay ngắm nghía các loại khoai, sờ nắn các loại khoai, ngẫm nghĩ về các loại khoai thôi, thế mà không ngờ lúc đào khoai lại tỏ vẻ thương cảm như vậy! Đây đích xác là hiện tượng lạ, bọn Motomura trố mắt nhìn nhau. Mọi người lục lọi trong đầu xem có chủ đề nào đó để giúp thầy Morooka tươi tỉnh lên không, nhưng trong óc chỉ toàn là cây Arabidopsis thaliana với cả xương rồng. Hình như hiếm có chủ đề nào khiến thầy Morooka hào hứng. Cả bọn rối rắm không biết làm sao.
“Nhắc... nhắc mới nhớ, cậu Fujimaru này.”
Iwama bắt chuyện với vẻ tuyệt vọng. “Cậu có gợi ý món ăn nào lấy khoai lang làm chủ đạo không?”
“Hừm, để xem nào...”
Fujimaru bắt lấy củ khoai mà mình mới đào được lên rồi vui vẻ đáp. “Cá nhân tôi thì rất ưa món khoai nướng đó nha.”
Đó mà cũng có thể gọi là món ăn hả, Motomura suy xét về khả năng nấu nướng của mình.
“Nấu chung với canh miso cũng ngon này, xắt khối nhỏ ra rồi trộn lên làm nhân món rau củ chiên xù cũng được này. Tôi cũng muốn đề cử món khoai chiên mật nữa. Theo công thức hướng dẫn thì sau khi làm nóng củ khoai lên thì mọi người hẵng bắt đầu chiên nó, bên trong sẽ xốp bùi, mặt ngoài thì giòn rụm. Nhưng bây giờ món mà tôi muốn ăn nhất chính là khoai lang ngọt đó.”
“Tôi cũng thích lắm.”
Kato nhảy vào. “Hồi còn nhỏ, thi thoảng mẹ tôi sẽ làm đồ ăn vặt cho tôi. Món đó thì ngay cả tôi cũng có thể nấu nha.”
“Ừ, nó cực kỳ đơn giản. Có thể hấp hoặc luộc khoai lên cho nóng, nghiền ra, trộn thêm bơ lạt và kem tươi vào. Thay bằng bơ mặn và sữa tươi cũng OK. Đường thì tùy theo sở thích của mỗi người. Bản thân khoai lang đã ngọt rồi nên tôi thường sẽ không cho thêm đường vào nữa. Sau đó, mọi người có thể nặn thành bất kỳ hình dạng gì mình thích rồi đem nướng trong lò. Chỉ cần phết sẵn một lớp lòng đỏ trứng là mặt ngoài của viên khoai sẽ có màu vàng ươm rất đẹp.”
“Hô, cậu này có sở thích nấu ăn à?”
Morooka hỏi.
“Không phải ạ, đó là công việc chứ không phải sở thích của cháu.”
“Thầy ơi, Fujimaru không phải là sinh viên cao học như mình.”
Kawai sợ sệt nói thêm. “Cậu ấy là nhân viên phục vụ kiêm đầu bếp ở Viên Phục Đình ạ.”
“Hả?”
Morooka có vẻ bất ngờ. “Ta cứ nghĩ sao lại có sinh viên mình không nhớ mặt, hóa ra là như vậy sao? Xin lỗi vì đã bắt cậu phải ra đào khoai thế này nhé.”
“Không sao, không sao ạ. Công việc rất vui mà.”
Fujimaru xua bàn tay có đeo găng ra trước mặt. Morooka thì quay sang nhìn từng người trong cả nhóm Motomura.
“Mấy anh chị cũng làm khó người ta quá đó. Sao không ai nói ta biết cậu Fujimaru đây không phải sinh viên cao học hả?”
Tại vì thầy có cho tụi em thời gian để nói đâu. Mọi người đều trộm nghĩ, nhưng dĩ nhiên là không ai dám trả lời, chỉ có thể cất tiếng xin lỗi thôi.
“Thôi thì để ta tặng cậu Fujimaru ít khoai lang hôm nay thu hoạch được, xem như là quà tạ lỗi. Vả chăng, bọn ta cũng thường xuyên lui tới Viên Phục Đình lắm mà vẫn không nhận ra nhân viên tiệm là cậu đây.”
“Không sao đâu ạ, không sao đâu.”
Fujimaru lại xua tay một lần nữa. “Làm gì có ai lại đến tiệm ăn chỉ để quen mặt với nhân viên thôi chứ, mọi người đều tập trung ăn uống mà. Hơn nữa, mấy vị khách nhìn giống như ‘người ở Đại học T’ lúc nào cũng ăn vội ăn vàng, dù có bao người đến đi nữa thì cũng chỉ toàn nói về chuyện nghiên cứu thôi. Sư phụ cũng bảo tôi là đừng làm phiền mọi người, và chú ý lựa thời gian để thu dọn chén đĩa.”
“Đúng là một nhân viên phục vụ mẫu mực ha.”
Morooka nói với vẻ thán phục không dứt, “Mà thôi, bọn ta cũng không nên chỉ dùng cái đầu để nghĩ hoài về chuyện nghiên cứu, còn phải chú ý tới xung quanh mới được.”
Đoạn, thầy liền lắc đầu. Xem ra giáo sư lại sắp lâm li bi đát nữa rồi.
Tuy muốn an ủi thầy Morooka nhưng mọi người ở phòng nghiên cứu Matsuda cũng đều là “quỷ nghiên cứu” nên chỉ có thể im lặng gật đầu thừa nhận. Cả nhóm lại một lần nữa chuyên tâm đào khoai.
Thầy Morooka như đang tư lự chuyện gì trong lúc hùng hục cày xới luống đất như thể một con chuột chũi chạy trốn khỏi kẻ thù tự nhiên của nó. Phút chốc, thầy bỗng dừng tay lại.
“Từ nay về sau, thời đại sẽ thay đổi nhiều lắm.”
Thầy nói. “Nó đòi hỏi tầm nhìn rộng hơn. Không chỉ biết vùi đầu vào việc nghiên cứu, ta còn phải biết giải thích một cách đơn giản cho những người không phải nhà nghiên cứu hiểu rõ rằng, tại sao ta lại tiến hành nghiên cứu này, nhờ vào đó mà ta ngộ ra được điều gì, điều gì vẫn chưa sáng tỏ,... Nếu không làm được điều đó, ngoài việc lâm vào thực trạng bị cắt giảm chi phí nghiên cứu ra, tệ nhất là chúng ta còn khiến mọi người nghĩ rằng, ngoại trừ những nghiên cứu có thành quả ngay lập tức và hữu ích cho loài người, tất cả các nghiên cứu còn lại đều vô dụng. Kéo theo, những thứ xấu xa như chủ nghĩa tôn thờ kết quả và tôn thờ lợi ích sẽ phủ trùm lên thế giới này.”
“Thế thì cũng giống với Viên Phục Đình, ngoại trừ tay nghề làm bếp cao siêu ra, họ cũng không thể không quan tâm đến tâm trạng của các thực khách khi thưởng thức món ăn nhỉ.”
Câu nói của Kawai như đang nghiền ngẫm lại lời của thầy Morooka.
“Đúng là như thế.”
Morooka lấy củ khoai vừa đào được ra khỏi đất, đoạn, thầy đứng thẳng dậy với vẻ đĩnh đạc, âu yếm nhìn củ khoai. “Nghiên cứu nền tảng mà chúng ta đang thực hiện giống hệt như những nguyên liệu nấu ăn đạm bạc vậy. Khi không có những nguyên liệu nấu ăn ngon lành, giàu chất dinh dưỡng và an toàn, chúng ta sẽ không thể nấu nướng hay ăn uống gì được. Tương tự thế, nghiên cứu của chúng ta chính là bàn đạp cho những nghiên cứu mang tính lợi ích thực tế hơn. Chính vì lẽ đó, chúng ta càng phải trung thực trong việc nghiên cứu những công trình đòi hỏi độ tín nhiệm cao này, dẫu rằng nó có tốn thời gian mấy đi nữa.”
“Nhưng mà...”
Kato tỏ vẻ thắc mắc. “Khi dùng bữa, chúng ta có bao giờ cẩn thận nghĩ tới việc phải hấp thụ dinh dưỡng hay tò mò về xuất xứ của nguyên liệu đâu. Chúng ta đi ăn tiệm chỉ vì đói, hay vì muốn thi thoảng dùng một bữa ngon lành thịnh soạn mà thôi.”
“Cậu Kato chắc là đang muốn nói nghiên cứu của chúng ta giống với nguyên liệu nấu ăn, đều có vị nhạt nhẽo như nhau? Quả đúng là thế đấy.”
Morooka thừa nhận. Không ai hiểu ý đồ thật sự của thầy Morooka là gì, câu chuyện nghe càng ngày càng giống mấy trò đùa dai của người già. Thế là mọi người đều quyết định xem như chưa nghe thấy.
“Tuy nhiên, cảm giác đói bụng hay ý muốn đi ăn một bữa thịnh soạn vốn là những nhu cầu thiết yếu, bắt nguồn từ căn nguyên của con người. Nghiên cứu nền tảng cũng xuất phát từ cùng một nhu cầu đó. Lòng hiếu kỳ muốn biết về điều gì cũng hệt như chiếc bụng đói vậy. Nó buộc ta phải một lòng đeo đuổi những thứ tốt đẹp, đó chính là động lực của việc nghiên cứu.”
Motomura thấu hiểu sâu sắc điều này. Bản thân Motomura vốn cũng bị quyến rũ bởi sự xinh đẹp của các tế bào cây Arabidopsis thaliana và từ đó không ngừng mong muốn được biết nhiều hơn, thành ra cô mới đam mê nghiên cứu.
Rất khó để giải thích cho người khác hiểu cảm giác đó. Cô vẫn luôn thấy thế, nhưng khi nghe thầy Morooka bảo rằng đó chỉ là nhu cầu căn bản của con người, Motomura chợt nhận ra mình vẫn có thể nuôi hi vọng. Hi vọng rằng thông qua việc nghiên cứu, mình sẽ kết nối được với tâm hồn của một ai đó.
“Tôi nghĩ chắc mình đã hiểu rồi.”
Fujimaru lẩm bẩm. “Bản thân tôi rất dở khoản học hành, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện trốn học. Cho nên ban đầu tôi đã rất ngạc nhiên, nghĩ bụng, mọi người phải dành những mấy năm trời ở trường đại học chỉ để nghiên cứu thì có gì vui nhỉ. Nhưng khi nhìn vào mọi người và cô Motomura, tôi nhận ra hình như mình đã hiểu ra đôi chút. Bản thân tôi đúng là cũng có ham muốn tìm hiểu khi gặp một thứ khó hiểu. Cây Arabidopsis thaliana cũng thế, khoai lang cũng vậy, càng nhìn càng thấy chúng vừa đáng yêu lại còn xinh xắn. Vì thế nên hiện tại, tôi hoàn toàn ủng hộ việc nghiên cứu của mọi người ở phòng nghiên cứu Matsuda ạ. Dĩ nhiên là cả phòng nghiên cứu của giáo sư Khoai đây nữa.”
“Nghe ấm lòng thế. Bọn ta phải nỗ lực hơn nữa để đáp ứng lại kỳ vọng của cậu Fujimaru mới được.”
Morooka bật cười. “Chỉ có điều, ta cũng sắp về hưu rồi. Dù vẫn còn nhiều điều muốn biết lắm, nhưng thời gian của một đời người sao mà ngắn ngủi. Chỉ có thể cổ vũ mấy người trẻ tuổi như các anh chị đây ra sức nghiên cứu thôi. Mọi người đều là hi vọng của ta cả.”
Motomura giật mình khi nghe thấy thầy Morooka thốt ra từ “hi vọng”. Cảm giác như thầy vừa nhìn thấu nội tâm cô – vốn đang nghĩ ngợi đến hi vọng của bản thân vậy. Vả lại, cô cũng chưa bao giờ tưởng tượng được rằng việc làm của mình sẽ có thể trở thành hi vọng của ai đó.
“Nhưng mà...”
Motomura cất lời sau một hồi suy nghĩ rất lung. “Bản thân em lúc nào cũng trăn trở mãi. Không biết mình có đang thí nghiệm sai hướng không, không biết mình vốn dĩ có khiếu trở thành một nhà nghiên cứu hay không, hoặc liệu em có sẵn sàng tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu...”
“Chị cũng vậy đó.”
Iwama lại nhún vai. “Chẳng phải mọi người ai cũng thế sao?”
“Lo âu trăn trở những cái ấy, chính là bằng chứng cho tuổi trẻ của các em đấy.”
Morooka mỉm cười như để tiếp thêm sức mạnh cho bọn Motomura. “Mối lo của ta bây giờ chỉ là không biết tiền tiết kiệm có đủ để dưỡng già hay không, mẹ già một mình dưới quê cũng đã chín chục tuổi rồi, từ giờ phải hỏi bà xem còn điều gì muốn thực hiện không. Hoàn toàn khác so với những nỗi lo của các em nhỉ. Các em là những người có khả năng khai phá tương lai.”
Cứ nghĩ mình phải động viên thầy Morooka đang trong tâm trạng u sầu, thế mà thành ra lại được thầy ấy động viên. Motomura thầm nghĩ, phải rồi, trăn trở thì có sao. Những lời tâm tình và sự chân thành của thầy Morooka đã thắp nên một ngọn lửa ấm áp trong lòng Motomura, như thể cô đang ngồi bên ánh lửa trại vậy.
Những người còn lại dường như cũng có cùng một tâm trạng. Họ vừa nghĩ ngợi, “Mặc dù bị thầy cưỡng ép đi đào khoai, nhưng giáo sư thật là tốt quá chừng”, “Mình chưa bao giờ nghĩ về chuyện chăm sóc bố mẹ”,... vừa dành ánh mắt kính trọng cho thầy Morooka.
Thầy Matsuda rốt cục cũng rút ngắn khoảng cách với mọi người sau khi việc đào khoai lang có tiến triển. Thầy ở cách cả nhóm Motomura tầm ba đoạn cành, tay vẫn đang loay hoay tìm cách điều khiển cái bay.
“Thầy Matsuda có điều gì phiền não không ạ?”
Kato cất tiếng hỏi.
“Phiền não? Nói mới nhớ.”
Matsuda suy nghĩ một chút, “Phiền não hiện tại của tôi là không thể nhanh chóng đào khoai được vì nó quá khó đi.”
Thầy đáp. Trước câu trả lời vừa không có chiều sâu triết lý vừa không có hi vọng gì về tương lai, cả đám vô cùng thất vọng.
Lúc những cái giỏ đã được chất đầy, mọi người cùng xách chúng đến mặt tiền tòa nhà B. Thế là chuyến làm ruộng kéo dài hai tiếng đồng hồ đã kết thúc.
May mà cả nhóm không hề bị bảo vệ của vườn giảng đường Y bắt gặp. Nói đúng hơn là giữa lúc thu hoạch, bảo vệ có đến đứng trước cửa ra vào của tòa giảng đường, nhưng họ chỉ nhìn nhóm Motomura với ánh mắt khó hiểu, “Mấy người đang làm gì vậy?” chứ không lại gần. Vì từng có lắm sinh viên và giáo viên của mấy câu lạc bộ làm nhiều hành động quái dị không rõ nguyên nhân, như màn luyện phát âm ở câu lạc bộ kịch, pha luyện nhạc cụ ở câu lạc bộ âm nhạc, trò luyện tung hứng ở câu lạc bộ xiếc,... nên chắc là bảo vệ cũng miễn nhiễm với vụ đào khoai này rồi.
Chuyển khoai đã thu hoạch đến mặt tiền tòa nhà B là việc khá gian nan. Fujimaru có thể một mình vác một cái giỏ chất cả núi khoai lang nhẹ như không, nhưng những người còn lại thì không hề phù hợp với hoạt động lao động tay chân. Mọi người đành phải nhóm hai người thành một tổ rồi mới loay hoay xách giỏ khoai đi được.
Mất tầm hai lượt đi lại thì cuối cùng cũng đã chuyển xong mớ khoai lang. Fujimaru thì đi những ba vòng. Khung cảnh một bãi khoai lang đổ đống được phơi phóng ngay mặt tiền tòa nhà B rõ là hoành tráng. Khoai lang nhiều đến nỗi không có chỗ đặt chân, chắn lối ra vào tòa nhà, thế là mọi người quyết định sẽ chuyển những củ khoai đã được hong khô trước đến phòng nghiên cứu Morooka. Lại một lần chất khoai vào giỏ, nhưng lần này họ đã được sử dụng thang máy.
Cả hội quay lại mặt tiền của tòa nhà để xếp lại đống khoai. Morooka mang theo một túi nilon to từ phòng nghiên cứu ra để đựng khoai lang vừa thu hoạch.
“Đây là của cậu Fujimaru.”
“Cảm ơn thầy nhiều ạ.”
Fujimaru nhận lấy cái túi rồi nhòm vào bên trong với vẻ mừng rỡ.
“Cậu khoan hẵng rửa chúng, cứ để nguyên thế tầm một, hai tuần cho chúng nghỉ đã. Sẽ làm tăng hương vị đấy.”
“Vâng ạ. Chà, ở tiệm vẫn còn việc phải làm nên chắc tôi xin phép về trước đây. Bộ đồ lao động này tôi sẽ giặt sạch rồi trả lại thầy ạ.”
“Làm phiền cậu nhé. Lúc nào trả cũng được.”
Mọi người cùng nhau tiễn anh ra ngoài, Fujimaru một tay cầm lấy túi nilon bước ra khỏi Xích Môn.
Morooka cũng tặng cho phòng nghiên cứu Matsuda hai giỏ khoai. Cầm phần khoai được chia cho mình về nhà, tối đó, Motomura trải giấy báo ra một góc bếp để xếp khoai lên.
Thật là mong chờ đến lúc được nếm thử chúng quá. Ẩn hiện giữa bóng tối nhàn nhạt trong căn bếp, bảy củ khoai lang trông mềm mượt như nhung vậy. Hay là mình cũng thử làm món khoai lang nghiền như lời anh Fujimaru chỉ xem sao, Motomura suy nghĩ.
***
Không cần phải nói, Motomura không hề có cơ hội làm món đồ ngọt kia. Cô vẫn phải trải qua ngày tháng rượt đuổi với nghiên cứu và thí nghiệm, làm gì có thì giờ rảnh để bắt tay vào làm món khoai lang nghiền chứ.
Chưa đầy hai tuần từ hôm đi thu hoạch khoai trôi qua thì đã tới cuối tháng Mười một rồi. Dạo này Motomura mỗi sáng đều ăn khoai lang hấp. Củ nào cũng chắc nịch, lại còn ngọt lịm, ngon lành.
Song, món khoai hấp hôm nay khác hẳn mọi khi. Có cảm giác củ khoai mềm và xốp hơn hẳn. Có thể là vì có tới hai loại khoai lang là beni-haruka và beni-azuma với tính chất khác nhau được trồng ở trước vườn giảng đường Y.
Motomura mở chiếc laptop trong phòng mình ra để tra cứu về khoai lang. Cô đọc một trang web viết về đặc trưng của từng loại khoai và biết được rằng loại xốp bùi hình như là beni-haruka, còn loại giòn giòn thì chắc là beni-azuma.
Cô lấy hết mấy củ khoai còn lại trong bếp ra rồi so sánh chúng với củ khoai lang mà hôm nay mình mới biết là beni-azuma. Củ khoai hôm nay vì đã bị hun nóng nên không thể phân biệt được sự khác nhau giữa chúng chỉ với vẻ bề ngoài. Mấy củ khoai lang còn lại có lẫn loại khác không, hay chỉ có mỗi beni-haruka hoặc beni-azuma thôi? Đúng là trò Russian Roulette Khoai Lang mà cô chỉ có cách ăn thử mới biết. Vì cả hai loại khoai đều ngọt bùi như nhau nên ăn trúng loại nào cũng không sợ, đây quả là trò Russian Roulette của hạnh phúc mà.
Vả lại, dù không bỏ công làm món khoai lang nghiền thì khoai luộc thôi cũng đã đủ ngon rồi. Motomura lờ tịt đi sự lười biếng của bản thân rồi rời nhà sau khi đã tưới nước xong xuôi cho cây. Cây hoa trạng nguyên vẫn không chuyển màu lá đỏ chút nào.
Sáng nào cũng được ăn khoai lang khiến bao tử cô vô cùng sung sướng, song việc nghiên cứu của cô thì lại không thể nói là có gì đáng mừng rỡ.
Hiện tại, Motomura đang chú tâm gieo giống cây Arabidopsis thaliana.
Vì toàn bộ hệ gen của Arabidopsis thaliana đã được phân tích toàn diện và hiện đang được quản lý/sử dụng như một giống thực vật mô hình bởi nhiều cơ quan nghiên cứu khác nhau nên ngay cả hạt giống cây dại vẫn sẽ được đưa vào hệ thống, kiểu như Col cho Columbia hay Kyo cho Kyoto vậy.
Nếu hỏi tại sao phải thiết lập hệ thống cho chúng, thì lý do là để tránh tình trạng ông nói gà bà nói vịt, khi các nhà nghiên cứu tự tiện thí nghiệm lên cây Arabidopsis thaliana để rồi mạnh ai nấy nói bằng tiếng mẹ đẻ của mình mà không qua thông dịch. Loại cây dại có nguồn gốc rõ ràng gọi là Columbia đóng vai trò như ngôn ngữ chung. Tất cả mọi nhà nghiên cứu thực vật trên toàn thế giới đều sử dụng nó như là hệ thống tiêu chuẩn của Arabidopsis thaliana vậy.
Tỉ dụ như, khi có một bài luận văn như sau được công bố: “Đã tìm ra hạt giống có biến dị ngẫu nhiên, mang đặc trưng viền của phiến lá có dạng tròn, có nguồn gốc từ Columbia. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi đã phát hiện nguyên nhân là do gen di truyền ở chỗ này bị phá vỡ.” Thế là mọi người sẽ bắt đầu tự hỏi, bài nghiên cứu này có chính xác không, hay là mình cũng thử thí nghiệm xem. Muốn như thế thì trước tiên họ phải truy cập vào Trung tâm lưu trữ tài nguyên gen di truyền của Arabidopsis thaliana bằng máy tính.
Trước khi trở thành nhà nghiên cứu, Motomura thậm chí không dám tưởng tượng rằng trên thế giới tồn tại những trung tâm lưu trữ tài nguyên gen di truyền của ruồi giấm hoặc cây Arabidopsis thaliana. Lần đầu tiên biết đến điều đó, cô đã không khỏi cảm thán, sao mà nghe như trong phim khoa học viễn tưởng vậy.
Bên trong Trung tâm lưu trữ tài nguyên gen của cây Arabidopsis thaliana, có một bộ sưu tập khổng lồ những hạt giống Arabidopsis thaliana biến dị, nói hằng hà sa số cũng không ngoa. Chúng đã được chuyển hết thành kho dữ liệu nên chỉ cần nhập số hiệu của gen di truyền được nhắc đến trong bài nghiên cứu “bị phá vỡ” kể trên thì lập tức, bạn sẽ thấy được thông tin “Các hạt giống biến dị mà trung tâm lưu trữ tìm được là loại này, loại này và loại này” hiện ra ngay trước mắt. Nếu thực hiện thao tác đặt hàng thì còn có thể lấy được mẫu hạt giống biến dị đó nữa.
Thế là hạt giống biến dị sẽ được chuyển đến phòng nghiên cứu để họ có phương tiện từ từ tìm hiểu và ngẫm nghĩ xem kết luận của bài nghiên cứu kia có chính xác hay không. Bên trong trung tâm lưu trữ rất có thể có cả hạt giống biến dị ngẫu nhiên Kyoto chứ không chỉ mỗi hạt giống biến dị ngẫu nhiên Columbia thôi. Như vậy, các nhà nghiên cứu dễ dàng lấy được hạt giống biến dị mà mình thích từ nhiều hệ thống khác nhau để phục vụ cho việc so sánh và nghiên cứu. Tất cả những điều trên đều nhờ vào việc tất cả mọi phòng nghiên cứu trên thế giới dùng chung một hệ thống hạt giống dại vốn đã được cơ sở hóa thành Columbia hay Kyoto.
Dĩ nhiên, vẫn còn rất nhiều hạt giống biến dị đến mức có hình dạng rất khác với cây Arabidopsis thaliana thông thường, nhưng người ta vẫn chưa thể tìm ra được nguyên nhân và đoạn gen di truyền nào đã bị phá. Ngược lại, cũng có trường hợp họ tạo ra được hạt giống biến dị mang những đặc trưng như “viền phiến lá có dạng tròn” hoặc “cuống lá có dạng xoắn” bằng phương pháp nhân tạo, thông qua việc cải biến đoạn gen di truyền được nhắm tới.
Hiện tại, những chủng cây mà Motomura đang hết sức chuyên chú gây giống đều là kết quả của việc đem các cây Arabidopsis thaliana biến dị ra để giao phối. Bản thân Motomura tuy luôn trải qua những tháng ngày xa rời sắc dục, nhưng bọn Arabidopsis thaliana thì phải liên tục tạo ra hạt giống, sinh sôi nảy nở khắp mặt đất đến mức cành lá sum suê cơ.
Sẽ xảy ra chuyện lớn nếu những cây Arabidopsis thaliana được phối giống nhân tạo bị đem ra ngoài. Có trường hợp quá trình tái tổ hợp gen xảy ra bên trong hạt giống biến dị. Nếu tự tiện đem nó trồng ở mấy nơi như lề đường thì có thể sẽ phá vỡ sự cân bằng ngoài tự nhiên. Bởi thế, công tác phối giống cây chỉ được phép diễn ra một cách nghiêm mật bên trong phòng giải phẫu. Người thực hiện phải cực kỳ chú ý không để cho hạt giống dính lên trang phục hay tóc tai của mình để rồi vô tình mang nó ra môi trường bên ngoài.
Phối giống là quá trình đòi hỏi sự tỉ mỉ, liên tục.
Các cây Arabidopsis thaliana sau khoảng một tháng hơn sẽ bắt đầu nở hoa, nếu được nuôi trồng tại môi trường có ánh sáng và nhiệt độ thích hợp bên trong các chamber ở phòng giải phẫu. Tuy nhiên, nở hoa đồng nghĩa quá trình thụ phấn đã được tiến hành, nếu muốn có cơ hội chuẩn bị phối giống nhân tạo cho chúng thì chỉ có khoảng thời gian ngay trước khi khai hoa thôi.
Để tránh cho các cây tự động thụ phấn với nhau, đầu tiên cô phải dùng kẹp tăm nhẹ nhàng vạch nụ hoa ra lúc nó hẵng còn non, rồi sau đó ngắt hết nhị đực. Tiếp theo, cô sẽ buộc một sợi chỉ đỏ làm dấu vào cành của nụ hoa đó. Bản thân nụ hoa chỉ dài có hai milimet, cành cây nơi nó nở hoa cũng cực kỳ mỏng manh. Phần việc này cứ như viết kinh Phật trên sợi tóc vậy, nó khiến mắt cô hoa hết cả lên còn phần vai thì đau nhức. Thêm vào đó, các nụ hoa còn nở nối tiếp nhau nên Motomura phải chạy đua với thời gian.
Trong lúc cô không có thì giờ để thở thì hoa đã bắt đầu nở rồi. Tiếp theo, cô phải dùng kẹp tăm lấy phần bao phấn chứa đầy phấn hoa của nhị đực ra khỏi cây được chọn để cho giao phối, sau đó cẩn thận mang nó đến nhụy của bông hoa đã được đánh dấu bằng sợi chỉ. Quá trình thụ phấn nhân tạo thế là đã xong.
Lần này, Motomura muốn thực hiện phối giống cho cây biến dị lần bốn. Nhưng việc ấy tốn công sức đến mức nản lòng thoái chí. Motomura vì quá chán ngán nên lúc gieo giống, cô thầm trợn mắt.
Biến dị lần bốn là sao? Tức là cô sẽ phải phối đi phối lại các hạt giống biến dị cho đến khi nó đã biến dị đủ bốn lần thì thôi. Ví dụ nhé, khi kết hợp loại biến dị “viền lá răng cưa” với loại “viền lá hơi tròn”, ta sẽ ra được cây Arabidopsis thaliana có dạng “lá tỉa giống rau mùi tây”. Lúc muốn tìm hiểu xem, nếu chồng chéo các chủng biến dị lại với nhau thì sinh ra kết quả gì, nhà nghiên cứu sẽ thực hiện quy trình “biến dị lần hai” hoặc “biến dị lần bốn” thông qua quá trình phối giống.
Để tạo ra thể biến dị lần bốn, ta cần phải thực hiện những bước sau đây.
Giả thiết rằng, ta có các loại biến dị cây Arabidopsis thaliana là a, b, c và d. Khi cho a và b phối với nhau, ta sẽ có được đời con mang kiểu gen của cây dại. Vì là gen lặn nên kiểu gen biến dị di truyền khiến lá cây sần sùi hơn so với thông thường sẽ không thể hiện ở đời con. Chính vì lẽ đó, nhìn bằng mắt thường ta vẫn thấy hình dạng của lá không có gì khác biệt.
Sau đó, ta sẽ chờ cho cây con thụ phấn. Ngay lập tức, theo Quy tắc phân ly của Mendel, trong số 16 đời cháu của chúng sẽ có một cá thể ab biến dị lần hai.
Lần tiếp theo, ta sẽ cho cá thể ab biến dị lần hai phối giống với cây c. Đời con của chúng sẽ lại mang kiểu gen của cây dại, nên chúng ta sẽ chờ cho chúng thụ phấn. Thế là ta sẽ được một cá thể trong số 16 cây thuộc đời cháu mang gen abc biến dị lần ba.
Đến đây chắc hẳn mọi người cũng đã nắm được rồi, ta sẽ cho cá thể abc biến dị lần ba phối với giống d thì trong 256 cây thuộc đời cháu, sẽ có một cây mang gen abcd biến dị lần bốn. Khó trách Motomura phải trợn trắng mắt. Tuy vòng sinh trưởng của cây Arabidopsis thaliana rất nhanh, nhưng nếu cứ theo quy tắc này mà phối thì ngày Motomura có được đủ số cá thể biến dị lần bốn cũng là ngày cô rời bỏ hồng trần.
Thế là để tiết kiệm thời gian, Motomura đã tiến hành phối giống biến dị a và b cùng giống biến dị c và d cùng một lúc. Vậy là cô có thể đạp nhanh đến thời điểm lấy giống cây đời cháu, có được nhờ phối cấp tốc giữa những cá thể đời con với nhau. Giá mà có thể thu được cá thể biến dị lần bốn như mong đợi thì tốt biết mấy, Motomura mang tâm trạng trông chờ.
Tại sao Motomura lại muốn tạo ra thể biến dị lần bốn như vậy, mặc dù nó tốn sức đến nỗi mắt cô trợn trắng cả lên? Đương nhiên là để nghiên cứu những phiến lá rồi.
Cho đến bây giờ, Motomura vẫn chỉ đếm đi đếm lại tế bào lá cây Arabidopsis thaliana và đo lường kích thước của phiến lá thôi. Mỗi ngày, cô đều tiếp xúc với cây Arabidopsis thaliana, trông chừng quá trình sinh trưởng của chúng, quan sát chúng bằng kính hiển vi, chỉ cần có một tế bào lá mang hình dạng kỳ lạ một chút thôi là cô đã reo lên, ánh mắt cô bắt lấy nó ngay lập tức như phản xạ tự nhiên rồi. Giây phút hình ảnh của đối tượng nghiên cứu chiếu lên võng mạc, não cô sẽ phát giác ngay bất cứ điều gì khác lạ với tốc độ thần tốc, tiêu cự mắt tự động tập trung và phóng đại vào đối tượng.
Nhưng dù có đếm mấy trăm lần đi nữa thì số lượng tế bào phiến lá của cây Arabidopsis thaliana vẫn chỉ vỏn vẹn nằm trong phạm vi hạn định. Dù là giống biến dị có diện tích phiến lá hơi to hơn lá cây thường cũng thế. Có bón bao nhiêu phân, tưới bao nhiêu nước, nhiệt độ và ánh sáng có hoàn hảo cách mấy, lá cây Arabidopsis thaliana vẫn không chịu biến thành khổng lồ như lá hoa mộc lan.
Cô chỉ có thể tạo ra những loại cây Arabidopsis thaliana có số lượng tế bào nhất định và kích thước phiến lá nhất định thôi.
Tuy vậy, bắp cải, một loại thực vật cùng họ Brassica với Arabidopsis thaliana, lại có lá to hơn lá Arabidopsis thaliana hẳn mấy lần. Các loài thực vật ở vùng nhiệt đới vốn được cho rằng sẽ có lá to hơn, ở Nhật Bản cũng tồn tại vài giống cây có phiến lá đặc biệt lớn. Thí dụ như loại kim tâm được gọi là kim tâm Akita chẳng hạn, nó có dạng một chiếc lá to tròn như ô dù mọc trên ngọn cành dài. Mấy đứa con nít hay cầm chơi, trông dễ thương không khác gì Korpokkur[18] vậy. Chúng cho cô cảm giác như mình đang đi lạc trong một thế giới kỳ lạ bị thu nhỏ.
Vả lại, cây kim tiền mà Motomura trồng trong căn hộ đang thuê vốn có nguồn gốc từ khu vực miền trung nam Hoa Kỳ. Chỉ trên một cành cây thôi mà đã mọc đủ loại lá, có chiếc to bằng mặt của Motomura, có chiếc thì chỉ cỡ bàn tay. Sự khác biệt về kích thước giữa các phiến lá thế này không xảy ra trên cây Arabidopsis thaliana.
Nói thêm chút nữa, cây Arabidopsis thaliana, cây bắp cải, cây kim tâm hay cây kim tiền đều có thể dừng sự phát triển của lá cây nếu đã tạo ra đủ số lượng tế bào hạn định ứng với môi trường sống và chủng loại của chúng. Chưa bao giờ có ai được chiêm ngưỡng lá cây bắp cải nào khổng lồ như tấm chiếu.
Nhân đây thì loại thực vật có tên gọi Monophyllaea ở vùng nhiệt đới có thể kéo dài việc tăng tế bào lá đến tận khi nó chết. Nó không thể dừng quá trình sinh trưởng của lá cây lại được, chỉ có thể ùn ùn trở nên ngày một to hơn thôi.
Tại sao mỗi loại thực vật lại có kích thước phiến lá và số lượng tế bào khác nhau? Hơn nữa, nguyên do nào khiến cho vài loại thực vật ở vùng nhiệt đới có thể ngang nhiên tiếp tục gia tăng số lượng tế bào phiến lá của mình? Tạm thời thì đó vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
Nhưng thông qua công tác theo dõi lá cây Arabidopsis thaliana, Motomura dường như đã nảy ra được một suy đoán.
Arabidopsis thaliana vốn là thực vật mô hình, vì chúng được nghiên cứu trên toàn thế giới nên đã có rất nhiều phán đoán về cơ chế hình thành và sinh trưởng của phiến lá. “Hệ thống kiểm soát phiến lá” cũng là một trong số đó. Cây Arabidopsis thaliana được trang bị một cơ chế hoạt động giúp nó cố định số lượng tế bào và kích thước của phiến lá, nhằm tránh cho lá biến khổng lồ hay tí hon.
Thực vật vùng nhiệt đới Monophyllaea có lẽ đã bị hỏng mất hệ thống kiểm soát đó rồi chăng? À không, nếu nói là “bị hỏng” thì nghe tệ quá, cũng không chính xác. Hay nên bảo rằng “nó được cập nhật để phình to ra” nhỉ? Cây Monophyllaea có thể gia tăng liên tục tế bào phiến lá, biến kích thước lá cây thành ra to khủng khiếp. Motomura đã suy đoán như vậy.
Làm sao kiểm chứng xem suy đoán này có chính xác hay không? Motomura ngẫm nghĩ, và cô đã tìm ra một phương pháp chứng minh: Chính là cố tạo thể biến dị lần bốn của cây Arabidopsis thaliana và thí nghiệm trên nó.
“Hệ thống kiểm soát phiến lá” mà cây Arabidopsis thaliana được trang bị đương nhiên không phải là một cơ chế đơn giản như chỉ cần ấn nút là có thể điều chỉnh số lượng tế bào và kích thước của phiến lá. Bên trong cơ thể nhỏ bé của cây Arabidopsis thaliana chồng chéo nhiều hệ thống kiểm soát đầy phức tạp, chúng ảnh hưởng lẫn nhau, và số lượng tế bào cùng kích thước của chúng sẽ được kích hoạt một cách công phu.
Xét đến điều đó, Motomura đã chuẩn bị thể biến dị a, vốn có hệ thống kiểm soát A bị phá vỡ cùng với thể biến dị b, vốn có một phần khác của hệ thống kiểm soát B đã bị phá vỡ do hệ lụy của tái tạo gen, tiếp theo đó là thể biến dị c, vẫn là một thể biến dị có hệ thống kiểm soát C bị phá vỡ. Cuối cùng, cô chọn thêm thể biến dị d có hệ thống kiểm soát D bị phá vỡ.
“Ngoại trừ D ra thì vẫn có các hệ thống kiểm soát hữu hiệu khác, nhưng cá nhân mình vẫn có hứng thú với D hơn. Được rồi, lần này cứ tuân theo trực giác của bản thân vậy”, cô liền đưa ra lựa chọn sau một hồi rối rắm. Tâm trạng của cô như một nhà sản xuất đang phải đau đầu phiền não về việc chọn thành viên cho một nhóm thần tượng khi đứng trước một loạt những viên kim cương thô.
Tuy có rất nhiều ứng cử viên cho hệ thống kiểm soát và những tổ hợp gen di truyền cũng có vô vàn kết quả như a, b, f, w,... nhưng nếu nghiên cứu hết thì Motomura sẽ sớm ngày tuyệt mệnh mất. Không thể thí nghiệm trên tất cả các hệ gen được, cho nên cô đã quyết định trước tiên sẽ tập trung vào các gen a, b, c và d đã. Motomura sẽ tạo ra tổ hợp kiểu hình di truyền theo mục đích của mình, rồi sau đó nghiên cứu thử xem tại sao chúng lại cho ra những chiếc lá có hình dạng này.
Cứ như vậy, sau khi phối giống các thể biến dị a, b, c, d mà mình đã chọn, Motomura bây giờ mới tiến vào giữa quá trình giao phối cho đời cháu hòng lấy được thể biến dị lần bốn.
Nếu suy luận của Motomura là đúng, thì nhờ vào việc phối giống cây Arabidopsis thaliana có xuất hiện biến dị trên hệ thống kiểm soát, cô nhất định sẽ trồng được một cây Arabidopsis thaliana có lá từ từ mọc to ra, dù không to bằng lá cây Monophyllaea. Hơn nữa, việc phối giống các thể biến dị a, b, c, d và từ đó có được giống cây Arabidopsis thaliana mong muốn, sẽ chứng minh rằng, “sự tồn tại của các loại thực vật có lá cây khổng lồ chính là vì ‘hệ thống kiểm soát phiến lá’ của chúng đã bị thay đổi khá lớn”.
Lỡ như lá cây Arabidopsis thaliana trở nên to như lá chuối và phá vỡ chamber để chui ra thì biết làm sao đây nhỉ? Motomura hí hửng nghĩ.
Mà dĩ nhiên, hiện thực đâu có dễ dàng như thế.
Quả của cây Arabidopsis thaliana có dạng một hạt đậu thon dài, hạt giống được bao bọc bên trong. Hình dạng của hạt giống khá giống với hình quả bóng bầu dục, kích thước còn nhỏ hơn cả hạt cát sỏi. Để có thể tỉ mỉ lấy được hạt giống tí xíu ấy từ cây Arabidopsis thaliana đang sắp sửa nghênh đón kỳ đơm hoa kết trái tiếp theo chỉ với một cái kẹp tăm, rồi sau đó bỏ nó vào ống Eppendorf mà không đánh rơi hay bị bay phấn hoa thì Motomura vừa phải chịu đau vai vừa phải chịu mỏi mắt.
Số lượng giống cần phải gieo và những suy nghĩ về các công đoạn tiếp theo khiến cho Motomura ngoại trừ bị mỏi mắt và đau vai thì còn thêm chóng mặt nữa.
Vì mong muốn có được thể biến dị lần bốn, Motomura phải phối giống cho các cây Arabidopsis thaliana biến dị. Ấy vậy mà dù đã phối xong các thể biến dị lần hai, tỷ lệ xuất hiện hạt giống thể biến dị lần bốn cũng chỉ là 1/256 mà thôi.
Một quả của cây Arabidopsis thaliana có chứa tới gần 30 hạt giống. Hay nói cách khác, sau khi đã trồng gần 300 hạt giống từ 10 quả, rất có khả năng cô chỉ lấy được duy nhất một hạt giống biến dị lần bốn từ con số kể trên.
Hơn nữa, Motomura muốn tạo thể biến dị lần bốn để sử dụng trong thí nghiệm và quan sát. Nếu vậy, chỉ tạo một cá thể thì không được. Lỡ giống đó mà héo đi, cô sẽ phải bắt đầu lại công tác phối giống cực kỳ phiền phức này từ con số không, vậy nên để đảm bảo thì tối thiểu Motomura cũng phải trồng được bốn giống. Cô sẽ tận tình nuôi dưỡng bốn giống cây đó, nếu cho chúng tự thụ phấn thì số lượng thể biến dị sẽ dần dà tăng lên.
Tất cả đều khởi đầu chỉ với bốn hạt giống. Để nắm được bốn hạt giống ấy, Motomura phải cho phối 40 hoa với nhau. Cô đã phải lấy phấn hoa từ nhị đực bé xíu của 40 bông hoa tí hon và mang tới phần nhụy cái cũng tí ti không kém, liên tục không ngừng. Bấy nhiêu thôi đã khó nhằn vô cùng, nhưng tiếp sau còn quãng thời gian kết trái nên lòng Motomura hiểu rõ đây chỉ mới là bước dạo đầu của quá trình phối giống cực kỳ mất công.
Dù sao đi nữa, cô phải lấy ra tổng cộng 1.200 hạt giống bé xíu như hạt cát từ 40 quả cây Arabidopsis thaliana. Là một nghìn hai trăm hạt lận đó! Một nghìn hai trăm hạt, chỉ để bắt được một hạt giống may mắn với xác suất 1/4!
Hu hu hu hu hu hu. Motomura ngồi khóc một mình trong phòng giải phẫu. Thật ra thì cô chỉ ứa nước mắt một chút thôi. Lấy giống đúng là công đoạn chẳng khác gì đãi vàng trong cát.
Ừm, nói là vàng cũng không hợp lý lắm. Motomura thầm nghĩ. Nếu là vàng thì dù có lẫn trong mớ sỏi cát thì nó vẫn sáng lên lấp lánh, reo to báo cho người ta biết về sự tồn tại của mình. Nhưng hạt giống biến dị lần bốn thì chả có gì khác biệt so với những hạt giống còn lại cả. Phải lấy được bốn hạt cát theo đúng mục đích của mình trong số 1.200 hạt cát, đây là truyện Tấm Cám hay sao? Sao trên đời lại có chuyện khổ ải như thế chứ? Hu hu hu hu.
Cô thật sự rất hận bản thân mình vì đã nghĩ ra phương pháp thí nghiệm này, chỉ vì muốn giải bằng được câu đố về phiến lá. Chuyện đáng sợ hơn là, để thí nghiệm này được hoàn thiện, từ nay về sau cô buộc phải bước lên con đường khổ nạn không lối về.
Dù có bình an vô sự trồng ra bốn hạt giống biến dị lần bốn từ 1.200 hạt kia đi nữa, mình phải phân biệt chúng như thế nào đây? Nhìn hạt nào cũng như hạt cát thôi mà. Không thể phán đoán bằng mắt thường được.
Hiển nhiên là phải đem chúng đi gieo rồi. Cô phải mang 1.200 hạt giống kia đi gieo và trồng cho bằng được 1.200 cây Arabidopsis thaliana! Sau đó còn phải kiểm định ADN của chúng lần cuối để xác minh xem loại nào mới là thể biến dị lần bốn! Trong số những cây đó, rất có thể sẽ có cây chỉ cần nhìn hình dạng phiến lá là biết ngay đây không phải thể biến dị lần bốn, nhưng trước mắt, cô phải tự giác giám định ADN của 1.200 cây, không ngừng nghỉ.
Chuyện bi thảm hơn còn ở đằng sau. Thông qua việc phối giống thì ta sẽ có được xác suất 1/256 cá thể là thể biến dị lần bốn, phải không? Nhưng tất cả chỉ là lý thuyết thôi. Cũng có khả năng sau khi lấy ra 1.200 hạt giống, gieo chúng, trồng chúng, nghiên cứu chúng, nhưng rốt cục thì đừng nói là bốn, có khi ngay cả một giống cây biến dị lần bốn cô cũng tìm không thấy.
Thôi thôi, không muốn nghĩ đến đó nữa. Nhưng mình không thể ngừng nghĩ ngợi được! Chỉ còn cách cầu nguyện cho trong số đám hạt giống này sẽ có một hạt là thể biến dị lần bốn!
Motomura, người đang chạm tới ranh giới của sự mê tín dị đoan không phù hợp với tác phong của một nhà khoa học, hiện đang quẳng hai tay vẫn còn cầm nguyên kẹp tăm lên trời, ngửa đầu nhìn trần nhà phòng giải phẫu. Tuy vẫn còn yên vị trên ghế, nhưng tư thế hiện giờ của cô chẳng khác gì tư thế diễn viên trong tấm áp-phích phim Platoon vậy. Cứ phải liên tiếp bóc tách những hạt giống li ti như kia, chắc là đầu óc cô cũng bắt đầu hơi có vấn đề rồi.
Đoạn, cô từ từ hạ hai tay xuống rồi lại trở về đối mặt với đám cây Arabidopsis thaliana. Motomura chợt nhìn chằm chằm vào đầu ngón tay của mình. Móng tay cô đã được cắt ngắn tới sát gốc.
Đó là vì nguy cơ cô trở thành kẻ phát tán là rất cao, khi hạt giống luôn dễ dàng bị mắc kẹt trong móng tay. Lỡ như bên trên chiếc bàn này có rơi vãi những hạt giống biến dị khác không liên quan đến lần phối giống này của cô thì sao? Lỡ như hạt giống ấy bị kẹt trong móng tay cô, rơi vào trong ống Eppendorf và lây nhiễm với kết quả của lần phối giống này thì đúng là tai họa. Tất cả sẽ xôi hỏng bỏng không. Chỉ cần nghĩ đến từ “contaminate” (lây nhiễm) thôi là toàn thân Motomura đã run lên bần bật như vừa được vớt lên từ trong nước.
Để tránh việc lây nhiễm, cô phải chú ý dọn dẹp mặt bàn thật sạch sẽ trước khi phối giống. Mọi người trong phòng nghiên cứu Matsuda chẳng ai để móng tay dài cả.
Những chiếc móng tay không được điểm trang cứ như đang tượng trưng cho bản thân cô – một kẻ chui rúc trong phòng giải phẫu tại tầng một tòa nhà B khu Tự nhiên, cắm mặt vào chiếc bàn họp này để hì hục loại giống cây vậy. Motomura bất giác thở dài thườn thượt.
Cây Arabidopsis thaliana sẽ tiếp tục sản sinh ra thật nhiều thật nhiều những hạt giống chuyển tiếp sinh mệnh đến các đời sau. Ấy vậy mà người đang phải đảm nhiệm việc phối giống cho cây như mình đây thì không những không được làm móng đẹp đẽ, mà còn phải trải qua những tháng ngày chỉ có thể nói là “tẻ nhạt buồn chán”. Mà thôi, thế cũng tốt. Dù gì thì mình cũng chả có hứng thú với ba cái trò làm móng. Vả lại, mỗi ngày đều được dốc lòng vào nghiên cứu thế này thì đối với mình mà nói, nó hoàn toàn không tẻ nhạt tí nào. Nhưng chỉ ngồi tách hạt thế này thì lại dễ mất đi sự tập trung cao độ, cứ ngồi nghĩ ngợi vẩn vơ, khiến bản thân cảm thấy mất kiên nhẫn và bối rối, luôn băn khoăn không biết mình đang làm cái quái gì...
Nếu Motomura chịu tỉnh lại thì cô sẽ nhận ra mình đang ngồi cười thành tiếng hí hí hí một mình. Quả nhiên là mấy ngày gần đây do phải lấy quá nhiều hạt giống mà đầu óc cô đã bắt đầu trở nên có vấn đề rồi.
Dù gì đi nữa thì cây Arabidopsis thaliana sinh trưởng cũng rất nhanh, từ giai đoạn nảy mầm đến khi lấy hạt chỉ mất vỏn vẹn tầm hai tháng. Nếu trồng sao cho chúng nảy mầm xen kẽ, ta có thể hôm nay lấy hạt của cây này, ngày mai lấy hạt của cây kia. Công đoạn này chỉ toàn khiến cô chóng mặt nhức đầu. Thêm vào đó, đối tượng còn là những hạt giống bé tí ti, chứng mỏi mắt và đôi bờ vai cứng như đá càng khiến cho máu khó lưu thông lên não cô hơn. Thế thì đương nhiên là Motomura dần lâm vào tình trạng tinh thần bất thường.
Mặc dù chẳng có gì buồn cười, song tiếng hí hí hí vẫn cứ vang lên từ phòng giải phẫu.
“Không sao đấy chứ?”
Một giọng nói đột nhiên cất lên. Motomura giật mình ngoái lại thì thấy Iwama đang ló nửa đầu ra từ khe cửa nhòm vào bên trong.
“Không sao ạ.”
Motomura vội đáp. “Chị cần dùng chỗ này ạ?”
“Không. Thấy trưa rồi mà em vẫn chưa về phòng nghiên cứu nên chị mới đến xem thử...”
Nói thì nói thế, nhưng Iwama chẳng có vẻ gì là muốn bước chân vào phòng giải phẫu cả. Cô chỉ dám len lén nhìn Motomura từ khe cửa thôi.
“Ban nãy... là tiếng em cười hả?”
“Em không có.”
Motomura lắc đầu nguầy nguậy.
“Nói dối, rõ ràng là có cười mà. Ngoài hành lang cứ nghe thấy tiếng gì sởn da gà ấy.”
Để trấn an Iwama đang tỏ vẻ hãi hùng, Motomura bèn nói với giọng tươi tỉnh đầy nghị lực. “Hay mình giải lao chút nhé.”
Cô cất kẹp tăm lại vào hộp rồi đậy kín nắp ống Eppendorf đựng hạt giống.
“Ừ ừ, nghe hợp lý đấy. Lấy bento ra ăn thôi.”
Iwama gật đầu với vẻ thở phào rồi mới dám mở hẳn cửa ra. “Sáng giờ em cứ ở miết trong đây, chắc là đói bụng lắm đúng không?”
Vừa cảm thấy biết ơn vì gặp được một đàn chị quan tâm đến mình, Motomura vừa đi theo Iwama rời khỏi phòng giải phẫu tầng một để về lại phòng nghiên cứu Matsuda trên tầng hai.
Kawai và Kato đang ngồi trên chiếc bàn lớn trong phòng ăn trưa. Cách mà hai người họ xì xụp húp mì nom như một cái máy hút bụi cường lực vậy. Hơn nữa, ngay kế bên mỗi người là một ly mì ăn liền khác đã được đổ sẵn nước nóng chỉ chờ được thưởng thức. Mặc dù mùa thu đã qua, vậy mà bao tử của hai người vẫn còn lớn thật.
Đằng sau tấm bình phong không có bóng người. Thầy Matsuda tới căng tin trường sao? Hay là mang cơm hộp ra ăn chung với thầy Morooka rồi nhỉ? Motomura trước đây đã từng chứng kiến cảnh Matsuda và Morooka cùng thân thiết mở cơm hộp ra ăn ngoài bãi cỏ quảng trường trước vườn giảng đường Y. Lúc cô bắt chuyện thì được Matsuda trả lời với giọng hạnh phúc, “Vợ thầy Morooka làm cho tôi đấy.” Người đàn ông được mời ăn cơm hộp vợ yêu. Thật là bí ẩn hết sức. Bọn Motomura còn chả biết liệu thầy Matsuda có phải đang độc thân hay không.
Motomura lấy ấm đun thêm nước rồi pha cà phê cho Iwama và trà xanh cho mình. Đoạn, cô giở hộp cơm tự làm, đặt lên bàn rồi cầm lấy đôi đũa. “Mời mọi người cùng ăn.” Iwama cũng ngồi xuống bên cạnh cô để bắt đầu ăn miếng bánh kẹp mua ở cửa hàng tiện lợi.
Kawai và Kato ngồi đối diện hai người đã tóm lấy ly mì thứ hai rồi. Hai ông tướng vẫn hùng hục húp mì như trước. Đoạn, Kawai vừa xì xụp mì vừa hỏi:
“Sao, tình hình sao rồi?”
Sao anh làm được thế, hay vậy.
“Vẫn còn một nửa chưa tách xong.”
“Mục tiêu của chị là 1.200 hạt nhỉ?”
Kato cũng vừa húp mì vừa tỏ vẻ như đang muốn kêu “Oa” lên một tiếng. Sao cậu làm được thế, hay vậy.
“Chị Motomura có thể tập trung vào mấy công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ ha, em thì chịu thôi. Vả lại, nếu đã làm đến đó rồi mà thể biến dị lần bốn vẫn vô sinh thì chị định thế nào?”
Vô sinh tức là không cho ra hạt giống. Khi kết hợp các giống biến dị lại với nhau, thi thoảng sẽ có trường hợp không thể sinh sản thêm hạt giống.
Ừ nhỉ, mình chưa cân nhắc đến trường hợp cây bị vô sinh nữa. Đầu Motomura bây giờ đang chạy một trăm chữ “chết rồi” liên tiếp.
“Đừng có nói chuyện xui thế.”
Iwama mắng Kato.
“Em xin lỗi. Nhưng mà có được bốn thể biến dị trong số 1.200 hạt giống thì rõ là cần vận may không khác gì trò xổ số.”
“Thì bởi mới nói, ai mướn cậu xổ ra lời này hả!”
Iwama nổi cáu. Kawai thấy vậy liền mở miệng kêu “Thôi thôi” giảng hòa. Motomura thì như muốn sụp hẳn xuống sàn nhà dưới sức nặng của một trăm chữ “chết rồi” đang chạy rần rần trong đầu. Nói không phải khoe chứ vận may của Motomura kém cực. Dù có đi rút thăm trúng thưởng ở mấy khu phố thương mại đi nữa thì cô cũng chỉ trúng được mỗi cục kẹo làm quà an ủi thôi.
“Xin lỗi, xin lỗi.”
Thấy Motomura có vẻ trầm cảm, Kato liền thầm nghĩ, thôi xong. Đoạn, cậu liền liến thoắng sửa lời.
“À không, em cũng nghĩ thí nghiệm này rất là hay ho, thật đó. Phải trồng những 1.200 hạt Arabidopsis thaliana thì vất vả quá, nên đến chừng nào gieo hạt nhớ để em giúp chị nhé. Em đây giỏi nhất vụ trồng cây mà.”
“Chị cũng sẽ phụ một tay, có gì cứ nói, đừng ngại nhé.”
Vừa nhai miếng bánh kẹp thịt nguội, Iwama vừa chêm vào.
“Tôi thì lại khác với Kato, thích làm mấy chuyện tỉ mỉ như vậy hơn.”
Kawai nói với giọng đùa cợt. “Vụ loại giống ấy, Motomura không cần phải gánh một mình đâu. Thí nghiệm quan trọng nhất là tốc độ mà.”
“Cảm ơn mọi người nhiều.”
Được Kato, Iwama và Kawai động viên, tâm trạng Motomura đã bắt đầu tích cực lên đôi chút.
Hộp cơm mà hôm nay Motomura mang theo gồm món xúc xích nướng có rắc chút muối và tiêu, cải bó xôi và trứng chiên nêm với muối và tiêu nốt. Mùi vị vừa nhạt nhẽo lại vừa dầu mỡ nên cô còn đem theo chút mè để rắc lên cơm trắng nữa.
Motomura lần mò trong túi đựng hộp cơm rồi lấy ra gói mè được bọc bằng miếng nhựa thực phẩm. Miếng nhựa vốn dễ dính nên hơn một nửa gói mè đều rơi vãi hết lên bàn thay vì rơi vào cơm trắng.
Nhác thấy mấy hạt mè đen lốm đốm trên bàn, Motomura kêu toáng lên:
“Lây nhiễm rồi!”
Đoạn, cô vội vã gom hết mấy hạt mè rơi vãi đó lại.
“Bình tĩnh lại nào, Motomura.”
Iwama nói. “Đó có phải hạt giống cây Arabidopsis thaliana đâu, là hạt mè mà.”
“Hạt mè to như thế thì không có chuyện lây nhiễm được đâu.”
Kato cũng bình tĩnh chỉ ra.
Sau khi hoàn hồn lại, Motomura chợt thấy sợ hãi chính mình. Bởi vì quá chuyên chú vào việc loại giống mà cơ thể cô dường như đã hình thành phản xạ với bất kỳ loại hạt nào vừa bé tí vừa đen thui rồi.
“Xin lỗi mọi người. Em... hình như em có hơi không được bình thường.”
Motomura ăn cơm mà thẹn đến nỗi đỏ mặt. Mấy hạt mè đen được cô nhặt lại sau rắc rối nho nhỏ kia đều được cô cho hết lên cơm vì tiếc rẻ. Thôi thì dù sao cũng chả phải rơi xuống đất.
“Không chỉ có hơi thôi đâu, mà là quá bất bình thường ấy chứ.”
Kato húp nước mì.
“Nhưng chị hiểu tâm trạng của em lắm.”
Iwama thì thở dài thườn thượt. “Làm nghiên cứu về thực vật thì hầu như ai cũng từng phải đi loại giống cây rồi. Dễ lâm vào tình trạng thấy cái gì cũng kêu trời, sao lại có hạt giống ở đây, chú ý lây nhiễm này kia.”
“Ăn cơm trưa xong đi tản bộ chút cũng tốt.”
Sau khi làm thinh chứng kiến màn báo động lây nhiễm giả kia, Kawai liền nhẹ giọng khuyên. “Thay đổi tâm trạng cũng quan trọng lắm đấy. Như thế thì mới lấy lại được sự tập trung.”
***
Rời khỏi tòa nhà B khu Tự nhiên, Motomura hít thở sâu rồi ngẩng đầu nhìn lên bầu trời. Ngọn cây rẻ quạt đã ngả lá vàng đập vào mắt cô. Bên kia ngọn cây là tầng mây màu xám nhạt trải rộng trên bầu trời. Cô hít vào buồng phổi luồng khí vừa trong lành lại vừa mát mẻ.
Đây đó bên trong khuôn viên trường Đại học T có trồng mấy cây rẻ quạt cổ thụ. Chẳng biết chúng đã đổi màu tự bao giờ, hóa thành một ngọn lửa bùng lên vàng rực. Motomura mỗi ngày đều đi ngang qua dưới mấy gốc cây rẻ quạt, nhưng vì trong đầu chỉ mải nghĩ đến chuyện loại giống nên cô hoàn toàn không để ý rằng đã đến thời khắc chuyển mùa rồi.
Quả đúng như lời anh Kawai nói. Mình chỉ lo đâm đầu vào một vấn đề duy nhất nên tầm nhìn đã trở nên hạn hẹp hẳn. Mặc dù hôm đi đào khoai mình đã tự nhủ rằng phải mài giũa óc quan sát nhiều hơn.
Được rồi, bắt đầu từ hôm nay, mình sẽ cố gắng thay đổi tâm trạng. Sau khi hạ quyết tâm, Motomura liền rảo bước đi dạo quanh khuôn viên trường. Bên ngoài chiếc cardigan cô chỉ khoác thêm một chiếc áo phao phong phanh nên giờ có thấy hơi rét. Mà thôi, cứ để cơ thể vận động chút là không thành vấn đề nữa ấy mà. Bây giờ không có gì quan trọng hơn việc thay đổi tâm trạng nên Motomura cứ băng băng tiến về phía trước mà không thèm liếc mắt nhìn ai.
Ngay cả việc thay đổi tâm trạng mà cũng phải hạ quyết tâm, điều này chứng tỏ rằng Motomura không chỉ quá cứng nhắc mà còn không thể linh hoạt thay đổi theo tình huống. Đến mức mấy sinh viên chứng kiến cảnh cô đi xăm xăm cũng phải tự hỏi có phải cô đang bị trễ giờ đến một buổi học quan trọng nào không.
Dĩ nhiên là bản thân đương sự Motomura không hề nghĩ rằng mình đang lộ ra vẻ mặt trầm trọng như muốn báo thù cho cha mẹ. Cô lướt qua dãy nhà khoa Y rồi quẹo vào góc sân bên cạnh. Vì khuôn viên trường quá mênh mông nên đến đó là gò má cô đã đỏ ửng, còn ngón tay thì tê rần.
Sân chơi nằm phía bên phải Motomura có chừng mười sinh viên đang lặng lẽ chạy bộ. Lúc cô dời ánh mắt về phía bên trái thì thấy một cánh rừng màu xanh rậm rạp. Khu rừng vây quanh hồ nước nổi tiếng trong tiểu thuyết của Natsume Soseki đây mà.
Motomura đi xuống triền dốc khá đứng để đến khu hồ nước được hình thành từ một cái hố trũng. Con đường này không được trải nhựa nên trông chẳng khác đường mòn. Hàng cây cổ thụ rợp bóng râm che trên đầu cô, khiến Motomura cảm giác như mình đang đi thám hiểm sâu trong trung tâm của khuôn viên trường vậy.
Motomura cũng tự biết rằng thần kinh vận động của mình kém nên cô bước đi rất từ tốn và cẩn thận để tránh vấp phải rễ cây mà té lộn nhào.
Cô đi xuống chỗ rìa hồ. Đằng đó có ba người đàn ông đang làm việc, chắc là nhân viên làm vườn. Một người đang cắt lá trúc, hai người còn lại thì đang bì bõm ở chỗ có mực nước quá gối để dùng rổ vớt lá khô rơi rụng trên mặt hồ. Họ mặc trang phục nom như đồ chống nước gồm một chiếc tạp dề bằng cao su và giày ống, trong tay cầm dụng cụ là một cây vợt tre dài bằng sải tay để mà thao tác.
Có điều, cái hồ này rộng quá. Nghĩ đến nỗ lực không được ai biết tới của những người công nhân để bảo tồn cảnh quan thiên nhiên này, Motomura chợt thất thần.
Cũng giống như khi ta vẽ trên bãi cát, dù cho bức tranh có đẹp đẽ tráng lệ đến đâu thì sóng và gió cũng sẽ làm cát trôi đi. Việc nghiên cứu tế bào qua ống kính hiển vi và vớt lá khô trên hồ là những công việc mãi mãi không thấy điểm kết thúc. Đúng vào thời điểm ta cứ nghĩ đã xong rồi thì tất cả lại hóa thành ảo giác. Cứ phải không ngừng nghiên cứu thêm về các tế bào khác, không ngừng vớt thêm lá khô mới rơi xuống hồ.
Dù là vị trí công tác hay hoạt động kinh doanh nào, đều không có một điểm kết thúc thực sự. Motomura nghĩ thầm. Giả dụ bây giờ mình có đem lòng yêu ai chăng nữa thì thứ tình cảm tích tụ dần dà qua ngày tháng ấy sẽ không bao giờ ngừng lại, vào một lúc nào đó, hoặc là nó sẽ bị vỡ tan ra hoặc sẽ chuyển đến nơi nào khác mà thôi. Hẳn là thế rồi.
Motomura luôn xem tình yêu theo nghĩa lãng mạn là một thứ gì đó xa vời nên bản thân cô không thể nói nhiều về nó, tuy nhiên, theo những gì mình đã nghe ngóng thì Motomura cũng biết rằng, việc tin tưởng vào thứ tình yêu vĩnh hằng bền vững qua năm tháng là một điều hết sức ngây thơ.
Công việc cũng thế, nghiên cứu cũng thế, tình yêu cũng thế, những người đang thực hiện chúng cũng thế, một khi khoảnh khắc của hiện tại trôi đi, Motomura trong lòng nổi sóng, thứ còn lại... sẽ là gì?
Có lẽ, chính là thực vật. Thực vật, những thực thể không có suy nghĩ, cũng không có tình yêu theo chuẩn mực của loài người, sẽ bùng lên thứ sức sống mãnh liệt và nuốt chửng toàn bộ.
Mớ lá khô sẽ tiếp tục rơi rụng và chẳng mấy chốc lấp đầy cả hồ nước. Rễ cây sẽ vặn vẹo và phá lớp nhựa đường để trồi lên. Cành nhánh sẽ vây bủa và phủ kín tòa nhà B cùng vườn giảng đường Y.
Cảnh tượng đó vừa đáng sợ lại vừa diễm lệ. Những ngôi trường đại học, các thành phố, và toàn bộ địa cầu, tất cả sẽ bị những loại thực vật không biết đến tình yêu vây khốn. Tưởng tượng ra khung cảnh đó, Motomura lâng lâng thở hắt ra một hơi.
Chim họa mi hót lên lanh lảnh rồi bay chuyền sang cành cây gần đó. Trước đôi mắt vừa tỉnh mộng của Motomura, nhân viên làm vườn vẫn đang tiếp tục công việc. Tiếng xoay của máy cắt lá trúc. Bàn tay thoăn thoắt di chuyển cái rổ.
Dẫu có là công việc nhỏ bé không có điểm dừng thì nó cũng không vô bổ chút nào. Motomura nghĩ lại. Công việc nào, nghiên cứu nào, tình yêu nào cũng thế. Như thực vật ngoan ngoãn sống sót nhờ vào ánh mặt trời, loài người cũng đang trải qua cuộc đời của chính họ. Tất cả đều là lẽ hiển nhiên. Tuy rằng nhìn thoáng qua thì mỗi một hành động đều chẳng có ích lợi gì.
Quay về nghiên cứu thôi. Motomura tiếp tục cất bước. Bởi vì đối với mình mà nói, đó chẳng phải là chuyện khiến bản thân vui vẻ nhất đó sao. Dù có kỳ quái chút cũng được, nhưng chỉ cần nhìn vào các tế bào thông qua kính hiển vi, mình sẽ thật sự cảm nhận được rằng, thực vật và cả mình vẫn đang còn sống. Đành vậy thôi. Vì đó là lẽ hiển nhiên nên mình chỉ còn cách phải thực hiện nó thôi. Vẫn còn rất nhiều hạt giống cây Arabidopsis thaliana đang đợi mình bóc tách ra kìa!
Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng cũng không hẳn là bản thân mình dung túng cho thói xấu nhân hóa thực vật bằng cách cho rằng chúng đang đợi mình đâu. Chẳng qua vì mình hay khiến người khác phải chờ đợi. Thôi thì trước tiên cứ về tách hạt giống đã.
Motomura vòng qua hồ nước rồi bắt đầu leo lên một con dốc khác. Con dốc này nhìn qua cũng chả khác đường mòn là bao. Rốt cục, lúc trèo được tới khu vực quanh thư viện sau khi lên hết con dốc rồi, Motomura rơi vào tình trạng có chút đứt hơi. Cô mới chỉ hai mấy tuổi mà thần kinh vận động lại yếu ớt đến vậy. Thế này thì phải đi bộ mỗi ngày mới được.
Bởi vì đang ở gần đường Hongo nên cô nghe loáng thoáng tiếng xe ô tô chạy bên ngoài. Motomura điều chỉnh lại hô hấp rồi bắt đầu đi trên con đường dẫn về tòa nhà B khu Tự nhiên. Nhắc mới nhớ, hàng cây rẻ quạt ở đó cũng đã thay lá rồi. Cô ghé vào bên đường rồi đưa mắt ngắm nghía lá cây rẻ quạt.
“Đây rồi!”
Motomura ngồi thụp xuống để nhặt một chiếc lá rẻ quạt đã chuyển sang màu vàng rụng trên mặt đất.
Thông thường, lá cây rẻ quạt sẽ có hình dạng như một chiếc quạt giấy xòe ra, nhưng chiếc lá này thì lại khác. Nó tròn như một chiếc kèn trumpet vậy. Không hề có bất kỳ dấu nối nào, toàn bộ phiến lá đều tròn xoe. Vì chiếc lá cũng có màu vàng khiến cô không khỏi tưởng tượng rằng nó có phải là chiếc kèn trumpet của người tí hon nào đánh rơi không, nếu cô cầm nó lên thổi thì sẽ thật sự phát ra tiếng chứ.
Trong khuôn viên trường Đại học T có trồng rất nhiều cây rẻ quạt, thế thì tại sao chỉ có một bộ phận cây ở nơi này mới có lá dạng kèn trumpet? Mình có nên đem nó về nghiên cứu không nhỉ, biết đâu là do gen di truyền của lá xảy ra đột biến thì sao?
Motomura mới biết chuyện lá rẻ quạt trumpet từ hồi năm ngoái nhờ nghe thầy Matsuda kể. Lúc đó, cô đang rời khỏi thư viện sau khi đã xong việc tra cứu thì chợt thấy Matsuda đang lui cui bò trên mặt đất. Mấy sinh viên đi ngang qua ai cũng nhìn thầy ấy với vẻ hãi sợ. Vốn dĩ Motomura cũng muốn vờ tỏ vẻ không quen biết gì thầy ta, nhưng rồi lại nghĩ như thế thì vô lễ với giáo sư hướng dẫn của mình quá, nên cô đành thu hết can đảm để cất giọng gọi thầy.
“Thầy ơi, thầy làm rơi kính áp tròng ạ?”
Matsuda ngoái đầu lại nhìn Motomura.
“Chẳng phải tôi đang đeo mắt kính đây sao?”
Thầy ta đáp với vẻ mặt nghiêm túc cực.
“Xin lỗi thầy. Vậy là... thầy đang tính...?”
“Trò nhìn kỹ chỗ này đi.”
Matsuda giơ tay vẫy vẫy cô lại, mắt thì đảo về phía gốc cây rẻ quạt. Tuy ngại với mọi người xung quanh nhưng Motomura vẫn quỳ gối xuống bên cạnh thầy.
Trên mặt đất phủ đầy mấy chiếc lá rẻ quạt bình thường, khiến nơi này nom như được trải một tấm thảm vàng chóe. Rốt cục là mình nên nhìn chỗ nào đây, đúng lúc Motomura đang băn khoăn thì thầy Matsuda đã nhặt một chiếc lá từ trong tấm thảm ra.
Đó chính là chiếc lá rẻ quạt trumpet.
“Oa!”
Motomura kêu lên đầy sửng sốt.
“Chúng rơi nhiều như vậy mà chẳng ai để ý.”
Matsuda nở nụ cười, như thể thầy là một nhà ảo thuật vừa thành công với trò biểu diễn của mình. Đoạn, thầy thả chiếc lá có hình kèn trumpet vào tay Motomura. “Thực vật có nhiều điều khó hiểu thật ha.”
Thầy cũng là một người khó hiểu đâu thua gì thực vật, lúc bấy giờ Motomura đã trộm nghĩ như thế.
Matsuda vốn là người hướng nội, ngoại trừ những lúc ở ngoài tham gia hội nghị chuyên đề, đa phần thầy chỉ dành thời gian chui rúc bên trong tòa nhà B khu Tự nhiên. Song, với tư cách là một nhà nghiên cứu thì óc sáng tạo của thầy có thể nói là vô biên. Thầy có thể tiến hành những loại thí nghiệm mang tính cải cách, kiên trì tổng hợp những bài nghiên cứu lại với nhau, còn đưa ra được những lời khuyên chuẩn xác giúp các sinh viên cao học thoát khỏi cảnh bế tắc nữa. Thêm vào đó, một trong những tài năng đặc biệt của thầy chính là phát hiện hình dạng khác thường của những loại thực vật được trồng trong khuôn viên Đại học T hoặc bên vệ đường trên đường thầy đi làm.
Chính thầy Matsuda là người đã phát hiện, trước sân một nhà dân ở gần trường có cây hoa trà mọc lá mang hình dạng rất đặc biệt. Nghe bảo vì thầy ấy đã nhìn lom lom vào bên trong thông qua kẽ hở của hàng giậu trước nhà nên đã khiến cho cảnh sát tuần tra khu đó phải lui tới hỏi thăm một chút. Thế là thầy đành phải ra sức giải thích sự tình với chủ nhà và cảnh sát để đem cây hoa trà về nghiên cứu. Sau đó thì thầy kết luận, đây không những là giống cây cực kỳ quý hiếm từ thời Edo, mà còn là loài bị cho là đã tuyệt chủng từ Thế chiến II.
Chủ nhà được một phen kinh ngạc pha lẫn vui sướng nên đã ký thác luôn cây hoa cho thầy Matsuda. Thầy Matsuda có dịp phát huy tối đa biệt tài “ngón tay xanh” của mình, phối ra nhiều hạt giống hoa trà rồi trả vật về chủ cũ. Hiển nhiên là mấy hạt giống ấy đã được thầy ta trồng ở vườn thực vật của Đại học T như là tài liệu nghiên cứu. Vì đó là một giống cây quý hiếm nên cần phải được gieo trồng rộng rãi để truyền lại cho đời sau.
Rốt cục thì đôi mắt và bộ não của giáo sư Matsuda hoạt động như thế nào vậy nhỉ? Cặp mắt có phản xạ tinh tường và bộ não linh động ấy dường như chỉ tồn tại vì thực vật. Motomura cũng muốn có được đặc ân như thế, nhưng dĩ nhiên là cô không thể đuổi kịp trình độ của Matsuda rồi.
Cô vừa suy nghĩ miên man vừa ngồi xổm trên mặt đất, ngắm nhìn chiếc lá rẻ quạt mà mình vừa nhặt được.
“Cô Motomura ơi.”
Có tiếng ai đó đang gọi mình. Là Fujimaru ở Viên Phục Đình. Anh đang dắt bộ chiếc xe đạp mọi khi đi về hướng tòa nhà B.
“Chào anh.”
Motomura đứng dậy. “Anh đang đi giao hàng đến phòng nghiên cứu nào vậy?”
“À đâu, tôi vừa mới gửi món khoai lang nghiền đến phòng nghiên cứu Matsuda và phòng nghiên cứu của giáo sư Khoai ấy mà.”
Fujimaru dừng xe lại rồi lấy ra một gói giấy nhỏ từ cái thùng bạc lủng lẳng phía sau xe. “Đây là phần của Motomura.”
Motomura giữ chiếc lá rẻ quạt trumpet trong tay rồi nhận lấy gói giấy. Cô nói lời cảm ơn anh, sau đó nhẹ nhàng mở lớp giấy ra. Có năm viên khoai lang nghiền được gói bên trong, tất cả đều được bọc lại bằng màng bọc thực phẩm. Món tráng miệng nóng hôi hổi vàng rộm này trông ngon miệng quá.
“Cảm ơn anh rất nhiều.”
Motomura lại nói một lần. Fujimaru có vẻ xấu hổ, hai chân anh cứ đá qua đá lại liên tục.
“Lúc khoai lang bắt đầu ăn được tôi đã làm nhiều lắm. Ở Viên Phục Đình tôi để chúng làm món tráng miệng, ai cũng khen, sư phụ còn cảm ơn mọi người nữa. Do không biết có bao nhiêu người ở phòng nghiên cứu của giáo sư Khoai nên tôi nhét kín hộp nhựa luôn.”
“Giáo sư Morooka chắc là vui lắm phải không?”
“Ừ. Cũng bõ công.”
Hai người chợt im lặng một lúc. Fujimaru lại chân này đá chân kia.
“Thật ra thì... tôi nghe mọi người ở phòng nghiên cứu Matsuda bảo là cô Motomura đang đi dạo. Giáo sư Matsuda còn chỉ tôi ra khu thư viện để tìm cô nữa. Thế là nhân lúc tiện đường về lại Viên Phục Đình, tôi nghĩ hay cứ ghé qua thử xem.”
“Vậy ạ?”
“À không, tôi không phải cố tình theo dõi cô đâu, chẳng qua là vì mọi người ở phòng nghiên cứu không chịu nhận giúp phần khoai của cô thôi. Họ đều bảo tôi đưa trực tiếp cho cô sẽ tốt hơn, mấy người như chị Iwama thì đã ngấu nghiến phần của mình trước rồi.”
“Xin lỗi anh nhé, là do tôi không lựa thời điểm, làm phiền anh phải chiếu cố rồi.”
“Không sao không sao, tôi có phiền gì đâu. Tiện đường về thôi mà. Tiện đường thôi.”
Fujimaru không chỉ vừa lắc đầu nguầy nguậy vừa xua tay túi bụi, mà ngay cả chân anh còn như đang giẫm phải pháo, cứ đá qua đá lại như không biết chân nào nên đỡ thân người.
“Mà này...”
Fujimaru lại cất lời. “Cô ngồi xổm ở đây... để làm gì đó?”
“Để tìm cái này ạ.”
Motomura đưa anh xem lá rẻ quạt trumpet kia. Fujimaru bất chợt kêu lên oa ôi rồi mới dám rụt rè cầm lấy nó.
“Đây là gì vậy? Lá rẻ quạt à? Lần đầu tiên tôi mới thấy nó có hình thù này đó.”
Anh ngắm nghía chiếc lá hình tròn từ nhiều góc độ, mãi không thấy chán.
“Không hiểu sao chỉ có mỗi cây này mới mọc ra lá như vậy.”
“Ồ. Nom nó giống chiếc kèn trumpet của con yêu tinh nào đó ghê.”
Ngay sau khi nói ra câu đó, Fujimaru lập tức tỏ vẻ như mình đã lỡ lời. “A, cô cứ xem như tôi chưa nói gì đi. Nghe ấu trĩ hết sức.”
Motomura bỗng cảm thấy lồng ngực nóng lên. Nếu phải miễn cưỡng dùng lời để miêu tả thì hẳn là cô đang thấy “xúc động”.
“Không đâu.”
Motomura lắc đầu. “Không đâu, mỗi lúc nhìn thấy chiếc lá đó tôi cũng nghĩ như anh vậy.”
Đứng trước sự khó hiểu của thực vật, Motomura và Fujmaru đều có chung một tưởng tượng với nhau. Cả hai đều cùng nhau chia sẻ một thứ cảm giác lạ kỳ. Motomura thấy xúc động trước những lời mà Fujimaru đã nói. Dẫu chỉ trong phút chốc đi nữa thì cô vẫn thấy vui sướng tột cùng, cảm giác như hai người đã được kết nối với nhau qua một điều gì đó.
Như giây phút Motomura nhòm vào ống kính hiển vi, quan sát những tế bào có hình dạng kỳ quái và thấy ngạc nhiên; như khoảnh khắc thầy Matsuda phát hiện ra cây hoa trà từ phía bên kia hàng giậu; giờ đây, Motomura có thể cảm nhận được nỗi kích động của niềm vui đang chạy khắp thân thể cô như điện giật, như thể giữa cô và Fujimaru đang có chung một cảm thụ vậy.
Chính điều này đã khiến cô không thể nào ngừng nghiên cứu.
Chính điều này đã khiến cô không thể nào ngừng sống như một con người.
“Thế thì may quá.”
Fujimaru cười, đoạn, anh ngẩng lên nhìn cây rẻ quạt sừng sững bên cạnh. “Nhìn thế này chỉ thấy toàn mấy chiếc lá có hình dạng bình thường thôi nhỉ.”
“Mấy chiếc lá hình trumpet chắc là mọc trên cành cao hơn kia. Cho nên chỉ khi chúng chuyển màu vàng rụng xuống đất thì mình mới thấy được.”
Fujimaru gật đầu lia lịa, rồi anh quay sang Motomura.
“Cô thấy việc nghiên cứu bây giờ thế nào?”
“Tôi đang phải tách hạt cây Arabidopsis thaliana. Dự tính là sẽ tách chừng 1.200 hạt giống.”
“Một nghìn hai trăm hạt á!?”
“Làm xong còn phải dùng tăm dính từng hạt một để đem đi gieo.”
Fujimaru kêu lên một tiếng thán phục. Lúc anh định đi trước thì đã kịp phát hiện ra vẻ mặt buồn bã của Motomura.
“Cô nên ăn chút đồ ngọt đi.”
Anh gợi ý. “Tuy tôi không biết cô đang gặp phải khó khăn gì, nhưng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe nếu cô muốn.”
Đồ ngọt ư? Nghe thế, Motomura có chút không hiểu, nhưng cô sực nhớ ra gói giấy trên tay mình. Mấy viên khoai lang nghiền nóng hôi hổi ban nãy cô đã nhìn thấy. Bỗng dưng Motomura thấy thèm ăn cực, cô rất tán thành ý kiến ăn vặt vào giờ nghỉ trưa.
Hai người cùng ngồi vào băng ghế bên đường, cách cây rẻ quạt trumpet một khoảng khá gần. Fujimaru dựng xe đạp ở chỗ không chắn lối đi theo đúng quy định.
“May mà ở đây không có mùi bạch quả.”
Fujimaru nói.
“Quanh đây chỉ toàn cây đực thôi. Khu vực cây rẻ quạt chỗ Xích Môn thì hình như hay có người dân gần đó đến nhặt bạch quả lắm.”
“Thì ra!”
Fujimaru kêu lên. “À không, bác gái tiệm giặt ủi mà tôi hay tới ấy, bác ta mấy hôm nay hay cầm theo túi nilon xếp sẵn, đi ra ngoài vào thời gian tôi thường ra quét dọn trước cửa tiệm. Tôi có hỏi bác ta chuẩn bị đi đâu thì bác ấy chỉ bảo rằng đi đây chút thôi. Bác ta có nuôi chó đâu mà lại cầm theo túi nilon, tôi cứ thấy quai quái thế nào. Rõ là bác muốn độc chiếm hết mớ bạch quả ấy cho riêng mình đây mà.”
Anh Fujimaru dường như cũng khá thân thiết với hàng xóm láng giềng nhỉ, Motomura thầm nghĩ. Cô có chút ghen tị. Motomura luôn ưu tiên việc nghiên cứu nên cứ lần lữa mãi mấy cuộc hẹn với hội bạn đã đi làm, ban đêm thì cũng chỉ về nhà để ngủ, hầu như không bao giờ chuyện trò gì với mấy người hàng xóm.
Motomura nâng gói giấy đang đặt trên đùi lên rồi chìa ra cho Fujimaru.
“Tôi không ăn đâu. Lúc nếm thử đã ăn nhiều lắm rồi.”
Nghe vậy, Motomura không còn ngại ngùng gì nữa mà lấy một viên khoai lang nghiền ra khỏi lớp màng bọc thực phẩm.
Món khoai lang nghiền đặc chế của Fujimaru ngon tuyệt cú mèo. Nó vừa mềm mại vừa giòn tan trong miệng, với vị ngọt lan tỏa trên đầu lưỡi. Chắc là nhờ tỉ lệ phối liệu hoàn hảo giữa bơ lạt và kem tươi nên món ăn này mới mang lại cho cô đầy đủ cảm giác xốp mềm đến thế.
Thật là một hương vị dịu dàng, Motomura thầm nghĩ. Nhưng để có thể trưng ra vẻ mặt thán phục thành thục như trong mấy chương trình ẩm thực trên tivi thì với tính cách của cô là quá khó. Thấy Motomura chỉ lặng lẽ ngồi nhai một cách chăm chú, Fujimaru liền bắt ý ngay.
“Hay để tôi đi mua đồ uống nhé?”
“À thôi, không cần đâu ạ. Món này ăn ngon lắm.”
Motomura nhón lấy viên thứ hai. Cứ thế này thì sẽ ăn một mạch hết luôn mất, thế là cô đành phải gói mấy viên khoai còn lại trên tay mình vào bên trong gói giấy. Fujimaru thì mải ngắm nghía lá rẻ quạt trumpet mà anh đang cầm, dáng vẻ như chìm vào suy tư.
“Cô thu thập 1.200 hạt giống lại để nghiên cứu gì thế?”
“Tôi sẽ giải thích vắn tắt cho anh rõ. Thật ra tôi đang muốn tìm hiểu cơ chế khiến phiến lá dần trở nên to ra. Nếu mọi thứ thuận buồm xuôi gió thì không chừng tôi có thể thu hoạch lá cây Arabidopsis thaliana khổng lồ đấy.”
“Ồ. Vậy có nghĩa là một lúc nào đó, ta sẽ tạo ra một chiếc lá rẻ quạt trumpet to như cây kèn trumpet dành cho các nhạc công luôn hả?”
“Thế nào nhỉ? Nếu tất cả mọi lá cây đều trở nên khổng lồ như thế thì mùa lá rụng hẳn sẽ rất nguy hiểm, đúng không?”
“Ừ nhỉ. Nếu mấy chiếc lá to như bảng hiệu mà rơi lộp độp xuống đường thì dù chúng có nhẹ cách mấy đi nữa, cũng khiến cho người ta khó chịu ha.”
Cả hai cùng bật cười.
Ăn xong hai viên khoai lang nghiền, Motomura chợt cất giọng gọi, “Anh Fujimaru này.”
“Không hiểu sao... khi lấy một số lượng lớn hạt giống như vậy, tinh thần tôi lại trở nên kỳ lạ lắm.”
“Kỳ lạ... là sao?”
“Kiểu như, chỉ muốn hét lên a a thật to ấy. Cứ nghĩ đến chuyện mình đang lợi dụng thật nhiều hạt giống Arabidopsis thaliana cho việc nghiên cứu, không hiểu sao tôi cứ thấy tội lỗi...”
“Không phải cô đang nghĩ quá nhiều sao?”
Fujimaru xoay tròn lá rẻ quạt trumpet mà mình đang cầm trên tay, như thể anh muốn dùng nó để bện dây vậy.
“Bản thân chúng ta luôn phải sống mà không biết rõ lý do mình được sinh ra, nhưng ta vẫn ăn uống, ngủ nghỉ, yêu đương. Cây Arabidopsis thaliana cũng thế, kể từ lúc chào đời thì nó cũng chỉ biết sống sót và sinh trưởng sum suê thôi. Tôi nghĩ rằng, nếu cô có thể gieo trồng và nghiên cứu được những hạt giống mà mình đã bóc tách thì nhất định là chuyện rất tốt.”
“Thế sao ạ?”
“Có lẽ. Dù gì thì Arabidopsis thaliana cũng đâu quan tâm đến mục đích của cô Motomura hay mấy chuyện khác. Tôi cũng thường nghĩ giống cô mỗi khi nhìn vào con cá hay bó rau trong nhà bếp của tiệm. Tôi nghĩ rằng, bọn chúng đã rất nỗ lực sống sót trong thế giới của riêng chúng rồi, từ giờ tôi sẽ cố gắng để biến chúng thành những món ăn thật ngon, khiến tất cả thực khách đều vui vẻ.”
“Vậy ạ.”
Motomura đưa mắt nhìn xuống gói giấy trên đùi mình. Cô vốn đang bế tắc với chuyện lấy giống, nhưng giờ đây tinh thần cô đã được giải tỏa và trở nên thoải mái hơn đôi chút rồi, giống như mấy viên khoai lang nghiền này vậy.
“Nhưng dù gì thì cây Arabidopsis thaliana cũng tuyệt vời lắm.”
Fujimaru gãi gãi sau đầu rồi khéo léo chuyển chủ đề. Anh ra sức huyên thuyên với hi vọng rằng Motomura sẽ cảm thấy khá hơn, nhưng thực ra anh vẫn còn xấu hổ lắm. Motomura thì chẳng hề hay biết tâm tình của chàng trai. Cô chỉ nghiêm túc hỏi lại anh rằng, “Tuyệt vời ra sao?”
“À không, lấy những 1.200 hạt giống bé xíu như vậy, nếu cứ để mặc chúng thì biết đâu thực vật trên khắp Trái đất đều trở thành cây Arabidopsis thaliana?”
“Chỉ có khoảng ba mươi hạt được lấy ra từ một quả thôi.”
“Thì nói thế, nhưng nếu lấy tiêu chuẩn loài người thì nhà này đông con khủng khiếp. Một sức sinh đẻ đáng nể. Quả nhiên, kể cả trong thế giới thực vật thì được ưa thích cũng là một lợi thế nhỉ.”
Câu cuối cùng của anh nghe như có lẫn chút than thở, nhưng Motomura không nghe kỹ. Cô chợt kêu lên, cắt ngang lời của Fujimaru.
“Chính là nó!”
“Hơ, nó là gì?”
Fujimaru giật mình.
“Anh Fujimaru này, trước kia tôi từng bảo anh là vì tò mò với hình dạng của phiến lá và cách chúng phát triển nên tôi mới nghiên cứu về chúng, phải không?”
“Vâng.”
“Nhưng tôi chỉ mới nghĩ thông suốt từ lúc vào đại học thôi, khoảnh khắc đầu tiên tôi nhận ra mình tò mò về thực vật thực chất là hồi tôi học tiểu học kia.”
“Hả? Thế ra từ thuở bé cô đã yêu thích thực vật rồi à?”
“Thích thì thích, nhưng, ừm... tiểu học có lớp giáo dục giới tính đúng không?”
Motomura nhỏ giọng nói từ “giáo dục giới tính” nên Fujimaru phải nghiêng người mới nghe rõ lời cô nói. Ngay sau đó, anh đã lập tức ngồi thẳng lưng lên.
“Đúng là có ha.”
“Lúc đó, giáo viên sẽ dùng hình vẽ cắt lớp của bông hoa nhỉ? Bào tử di chuyển từ nhị đực đến nhụy hoa để hình thành nên sự thụ phấn.”
“Hình như là vậy. Tôi cũng không nhớ rõ nữa.”
“Trường tiểu học của tôi thì dạy như thế đấy. Giáo viên còn giải thích cho bọn tôi hiểu rằng, con người cũng giống hoa, trứng của con gái kết hợp với tinh trùng của con trai để tạo thành em bé. Nhưng lúc đó tôi lại chẳng hiểu gì cả.”
Motomura chú ý nhỏ giọng khi nói từ “tinh trùng”. Lần này, Fujimaru vẫn giữ nguyên tư thế ngồi nghiêm nghị như cây trúc cây tùng. Rốt cục thì cô ấy đang muốn nói gì vậy, toàn thân anh toát mồ hôi hột bất chấp đang giữa mùa đông. Nhưng dĩ nhiên là Motomura vẫn tiếp tục nói mà không hề để ý đến tình trạng đó của anh.
“Bởi vì con người làm gì có nhị đực và nhụy cái, phải không?”
“À thì, nó vẫn đúng về mặt ngữ nghĩa...”
“Nhưng chúng ta làm gì có hình dạng đó? Thế là tôi đã luôn thắc mắc làm cách nào để trứng và tinh trùng kết hợp lại với nhau. Mãi đến một năm sau, khi phát hiện ra chân tướng thì tôi mới reo lên vỡ lẽ.”
“Vậy... vậy ạ?”
“Không lẽ anh Fujimaru chưa từng có thắc mắc nào giống vậy sao?”
Motomura nhòm vào Fujimaru đang ngồi cạnh mình với vẻ chờ mong.
“Không, hoàn toàn không.”
Fujimaru đỏ mặt mà thẳng thừng đáp. Nghe vậy, cô có chút thất vọng. Vì muốn lại được trải nghiệm cảm giác tâm ý tương thông như ban nãy nên Motomura mới hiếm hoi mở lòng bằng cách kể ra câu chuyện này, song, cô đã thất bại.
Khi không đổi chủ đề làm gì cơ chứ, Motomura bỗng cảm thấy hoảng hốt nên nhanh trí chuyển câu chuyện sang hướng khác.
“Nói chung là từ dịp đó mà tôi mới trở nên tò mò với thực vật đến vậy. Bởi vì chúng không giống với loài người, cách sinh sôi nảy nở, cách chúng phát triển và sống sót đều hoàn toàn khác.”
“Ừm...”
Fujimaru khẽ ngâm. “Xét ra thì tôi theo phái tò mò với cách loài người sinh sôi nảy nở hơn. Tôi nghĩ rằng chắc hơn nửa dân số cũng giống như tôi.”
“Vậy sao ạ...”
Quả nhiên chỉ có mình mình là kỳ quặc thôi, Motomura lại trở nên rầu rĩ.
“Cứ mỗi lần phối giống cây Arabidopsis thaliana là tôi lại không khỏi ước rằng giá như loài người cũng giống với thực vật thì tốt biết mấy. Chỉ cần đưa bào tử đến nhụy hoa là có thể kết ra hoa trái.”
“Không liên quan gì đến chuyện tình cảm đó chứ?”
Bị hỏi, Motomura giật nảy người. Tuy đang thầm tự trách bản thân vì hỏi một câu vô duyên, nhưng ánh mắt Fujimaru trao cho Motomura lại dịu dàng lạ thường.
“Không biết thực vật... có cảm thấy vui sướng không nhỉ?”
Fujimaru nói. “Ví dụ như lúc phấn hoa bay đến nhụy cái chẳng hạn.”
“Chúng không có hệ thần kinh nên sẽ không biết được đâu là cảm giác vui sướng, đâu là cảm giác khó chịu. Thiết nghĩ vì ngay từ đầu bản thân chúng đã không có những khái niệm cảm xúc đó rồi.”
“Hừm.”
Fujimaru đứng bật dậy khỏi băng ghế, kêu rằng hôm nay trời lạnh thật, đoạn bắt đầu dắt xe đạp ra. Motomura cũng bước đi bên cạnh anh.
Hai người từ từ thả bộ ra đến Xích Môn.
“Cho tôi giữ chiếc lá này được không?”
Fujimaru khẽ khàng huơ huơ chiếc lá đang kẹp giữa hai ngón tay.
“Được chứ ạ, anh cứ giữ nó đi.”
“Cô Motomura này, tôi luôn nghĩ rằng mình thật may mắn vì được sinh ra làm người. Bởi vì làm người rất là vui sướng.”
Vì lần đầu tiên được nhìn thấy nụ cười tươi rói của Fujimaru nên lần này đến phiên gương mặt của Motomura đỏ lựng không thua kém gì màu của Xích Môn.
“Nhưng mà tôi cũng muốn biết bí mật ẩn đằng sau phiến lá lắm, nên tôi sẽ ủng hộ cô hết mình.”
Fujimaru trèo lên xe đạp rồi dùng một chân đạp lấy bàn đạp. “Mọi người nhớ lại đến Viên Phục Đình dùng bữa nhé!”
Motomura đứng dõi theo bóng lưng của Fujimaru chẳng mấy chốc đã đi xa. Sau đó, cô đi bộ về tòa nhà B khu Tự nhiên với gói giấy khoai lang nghiền vẫn cầm trong tay.
Con người không thể biến thành thực vật. Nhưng chính vì được sinh ra làm người nên mình mới có thể biết đến thực vật, hết lòng vì nghiên cứu, và thưởng thức hương vị của món khoai lang nghiền.
Motomura có thể cảm nhận làn gió đông khoai khoái lướt qua đôi gò má vẫn còn ửng hồng của mình.

