Một Thoáng Ta Rực Rỡ Ở Nhân Gian - Chương 01

I

Để con bắt đầu lại nhé.

Mẹ ơi,

Con viết thư này để đến gần thêm mẹ - dù mỗi chữ con đặt xuống đây là thêm một chữ rời mẹ xa hơn. Con viết để trở về cái lúc, ở trạm dừng chân bang Virginia, mẹ nhìn, sửng sốt, tiêu bản cái đầu hươu treo bên trên máy bán nước ngọt cạnh nhà vệ sinh, cặp gạc phủ bóng xuống khuôn mặt mẹ. Vào xe, mẹ cứ lắc đầu lia lịa. “Không hiểu sao người ta làm vậy. Bộ không thấy đó là xác chết sao? Xác chết thì phải để cho đi, không phải kẹt lại vĩnh viễn như kia.”

Giờ con nghĩ tới con hươu đó, tới cảnh mẹ nhìn vào đôi mắt thủy tinh đen thẫm kia và thấy bóng mình, cả người mình phản chiếu, cong lại trong tấm gương không còn sự sống đó. Tới chuyện mẹ chấn động không phải bởi một cái đầu thú gớm ghiếc bị chặt ra treo lên tường - mà bởi tiêu bản đó là hiện thân cho cái chết không bao giờ kết thúc, cái chết không ngừng chết thêm trong lúc chúng ta đi qua bên dưới nó để trút bỏ nỗi buồn.

Con viết vì người ta dạy đừng bao giờ bắt đầu một câu (sentence) bằng vì. Nhưng con đâu định viết ra một bản án (sentence) - con đang cố thoát ra. Bởi vì tự do, như con được dạy, chẳng là gì khác ngoài khoảng cách giữa thợ săn và con mồi.

Mùa thu. Đâu đó đằng Michigan, một đàn bướm vua, hơn mười lăm ngàn con, sắp bắt đầu chuyến di cư về phương Nam hằng năm. Trong vòng hai tháng, từ tháng Chín đến Mười một, chúng sẽ bay, vỗ từng nhịp cánh, từ miền Nam Canada và Hoa Kỳ đến một vài khu vực ở miền Trung Mexico, và ở lại đó suốt mùa đông.

Chúng đậu giữa chúng ta, trên các bệ cửa sổ và hàng rào mắt cáo, trên những dây phơi vẫn còn rung lên vì gánh nặng của đống quần áo vừa mang, trên mui chiếc Chevy xanh biển đã bạc màu, cánh chầm chậm khép lại, như thể đem cất đi, trước khi vụt một cái, bay lên.

Chỉ cần một đêm sương giá là có thể giết chết cả một thế hệ. Sống còn, vì thế, là vấn đề thời gian, là biết khi nào đến lúc.

Cái lúc con năm hay sáu tuổi gì đó, bày trò nhảy ra hù mẹ từ sau cánh cửa hành lang, la lên, “Bùm!” Mẹ thét, mặt cắt không còn hột máu, rúm ró, rồi mẹ bật khóc nức nở, tay ôm ngực tựa mình vào cửa, hổn hển. Con ngơ ngác đứng đó, cái nón lính sắt đồ chơi trên đầu lệch sang bên. Con là một thằng nhóc Mỹ bắt chước những gì nó thấy trên ti vi. Con không biết rằng chiến tranh vẫn còn bên trong mẹ, thậm chí không biết rằng đã từng có một cuộc chiến tranh, rằng nó một khi đã chui vào ai thì sẽ không bao giờ ra - mà chỉ lặp lại trong tiếng vọng, một âm thanh biến thành gương mặt con trai mẹ. Bùm.

Cái lúc con học lớp ba, nhờ cô Callahan, cô giáo tiếng Anh của con, mà đọc được cuốn sách yêu thích đầu tiên, một cuốn sách thiếu nhi tên Bánh bão của Patricia Polacco. Trong truyện, khi cô bé nọ và bà của cô phát hiện có cơn bão nổi lên từ chân trời xanh mướt, thay vì kéo mành che cửa sổ hay đóng ván chặn cửa, họ bắt tay vào nướng bánh. Hành động này làm con chống chếnh, cái sự bất chấp lẽ thường vừa lạ đời vừa táo bạo này. Có cô Callahan đứng sau lưng, miệng kề sát tai con, con bị cuốn càng lúc càng sâu vào dòng chảy ngôn ngữ. Câu chuyện trải ra, cơn bão tràn tới theo lời kể của cô, rồi tràn tới lần nữa theo lời con lặp lại. Nướng bánh giữa mắt bão; cho mình nếm của ngọt ở lằn hiểm nguy.

Cái lúc bị mẹ đánh lần đầu tiên, hình như con bốn tuổi. Một bàn tay, một ánh chớp, một sự phán xử. Miệng con bỏng rát vì cú va chạm.

Cái lúc con cố dạy mẹ đọc, theo cách cô Callahan đã dạy con, môi con kề sát tai mẹ, tay con cầm tay mẹ, từ ngữ chuyển động bên dưới bóng mẹ con mình. Nhưng hành động đó (đứa con dạy cho mẹ nó) đã đảo ngược vai vế của ta, và theo đó là căn cước của ta, là thứ, ở đất nước này, vốn đã mong manh và bị bó buộc. Sau những ngắc ngứ và những bắt đầu đầy lỗi sai, câu nhịu lại hoặc mắc kẹt trong cổ, sau cảm giác mắc cỡ vì làm hỏng, mẹ ụp sách lại. “Mẹ không cần đọc,” mẹ nói, mặt đanh lại, đoạn chống bàn đứng dậy. “Mẹ nhìn được - thế vẫn đủ cho mẹ sống tới giờ, không phải sao?”

Rồi cái lúc mẹ vung cái điều khiển, cẳng tay con hằn vết bầm tím mà con phải nói dối thầy cô. “Con chơi rượt đuổi bị té.”

Cái lúc mẹ bỗng nhiên nổi hứng tô màu, ở tuổi bốn mươi sáu. “Đi Walmart đi,” một sáng nọ mẹ nói. “Mẹ cần mua sách tô màu.” Nhiều tháng liền, mẹ lấp đầy khoảng trống giữa hai cánh tay bằng những màu sắc mẹ không thể phát âm. Magenta, vermilion, marigold, pewter, juniper, cinnamon. Cánh sen, đỏ son, vàng cam, xám hợp kim, xanh rêu, nâu quế. Hằng ngày, hàng tiếng liền, mẹ cúi người bên những bức tranh vẽ trang trại, vẽ đồng chăn thả, vẽ Paris, vẽ hai con ngựa trên đồng bằng lộng gió, vẽ khuôn mặt một cô gái có mái tóc đen và làn da mẹ để trống, để trắng. Mẹ treo mấy tấm tranh đó khắp nhà, khiến căn nhà dần giống như một lớp tiểu học. Khi nghe con hỏi, “Sao giờ mẹ lại tô màu?” mẹ đặt cây viết chì màu lam ngọc xuống và mơ màng nhìn khu vườn đang tô dở dang. “Mẹ chỉ thoát đi vào đó một lúc,” mẹ nói, “nhưng mẹ cảm thấy hết. Như mẹ vẫn ở đây, trong phòng này.”

Cái lúc mẹ lẳng hộp Lego trúng đầu con. Máu lấm tấm mặt sàn gỗ cứng.

“Con có bao giờ tưởng tượng ra một cảnh,” mẹ nói trong lúc tô màu một căn nhà do Thomas Kinkade vẽ, “rồi đặt mình vào đó không? Con có bao giờ quan sát con từ đằng sau, nhìn mình tiến xa hơn vào trong khung cảnh đó, bỏ lại mình?”

Con biết nói sao cho mẹ biết, chuyện mẹ đang diễn tả ấy, chính là sự viết? Con biết nói sao cho mẹ hiểu rằng, rốt cuộc, hai mẹ con mình vẫn gần nhau đến vậy, bóng tay mẹ và bóng tay con, trên hai trang giấy khác nhau, nhập lại làm một?

“Mẹ xin lỗi,” mẹ nói, trong lúc băng vết rách trên đầu con lại. “Khoác áo vô. Mẹ con mình đi McDonald’s.” Đầu nhưng nhức, con chấm miếng gà nugget vào xốt cà chua trong khi mẹ nhìn con. “Con phải lớn hơn, phải mạnh mẽ hơn, nghe con?”

Hôm qua con đọc lại Nhật ký khóc thương của Roland Barthes, cuốn sách ông viết mỗi ngày trong suốt một năm sau khi mẹ ông mất. Tôi đã biết đến cơ thể của mẹ, ông viết, bệnh rồi chết dần chết mòn. Đến đó, con ngừng lại. Đến đó, con quyết định viết cho mẹ. Vẫn còn đang sống.

Những thứ Bảy cuối tháng ấy, khi mẹ trả các loại hóa đơn xong mà vẫn còn tiền, mẹ con mình sẽ đi thương xá. Có người diện đồ để đi nhà thờ hay dạ tiệc, còn mình diện đồ thật đẹp để tới trung tâm thương mại bên cao tốc liên bang 91. Mẹ thường dậy sớm, dành ra chừng một tiếng trang điểm, mặc lên bộ đầm đen kim sa đẹp nhất của mẹ, đeo đôi bông tai khuyên tròn bằng vàng duy nhất mẹ có, mang đôi giày đen kim tuyến. Rồi mẹ sẽ quỳ xuống bôi sáp lên tóc con, chải lại gọn gàng.

Thấy mẹ con mình ở đó, không người lạ nào có thể đoán ra mình đi chợ ở cửa hàng góc đường gần nhà trên đại lộ Franklin, nơi hóa đơn tem phiếu thực phẩm đã sử dụng xả đầy ngoài cửa, nơi những món cơ bản như sữa trứng mắc gấp ba lần ở khu ngoại ô, nơi táo vừa nhăn vừa giập lăn lóc trong cái thùng các tông đáy ướt nhẹp máu từ khay cốt lết rỉ sang, sau khi đá lạnh đã tan hết từ lâu.

“Đi mua mấy cái sô cô la mắc tiền kia đi,” mẹ sẽ nói, chỉ vào quầy Godiva. Mẹ con mình sẽ cầm lại một túi giấy nhỏ đựng chừng năm sáu phong sô cô la vuông mà mình bốc đại. Đây thường là món duy nhất mình mua ở thương xá. Rồi mẹ con mình sẽ đi bộ, chuyền phong kẹo qua lại cho nhau cho tới khi mấy ngón tay đen bóng lên ngọt lịm. “Vầy mới là sống chứ,” mẹ sẽ nói và mút tay, lớp sơn móng tay màu hồng nham nhở sau một tuần làm móng chân cho khách.

Cái lúc mẹ giơ nắm tay, la hét trong bãi đậu xe, mái tóc đỏ rực lên dưới nắng chiều. Hai cánh tay con giơ lên che đầu trong khi nắm tay mẹ nện xuống quanh con.

Những thứ Bảy đó, mẹ con mình sẽ đi xuôi các hành lang thương xá cho tới khi từng cửa hàng một kéo cửa sắt đóng lại. Rồi mình sẽ ra trạm xe buýt cuối đường, hơi thở bồng bềnh trên đầu, lớp trang điểm khô đi trên mặt mẹ. Trong tay mình không cầm gì ngoài tay nhau.

Ngoài cửa sổ nhà con sáng nay, ngay trước lúc bình minh, một con hươu đứng giữa màn sương dày đặc và sáng lòa đến nỗi con thứ hai, đứng cách đó không xa, trông như cái bóng dang dở của con đầu.

Mẹ có thể tô màu vào đó. Mẹ có thể gọi nó là “Lịch sử của ký ức”.

Chuyến di cư có thể bắt đầu bởi góc chiếu của nắng, báo hiệu sự thay đổi về mùa, về nhiệt độ, đời sống của cây và nguồn cung cấp thức ăn. Bướm cái đẻ trứng dọc đường đi. Lịch sử nào cũng có nhiều hơn một mạch, mỗi mạch là một câu chuyện về sự phân chia. Hành trình của chúng dài bốn ngàn tám trăm ba mươi dặm, hơn cả bề dài của đất nước này. Những con bướm bay về phương Nam sẽ không bao giờ trở lại phương Bắc. Vậy nên mỗi chuyến đi đều là chuyến cuối. Chỉ có con của chúng trở về; chỉ có tương lai thăm lại quá khứ.

Đất nước là gì ngoài một câu (sentence) không biên giới, một đời?

Cái lúc mình ở tiệm thịt heo người Hoa, mẹ chỉ con con heo quay treo trên móc. “Chỗ sườn y chang xương sườn người ta sau khi bị cháy.” Mẹ bật ra một tiếng cười vắn, rồi ngừng, đoạn cau mày, lấy ra cuốn sổ tay và đếm lại tiền của mẹ con mình.

Đất nước là gì ngoài một bản án (sentence) cả đời?

Cái lúc mẹ ném can sữa. Cái can bung nắp khi va vào vai con, rồi một cơn mưa trắng xóa rơi đều xuống sàn gạch nhà bếp.

Cái lúc ở Six Flags, mẹ đi tàu lượn siêu tốc Siêu Nhân với con vì con sợ không dám đi một mình. Sau khi xuống mẹ nôn thốc nôn tháo, cả đầu chúi trong thùng rác. Còn con, trong lúc vui sướng la hét, đã quên nói Cảm ơn mẹ.

Cái lúc mẹ con mình đi Goodwill và chất đầy xe đẩy những món nhãn vàng, vì hôm đó, nhãn vàng nghĩa là giảm giá thêm năm mươi phần trăm. Con đẩy xe và nhảy lên đứng trên thanh gác phía sau, trượt đi, cảm thấy giàu có với những thứ châu báu bỏ đi mà mình săn được. Hôm đó là sinh nhật mẹ. Mình quyết định xả láng. “Coi mẹ giống Mỹ thiệt không?” mẹ nói, áp chiếc đầm trắng xuôi theo thân người. Chiếc đầm hơi quá trang trọng, mẹ khó có dịp gì mặc, nhưng vẫn đủ đời thường để có khả năng đụng đến. Có chút cơ hội. Con gật đầu, cười toe toét. Đến lúc đó, chiếc xe đã đầy tới độ con không còn thấy gì trước mặt nữa.

Cái lúc mẹ cầm con dao bếp - cầm lên, rồi đặt xuống, run rẩy, môi mẹ mấp máy, “Đi ra, đi ra.” Và con chạy ra khỏi cửa, trên những con đường mùa hè tối đen. Con chạy tới khi con quên mất mình mới mười tuổi, tới khi chỉ còn nghe thấy tiếng tim mình đập trong tai.

Cái lúc, ở thành phố New York, một tuần sau khi anh Phương chết vì đụng xe, con bước lên tàu số 2 lên khu thượng và, ngay khi cửa xe mở ra, con thấy gương mặt anh, rõ ràng và tròn trịa, nhìn thẳng vào con, còn sống. Con há hốc miệng - nhưng con biết đó chỉ là một người nhìn giống anh họ của con. Dù vậy, con vẫn hốt hoảng khi thấy cái con tưởng mình sẽ không bao giờ thấy nữa - đường nét gương mặt giống hệt anh, quai hàm to, chân mày tỏa. Tên anh chực nảy ra khỏi miệng con nhưng con bắt lại kịp. Khi lên lại mặt đất, con ngồi trên trụ cứu hỏa và gọi cho mẹ. “Mẹ, con mới thấy anh,” con thở dốc. “Mẹ, con thề là con mới thấy anh. Con biết là tào lao lắm nhưng con mới thấy anh Phương trên tàu.” Con đang hoảng loạn. Và mẹ biết. Suốt một lúc lâu mẹ không nói gì, rồi mẹ bắt đầu ngâm nga giai điệu bài “Chúc mừng sinh nhật”. Hôm đó không phải sinh nhật con nhưng đó là bài hát duy nhất mẹ biết bằng tiếng Anh, và mẹ cứ hát mãi. Và con cứ nghe, điện thoại ấn sát tai tới nỗi, nhiều tiếng sau, một hình vuông màu hồng còn in trên má con.

Con hai mươi tám tuổi, một mét sáu hai, năm mươi mốt ký. Khuôn mặt con trông đẹp ở đúng ba góc, còn lại đều là góc chết. Con đang viết cho mẹ từ bên trong một cơ thể từng thuộc về mẹ. Tức là, con đang viết với tư cách một người con trai.

Nếu ta may mắn, kết thúc một bản-án-câu sẽ là lúc ta có thể bắt đầu. Nếu ta may mắn, một điều gì đó sẽ được truyền lại, một bảng chữ cái khác viết ra bằng máu, gân và nơ ron; tổ tiên áp xuống cho con cháu cái thôi thúc câm lặng phải bay về phương Nam, hướng về nơi mà trong truyện kể không ai có thể sống sót vượt qua.

Cái lúc, ở tiệm móng, con vô tình nghe thấy mẹ đang an ủi một bà khách vừa gặp chuyện buồn. Mẹ thì sơn móng, còn bà ta nói, giàn giụa nước mắt. “Tôi mất con bé của tôi rồi, Julie, con bé con của tôi. Tôi không tin nổi, nó mạnh khỏe là thế, đứa đầu của tôi.”

Mẹ gật đầu, cặp mắt ráo hoảnh sau khẩu trang. “Không sao, không sao,” mẹ nói bằng tiếng Anh, “đừng khóc.” Mẹ hỏi tiếp, “Julie của bà sao mà chết?”

“Ung thư,” bà khách nói. “Ở sân sau chứ! Nó chết ngay sân sau nhà tôi, khốn nạn thật mà.”

Mẹ bỏ tay xuống, tháo khẩu trang. Ung thư. Mẹ nghiêng người tới. “Mẹ tôi cũng vậy, cũng chết vì ung thư.” Căn phòng im lặng. Đồng nghiệp của mẹ cựa người trên ghế. “Nhưng chuyện gì xảy ra ở sân sau, sao con bé chết ở đó?”

Bà khách chùi mắt. “Nó sống ở đó mà. Julie là con ngựa của tôi.”

Mẹ gật đầu, kéo khẩu trang lên và tiếp tục sơn móng cho bà ta. Sau khi bà khách đi rồi, mẹ quăng cái khẩu trang qua đầu kia phòng. “Mẹ nó, ngựa hả?” mẹ nói bằng tiếng Việt. “Mẹ nó, tao còn định đem hoa đi viếng mộ con gái bả luôn!” Suốt ngày hôm đó, đôi lúc, đang chăm sóc cho một bàn tay nào đấy, mẹ lại ngước lên rồi la, “Nó là con ngựa, mẹ nó thiệt chớ!” làm mọi người cười ầm lên.

Cái lúc, ở tuổi mười ba, khi con cuối cùng cũng kêu mẹ ngừng lại. Tay mẹ giơ giữa không trung, má con còn rát sau cú tát đầu tiên. “Mẹ, thôi đi. Ngừng lại đi mẹ.” Con nhìn mẹ trừng trừng, theo cái cách mà con đến lúc đó đã học được: nhìn thẳng vào mắt bọn ăn hiếp mình. Mẹ quay đi, không nói một lời, mặc vào cái áo khoác len nâu và đi tới cửa hàng. “Mẹ đi mua trứng,” mẹ nói với lại, như thể chưa từng có gì xảy ra. Nhưng cả hai mẹ con mình đều biết mẹ sẽ không bao giờ đánh con lần nữa.

Những con bướm sống sót qua cuộc di cư truyền lại thông điệp này cho con cháu. Ký ức về những thành viên gia đình mất mạng trong mùa đông đầu tiên đã ghi khắc trong gien của chúng.

Khi nào một cuộc chiến kết thúc? Khi nào thì con có thể nói tên mẹ và đó chỉ có nghĩa là tên của mẹ chứ không phải những gì mẹ bỏ lại phía sau?

Cái lúc con tỉnh dậy vào giấc trời nhập nhoạng màu mực xanh, đầu con - không, là căn nhà - đựng đầy tiếng nhạc dịu êm. Chân bước trên sàn gỗ cứng mát lạnh, con đi tới phòng mẹ. Giường mẹ trống trơn. “Mẹ,” con gọi, đứng yên như một bông hoa cắm bình giữa tiếng nhạc. Là Chopin, và tiếng nhạc phát ra từ tủ đồ. Cánh cửa rực trong ánh sáng đỏ viền quanh, như cửa vào một nơi đầy lửa. Con ngồi bên ngoài, lắng nghe khúc dạo đầu và, chìm bên dưới đó, tiếng thở đều đặn của mẹ. Con không biết mình đã ở đó bao lâu. Nhưng đến một thời điểm, con trở về giường, kéo mền lên tận cằm mãi tới khi hết, không phải hết nhạc mà hết run. “Mẹ,” con lại gọi, với hư không, “trở lại đi mẹ, trở ra đi mẹ.”

Có lần mẹ nói con rằng mắt người là tạo vật cô đơn nhất của Chúa. Vì quá nhiều thứ trên thế giới đi qua con ngươi mà nó vẫn không giữ lại điều gì. Con mắt trong hốc, một mình một cõi, còn không biết rằng có một vật khác giống nó y hệt, cách chỉ vài phân, cũng đói khát và trống rỗng như nó. Đẩy cửa trước mở ra trận tuyết đầu tiên trong đời con, mẹ thì thầm, “Con nhìn kìa.”

Cái lúc, khi đang lặt một rổ đậu que bên bồn rửa, đột nhiên mẹ nói, “Mẹ không phải quái vật. Mẹ là mẹ.”

Ý ta là gì khi nói kẻ sống sót? Có lẽ kẻ sống sót là kẻ cuối cùng về nhà, con bướm cuối cùng đậu lên nhánh cây đã nặng trĩu những hồn ma.

Buổi sáng dần dần vây lại quanh mẹ con mình.

Con để sách xuống. Đầu đậu que theo nhau gãy tanh tách. Lộp độp rơi như những ngón tay xuống bồn rửa thép. “Mẹ không phải quái vật,” con nói.

Nhưng con nói dối.

Điều con thật sự muốn nói là làm quái vật cũng chẳng phải điều gì quá kinh khủng. Quái vật - monster - có gốc trong tiếng Latin là monstrum, một sứ giả của thần chuyên cảnh báo thảm họa, rồi được tiếng Pháp cổ lấy dùng để chỉ một con vật có vô số nguồn gốc: nhân mã, điểu sư, dương thần. Làm quái vật tức là làm một tín hiệu lai tạp, làm một ngọn hải đăng: vừa báo hiệu nơi trú ẩn vừa cảnh báo hiểm nguy.

Con đọc được rằng cha mẹ bị hậu chấn tâm lý có khả năng cao hay đánh con cái. Biết đâu chuyện đó rốt cuộc cũng có một nguồn gốc quái vật thì sao. Biết đâu vung tay đánh con mình là chuẩn bị cho nó đến với chiến tranh. Là nói rằng sở hữu một nhịp tim là việc không bao giờ đơn giản như trái tim làm nhiệm vụ nói vâng vâng vâng với cơ thể.

Con không biết nữa.

Con có biết là lúc ở Goodwill mẹ đưa con cái đầm trắng, mắt mẹ dại đi, mở to. “Con đọc coi,” mẹ nói, “nó có kháng lửa không?” Con soi mép đầm, nghiên cứu dòng chữ trên mác, và dù khi đó con chưa biết đọc, con vẫn đáp, “Có mẹ.” Con vẫn nói vậy. “Có,” con nói dối, giơ cái đầm lên ngang cằm mẹ. “Nó kháng lửa.”

Nhiều ngày sau, một thằng nhóc hàng xóm, trong lúc đạp xe ngang nhà mình, sẽ bắt gặp con đang bận cái đầm đó trước sân nhà trong khi mẹ đi làm - con đã bận vào vì muốn trông giống mẹ hơn. Vào giờ ra chơi hôm sau, mấy đứa đó sẽ gọi con là bóng, lại cái, pê đê. Mãi về sau này, con mới học được rằng, những từ đó cũng là biến thể của quái vật.

Đôi lúc, con tưởng tượng đàn bướm chạy trốn không phải mùa đông mà là những đám mây napalm trong tuổi thơ Việt Nam của mẹ. Con tưởng tượng chúng bay khỏi vụ nổ cháy đùng đùng mà vẫn an toàn nguyên vẹn, đôi cánh hai màu đỏ đen nhỏ xíu chấp chới như những mảnh vụn cứ ùn ùn bay hàng dặm liền qua bầu trời, để rồi khi nhìn lên, ta không hình dung nổi vụ nổ mà chúng từ đó bay ra nữa, chỉ còn thấy một gia đình bướm trôi qua bầu trời sạch trong mát lạnh, bằng đôi cánh, sau bao nhiêu đám cháy, rốt cuộc cũng thành kháng lửa.

“Hay quá con.” Mẹ đưa mắt nhìn xa xăm qua vai con, gương mặt mẹ đanh lại, cái đầm áp lên ngực. “Thật hay quá.”

Mẹ ơi, mẹ là mẹ. Mẹ cũng là quái vật. Nhưng con cũng vậy - đó là lý do con không thể ngoảnh mặt khỏi mẹ. Đó là lý do con đã lấy tạo vật cô đơn nhất của Chúa và đặt mẹ vào đó.

Con nhìn.

Trong bản nháp trước của thư này mà con đã xóa, con kể cho mẹ chuyện làm sao con trở thành nhà văn. Chuyện con là người đầu tiên trong nhà mình đi học đại học mà lại phí phạm cơ hội ấy vào một cái bằng Ngữ văn Anh. Chuyện con chạy xa khỏi ngôi trường trung học tồi tàn để rồi ngày qua ngày ở New York chìm đắm trong hàng chồng sách thư viện, đọc những con chữ khó hiểu được viết bởi những người đã chết, hầu hết không bao giờ tưởng tượng sẽ có một khuôn mặt như con lơ lửng bên trên những câu chữ của họ - nói gì tưởng nổi những câu chữ đó sẽ cứu lấy con. Nhưng giờ thì những chuyện ấy không còn quan trọng. Điều quan trọng, dù cho khi đó con không biết, chính là tất cả những chuyện ấy đều đã dẫn con tới đây, trang giấy này, để kể cho mẹ mọi điều mẹ sẽ không bao giờ biết.

Chuyện là, con từng là một cậu bé chưa biết đến đau thương. Hồi tám tuổi, trong căn hộ một phòng ngủ của nhà mình ở Hartford, có lần con đứng nhìn gương mặt đang say giấc của ngoại Lan. Tuy là người sinh ra mẹ, nhưng ngoại không hề giống mẹ; da ngoại sậm màu hơn gấp ba, màu của đất sau một trận mưa lớn, căng trên một khuôn mặt xương xẩu với cặp mắt sáng như thủy tinh mẻ. Con không biết điều gì khiến con bỏ đó đống lính đồ chơi màu xanh và đi tới chỗ ngoại nằm, đắp mền trên sàn gỗ cứng, tay khoanh trước ngực. Con ngươi chuyển động bên dưới mí trong khi ngoại ngủ. Trán ngoại hằn đầy nếp nhăn, đánh dấu năm mươi sáu năm trên đời của ngoại. Một con ruồi đậu xuống khóe miệng ngoại, rồi bò ra mép cặp môi tim tím. Má trái của ngoại khẽ giật mấy giây. Làn da, lỗ rỗ những lỗ chân lông đen lớn, gọn nhẹ dưới nắng. Con chưa từng thấy ai chuyển động nhiều như thế trong giấc ngủ - ngoài bọn chó chạy rông trong những giấc mơ không ai trong chúng ta có bao giờ biết được.

Nhưng giờ con nhận ra, điều con tìm kiếm chính là sự thanh bình, không phải nơi cơ thể ngoại, cứ cục cựa trong khi ngoại ngủ, mà ở bên trong tâm trí ngoại. Chỉ trong những lúc tĩnh lặng trong máy giật thế này, thì bộ não của ngoại, cuồng loạn và bùng nổ suốt những giờ khắc tỉnh thức, mới nguội về một trạng thái tựa như bình yên. Con nghĩ: mình đang nhìn một người lạ, một người có đôi môi nhăn nhăn thành vẻ mãn nguyện khác hẳn với ngoại Lan lúc tỉnh mà con biết, vốn không bao giờ dứt càm ràm huyên thuyên bởi chứng tâm thần phân liệt, chỉ càng nặng thêm kể từ sau chiến tranh. Nhưng con đã quen chỉ nhìn thấy ngoại khi cuồng loạn. Kể từ lúc bắt đầu biết nhớ, con đã thấy ngoại chập chờn, thoắt tỉnh thoắt điên. Vậy nên quan sát ngoại lúc này, tĩnh lặng dưới ánh chiều, giống như nhìn lại quá khứ.

Một con mắt mở ra. Mờ đi sau tấm màng đục mỏng manh là giấc ngủ, nó mở to để giữ lấy hình ảnh của con. Con đứng yên dù không muốn, bị găm tại chỗ bởi luồng sáng chiếu qua từ cửa sổ. Rồi con mắt thứ hai mở ra, hơi hồng nhưng trong hơn con mắt kia. “Đói hả Chó Con?” ngoại hỏi với vẻ mặt vô cảm, như thể vẫn còn đang ngủ.

Con gật đầu.

“Giờ này thì biết ăn gì ta?” Ngoại khoát tay chỉ quanh phòng.

Câu hỏi tu từ, con thầm xác định và bặm môi lại.

Nhưng con lầm. “Ngoại hỏi con biết ăn gì?” Ngoại ngồi lên, mái tóc dài tới vai xổ tung sau lưng ngoại như nhân vật hoạt hình bắn ra từ vụ nổ TNT. Ngoại bò tới, ngồi chồm hỗm trước đống lính đồ chơi, bốc lên một con, kẹp giữa hai ngón tay mà quan sát. Móng tay ngoại, được mẹ chăm sóc và sơn thật hoàn hảo với độ chính xác quen thuộc, là phần duy nhất không sứt mẻ của ngoại. Óng ánh màu hồng ngọc, móng tay ngoại đối lập hẳn với những khớp ngón tay đầy vết chai và đường nứt khi ngoại cầm tên lính đồ chơi, một người lính liên lạc, và quan sát nó như thể là một cổ vật vừa đào lên.

Lưng gắn cái radio, tên lính quỳ một gối và không bao giờ ngừng la hét vào bộ đàm. Bộ quân phục cho thấy nó là lính trong Thế Chiến 2. “Mông xừ, hu du a?” ngoại hỏi tên lính nhựa bằng thứ tiếng bồi Anh lai Pháp. Chợt giật tay lên, ngoại ấn cái radio của nó vào tai và lắng nghe chăm chú, mắt dán lên con. “Con biết tụi nó nói gì ngoại không, Chó Con?” ngoại thì thầm bằng tiếng Việt. “Tụi nó nói…” Ngoại nghiêng đầu, cúi về phía con, hơi thở ngoại có mùi xi rô ho Ricola lẫn với mùi nồng nồng của người vừa ngủ dậy, cái đầu tên lính nhựa xanh lá nằm khuất hẳn trong tai ngoại. “Tụi nó nói lính giỏi tới đâu cũng phải có bà ngoại cho ăn mới thắng được nghen.” Ngoại bật cười, một tiếng ngắn duy nhất - rồi ngưng, mặt đột nhiên ngây ra, và ngoại đặt người lính liên lạc vào tay con, khép tay con lại nắm lấy nó. Thế rồi ngoại đứng lên và lê chân vào bếp, đôi dép đập bồm bộp dưới chân. Con siết chặt thông điệp ấy, cái ăng ten nhựa đâm vào lòng bàn tay, trong khi tiếng nhạc reggae từ nhà hàng xóm thấm qua bức tường ri rỉ chảy vào phòng.

Con có và từng có nhiều cái tên. Chó Con là tên ngoại Lan gọi con. Điều gì khiến một người phụ nữ đặt tên cho mình và con gái theo tên loài hoa lại đi gọi cháu ngoại mình là chó? Chính là một người phụ nữ trông chừng máu thịt của mình. Mẹ cũng biết đó, ở ngôi làng ngoại Lan lớn lên, trẻ con, thường là đứa nhỏ nhất và yếu nhất trong cả lứa, như con vậy, được đặt tên theo những thứ kinh tởm nhất: ma quỷ, cô hồn, mõm heo, trâu bò, chó khỉ - chó con là một trong những cái tên nhẹ nhàng hơn cả. Vì các linh hồn ác, lang thang khắp vùng đất tìm kiếm bọn trẻ con đẹp đẽ, khỏe mạnh, sẽ nghe thấy tên những thứ xấu xí kinh khủng được gọi về ăn cơm và vì vậy mà bỏ qua căn nhà đó, tha cho đứa nhỏ. Vậy nên, yêu thương một thứ gì đó là đặt cho nó cái tên thật thảm hại đến mức có thể nó sẽ không bị động đến - và nhờ đó mà sống sót. Một cái tên, mong manh như không khí, cũng có thể là khiên chắn. Một cái khiên gọi là Chó Con.

Con ngồi trên sàn bếp và nhìn ngoại Lan xới hai muỗng cơm nghi ngút khói vào cái tô sứ vẽ viền dây leo xanh biển. Ngoại vớ lấy bình trà rót một dòng trà hoa lài lên cơm, vừa đủ để vài hạt cơm rời ra trôi bồng bềnh trong thứ nước màu hổ phách nhàn nhạt. Ngồi trên sàn, con với ngoại chuyền nhau cái tô cơm thơm tho nghi ngút khói. Vị của nó giống như tưởng tượng khi mình ăn hoa nghiền vậy - đắng và khô, rồi sau đó là vị ngọt thanh đọng lại. “Đồ ăn nông dân chính hiệu.” Ngoại cười. “Đây là đồ ăn nhanh của mình đó, Chó Con. McDonald’s của mình đó!” Ngoại nghiêng người sang bên và xì hơi thật lớn. Con cũng nghiêng người và xì hơi theo, làm cả hai bà cháu bật cười tít mắt. Rồi ngoại ngừng cười. “Ăn hết đi.” Ngoại hất hàm về phía cái tô. “Để sót mỗi hột cơm là xuống âm phủ phải ăn một con dòi đó.” Ngoại gỡ dây thun tròng ở cổ tay ra rồi búi tóc lên.

Người ta nói sang chấn không chỉ ảnh hưởng tới bộ não, mà toàn cơ thể nữa, gồm cả hệ cơ bắp, khớp và tư thế. Lưng ngoại Lan vĩnh viễn bị còng - tới mức con gần như không nhìn thấy đầu ngoại khi ngoại đứng bên bồn rửa tay. Chỉ có búi tóc là nhìn thấy được, nhấp nhổm lên xuống trong khi ngoại cọ rửa.

Ngoại nhìn lên kệ bếp, trên đó không có gì ngoài một hũ bơ đậu phông ăn dở. “Phải mua thêm bánh mì.”

Báo cáo nội dung xấu