Mưu Trí Thời Lưỡng Tống - Chương 13

50. Trước nếm “đồ ngọt”, sau rơi “đầu người”

Sau khi Vương Thiệu dùng kế “vây Ngụy cứu Triệu” đánh bại Mộc Trưng, Thần Tông vui mừng vì vượt quá mong ước, quyết định thùa thắng tiến lên, chinh phục các bộ tộc ở các nơi thuộc vùng Tây Nam, làm cho biên cương mãi mãi giữ được bình yên. Ông ta hạ chiếu mệnh cho Trung thư kiểm chính quan Chương Đôn, làm Sát phỏng sứ Hồ Bắc, chiêu thảo Động Man, Tuất Châu thông phán Hùng Bản làm Sát phỏng sứ Tỉ Quỳ, chiêu thảo Lô Di.

Chương Đôn, Hùng Bản phụng chiếu, từng người lĩnh quân, chia nhau đi chinh thảo.

Hùng Bản giữ chức thông phán ở Tuất Châu đã nhiều năm, ở biên cương lâu ngày, hiểu rất rõ về tình hình của dân tộc thiểu số. Ông ta biết các dân tộc thiểu số này dám quấy nhiễu biên cương, là vì có thôn hào hướng dẫn họ, cho họ biết thực hư trong nội địa. Vì thế, ông ta sau khi thống lĩnh binh mã tới Lô Châu, quyết định trước hết ra tay trừ bọn thôn hào. Ông ta dùng vàng lụa làm mồi, sai người chiêu dụ thôn hào, nói với bọn thôn hào, chỉ cần họ phụng sự dưới cờ của ông ta, giúp làm một số việc nhỏ, ông ta sẽ cho họ rất nhiều lợi ích, sau này có công, lại đặc biệt cất nhắc, hậu thưởng.

Những kẻ vô lại trong thôn tham tiền hám lợi kia, thấy vừa phát tài, vừa được làm quan, mà lại không phải mạt nhiều công sức, đang nằn mơ không được, ngay lập tức có hơn 100 tên tới quy thuận dưới cờ của Hùng Bản.

Hùng Bản đối với bọn chúng dùng lời, ngon ngọt an ủi, hàng ngày mang rượu tốt thịt ngon cho chúng ăn uống đồng thời thỉnh thoảng lại tặng một ít vàng bạc lụa là, khiến chúng yên tâm ở đó. Bọn vô lại đó tự nhiên hết sức vui vẻ. Mặt khác, Hùng Bản âm thầm lệnh cho Đô giám Vương Tuyên chuẩn bị thật tốt.

Mấy ngày sau, tất cả đều đã bố trí xong xuôi, Hùng Bản tổ chức duyệt binh tại địa phương Lô Châu, trước khi duyệt binh bố cáo, cho phép nhân dân địa phương, không kể là người Hán hay người dân tộc khác, đều được tới xem. Hôm duyệt binh đó, Hùng Bản cho dựng cờ trông đại tướng trên sân duyệt binh, hai bên phía trước trại, xếp hàng 500 vệ binh kiêu dũng, những vệ binh này đều lưng đeo kiếm sắc. Ba quân tướng sĩ, theo bố trí chỉ định, xếp hàng vòng quanh trướng.

Ba tiếng pháo nổi lên, Hùng Bản ngồi trong trướng ra lệnh đem bọn vô lại trong thôn lên trướng. Bọn vô lại, sau khi nghe lệnh vào trướng, tham kiến xong xuôi, bèn đứng nghiêm trước trướng chờ mệnh lệnh.

Hùng Bản nhìn quanh một lượt, đột nhiên sầm mặt lại, giận dữ quát: “Các ngươi biết tội không?”.

Bọn vô lại không hiểu làm sao, đứa này nhìn đứa kia, không biết nên trả lời thế nào mới được.

Hùng Bản lại giận dữ quát: “Chư Di ở đây vốn chẳng có tư tưởng quấy nhiễu biên cương, đều là các ngươi muốn kiếm lợi trong đó, lôi kéo họ làm loạn, bọn các ngươi, ai nấy đều tội ác tày trời”. Ông ta lại quát đám vệ binh: “Trói tất cả lại’.

Năm trăm vệ binh dạ một tiếng xông lên, ngay lập tức hai người bắt một người, trong chốc lát đã trói hêt bọn vô lại kia đem đi. Hơn một trăm tên vô lại đó lúc bấy giờ mới biết đã trúng phải kế “nhử mồi”, phải vào lao lung, tên nào tên nấy cúi đầu ủ rũ.

Hùng Bản tức thì ra lệnh đem bọn vô lại đó nhất loạt chém đầu thị chúng, bọn vô lại khác lúc ấy tên nào tên nấy run rẩy, không bao giờ còn dám làm hướng đạo cho mình nữa, lại thấy đại quân Hùng Bản áp sát biên giới, liền tỏ ý theo về với triều đình.

Một đường khác, Chương Đôn cũng đại công cáo thành, chinh phục được động Man. Lúc này, miền đất biên thùy đã được an ninh.

Nếm đồ ngọt, vơ của rẻ, đây chính là khuyết điểm chung của phàm nhân, Hùng Bản khéo léo lợi dụng cái bản tính chung của con người, đặt sẵn “mồi nhử”, dụ bọn vô lại mắc câu, cuối cùng xử trí bọn chúng một cách nhẹ nhàng. Bọn vô lại sau khi nếm “đồ ngọt”, đã nối gót nhau đầu lìa khỏi cổ.

Cổ nhân từng nói: “Muốn lấy của nó trước thì phải cho nó trước”. Trong thương trường hiện đại, nhà kinh doanh có tài cần giỏi lợi dụng tâm lý vơ cái lợi, chiếm tiện nghi của con người ta, khéo dùng “mồi thơm”, cho đối thủ nếm “đồ ngọt” trước, dụ nó cắn câu, sau đó mới “tóm chặt” nó, cho nó nếm “vị đắng”.

Sân bay tại thủ đô một nước Đông Nam Á.

Một chiếc máy bay chở khách sang trọng từ từ hạ cánh. Từ trên máy bay bước xuống một Vị hành khách đeo kính gọng vàng, mình mặc complet đen. Người này thân hình không cao, vẻ người sang trọng, một dáng vẻ hết sức khiêm tôn và như đang có điều phải suy nghĩ, vừa nhìn biết ngay là một thương nhân tinh nhanh sáng suốt. Ông ta chính là Đằng Dã đại lý nghiệp vụ tại nước này của công ty đồ dùng văn phòng hiện đại Fuji.

Mục đích đến lần này của ông Đằng Dã là ký kết một hợp đồng về nhập khẩu máy photocopy từ Nhật Bản với công ty Thái Hằng của nước này. Nước Đông Nam Á này là một quốc gia có nền kinh tế mới cất cánh, máy photocopy đối với họ hoàn toàn là mới mẻ, chiếm lĩnh thị trường nước này, triển vọng phát triển sau này vô cùng rộng lớn. Vì thế, cấp trên chỉ thị cho Đằng Dã “chỉ được thành công, không thể thất bại”.

Sau khi bước xuống sân bay, ông Đằng Dã đã nhạy bén nhận thấy tình hình không hay. Công ty Thái Hằng tuyệt không cử người tới sân bay đón ông ta. E rằng sự tình có thay đổi, ông lập túc gọi taxi vội tới công ty Thái Hằng.

Quả nhiên không sai, tại phòng khách của công ty Thái Hằng, ông chủ của công ty Thái Hằng lạnh lùng nói với Đằng Dã, họ không định ký bản hợp đồng đó nữa.

Đằng Dã rất không hài lòng về việc công ty Thái Hằng bỏ hẹn giữa chừng. Ông ta biết công ty Thái Hằng thực ra không phải là không cần hàng, mà là muốn tìm một nhà cung cấp khác. Nhà cung cấp này nhất định là người Nhật Bản, chỉ có máy photocopy của Nhật Bản mới là chất lượng hàng đầu. Thế là Đằng Dã lập tức lại bay trở về Nhật Bản.

Ba ngày sau, Đằng Dã lại lần nữa tới trước mặt ông chủ công ty Thái Hằng, đi thẳng vào vấn đề: “Ngài Tổng tài, tôi lần này tới là muốn bàn với ngài về vấn đề nhập khẩu máy photocopy kiểu B. Máy photocopy kiểu B ưu việt hơn máy photocopy kiểu A. Chúng tôi quyết định hợp tác với các ông về lĩnh vực này. Hơn nữa giá cả máy photocopy kiểu B chúng tôi cung cấp thấp hơn giá của chỗ mà các ông liên hệ mấy ngày trước 30%”.

Ông chủ của công ty Thái Hằng nghe xong hết sức ngạc nhiên. Người Nhật này thật lợi hại, thời gian ba ngày ngắn ngủi làm thế nào mà cái gì cũng biết cả. Nguyên trước khi về Nhật, Đằng Dã đã đem tình hình báo cáo với công ty. Công ty ngay lập tức tiến hành điều tra, biết được một công ty Nhật Bản khác đã âm thầm lièn hệ với công ty Thái Hằng, chuẩn bị cung cấp máy photocopy kiểu B với giá cả rẻ hơn, tính năng tốt hơn cho công ty Thái Hằng. Sau khi sự tình được làm rõ, Đằng Dã lại quay trở lại công ty Thái Hằng, chủ động hạ giá 30%. Hàng đẹp giá rẻ luôn làm cho nguồi ta thích hơn. Công ty Thái Hằng ký lại với công ty Fuji hợp đồng nhập khẩu 1.500 chiêc máy photocopy kiểu B.

Hợp đồng vừa ký xong, Đằng Dã ngay lập tức bay về Nhật Ban.

Thật ra công ty đồ dùng văn phòng hiện đại Fuji vốn không kinh doanh máy photocopy kiểu B. Khi Đằng Dã rời Nhật Bản, đã bàn trước với công ty tiến hành cùng lúc với việc Đằng Dã đàm phán với công ty Thái Hằng, công ty Fuji đi liên lạc với nhà sản xuất về việc nhập hàng. Đằng Dã vừa về tới Nhật, ngựa không dừng cương liền cầm hợp đồng đi tìm nhà sản xuất, nói rằng công ty Fuji đã có được hợp đồng, thị trường máy photocopy nước này đã bị công ty Fuji chiếm lĩnh chắc chắn, xin nhà máy giao quyền đại lý phân phối cho Fuji. Công ty Fuji đồng ý tăng thêm 10% giá, điều kiện là quyền phân phối vật liệu và thiết bị phụ trợ của máy photocopy kiểu B cũng giao cho công ty Fuji.

Nhà sản xuất thấy có người chủ động tới tận nơi đặt mua sản phẩm, hơn nữa lại đồng ý mua với giá cao, còn về quyền phân phối thiết bị và vật liệu phụ trợ của máy photocopy kiểu B có gì đáng kể, ai phân phối cũng vậy thôi, vì thế ông chủ nhà máy ngay lập tức tỏ ý đồng ý, đồng thời ký hợp đồng với công ty Fuji.

Vụ làm ăn đó công ty Fuji làm được với công ty Thái Hằng. Thế nhưng, công ty Fuji mua đắt bán rẻ, vì thế sau khi bán ra 1.500 chiếc máy photocopy kiểu B, lỗ mất không ít khiến người ta không thể hiểu nổi, buôn bán lỗ vốn ai lại đi làm chứ?

Chân tướng cuối cùng đã rõ. Công ty Thái Hằng bán máy photocopy kiểu B ra, người sử dụng còn phải đặt mua vật liệu và thiết bị phụ trợ liên quan, nếu không thì vẫn không thể sử dụng được. Mà vật liệu và thiết bị phụ trợ đã ở trong tay công ty Fuji. Công ty Thái Hằng chẳng có cách nào khác, đành lại phải tìm công ty Fuji hợp tác tiếp.

Lúc này, công ty Fuji có thể làm cao, quyền chủ động đã nắm chắc, lẽ đương nhiên họ bán vật liệu và thiết bị phụ trợ cho công ty Thái Hằng với giá cao, không chỉ thu lại tiền bù lỗ bán máy photocopy, mà còn kiếm được một khoản lớn.

Công tu Fuji trong kinh doanh, để hấp dẫn đổi phương, đã đặt ra “mồi thơm”, trước hết đưa “đồ ngọt” cho công ty Thái Hằng, phá hỏng hệ hợp tác giữa công ty Thái Hằng với một công ty Nhật Bản khác, sau đó ngồi vững trên đài câu cá, chờ công ty Thái Hằng đã cắn câu, bán vật liệu và thiết bị phụ trợ máy photocopy cho công ty Thái Hằng với giá cao. Còn công ty Thái Hằng vì kiếm chút lợi nhỏ, chiếm ít tiện nghi, lại đã bị trúng bẫy củá công ty Fuji, thật là kẻ câm ăn phải hoàng liền, đắng mà không nói ra được.

Trong cạnh tranh buôn bán, mỗi nước cơ của đôi bên đều là đặc biệt có dụng tâm, chẳng có ai lại đi cô ý chịu lỗ, do đó, khi anh được ăn “đồ ngọt”, thì anh phải chú ý, cảnh giác, đề phòng “vị đắng” nôi gót theo sau, “rơi đầu”, lỗ nặng.

51. Khéo léo sử dụng lòng thông cảm

“Lòng đồng tình”, từ cổ chí kim, người ta đều có.

Chốn thâm sâu trong hoàng cung, một người đẹp đang nhè nhẹ dụi mông ngọc, oán hận nghiến răng. Trên khuôn mặt trái xoan muôn phần tức giận.

Cô ta dáng người cân đối, khuôn mặt tươi đẹp như đóa phù dung, dáng lung nhỏ mềm như dương liễu, người đẹp có thể sánh với Bao Tự, Chiêu Quân, vừa khiến Dương Ngọc Hoàn, Triệu Phù Yến phải thấy kém phần lẳng lơ.

Người này chính là Lưu Tiệp dư rất được Tống Triết Tông yêu chiều. Lúc bấy giờ cô ta đang thẹn quá hóa giận, trong lòng đang chửi rủa thầm hoàng hậu.

Hoạn quan Hảo Tùy ở bên cặnh khuyên giải an ủi: “Nương nương bất tất tức giận, trong cung ai lại không biết hoàng thượng yêu quý nương nương, chắc chắn sẽ có một ngày, ngôi hoàng hậu sẽ thuộc về nương nương”.

Lưu Tiệp dư nói: “Có ta thì không có bà ta, có bà ta thì không có ta, bà ta làm cho ta bất ngờ không để ý, ngã lăn ra đất, nỗi sỉ nhục này, ta thế nào cũng phải báo thù!”.

Nguyên do, hôm ấy là tiết đông chí, Mạnh hoàng hậu dẫn bọn phi tần tới bái kiến thái hậu, vì thái hậu còn chưa lên điện, mọi người ngồi ở dưới điện, theo quy củ, chỉ có hoàng hậu mới có thể ngồi ghế sơn son thiếp vàng. Nội thị Hảo Tùy vì lấy lòng Lưu Tiệp dư, đã rút cái ghế lúc đầu ra, thay vào đó một cái ghế sơn son thiếp vàng giống như của hoàng hậu ngồi. Lưu Tiệp dư vừa ngồi yên. Bỗng nghe có người truyền hô: “Hoàng thái hậu lên điện”. Mạnh hậu và các phi tần lập tức đúng cả dậy, Lưu Tiệp dư cũng đành phải đứng lên. Không ngớ đứng mãi một lúc, vẫn không thấy thái hậu lên điện. Hoàng hậu phi tần đều là hạng gót sen, không thể đứng được lâu, bèn nối nhau ngồi xuống. Lưu Tiệp dư cũng ngồi xuống, chẳng ngờ ngồi hẫng một cái, nhất thời không gượng lại được, theo đà ngã chổng vó lên trời. Các phi tần trông thấy, đều len lén bật cười, ngay cả Mạnh hoàng hậu cũng cảm thấy nhịn không được cười. Lưu Tiệp dư cho rằng, đây là trò của Mạnh hoàng hậu. Nhưng vì ở trong cung thái hậu, không tiện phát tác, cô ta đành nén cơn giận xuống.

Đúng lúc Lưu Tiệp dư đang tức giận, một cung nữ vào truyền báo, hoàng thượng tới.

Vị hoàng thượng này chính là Triết Tông, ông ta lên ngôi sau khi Trần Tông mất.

Lưu Tiệp dư biết Triết Tông nhu nhược thiếu quyết đoán, nay thấy Triết Tông tới, trong lồng liền đã có chủ ý.

Triết Tông đi vào, Lưu Tiệp dư giả vờ như không nhìn thấy, không lên trước tiếp giá, cho đến khi Triết Tông đi tới bên cạnh, mới từ từ đứng lên, hơn nữa không nói một câu nào.

Triết Tông nhìn kỹ một lượt, thấy mắt cô ta ngấn lệ, hai vai không ngừng run lên, không khỏi kinh ngạc hỏi: “Hôm nay là tiết đông chí, triều kiến thái hậu, chắc hẳn là thái hậu có trách mắng gì chăng?”.

Lưu Tiệp dư nghẹn ngào nói: “Thái hậu có dạy bảo là lẽ đương nhiên, sao dám tức giận?”.

“Thế còn ai có thể trêu chọc ngươi chứ?”.

Lưu Tiệp dư thấy hoàng thương quan tâm hỏi han mình, đột ngột quỳ xuống, vừa khóc vừa nói: “Thiếp, thiếp bị người ta ức hiếp chết mất”.

Triết Tông hỏi: “Người nào bắt nạt?”.

Lưu Tiệp dư chỉ khóc rồng, dứt khoát không trả lơi. Hảo Tùy thấy tình cảnh đó, vội quỳ xuống bên cạnh tâu, nói tình hình đại thể, đồng thời nhất mực nói là âm mưu của Mạnh hoàng hậu.

Triết Tông nghe xong nghi hoặc nói: “Hoàng hậu xử sự thận trọng tỉ mỉ, tất cả đều làm theo quy củ trong cung, không đến mức có chuyện đó chứ”.

Lưu Tiệp dư ngay lập tức nói tiếp: “Đều là sai ở thiếp, mong hoàng thượng đuổi thiếp ra khỏi cung”. Nói xong gục đầu vào gối Triết Tông, một mực làm nũng khóc.

Triết Tông thấy cô ta chau mày đẫm lệ, giống như một cành hoa lê ướt mưa, trong lòng vô cùng thương tiếc, thế là dịu giọng ôn tồn, khuyên giải dỗ dành;

Lưu Tiệp dư thấy vậy, liền ngưng khóc, giả dạng đau khổ thế lương nói: “Hoàng hậu ỷ mình làm chủ hậu cung, vô lễ ngạo mạn, chẳng coi thiếp vào đâu, sau này còn bị bà ta làm nhục, xin hoàng thượng phân xử cho thiếp”.

Triết Tông vội vàng nói: “Trẫm đã biết, đợi ngày mai sẽ phê bình hoàng hậu một trận”. Nói xong, Triết Tông dìu cô ta qua một bèn, kêu nội thị mang rượu và đồ ăn tới, cùng đối ẩm tiêu sầu với Lưu Tiệp dư, đồng thời sai người mang tới một số châu báu, ban tặng cho Lưu Tiệp dư.

Ngày hôm sau, Triết Tông đã giáo huấn cho hoàng hậu một trận.

Kỳ thực, Mạnh hoàng hậu tính tình ôn hòa hiền thục, Lưu Tiệp dư ngược lại ngông nghênh càn rỡ, ngạo mạn vô lễ, lần này ngã ra đất là chang oan chút nào, quy củ cung đình, sao có thể tự ý thay đi. Nhưng cô ta hết sức có tâm cơ, tạo ra một tư thế của kẻ yếư, thu hút được lòng thương yêu của Triết Tông, khiến Mạnh hoàng hậu trái lại bị một phen trách mắng răn dạy, mưu kê đó thật là lợi hại.

Con người ta đều có lòng thương hại, gọi lên lồng thương hại đây chính là phương pháp dùng tình thương đánh vào lòng người.

Trong xã hội hiện đại, dùng tình thương đánh vào lồng người, lợi dụng ‘lòng thông cảm”, nắm bắt tâm lý lương thiện ấu trĩ của người ta để khai thác cũng đầy rẫy khắp nơi.

Thi hiến kế này có hiệu quả nhất phải kể đến “quả phụ đại tiến quân” của công ty Kazamuzu của Nhật.

Công ty Kazamuzu của Nhật nhằm chiếm vị trí đứng đầu trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, đã trả lương cao để tuyển dụng một loạt quả phụ tiến hành đào tạo về chuyên môn, dạy họ “bí quyết quả phụ mời bảo hiểm”. Bằng cách như vậy, doanh số của hội xã này liên tục tăng lên với tốc độ trên dưới 40%.

Có hiệu suất cao như thế, tất cả là nhơ ở các quả phụ khi mời tham gia bảo hiểm đã lấy tình hình bản thân hiện tại để đánh động khách hàng, họ thường nói với khách hàng: “Nếu như chồng tôi khi còn sống có tham gia bảo hiểm nhân thọ, thì hiện nay tôi cũng không còn phải vì mưu sinh mà chạy ngược chạy xuôi không yên thân như thế này”.

Cái ý ngoài lời là “thương tôi với, thương tôi với”, đứng trước những quả phụ này, lòng thông cảm cửa khách hàng nổi lên một cách tự nhiên, không chút do dự tham gia bảo hiểm.

Không những thế, họ còn “kể lể” với khách hàng “nỗi khổ cực” tự lực lo liệu việc nhà và cuộc sống gian khổ sau khi chồng họ mất.

Cái thuật dùng “người chưa chết” để tiến hành tự bày tỏ nỗi đau của vết thương, nghe xong có thể không nổi lòng từ bi sao được?

Nhất là những người thân cũng là người vợ, cẳng theo bản năng mà móc tiền ra đóng bảo hiểm.

52. Gậy ông đập lưng ông xét án tài tình

Khu mật trực học sĩ Lý Nhược Cốc được bổ nhiệm làm tri châu Tịnh Châu (trị sở nay ở Thái Nguyên, Sơn Tây).

Nhận chức không lâu, một hôm, có người thường dân đến tố cáo.

Lý Nhược Cốc hỏi: Ngươi muốn tố cáo ai? Vì sao? “Hồi bẩm đại nhân, người mà tiểu dân muốn tố cáo là ông chú ruột. Cha mẹ tiểu dân chết sớm, chỉ để lại tiểu dân một thân một mình, người chú kia không thừa nhận tôi, bèn nói tôi không phải là do bố tôi sinh ra, muôn vơ hết tài sản rồi đuổi tiểu dân ra khỏi nhà. Xin đại nhân đứng ra phân xử cho tiểu dân”.

Lý Nhược Cốc nghe xong quát ra bên ngoài công đương “Truyền bị cáo”. Người chú của người dân thường kia sau khi tiến vào, quỳ trước mặt Lý Nhược Cốc biện bạch: “Đại nhân, huynh trưởng tiểu nhân không để lại con trai, người này quả thật là giả mạo tới, mưu đồ chiếm đoạt tài sản của huynh trưởng tôi, xin đại nhân minh xét”.

Hai người trước đại đường, mỗi người một ý, không ai chịu nhường ai.

Lý Nhược Cốc xem xét tỉ mỉ thần thái của hai người, thấy người chú kia tướng mặt hung dữ, rất thiếu lý lẽ; người cháu lại không giỏi ăn nói, hiền lành thật thà. Lý Nhược Cốc cảm thấy bên trong nhất định có điều uẩn khuất. Ông suy nghĩ một lúc rồi nói với hai người: “Hai người nói đều có lý. Bây giớ tạm thời ra về, đợi bản quan sau khi điều tra rõ rồi sẽ xử lý”.

Sau khi rồi khỏi công đường, Lý Nhược Cốc cho gọi người cháu tới, nói với anh ta: “Ngươi bây giờ về nhà, đánh cho chú ngươi một trận thật đau”.

Người cháu kia nghe xong, vô cùng khó xử, bụng nghĩ vị tri châu này biết rõ, người dưới đánh người trên là đại nghịch bất đạo, thế mà lại cứ bảo ta làm như thế, không biết là lý làm sao.

Lý Nhược Cốc cười nói: “Cứ y theo kế của bản quan mà làm, bản quan sẽ tự có đôi sách”.

Người cháu kia sau khi về nhà, uống một chút rượu để lấy thêm can đảm, sau đó túm lấy ông chú đánh cho một trận nhừ đồn. Người chú kia đâu phải là đối thủ của cháu, quả nhiên bị đánh cho tơi bời hoa lá.

Ngày hôm sau, người chú kia giận quá mất khôn chạy đến công đường.

Lý Nhược Cốc sau khi thăng đường, hỏi: “Ngươi có gì oan uổng, mau nói ra đi”.

Người chú kia nói: “Đại nhân, tối hôm qua, đứa cháu kia của tôi tự nhiên vô cớ xông vào nhà tôi, đánh tôi một trận tàn nhẫn, người dưới đánh người trên, thực là đại nghịch bất đạo, xin đại nhân trói đứa cháu kia của tôi lại để xét xử”.

Lý Nhược Cốc truyền người cháu kia tới. Ông chỉ người cháu đó rồi hỏi: “Là anh ta tối qua đã đánh ngươi?”

“Vâng, chính là anh ta”, người chú đáp.

“Anh ta là cháu ngươi?”

“Dạ vâng”.

“Hoàn toàn chính xác chứ?”

“Hoàn toàn chính xác”‘

Lý Nhược Cốc cười lớn. Cười xong, ông nói với hai người: “Nghe đây, vụ án này bản quan phán quyết như sau. Cháu đánh chú, thực là đại nghịch bất đạo, lý đáng phải phạt nặng, nhưng niệm tình phạm tội lần đầu, lại là sau khi uống rượu mà gây sự, vì thế xử phạt nhẹ, cháu xin lỗi chú ngay trước mặt. Hai người đã là chú cháu thì tài sản của người cha quy về cháu sở hữu, ngươi là chú, không được xâm chiếm”.

Người chú kia nghe xong mới biết là đã trúng kế của Lý Nhược Cốc, nhưng anh ta đuối lý bí lơi, không biết làm thế nào được cả, cuối cùng phải nhận cháu, tham vọng xâm chiếm tài sản trở thành bong bóng.

Lý Nhược Cốc áp dụng sách lược “gậy ông đập lưng ông”, gài bẫy sẵn, dụ cho đối phương cắn câu, cuối cùng đã thu được thành công.

Thập niên 30, luật sư Hong Kong La Văn cẩm cũng từng sử dụng kế “gậy ông đập lưng ông”, thắng kiện được một vụ án kinh tế.

Thương nhân Anh quốc Wilson đã đặt mưa của hãng vali da Mậu Long Hong Kong 3.000 chiếc vali da, trị giá 200.000 đôla Hong Kong. Hợp đồng ghi rõ là một tháng sau lấy hàng, quá hạn không thể giao hàng theo đúng số lượng và chất lượng, bên bán phải bồi thường tổn thất 50%.

Giám đốc hãng vali da Mậu Long Phùng Xán theo đúng hạn giao hàng, nhưng Wilson lại nói, lớp bên trong cửa vali da sử dụng gỗ, thế thì không thể coi là vali da, bên mua từ chối nhận hàng. Wilson lấy có đó kiện lên tòa án, yêu cầu bồi thường tổn thất theo hợp đồng quy định.

Khi mở phiên tòa, tòa án Anh quốc tại Hong Kong thiên vị về Wilson, ý đồ phán Phùng Xán tội lùa gạt. Phùng Xán nhờ luật sư La Văn cẩm ra tòa biện hộ.

Tại tòa, Wilson nói xằng bất chấp sự thật, già mồm lấn át lý lẽ, khí thế áp đảo, đắc chí cho rằng khoản bồi thường sắp có thể vào tay mình.

Lúc đó, La Văn cẩm từ ghế luật sư đứng lên, lấy từ trong túi ra một chiếc đồng hồ quả quýt vàng cỡ lớn, cao giọng hỏi quan tòa:

“Thưa quan tòa, xin hỏi đây là đồng hồ gì?”

Quan tòa đáp: “Đây là đồng hồ vàng nhãn hiệu nổi tiếng của Luân Đôn nước Anh xuất khẩu. Nhưng cái này đâu có hên quan gì với bản án chứ!”.

“Có liên quan”, La Văn cẩm giơ cao chiếc đồng hồ vàng, hướng về phía mọi người trong pháp đình tiếp tục hỏi:

“Đây là đồng hồ vàng, không có ai nghi ngờ chứ? Thế nhưng, xin hỏi chiếc đồng hồ này ngoài cái vỏ đồng hồ là mạ vàng ra, linh kiện máy bên trong có phải là làm bằng vàng cả không?”.

Quan tòa lúc đó mới phát giác là đã rơi vào cái bẫy gài sẵn của La Văn cẩm, trúng phải “mai phục”, nhưng bấy giơ đã muộn rồi. La Văn cẩm nói tiếp: “Đã không có ai phủ định linh kiện máy bên trong của đồng vàng có thể không phải là làm bằng vàng. Thế thì, lớp bên trong của vali da là làm bằng gỗ thì không thể coi là vali da sao? Hiển nhiên, trong vụ án vali da của hãng Mậu Long, nguyên cáo chỉ là vô cớ sinh sự, mưu đồ moi tiền mà thôi!

Quan tòa trước sự chăm chú theo dõi của mọi người, hết lời phản đối, đành phải kết án Wilson tội vu cáo, phạt tiền 5.000 đôla Hong Kong.

Báo cáo nội dung xấu