Mưu Trí Thời Lưỡng Tống - Chương 16
61. Lộ cái giả giấu cái thật
Oát Lý Bất dùng thủ đoạn uy hiếp đạt được mục đích của mình, bèn rút binh. Sau khi quân Kim rút đi, Khâm Tông nghe lời bọn gian thần sợ chết điều Lý Cương đi làm tuyên phó sứ Bắc Hà, lấy cớ đó để cách ly ông với triều đình.
Lý Cương đi Bắc Hà, triều đình chỉ cấp 12.000 quân, quân dụng chỉ được cấp 20 vạn. Tháng 7 khi đến Mạnh Châu, Lý Cương cho tập trung binh sĩ địa phương để huấn luyện, triều đình bắt phải dừng lại. Tháng 8 Lý Cương bị bãi mọi binh quyền, diều đến Dương Châu. Phe chủ hòa trong triều đình chiếm ưu thế.
Triều đình nhà Tông ngày một suy yếu, quân Kim ngày một kiêu ngạo. Công nguyên năm 1127 chúng phát binh tấn công ở phía Nam, đánh chiếm Biện Châu. Quân Tống chẳng còn chút nhuệ khí nào, thất thủ nhanh chóng. Tống Huy Tông, Khâm Tông cùng toàn bộ hoàng thân quốc thích, phi tần, cung nữ bị bắt làm nô lệ. Tất cả các đồ ngọc bảo gia truyền, các thứ quý hiếm đều được chuyển hết về Kim. Bắc Tống với 168 năm tồn tại đã kết thúc.
Tháng 3 năm đó, Khang Vương Triệu Cấu đến Nam Kinh, xưng đế, hiệu Tống Cao Tông, lịch sử gọi triều đại là Nam Tống.
Chính sách của Nam Tống cũng giống như Bắc Tông, thỏa hiệp với giặc Kim, bóc lột nhân dân. Khi mới lên ngôi, thấy lòng dân bất an, Triệu cấu bề ngoài cũng làm ra vẻ “chống Kim”, cử Lý Cương làm tể tướng. Nhưng thực tế người mà Triệu Cấu tin dùng là Hoàng Tiềm Thiện và Uông Bá Ngạn. Hoàng Tiềm Thiện được phong làm trung thư thị lang, Uông Bá Ngạn làm cơ mật sứ viện, nắm giữ binh quyền.
Sau khi được phong chức, Lý Cương đề ra những chính sách chống Kim, phản đối chủ hòa. Lúc đó có một vị tướng quân tên là Trương Sở rất tài giỏi, khi giữ chức giám sát quân ngự sử ông phát hiện ra bọn Hoàng Tiềm Thiện là gian thần, hại dân, hại nước, nên bị tên này trả thù, cho giữ chức quan nhỏ ở Giang Châu.
Sau khi Bắc Tống bị diệt, dân ở các vùng Hà Đông, Hà Bắc tự vũ trang chống Kim. Trương sở là người của tổ chức này. Ông dũng cảm thiện chiến nên được nghĩa quân mến mộ. Lý Cương muốn dùng danh tiếng của ông để tập hợp lực lượng chống Kim, định phong cho ông chức an phó sứ Bắc Hà, nhưng Trương Sở lại là đối thủ của Hoàng Tiềm Thiện, nên việc này e khó thành. Mãi sau đó Lý Cương mới nghĩ ra một kế.
Hôm đó Lý Cương và Hoàng Tiềm Thiện ngồi nói chuyện với nhau về thời thế. Lý Cương nói: “Thần chịu ơn của hoàng triều, đã lâu muốn lập công đền đáp, muốn chống lại bọn Kim để lấy lại đất đai đã mất. Chỉ e còn thiếu người giúp sức. ở Bắc Hà đang thiếu người giữ chức an phó sứ. Thần định bụng tiến cử Trương Sở. Trước đây Trương Sở tùng giữ chức giám sát ngự sử, nhưng tính tình hắn lỗ mãng, không chín chắn, đương nhiên là không hợp với chức giám sát quan ngự sử. Nhưng nếu cho hắn làm an phó sứ Bắc Hà ngày đêm lưu động, cực khổ cùng với dân đen, quân lính có lẽ thích hợp”. Hoàng Tiềm Thiện nghe vậy thì vui vẻ đồng ý.
Sau khi được bổ nhiệm Trương Sở đã mở rộng được lực lượng, đánh thắng quân Kim nhiều trận.
Lý Cương biết rõ Hoàng Tiềm Thiện là gã tiểu nhân lòng dạ hẹp hòi, đồng thời cũng hiểu rằng nếu trực tiếp tiến cử Trương Sở với Hoàng Tiềm Thiện, Hoàng Tiềm Thiện sề phản đối. Do đó ông ta áp dụng sách lược bề ngoài giả bộ để che giấu sự thực bên trong, tồ ra như là nói thay Hoàng Tiềm Thiện, muốn trừng phạt Trương Sở về mối thù đối với Hoàng Tiềm Thiện, trong khi đó ý đồ thực sự lại ẩn giấu trong việc để cho Trương Sở có đất dụng võ. Thống binh chống binh, thu hồi lại đất đã mất, thừa cơ khi Hoàng Tiềm Thiện không chú ý sẽ dễ dàng hành động để đạt mục đích.
Sách lược lấy giả để che giấu chân tướng, lấy mục đích giả để ẩn giấu mục đích thật chính là giả bộ để che giấu sự thật.
Sự cạnh tranh trong xã hội hiện đại vô cùng kịch liệt, do đó các nhà kinh doanh phải chú ý nhiềư hơn đến việc áp dụng phương pháp giả bộ bề ngoài để che giấu ý đồ thực. Trong quá trình đàm phán giữa bạn và dối phương, phải biết đánh lạc hướng sao cho thu hút được sự chú ý và hưng thú của đối phương vào những việc mà bản thân bạn không để tâm, để ẩn giấu những ý đồ thật của bạn, không được để cho đối phương nắm được, sau đó tự khắc đạt được những gì mình mong muốn.
Nhà quản lý kiệt xuất nổi tiếng của nước Mỹ, giáo sư trường đại học Better Sleide đã từng đại diện cho một công ty đàm phán với chủ tịch công đoàn.
Trong qưá trình đàm phán, giáo sư được biết tổng tài của công ty, khi tiến hành đàm phán với lãnh đạo đã phát biểu những lời lẽ không được hay cho lắm, phóng viên sẽ phát bài ngôn luận này, khiến cho chủ tịch công đoàn tức giận, thẳng thắn chỉ ra “Giám đốc điều hành của công ty bắt buộc phải công khai xin lỗi, đây là yêu cầu không có trong đàm phán”. Tổng tài của công ty cũng phát giác bản thân lỡ lời, định công khai xin lỗi bởi vì làm như vậy sẽ không ảnh hưởng đến thân phận vị trí của tổng đài.
Giáo sư quyết định viết một bài về vấn đề này, cố tình đẩy lên cao trào, để đạt được mục đích.
Ông ta nói với chủ tịch công đoàn: “Tôi hiểư tính quan trọng cửa việc xin lỗi, tôi nhất định sẽ cố gắng, giúp đỡ các ông thực hiện, nhưng tôi không thể đảm bảo điều gì cho các ông. Có điều, nếu các ông muốn tôi thực hiện việc này các ông có thể hợp tác với tôi việc khác được không?”.
Vài ngày sau, giáo sư đã công khai điều kiện mà ông ta cần hợp tác trong lĩnh vực công đoàn, đồng thời nói với chủ tịch công đoàn rằng: “Nếu tôi có thể thuyết phục được ông giám đốc điều hành công khai xin lỗi các ông, tôi sẽ đề xuất hai vấn đề với các ông. Các ông có đồng ý cách làm của tôi không. Hai bên từng bước đàm phán, cuối cùng đã ký được hiệp ước, phía công ty thì giám đốc điều hành sẽ công khai xin lỗi họ, còn phía công đoàn sẽ phải nhượng bộ về những yêu cầu lương và phúc lợi của công nhân.
Giám đốc điều hành công ty xin lỗi công đoàn thực chất là vấn đề không quan trọng lắm, mà bản thân giám đốc điều hành cũng đồ chuẩn bị đáp ứng yêu cầu hợp lý này cho phía công đoàn. Nhưng giáo sư lại giả vớ mơ hồ, cố tình coi vấn đề này là vô cùng quan trọng, thu hút toàn bộ sự chú ý của công đoàn vào vấn đề này.
Đem ý đồ thật của cuộc đàm phán, yêu cầu về phúc lợi và tiền lương của công nhân ỉm đi khiến cho phía công đoàn không biết rõ được thực chất mục đích của công ty nên bị lừa, khiến giám đốc điều hành đạt thắng lợi trong cuộc đàm phán.
Đó chính là mưu kế ẩn giấu sự thật bên trong lớp vỏ giả tạo.
62. Chung sức chống quân Kim
Lý Cương không chỉ tiến cử Trương Sở làm Chiêu phủ sứ Hà Bắc, mà còn tiến cử lão tướng Tông Trạch làm Lưu thủ Đông Kinh, kiêm Phủ doãn Khai Phong.
Tông Trạch là lão thần thanh liêm chính trực, khi Huy Tông cùng với bọn gian thần Thái Kinh áp dụng sách lược liên kết với Kim tiêu diệt Liêu, ông đã tỏ ý phản đối, ông lúc đó chỉ là một viên thông phán ở Đăng Châu, là quan phó ở châu quận, ông thường tiếp đón sứ thần Tống triều qua lại, ông nhiều lần bày tỏ với các sứ thần, đại Tống cho dù có đánh thắng được Liêu, cũng chưa hẳn đã là một việc tốt, nhà Kim sẽ thừa cơ nhảy vào, điều này chẳng khác gì đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau. Chỉ tiếc rằng Huy Tông là một hôn quân, cứ nhất định làm theo ý mình. Tông Trạch hồi tưởng hơn 20 năm chìm nổi chốn quan trường, luôn chẳng hợp tâm ý với người cầm quyền ở triều đình, trong lúc tức giận đã viết thư xin từ quan, tới Đông Dương Triết Giang làm kẻ thường dân.
Quả nhiên không sai, sau khi Kim đã diệt được Liêu, lại phái binh tiêu., diệt Bắc Tống. Điều này đã ứng nghiệm hoàn toàn vóì lời Tông Trạch đã nói.
Tông Trạch làm Lưu thủ Đông Kinh, lúc bấy giờ Khai Phong đã bị quân Kim cướp phá sạch nhẵn, giữa ban ngày, trộm cướp ẩn hiện, đường vắng bóng người, ngay đến cả kho tàng của quân đội cũng bị quân Kim cướp sạch sành sanh. Tông Trạch thi hành biện pháp, giết đạo tặc, bắt gian thương, giảm thấp vật giá, điều tiết vật tư, đã làm cho bộ mặt của Khai Phong dần dần khôi phục lại sinh khí.
Lúc ấy, Bắc Tống vừa mất, sĩ khí quân đội nhà Tống sút giảm, quân lính cũng không đủ, quanh phủ Khai Phong, trong tay lão tướng Tông Trạch chỉ có một đội quân nhỏ phòng vệ. Đối mặt với quân Kim lớn mạnh, Khai Phong luôn luôn có nguy cơ lại bị đánh phá lần nữa. Mà lúc bấy giờ ở khu vực Hà Đông, Hà Bắc nhân dân lại tự động tổ chức vũ trang chống Kim, anh dũng giết giặc. Lực lượng chống Kim này hết sức to lớn, nhưng triều đình lại coi họ là “bọn trộm cướp”, muốn Tông Trạch đi quét sạch “bọn trộm cướp” đó.
Tông Trạch vội viết cho vua một bản tấu nói: “Hiện nay tương kiêu binh lười, thật không kham nổi một trận, tất cả dựa vào dân chúng đông đảo để đánh thắng giặc. Nếu công khai coi dân binh trung nghĩa là “trộm cướp” e rằng sẽ làm đau lòng các nghĩa sĩ. Nếu như vũ trang nhân dân một khi giải tán, gặp việc cấp bách, còn biết lấy ai ra sức đây?”.
Trong lực lượng vũ trang chống Kim tại Hà Đông, Hà Bắc, Một Giác Ngưu, Dương Tiến có hơn 30 vạn qụân, Vương Tái Hưng, Lý Quý, Vương Đại Lãng, mỗi người cũng có hàng vạn quân, trong đó binh lực của Vương Thiện là lớn nhát, trên danh nghĩa có tới 70 vạn quân. Họ tuy đều chống Kim, nhưng hiệu lệnh lại không thống nhất, lực lượng chưa được tập trung, lại còn hay thôn tính lẫn nhau để tranh giành địa bàn.
Tông Trạch quyết định liên hợp các lực lượng chống Kim này lại, cùng nhau chống giặc. Ông một mình đi vào trong quân Vương Thiện, đem hết lời gan ruột nói với Vương Thiện: “Tương quân lĩnh binh đánh lại quân Kim ở Hà Đông, danh chấn thiên hạ. Hiện nay nước nhà trong lúc nguy nan, bách tính sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng, nếu như nước nhà có thêm những người như tướng quân, thống lĩnh nhân dân chống Kim, thì còn gì đáng phải lo lắng nữa chứ? Ta tuổi tuy đã cao, cũng thề không đội trời chung với quân Kim. Mời tướng quân cùng ta tới phủ Khai Phong, thương thảo đại kế chống Kim”.
Vương Thiện nghe xong những lời tâm huyết của Tông Trạch, trong lòng vô cùng cảm động, nói: “Lão tướng quân tuổi già 70, xả thân vì nước vì dân, ngày đêm lo liệu. Vương Thiện tôi là kẻ tiểu dân nơi sơn dã, nguyện nghe theo sự chỉ huy của lão tướng quân, cùng huyết chiến với quân Kim tới cùng!”.
Dưới sự nỗ lực của Tông Trạch, không tới một tháng, trên dưới vùng Hoàng Hà, lực lượng vũ trang nhân dân chống Kim đã có hơn một triệu người, đều đã đoàn kết xung quanh Tông Trạch, cùng nhau chống Kim, chỉ dưới thành Khai Phong, đã tập trung được một lực lượng lớn dân binh, nghĩa dũng. Binh mã của Vương Thiện đều trú tại Lưu Gia Tự phía đông thành. 30 vạn nhân mã của Một Giác Ngưu, Dương Tiến đóng ở phía nam thành, phía tây thành có quân của Tang Trọng, Lý Bảo. Quân Triệu Hải đóng ở Bản Kiều về phía tây, quân Vương Ngạn trú tại Sa Điếm, Hoạt Châu… Các lực lượng kháng Kim này liên lạc với nhau, thanh thế to lớn.
Mùa đông năm thứ 2 Kiến Viêm (năm 1128 CN), Kim Ngột Truật lại soái binh xuống Nam. Ông ta định vượt qua Hoàng Hà, nhanh chóng chiếm lĩnh Khai Phong, tiêu diệt cứ điểm chống Kim này. Tông Trạch hay tin, lập tức tiến hành bố trí quân đội, sai Vương Ngạn dẫn một đội tinh binh vượt Hoàng Hà, đón đánh quân địch tới; lệnh Lưu Nha chiêm cứ Hoạt Châu, giữ chặt bến sông Hoàng Hà, giữ vững cầu nối qua Hoàng Hà, chờ sau khi đại quân qua sông thì sang sông giết giặc; lệnh Lưu Viễn chiếm cứ Trịnh Châu, chặn đánh quân địch từ phía tây tới. Kim Ngột Truật do thám biết được Tông Trạch đã liên hợp một lực lượng lớn nghĩa quân, phòng thủ nghiêm mật, tự biết không phải là đối thủ, bèn bí mật phá hủy cầu qua sông rồi trốn chạy.
Đầu xuân năm sau, Kim Ngộ Truật lại xâm phạm xuống Nam lần nữa, Tông Trạch liên hợp các đội nghĩa quân đánh kẹp trước sau, đánh cho Kim Ngột Truật tan tác tả tơi.
Tông Trạch, trong tình trạng quân Tống không đủ, đã áp dụng sách lược liên hợp đối với lực lượng vũ trang chống Kim ở các địa phương, đánh bại sự xâm phạm của quân Kim, bảo vệ được Khai Phong.
Trong thương trường hiện đại, khi lực lượng của anh lớn mạnh, đối phương yếu không dám ra gió, anh luôn luôn có thể ở vào thế chủ động, khá dễ dàng đánh bại đối thủ. Nhưng khi đối phương thực lực hùng hậu, chiếm địa vị ưu thế, còn anh ở vào thế bị động, không chút ưu thế, thì anh phải làm thế nào đây? “Liên kết để chống kẻ mạnh” là biện pháp hiệu quả nhất. Anh nên tìm kiếm người cộng tác và chi viện các phương diện, đoàn kết họ, lợi dụng lực lượng liên họp để đối phó với đối thủ mạnh. Cuối những năm 70, Lý Gia Thành và Bao Ngọc Cương đã từng áp dụng biện pháp “Liên kết để chống kẻ mạnh”, đánh bại hãrig Di Hòa Dương.
Lý Gia Thành là một nhà kinh doanh bất động sản nổi lên ở thập kỷ 70 của Hong Kong. Ông hầu như đã suy nghĩ cân nhắc về từng mảnh đất, từng căn nhà trên toàn Hong Kong, hầu như đều đã phân tích thấu triệt đối với tình hình giá cả trên thị trường chứng khoán của cổ phiểu mỗi công ty, lại thêm vào tuyệt kỹ đào “góc tường” đặc biệt của Lý, ông ta có thể thu được thông tin tuyệt mật của rất nhiều công ty.
Có một lần, ông nắm được một thông tin tuyệt mật quan trọng: Hãng Di Hoa Dương có vốn đầu tư Anh quốc lớn nhất tại Hong Kong, tuy là ông chủ lớn của Công ty hữu hạn cổ phần cửu Long Thương, nhưng trên thực tế nó chiếm không tới 20% cổ phần, quả là một tỷ lệ không đáng kể, điều này cho thấy rõ cơ sở của Di Hoa Dương ở cửu Long Thương là rất mỏng manh. Tiêm Sa Chủy từ lâu đã trở thành khu thương nghiệp sầm uất, giá đất thực tế của một khối lượng lớn đất đai quý giá của cửu Long ở bên cạnh nó đã là tấc đất nghìn vàng, vậy mà giá cổ phiếu lại không hề biến động trong nhiều năm, mệnh giá cổ phiếu thấp đến không ra thể thống gì cả. Đấy chính là điều kiện có lợi để tranh đỏạt lấy cửu Long. Nếu như thu mua cổ phiếu cửu Long với lượng lớn, tức là có thể công khai cạnh tranh với Di Hòa. Dân chúng có cổ phiếu, trước giá bán ra như nhau, tất nhiên là muốn bán cho người Trung Quốc hơn. Do đó, nếu cầm chắc mua đủ 50% cổ phiếu, thế chỗ Di Hoa trở thành ông chủ lớn, như vậy thì có thể vận dụng đất đai quý giá của Cửu Long để phát triển bất động sản, có thể nói là một vốn bốn lời.
Lý Gia Thành có được thông tin này, lập tức quyết định: Phân tán thu mua cổ phiếu cửu Long. Bắt đầu từ năm 1977, ông âm thầm mua vào 18% cổ phần.
Vì Lý Gia Thành thu hút cổ phiếu, làm cho mỗi tớ cổ phiếu Cửu Long mệnh giá 10 đôla Hong Kong, nhanh chóng tăng giá lên đến hơn 30 đôla, khiến hãng Di Hoa Dương cảnh giác. Hai bên đối đầu, thực lực của Lý yếu hơn hãng Di Hòa Dương rất nhiều, gắng gượng liều mình thực khó thủ thắng.
Lý Gia Thành không hổ là một thương nhân hàng đầu. Đứng trước một đối thủ mạnh, ông quyết định tìm kiếm lực lượng họp tác, cùng nhau đối phó với hãng Di Hòa Dương.
Một ngày tháng 9 năm 1978, Lý Gia Thành và Bao Ngọc Cương đã tiến hành một cuộc hội ngộ ngắn ngủi mà lại thần bí trong phòng riêng cao cấp tại Văn hóa các Trung Hoàn, đã quyết định một cuộc giao dịch có tính mấu chốt, Cửu Long thoát khỏi hãng Di Hoa Dương Anh quốc, với giá trị 2 tỷ USD.
Lý bán toàn bộ 20 triệu cổ phiếu cho Bao Ngọc Cương, Bao sẽ giúp Lý mua lại 90 triệu cổ phiếu Ký Hoàng Phố và nguồn vốn Anh từ trong Ngân hàng Hối Phong.
Sau khi Lý Gia Thành bị Di Hòa phát hiện, Lý Gia Thành liền tỏ ý không thu nhận cổ phiếu cửu Long nữa, hãng Di Hoa Dương cuối cùng đã thở phào nhẹ nhỏm, nhầm tưởng rằng đã chuyển nguy thành an. Lúc ấy, Bao Ngọc Cương lại đứng ra tiếp tục thu mua cổ phiếu cửu Long, Di Hòa không hề phát giác, lại nhầm rằng có người mù quáng theo Lý, nhân tình thế mua vội theo, còn cười nhạo họ tự ruốc lấy rủi ro, đoán rằng cổ phiếu Cửu Long chẳng bao lâu sẽ sụt giá. Chờ tới khi Di Hoa phát hiện cổ phiếu cửu Long liên tục tăng giá mà không giảm trở lại, đáng phải cảnh giác, Bao đã đao to búa lớn, chỉ trong một quý đã mua thêm 10 triệu cổ phiếu, chiếm hữu 30% cổ phần ở cửu Long. Thời giá đầu năm 1979, giá cổ phiếu cửu Long đã tới 50 đôla Hong Kong. Di Hoa mới biết là đã bị lừa vào bẫy, lòng nóng như lửạ đốt, lập tức nghiên cứu đối sách, đưa ra giá cao để thu hồi cổ phiếu cửu Long, chuẩn bị quyết chiến, nhưng mà thế lớn đã mất, hết cách vãn hồi.
Lý, Bao hai người liên thủ, đã đánh bại hãng Di Hoa Dương, Bao Ngọc Cương khống chế cổ phiếu Cửu Long, Lý Gia Thành nhờ nắm trong tay 90 triệu cổ phiếu Hoàng Phố do Bao Ngọc Cương ngâm ngầm trao cho, từ đó đã thắng được xí nghiệp vốn đầu tư Anh quốc số 3 tại Hong Kong - hãng Di Hòa Dương, khống chế công ty cổ phần hũu hạn Hoàng Phố, hai người liên thủ đều thu được lợi ích to lớn.
63. Biết thời thế, tạm thời nhượng bộ
Dưới sự chỉ đạo theo sách lược “Liên hợp chông Kim” của Lão tướng Tông Trạch, quan quân nhà Tống và nghĩa quân các nơi đã nhiều lần đánh lui sự xâm phạm xuống Nam của quân Kim, giành được thắng lợi ở trận bảo vệ Hoạt Châu nổi tiếng trong lịch sử.
Lão tướng Tông Trạch đã xây dựng rất nhiều công sự phòng ngự ở Khai Phong, sau khi chiêu mộ rất nhiều binh mã, liền liên tiếp không ngùng dâng thư lên Cao Tông, thỉnh cầu hoàng đế từ Dương Châu về Đông Kinh.
Nhưng Cao Tông lại tính toán khác. Ông ta cho rằng nếu binh lực của Tông Trạch dần lớn mạnh, vị lão thần tiên triều này chắc chắn sẽ dốc toàn lực đánh Kim, để đón hai vị hoàng đế Huy, Khâm trở về, ngôi của mình sẽ không thể giữ được, vì vậy đã phái Quách Trọng Tuần làm phó Lưu thủ Đông Kinh, để ông ta giám sát Tông Trạch.
Lão tướng quân một lồng muốn báo quốc, không ngờ Cao Tông có thể đối xử với ông như vậy, vì thế, trong lồng ông thực sự cảm thấy phiền muộn, bực tức và thất vọng. Dần dà, ông ăn không nổi, ngủ không ngon, vốn hùng tâm bừng bừng, muốn vì nước lập công, hoàn toàn quên đi tuổi tác của mình, lúc ấy nản lòng, thoáng cái đổ bệnh, không lâu thì mất vì nhọt độc trên lưng phát tác.
Cao Tông chờ cho Tông Trạch chết, lập tức cử Đỗ Sung làm Lưu thủ Đông Kinh. Đỗ Sung vừa nhận chức, liền bãi bỏ tất cả các biện pháp của thời Tông Trạch còn sống, dỡ bỏ công sự phòng ngự ở Khai Phong, đả kích các tướng lĩnh nghĩa quân. Lực lượng một triệu quân vũ trang mà Tông Trạch đã bỏ bao tâm huyết để liên lạc, tổ chức nên, rât nhanh đã bị ông ta làm cho tan rã.
Năm 1128 CN, tướng Kim Chiêm Hãn lại thống lĩnh đại quân xâm lấn xuống Nam. Do lực lượng nghĩa quân mà Tông Trạch phối hợp đã giải tán, kết quả, quân Kim liên tục đánh chiếm các đất Khai Phong, Đại Danh, Tương Châu, Thượng Châu, phá vỡ nhiều phòng tuyến của quân Tống, đồng thời đánh vào Dương Châu, nơi Cao Tông đang ở. Cao Tông Triệu Cấu trốn chạy tả tơi, từ Dương Châu tới Trấn Giang, từ Trấn Giang tới Thường Châu, lại từ Thường Châu tới Tú Châu; ngày 23 tháng 2 dừng chân tại Hàng Châu. Từ quan viên cho tới dân chúng ven đường thấy hoàng đế ngựa không dừng bước trốn thẳng xuống Nam, cũng đều bỏ cả nhà của ruộng vườn, dìu già dắt trẻ, chạy theo tán loạn. Trên đường lạc vợ mất con, khóc cha kêu mẹ.
Tới Hàng Châu, hoàng đế Cao Tông hồ đồ ngu xuẩn tột độ chỉ biết nghe theo bọn quan viên hủ bại vô năng như Vương Uyên, Khang Lữ. Vốn quân đội của bọn Miêu Phó, Lưu Chính Ngạn đã từng hộ tống Cao Tông đến Hàng Châu, đa số là người vùng Yên phương Bắc, cũng có người là dân vùng Hà Đông, Hà Bắc, Trung Nguyên, họ nhiều lần dâng thư lên Cao Tông, yêu cầu thu hồi lại Hà Bắc, Cao Tông căn bản không thềm để ý tới việc này.
Ngày 5 tháng 3 năm thứ 3 Kiến Viêm, Miêu Phó, Lưu Chính Ngạn lợi dụng sự bất mãn đối với Cao Tông trong tướng sĩ, tổ chức bạo động vũ trang.
Họ thừa lúc các quan lên triều, mai phục quân trên đường, giêt chết Vương Uyên, rồi dẫn quân vào trong cung, giết hơn trăm tên hoạn quan, đồng thời yêu cầu gặp Cao Tông, Cao Tông đành phải tới ban công trên ngự lâu, đi gặp các tướng sĩ.
Miêu Phó từ dưới nói lớn lên: “Bệ hạ chỉ nghe lời bọn hoạn quan, thưởng phạt không công bằng, các tướng sĩ gian lao vất vả thì chẳng được ban thưởng; mua chuộc nội thị, tìm đủ cách đoạt lấy quan chức, Vương Uyên gặp giặc không đánh, trước tiên cướp đường trốn chạy, lại kết giao với bọn nội thị Khang Lữ, ỷ thế hiếp người, thì lại được thăng làm khu mật viện sứ. Nay chúng tôi đã chặt đầu Vương Uyên, duy có Khang Lữ vẫn còn đó, xin bệ hạ giao Khang Lữ cho bọn thần, đem hắn xử tử để tạ ba quân”.
Cao Tông từ chối nói: “Khang Lữ sắp giữ trọng trách, các khanh hãy về doanh chờ lệnh”.
Miêu Phó nói: “Nay quân Kim xuống Nam, ngàn vạn sinh linh của đại Tống ta đầu roi máu chảy, đều có liên quan với bọn hoạn quan tự ý chuyên quyền, nếu không chém Khang Lữ, bọn thần quyết không về doanh”.
Cao Tông thấy các tướng sĩ người nào người nấy đều nhìn sát vào ông, đành phải lệnh cho Hà Trạm trói Khang Lữ lại, đua xuống dưới lầu. Miêu Phó vung đao, chém Khang Lữ làm hai đoạn.
Cao Tông ra lệnh Miêu Phó về doanh, các tướng sĩ vẫn không đi, đồng thời nói với Cao Tông: “Bệ hạ không lên ngôi vua, hoàng đế Uyên Thánh còn ở nước Kim, một khi trở về, thử hỏi nễn xử trí thế nào”.
Cao Tông chẳng biết đối đáp thế nào, hứa giao chức cao cho Miêu, Lưu hai người, nhưng cả hai vẫn không chịu thôi. “Mời Thái hậu nhiếp chính, bệ hạ thoái vị, nhường ngôi cho hoàng thái tử, hoàng đế Đạo Quân đã từng có tiền lệ”.
Tể tướng Chu Thắng Phi khuyên nhủ không có kết quả, trở về bẩm tâu lại với Cao Tông. Cao Tông trầm ngâm nghĩ: “Nếu không đồng ý, đám người này đánh vào cung, chuyện gì cũng có thể gây ra cả, chi bằng hãy giải trừ nguy hiểm trước mắt, rồi sẽ nghĩ cách xử lý sau”. Quyết định xong chủ ý, liền nói với Thắng Phi: ‘Trẫm nên thoái vị, nhưng cần phải có thư chiếu của Thái hậu, mới có thể nhường ngôi”.
Thái hậu ra mặt khuyên nhủ Miêu, Lưu hai người, nhưng Miêu, Lưu vẫn đòi Cao Tông phải thoái vị.
Tể tướng Chu Thắng Phi hiến kế: “Miêu Phó có một người tâm phúc từng đã nói với thần rằng “Miêu, Lưu hai tướng lòng trung có thùa, nhưng học thức không nhiều, vả lại tính tình cố chấp, nhất thời không thể nào thuyết phục được”. Vì thế, thần đề nghị bệ hạ trước mắt tốt nhất là rút lui, tạm thời nhường ngôi, tĩnh lặng mưu tính tương lai”.
Thế là, Cao Tông liền cầm bút viết chiếu, nhường ngôi cho hoàng tử Phu, mới Thái hậu buông rèm nhiếp chính.
Từ khi Thái hậu nhiếp chính, đại sự quốc gia đều do Tể tướng Chu Thắng Phi xử lý. Thắng Phi mỗi ngày đều phải dẫn Miêu, Lưu hai người lên điện, để tránh hai người sinh nghi đối với ông ta. Miêu thấy Cao Tông vẫn ở trong cung, đồng thời ngấm ngầm xử quyết việc nước, rất không yên tâm, bèn cùng Lưu Chính Ngạn đề xuất để Cao Tông ra khỏi cung, đến ở chùa Hiển Ninh.
Cao Tông than thở: ‘Trẫm đã nhường ngôi ở không, họ còn không yên tâm, đến cả sinh hoạt hàng ngày của trẫm cũng phải họ can thiệp, thật là quá thể”.
Chu Thắng Phi kiến nghị: ‘Thời cơ còn chưa chín muồi, bệ hạ tốt hơn hết là vẫn cứ nhượng bộ, nhẫn nhục chịu đựng, tạm thời tới ở cung Duệ Thánh, chờ khi ngóc đầu lên được lại về cung, tránh lại gây loạn trước mắt”.
Cao Tông nói: ‘Tất cả trông cậy vào sự sắp xếp của khanh, trẫm coi như chỉ biết nghe lời can gián trung thành của ngươi thôi. Nhưng việc vùng lên, phải do khanh phụ trách, tốt nhất phải nhanh. Hai tên giặc đó bí mật bố trí tâm phúc, nếu như biết được, phòng bị chặt chẽ, thì sẽ khó làm đấy”.
Thắng Phi thấp giọng: ‘Đã có chắc chắn, để đề phòng tiết lộ, không dám nói nhiều. Bệ hạ chuyển ra hành cung, đến lúc có thể lánh trước đi”.
Cao Tông bèn dẫn phi tử tới ở chùa Hiển Ninh.
Nửa tháng sau, bọn Lưu thủ Bình Giang Trương Tuấn liên lạc với các tướng, cùng phát binh thảo nghịch, tiến về Hàng Châu. Trước tình hình đại binh áp sát, hai tướng Miêu, Lưu vội vàng hoảng hốt, đành phải đi thương nghị với Thắng Phi. Thắng Phi nói: ‘Tôi nghĩ thay cho các ông, chỉ có nhanh chóng sửa chữa, nếu không các lộ đại quân sẽ tới dưới thành, hai ông sẽ chẳng còn đất dung thân”.
Miêu, Lưu hai người suy nghĩ lúc lâu, quả thật chỉ có một con đường này để đi, liền nghe theo kiến nghị của Thắng Phi, mời Cao Tông trở lại ngôi vua.
Cao Tông sau khi khối phục ngôi vua không lâu, liền phái người truy sát hai người Miêu, Lưu.
Trong tình huống Miêu, Lưu hai người gây binh biến, tình thế hết sức hiểm nguy. Cao Tông đã nghe theo kế của Thắng Phi, tạm thời nhân nhượng, nhường ngôi cho Thái tử, bảo toàn tính mạng của mình, cuối cùng khi thời cơ đã chín muồi, lại lên ngôi vua trở lại.
Tục ngữ nói: “Rừng xanh còn đó, không lo không có củi đun”. Lùi và tiến là cặp phạm trù biện chứng, rút lui tạm thời lại là tiến công trong tương lai. Trong thương trường, không thể cứ giữ chặt lấy một vài cái lợi nhỏ nhất của hiện tại. Nên vì mục tiêu lâu dài mà bỏ đi lợi ích trước măt, nhất là khi tình hình bất lợi, càng phải biết cách nhượng bộ. Tái ông thất mã, làm sao mà biết được đấy không phải là việc hay? Chỉ có người giỏi nhượng bộ, mới có thể kiêm được nhiều tiền.
G. J. Korvin, tổng giám đốc công ty liên hợp Lợi Hoa nước Anh có một tín điều cơ bản trong kinh doanh, đó là không câu nệ thể diện, mà lấy lợi ích làm tiền đề. Dựa theo tín điều này, trong kinh doanh, giao thiệp đàm phán làm ăn, ông thường áp dụng sách lược nhượng bộ. Trong tình huống nhất định, tình nguyện nhân nhượng thỏa hiệp, để giành được thời cơ phát triển, mà kết quả là lùi một bước, nhưng lại giành được lợi ích.
Công ty liên họp Lợi Hoa từ lâu đã thành lập nên công ty Hunadi ở châu Phi quy mô lốn tại bớ biển phía đông châu Phi, nhân viên làm việc lên tới 140 ngàn người. Ở đây nguyên liệu xà phòng phong phú, đồng thời thích họp để gieo trồng cây lạc để làm nguyên liệu dầu ăn, là một mảnh đất quý giá của công ty liên hợp Lợi Hoa, là nguồn gốc chính trong sự giàu có của công ty.
Sau khi đại chiến thế giới II kết thúc, phong trào đòi độc lập ở các nước thuộc châu Phi phát triển mạnh mẽ rầm rộ. Kết quả, số đất trồng lạc màu mỡ này của Liên hợp Lợi Hoa bị các quốc gia châu Phi tịch thu từng mảnh, nguồn của cải của công ty bị cắt đứt, điều này khiến Liên hợp Lợi Hoa đứng trước nguy cơ cực lớn.
Lúc ấy, vị tổng giám đốc kinh nghiệm phong phú Korvin đích thân tới châu Phi, tìm các bạn cũ để thương lượng điều chỉnh.
Nhắm vào tình hình thực tế phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi lúc bấy giờ đang ngày càng dâng cao, Korvin đưa ra 6 điều chỉ thị, đối với công ty Hunadi châu Phi.
Thứ nhất, tất cả nhân viên giám đốc đứng đầu trong hệ thống công ty con của Hunadi châu Phi ở các nơi tại châu Phi đều nhanh chóng bắt đầu sử dụng người châu Phi.
Thứ hai, sự cách biệt về mức lương giữa người châu Phi và người da trắng trước đây, ngay lập tức hủy bỏ, áp dụng chế độ công việc như nhau thù lao như nhau.
Thứ ba, để đào tạo nhân viên lãnh đạo người châu Phi, thiết lập cơ sở đào tạo cán bộ kinh doanh tại Nigeria.
Thứ tư, nên áp dụng chính sách chung hưởng lợi ích.
Thứ năm, lấy tìm kiếm con đường sinh tồn làm mục đích chủ yếu.
Thứ sáu, không thể câu nệ vào vấn đề thể diện, nên lấy tạo ra lợi ích lớn nhất làm nhiệm vụ quan trọng.
Sáu điều kể trên, hình như là hạ sách nhân nhượng thỏa hiệp, cho thấy mình yếu hơn người, nhưng sự thực về sau đã chứng minh, Korvin không những không phải chịu bất kỳ tổn thất nào, mà ngược lại đã giành được lợi ích cực lớn.
Trong thương lượng điều đình với chính phủ Ghana, để bày tỏ sự tôn trọng đối với lợi ích của đối phương, Korvin đã chủ động chuyển đất trồng của mình cho chính phủ Ghana. Sự nhân nhượng chủ động của Korvin đã giành được cảm tình tốt cửa chính phủ Ghana đối với ông. về sau, để báo đáp ông, chính phủ Ghana đã chỉ định Công ty Liên hiệp Lợi Hoa làm đại lý mua bán nguyên liệu dầu ăn cho chính phủ Ghana, điều này đã giúp Korvin độc chiếm quyền mua bán nguyên liệu dầu ăn tại Ghana.
Trong thương lượng với chính phủ Ghi-nê, Korvin tỏ ý tự rút lui công ty, thái độ chân thành thẳng thắn này của Korvin ngược lại đã khiến chính phủ Ghi-nê hết súc cảm động, vì thế bằng lòng níu giữ công ty của Korvin, mong muốn nó tiếp tục ở lại.
Ngoài ra, tại các nơi ở châu Phi, Korvin đều áp dụng sách lược nhượng bộ, cũng đã giành được lợi ích ở các mức độ khác nhau.
Như thế, trong cao trào của phong trào độc lập ở châu Phi, một số công ty châu Âu khác đều đã chịu sự ảnh hưởng khác nhau, chỉ có công ty Liên hợp Lợi Hoa về thực chất không hề chịu bất kỳ ảnh hưởng nào, không chỉ bình yên vượt qua khó khăn, mà còn giành được lợi ích nhất định.
64. “Phản tướng” càng hữu dụng
Chung Tương trúng phải gian kế của Khổng Ngạn Châu, không may hy sinh, quân khởi nghĩa nông dân dưới sụ lãnh đạo của Dương Ma, tiếp tục kiên trì đấu tranh.
Năm 1135, Tống Cao Tông củ Trương Tuấn làm tổng chỉ huy, lại điều Nhạc Phi từ tiền tuyến chống Kim tới, tiễn quân về hồ Động Đình, căn cứ địa của nghĩa quân, lần nữa trấn áp khởi nghĩa nông dân. Lúc bấy gio, Chung Tương đã chết, quân khởi nghĩa do Dương Ma chỉ huy.
Hai bên triển khai chiến đấu kịch liệt ở hồ Động Đình, bất phân thắng bại. Lúc ấy Trương Tuấn muốn rút quân, Nhạc Phi đem bản đồ tác chiến đã chuẩn bị sẵn ra khuyên Trương Tuấn ở lại, Trương Tuấn tỏ ý sang năm sau hãy thương nghị phá địch. Nhạc Phi nói: “Chúng tôi đã có kế hoạch để chiến thắng Dương Ma, Đô đốc ở lại thêm mấy ngày, tôi bảo đảm trong 8 ngày sẽ tiêu diệt kẻ địch”.
Trương Tuấn không tin: “Đâu có dễ dàng như thế được”.
Nhạc Phi cười nói: “Trước đây các tướng lĩnh tới vây diệt, đều dùng quân Tống tấn công thủy khấu, đương nhiên hết sức khó khăn; nay tôi muốn dùng thủy khấu tấn công thủy khấu, sẽ dễ dàng hơn nhiều. Bởi vì thủy chiến, địch giỏi mà ta kém, dùng sở đoản để đánh sở trường, vì thế tất bại khỏi phải nghi ngờ. Nếu mượn dùng tướng địch, quân địch để đánh Dương Ma, nhất định có thể bắt sống các thủ lĩnh của giặc”.
Tiếp đó, Nhạc Phi giới thiệu tỉ mỉ về kế hoạch của mình. Trương Tuấn nghe xong liền yên tâm ở lại.
Quân Nhạc Phi tiến vào Đỉnh Châu, áp dụng chính sách dụ hàng, thủ lĩnh quân khởi nghĩa Hoàng Tá dẫn đầu tới đầu hàng Nhạc Phi. Hoàng Tá trở về hồ, lại khuyên hàng bạn chí thân của ông ta là Dương Khâm.
Dương Khâm là tướng lĩnh quan trọng của quân khởi nghĩa anh dũng thiện chiến, quan binh nhiều lần bại dưới tay ông ta. Nhạc Phi nghe nói Dương Khâm đến hàng, vui mừng nói: “Dương Khâm theo về, lòng quân bên địch sẽ bắt đầu tan vỡ”. Thế là, lập tức phong Dương Khâm làm Vũ nghĩa đại phu.
Dương Khâm sau khi nhận được sự trọng đãi của Nhạc Phi, liền hiến kế với ông: “Đe dọa lớn nhất của Dương Ma là xa thuyền, nếu xa thuyền không diệt, ông đánh vào trại của ông ta thì cũng là hoài công. Bởi hễ vào trong hồ, một vùng nước lớn, ông chẳng làm gì được ông ta. Chiến thuyền lớn nhất của ông ta nếu không có mức nước sâu một trượng thì không thể chạy được. Trước kia, nước hồ Động Đình sâu không tới một trượng, Dương Ma đắp đập giữ nước, nhớ đó mới nâng cao mực nước. Tôi trước đây đã tùng quản lý ke đập, tất cả những bí mật về đóng mở đều biết rõ. Nếu tướng quân có thể cử người cùng tôi đi mở cống tháo nước, những xa thuyền kia sẽ trở thành thuyền chết, lại bó những bó cỏ bỏ vào trong hồ, quấn chặt lấy bánh xe thuyền, thì nó không còn có thể động đậy được nữa”.
Nhạc Phi mừng lớn, lập tức lệnh cho Dương Khâm đem người đi mở công tháo nước. Kết quả, xa thuyền của quân khởi nghĩa không thể nào bơi đi được, quan quân thừa cơ đánh phá thủy trại.
Dương Khâm còn âm thầm trở về thủy trại, thuyết phục bọn Dư Đoan, Lưu Tiền đầu hàng, lực lượng thủy quân của Nhạc Phi tăng mạnh.
Dương Ma không biết Dương Khâm đã chịu đẩu hàng, đã nghe theo lời của ông ta, đích thân dẫn đại đội binh mã rời trại. Khi binh mã của ông ta tiến vào một khe núi quái thạch dốc đứng, bỗng nhiên không còn thấy tông tích Dương Khâm đâu nữa. Dương Ma biết tình thế đã có biến, muốn rút lui nhưng đã không còn kịp nữa, quan binh mai phục bốn phía đột nhiên đánh ra, bọn Dương Ma liều chết cố đánh, cuối cùng vì quả bất địch chúng, Dương Ma bị quan binh của Nhạc Phi bắt giữ, anh dũng hi sinh vì nghĩa lớn.
Sau khi Dương Ma chết, quân khởi nghĩa mất lãnh tụ, liền liên tiếp đầu hàng, Nhạc Phi giành được thắng lợi. Trận này, bọn Dương Khâm đã có tác dụng vô cùng quan trọng.
Trấn áp quân khởi nghĩa là một vết nhơ trong đời Nhạc Phi, nhưng ông khéo dùng Dương Khâm, dùng quân khởi nghĩa đánh quân khởi nghĩa, vẫn không mất đi ý nghĩa của một nước cờ cao minh.
Trong thương trường, thu dùng người có sở trường đặc biệt bị xí nghiệp đối thủ sa thải, đặc biệt là thu dùng họ trong tình huống họ không vui vẻ với công ty cũ mà ra đi, luôn luôn có thể đánh cho đối thủ một đòn có tính hủy diệt.
Hãng ô tô Chrysler của Mỹ là một xí nghiệp lũng đoạn nhãn hiệu lâu đời có thực lực hùng hậu, từng đúng ở vị trí thứ hai trong ngành xe hơi Mỹ, cùng với các hãng General, Ford hình thành thế chân vạc, chia ba thiên hạ, cùng nhau không chế 95% sản lượng ô tô trên toàn nước Mỹ.
Vậy mà, chính là vì sự sai lầm trong quyết sách của Chrysler, đã khiến cho tay nổi trội trong ngành sản xuất Mỹ này hầu như toàn quân bị tiêu diệt. Vào thập kỷ 50, 60, công ty ô tô Chrysler đã tính toán sai lầm tình hình, cho rằng kiểu ô tô cỡ nhỏ “bán chạy” có thể chiếm lĩnh thị trường, thế là từ năm 1953 bắt đầu thu nhỏ thể tích xe, tập trung phát triển cỡ “nhỏ”. Trên thực tế, lúc ấy ở Mỹ “xe cỡ nhỏ” lượng tiêu thụ rất ít, chỉ chiếm 16% lượng tiêu thụ xe hơi ở Mỹ. Vì hàng không hợp nhu cầu, đã dẫn tới việc Chrysler thất thế nghiêm trọng, từ địa vị “nhị ca” tụt xuống hàng “tam đệ” trong họ hàng xe hơi ở Mỹ, nhường chỗ cho công ty ô tô Ford. Còn khi Chrysler thay đổi chiến lược vào năm 1969, điều chỉnh phương hướng, lại từ “nhỏ” chuyển sang “to”, thì lại tiếp tục phạm phải sai lầm vì quyết sách, bởi vì lúc bấy giơ vừa lúc gặp phải cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới năm 1973, xăng trong nước của Mỹ cung không đủ cầu, giá dầu tăng mạnh, người tiêu dùng xe hơi lại thích “nhỏ” mà ghét “lớn”. Kết quả là năm 1975 hãng ô tô Chrysler lập kỷ lục lịch sử về thua lỗ, Hội đồng quản trị lập tức mới Lee Akeg lãnh đạo xí nghiệp.
Lee là Tổng tài của công ty ô tô Ford trước đây. Lúc ông còn ở công ty ô tô Ford, chú ý suy nghĩ về nhu cầu của thị trường ô tô mấy năm sau, không ngừng đưa ra các loại xe mới bán chạy như: xe ngựa hoang đưa ra thị trường năm 1964, trong một năm đầu tiên đã bán được 420.000 chiếc, lập kỷ lục mới về tiêu thụ xe hơi. kiểu xe cỡ nhỏ Fiasta đua ra thị trường vào những năm 70, đã giúp cho Ford trong thời kỳ khủng hoảng dầu lửa vẫn bảo đảm mức lợi nhuận lớn. Nhưng thành công đã gây nên đố kỵ, đời thứ hai của Ford đầu tiên là phao tin vịt rằng Akeg bắt tay với maphia, tiếp đó là tiến hành điều tra về hoạt động nghiệp vụ và đời sống cá nhân của ông, sau đó lại áp dụng biện pháp tước bớt quyền hành, thành lập văn phòng giám đốc chủ quản, nhằm thay thế hình thức tổ chức chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc chủ quản, khiến địa vị của Akeg trong công ty từ vị trí số 2 tụt xuống vị trí số 4. Cuối cùng, Ford II lại đột nhiên sa thải Akeg.
Hãng ô tô Chrysler đang ở trong nguy cơ trước bờ vực phá sản, khi nghe được tin Akeg bị sa thải, ngay lập tức quyết định mới Akeg giữ chức Tổng giám đốc, điều hành xí nghiệp.
Akeg sau khi bị sa thải, Ford II đồng ý chuyển số tiền lương năm 360.000 USD của Akeg thành khoản lương hưu 1 triệu USD, với điều kiện là chỉ cần Akeg không làm việc cho công ty khác.
Akeg đã không động lòng vì 1 triệu USD đó, các công ty chế tạo giấy quốc tế, công ty Lukxide tới mời ông, các học viện nổi tiếng như Học viện thương nghiệp Đại học New York mời ông làm viện trưởng, ông đều nhất nhất từ chối khéo, nhưng khi chủ tịch hội đồng quản trị của hãng ô tô Chrysler tìm tới, ông lại đồng ý.
Bởi ông thấy rằng, đây là cơ hội để khiêu chiến với Ford II.
Akeg sau khi nhận chức, dẫn đầu tự giảm mức lương năm của mình xuống còn 10.000 USD, lại không tiếc mọi giá chiêu mộ nhân tài. Đầu tiên, ông không chỉ kéo được 3 vị giám đốc đã nghỉ hưu của công ty Ford, mà còn gom được hơn 300 nhân viên quản lý sơ, cao cấp và nhân viên kỹ thuật. Jilade Klinwo là cốt cán chủ yếu của công ty ô tô Ford, Akeg đã bỏ ra một khoảng thời gian tròn 4 tháng trơi, tiến hành nói chuyện với nhau nhiều lần ở Miami và Las Vegas, cuối cùng đã kéo được ông ta vào công ty Chrysler đảm nhiệm chức chủ thẩm tài vụ. Dưới sự giúp đỡ của Klinwo lại kéo thêm được Lobater - nhân viên nghiệp vụ phòng tài vụ Ford, nhiệm vụ của ông ta là giao dịch qua lại với hơn 400 ngân hàng; còn lôi kéo được cả giám đốc bán hàng Jily của công ty Ford và phó tổng giám đốc công ty Ford Richart, lại còn thông qua Đa Kỳ đem về một loạt nhân viên quản lý trẻ sắp xếp vào bộ phận chế tạo sản xuất của công ty Chrysler, kết quả, công ty Ford do cốt cán bị “xói mòn”, thành tích mỗi năm một giảm. Còn những nhân viên này đến lại hết sức có hiệu quả đối với công việc quản lý của Akeg.
Akeg còn tiến hành một cuộc cải cách mạnh mẽ đối với tình trạng vô chính phủ của công ty, điều chỉnh đội ngũ lãnh đạo xí nghiệp, đồng thời đã tranh thủ được nguồn vốn vay 800 triệu USD của Chính phủ, cuối cùng đã làm cho con thuyền lớn sắp phải chìm này lại có được sức sống.
Tiếp theo, Akeg lại bỏ cũ tìm mới, đưa ra kiểu xe chữ K có tính năng vượt trội, cạnh tranh với công ty Ford. Đích thân ông đã quảng cáo mạnh mẽ cho kiểu xe mới này trên T.v. Chính sách bán hàng hiệu quả, xe lại phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, thế là nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường. Công ty Chrysler đã chấn hưng lại hùng phong của ngày xưa, một lần nữa đã đánh bại nhãn hiệu lâu đời, một kẻ địch có thực lực, công ty ô tô Ford.
Hãng ô tô Chrysler trong thời kỳ khủng hoảng đã biết cách sử dụng nguyên Tổng giám đốc Akeg của đối thủ làm cho xí nghiệp tìm ra đường sống từ trong cái chết, chuyển bại thành thắng.
Còn công ty ô tô Ford do đã áp dụng cách làm thiếu sáng suốt, không những đã tự làm mình mất đi một nhà lãnh đạo trác việt mà còn tăng thêm cho đối thủ nguồn sinh lợi mới, tự tạo cho mình mối đe dọa cực lớn.

