Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 11

Chương XI. Khi những điều bất hạnh xảy ra với kẻ giàu

Một trong những kẻ tội đồ mà tôi ưa thích đó là Edwin Edwards, cựu thống đốc bang Louisiana – quê hương của tôi, người thích nói rằng ngọn lửa nóng nhất của địa ngục thường thiêu đốt kẻ đạo đức giả. Nhưng lạy Chúa, tôi hy vọng mọi chuyện không phải như thế. Chưa đầy hai tuần sau khi vụ đặt giá để thôn tính của Ronald Perelman, tôi được thông báo, không, đúng hơn là tôi được chỉ thị rằng những trái phiếu thứ cấp là ưu tiên mới của Salomon Brothers. (Sự thay đổi này trong chính sách khiến Henry Kaufman phải từ chức vào đầu năm 1988). Kỳ diệu thay, chúng tôi đã có một số lượng lớn trái phiếu thứ cấp để bán. Công ty Southland, chủ nhân của chuỗi cửa hàng thực phẩm 7-Eleven khắp nước Mỹ, đã được chính ban quản trị của nó mua lại vào tháng 8 năm 1987 với giá 4,9 tỷ đô-la bằng tiền đi vay. Salomon Brothers và Goldman Sachs đã cung cấp khoản vay ngắn hạn vì mục đích ấy, được gọi là vốn vay bắc cầu. Như tất cả các khoản vay bắc cầu, khoản cho vay của chúng tôi phải được thay thế nhanh bằng những trái phiếu thứ cấp trên danh nghĩa Southland. Số trái phiếu thứ cấp ấy sẽ được bán cho các nhà đầu tư, số tiền thu được sẽ chuyển lại cho chúng tôi; vướng mắc duy nhất là ở chỗ các nhà đầu tư, vì lý do nào đó, đã quay mặt với những trái phiếu này. Chúng tôi trở thành những nhân viên kinh doanh bị quở trách vì không cố gắng hết sức.

Dash Riprock đã khôn ngoan tự cô lập mình bằng cách thuyết phục cấp trên từ lâu rằng những khách hàng của anh ta chỉ mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ. Kết quả cho việc nhìn xa trông rộng là anh ta không phải đi bán lẻ trái phiếu thứ cấp. Ngược lại, tôi phải đi bán cái thứ này đến bạc cả mặt. Vấn đề của tôi giống như một người đã bỏ một triệu đô làm từ thiện chỉ để thấy bản thân mình bị đòi hỏi nhiều hơn thế nữa. Việc bán trái phiếu York & Olympia của tôi đã diễn ra hơn một năm trước, nhưng nó và các giao dịch tương tự vẫn còn ám ảnh tôi. Người ta đã giả sử rằng bất cứ ai có thể lừa khách hàng mua lượng trái phiếu York & Olympia trị giá 86 triệu đô-la cũng có thể bán được một lượng lớn trái phiếu Southland. Tôi đang trả giá cho quá khứ của mình bằng cách bị kết án phải lặp lại kỷ lục đó. Dù thế nào chăng nữa, tôi cũng không có đủ khả năng để định giá trái phiếu Southland. Nhưng vì sự ngu dốt ấy trước đây đã không cản được tôi thì nay người ta cũng không cho rằng nó cản được tôi.

Các chuyên gia trái phiếu thứ cấp của Salomon cho rằng công ty Southland là một khoản đầu tư sinh lợi, nhưng rồi họ sẽ thế nào? Họ sẽ đạt được nhiều thứ nếu giao dịch đó thành công (30 triệu đô-la lợi nhuận cho ban trái phiếu thứ cấp) và họ có nhiều thứ để mất nếu nó thất bại (chính là việc làm của họ). Nếu những trái phiếu đó là miếng mồi cho chó thì chẳng ai thèm nói đến nó. Thời gian nhận thưởng gần đến với chúng tôi, và tính trung thực về phẩm chất hàng hóa của chúng tôi đang kinh doanh với giá chiết khấu.

Trực giác của tôi cho rằng Salomon Brothers không biết gì về trái phiếu thứ cấp và kết quả là bất kỳ trái phiếu thứ cấp nào mà chúng tôi bao tiêu cũng có đặc tính y như tên của nó, thứ cấp. Tôi cho rằng Salomon Brothers đang phạm sai lầm điển hình của một tay giao dịch mới vào nghề: nhảy vào một thị trường huyên náo, mua bất kể thứ gì được bán với giá cao nhất. Tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tin vào bản năng của mình, vì chẳng có ai biết gì về Southland mà tôi có thể tin cậy được ở Salomon Brothers. Và bản năng của tôi cho thấy những trái phiếu này sắp đến ngày tận số.

Trong năm mới, tôi quyết tâm sẽ không bán cho mọi người những thứ tôi cho là họ không nên mua. Vì Lent mà tôi đã từ bỏ quyết tâm này. Tôi vẫn cảm thấy không trung thực về vai trò nhỏ bé của mình trên các thị trường tài chính thế giới, cho dù những nguyên tắc khống chế các thị trường đó có lỏng lẻo đi chăng nữa. Và tôi không phải là người duy nhất. Dash là một chuyên gia về đạo đức của nghề buôn bán trái phiếu. “Đúng là đồ luồn lách!” – Anh ta gào lên bất cứ khi nào có kẻ muốn bán tống bán tháo trái phiếu. Rồi chính anh ta sẽ đi và nhồi nhét cho một khách hàng nào đó số trái phiếu khác. Mỗi khi nhồi được trái phiếu thứ cấp vào danh mục đầu tư của một nhà đầu tư nào đó thì chúng lại hiện lên ám ảnh tôi theo kiểu một khách hàng lải nhải gọi điện vào mỗi buổi sáng với giọng Đức chua cay: “Này Michael, mày còn ý tưởng vĩ đại nào cho giấc ngủ nữa không?” Tôi không thể ngủ ngon vào buổi đêm, hoặc muốn ra khỏi giường vào buổi sáng, và tưởng tượng ra rằng những tay đầu tư bên kia châu Âu đang thọc đinh ghim vào ảnh của tôi.

Vấn đề liên quan đến trái phiếu Southland là làm thế nào hướng khách hàng của tôi quan tâm đến chúng. Việc này thì nói dễ làm khó. Không bán trái phiếu thì gặp rắc rối, nhưng bạn còn mắc nhiều rắc rối hơn nếu bán trái phiếu bởi việc này giống như chơi bóng chày với ông chủ, vì vừa phải tỏ ra muốn thắng đồng thời lại chủ định thua. Southland là mánh khóe của Gutfreund để thể hiện Salomon Brothers là một thế lực lớn trong lĩnh vực trái phiếu thứ cấp. Tôi nhận được mấy cú điện thoại của một số nhà quản lý ở New York chuyên thúc ép nhân viên kinh doanh, do bị kích động bởi những lợi ích trong dự án mà Gutfreund đưa ra. Họ đã hỏi về cơ hội may mắn của tôi. Và tôi đã nói dối. Tôi nói rằng đã đưa Southland vào tầm ngắm trong khi thực tế chưa gọi một cuộc chào bán nào. Nhưng người ta vẫn không để tôi yên.

Giống như một tay golf chuyên nghiệp, tôi cần phải cải thiện lời nói dối của mình hơn. Vì nó có vẻ không thuyết phục hay đúng hơn là những tay kinh doanh khác còn nói dối hay hơn nhiều (“Khách hàng của tôi đã đi nghỉ mát một tuần”, “Khách hàng của tôi chết rồi!”). Một trong những chuyên gia trái phiếu thứ cấp thật sự muốn xem tôi chào bán cho khách hàng lớn nhất của tôi, tay khách hàng người Pháp. Thực ra anh ta không muốn nghe mà chỉ muốn nói rằng anh ta đã thấy tôi cố gắng. Chúng tôi ngồi ở góc bàn giao dịch, anh ta ở bên cạnh tôi trong lúc tôi làm thứ công việc bẩn thỉu ấy.

“Vâng, tôi nghe,” anh bạn Pháp của tôi nói.

“Chào, tôi đây,” tôi nói

“Còn ai ở đây nữa?”

“Có một vụ làm ăn mà anh nên để mắt,” tôi bắt đầu và cân nhắc từng lời. “Cực kỳ phổ biến với các nhà đầu tư Hoa Kỳ” (tay đầu tư Pháp của tôi hết sức nghi ngờ về bất kỳ thứ gì mà phổ biến).

“Chúng ta cứ để cho họ mua hết đi,” anh ta tiếp lời.

“Tôi đang ngồi với một chuyên gia trái phiếu thứ cấp, anh ta cho rằng các trái phiếu Southland rất rẻ,” tôi tiếp tục.

“Nhưng anh không cho là thế,” anh ta vừa nói vừa cười.

“Đúng,” tôi nói và kể ra một loạt giao dịch vừa làm hài lòng chuyên gia trái phiếu thứ cấp của Salomon lẫn khách hàng của tôi, mặc dù vì các lý do khác nhau.

“Không, xin cám ơn,” tay người Pháp của tôi nói khi kết thúc.

Chuyên gia trái phiếu thứ cấp khen ngợi tôi làm tốt, anh ta cũng không biết mình đúng chỗ nào, song sẽ sớm nhận ra vì Southland quả thực đã đến ngày tận số. Vào giữa tháng 10 năm 1987, khi Salomon Brothers vẫn đang còn quay cuồng sau cuộc chạm trán ngắn ngủi với Ronald Perelman thì phải chịu một cú chấn động lớn nhất trong lịch sử công ty. Trong thời gian tám ngày, hết sự kiện này đến sự kiện khác xảy ra giống như tham gia quá nhiều trò chơi phiêu lưu trong một công viên giải trí. Tôi thấy công ty đón nhận hết từng đợt sóng này đến đợt sóng khác, mỗi đợt càng lúc càng rối rắm và trầm trọng hơn. Hàng trăm nạn nhân đặc biệt chẳng vô tội gì phải đón nhận một loạt đau khổ dồn dập.

Thứ Hai, ngày 12 tháng 10 năm 1987: Ngày thứ nhất. Tám ngày làm chao đảo Salomon bắt đầu từ những đánh giá sai lầm của chính ban quản trị. Một ủy viên giấu tên của Salomon Brothers đã tiết lộ với phóng viên tờ New York Times vào kỳ nghỉ cuối tuần rằng công ty đang dự kiến sa thải 1.000 người. Tin tức ấy hoàn toàn bất ngờ. Tất cả chúng tôi đều biết rằng Salomon Brothers đang xem xét lại hoạt động kinh doanh. Nhưng chúng tôi tin chắc rằng tuyệt nhiên việc đánh giá lại này không khiến cho công việc của ai đó bị rủi ro. Hoặc những ông chủ tiết lộ chuyện này đang nói dối hoặc họ là ngu dốt, và tôi không biết mình nên tin vào điều gì hơn. Sáng nay, trưởng chi nhánh London triệu tập chúng tôi tại hội trường và nói rằng “chưa có quyết định nào được đưa ra” về vấn đề nhân sự, ngụ ý rằng chẳng có ai bị đuổi.

Trong trường hợp này, ai đó ở New York đã đưa ra một số quyết định quá nhanh, bởi vì cuối ngày hôm nay toàn bộ hai ban trên tầng 41 – ban trái phiếu đô thị và ban thị trường vốn ngắn hạn gồm khoảng 500 nhân viên đã bị sa thải. Đó là một cú sốc đối với họ cũng như với tôi. Lúc 8 giờ 30 sáng, trưởng ban thị trường vốn ngắn hạn trên tầng 41, một con người tốt bụng nói năng nhẹ nhàng, đi vào giữa đám nhân viên của mình và nói: “Thôi rồi, các chàng trai, có vẻ chúng ta đã là lịch sử.” Rồi ông chủ của ông, vị chủ tịch đặc trách toàn bộ khối bán hàng trên tầng 41 và là một Big Swinging Dick, lao ngay về phía sau ông và hét: “Ai ở đâu ngồi nguyên đấy, đúng là chết tiệt. Không ai đi đâu cả, không ai mất việc cả.” Rồi đúng lúc cả ban thị trường vốn ngắn hạn đang ổn định về chỗ thì một thông báo nội bộ chợt hiện lên ngay chiếc máy Quotron: “Các bạn bị sa thải. Ai còn mong muốn làm việc ở Salomon hãy cho chúng tôi biết và có lẽ chúng tôi sẽ liên lạc lại. Nhưng đừng nín thở.”

Cả hai ban trái phiếu đô thị cũng như thị trường vốn ngắn hạn đều không có khả năng sinh lãi. Điều đó có nghĩa là chúng tôi phải sa thải tất cả bọn họ? Công ty vẫn có thể giữ lại một vài nhân viên cho cả hai thị trường này chỉ với chi phí nhỏ. Điều đó có lẽ sẽ xoa dịu những khách hàng hiện giờ đang giận dữ – những người phụ thuộc vào chúng tôi trên hai thị trường này. Và việc đó có lẽ giúp chúng tôi có thể kiếm lời trong trường hợp mà một trong hai thị trường đó được khôi phục. Vì sao phải gạt bỏ toàn bộ công việc kinh doanh? Tối thiểu tại sao không chọn lọc trong số đó và giữ lại những nhân viên giỏi nhất để làm các công việc khác? Một nhân viên kinh doanh trái phiếu đô thị giỏi có thể dễ dàng trở thành một nhân viên kinh doanh trái phiếu chính phủ xuất sắc. Salomon Brothers là một công ty quốc gia hàng đầu về trái phiếu đô thị và là một trong những kẻ dẫn đầu thị trường vốn ngắn hạn. Chính vì thế, những người làm việc cho hai ban này không thể là kẻ thua cuộc vì bất cứ lý do gì.

Những người đưa ra quyết định đó đang thực hiện mánh khóe quen thuộc ưa chuộng của họ. Nói cách khác, họ chẳng nghĩ chút nào ngoài việc giao dịch. Bill Simon thường quát tháo những tay giao dịch trẻ: “Nếu không giao dịch trái phiếu thì bọn mày sẽ phải lái xe tải. Đừng có tỏ ra học thức ở chốn thị trường. Chỉ giao dịch thôi!” Khi một tay giao dịch trễ dịp và mắc sai lầm thì anh ta sẽ cắt lỗ và bán tháo, rồi lại tiếp tục tiến lên. Anh ta chỉ hy vọng rằng mình không bán ở giá sàn, điều mà người ta hay làm khi mua ở giá kịch trần.

Điều khiến cho những kẻ hiểu biết khó chịu là lời xin lỗi mà Gutfreund đưa ra để cứu trợ tài chính. Ông ta nói với toàn bộ nhân viên của Salomon và báo chí rằng đã có ý định cắt giảm nhân sự từ lâu nhưng bị các sự kiện ngoài tầm kiểm soát buộc phải hành động nhanh như vậy. Một khi tin tức đó lên mặt báo, Gutfreund nói ông ta phải nhảy ra ngay lập tức. Nói cách khác, tờ New York Times đã làm ảnh hưởng đến chính sách của Salomon Brothers. Hoặc là như vậy hoặc ngài chủ tịch đang sử dụng New York Times như là một lời bào chữa cho những gì ông ta đã làm.

Điều đó làm cho bí mật lớn nhất trong ngày thậm chí càng khó nắm bắt hơn. Ai là kẻ đã làm rò rỉ thông tin? Từ ngày làm việc đầu tiên khi còn là thực tập sinh đến ngày cuối là một Big Swinging Dick, nhân viên của Salomon Brothers luôn tin rằng sẽ là một tội lỗi khi tiết lộ với giới báo chí. Nhìn chung mọi người chúng tôi đều giữ khoảng cách với giới báo chí. Kết quả là chẳng có điều gì đang diễn ra trong Salomon lại bị đưa lên báo chí. Tôi thực không thể tin rằng việc tiết lộ đó chỉ là một hành động hớ hênh; rõ ràng là phải có chủ đích. Nhưng do ai chứ? Tất cả những gì chúng tôi biết là tin đồn đó xuất phát từ một ủy viên. Hội đồng quản trị gồm có John Gutfreund, Tom Strauss, Bill Voute, Jim Massey, Dake Horowitz, Miles Slater, John Meriwether và khoảng hơn chục ủy viên nhỏ hơn khác. Người ta đồn rằng họ đang ráo riết tìm ra bằng được ai đã làm vậy. Thoạt đầu tôi nghĩ nên bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi ai trong số họ sẽ mất mát nhiều nhất khi cắt giảm nhân sự. Thực dễ. Horowitz, trưởng ban trái phiếu đô thị. Ông ta mất mọi thứ.

Nhưng rồi, nếu động cơ ấy là để cứu vãn ban trái phiếu đô thị thì rõ ràng nó đã bị dội ngược. Như Gutfreund nói, điều đó gây ra kết quả là nhiều người bị cắt giảm hơn dự định. Cho nên có lẽ kẻ tiết lộ không phải vì mục đích cứu vớt vào phút chót. Nếu như kẻ tiết lộ đã đạt được điều mong muốn? Ai được lợi nhờ thông tin bị rò rỉ? Thật không may, ngoại trừ mục đích trả thù Horowitz, không ai làm thế cả. Và sự trả thù là một động cơ quá yếu không thể biện hộ cho rủi ro bị phát hiện là kẻ tiết lộ tin tức. Dù ai là kẻ tiết lộ thì họ cũng đã đặt việc làm của mình vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Toàn bộ ban giám đốc có lẽ sẽ hóa đá khi nghĩ đến việc bị John Gutfreund phát hiện và sỉ nhục. Nỗi sợ hãi có lẽ là mấu chốt cho điều bí ẩn: Ai ít sợ John Gutfreund nhất? Quá đơn giản, John Gutfreund.

Tôi hiểu, điều này nghe có vẻ điên khùng. Khi một đồng nghiệp Salomon Brothers đặt giả thuyết cho tôi rằng chính Gutfreund bày ra vụ tiết lộ ấy để xúc tiến việc sa thải, tôi đã cười. Song tôi không thể tống khứ ý niệm đó, vì tôi đã thấy Gutfreund hăm hở ra sao khi bám vào thông tin bị rò rỉ ấy và coi nó như là lời xin lỗi cho những gì ông ta làm. Vụ tiết lộ đó đã thành cứu cánh của ông ta. Ngay khi chúng tôi đọc về điều đó trên tờ báo, việc cắt giảm nhân sự có vẻ như không thể tránh khỏi. “Đó, các anh thấy đấy,” ông ta nói, “Tin tức được đưa trên tờ New Yorks Times và mấy thằng chó chết đó đã nói ra!” Dù sao, giả thiết đó cũng không thuyết phục lắm. Vì cuối cùng Gutfreund đã nhận ra rằng thông tin bị tiết lộ như vậy đã làm chính ông ta mất thể diện.

Dù kẻ tiết lộ là ai thì tình trạng nặc danh của hắn ta có tác dụng lan truyền tội lỗi của một người (nếu chỉ là một) khắp ban giám đốc. Tất cả họ đều bị những người còn lại trong công ty nghi là có tội. Salomon Brothers có một kẻ “ngồi lê đôi mách”. Một số vị giám đốc điều hành không nằm trong ban giám đốc đã từ chối không thảo luận bất cứ điều gì đòi hỏi phải thận trọng trước sự hiện diện của các ủy viên. Sự ly gián trong đội ngũ lãnh đạo của công ty đối với chúng tôi rõ ràng hơn bao giờ hết. Một giám đốc điều hành nói với từng ủy viên: “Tôi lấy làm tiếc nhưng cho tới khi tìm ra kẻ lẻo mép kia thì chúng tôi cảm thấy rằng không thể tin được ai trong số các anh,” và câu chuyện này đã lan nhanh khắp tầng giao dịch.

Tôi cảm thấy thất vọng triền miên. Tôi không thể làm được gì ngoài việc đứng nhìn. Các nhà lãnh đạo công ty đã bao giờ phải chịu trách nhiệm về những hành động của chính họ hay của thuộc cấp chưa? Còn có danh dự không? Một vụ tiết lộ tương tự trong chính phủ Anh đã gây ra bao trường hợp phải từ chức. Tuy nhiên, ông chủ của chúng tôi dường như không bao giờ chịu thừa nhận lỗi lầm của mình. Họ áp dụng một kiểu phân tích biên (marginal) cho từng biến động mới và nói rằng mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa sau lưng chúng tôi và việc làm xáo trộn thêm (chẳng hạn như việc từ chức của họ) không có lợi gì cho công ty. Tôi thấy tai họa của chúng tôi ít nhất phần nào là do cảm nhận của một số nhà lãnh đạo trong công ty gây nên, vì họ không chịu rủi ro cá nhân nào nếu đế chế bị sụp đổ”. Có lẽ điều làm phiền lòng nhất đó là việc lời hứa duy nhất của Salomon Brothers dành cho tất cả nhân viên mới đã bị phá vỡ. Phần lớn họ bị bổ nhiệm vào ban trái phiếu đô thị và thị trường vốn ngắn hạn nhưng không hề được giải thích về vấn đề đó. Tôi lấy làm mừng vì đã không tin Jim Massey khi ông ta bảo chúng tôi cũng như các lớp đào tạo hãy thư giãn và để cho công ty quyết định chúng tôi sẽ làm việc ở ban nào. Kết quả làm việc tốt sẽ mang lại phần thưởng. Nhiều người đã tin ông ta. Nếu công ty phá vỡ hợp đồng, đuổi Lewie Ranieri thì nó cũng có thể tự phá vỡ quyết định đó.

Kết thúc ngày đen tối ấy đã có nhiều người hoảng loạn như lúc ban đầu, đặc biệt là tại London. Kẻ mách lẻo đã tiết lộ cho New York Times rằng Salomon có kế hoạch sa thải 1.000 người. Và 500 nhân viên đã ra đi. Vậy là chưa kết thúc. Nhưng hãy cầu Chúa, ai sẽ là người tiếp theo?

Thứ Tư, ngày 14 tháng 10 năm 1987: Ngày thứ Ba. Chủ tịch Tom Strauss tới và báo rằng chúng tôi bị đóng dấu vì văn phòng chi nhánh là nơi cần cắt giảm nhiều nhất. Lời chẩn đoán này đã được đưa ra cách đây một tháng, khi giám đốc điều hành chi nhánh London chắp vá lời biện hộ của chúng tôi gửi tới ủy ban nhận xét hoạt động kinh doanh tại New York. Thay vì bào chữa cho nhân viên hay phác thảo một kế hoạch, Strauss lại dùng thời gian giải thích tại sao thất bại của chúng tôi không phải là lỗi của ông ta. Làm cho Gutfreund cảm thấy bối rối và bực mình vì tình thế của ông ta, việc mà giờ đây tất cả chúng tôi đã rõ. Các thành viên của ủy ban nhận xét hoạt động kinh doanh đều cho chúng tôi là đám làm ăn tệ hại nhất. Bạn cũng không thể trách họ được. Chúng tôi đã làm việc không hiệu quả lắm.

Chờ đợi là điều tồi tệ nhất. Nhân viên trên tầng giao dịch London dường như không có cách nào để biết liệu họ có phải là mục tiêu sa thải do ban quan trị lựa chọn hay không, nhưng tất cả đều biết rằng rất nhiều người trong chúng tôi, khoảng một phần ba nhân viên kinh doanh trái phiếu, sẽ phải ra đi. Mỗi người đều coi mình là quan trọng đối với tương lai của Salomon Brothers. Tôi cũng vậy, tự coi mình là quan trọng đối với tương lai của Salomon Brothers, song trong chính điều đó, không hề có gì chắc chắn khi tất cả mọi người khác đều cảm thấy như thế. Tôi bắt đầu tự hỏi: Tôi sẽ làm gì nếu họ đuổi tôi? Rồi: Tôi sẽ làm gì nếu họ không đuổi tôi? Đột nhiên Salomon Brothers dường như trở nên dễ thôi việc hơn trước. Nhà quản lý – người hướng dẫn dày dạn – đưa ra một danh sách bao gồm toàn bộ nhân viên của nhóm xếp theo khả năng của họ – do ông ta nhận xét. Các giám đốc điều hành London hội họp bên dưới bức tranh giả của Canaletto, tại một trong những phòng ăn “Cuốn theo chiều gió” và đã thay đổi liên tục phần dưới danh sách. Tôi nhìn vị quản lý của mình với con mắt ngờ vực.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 10 năm 1987: Ngày thứ năm. Cơn bão đầu tiên trong một trăm năm nay đã đổ bộ thẳng vào London vào buổi sáng sớm. Nhiều cành cây to bị bẻ gãy răng rắc, dây điện đứt và các cửa sổ bị vỡ từ khoảng 2 giờ sáng cho tới bình minh. Việc đi làm trở nên rất dễ dàng. Phố xá vắng người, các cửa hiệu bình thường vẫn mở cửa nay treo biển đóng. Một đám đông túm tụm dưới mái hiên của nhà ga Victoria chẳng đi được đâu. Các đoàn tàu không chạy. Cảnh tượng bi thảm giống như chương trình “Mùa đông hạt nhân” trên đài ABC hay một cảnh trong vở kịch The Tempest (Giông tố) của Shakespeare. Caliban không thể chọn ngày nào tốt hơn nữa để gầm rú.

Đó là một ngày tồi tệ đối với 170 nhân viên trong văn phòng của chúng tôi. Mọi người khó nhọc len lỏi qua hàng loạt cây bị đổ, những con đường mất dấu, nước thải ngập tràn. Họ dò dẫm từng bước trong dòng nước thải lầy lội, tìm đường đến công ty chỉ để phát hiện ra rằng ở đích của cuộc chạy việt dã ấy là cảnh thất nghiệp. Những người khác chịu đựng nỗi thống khổ từ từ vì phải đợi chờ trong bóng tối trước khi biết được rằng mình bị đuổi việc. Cơn bão đã làm mất điện và chúng tôi chẳng còn tí ánh sáng nào trên tầng giao dịch. Phần lớn chúng tôi đều ở trong tình trạng luẩn quẩn loanh quanh những chiếc bàn và không biết làm gì. Nhiều cú điện thoại của các giám đốc điều hành gọi tới mời từng người một đến để thông báo phán quyết cuối cùng. Điều thật sự tồi tệ không phải là mất thu nhập mà là cảm giác xấu hổ vì thất bại. Chúng tôi tự hào về thành công nhỏ bé đã giành được – chúng không chỉ quan trọng mà còn vô cùng thiết yếu như đôi chân trên thân thể vậy. Bất cứ ai bị đuổi việc dường như đều là kẻ thất bại và tất cả chúng tôi đều chịu trách nhiệm vì thất bại của người đó. Một số người tỉnh bơ nhìn nhận tình hình và gọi điện cho các nhà môi giới tuyển dụng từ bàn làm việc trong lúc chờ đợi.

Số khác còn lắm mánh khóe hơn. Có lời đồn rằng tất cả mọi nhân viên bị sa thải nằm trong các bộ phận trái phiếu. Điều này là sự thật. Trưởng ban vốn cổ phần, Stanley Shopkorn, đã mạnh dạn đứng lên chống lại Gutfreund, ông nói rằng thà từ chức còn hơn đuổi một người. Xét thấy rằng ban cổ phiếu không đuổi ai cả, mấy kẻ mánh khóe bắt đầu phỏng vấn xin vào ban cổ phiếu (cuối cùng thì cổ phiếu cũng được thụ hưởng ngày hoàng kim của nó. Và chúng ta sẽ thấy, nó chỉ xảy ra trong đúng một ngày). Công việc của họ đang chạy đua với thời gian. Họ cần phải được thuê làm trước khi bị đuổi, nếu không sẽ mất chỗ đứng trên tầng giao dịch. Bảo vệ sẽ thu thẻ ra vào và trục xuất họ ra khỏi tòa nhà.

Ban quản trị đã chọn phương pháp đơn giản nhất là đuổi cổ số nhân viên mới vào làm việc tại văn phòng gần đây nhất. Đã đến lúc họ tàn sát những kẻ ngây thơ. Hành động này phá hoại mục đích của việc cắt giảm lao động. Hãy đuổi 10 thằng Geek và thế là đã giảm bớt chi phí tương đương với việc sa thải một giám đốc điều hành ngoài 30 tuổi. Những người trẻ có khả năng dễ bị sa thải hơn bởi vì họ chưa thiết lập được quan hệ trong công ty. Họ không có tiếng nói. Tôi được an toàn phần nào bởi vì tôi được coi, thực khó tin, là có thâm niên, một phần do có đủ bạn hữu ở địa vị cao, và phần khác vì tôi là một trong hai hoặc ba người sinh lãi nhiều nhất trong văn phòng.

Đa số nhân viên nữ tại chi nhánh London bị sa thải. Về sau họ trao đổi với nhau và biết rằng đã được nghe trưởng bộ phận bán hàng nhận xét gần như cùng một kiểu. Đối với ai, ông ta cũng ấp a ấp úng và nói: “Cưng là một bé gái khéo léo, và việc này không phản ánh khả năng của cưng.” Phần lớn trong bọn họ không thích bị gọi là “cưng”. Ông ta đã gọi ai là “cưng”? Một vài người chửi thề với nhân viên bảo vệ khi bị hỏi xem thẻ ra vào. Khi việc sa thải tiến hành, các nạn nhân bắt đầu trở về tầng giao dịch. Có rất nhiều cảnh chảy nước mắt và đáng thương quanh đấy mà tôi không muốn nêu lên, trừ phi điều đó là một cảnh bất thường. Chưa có ai khóc trên tầng giao dịch cả. Không ai biểu lộ tính yếu đuối và dễ bị tổn thương hay cầu xin lòng nhân từ của người khác. Ngay từ đầu, Alexander đã dạy tôi tầm quan trọng của một bề ngoài mạnh mẽ. “Đã lâu nay tôi hiểu rằng chẳng ích gì khi biểu lộ sự yếu đuối,” anh nói. “Mỗi khi cậu đến làm vào lúc 6 rưỡi sáng mặc dù đêm hôm trước bị mất ngủ vì vừa mất người bạn tốt nhất trong một vụ tai nạn xe hơi, và một Big Swinging Dick nào đó bước đến bên bàn, vỗ vào lưng cậu và nói: ‘Mày khỏe không?’ thì cậu không nói: ‘Thực ra tôi bị mệt và khó chịu’, mà sẽ trả lời: ‘Khỏe như trâu, còn mày thì sao?’”

Trong ngày này có một điểm đáng chú ý. Một người bạn của tôi, một trong số ít những người châu Âu già còn lại (cách đây rất lâu, hàng chục người đã nối tiếp nhau rời khỏi Salomon Brothers và đi đến những miền đồng cỏ xanh tươi hơn), vẫn còn đứng bên chiếc bàn làm việc từ lúc 8 giờ sáng đến tận buổi trưa. Anh hy vọng như một đứa trẻ vào đêm Noel. Món quà mà anh mong đợi ở ông già Nô-el là việc bị sa thải ấy. Anh đã nhận được một công việc tốt hơn ở công ty khác. Và dự tính từ chức ở Salomon ngay từ đầu tuần nhưng xét thấy có thể bị đuổi, anh đã đợi và ngậm miệng, hy vọng đón nhận một cái bắt tay vàng. Những khoản thanh toán đền bù quả thực rộng rãi dựa trên thâm niên công tác. Anh bạn tôi đã sát cánh bên Salomon được 7 năm trời và nếu bị đuổi, anh cũng chờ nhận vài trăm nghìn đô-la. Tôi tích cực ủng hộ anh. Tôi chắc rằng anh xứng đáng ăn cái rìu, nhưng tôi e rằng ban quản trị có lẽ cảm thấy miễn cưỡng khi phải phụ tình một kẻ làm công lâu năm như vậy. Thực lòng cảm ơn công ty đã cam chịu, lấy hết can đảm và mời anh vào phòng ăn. Khi lời mời đó lan truyền, ùn ùn đoàn người kéo lên tầng chúc mừng anh với những tiếng cười nói liên hồi. Anh sắp bước sang một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Gần hết ngày, một tay giao dịch dán tờ thông báo trong phòng vệ sinh nam. Phòng vệ sinh nam đã trở thành phòng bán đấu giá xe hơi cũ. Hầu như ngày nào cũng có một chiếc BMW hay Mercedes được chào bán. Tuy nhiên tay giao dịch này đang bán một chiếc Volvo. Một điềm xấu.

Thứ Bảy, ngày 17 tháng 10 năm 1987: Ngày thứ sáu. Tôi bay về New York vì hai lý do. Mấy tháng trước tôi đã đồng ý phát biểu trong chương trình đào tạo về nghệ thuật bán hàng. Bài diễn thuyết của tôi dự định vào hôm thứ Ba, ngày 20 tháng 10. Giờ đây có vẻ là một nhiệm vụ khắc nghiệt đối với 250 thực tập sinh (lớp đông nhất từ trước tới nay) không mấy hy vọng để giữ được việc làm.

Lý do khác trong chuyến đi của tôi là để vận động các giám đốc điều hành New York cho một khoản tiền thưởng lớn. Thông lệ này là tiêu chuẩn trong chi nhánh London. Suốt hai tháng cuối năm, phần lớn các tay giao dịch và kinh doanh London về thăm New York để được thấy và tế nhị thuyết phục các ông chủ rằng họ xứng đáng được thưởng một món tiền lớn vào cuối năm. Chủ đề thường bắt đầu bằng lời chúc các ông chủ có một mùa nghỉ lễ hạnh phúc và làm ra vẻ khổ hạnh khi các ông chủ hỏi họ làm ăn ra sao. Vị quản lý của tôi nài nỉ tôi đi công tác. Thực tử tế quá. Ông ta đang xem xét quyền lợi của tôi. Điều cùng đem lại lợi ích cho cả hai chúng tôi.

Thứ Hai, ngày 19 tháng 10 năm 1987: Ngày thứ bảy. Bởi vì bài diễn thuyết của tôi vào thứ Ba nên tôi có một ngày rảnh rang đi dạo quanh tầng 41 tại New York. Bình thường tôi ghét đi như thế này. Tôi luôn cảm thấy tầng 41 thật lạ lẫm, ồn ào như một đám cổ động viên cuồng nhiệt xem bóng đá vậy. Nhưng lần này khác. Tầng giao dịch thưa thớt hơn. Nó giống như một chuyến thăm viện bảo tàng hay thành phố ma hơn là cuộc họp om sòm ở quán rượu. Có một khoảng trống lớn xung quanh chiếc bàn của John Gutfreund, nơi mà các nhân viên phụ trách thị trường vốn ngắn hạn có lần từng ngồi. Nó từng ồn ào và hối hả, nay chỉ còn lại sự im lặng đến kỳ lạ, giống như phố xá London vào hôm thứ Sáu tuần trước. Những nhân viên thị trường vốn ngắn hạn rõ ràng đã ra đi trong vội vã. Các tấm biển truyền cảm hứng vẫn còn treo trên những chiếc bàn trống rỗng của họ. Một tấm đề: “Ăn stress cho bữa sáng”. Bức ảnh bạn trai và những lá thư riêng tư Svẫn còn ở chỗ giao dịch. Vài dòng chữ nguệch ngoạc mô tả quan điểm của một nữ nhân viên kinh doanh trên chiếc ghế bỏ trống: “Những tay đàn ông gọi phụ nữ là người tình, cưng hay em yêu dấu có lẽ nên cắt cái của nợ nhỏ xíu của họ đi!”

Đây không phải là những nạn nhân bình thường, mặc dù họ đúng là nạn nhân. Ngay tại New York cũng như London, một lượng lớn nhân viên nữ đã bị sa thải. Không phải bởi kém khôn ngoan trong việc lựa chọn công việc, mà vì phụ nữ chẳng có nhiều tiếng nói với số phận của mình. Vì lý do nào đó, đa số phụ nữ tốt nghiệp chương trình đào tạo thường bị phân làm việc cho những nhà lãnh đạo đang bị thua lỗ. Một trong những vũng lầy đó là ban giao dịch thị trường vốn ngắn hạn. Có lẽ 10% số chuyên gia trên sàn giao dịch là phụ nữ. Tuy nhiên, phụ nữ đảm nhận gần một nửa lượng giao dịch của thị trường vốn ngắn hạn và do vậy chiếm phần lớn trong số những người bị sa thải.

Vị giáo sỹ Do Thái ở New York của tôi và giáo đoàn của ông ta đang ngồi vào những chiếc ghế bỏ trống trước đây của ban giao dịch thị trường vốn ngắn hạn. Bất kể khi nào trở về New York, tôi cũng ngồi bên cạnh vị giáo sỹ Do Thái của tôi, với tiếng thở dài khoan khoái. Nhưng lần này cứ nghĩ đến điều đó tôi lại rùng mình. Tôi tự hỏi có phải cử chỉ ấy là hành động hấp tấp hay không, như việc chuyển vào một ngôi nhà trong lúc người chủ trước vừa được đưa ra trong một chiếc quan tài. Việc này làm cho tôi không dễ dàng hiểu được chuyện gì đã xảy ra với những người từng ngồi chỗ tôi đang ngồi. Tuy nhiên, có nhiều điều khiến tôi bối rối hơn. Vị giáo sỹ Do Thái của tôi đang tiến lên trong thế giới này. Chiếc ghế trống bên ông tình cờ nằm ngay cạnh John Gutfreund. Tôi thả người phịch xuống ngay bên cạnh vị chủ tịch của chúng tôi. Bản công bố về số lượng trái phiếu của Salomon Brothers bán cho Phillips Brothers vào năm 1981 để trên chiếc bàn của ông, bên cạnh một điếu xì-gà đang nghi ngút khói. Đúng là một biểu tượng! Đúng là phép ẩn dụ! Những tàn thuốc… Từ mũi đất cao nhất này, tôi ngắm nhìn sự sụp đổ năm 1987.

Thị trường chứng khoán sụp đổ, dĩ nhiên. Nó lao dốc như thể chưa bao giờ hạ xuống thấp đến vậy trong lịch sử, tạm ngừng rồi hạ thêm một chút. Tôi lao đi lao lại hộc tốc giữa chỗ của tôi trên tầng 41 và ban cổ phiếu ở tầng 40. Sự sụt giảm của thị trường chứng khoán gây nhiều tác động lớn tới hoạt động phân phối lại giá trị tài sản chênh lệch, và hai tầng này có những phản ứng hoàn toàn khác nhau. Một gã may mắn trong ban giao dịch cổ phiếu đã xử lý các hợp đồng kỳ hạn có chỉ số chứng khoán S&P (bằng cách đặt cược một khoản tiền lớn hy vọng thị trường sẽ hạ) vào thứ Sáu. Khi khớp lệnh vào thứ Hai thì hợp đồng kỳ hạn đã thấp hơn 63 điểm, và anh ta lời 17 triệu đô-la. Niềm sung sướng của anh ta quả là hiếm có. Những người còn lại trong ban giao dịch cổ phiếu cảm thấy thất vọng và bối rối. Buổi sớm ngày hôm ấy giao dịch vẫn diễn ra. Tôi nghe thấy tiếng Brooklyn gào lên với mấy người một lúc: “Ê, Josey!” “Này, Alfy!” “Đang làm gì thế, Mel?” “George Balducci, anh có thể mua được 25.000 chiếc điện thoại (cổ phiếu của AT&T) với giá bằng một nửa.” Tuy nhiên về sau hoạt động giao dịch ngưng trệ hẳn, một tín hiệu báo động trạng thái lịm đi sắp tới trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư dúm lại như những con nai trước ánh đèn pha ôtô. Chốc chốc ai đó lại đứng lên và thét mà chẳng có lý do cụ thể nào: “Lạy Chúa!” Họ bất lực nhìn thị trường đáng yêu của mình từ trần.

Dĩ nhiên, những khách hàng châu Âu của tôi cũng đang mất sạch tiền, nhưng tôi chẳng làm được gì cho họ. Tôi cám ơn Chúa không biết bao nhiêu lần vì đã cho tôi làm nghề môi giới chứng khoán. Khách hàng của tôi đã chọn cách ngồi sụp xuống và đợi bão tan. Trong lúc đó thị trường trái phiếu tiếp tục bùng nổ, xuất hiện thêm những tay giao dịch trái phiếu thứ cấp không giấu nổi niềm vui. Ngay khi thị trường chứng khoán rớt xuống vài trăm điểm, các nhà đầu tư bắt đầu xem xét tới những tác động kinh tế vĩ mô của một cuộc khủng hoảng thật sự. Những lý do phổ biến gây ra hậu quả đó trên thị trường trái phiếu thường là: giá cổ phiếu thấp hơn; mọi người sẽ nghèo đi; khoản chi tiêu ngày càng eo hẹp; nền kinh tế suy thoái; lạm phát giảm (thậm chí có cả khủng hoảng và phá giá); vì vậy lãi suất sẽ hạ, giá trái phiếu sẽ tăng lên. Và nó đã tăng.

Một tay giao dịch trái phiếu đã đánh cược chống lại sự trỗi dậy của thị trường trái phiếu và hướng mặt về phía tượng Nữ thần Tự do la hét và chửi bới ầm ĩ. Nhưng hầu hết những người khác đều mua nhiều hơn. Các tay giao dịch trái phiếu đang trở nên giàu có. Một ngày này kiếm tiền cho cả năm. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, tầng 41 của Salomon Brothers hoan hỉ.

Và nhiều người trong chúng tôi đặt câu hỏi đầu tiên về tính khôn ngoan của vụ sa thải tuần trước. Thế giới đồng tiền đang biến động đột ngột. Tiền của đang vụt chạy khỏi thị trường chứng khoán và chui vào những chỗ ẩn náu an toàn. Nơi ẩn náu an toàn thông thường là vàng, nhưng đây không phải là thời điểm thông thường. Giá vàng đang giảm mạnh. Có hai giả thuyết sáng tạo ở trên tầng giao dịch. Cả hai đều lý giải hiện tượng sụt giá vàng. Giả thuyết thứ nhất cho rằng các nhà đầu tư đang buộc phải bán vàng để đáp ứng cuộc gọi vốn biên trên thị trường cổ phiếu. Giả thuyết thứ hai đề cập tới tình trạng đình trệ tiếp sau sự sụt giá khiến cho các nhà đầu tư không lo sợ về lạm phát và cũng chẳng cần nhiều vàng để chống lạm phát, do vậy nhu cầu về vàng giảm. Dù trường hợp nào xảy ra thì tiền vẫn không chạy vào vàng mà vào thị trường vốn ngắn hạn, nghĩa là tiền gửi ngắn hạn. Giá như chúng tôi có một ban giao dịch thị trường vốn ngắn hạn thì đã có thể sở hữu một khoản lãi lớn và dẫn đầu nhờ bước tiến này. Nhưng chúng tôi đã không có và cũng không thể. Sau vụ sụt giá, việc kinh doanh giảm sút chủ yếu xảy ra trong thị trường cổ phiếu. Và ban nào là nơi duy nhất không bị cắt giảm dù chỉ một nhân viên? Ban cổ phiếu. Vì vậy khu vực có số nhân sự nhiều quá mức là khu vực không bị cắt giảm.

Nhiều người trong chúng tôi cũng đặt ra câu hỏi đầu tiên về tính khôn ngoan của việc nhào vào thị trường trái phiếu thứ cấp. Trước sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu thứ cấp có liên quan chặt chẽ tới giá trị tài sản của các công ty, tạm thời không hoạt động cùng nhau. Thị trường chứng khoán liên tục thay đổi, hôm nay định giá một công ty Hoa Kỳ nào đó là 12.000 tỷ đô-la thì ngay ngày hôm sau đã cho rằng nó chỉ còn đáng giá 800 tỷ đô-la. Các nhà đầu tư trái phiếu thứ cấp bán tháo khoản đầu tư của họ khi thấy sự đánh giá bấp bênh về tài sản thế chấp. Giao dịch trái phiếu thứ cấp Southland của chúng tôi đã sụp đổ vào ngày 19 tháng 10. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, giá của các cửa hàng 7-Eleven và trái phiếu thứ cấp của chúng cũng bị sụt giảm theo. Từ chỗ ngồi trên tầng giao dịch, tôi gọi điện tới các khách hàng châu Âu. Khi liên lạc được với tay đầu tư Pháp, anh ta đã cảm ơn tôi vì chưa bao giờ bán cho anh ta trái phiếu thứ cấp.

Suốt thời gian thị trường chứng khoán sụp đổ, thế giới bên ngoài hoàn toàn không thể thấy được những sự kiện lớn xảy ra trong một công ty lớn như chúng tôi. Tuy nhiên, có một sự kiện quan trọng không hẳn là vậy. Cùng với các công ty khác trên Phố Wall, Salomon Brothers đã đồng ý mua và phân phối lại trên khắp thế giới 31,5% cổ phiếu British Petroleum (BP) từ chính phủ Anh. Chúng tôi nắm một phần công ty đó vào lúc giá sụt và lỗ hơn 100 triệu đô-la tiền góp vốn. Ai có thể hình dung được rằng việc bao tiêu một cổ phiếu lớn nhất của chúng tôi lại xảy ra đồng thời với vụ sụp đổ lớn nhất của thị trường cổ phiếu? Ai có thể hình dung được rằng giao dịch trái phiếu thứ cấp lớn đầu tiên của chúng tôi lại xảy ra đồng thời với vụ sụp đổ của thị trường trái phiếu thứ cấp? Ngạc nhiên là ở chỗ chúng tôi đã không kiểm soát được các sự kiện do quá chuyên tâm vào vẻ bề ngoài thường trực, bằng cách liên tục hút xì-gà và luôn miệng chửi thề.

Suốt thời gian sụp đổ, John Gutfreund dường như trở lại chính mình. Lần đầu tiên trong nhiều năm, ông ta đưa ra các quyết định giao dịch. Thật vui khi nhìn thấy một người đàn ông hồi xuân. Ông ta dành ít thời gian bên chiếc bàn của mình, chạy ngược chạy xuôi khắp tầng giao dịch, tổ chức nhiều phiên họp bàn luận ngắn gọn về chiến thuật với những tay giao dịch hàng đầu của Salomon. Ông ta đã mua 300.000 đô-la cổ phiếu Salomon Brothers cho tài khoản cá nhân. Khi nghe thấy điều này, phản ứng đầu tiên của tôi cho rằng ông ta đang lợi dụng tin tức nội bộ để kiếm tiền cho bản thân.

Phản ứng thứ hai của tôi là chừng nào việc làm ấy hợp pháp, tôi cũng sẽ như ông ta. Quả là tham lam phải không? Nhưng cũng rất khôn ngoan. Cổ phiếu của Salomon đang sụt giá nhanh hơn thị trường chứng khoán nói chung. Tất cả cổ phiếu của các công ty môi giới đều rớt thê thảm bởi vì các nhà đầu tư – những người không có cách nào đánh giá được thiệt hại – đều cho rằng điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Salomon đang thua lỗ chút ít đối với cổ phiếu BP và Southland, hai rủi ro trông thấy của chúng tôi. Tuy nhiên, Gutfreund biết rằng khoản lỗ của chúng tôi không đến nỗi tồi tệ như người ta tưởng. Chúng tôi đã may mắn đưa 27 triệu đô-la vào ban cổ phiếu và các ban giao dịch trái phiếu đang ngập trong tiền bạc. Một phép tính nhanh cho thấy giá cổ phiếu Salomon ám chỉ giá trị thực của công ty thấp hơn giá trị thanh toán của nó. (Ba tuần trước, nếu chúng tôi mua với giá 30 đô-la/cổ phiếu thì bây giờ chúng tôi chỉ mặc cả với giá 18 đô-la. Người ta đồn đại rằng Lewie Ranieri đang gom góp tiền và quay trở lại mua Salomon Brothers).

Sau khi thẩm định với ban luật sư để đảm bảo chắc chắn rằng tôi không dẫm lên vết xe đổ của Boesky, tôi đã theo Gutfreund và mua cổ phiếu Salomon với khoản thưởng chia thêm mà tôi đang cố vận động. Nhiều, rất nhiều người khác trên tầng giao dịch chúng tôi cũng làm như thế. Về sau Gutfreund nói rằng điều ấy chứng tỏ niềm tin vào công ty khi nhân viên mua cổ phần Salomon và cá nhân ông ta thấy việc ấy nên khuyến khích. Nhưng có một lẽ tôi đã không tin tưởng khi đặt mua. Khoản đầu tư của tôi là tư lợi thuần túy, gắn liền với ý thích khó hiểu nào đó trong việc tìm thấy một khoản cá cược khôn ngoan. Trong vòng vài tháng sau, cổ phần Salomon đã tăng vụt lên, từ mức thấp 16 đô-la tăng lên tới 26 đô-la.

Thứ Ba, ngày 20 tháng 10 năm 1998: Ngày thứ tám. Những cuộc họp rút kinh nghiệm bắt đầu diễn ra. Các ủy ban tín dụng đã triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại New York. Mục đích là để đánh giá rủi ro tín dụng của Salomon đối với các tổ chức có vẻ sắp phá sản bởi các sự kiện ngày hôm qua, chẳng hạn như E. F. Hutton và toàn bộ cộng đồng kinh doanh dựa trên chênh lệch chứng khoán. Thay vào đó, khoảng nửa giờ đầu các ủy viên cãi nhau om xòm. Tất cả mọi người trong ủy ban toàn là người Mỹ, trừ một người Anh bay từ London đến tham dự cuộc họp đó. Anh ta đã trở thành cái bao cát tập đấm cho những võ sỹ quyền Anh người Mỹ xỉa xói và quở trách, vì sự sụp đổ hoàn toàn là lỗi từ phía chính phủ Anh. Tại sao người Anh cứ đòi tiếp tục bán cổ phiếu BP thuộc sở hữu nhà nước? Những tay giao dịch chỉ hiểu về tác động thị trường ngắn hạn cảm thấy rằng việc bán hàng tỷ đô-la cổ phiếu BP đã bắt thị trường phải gánh vác một khối lượng mà nó không thể chịu đựng được. Toàn bộ giới kinh doanh chứng khoán đang hoảng sợ khi nghĩ đến một nguồn cung cổ phiếu mới, chứ không bao giờ bận tâm tới việc thâm hụt ngân sách 1.000 tỷ đô-la của chính phủ Hoa Kỳ, hay đồng đô-la không ổn định… – tất cả đều mang tính logic riêng. Một vài ủy viên người Mỹ đang uy hiếp và nhạo báng đối tác người Anh vì cách hành xử của những người đồng hương với anh ta.

Có thể bạn nghĩ rằng chiến tuyến ngày nay được vạch theo biên giới về quyền lợi tài chính thay vì đường biên giới quốc gia. Mọi người xung quanh chiếc bàn họp ở cuộc họp tín dụng đều cùng một nhóm, nhưng người ta đã không đối xử như thế. Tính bài ngoại hẳn không được hạn chế trong Salomon Brothers. Một thành viên người Mỹ của Goldman Sachs – hãng phải chịu thua lỗ 100 triệu đô-la do mua cổ phiếu BP, đã gọi thành viên người Anh của Salomon ra và khiển trách người này về vấn đề ấy. Nhưng tại sao? Hóa ra là thành viên của Goldman Sachs không coi thành viên người Anh là một đại diện của Salomon mà như đại diện của cả nước Anh.

Những đối thủ khôn ngoan hơn của chúng tôi không chú tâm vào việc quở trách mà cố tìm ra một lối thoát: chúng tôi có thể làm thế nào để tránh thua lỗ 100 triệu đô-la tiền vốn đã rót vào BP? Có thể làm gì để thuyết phục chính phủ Anh mua lại các cổ phần của họ với giá đã bán cho chúng tôi? Một trong những vị giám đốc điều hành tại chi nhánh London, tình cờ ở New York, quả thực đã kéo tôi sang một bên, thực hành một lập luận mà ông ta định áp dụng để đàm phán với Ngân hàng Trung ương Anh. Ông ta đã tính toán tổng thua lỗ cho việc bao tiêu cổ phiếu BP là 700 triệu đô-la và nói rằng hệ thống tài chính thế giới có lẽ không chống cự được việc rút hết số vốn này ra khỏi hệ thống. “Một cơn hoảng loạn khác có thể xảy ra ngay sau đó. Đúng không? Tuyệt vời.” Ông ta thực liều lĩnh trong việc giảm thiểu thua lỗ đến nỗi tôi cho rằng ông ta thật sự tin vào điều dối trá của chính mình. “Chắc chắn rồi. Tại sao lại không?” Tôi nói. Trò này đáng phải thử một lần. Nó cơ bản là một thủ đoạn cổ điển. Sếp của tôi muốn đe dọa chính phủ Anh bằng lần suy sụp tiếp theo của thị trường chứng khoán nếu nó không chịu mua lại cổ phiếu BP.

(Những nhân vật trong các chính phủ lưu ý: Hãy cẩn thận khi bị Phố Wall đe dọa về sự sụp đổ của thị trường. Họ thường làm điều này mỗi khi anh xâm phạm lãnh địa, nhưng họ không thể gây thêm một vụ sụp đổ mà buộc phải tránh nó).

Cuối ngày hôm ấy, tôi nhớ như in quãng thời gian ở Salomon Brothers, tôi đã mất một tiếng đồng hồ bứt rứt trong lớp đào tạo nói chuyện với 250 thực tập sinh với những ánh nhìn trống rỗng. Họ cảm thấy vô vọng như những gì tôi đã đọc được về bệnh dịch hạch chết người – được mệnh danh là “Black Death” (Cái chết đen) xảy ra vào thế kỷ XIV. Tất cả đám thực tập sinh đã mất hết hy vọng và quyết định rằng vì sắp bị sa thải nên họ có thể làm bất cứ điều gì mình thích. Do vậy tất cả họ đều trở thành “những người ngồi dãy ghế sau”. Tôi đã tránh được một cuộn giấy khi bước vào phòng và bắt đầu thể hiện kiểu nói hờ hững gây ấn tượng. Đúng duy nhất một thính giả, mà chỉ Rodney Dangerfield mới có thể trân trọng. Họ không để ý tới đề tài tôi đang nói: “Giao dịch với người châu Âu”, nhưng cũng tò mò liệu còn cơ hội nghề nghiệp nào ở London không, hay khi nào thì họ sẽ bị sa thải. Chắc chắn họ không được thông báo về những gì đang xảy ra trong nội bộ Salomon. Thật là khờ khạo làm sao! Đặc biệt là họ rất tức giận và thất vọng vì Jim Massey đã không tỏ một biểu hiện nào trước mặt họ. Có phải họ vẫn còn làm việc cho Brothers? Hay sao đây?

Người ta để cho họ phân vân chỉ trong hai giờ nữa. Người diễn thuyết sau tôi đã bị gián đoạn lúc Jim Massey bước vào, bên cạnh là hai tay giao dịch trông như hai vệ sỹ hộ tống. Ông ta mang theo số phận của 250 thực tập sinh. Tuy nhiên, trước khi công bố điều đó, ông ta giải thích chi tiết và tàn nhẫn về việc ban quản trị cấp cao cảm thấy khó khăn ra sao khi buộc phải sa thải nhân viên để công ty có thể trở nên hùng mạnh hơn, và cảm thấy nhức nhối ra sao khi đưa ra quyết định này. Và rồi: “Chúng tôi đưa ra quyết định liên quan đến chương trình đào tạo… và chúng tôi quyết định… (dừng lâu)… duy trì lời cam kết của chúng tôi”. Các anh có thể ở lại! Một nhóm người nhốn nháo chen lấn lên đẩy chiếc ghế ngay sau Massey đi ra. Nhưng cái tin ấy không vui vẻ như vẻ ngoài của nó. Không còn chỗ trống nào trên tầng giao dịch cả. Khi mãn khóa đào, tạo phần lớn thực tập sinh sẽ trở thành nhân viên tại khối văn phòng.

Ngày 17 tháng 12 năm 1987: Ngày lĩnh tiền thưởng. Một ngày kỳ lạ và vinh quang. Lần đầu tiên trong lịch sử, công ty đã phá vỡ những quy chế về tiền thưởng. Thực là may mắn đối với tôi. Khoản tiền thưởng của tôi dự tính tối đa là 140.000 đô-la. Thay vào đó, công ty đã trả cho tôi 225.000 đô-la, cao hơn khoản thưởng dành cho bất cứ nhân viên nào mới tốt nghiệp khóa đào tạo kéo dài hai năm, hoặc người ta đã nói với tôi như vậy. Bây giờ tôi là người được trả cao nhất trong lớp đào tạo. Nhưng nó vẫn ít ý nghĩa hơn so với thực tế. Hơn một nửa lớp đào tạo đã thôi việc hoặc bị đuổi.

Lúc này rõ ràng thời gian làm việc tại công ty đã khiến tôi trở nên giàu có. Với tốc độ kinh doanh như vậy tôi sẽ được trả 350 đô-la vào năm sau, 450 đô-la vào năm tiếp theo, 525 đô-la vào năm tiếp theo nữa. Và như thế, với mức độ tăng ít hơn nhưng mỗi năm tổng số lại cao hơn cho tới tận lúc tôi đã thật sự trở thành hay không trở thành một giám đốc điều hành.

Nhưng đó là một điều đáng buồn và hơi lố bịch: phá vỡ cơ cấu tiền thưởng và trả cho những nhân viên được lựa chọn nhiều hơn bao giờ hết trong năm thất thu nhất trong lịch sử gần đây của công ty. Salomon đã lãi 142 triệu đô-la từ 3,5 tỷ đô-la tiền vốn. Những con số ấy thậm chí còn có vẻ tồi tệ hơn khi bạn so sánh quy mô công ty trong năm đó đã tăng gấp hai lần so với ba năm trước đây. Tại sao bây giờ công ty lại trả cho tôi?

Tôi có một ý nghĩ. Khi trưởng bộ phận giao dịch trái phiếu đưa ra số tiền thưởng cho tôi, ông ta cố bảo đảm rằng tôi xứng đáng với món quà kỳ lạ được ban tặng ra sao (và dặn tôi đừng nói cho ai biết). Nguồn gốc món tiền lớn hiện lên trong mắt ông ta: sự hoảng loạn. Ở khía cạnh nào đó, Salomon Brothers thực hiện giao dịch bằng cách đặt giá dựa trên số lượng dịch vụ của nhân viên. Hiện nay, công ty đã mất nhiều nhân lực hơn thường lệ mỗi khi giao dịch. Một điều chắc chắn là Salomon Brothers không trả tôi món tiền thưởng vì cho rằng đó là điều hợp lý và đúng đắn cần phải làm. Một vài nhà lãnh đạo tốt của Brothers đã hành động đúng đắn và hợp lý, kể cả vị giáo sỹ Do Thái của tôi. Tôi tự hào vì điều đó, nhưng phần lớn mọi người chỉ làm những gì cần thiết. Tôi được trả thêm bởi vì công ty cho rằng như thế sẽ buộc tôi ở lại vì lòng trung thành.

Lòng trung thành của tôi đã được đóng dấu. Tôi cảm thấy trung thành với một nhóm người bao gồm Dash, Alexander, nhà quản lý của tôi và vị giáo sỹ Do Thái. Nhưng bạn có thể nói về lòng trung thành như thế nào khi nào nó là một mớ hỗn độn chứa toàn những mánh khóe lừa bịp lớn nhỏ với sự xung đột và bất mãn xé nát công ty? Bạn không thể. Vì sao phải thử? Hiện giờ, rõ ràng là trò chơi của đồng tiền đã thưởng cho những kẻ phản bội, chạy hết công ty này đến công ty khác nhưng vẫn được hưởng lương cao hơn nhiều so với những người chỉ làm việc một chỗ.

Từ trước đến nay, ban quản trị cấp cao của Salomon chưa bao giờ cố mua lòng trung thành của mọi người trong công ty. Các nhà quản lý không giỏi lắm trong trò chơi đó. Họ chắn chẳn đã thấy nếu nhìn tôi với con mắt của một nhà vô địch chơi Bài Nói dối khi tôi hứa sẽ không bao giờ bỏ đi hay ở lại vì tiền. Tôi không bao giờ làm cho một công ty khác chỉ vì được trả lương cao hơn. Tuy nhiên, tôi đã bỏ Salomon Brothers vì những lý do khác. Và tôi đã bỏ đi.

PHẦN KẾT

Tôi rời Salomon Brothers vào đầu năm 1988, nhưng không vì bất cứ lý do rõ ràng nào. Tôi không nghĩ rằng công ty đã đến ngày tận số. Tôi không nghĩ rằng Phố Wall sẽ sụp đổ. Thậm chí tôi không phải chịu đau đớn cho sự tan vỡ ảo tưởng phát triển của nó (Salomon đã phát triển tới một điểm, trụ lại được, rồi ngừng). Mặc dù có nhiều lý do có thể hoàn toàn có vẻ hợp lý để nhảy việc, tôi đã ra đi, phần lớn bởi vì tôi không cần phải ở lại lâu hơn nữa.

Thế hệ của cha tôi đã lớn lên với niềm tin nào đó. Một trong những niềm tin đó cho rằng số tiền mà người ta kiếm ra là một kim chỉ nam cho sự đóng góp của người ấy vào phúc lợi và sự thịnh vượng của xã hội. Tôi lớn lên rất gần bên cha tôi. Mỗi buổi tối thả người vào chiếc ghế bên cạnh ông, còn ướt đẫm mồ hôi vì vừa chơi bóng chày ở mảnh sân trước nhà, tôi lắng nghe ông giải thích tại sao điều này đúng và điều kia sai. Một điều mà gần như luôn đúng là những người kiếm được nhiều tiền thì đều đáng khâm phục. Việc ngắm nhìn con trai được trả 225.000 đô-la ở tuổi 27, sau hai năm làm việc, làm cho niềm tin vào đồng tiền của ông bị đảo lộn. Gần đây ông mới bình phục sau cú sốc ấy.

Tôi thì không sốc chút nào. Khi bạn giống như tôi – từng tham gia những trò chơi vô lý nhất với đồng tiền và lợi ích không hoàn toàn cân xứng với giá trị của nó trong xã hội, khi hàng trăm người không xứng đáng quanh bạn đang vơ vét tiền của nhanh hơn khả năng tính đếm, điều gì xảy xảy ra với niềm tin vào đồng tiền? Ồ, điều đó còn tùy thuộc. Đối với một số người, cơ may tốt đẹp củng cố niềm tin. Họ ra sức vơ lấy những đồng tiền nhơ bẩn đó, như thể chúng là minh chứng cho thấy họ xứng đáng là công dân nền Cộng hòa. Tiền đã trở thành kim chỉ nam của những người này. Một tài năng kiếm tiền từ chiếc điện thoại phản ánh một phẩm chất ở phạm vi lớn hơn. Mọi người thường cho rằng những kẻ tư duy theo lối này cuối cùng sẽ bị trừng phạt đích đáng. Họ chẳng phải chịu sự trừng phạt nào hết. Mà ngược lại, họ đang trở nên giàu có. Tôi chắc chắn rằng phần lớn trong số họ chết vì béo phì và sung sướng.

Tuy nhiên, đối với tôi, niềm tin vào ý nghĩa của đồng tiền đã bị đánh tan thành mây khói; lý lẽ cho rằng bạn càng kiếm nhiều tiền thì cuộc sống của bạn càng tốt đẹp hơn lại bị quá nhiều chứng cớ phũ phàng phản bác. Và nếu không có niềm tin ấy, tôi đã mất hết nhu cầu để kiếm những món tiền khổng lồ rồi. Điều nực cười là tôi đã hoàn toàn không nhận thấy mình bị ảnh hưởng nặng nề thế nào bởi niềm tin vào đồng tiền cho tới khi nó tan biến.

Đó chỉ là một bài học nhỏ mà tôi học được ở Salomon Brothers. Hầu hết tất cả những thứ khác đều bị tôi bỏ lại phía sau. Tôi khá tháo vát khi quản lý vài trăm triệu đô-la, nhưng vẫn mù mờ khi quyết định phải làm gì với số tiền vài nghìn đô-la. Tôi học cách khiêm tốn trong chương trình đào tạo, nhưng đã quên nó ngay khi được trao cơ hội. Và tôi rút ra rằng con người có thể bị tổ chức làm hư hỏng, nhưng bởi vì vẫn sẵn sàng tham gia tổ chức và bị họ làm cho hư hỏng (vừa thôi nhé!), tôi vẫn không chắc chắn về kết quả thực tế của bài học này là như thế nào. Có vẻ, tất cả, trong tất cả, tôi đã không học được chút giá trị thực tế nào.

Có lẽ phần hay nhất vẫn chưa đến, khi mà tôi bỏ đi quá sớm. Nhưng khi không còn nhu cầu ở lại Salomon Brothers, tôi phát hiện rằng cần phải ra đi. Công việc của tôi chẳng là gì ngoài sự hiện hiện ở công ty mỗi buổi sáng để làm những gì mà tôi đã làm, và phần thưởng cũng không khác gì mấy. Tôi không thích việc thiếu tính phiêu lưu. Có lẽ bạn cho rằng tôi rời sàn giao dịch Salomon Brothers để đi tìm rủi ro. Đây có thể là một quyết định tài chính ngu xuẩn nhất tôi từng đưa ra. Trong thị trường, bạn không chấp nhận rủi ro nếu không được trả tiền ngay. Kể cả trong thị trường việc làm, nó là một quy luật phổ biến và tôi đã phạm luật. Bây giờ tôi nghèo hơn và đối mặt với nhiều rủi ro hơn so với khi làm việc trên sàn giao dịch.

Vì vậy, xét về vẻ bề ngoài, quyết định ra đi của tôi gần như là một giao dịch tự sát, giống như vị một khách hàng rơi vào tay một thằng Geek của Salomon. Tôi tin rằng mình đã bỏ qua cơ hội lớn nhất từng có để trở thành một triệu phú. Chắc chắn rồi, Salomon Brothers đã suy yếu trong thời kỳ khó khăn, nhưng vẫn còn rất nhiều khoản tiền thưởng cho một tay trung gian giỏi; đó là bản chất tự nhiên của trò chơi. Và nếu Salomon tự vực dậy được, tiền sẽ càng di chuyển dễ dàng hơn. Tôi vẫn còn nắm giữ cổ phiếu Salomon Brothers bởi vì tôi tin dần dần nó sẽ hồi phục. Sức mạnh của công ty nằm trong bản năng sống của những con người như John Meriwether, nhà vô địch thế giới Bài Nói dối. Các cá nhân có bản năng đó, bao gồm Meriwether và những chàng trai của ông ta, vẫn đang giao dịch trái phiếu cho Salomon. Dù sao, công việc kinh doanh của Salomon cũng không thể nào tệ hơn được nữa. Các thuyền trưởng đã cố hết sức để đánh đắm con tàu, nhưng nó vẫn cứ nổi. Khi ra đi, tôi biết chắc rằng mình đang phạm sai lầm của những tay mới vào nghề – đó là bán ở mức đáy, điều mà tôi chỉ có thể phần nào bù đắp bằng cách mua thêm vài cổ phiếu của công ty.

Nếu thôi việc là một giao dịch dở tệ, đó là bởi nó không phải là một giao dịch. Tuy nhiên, tôi tạm dừng trong chốc lát, sau khi quyết định chuồn, để nghĩ rằng có lẽ suy cho cùng thì những việc tôi đang làm cũng không đến nỗi ngu ngốc lắm. Trong bữa tiệc chia tay, Alexander nói với tôi rằng tôi đang làm một việc cực kỳ khôn ngoan – quyết định tốt nhất mà tôi đã làm trong đời là hoàn toàn không mong đợi, và đối lập với lẽ thường. Sau đó Alexander còn đi xa hơn thế nữa khi nói rằng mỗi quyết định mà anh đã ép bản thân phải đưa ra mặc dù không mong đợi, đều đúng đắn. Tôi thấy thú vị vì không có khả năng dự đoán trước được việc lên kế hoạch cẩn trọng về sự nghiệp ở độ tuổi này. Thực tốt đẹp nếu nó là sự thật.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.