Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 10
Chương X. Chúng tôi có thể làm gì để anh được hạnh phúc hơn nhỉ?
Một thói quen đã xuất hiện trong hoạt động của chúng tôi. Mỗi tháng bắt đầu bằng một bản phân tích hiệu suất làm việc của đơn vị nhỏ, mỗi tuần khởi đầu bằng một buổi họp văn phòng, và mỗi ngày có hàng loạt cuộc điện thoại gọi đến bất kể ai mà chúng tôi cho rằng có lẽ thích chơi lắc xí ngầu. Dash Riprock luôn đến làm việc trước tôi vào mỗi sáng ít nhất một tiếng đồng hồ. Anh ta cho rằng tiền thưởng sẽ bị ảnh hưởng nếu ông chủ bắt gặp mình rời xa chiếc điện thoại. Anh ta đã hoàn toàn sai lầm. Đúng ra những ông chủ chỉ quan tâm nhiều đến việc chúng tôi đã bòn rút khách hàng được bao nhiêu tiền chứ không phải là mất bao nhiêu thời gian cho việc đó. Tuy vậy Dash căm phẫn rằng tôi cả gan đến sau 7 giờ 45 phút sáng và thường loan báo điều này bằng những lời chế giễu: “Tôi chỉ muốn cám ơn Michael Lewis vì hôm nay đã đến làm việc. Hãy hết sức giúp anh ta đi nào, hỡi những quý ông quý bà!”
Rồi chúng tôi chìm vào luồng giao tiếp ý thức. Khi chúng tôi không bàn về tương lai của anh ta, cách thức đánh gục thị trường, hay số phận của Salomon Brothers, hoặc làm thế nào giáo dục ba gã hiện làm việc cho Salomon Brothers, chúng tôi huyên thuyên như những bà mẹ Do Thái. Đó là đặc điểm về giao tiếp xã hội trên tầng giao dịch.
Dash: Hôm nay tôi nhìn thấy một bức họa ở phòng tranh Sotheby. Tôi có lẽ sẽ mua nó.
Tôi: Anh đã mua bộ veston đó ở đâu?
Dash: Đồng Yên ra sao nhỉ?
Tôi: Tôi có thể tờ Atlantic Monthly của anh được không?
Dash: Tôi đã mua nó ở Hồng Kông, 400 đô-la. Ở đây giá 800 đô-la.
Tôi: Của họa sỹ nào?
Dash: Được, nhưng phải trả lại. Nếu không tôi sẽ giết anh.
Tôi: Họ có định trả tiền cho chúng ta vào cuối năm không?
Dash: Michael, đã họ bao giờ trả tiền cho chúng ta vào cuối năm chưa?
Vào một ngày cuối năm thứ hai – ngày 24 tháng 9 năm 1987, thói quen đó thình lình bị tan vỡ. Đúng, Dash đang co cụm tại vị trí riêng thường xuyên của anh. Đúng, tôi đang chờ anh ta ló ra với những lời mắng mỏ như thường lệ để rồi tôi kể ngay cho anh ta một trò đùa nhạt nhẽo khác. Nhưng tôi chẳng còn có được cơ hội đó. Trong lúc tôi đợi, ai đó đã hét lên: “Chúng ta bị chơi rồi!”
Dash đang dùng ngón tay bịt tai và bị hút vào nghệ thuật bán trái phiếu, không nghe thấy một điều gì khác. Tôi kiểm tra các bản tin trên màn hình. Nếu mọi người vẫn còn mải dụi mắt không tin vào những gì họ thấy, thì tôi lại làm được. Khắp nơi, tin tức loan nhanh như chớp rằng Ronald O. Perelman, ông chồng cao khoảng 1,5 m của người phụ trách mục tin vặt trên báo New York, kẻ có tiếng gây hấn mà mới gần đây đã chinh phục công ty mỹ phẩm Revlon, đang đặt giá mua phần lớn cổ phần của Salomon Brothers. Người hậu thuẫn tài chính của hắn là ngân hàng Drexel Burnham và các cố vấn của Ronald là Joseph Parella và Bruce Wasserstein của công ty First Boston. Đó là lần đầu tiên Phố Wall đã đổi hướng và tấn công chính nó.
Đột nhiên bảng báo điện thoại của tôi như bầu trời đêm ở Rockies, những ánh đèn nhấp nháy. Các khách hàng gọi đến tới tấp, ngỏ lời chia buồn rằng công ty của chúng tôi sắp bị một kẻ nhẫn tâm tấn công và cắn xé. Những lời chia buồn của họ thể hiện mối quan tâm mang vẻ giả dối. Họ chỉ muốn trố mắt ra nhìn như kiểu người ta vẫn thường xúm quanh xem một vụ tai nạn và liếc nhìn đống kim loại bị méo mó cùng những nạn nhân đang run sợ mà thôi. Nhiều người nghĩ rằng Salomon Brothers lớn mạnh và tồi tệ đó cuối cùng đã vấp phải một sức mạnh còn lớn mạnh và tồi tệ hơn trên thị trường, và thú vị là ở chỗ sức mạnh ấy lại là từ một nhà cung cấp hàng đầu về mỹ phẩm cho phụ nữ. Tay đầu tư người Pháp vẫn thản nhiên. “Anh sẽ sớm được khuyến mãi những mẫu son môi với mọi giao dịch trái phiếu trị giá hơn 1 triệu đô-la, có nghĩa là tôi sẽ sở hữu rất nhiều son môi,” anh ta nói rồi gác máy.
Tại sao một nhà buôn son môi lại theo đuổi chúng tôi? Câu trả lời gợi trí tò mò nhất: Đó không phải là ý đồ của hắn. Việc đặt giá của Perelman có thể dễ dàng thấy như một trái bom căm ghét mà ông vua trái phiếu thứ cấp của công ty Drexel và người hậu thuẫn thật sự của Perelman: Michael Milken dội vào John Gutfreund – CEO của Salomon Brothers. Milken thường dội trái bom căm ghét vào những người đã đối xử tồi tệ với ông ta. Và Gutfreund từng đối xử tồi tệ với ông ta. Đầu năm 1985, Milken đến thăm văn phòng của chúng tôi để vừa ăn sáng vừa làm việc với Gutfreund, bắt đầu bằng việc Michael trở nên tức giận vì Gutfreund từ chối không nói chuyện với ông ta như người ngang hàng. Buổi sáng kết thúc bằng một trận quát tháo lẫn nhau. Milken được một tay bảo vệ hộ tống từ tòa nhà đi ra. Về sau Gutfreund đã cắt đứt tất cả các vụ giao dịch trái phiếu của Salomon với Drexel.
Rồi Drexel thấy mình đang là trung tâm vụ điều tra lớn nhất của SEC từ trước đến nay. Thay vì gửi những bông hoa, một giám đốc điều hành của Salomon Brothers đã gửi cho khách hàng của Milken bản chụp các khiếu nại (vì tống tiền và dùng mánh khóe gian lận tiền) do ba khách hàng khác nhau đã đâm đơn kiện Milken. Mối quan hệ giữa Salomon Brothers và Drexel Brunham vào tháng 9 năm 1987 được xem là mối quan hệ tồi tệ nhất giữa hai công ty trên Phố Wall.
Milken đã yểm bùa Gutfreund. Cho dù với tham vọng bá chủ thế giới, Gutfreund vẫn còn khá thiển cận và hạn hẹp. Chẳng hạn, tại sao ông ta chưa bao giờ chợt nảy ra ý nghĩ là bất cứ ai cũng sẽ điều khiển được văn phòng London của ông ta, trừ người Mỹ. Chúng tôi không phải là những thương nhân nên đã không nắm được cơ hội để đa dạng hóa khi Salomon Brothers hùng mạnh. Thực ra chúng tôi không bao giờ biết cách làm gì khác ngoài buôn trái phiếu. Không ai ở Salomon tạo ra được một mô hình kinh doanh mới có giá trị thật sự, ngoại trừ Lewie Ranieri, nhưng cuối cùng Ranieri đã bị chôn vùi vì những rắc rối. Ngược lại, Milken đã xây dựng được mô hình kinh doanh mới lớn nhất trên Phố Wall ngay cạnh chúng tôi với mục đích chiếm đoạt vị thế của Salomon trên các thị trường trái phiếu.
“Dù Gutfreund có nói gì,” một trong những đồng nghiệp thân cận với Gutfreund hơn tôi cho biết, “thì ông ta luôn nghĩ rằng chỉ có một công ty có khả năng chống lại và nuốt trọn Salomon Brothers của chúng ta: đó là Drexel. Ông ta không lo ngại về Morgan Stanley vì cho rằng nó không đủ sức cạnh tranh với chúng ta. Henry [Kaufman] đã dự đoán rằng trong dài hạn, chất lượng uy tín của các tập đoàn Mỹ đang sa sút. Uy tín đang trở thành rác rưởi. Điều đó ám chỉ rằng khách hàng chúng tôi đang trôi giạt sang Drexel.”
Nhưng không chỉ khách hàng. Nhân viên của Salomon Brothers cũng đào ngũ sang Drexel với mức báo động. Ít nhất hơn một chục nhân viên giao dịch và kinh doanh của Salomon Brothers trước đây hiện đang làm việc trên sàn giao dịch trái phiếu thứ cấp của Milken ở Beverly Hills (có 85 người), và thêm nhiều người khác đến làm việc cho Drexel tại New York. Mỗi tháng lại có thêm một tay giao dịch trái phiếu, một nhân viên kinh doanh hay nhà phân tích rời khỏi sàn giao dịch New York và tuyên bố với ban quản trị rằng mình sẽ đến Drexel. Ban quản trị Salomon đã phản ứng ra sao? “Cứ vậy đi,” một vị nói, “Anh không được phép quay trở lại tầng giao dịch để lấy áo khoác đâu đấy.”
Chẳng ai lấy làm ngạc nhiên về những vụ đào ngũ sang Drexel. Các bản báo cáo về phần thưởng lớn kiếm được khi làm việc cho Michael Milken đã lan tới Salomon và làm cho chúng tôi nhỏ dãi thèm thuồng. Một nhà điều hành của Salomon đã bỏ đi và gia nhập với Milken tại Beverly Hills vào năm 1986. Đến tháng thứ ba, khi thực hiện công việc mới, anh ta đã nhận được thêm 100.000 đô-la trong tờ séc lĩnh tiền hàng tuần. Do biết rằng đó không phải là thời gian lĩnh tiền thưởng, anh ta cho rằng các nhân viên kế toán của Drexel có thể đã ghi sai. Anh báo với Milken.
“Không,” Milken nói, “Không lầm đâu. Chúng tôi chỉ muốn cho anh thấy chúng tôi hạnh phúc vì những việc anh đang làm.”
Một nhà điều hành kỳ cựu của Salomon kể về khoản tiền thưởng đầu tiên mà Michael Milken đã trao tay cho anh ta (vài triệu đô-la), nhiều hơn cả mức mong đợi. Vị này đã quen với những phiên họp về tiền thưởng của Salomon Brothers và hiếm khi nhận được nhiều hơn mong đợi. Bây giờ anh ta đang có một món tiền lớn hơn cả số lương và thưởng của Gutfreund cộng lại. Anh ta ngồi trong chiếc ghế, choáng váng như một nhân vật trong chương trình truyền hình “Ai là triệu phú”. Một ai đó vừa mới trao tay cho anh ta số tiền đủ để về hưu, và anh ta không biết tỏ lòng biết ơn như thế nào nữa. Milken nhìn anh ta rồi hỏi:
“Anh có hạnh phúc không?”
Cựu nhân viên Salomon gật đầu. Milken ngả mình vào chiếc ghế và hỏi:
“Chúng tôi có thể làm gì để anh được hạnh phúc hơn nhỉ?”
Milken vung tiền cho nhân viên của ông ta. Những câu chuyện kỳ diệu khiến rất nhiều người trong số chúng tôi hy vọng nhận được cú điện thoại từ Milken. Điều đó cũng làm nảy sinh lòng trung thành trên tầng giao dịch Beverly Hills. Lắm lúc Milken dường như là giáo chủ của một giáo phái vậy. “Chúng tôi hoàn toàn chịu ơn một người,” một tay giao dịch của Drexel đã nói với tác giả Connie Bruck. “Và chúng tôi không thuộc về mình nữa. Michael đã tước đoạt cái tôi của chúng tôi”. Mỗi cái tôi đều có giá của nó. Một trong những anh bạn thực tập sinh trước đây của tôi đã đi làm cho Michael Milken kể với tôi rằng, trong số 85 nhân viên làm việc ở văn phòng Beverly Hills thì “khoảng 20-30 người đáng giá 10 triệu đô-la hoặc hơn, 5-6 người kiếm được hơn 100 triệu”. Bất kỳ lúc nào một tờ báo ước lượng mức lương của Milken, hiển nhiên, toàn bộ văn phòng Beverly Hills của Drexel cười khúc khích sao lại thấp đến vậy. Anh bạn tôi và những người khác làm bên ông ta nói với tôi rằng Milken đáng giá hơn 1 tỷ đô-la. Bạn vẫn tự hỏi cái gì làm cho Michael Milken khoái hơn, kiếm 1 tỷ đô-la hay nhìn Gutfreund quằn quại trước một trong những khách hàng lớn nhất của mình, Ronald Perelman, ngang nhiên săn đuổi Salomon Brothers. “Tôi biết Michael và tôi thích Michael,” Lewie Ranieri, người đã bị Gutfreund đuổi việc hai tháng trước đây nhận xét. “Bia đá trên mộ của Michael nên viết: Hắn không bao giờ phản bội bạn bè và cũng không bao giờ tỏ lòng khoan dung đối với kẻ thù.”
Cách nhìn nhận thứ hai coi việc đặt giá của Perelman là đòn trừng phạt vì những tội lỗi của ban quản trị Salomon. Dash và tôi quyết định rằng việc tiếp quản công ty chúng tôi không phải là một ý đồ xấu, không phải bất cứ ai cũng có quan điểm như chúng tôi. Chúng tôi biết rằng Ronald Perelman, nhân vật có quyền lực trong lĩnh vực son môi, kẻ ác ôn, tên lừa đảo xỏ lá, không hề biết cách điều hành một ngân hàng đầu tư. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng nếu hắn ta thành công trong việc chế ngự Gutfreund, thì điều đầu tiên hắn làm sẽ là xem Salomon Brothers như một thương vụ kinh doanh, chứ không phải là một đế chế, đó sẽ là quan điểm mới về điều hành. Hiển nhiên, những kẻ chuyên thôn tính công ty thường giả bộ và dối trá. Những kẻ đột kích luôn nói rằng họ chỉ muốn đuổi cổ các nhà quản lý ngu đần và lười nhác, trong khi thực tế muốn tước đoạt tài sản công ty. Nhưng người tiếp quản chúng tôi là một ngoại lệ đáng yêu. Tài sản của Salomon là nguồn nhân lực. Chúng tôi không có bất động sản, không có quỹ tiền trợ cấp hưu trí khổng lồ để chiếm đoạt, không có thương hiệu để tước đoạt. Salomon Brothers là một mục tiêu rõ ràng. Ban quản trị của chúng tôi xứng đáng nhận một nhát rìu.
Kế hoạch kinh doanh duy nhất trên Phố Wall bị sai lệch gây náo động dư luận hơn kế hoạch mà Salomon đặt ra – lập biểu đồ cho những tháng tới. Chúng tôi có tính khí và trí khôn của một tay tài xế taxi người Li-băng: Chúng tôi đã hoặc đang đạp mạnh vào chân ga hoặc thắng phanh;, chẳng còn biết đến việc điều tiết và cũng không có óc phán xét. Khi chúng tôi quyết định rằng mình cần thêm không gian làm việc tại New York, phải chăng chúng tôi giống những sinh vật yếu ớt lướt ngang qua phố và bước vào những văn phòng rộng hơn? Không! Chúng tôi bắt tay vào dự án xây dựng đắt đỏ nhất từ trước đến nay tại Manhattan, Columbus Circle cùng với chủ đầu tư Mort Zuckerman. Susan Gutfreund đã đặt mua những hộp gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh có đáy khắc hình tòa nhà. Cuối cùng chúng tôi đã thoát khỏi dự án 107 triệu đô-la; còn bà ta thì được giữ được mấy chiếc gạt tàn đó.
Chúng tôi đã dự định thống trị toàn cầu và đã xây sàn giao dịch lớn nhất thế giới phía trên ga xe lửa ở London. Hiện nay chi nhánh London đã bị phá sản và đang nợ quá hạn với tổn thất ước tính 100 triệu đô-la. Giới báo chí Anh nói đến chuyện này bằng cách gọi chúng tôi là “Smoked Salomon” (hay vụ scandal của Salomon). Chúng tôi đã thành lập một bộ phận thế chấp hùng mạnh đầy quyền lực, rồi khiến cho một nửa số nhân viên trong đó ra đi, đồng thời đuổi việc số còn lại. Lewie và nền độc quyền của ông ta biến mất gây ra một khoản lỗ ít nhất vài trăm triệu đô-la. Chúng tôi đã cởi trói cho vài cái tôi lớn nhất thế giới để vật lộn giành quyền lực trên tầng 41. Bây giờ New York trở nên tệ hại với cuộc xung đột tàn phá lẫn nhau; cái giá cho sai lầm này có thể là việc mất công ty. Tiếp hay thôi. Bán hay mua. Vào hay ra. Tính kiên định chỉ dành cho những bộ óc nhỏ bé, không phải cho chúng tôi.
Sai lầm nặng nề không nằm ở những bước đi đã chọn, mà là những bước đi chúng tôi ngu dốt bỏ qua. Không phải việc kinh doanh ngân hàng đầu tư năm 1987 không sinh lãi nữa. Trái lại, nó sinh lãi hơn bao giờ hết. Hãy mở xem bất cứ tờ báo nào và bạn sẽ thấy các nhân viên ngân hàng đầu tư đang vơ vào những khoản tiền 50 triệu đô-la và nhiều hơn thế chỉ trong một tuần làm việc. Lần đầu tiên sau nhiều năm, các công ty khác chứ không phải Salomon đang kiếm được tiền. Thật mỉa mai, những kẻ chiến thắng mới lại đúng là những gã giúp Ronald Perelman mua chúng tôi. Milken, Wasserstein và Perella. Drexel Burnham nhờ có Michael Milken đã thay thế chúng tôi trở thành ngân hàng đầu tư sinh lãi nhất trên Phố Wall vào năm 1986. Nó đã lãi 545,5 triệu đô-la với doanh thu 4 tỷ đô-la, hơn cả số tiền chúng tôi đã kiếm được vào thời kỳ hoàng kim nhất.
Drexel làm giàu từ trái phiếu thứ cấp, và điều đó thật chua chát. Chúng tôi từng được coi là những tay giao dịch trái phiếu của Phố Wall. Chúng tôi đang có nguy cơ mất đi danh hiệu đó, vì những người quản lý của chúng tôi đã không thấy được tầm quan trọng của trái phiếu thứ cấp. Họ cho rằng trái phiếu thứ cấp là thứ vụn vặt. Đây đơn giản là trường hợp bỏ quên duy nhất và phải trả giá đắt nhất của họ, vì trái phiếu thứ cấp không chỉ tạo ra một cuộc cách mạng trong các doanh nghiệp Mỹ làm đảo lộn Phố Wall mà còn có mục đích toan tính thâu tóm Salomon Brothers, và vì hậu quả cuối cùng của nó đáng phải dừng lại giây lát để suy ngẫm. Tôi đã suy ngẫm.
Trái phiếu thứ cấp là trái phiếu do hai cơ quan đánh giá tín dụng tài chính là Moody’s và Standard & Poor’s phát hành và không đảm bảo có thể trả được nợ. “Chứng khoán thứ cấp” là thường được giao dịch dựa trên chênh lệch nhưng có sự khác biệt vô cùng quan trọng. Uy tín của IBM khác với một hãng kinh doanh các mặt hàng cotton ở Beruit. Tại một điểm nào đó, các trái phiếu của một công ty không còn là khoản đầu tư hấp dẫn mà trở thành canh bạc chứa đầy rủi ro. Các trái phiếu thứ cấp dễ dàng trở thành công cụ tài chính gây ra nhiều tranh luận nhất trong thập niên 1980. Chúng xuất hiện rất nhiều trên báo chí.
Nhưng cần nhấn mạnh rằng chúng không hề mới. Các công ty cũng như cá nhân thường phải vay tiền để mua những thứ mà họ không có đủ tiền mặt để mua. Tại Mỹ nói riêng, họ cũng vay tiền vì đó là cách hiệu quả nhất để cấp vốn cho một doanh nghiệp, khoản trả lãi nợ không phải chịu thuế. Và những công ty đang lung lay thường luôn muốn vay tiền. Đôi lúc, như hồi đầu thế kỷ, những tên trùm kẻ cướp đã xây dựng đế chế của chúng trên đống giấy nợ và các nhà cho vay, thật ngạc nhiên, vẫn phải chiều theo. Nhưng chưa bao giờ phải chiều theo như ngày nay. Cái mới ở đây là quy mô của thị trường trái phiếu thứ cấp, hàng loạt các công ty lung lay ọp ẹp chìm sâu trong nợ nần, và số lượng nhà đầu tư sẵn lòng chấp nhận rủi ro cho số vốn của họ (có lẽ nguyên tắc của họ) bằng cách cho các công ty này vay.
Michael Milken của Drexel đã tạo nên thị trường đó, bằng cách thuyết phục các nhà đầu tư rằng trái phiếu thứ cấp là một sự đặt cược khôn khéo, rất gần với cách Lewie Ranieri từng thuyết phục các nhà đầu tư rằng trái phiếu thế chấp là một sự đặt cược khôn khéo. Suốt những năm cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, Milken đã đi khắp trong nước và lao sầm vào các bàn ăn cho tới khi mọi người bắt đầu nghe ông ta. Trái phiếu thế chấp và trái phiếu thứ cấp đã khiến việc vay tiền của các cá nhân và những công ty trước đây bị cho là không đủ tư cách đi vay trở nên dễ dàng hơn. Nói cách khác, các trái phiếu mới này lần đầu tiên tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trực tiếp cho các con nợ và các công ty lung lay vay tiền. Và các nhà đầu tư càng cho vay nhiều thì số lượng con nợ càng nhiều. Nguyên tắc sử dụng vốn vay là nét đặc trưng nhất của kỷ nguyên tài chính chúng tôi.
Trong cuốn sách The Predator’s Ball (Miếng mồi của kẻ ăn thịt sống), Connie Bruck đã lần theo sự phát triển của ban trái phiếu thứ cấp của Drexel (nghe nói Milken đã cố trả tiền cho tác giả để ngừng xuất bản cuốn sách này). Câu chuyện mà bà kể bắt đầu vào năm 1970, khi Michael Milken nghiên cứu về các trái phiếu ở Khoa Tài chính thuộc Đại học Wharton, Pennsylvania. Ông ta bẩm sinh đã có trí thông minh vượt trội để vượt qua xuất thân từ giai cấp trung lưu (bố Milken là một kế toán viên). Ở Wharton, ông ta nghiên cứu về những thiên thần rũ cánh, những trái phiếu của công ty một thời là blue-chip nay đang trong tình trạng bế tắc. Lúc đó những thiên thần rũ cánh này là loại trái phiếu thứ cấp duy nhất có trên thị trường. Milken nhận thấy rằng chúng rẻ hơn so với những trái phiếu công ty cao cấp, thậm chí xét tới các rủi ro ngoài dự tính mà chúng chịu. Theo phân tích của Milken, chủ sở hữu một danh mục đầu tư với những thiên thần rũ cánh hầu như lúc nào cũng đạt hiệu quả thu lãi tốt hơn chủ sở hữu danh mục vốn đầu tư chỉ gồm trái phiếu blue-chip. Lý do đơn giản là vì các nhà đầu tư tránh xa những thiên thần rũ cánh vì sợ rằng mình có vẻ khinh suất. Đó là điều dễ nhận thấy. Như Alexander Đại đế, Milken nhận thấy rằng các nhà đầu tư bị yếu tố bề ngoài trói buộc và kết quả là đã để ngỏ một cơ hội cho các tay giao dịch không hề bị vẻ bề ngoài ràng buộc. Như vậy bản năng sống bầy đàn, cơ sở cho hành vi rất người đã đặt nền móng cho một cuộc cách mạng trong thế giới tiền bạc.
Milken bắt đầu sự nghiệp của mình cũng vào năm 1970. Từ ban hành chính của Drexel, ông ta đã cố gắng để được lên trên tầng giao dịch và trở thành một tay giao dịch trái phiếu. Milken vẫn đội tóc giả kể cả khi bạn bè nói rằng cái đó không phù hợp với ông ta, còn những địch thủ bình luận rằng nó trông như thể một con thú chết trên đầu vậy. Sự tương đồng giữa Milken và Ranieri thật đáng chú ý. Như Ranieri, Milken không khéo xử cũng chẳng hòa nhã, nhưng tràn đầy niềm tin. Ông ta vẫn hoàn toàn vui vẻ tách rời khỏi đồng nghiệp. Milken ngồi trong một góc của tầng giao dịch khi tạo nên thị trường trái phiếu thứ cấp, bị mọi người xa lánh cho tới lúc kiếm được quá nhiều tiền đến mức trở thành ông chủ của Drexel. Cũng như Ranieri, ông ta đã thiết lập một đội ngũ nhân viên sẵn sàng cống hiến.
Milken chia sẻ lòng nhiệt tâm với Ranieri. “Vấn đề của Milken là ở chỗ ông ta đơn giản không đủ kiên trì để lắng nghe một quan điểm khác,” một ủy viên quản trị của Drexel nói với Bruck: “Milken ngạo mạn quá chừng. Ông ta cho rằng mình đã chế ngự được một vấn đề và cứ thế tiến lên. Ông ta vô dụng trong một ủy ban hay trong bất kể tình huống nào cần có quyết định tập thể. Ông ta chỉ để ý việc đưa ra sự thật. Nếu Milken không buôn trái phiếu, thì ông ta có lẽ đã lãnh đạo một phong trào phục hưng tôn giáo.”
Milken là một người Do Thái và khi vào công ty, ông ta vẫn còn hoạt động theo đường lối cũ của một ngân hàng đầu tư WASP, bài Do Thái. Milken tự thấy mình là một kẻ ngoại tộc. Đó cũng chính là một điểm mạnh của ông ta. Năm 1979, người ta phỏng đoán về việc ai sẽ làm cuộc cách mạng tài chính trong thập kỷ tới theo phương pháp sau: Lần mò tận hang cùng ngõ hẻm của Phố Wall; loại bỏ tất cả những kẻ vừa mới nổi lên trong catalog của Brook Brothers, mọi người thuộc hay bị cho là thuộc các câu lạc bộ thượng lưu và tất cả các cá nhân xuất thân từ một gia đình WASP tử tế. (Trong số những người còn lại không chỉ có Milken và Ranieri mà còn có Joseph Perella và Bruce Wasserstein của công ty First Boston, các nhà lãnh đạo chuyên thôn tính công ty và thật trùng hợp ngẫu nhiên là hai người này đã giúp Ronald Perelman săn đuổi Salomon Brothers).
Điểm giống nhau chấm dứt ở đây. Không giống như Ranieri, Milken nắm quyền điều khiển hoàn toàn công ty của ông ta. Thế nên Milken chuyển hoạt động trái phiếu thứ cấp từ New York về Beverlly Hills và cuối cùng tự trả lương cho mình 550 triệu đô-la/năm, gấp 180 lần khoản tiền Ranieri kiếm được vào lúc đỉnh cao của mình. Khi Milken mở văn phòng tại đại lộ Wilshire (thuộc sở hữu của bản thân), ông ta đã để cho người ta biết ai là kẻ đứng đầu bằng cách gắn tên mình lên trên cửa thay vì Drexel. Và ông ta đã tạo nên một môi trường làm việc khác với Salomon Brothers ở điểm cốt yếu: Thành công được đánh giá dựa trên số lượng giao dịch đem về, chứ không phải có bao nhiêu người làm việc cho bạn, bạn có chân trong ban quản trị hay chưa, và bạn đã xuất hiện bao nhiêu lần trên báo chí.
Khó có thể miêu tả về một con người thích hợp với việc lật đổ những tục lệ lâu đời của thế giới đã và đang sống. Trong trường hợp của Milken, đặc biệt càng khó bởi vì ông ta luôn kín đáo và không để lộ ra bất kỳ một nét tính cách cá nhân nào có thể giúp ích cho những người viết tiểu sử, ngoại trừ công việc kinh doanh. Theo quan điểm của tôi, Milken là sự kết hợp cả hai đức tính được xem là đặc biệt hiếm có tại thời kỳ hoàng kim của ông ta. Cả hai đức tính đó hiển nhiên không tồn tại trong giới Salomon Brothers vào đầu thập niên 1980. Milken sở hữu kỹ xảo buôn trái phiếu và tính kiên nhẫn. Ông ta có một tầm nhìn tập trung.
Ở đây Milken đã vượt qua sự chênh lệch đó. Mất tập trung hay thiếu hoàn toàn khả năng tập trung là hiểm họa lớn nhất đối với nghề nghiệp trên tầng giao dịch. Dash Riprock là một trường hợp xuất sắc và điển hình. Việc ngắm nhìn Dash làm việc khiến người ta cảm thấy chưng hửng như xem một băng video âm nhạc. Có những lúc thoáng qua, chẳng hạn khi Dash đang rầu rĩ là do việc kinh doanh bị sa sút, anh ta thả điện thoại đánh uỵch một cái và giải thích cho tôi rằng một ngày nào đó anh ta dự định chấm dứt làm việc tại ngân hàng đầu tư và trở về trường. Dash sẽ chôn vùi trong thư viện vài năm để có thể trở thành một giáo sư sử học hoặc một nhà văn. Ý tưởng của Dash đột ngột chìm vào im lặng, thậm chí đến 5 phút, khiến tôi thức tỉnh, và những cuộc trò chuyện kiểu này của chúng tôi thường kết thúc bằng việc tôi cố nói rằng chuyện đó là không thể và anh ta không muốn nghe bởi vì đã chán ngấy và muốn chuyển đề tài. “Tôi không định học bây giờ,” anh ta nói “ý tôi muốn nói là khi đã 35 tuổi và có vài triệu đô-la trong ngân hàng”, như thể sau mấy năm buôn trái phiếu, vài triệu đô-la tiền gửi sẽ làm cho anh ta tập trung hơn.
Sau ba năm kinh doanh trái phiếu, Dash không còn đủ tập trung để thưởng thức tình trạng ủ rũ nữa. Gần như ngay sau khi hờn dỗi (“Đừng có phá, tao đang khùng đây!”, anh cảnh cáo mấy tay giao dịch), thì anh ta lập tức quên ngay, rồi bằng cách nào đó, ngay giữa cơn chán nản ủ ê, Dash bán được vài trăm triệu đô-la trái phiếu chính phủ và dần rạng rỡ trở lại. “Ê! Mickey,” anh ta hét lên khi đang ghi lại phiếu bán hàng. “Mấy thằng nhóc, tụi mày yêu tao hử. Tao lại đang lùa tụi bay và hốt tụi bay. Hú hú…” Phần lớn những suy nghĩ của anh ta hoàn toàn tập trung vào việc tìm kiếm giao dịch tiếp theo.
Michael Milken cũng bắt tay vào làm việc không khác gì Dash và đang thiết lập một doanh nghiệp thay vì tìm kiếm các chuỗi giao dịch vô tận. Ông ta sẵn sàng tìm kiếm những điểm sáng trên màn hình giao dịch và suy nghĩ thận trọng, hoàn thiện ý tưởng trong tương lai. Một công ty sản xuất linh kiện vi điện tử có thể tồn tại được trong 20 năm để trả các khoản lãi bán niên không? Nền công nghiệp thép của Mỹ có thể sống sót được trong bất cứ tình trạng nào không? Fred Joseph, từng là CEO của Drexel lắng nghe Milken về vấn đề các công ty và nghĩ rằng “ông ta hiểu về tín dụng tốt hơn bất cứ ai trong nước”. Từ đó, Milken tiến tới thấu hiểu về các công ty.
Các công ty lâu đời từng là lĩnh vực hoạt động của các ngân hàng thương mại, ban tài chính doanh nghiệp và các ban phụ trách về vốn cổ phần của những ngân hàng đầu tư không còn nằm trong quá trình tư duy của một tay giao dịch. Tại Salomon, chúng tôi đã vứt ban phụ trách vốn cổ phần đó xuống một xó trong tầng hầm. Nhiều tay giao dịch của chúng tôi coi các nhân viên trong ban tài chính doanh nghiệp Salomon như các trợ lý hành chính. Biệt danh họ dành cho ban tài chính doanh nghiệp là đội XEROX (đội photocopy). Bất cứ ai có khả năng nhìn thấy như Milken lại không bao giờ đạt được vị trí có thể thực hiện được bất cứ điều gì với điều mình thấy. Đó là sự hổ thẹn lớn bởi nó chứng tỏ chúng tôi đã không nhận ra phần thưởng có sẵn trong tầm tay.
Dùng suy nghĩ như một tay giao dịch trái phiếu, Milken đánh giá lại toàn bộ các công ty Mỹ. Ông ta nhận thấy hai điều. Thứ nhất, nhiều công ty lớn và có vẻ đáng tin cậy lại vay tiền của các ngân hàng với lãi suất thấp. Uy tín tín dụng của họ chỉ có thể đi xuống. Tại sao lại cho họ vay tiền? Điều này chẳng có ý nghĩa gì. Đó là một giao dịch ngu ngốc: phần trên nhỏ, phần dưới to. Nhiều công ty từng là những mô hình doanh nghiệp bền vững lâu dài rốt cục đã vỡ nợ. Chẳng thể cho vay mà không có rủi ro. Thậm chí cả những tập đoàn lớn cũng bị sụp đổ khi nền công nghiệp của chúng sụp đổ. Hãy nhìn nền công nghiệp thép của Mỹ.
Thứ hai, hai loại công ty không thể thuyết phục được những tay giám đốc ngân hàng thương mại và các nhà quản lý quỹ dị ứng với rủi ro cho họ vay nhiều ngay lập tức, đó là công ty mới và nhỏ, công ty lớn và lâu đời đang gặp khó khăn. Các nhà quản lý quỹ đã dựa vào các cơ quan đánh giá uy tín tín dụng để báo cho họ biết công ty nào là an toàn (hay đúng hơn để không bị coi là khinh suất khi phê chuẩn các khoản đầu tư). Tuy nhiên, các dịch vụ đánh giá của ngân hàng thương mại gần như chỉ dựa vào bảng cân đối kế toán và các chứng từ trong quá khứ – để đưa ra quan điểm của họ. Kết quả phân tích được quyết định bằng thủ tục chứ không phải do chuyên gia phân tích. Đây là phương pháp tồi tệ để đánh giá bất cứ tổ chức kinh doanh nào, dù nhỏ và mới hay lớn nhưng già cỗi và lung lay. Một cách hay hơn là đánh giá chủ quan về phẩm chất của ban quản trị và số phận của nền công nghiệp. Việc cho một công ty luôn vay tiền thông qua sử dụng trái phiếu thứ cấp, chẳng hạn như công ty MCI, có thể là hành động liều lĩnh rất thông minh nếu người ta có thể biết trước được tương lai sự cạnh tranh của các ngành dịch vụ điện thoại đường dài và phẩm chất của ban quản trị MCI. Việc cho công ty Chrysler vay tiền với lãi suất cắt cổ cũng có thể là một sự đặt cược khôn khéo chừng nào công ty đó còn đủ dòng tiền mặt để trả lãi.
Milken thường đến nói chuyện với sinh viên ở các trường kinh doanh. Vào những dịp này, với một nỗ lực phi thường, ông ta muốn chứng minh một thực tế rằng một công ty lớn khó bị phá sản ra sao. Theo lập luận của Milken, các lực lượng muốn giữ cho một công ty lớn nổi có quyền lực hơn nhiều so với các lực lượng mong thấy nó chìm. Ông ta đưa ra cho sinh viên những tình huống có tính chất giả định sau. Bước một, Milken nói, chúng ta hãy đặt nhà máy lớn của mình vào một vùng động đất. Sau đó, chúng ta hãy làm cho những nghiệp đoàn tức điên lên bằng cách trả cho các ủy viên quản trị những món tiền lớn, trong khi cắt giảm lương công nhân. Bước ba, hãy chọn mua một công ty đang trên bờ phá sản để cung cấp một ban chủ yếu không thể thay thế được cho dây chuyền sản xuất của chúng ta. Và thứ tư, chỉ xảy ra trong trường hợp chính phủ bị thuyết phục bảo lãnh cho chúng ta khi chúng ta rơi vào thế bế tắc, hãy mua chuộc một vài viên chức ngoại giao hớ hênh. Milken kết luận, đó là những gì mà công ty Lockheed đã làm vào cuối thập niên 1970. Milken đã đặt mua trái phiếu của công ty Lockheed khi nó có vẻ đang bên bờ vực phá sản và đã may mắn một chút khi nó được cứu vớt. Giống như Alexander mua các trái phiếu Farm Credit tưởng chừng hoàn toàn thua lỗ nhưng thực tế không phải như vậy.
Những điều mà Milken muốn nói là ở chỗ toàn bộ hệ thống đánh giá uy tín tín dụng Hoa Kỳ đang bị lỗi. Nó tập trung vào quá khứ, trong khi lẽ ra phải chú ý tới tương lai do đè nặng bởi tính cẩn trọng. Milken đã đóng cái lỗ hở hệ thống đó lại bằng nút. Ông ta bỏ qua các công ty lớn nhất xếp hạng trên Fortune 100 để quan tâm các công ty không được xếp hạng. Để bù đắp cho người cho vay vì rủi ro cao hơn, trái phiếu thứ cấp có mức lãi suất cao hơn, đôi khi cao hơn 4,5-6% so với trái phiếu của các công ty blue-chip. Chúng có xu hướng đền bù cho người cho vay một khoản phí khá hời nếu người đi vay kiếm đủ tiền để trả các khoản nợ của mình trước hạn. Do vậy, khi công ty có lãi, giá trái phiếu thứ cấp tăng vọt lên như diều gặp gió. Và khi công ty đó thua lỗ, trái phiếu thứ cấp rớt thảm hại như thể tiên đoán trước việc vỡ nợ. Nói ngắn gọn, trái phiếu thứ cấp phản ứng giống như vốn cổ phần hoặc cổ phiếu hơn là những trái phiếu truyền thống.
Trong đó có những bí mật được giữ kín đến mức kinh ngạc về thị trường của Milken. Ban nghiên cứu của Drexel có mối quan hệ gần gũi với các công ty nên nó sở hữu được dữ liệu thực bên trong các công ty mà dù thế nào cũng không bao giờ đến được tới tay Salomon Brothers. Khi Milken kinh doanh trái phiếu thứ cấp, ông ta có thông tin nội bộ. Buôn bán cổ phiếu theo tin tức nội bộ là phạm pháp, như khách hàng cũ của Drexel – Ivan Beosky – là ví dụ. Nhưng không có luật nào như vậy về trái phiếu. (Trong lúc tiến hành soạn thảo, người viết luật cũng không thể hình dung rằng một ngày nào đó trái phiếu sẽ được sử dụng như cổ phiếu).
Không lấy gì làm ngạc nhiên, ranh giới giữa nợ và vốn cổ phần được khắc họa sâu sắc trong trí óc của một tay giao dịch trái phiếu của Salomon (vốn cổ phần ở Dallas!) lại trở nên bị phai mờ trong trí óc của một tay giao dịch trái phiếu Drexel. Sở hữu nợ của một tổ chức kinh doanh đang lung lay có nghĩa là nắm quyền kiểm soát vì khi một công ty không trả được lãi suất trái phiếu thì người nắm trái phiếu có thể tịch thu tài sản để thế chấp nợ và đóng cửa công ty đó. Michael Milken giải thích cô đọng điều này cho Meshulam Riklis, chủ nhân thật sự của công ty Rapid-American trong một bữa sáng cuối thập niên 1970. Milken tuyên bố rằng Drexel và khách hàng của mình, chứ không phải Riklis, đã kiểm soát được Rapid-American. “Điều đó làm sao có thể xảy ra khi mà tôi có tới 40% cổ phần?” Riklis hỏi.
“Chúng tôi có các trái phiếu trị giá 100 triệu đô-la của anh,” Milken nói, “và nếu anh không thanh toán dù chỉ một khoản nợ, chúng tôi sẽ lấy công ty.”
Những lời nói đó an ủi lương tâm của bất cứ nhân viên kinh doanh trái phiếu nào, như tôi, chán ngấy công việc bòn rút nhà đầu tư thay vì các công ty đi vay. Nếu anh không thanh toán dù chỉ một khoản nợ, chúng tôi sẽ lấy công ty. Dash Riprock nói: “Michael Milken đã đảo lộn giá trị kinh doanh từ trong ra ngoài. Ông ta chèn ép công ty đi vay thay mặt cho nhà đầu tư.” Những người đi vay bị chèn ép vì họ chẳng còn chỗ nào khác để đi, ngoài đến Milken vay tiền. Milken tạo cho họ cách tiếp cận những người cho vay. Những người cho vay, cùng với Milken, đã kiếm được tiền. Khẩu hiệu của Milken đối với họ là thế này: Hãy xây dựng một danh mục vốn đầu tư khổng lồ gồm các trái phiếu thứ cấp và không thành vấn đề nếu một trong số những trái phiếu này thua lỗ, bởi vì lợi nhuận cao hơn thu được từ các trái phiếu thắng lợi sẽ bù đắp vào phần lỗ ít ỏi của các trái phiếu thua cuộc. Milken nói với các tổ chức đầu tư rằng Drexel đã chuẩn bị để đầu cơ trái phiếu của các doanh nghiệp. Hãy tham gia cùng chúng tôi. Hãy đầu tư vào tương lai của Hoa Kỳ, những công ty nhỏ đang tăng trưởng sẽ làm chúng ta trở nên vĩ đại. Đó là một thông điệp mang tính đại chúng. Nhà đầu tư ban đầu mua trái phiếu thứ cấp cũng như nhà đầu tư mua trái phiếu thế chấp có thể kiếm được tiền và cảm thấy tự hào về mình. “Mỗi năm anh nên đến nghe cuộc nói chuyện của Milken tại buổi hội thảo về trái phiếu thứ cấp ở Beverly Hills,” một ủy viên quản trị Drexel nhận xét. “Nó có thể khiến anh chảy nước mắt.”
Không thể dự đoán chính xác có bao nhiêu tiền được chuyển cho Milken nhờ mục đích của ông ta. Nhiều nhà đầu tư đơn giản giao hết số vốn đầu tư của mình cho ông ta. Chẳng hạn Tom Spiegel của Tổ chức Tiết kiệm và Cho vay Columbia đã nghe theo thông điệp của Milken bằng cách lạm phát bảng cân đối kế toán của Hiệp hội từ 370 triệu đô-la lên 10,4 tỷ đô-la, phần lớn trong đó là trái phiếu thứ cấp. Về mặt lý thuyết, công ty này đi vay hàng tỷ đô-la trong tài khoản tiền gửi tiết kiệm để mua trái phiếu thứ cấp. Trước năm 1981, các quỹ tiết kiệm và cho vay gần như độc quyền về cho vay. Vì những khoản đặt cọc được Chính quyền Liên bang bảo đảm nên việc đầu tư này bị hạn chế. Vào năm 1981, khi họ bắt đầu thấy bối rối, Quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định để cho các quỹ tiết kiệm và cho vay thử đầu cơ để tự tìm ra lối thoát khỏi bế tắc. Và mặc dù điều đó có nghĩa là đang đánh bạc bằng tiền chính phủ nhưng họ vẫn được phép mua trái phiếu thứ cấp. Spiegel đã chi một khoản từ số tiền lãi đầu tư trái phiếu thứ cấp vào chương trình quảng cáo truyền hình để mọi người biết rằng Tổ chức Tiết kiệm và Cho vay Columbia là một nơi thận trọng cho dù bạn nghe thấy điều gì chăng nữa. Một người bé nhỏ mặc bộ vest màu xanh dương đang leo lên các thanh đồ thị để chứng minh tài sản của Columbia đang lên nhanh như thế nào.
Năm 1986, Tổ chức Tiết kiệm và Cho vay Columbia là một trong những khách hàng lớn nhất của Drexel. Lương của Tom Spiegel là 10 triệu đô-la và đây là người được trả lương cao nhất trong số 3.264 nhà quản lý quỹ tiết kiệm của Hoa Kỳ. Các nhà quản lý quỹ tiết kiệm và cho vay khác nghĩ Spiegel là một thiên tài và tiếp bước theo ông ta. “Có đến hàng hà sa số tổ chức tiết kiệm và cho vay nhỏ trên khắp đất nước hiện nay sở hữu trái phiếu thứ cấp,” một trong những anh bạn thực tập sinh cùng khóa đào tạo trước đây vừa nói tôi với vừa xoa tay bày tỏ niềm sung sướng. Anh ta rời Salomon vào giữa năm 1987 và như nhiều chuyên gia trái phiếu Salomon khác, anh ta đến làm việc cho Michael Milken tại Beverly Hills.
Kỳ cục là ở chỗ, một trong những lý do chính tại sao Salomon không lao vào thị trường trái phiếu thứ cấp ngay khi nó mới nổi lên đầu thập niên 1980 hay thành công về sau là do toàn bộ nền công nghiệp tiết kiệm và cho vay nằm trong tay khách hàng bất đắc dĩ của Lewie Ranieri thuộc Salomon. Nếu như Salomon trở thành nhà thầu lớn trong lĩnh vực trái phiếu thứ cấp, Bill Voute – trưởng ban trái phiếu công ty – có lẽ sẽ yêu cầu quyền tiếp cận ngang bằng với các khoản nợ và tiết kiệm. Lewie Ranieri sợ mất quyền kiểm soát các khách hàng tiết kiệm và cho vay của Salomon Brothers và đã tìm ra nhiều cách để phá hoại bộ phận trái phiếu thứ cấp nhỏ, non trẻ do Voute dựng lên năm 1981.
Năm 1984, ban trái phiếu thứ cấp gồm hai người của chúng tôi đã phát biểu tại một cuộc hội thảo của Salomon Brothers trước hàng trăm nhà quản lý các quỹ tiết kiệm và cho vay. Họ được bộ phận trái phiếu thế chấp mời đến để diễn thuyết trước các tổ chức tiết kiệm và cho vay. Nhưng sau ba tiếng trình bày, Ranieri đứng lên đọc lời bế mạc. Tất nhiên các khách hàng đều nuốt từng lời nói của ông, như tôi đã nói họ xem Lewie như là vị cứu tinh của họ. “Có hai điều mà các anh tuyệt đối không bao giờ nên làm,” Ranieri nói. “Và điều thứ nhất: mua trái phiếu thứ cấp là rất nguy hiểm”. Tất nhiên, ông ta có lẽ đã tin điều ấy. Nhưng cuối cùng thì các tổ chức tiết kiệm và cho vay không tin và những ý kiến phản đối của Ranieri chỉ làm mất uy tín của ban trái phiếu thứ cấp Salomon, đẩy các tổ chức tiết kiệm và cho vay vào vòng kiểm soát của Drexel. Và những người của Bill Voute tái mét vì bị làm bẽ bàng trước mặt các quan khách. Một người trong bộ phận trái phiếu thứ cấp trước đây của Salomon Brothers nhận xét tình huống đó “như kiểu được mời đi ăn tối và cuối cùng phát hiện ra mình là bữa tối”.
Cũng đội chuyên gia trái phiếu thứ cấp hai người ấy đã mất sáu tháng trời đi khắp nước Mỹ để có những cuộc gặp mặt giới thiệu với từng nhà quản lý quỹ tiết kiệm. “Đó là một cuộc giới thiệu tuyệt vời và chúng tôi được hưởng ứng mạnh mẽ, nhưng không ai gọi đến mua trái phiếu,” một chuyên gia trái phiếu thứ cấp trước đây của Salomon nói. Họ mong rằng các đơn đặt hàng mua trái phiếu thứ cấp sẽ đến sớm tiếp theo sau những cuộc gặp gỡ. Nhưng chẳng có một nhà quản lý tổ chức tiết kiệm và cho vay nào gọi điện đặt mua. “Về sau, khi một thành viên của đội nghỉ việc ở Salomon và sang Drexel làm cho Milken thì chúng tôi mới biết lý do tại sao,” người này nói. Khách hàng bảo với anh ta rằng một trong những tay bán hàng của Lewie đã đứng ngay đằng sau họ để khuyên các tổ chức tiết kiệm đừng tin chúng tôi. Điều này cho thấy khả năng lãnh đạo yếu kém trên tầng 41, và vì thế ban trái phiếu thế chấp đã ra đi mà không gây chú ý. Nhưng công ty chúng tôi là thế đấy.
Trong khi đó, thị trường mới bùng nổ. Tín hiệu về sự thành công của Milken là số lượng trái phiếu thứ cấp mới được phát hành. Từ con số 0 vào thập niên 1970, số trái phiếu thứ cấp đã được phát hành trị giá 839 triệu đô-la vào năm 1981 và lên tới 8,5 tỷ đô-la vào năm 1985, 12 tỷ đô-la vào năm 1987. Tới lúc đó trái phiếu thứ cấp đã chiếm 24% thị trường trái phiếu công ty. Từ năm 1980-1987, theo dịch vụ thông tin IDD, tổng giá trị trái phiếu thứ cấp trên thị trường đã lên tới 53 tỷ đô-la. Đó mới chỉ là một phần nhỏ của thị trường này bởi vì nó đã bỏ quên những thiên thần rũ cánh mới do con người tạo ra trị giá hàng tỷ đô-la, Milken nghĩ ra một cách để biến trái phiếu của những công ty bền vững nhất thành thứ cấp: phương pháp dùng đòn bẩy tài chính để thôn tính công ty.
Năm 1985, khi đã thu hút được 10 tỷ đô-la vào thị trường đầu cơ mới, Michael Milken phải đương đầu với tình trạng có nhiều tiền hơn là nơi để đầu tư vào. Điều đó chắc chắn đã gây khó xử cho ông ta. Đơn giản ông ta không thể tìm đủ những công ty nhỏ đang phát triển và những thiên thần rũ cánh già cỗi thích hợp để thu hút tiền mặt. Milken cần phải tạo ra trái phiếu thứ cấp để đáp ứng nhu cầu đó. Giả thiết ban đầu của ông ta là trái phiếu thứ cấp rẻ – bởi các nhà đầu tư quá nhát gan sẽ không mua chúng – đã tan thành mây khói. Hiện nay cầu vượt quá mức cung tự nhiên. Những số vốn khổng lồ của các quỹ khắp nước Mỹ đã được hiến cho một mục đích liều lĩnh không kiềm chế được. Milken và các đồng nghiệp của Drexel đã nghĩ ra giải pháp. Họ sử dụng trái phiếu thứ cấp để tài trợ cho việc thâu tóm các công ty bị định giá thấp, đơn giản bằng cách sử dụng tài sản của các công ty đó làm khoản thế chấp cho những người mua trái phiếu thứ cấp (giống như việc mua một ngôi nhà và dùng chính ngôi nhà đó làm tài sản thế chấp). Thôn tính một công ty lớn sẽ tạo ra hàng tỷ đô-la các trái phiếu thứ cấp. Bởi vì không chỉ có các trái phiếu thứ cấp mới được phát hành mà tính đòn bẩy tài chính ngày càng tăng của nó đã biến những trái phiếu đang lưu hành trên thị trường của các công ty lớn thành trái phiếu thứ cấp. Tuy nhiên, để thâu tóm các công ty, Milken cần một số sát thủ.
Công việc mới và lý thú là đánh chiếm các phòng quản trị trong công ty chủ yếu lôi cuốn các cá nhân có kinh nghiệm khiêm tốn trong kinh doanh nhưng nhiều tham vọng làm giàu. Milken đã tài trợ cho giấc mơ của từng nhà thôn tính doanh nghiệp như Ronald Perelman, Boone Pickens, Carl Incahn, Irwin Jacobs, James Goldsmith, Nelson Peltz, Samuel Heyman, Saul Steinberg và Asher Edelman. “Nếu không là người thừa kế, anh phải đi vay nó,” một người trong số này đã nói. Phần lớn trái phiếu thứ cấp được bán qua Drexel để tăng thêm tiền đột kích những pháo đài không thể tấn công được cho tới nay, như Revlon, Phillips Petroleum, Unocal, TWA, Disney, AFC, Crown Zellerbach, National Can và Union Carbide. Đây là một cơ hội bất ngờ, không chỉ đối với họ mà còn với cả Milken, vì chắc chắn ông ta không xem xét kỹ lưỡng về các doanh nghiệp Mỹ khi mường tượng về thị trường trái phiếu thứ cấp vào năm 1970. Đó là điều không thể. Vào thời điểm đấy, chẳng ai có thể hình dung nổi những công ty đó lại bị làm thấp giá trị.
Là một sinh viên tốt nghiệp Trường Kinh doanh London, tôi đã được dạy rằng các thị trường chứng khoán là hiệu quả. Hiểu rộng ra, điều đó có nghĩa là mọi thông tin đáng chú ý về các công ty đã được thể hiện ngay trong giá cổ phần của chúng – luôn được định giá công bằng. Một loạt nghiên cứu chứng minh rằng những nhà phân tích và môi giới thị trường chứng khoán có tin tức chính xác nhất, không giỏi hơn một con khỉ rút thăm trong chiếc mũ hay một người ném phi tiêu vào những trang báo của tờ Wall Street Journal – đã ngăn cản giới sinh viên nhìn nhận thực tế đáng buồn này. Hàm ý đầu tiên của lý thuyết thị trường hiệu quả là ở chỗ không có cách chắc chắn nào để kiếm tiền trên thị trường chứng khoán ngoài việc giao dịch dựa trên thông tin nội bộ. Milken và những người khác trên Phố Wall đã thấy rằng điều này không đúng. Thị trường có thể nhanh chóng tiêu hóa số liệu về báo cáo lợi nhuận nhưng lại phản ứng chậm khi đánh giá bất động sản hoặc quỹ hưu trí của một công ty.
Khó có thể giải thích tại sao lại vậy, và chẳng ai trên Phố Wall bỏ phí thời gian cố gắng giải thích điều đó. Đối với những nhân viên của ban thu mua và sáp nhập nhỏ của Phố Wall thì Michael Milken là một món quà của Chúa, một minh chứng cho thấy quyết định lựa chọn nghề nghiệp của họ là đúng đắn. Năm 1973, Joe Perella thuộc First Boston bắt đầu thành lập ban thu mua và sáp nhập của First Boston và thuê Bruce Wasserstein vào năm 1978, cùng các đồng nghiệp tận tâm với hoạt động thôn tính các công ty “chỉ dựa trên linh cảm”. Perella cho biết: “Có một cơ hội lớn nằm bên dưới lớp bụi. Anh sở hữu nguồn cung cấp ổn định từ các công ty có tài sản bị định giá thấp. Nhưng ít người mua. Còn những cá nhân muốn mua các công ty này lại không có tiền để thực hiện mong muốn của mình. Ai đó, chẳng hạn như Milken đã lùng sục vào và đá tung lớp bụi đó. Giờ đây bất cứ ai có một con tem 20 xu cũng có thể đặt giá mua một công ty.”
Perella, Wasserstein và vô số người khác ngoài Drexel bị bước ngoặt sự kiện lôi cuốn. Mỗi vụ thôn tính đòi hỏi tối thiểu hai cố vấn: một cố vấn cho kẻ săn mồi và một cố vấn khác cho nạn nhân xấu số. Vì vậy, Drexel không thể nắm giữ tất cả hoạt động kinh doanh mà nó đã tạo nên cho chính mình. Đa số giao dịch liên quan đến bốn ngân hàng đầu tư hoặc nhiều hơn và một số người mua cạnh tranh nhau lấy phần thưởng. Những kẻ săn mồi giống như hòn đá được ném vào cái ao tĩnh lặng. Họ gây ra những đợt sóng xô qua bề mặt của các công ty Mỹ. Quá trình do họ khởi đầu sẽ tự tiếp diễn chu kỳ sống của chính nó. Nhà quản lý điều hành các công ty đại chúng có tài sản bị định giá thấp bắt đầu xem xét việc mua lại các công ty ấy cho chính mình từ phía cổ đông. Ở châu Âu, thuật ngữ này được gọi là “thâu tóm hội đồng quản trị” (management buy-out, hay MBO), còn ở Mỹ người ta gọi là “mua lại dựa trên vay nợ” (levereged buy-out, hay LBO). Họ tự đặt mình vào cuộc chơi. Rốt cục các ngân hàng đầu tư Phố Wall cũng dính líu vào những việc Milken đã và đang lặng lẽ làm: nắm đa số cổ phần ở các công ty. Tài sản này rẻ. Tại sao để cho những kẻ khác lấy món hời đó nhỉ? Do vậy, dịch vụ kinh doanh tư vấn cho các vụ thôn tính công ty bất thình lình tăng vọt và có cùng tính chất xung đột quyền lợi giống với việc bán trái phiếu hàng ngày tôi phải đối đầu: Nếu là một vụ buôn bán có lợi thì các ngân hàng đã giữ nó cho chính họ, nếu là một vụ buôn bán tồi, họ sẽ cố bán nó cho khách hàng của mình.
Cho nên, nói cách khác, có rất nhiều hoạt động và cơ hội quanh đây. Các ban thu mua và sáp nhập mọc lên như nấm trên Phố Wall vào giữa thập niên 1980, đúng như cách các ban giao dịch trái phiếu xuất hiện liên tục một vài năm trước. Có một mối liên kết tài chính sâu sắc giữa hai ban. Cả hai đều thu hút mạnh mẽ mong muốn của các nhà đầu tư đầu cơ vào trái phiếu là vay nhiều hơn số tiền họ có thể dễ dàng trả. Tóm lại, chúng đều dựa trên một quan điểm hoàn toàn mới về vay nợ. “Mọi công ty đều có những người ngồi loanh quanh mà chẳng làm gì cho món tiền lương họ được trả,” Joe Perella nói. “Nếu họ gánh vác càng nhiều nợ, thì điều đó làm cho họ bớt béo.” Những chuyên gia thôn tính làm việc đó vì nợ còn Ivan Boesky làm việc đó vì tham lam. Nợ là tốt, nợ cũng có ích.
Ngoài ra, còn một mối liên hệ hành vi giữa hoạt động giao dịch trái phiếu và thôn tính công ty: đối với nhiều người kiếm sống trên Phố Wall trước đây, cả hai đều được điều hành bởi một tổ chức tài chính nhơ bẩn. Đây là những người khiến bạn nghĩ rằng cần đầu tư rất nhiều tư duy và kiến thức vào mỗi vụ thôn tính. Không phải vậy! Trên Phố Wall, nhân viên kinh doanh trong lĩnh vực thôn tính công ty không hề khác với tay giao dịch trái phiếu. Họ mất nhiều thì giờ để vạch ra chiến lược hơn là tự hỏi liệu có nên thực hiện phi vụ đó hay không. Về cơ bản, những người này cho rằng bất cứ việc gì khiến họ có thể trở nên giàu có thì chắc hẳn cũng tốt cho thế giới. Biểu tượng của thị trường thôn tính công ty là một thanh niên 26 tuổi sung sức và đầy hoài bão làm việc cho một ngân hàng đầu tư lớn của Hoa Kỳ đang mỉm cười và quay số gọi cho các công ty.
Quá trình thôn tính xảy ra rất đơn giản đến mức ghê rợn nếu xét theo tác động của nó đối với cộng đồng, nhân viên, cổ đông và ban quản trị. Một nhà máy sản xuất giấy tại Oregon có vẻ rẻ đối với một người độ tuổi 26 đang làm việc bằng máy tính vào ban đêm ở New York hay London. Anh ta viết kết quả tính toán lên trên một bức điện khẩn và gửi tới bất cứ nơi nào quan tâm đến sản phẩm giấy ở Oregon, hay thích thú mua lại các công ty giá rẻ. Giống như nhà tổ chức buổi ra mắt lần đầu, anh chàng thanh niên 26 tuổi này lưu giữ một tập hồ sơ trên bàn làm việc về những tổ chức này quan tâm đến tổ chức kia. Đặc biệt là anh ta không hề phân biệt đối xử trong việc đưa ra lời mời. Bất kỳ ai cũng có thể mua bởi vì bất cứ ai cũng có thể vay mượn trái phiếu thứ cấp. Nhà sản xuất giấy tại Oregon bây giờ đã trở thành mục tiêu.
Ngày hôm sau, nhà sản xuất giấy đọc thấy mình trên mục “Tin đồn trên Phố” của tờ Wall Street Journal. Giá cổ phiếu của anh ta dao động như một người bị treo cổ bởi những kẻ buôn bán dựa trên chênh lệch như Ivan Boesky đã bắt đầu mua cổ phiếu của nhà sản xuất giấy với hy vọng nhanh chóng kiếm được một khoản tiền bằng cách bán tống hết cho kẻ có ý định thâu tóm. Nhà sản xuất giấy hoảng sợ và thuê một ngân hàng đầu tư để bảo vệ mình. Năm nhân vật 26 tuổi khác ở năm ngân hàng đầu tư nhàn rỗi đã đọc được lời đồn đại và bắt đầu náo loạn lùng sục để tìm một người mua công ty giấy. Ngay khi người ta tìm thấy người mua thì công ty chính thức bị đưa vào “trò chơi”. Cùng lúc, một đội quân “những thanh niên trẻ hăng say” kiểm tra dữ liệu trên các máy tính để tìm kiếm xem liệu còn công ty giấy nào khác tại Mỹ đang bị định giá rẻ không. Không lâu sau, toàn bộ nền công nghiệp giấy bị đưa vào tầm ngắm.
Món tiền kiếm được từ các dịch vụ bảo vệ và tấn công các công ty lớn khiến cho hoạt động buôn bán trái phiếu giống như một trò chơi của kẻ ăn xin. Drexel thu được khoản phí trên 100 triệu đô-la cho mỗi vụ thôn tính. Năm 1987, Wasserstein và Perella kiếm được 385 triệu đô-la cho First Boston. Goldman Sachs, Morgan Stanley, Shearson Lehman và các ngân hàng khác không bỏ phí thời gian, nhảy vào cuộc làm cố vấn, và mặc dầu chẳng hãng nào có khả năng huy động vốn mạnh như Salomon song tất cả đều kiếm được những khoản tiền khổng lồ. Salomon Brothers chậm học hỏi về lĩnh vực thôn tính công ty và vắng mặt hẳn trên thị trường trái phiếu thứ cấp đã bỏ lỡ vận may đó. Không có lý do gì có thể giải thích điều này ngoài việc Salomon không sẵn sàng vươn ra khỏi lãnh địa buôn bán trái phiếu của mình. Chúng tôi đã có vị trí rất thuận lợi để bước vào lĩnh vực kinh doanh trái phiếu thứ cấp. Mối quan hệ gần gũi với các tổ chức cho vay quốc gia khiến chúng tôi lẽ ra đã phải trở thành kẻ đi đầu trong việc dồn vốn cho các vụ thôn tính.
Tất nhiên, chúng tôi có một lời bào chữa, chúng tôi phải bào chữa vì đã bỏ lỡ một cơ hội lớn như vậy. Lời bào chữa của chúng tôi là ở chỗ các trái phiếu thứ cấp là có hại. Henry Kaufman đã phản biện rằng các công ty Mỹ đang vay mượn quá mức và tính ham mê trái phiếu thứ cấp rồi sẽ đi đến kết thúc lụn bại. Có thể ông ta nói đúng, nhưng đó không phải lý do chúng tôi bỏ qua trái phiếu thứ cấp. Chúng tôi đã không bao tiêu các trái phiếu ấy bởi vì ban quản trị cao cấp của chúng tôi không hiểu chúng, và vào giữa cuộc nội chiến trên tầng 41, chẳng ai có thì giờ hay năng lượng để nghiên cứu.
John Gutfreund có thể giả vờ né tránh công việc kinh doanh này bởi vì ông ta không chấp nhận hậu quả do các công ty vay nợ có thể gây ra. Nhưng lời bào chữa đó không thuyết phục bởi vì về sau ông ta đã nhảy bổ vào lĩnh vực kinh doanh các công ty đi vay nợ, khiến chúng tôi và một số khách hàng lụn bại. (Cả John Gutfreund lẫn Henry Kaufman đều mua trái phiếu thứ cấp bằng tài khoản riêng của họ cùng lúc thuyết giáo về tính chân phương của công ty). Trong bất kỳ trường hợp nào, cho dù Salomon Brothers có tham gia hay không thì mọi công ty lúc này đều là mục tiêu tiềm năng đối với những chuyên gia thâu tóm của Milken, kể cả tập đoàn Salomon Brothers. Đó là sự mỉa mai cuối cùng về vụ đặt giá của Ronald Perelman. Chúng tôi đang bị một kẻ tự tài trợ cho mình bằng trái phiếu thứ cấp thâu tóm bởi vì Salomon đã ngu ngốc không bước vào lĩnh vực thôn tính công ty và tài trợ cho những cuộc thôn tính bằng trái phiếu thứ cấp.
Ngay sau khi tin tức về tham vọng của Perelman bộc lộ, Gutfreund đã phát biểu trước công ty rằng ông ta không tán đồng với những kẻ gây hấn và có ý định lánh xa Perelman, nhưng ngoài điều ấy ra, chúng tôi có thể tự đoán rằng, như thường lệ, người ta lại che giấu thông tin với chúng tôi. Chúng tôi dựa vào báo cáo điều tra của James Sternfold của tờ Wall Street Journal để nghiên cứu từng ngón đòn của sự việc.
Câu chuyện là thế này: Những giọt nước mắt lần đầu đã tuôn ra vào sáng Chủ nhật ngày 19 tháng 9, một vài ngày trước khi tin tức đó lộ ra. Vào buổi sáng hôm ấy, Gutfreund nhận được một cú điện thoại tại nhà từ người bạn của ông ta, luật sư Martin Lipton. Gutfreund đã sử dụng văn phòng của Lipton hai tháng trước khi sa thải Lewie Ranieri. Lipton biết rằng cổ đông lớn nhất của Salomon là Minorco đã tìm thấy một người mua cho số cổ phần 14% trong công ty. Tuy nhiên, danh tính người mua tuy nhiên vẫn còn là một điều bí ẩn. Gutfreund chắc hẳn đã hết sức lúng túng. Từ hàng tháng trước ông ta đã biết rằng Minorco muốn bán cổ phần đó nhưng rất chậm chạp xử lý sự việc. Đây là sự suy xét kém cỏi, hậu quả là ông ta đã mất kiểm soát trong quá trình. Khi đã chán ngấy Gutfreund, Minorco đã quảng cáo cổ phần của mình trong Salomon thông qua các giám đốc ngân hàng khác trên Phố Wall.
Vào thứ Tư ngày 23 tháng 9, Gutfreund được vị chủ tịch của Minorco cho biết kẻ mua đó là Revlon. Đấy rõ ràng là khởi đầu của một vụ thôn tính. Perelman của Revlon đã tuyên bố rằng ngoài cổ phần Salomon của Minorco, ông ta còn muốn mua thêm 11% cổ phần Salomon nữa để nâng tổng số cổ phần lên 25%. Nếu Perelman thành công, thì lần đầu tiên, Gutfreund sẽ mất quyền kiểm soát công ty.
Gutfreund vật lộn để tìm một người mua số cổ phần của Minorco thay cho Revlon.
Ông ta gọi điện cho Warren Buffet, một nhà quản lý tiền tệ khôn ngoan. Tất nhiên, Buffet mong đợi được trả công để cứu giúp Gutfreund, và Gutfreund đã đưa ra một thỏa thuận ngạc nhiên. Thay vì Buffet sẽ mua thẳng toàn bộ số cổ phần, Gutfreund chỉ đề nghị Buffet cho chúng tôi vay tiền. Chúng tôi, Salomon sẽ mua lại số cổ phần của chính mình. Và chúng tôi cần 809 triệu đô-la. Buffet nói rằng ông ta sẽ cho chúng tôi vay 700 triệu đô-la bằng cách mua cái gọi là trái phiếu Salomon Brothers. Chỗ đó là vừa đủ, Gutfreund có thể rút 109 triệu đô-la trong số tiền mặt của chúng tôi để bù đắp phần chênh lệch.
Các nhà đầu tư khắp thế giới ghen tỵ với Warren Buffet vì ông ta thắng cả hai đằng. Loại trái phiếu của ông được gọi là trái phiếu chuyển đổi ưu đãi có lãi suất 9%, chỉ chừng đó cũng đủ tạo nên lợi nhuận cho khoản đầu tư của ông. Ngoài ra, Buffet có thể chuyển đổi chúng vào bất cứ thời điểm nào trước năm 1996 thành cổ phiếu thường của Salomon với giá 38 đô-la/cổ phiếu. Nói cách khác, Buffet được thoải mái chơi miễn phí với những cổ phiếu của Salomon trong chín năm tới. Nếu Salomon Brothers tiếp tục chùn bước thì Buffet sẽ nhận 9% lãi của ông và mãn nguyện. Nếu bằng cách nào đó mà Salomon phục hồi được thì trước hết Buffet có thể chuyển đổi trái phiếu của ông thành cổ phiếu và kiếm được nhiều tiền như thể đã mua cổ phần của chúng tôi ngay từ đầu. Không như Ronald Perelman – kẻ muốn gắn mình với tương lai của Salomon Brothers bằng cách mua một lượng lớn cổ phần, Buffet đang đánh cược rằng Salomon sẽ không phá sản.
Vụ dàn xếp này để lại hai hậu quả. Nó đã duy trì được công việc của Gutfreund và gây tổn thất cho công ty chúng tôi, hay đúng hơn là cho cổ đông của Salomon rất nhiều tiền. Rốt cục, cổ đông Salomon phải trả tiền món quà tặng cho Buffet. Cách đơn giản nhất để xác định cái giá phải trả của chúng tôi là định giá trái phiếu của Buffet. Buffet đã trả cho Salomon Brothers 100 (ngang giá). Tôi bấm một vài con số vào chiếc máy tính hãng Hewlett-Packard của mình. Tôi tính (hết sức dè dặt) rằng Buffet có thể bán nó ngay lập tức được 118. Chênh lệch giữa 100 và 118, hay 18% tổng số vốn đầu tư của Buffet, là của trời cho thật sự. Nó lên tới 126 triệu đô-la. Tại sao cổ đông (và nhân viên Salomon Brothers – giả sử phần nào trong số lãi đó trích từ tiền thưởng của chúng tôi) lại phải thanh toán hóa đơn để cứu một nhóm người không thèm nhìn vào quả bóng khi đá? Đó là câu hỏi đầu tiên chợt nảy ra trong óc tôi và nhiều vị giám đốc điều hành.
Vì lợi ích của Salomon Brothers, Gutfreund giải thích về việc đặt giá của Perelman: “Tôi bị sốc, Perelman chỉ là một cái tên đối với tôi; nhưng tôi cảm thấy rằng xét trên phương diện mối quan hệ với khách hàng, lòng tin và sự tín nhiệm của họ, cơ cấu của Salomon Brothers sẽ không thể hoạt động hiệu quả khi có ai đó bị coi là kẻ thôn tính công ty.”
Ngoại trừ câu đầu tiên, lời tuyên bố này sai từ đầu chí cuối. Trước hết chúng ta hãy lấy phần cuối. Mối quan hệ của chúng tôi với khách hàng đã không sứt mẻ chút nào khi có một cổ đông đến từ Nam Phi, vậy tại sao nó phải sứt mẻ khi liên quan tới một kẻ thôn tính? Tôi không quan tâm đến giá trị đạo đức của việc phân biệt chủng tộc hay thôn tính thù địch. Nhưng tối thiểu người ta phải chấp nhận rằng sự phân biệt chủng tộc ít nhất cũng nguy hiểm tương đương sự thôn tính thù địch. Công việc kinh doanh của chúng tôi thậm chí có thể hưởng lợi nhờ liên kết với một kẻ gây hấn. Các công ty lo sợ bị thôn tính khi họ thấy những người hậu thuẫn của chúng tôi có lẽ đã đặt cọc cho Salomon, đúng như từng đặt cọc cho Drexel Burnham theo kiểu trả trước tiền công bảo vệ. Một khi Perelman là cổ đông lớn, chúng tôi có thể hứa danh dự để anh ta (và bạn bè của anh ta) tách khỏi sự hậu thuẫn của những kẻ khác. Tôi tin chắc Perelman hoàn toàn nhận biết hành động phối hợp này khi anh ta dự tính mua một ngân hàng đầu tư.
Thứ hai, việc một người trên Phố Wall đề cập đến Ronald Perelman vào tháng 9 năm 1987 như “một cái tên đối với tôi” là điều ngớ ngẩn. Mọi người đều biết Ronald Perelman là ai. Lạy Chúa, tôi biết Ronald Perelman là ai trước khi tôi bắt đầu làm việc ở Salomon Brothers. Từ hầu như chẳng có gì, hắn ta đã góp nhặt được một tài sản lên đến 500 triệu đô-la bằng cách thôn tính các công ty với tiền đi vay và sa thải ban quản trị tồi tệ. Gutfreund chắc chắn biết rằng những ngày tại vị của ông ta được đếm trên đầu ngón tay nếu Perelman nắm quyền điều khiển Salomon Brothers. Và nếu nhờ một điều kỳ diệu nào đó mà Gutfreund không biết thì ông ta sẽ hiểu ngay khi gặp Perelman ở khách sạn Plaza Athenee tại New York vào ngày 26 tháng 9. Lời đồn đại sửng sốt đã loan đi trong phòng ăn của các vị giám đốc điều hành trên tầng 42 rằng người thay thế Gutfreund sẽ là Bruce Wasserstein.
Xét trong hoàn cảnh ấy, phương pháp Gutfreund thuyết phục ban quản trị Salomon Brothers trả cho Warren Buffet một khoản tiền lớn để ông này ra tay như một hiệp sỹ bảo vệ chính nghĩa cho chúng tôi là hết sức khôn ngoan. Theo luật pháp, ban quản trị phải xem xét quyền lợi của cổ đông. Vào ngày 28 tháng 9, Gutfreund nói với ban quản trị rằng nếu ủy ban từ chối kế hoạch của Buffet và thiên vị về Ronald Perelman thì ông ta (cùng với Tom Strauss và một số người khác) sẽ từ chức. “Tôi không bao giờ nêu ra việc đó như một lời dọa nạt,” về sau Gutfreund nói với Sterngold, “Tôi đang nói sự thật.”
Một khía cạnh thiên tài của Gutfreund là khả năng che giấu sự tư lợi của ông ta dưới chiêu bài nguyên tắc đạo đức cao. Đôi khi hai yếu tố đó không thể phân biệt được với nhau. (Có một điều mà tôi đã học được trên Phố Wall, đó là khi một tay giám đốc ngân hàng đầu tư bắt đầu bàn về nguyên tắc đạo đức thì ông ta đang bảo vệ quyền lợi cho chính mình và hiếm khi bàn về vấn đề đạo đức trừ phi tin rằng điều đó có lợi cho bản thân). Thậm chí có thể John Gutfreund thật sự cảm thấy hoảng sợ trước chiến lược tài chính của Ronald Perelman – một con người nhạy cảm – và không nghi ngờ gì khi tuyên bố với sự tin tưởng của một nhà truyền giáo. Gutfreund có sức thuyết phục rất cao. Nhưng ông ta chẳng mất gì khi đặt cược chiếc ghế chủ tịch của mình vì không còn gì để mất và sẽ có tất cả mọi thứ nếu thắng trong cuộc đua này; còn một khi Perelman là người thắng cuộc, Gutfreund sẽ bị sa thải trước khi có dịp để từ chức.
Bằng chứng trong quá khứ cho thấy Gutfreund có thể từ chức. Cách đây vài năm, cũng trong tình huống tương tự, Gutfreund đã hành động như vậy. Cuộc họp công ty vào giữa thập niên 1970 đã xảy ra một sự thay đổi lạ thường. William Simon (cạnh tranh với Gutfreund về chức chủ tịch của Salomon, thay thế người tiền nhiệm Billy Salomon) đã nêu lên rằng các thành viên của Salomon có thể trở nên giàu có như thế nào nếu họ bán cổ phần của mình và biến Salomon từ một công ty cổ phần tư nhân thành một công ty cổ phần đại chúng.
Billy Salomon nghĩ rằng tính hợp danh (cổ phần tư nhân) là mấu chốt cho sức mạnh của Salomon và là cơ chế duy nhất đảm bảo lòng trung thành của nhân viên công ty (“Nó kết nối họ lại như một gia đình,” ông nói). Khi Simon dừng nói, Gutfreund đã lên tiếng và mạnh mẽ lặp lại ý kiến của ông chủ. Ông ta tuyên bố rằng nếu công ty bị bán đi, các thành viên có thể thấy đơn từ chức của ông ta. John Gutfreund sẽ ra đi bởi vì mấu chốt cho sự thành công của Salomon Brothers là tính hợp danh. “Đó là một trong những lý do chính khiến tôi đưa Gutfreund lên thay mình,” William Salomon giải thích.
Tuy nhiên, một khi có quyền kiểm soát và nắm cổ phần lớn nhất trong công ty, Gutfreund đã thay đổi quan điểm. Tháng 10 năm 1981, ba năm sau khi mọi quyền kiểm soát rơi vào tay Gutfreund, ông ta đã bán công ty với giá 554 triệu đô-la cho đối tác Philbro một hãng phân phối và bán lẻ hàng hóa. Vì là chủ tịch, ông ta hưởng lợi nhiều nhất nhờ thương vụ đó, khoảng 40 triệu đô-la. Ông ta giải thích rằng công ty cần có vốn. William Salomon không đồng ý: “Công ty đã có quá đủ vốn rồi. Chủ nghĩa vật chất của hắn ta thật ô nhục”. (Do vậy Gutfreund hiện nay đang phải trả giá vì điều đó. Nếu như Salomon vẫn còn là một công ty cổ phần tư nhân thì đã không có khả năng bị thôn tính).
Dù sao chăng nữa, lời đe dọa từ chức của Gutfreund cũng ảnh hưởng đến các ủy viên của Salomon Inc. Nó đánh lạc hướng chú ý của họ từ thực trạng quyền lợi kinh tế đơn giản, điều có lợi cho Perelman, sang trách nhiệm xã hội của Salomon Brothers. Bên cạnh đó, phần lớn họ đã được Gutfreund bổ nhiệm chức vụ và đều là những người bạn của ông ta. Sau hai tiếng, ban quản trị quyết định chấp nhận đề nghị của Gutfreund. Warren Buffet tiến hành cuộc đầu tư, Gutfreund vẫn giữ được ghế và Perelman vẫn giữ tiền trong túi.
Hoạt động của công ty gần trở lại bình thường trong một vài tuần lễ, nhưng lại dấy lên một câu hỏi cơ bản về Salomon Brothers. Tất cả chúng tôi đều biết rằng công ty được điều hành rất yếu kém. Nhưng liệu có đến mức thậm chí một tên cướp biển như Perelman cũng có thể hy vọng cải thiện được? Thực ra, có một câu hỏi khác có lẽ chính xác hơn nảy lên trong bộ óc của những kẻ mà lâu nay xem đồng tiền như là thước đo thành công, chắc chắn ghen tỵ không chỉ với Perelman mà còn với Wasserstein, Perella và Milken nữa. Đặc biệt là Michael Milken. Câu hỏi của ngày đó trên tầng 41 là: Làm sao hắn ta lại kiếm được 1 tỷ đô còn tôi thì không?
Câu hỏi này đã đẩy chúng tôi vào đúng trung tâm của những gì xảy ra trong nền tài chính Hoa Kỳ vài năm qua. Đối với Milken, không phải Salomon Brothers đã thực hiện giao dịch lớn nhất thời kỳ ấy. Tất nhiên, giao dịch đó là mua và bán các công ty Hoa Kỳ. Salomon đã bỏ lỡ sự thay đổi lớn trong kinh doanh, đó là chuyển từ buôn bán trái phiếu sang buôn bán toàn bộ các ngành công nghiệp.

