Nền Kinh Tế Xanh Lam - Chương 1+2
CHƯƠNG MỘT. NHỮNG NGUỒN VĨNH CỬU CHO CÁC THÁCH THỨC CỦA THỜI ÐẠI CHÚNG TA
Có người mơ thoát khỏi thực tế.
Có người mơ thay đổi thực tế vĩnh viễn.
– Soichiro Honda
Quyển sách này nói về sự chấp nhận một ý thức mới, một điều không khó lắm, nếu như chúng ta sẵn sàng từ bỏ những lề thói cũ và tiếp nhận những thói quen mới. Nó là tiếng đánh thức những ai trong chúng ta cảm thấy không thể nào bỏ qua các cơ may độc nhất vô nhị được. Các khả năng phía trước chúng ta sẽ có tác động tốt hơn – ngay bây giờ. Phải ngay bây giờ. Sinh thái học bề sâu [1] , văn hóa lưu niên [2] và sự bền vững là những quan niệm đã gieo mầm mống ban đầu của tư tưởng xanh. Các quan niệm ấy dạy cho chúng ta biết đánh giá cao nguyên vật liệu tái tạo trong những cấu trúc và sản phẩm của chúng ta. Mặc dù chúng ta bắt đầu hiểu tầm quan trọng của những quá trình bền vững, nhưng ít ai biết cách làm cho chúng khả thi về mặt kinh tế. Nếu chúng ta bắt đầu hiểu và vận dụng khả năng tuyệt vời, tính kinh tế và sự đơn giản của tự nhiên, thì chúng ta có thể mô phỏng tính tiện dụng gắn liền với cái logic của các hệ sinh thái và đạt kết quả mà những ngành công nghiệp toàn cầu hóa hiện nay không thể nào có được.
VẬT LÝ HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN
Vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ vật lý. Mọi sự sống và mọi vật quanh ta đều vận hành theo các định luật vật lý hoàn toàn có thể đoán trước được. Mối quan hệ thiết yếu giữa các định luật, lý thuyết vật lý và những điều kiện cần thiết cho việc sản xuất, tiêu dùng và sống còn của chúng ta không được quan tâm cho lắm trong lớp học vật lý hiện tại. Nhưng chính nhờ quan sát các nguyên lý vật lý học mà chúng ta hiểu được những thay đổi nhỏ của áp suất, nhiệt độ và độ ẩm có thể tạo ra những sản phẩm nổi bật như thế nào. Với vẻ đẹp mắt, sự đơn giản và tính hiệu quả, các sản phẩm ấy làm lu mờ những thành quả của kỹ thuật biến đổi gien. Thay vì dùng thủ thuật tác động vào sự sống sinh học, chúng ta hãy tìm nguồn cảm hứng từ cách thức tự nhiên sử dụng vật lý.
Ngay từ một phần tỉ giây đầu tiên của sự sáng thế, vũ trụ và thế giới của chúng ta, rồi đến quá trình tiến hóa của muôn loài đều chịu sự tác động và tạo hình của những lực mạnh mẽ nhất: nhiệt độ và áp suất. Trong khuôn khổ các lực vật lý cơ bản – trọng lực, điện từ, phóng xạ cường độ cao và thấp – các loài sinh vật đã phản ứng, tác động lẫn nhau, đã trải qua quá trình tiến hóa và trở nên đa dạng khác thường. Các hệ sinh thái hình thành được chia sẻ bởi hàng triệu loài độc nhất vô nhị hoạt động trong vương quốc của vật lý và sinh hóa, đồng thời phát triển dần về mặt sinh học.
Nếu quan sát mọi vật trong tự nhiên học cách lợi dụng vật lý như thế nào, chúng ta sẽ thấy rất lạ lùng. Có lẽ đó là vì các định luật vật lý không có ngoại lệ, ngược lại với ngữ pháp của ngôn ngữ tự nhiên hay sinh vật học. Mặt trời mọc mỗi sáng, táo rụng xuống đất, những trường áp suất tạo ra gió. Trong lĩnh vực hóa học, tất cả đều thay đổi theo nhiệt độ, áp suất và chất xúc tác. Còn việc cá ngựa đực đẻ con chứng tỏ rằng sinh học lúc nào cũng có ngoại lệ .
Nhiều nhà khoa học thừa nhận rằng cách đây mấy tỉ năm, sự sống trên trái đất đã tiến hóa và thích ứng trong điều kiện tương đối ổn định của vùng nước bao quanh, nhiệt độ và áp suất không khí. Mọi loài sinh vật đã học cách hoạt động với những gì hiện có tại chỗ. Được tạo hình bởi các định luật không thể tránh khỏi của vật lý, mọi loài với cuộc hành trình kéo dài hàng tỉ năm trên con đường tiến hóa đã biết cách vượt qua những thách thức để sống còn, chỉ sử dụng những gì chúng có được và làm những gì chúng có thể làm tốt nhất.
Khi một đứa trẻ chào đời, trên con đường đi tới cuộc sống riêng biệt, nó cũng trải qua một sức nén khủng khiếp, phải chui qua một khe chỉ rộng 10 phân để ra ngoài thế giới thở khí trời. Ngực và vai đứa nhỏ bị ép mạnh đến nỗi tất cả chất lỏng bị đẩy ra khỏi buồng phổi. Nhờ phổi trống rỗng, lần đầu tiên đứa nhỏ có thể hít không khí vào. Sức nén ấy là một chuẩn bị không thể thiếu cho đời sống, nó đem lại cảm giác căng thẳng nhưng mặt khác, cũng cho phép thưởng thức vẻ đẹp của sự chào đời. Mọi sự sống đều tương tự như thế. Khi một con bướm rời cái kén, một người quan sát kiên nhẫn sẽ thấy nó phải đấu tranh khó khăn như thế nào, lâu cả mấy tiếng đồng hồ để hoàn tất quá trình biến đổi thành một con vật có cánh xinh đẹp. Trước đây, một số nhà quan sát khoa học đã cắt kén của một con bướm để nó dễ dàng ra khỏi lớp vỏ bọc cứng. Họ nhận thấy con vật không bay được và đã chết non trong chốc lát sau khi ra đời mà không phải chịu đau đớn. Như vậy, sức ép có thể được xem như sự dẫn dắt vào đời, chất xúc tác cho các động lực phức tạp của hình dạng và chức năng, từ sức căng bắp thịt đến khả năng bơm máu của trái tim, đến việc vận động khớp xương và hít thở không khí.
Dường như khủng hoảng là một hình thức khác của sức ép có khả năng truyền sinh lực cho chúng ta để đạt những giải pháp mới. Nó cũng nhắc chúng ta nên thưởng thức cái đẹp của cuộc sống.
LÃNG PHÍ
Sau một tỉ năm tiến hóa các loài, chỉ có con người khôn ngoan ( homo sapiens ) mới tìm cách kiểm soát cân bằng động của tự nhiên vốn chịu tác động của các lực vật lý. Chúng ta thu hoạch năng lượng để sử dụng tùy ý – ban đầu là lửa, rồi đến nhiên liệu hóa thạch và nguyên tử lực. Chúng ta khai thác và nhào nặn vật chất để làm nên phát minh thông thường đáng lưu ý nhưng cũng có khi không được như vậy. Tuy nhiên, những thành tựu của thời đại công nghiệp đã làm căng thẳng sức chịu tải của hành tinh chúng ta. Việc sản xuất hoang toàng và tiêu dùng phung phí đem lại những điều ngoài ý muốn chúng ta và hủy hoại hay gây tổn hại cho những gì các hệ thống tự nhiên đã tạo ra trong hàng ngàn năm. Chúng ta đang ở ngã ba đường và phải xem xét các khả năng lựa chọn cho tương lai. Chúng ta sẽ sống hòa hợp với Trái Đất và các loài sinh vật ở đó hay tiếp tục hành vi tiêu thụ và phá hủy xấu xa? Chúng ta sẽ chung sống hài hòa và hữu ích hoặc tự tiêu diệt mình như chúng ta đã bắt đầu tiêu diệt nhiều loài khác hay chết ngợp trong sự thừa mứa vô ích và lượng rác thải to lớn của chúng ta?
Gần một trăm ngàn loại phân tử khác nhau cấu thành dầu hỏa được sử dụng trong quá trình tổng hợp nhiên liệu, chất dẻo, vật liệu xây dựng hay những sản phẩm khác trong vô số sản phẩm hóa dầu mà chúng ta tiêu dùng hằng ngày. Tuy nhiên, dòng thải kèm theo thành tựu tốt đẹp ấy có thể nhìn thấy khắp mọi nơi. Không còn che giấu được nữa cái giá môi trường phải trả cho việc chiết xuất và tinh chế dầu, cũng như tác động lớn lao đến biến đổi khí hậu của carbonic thải vào không khí và gánh nặng khủng khiếp của chất thải tích tụ từ các sản phẩm hóa dầu. Chất dẻo tạo thành bởi các phân tử nối đồng hóa trị với nhau chắc hẳn là một phát minh đáng kể. Thế nhưng các phản ứng tổng hợp chất dẻo đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ áp suất, nhiệt độ và chất xúc tác, các phản ứng đó tạo ra nhiều sản phẩm cấu thành bởi những đại phân tử rất khó phân hủy. Trong một khu vực rộng lớn ở Thái Bình Dương, chất dẻo thải bỏ đã tích tụ thành những hòn đảo lớn chỉ có thể phân rã dần. Giờ đây hạt chất dẻo đã xen lẫn vào cát bãi biển. Chất thải polyme ngoan cố ấy đã tràn ngập những bãi chôn rác khổng lồ. Bạn thử nghĩ xem: một chai nhựa vứt bỏ có thể tồn tại hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm trong bãi rác! Chắc chắn chúng ta có thể làm tốt hơn thế.
Nhiều ngành sản xuất dựa vào nông nghiệp cũng tạo ra một lượng chất thải quá lớn như thế. Nhà máy bia chỉ sử dụng tinh bột từ lúa mạch và loại bỏ phần còn lại. Trồng lúa chỉ để lấy hạt, những phần khác, nhất là rơm rạ bị xem như chất thải. Bắp canh tác cũng chỉ dùng hạt làm thức ăn gia súc, chất dẻo hay nhiên liệu sinh học. Cả ba ngành sản xuất giành nhau cái hạt nhỏ ấy nên giá bắp tăng vụt. Vì vậy nhiều người dân các nước đang phát triển ở châu Mỹ La tinh không còn khả năng mua arepas hay tortillas , những thức ăn chính để chống đói của họ. Rồi đến cà phê, ngoại trừ nhân hạt, các phần còn lại đều bị để cho thối rữa; hay việc sản xuất mía chỉ dùng 17% làm đường, còn phần lớn thì đốt bỏ. Đốn cây lấy xenluloza làm giấy, nhưng hơn 70% sinh khối của nó bị thiêu hủy. Đứng đầu danh sách phát thải khí nhà kính là metan thoát ra từ phân bò sữa thối rữa vì không được xử lý. Bất cứ khi nào chúng ta không biết làm gì với “chất thải” thì chúng bị loại bỏ. Điều đó hoàn toàn tương phản với cách thức hoạt động của các hệ sinh thái trong tự nhiên.
Đa số các ngành công nghiệp của chúng ta đều tạo ra khối lượng rác rất lớn. So với khu dân cư, lượng chất thải phát sinh từ việc khai thác mỏ, sản xuất và phân phối sản phẩm nhiều gấp 71 lần. Ngoài ra, còn có chất thải hạt nhân, đất trộn lẫn kim loại nặng, nước ngầm nhiễm crom, bãi chôn rác đầy ứ những chai nhựa vứt bỏ. Cặn bã từ sự tiêu dùng của chúng ta được chôn ở những khu đất tập trung và được thiêu hủy khi khối lượng tích tụ quá lớn. Thật giả dối nếu nói rằng đốt rác sẽ tạo ra năng lượng. Phần nhiều rác được thiêu hủy chỉ giảm khối lượng vì nước trong đó bốc hơi. Ngoại trừ nước ra, đa số các thành phần của rác đều tồn lại.
Hằng năm ở Hoa Kỳ, ước tính chi phí dành riêng cho việc vận chuyển rác đến các bãi chứa lên đến con số gây sửng sốt là 50 tỉ đô la. Nếu cộng thêm chi phí thu gom, chuyên chở, phân loại và vứt bỏ chất thải từ ngành xây dựng, nông nghiệp, khai thác quặng mỏ và công nghiệp thì phí tổn vượt quá mức khó tin được là một ngàn tỉ đô la. Như vậy, số tiền chi cho rác hàng năm nhiều hơn gói kích thích kinh tế năm 2008 của cả nước Mỹ, và cũng nhiều hơn thâm hụt ngân sách to lớn ở châu Âu do chính phủ các nước này phải bơm số tiền tương đương vào các ngân hàng suy yếu. Trong khi những khoản tiền hỗ trợ hàng ngàn tỉ này được coi là một hoạt động hữu ích cho nền kinh tế quốc gia, thì rõ ràng việc quản lý rác quá tốn kém quả là vô ích và tạo ra những việc làm chẳng khi nào nên xếp vào loại thân thiện với môi trường. Sử dụng đất làm chỗ chứa rác là điều bất hợp lý. Không thể chấp nhận nước rỉ độc hại và chi phí ngăn chận nó – một chi phí mà toàn xã hội phải trả, chớ các công ty không được yêu cầu phải khấu trừ vào lợi nhuận của họ.
Trong hai thế kỷ, mô hình kinh tế phổ biến ấy đã kích thích chu kỳ bất tận của tăng trưởng, tiêu thụ và vứt bỏ, đã nuôi dưỡng sự thèm muốn vô độ của cải vật chất mà để có được xã hội phải mang nợ chồng chất không biết bao giờ mới trả được. Chúng ta quá ham muốn đạt được tất cả bằng tiền vay dễ dàng của ngân hàng và mua những gì chúng ta thường không cần đến. Trong khi đó, nhu cầu to lớn và quan trọng, nhất là của người dân ở các nước đang phát triển lại không được đáp ứng. Mức cầu của thế giới về nước uống và thức ăn hằng ngày đã vượt quá khả năng cung cấp của trái đất cho rất nhiều gia đình. Mặc dù đạt được nhiều lợi ích, các phương tiện hiện có của chúng ta không thể đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người. Lối sống và lòng ham muốn vật chất của chúng ta đòi hỏi phải sản xuất ngày càng nhiều năng lượng hơn với nhiên liệu hóa thạch, hạt nhân và cả hệ thống quang voltaic (cần nhiều năng lượng đầu vào) cũng như tuabin gió (cần điện để khởi động). Chúng ta có thể – chúng ta phải – làm tốt hơn.
Trong mười năm qua, nhiều nhà môi trường học và kinh tế học lỗi lạc đã kêu gọi các nước công nghiệp giảm mạnh cường độ sử dụng nguyên vật liệu của mình. Trước khi họ lên tiếng đã có yêu cầu tăng hiệu quả năng lượng được diễn đạt hết sức rõ ràng trong quyển “Hệ số bốn” (Factor Four) của Ernst Ulrich von Weizsäcker, quyển sách đã trở thành một Báo cáo cho Câu lạc bộ Rome. Với khái niệm “dấu chân sinh thái” [3] , William Rees đã cung cấp một phương tiện đánh giá nhu cầu của con người so với khả năng tái tạo của môi trường sinh thái. Khái niệm ấy được đưa vào từ điển thuật ngữ và mô tả việc sử dụng vật chất quá đáng của chúng ta bằng một lối ẩn dụ dễ hiểu. Nếu không thay đổi hành vi, chúng ta cần hơn hai trái đất để duy trì mức sản xuất và tiêu dùng hiện tại cũng như chứa rác thải tích tụ mà chúng ta không thể bỏ ở nơi nào khác. Nền kinh tế đang suy thoái, không phải chỉ vì sự tan rã của thị trường tài chính, nơi mà tiền bạc lưu chuyển một cách bí ẩn. Hệ thống kinh tế của chúng ta bị stress vì thế giới vật chất của chúng ta hoạt động trên cơ sở những nguồn lực chúng ta không có và rác thải mà chúng ta không biết chôn lấp nơi nào. Có lẽ việc đầu tiên chúng ta cần phải thay đổi là ngưng sản xuất và tiêu dùng những gì không thật sự cần thiết, những gì tạo ra chất thải không ai muốn, nhất là chất thải độc hại cho chính chúng ta và các sinh vật cùng sống với chúng ta trên hành tinh này.
CHÀO ĐÓN RÁC THẢI NHƯ THẾ NÀO
Có lẽ chúng ta sẽ hiểu việc thải rác không phải là vấn đề chúng ta phải giải quyết. Nếu một sinh vật không tạo ra rác, rất có thể nó không còn sống hoặc ít ra cũng mắc bệnh rất nặng. Vấn đề cần xử lý ở đây là chúng ta đã phung phí rác mà chúng ta thải ra. Bạn hãy lưu ý rằng quá trình biến đổi rác thành thực phẩm vừa tiêu dùng vừa sản xuất năng lượng. Trong khi chúng ta lúc nào cũng tìm nguồn năng lượng cho những ứng dụng thương mại cũng như trong gia đình thì các hệ sinh thái không bao giờ cần nối điện. Không một thành viên nào của một hệ sinh thái phải sử dụng nhiên liệu hóa thạch hay điện lưới để có đầu ra; và cũng không một hệ thống tự nhiên nào lại xả rác. Trong tự nhiên, chất thải từ quá trình này luôn luôn là chất dinh dưỡng, vật liệu hay nguồn năng lượng cho một quá trình khác. Mọi thứ đều nằm trong dòng dinh dưỡng. Do đó, bằng cách áp dụng các mô hình quan sát được ở một hệ sinh thái, chúng ta có thể tìm thấy giải pháp không chỉ cho các vấn đề ô nhiễm môi trường mà còn cho tình trạng thiếu hụt trong kinh tế nữa. Có lẽ chúng ta sẽ có khả năng xoay chuyển tình thế lưỡng nan bằng cách mở rộng tầm nhìn của chúng ta và từ bỏ khái niệm chất thải.
Với ngành hóa học xanh, polyme có nguồn gốc từ dầu hỏa sẽ được thay thế bằng các hợp chất cao phân tử làm bằng nguyên liệu tự nhiên như tinh bột, axit aminô, đường, linhin, xenluloza và nhiều chất khác nữa. Ngày nay, phải thừa nhận rằng chúng ta có thể lấy cảm hứng từ các hệ thống tự nhiên không những cho sản phẩm mà ngay cả cho quá trình sản xuất nữa. Thay vì đổi một bộ phận hay một thành phần độc hại bằng một yếu tố ít độc hơn, nếu chúng ta mô phỏng cách thức hệ sinh thái tự nhiên sử dụng mọi thứ thì sẽ đạt được những hệ thống bền vững vừa cung cấp việc làm vừa hiệu quả hơn những ngành công nghiệp thải nhiều rác. Điều đó nghĩa là khi chế tạo một sản phẩm − một màu tự nhiên hoặc một vật liệu xây dựng hay một bề mặt kị nước − chẳng những chúng ta nhận thức được tác động qua lại của nó với môi trường, nhưng còn thành công về mặt kinh tế và giành được thị phần đáng kể nữa.
Côn trùng sa mạc, nhện và rong biển hoàn thiện nhiều giải pháp độc đáo có thể thay thế những sản phẩm độc hại thông dụng bằng những sản phẩm có nguồn gốc từ vật liệu tái sinh thực sự. Những giải pháp đó thật quan trọng vì chúng cải thiện rõ rệt đời sống hằng ngày của chúng ta, đồng thời giảm thiểu mức độ ô nhiễm. Các ngành công nghiệp kiểu cũ thải chất độc và hoạt động không hiệu quả sẽ mất sức cạnh tranh và do đó sẽ không còn khả năng sử dụng lao động. Lý tưởng là khi cả quy trình sản xuất, tiêu dùng và sau tiêu dùng đều trở nên bền vững. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho sự chuyển đổi cơ bản sang Nền Kinh tế Xanh lam. Bước đầu tiên là tìm cách chuyển hóa chất thải thành lợi ích kinh tế và nhận dạng những nguồn vào phổ biến, giá rẻ vì chúng ít hoặc không có giá trị đối với các thành viên khác trong hệ thống. Đó là cách thức hoạt động của tự nhiên.
Dưới sự lãnh đạo của Hiroyuki Fujimura, công ty Nhật Bản Ebara Corporation bắt đầu theo đuổi một chiến lược “phát thải số không” chẳng để cái gì thành chất thải. Mọi vật − kể cả rác thải − đều phải tạo ra giá trị. Tập đoàn Ebara đã tài trợ và ủng hộ GS. Toshihito Shirai thuộc Viện Công nghệ Kyushu trong cuộc tìm kiếm giải pháp cho việc chế tạo chất dẻo theo logic của dòng thác dinh dưỡng và năng lượng. Shirai và ê kíp của mình đã phát triển một quy trình sử dụng một loại nấm chuyể̉n hóa tinh bột từ thức ăn thừa của nhà hàng thành axit polylactic ở nhiệt độ môi trường xung quanh. Quả thật họ đã tìm ra phương pháp chế tạo chất dẻo từ rác thải nhà bếp! Mặc dù nguyên liệu của họ là tái tạo và có nguồn gốc nông nghiệp, họ không bao giờ gây khó khăn cho việc cung cấp lương thực chủ yếu như cách sử dụng bắp để sản xuất nhiên liệu sinh học hay chất dẻo phân hủy sinh học. Chất thải cũng không bị vứt ra bãi rác, nơi nó trở thành nguồn phát tán khí metan.
Biểu đồ 1. Chất thải thực phẩm: nguyên liệu làm chất dẻo
Các nhà lãnh đạo công nghiệp có cơ hội để đạt những kết quả tương tự trong lĩnh vực xà phòng và chất tẩy phân hủy sinh học. Những chất hoạt hóa bề mặt chế biến từ đường ( alkyl-polyglucoses ) và chủ yếu dùng trong công nghiệp dược cho ta loại xà phòng lý tưởng, khác với loại làm bằng dầu cọ. Một khả năng lựa chọn khác nữa là dùng d-limonene, một tác nhân làm sạch chiết xuất từ vỏ quả họ chanh cam. Nếu như ngành công nghiệp từ bỏ việc sử dụng hóa chất và sáp để bảo quản trái cây hàng tháng trời hay vận chuyển trên đường dài, thì “chất thải” từ việc sản xuất nước chanh, cam có thể dùng làm thức ăn gia súc hay nguyên liệu để chế biến péctin (một tác nhân làm đông) và tạo giá trị lớn hơn khi được sử dụng để sản xuất xà phòng thực sự phân hủy sinh học.
Ngành chế tạo giấy cũng có khả năng lựa chọn giống như thế. Theo truyền thống, xenluloza và linhin được xử lý bằng nhóm chất alkali-sulfates. Ngoại trừ xenluloza, quá trình chia tách gỗ truyền thống ấy đốt cháy tất cả mọi thứ bằng phản ứng hóa học, nên chỉ còn sợi gỗ thương mại là đầu ra duy nhất. Còn cặn bã được biết dưới tên “dung dịch đen” (black liquor) thì bị thiêu hủy. Giáo sư Janis Gravitis thuộc Viện Nghiên cứu Hóa học Gỗ ở Riga (Latvia), đã nghiên cứu những quy trình sản xuất giấy khác, kể cả việc tạo ra một nhà máy tinh lọc sinh học nhằm chiết xuất tất cả các thành phần của cây để dùng trong thương mại, từ xenluloza, hemi-xenluloza cho đến linhin và chất béo. Một khi các nhà khoa học và kỹ sư công nghiệp bắt đầu thiết kế những quy trình lưu chuyển chất dinh dưỡng để chất thải của ngành này là nguyên liệu sẵn có cho một ngành khác, thì chúng ta gần đạt tới sự thiết kế toàn hệ thống hơn.
Căn cứ vào những khả năng thay thế không có tác động hay sản phẩm phụ (side effect) độc hại, đã đến lúc phải thúc đẩy các nhà khoa học và doanh nghiệp chấp nhận những quy trình sản xuất bền vững. Công nghiệp và thương mại cần được hỗ trợ để có thể nhận biết cơ hội kinh doanh gắn liền với một cách tiếp cận như thế, cũng như thấy rõ giá trị của những môi trường hỗ trợ sức khỏe và đời sống.
ĐẠT TỚI SỰ PHONG PHÚ
Những người hoài nghi có thể biện luận rằng việc mô phỏng các hệ sinh thái tự nhiên chỉ có thể thành công nếu vượt qua được mọi khó khăn, nhưng trên thực tế, các hệ thống ấy được thiết kế theo một cách khó có thể thất bại. Các hệ thống tự nhiên cung cấp những mô hình sản xuất hiệu quả và tiêu dùng đúng mực có khả năng hoạt động tốt và rất hấp dẫn. Mặc dù chúng ta hết sức ngưỡng mộ và ca tụng một loài sinh vật cá thể, nhưng chính các hệ sinh thái đa dạng trên khắp thế giới mới cho thấy những cách thức hiệu quả để đáp ứng nhu cầu cơ bản của mọi người bằng những gì có được ở địa phương.
Đó là một nguyên tắc căn bản của Nền Kinh tế Xanh Lam tương phản với cách thức hoạt động trong giai đoạn hiện tại của lịch sử kinh tế, khi một hệ thống được thiết kế bằng những gì chúng ta không có. Bạn hãy dừng lại, ngẫm nghĩ: mọi hệ sinh thái đều đạt tới tình trạng tự túc. Mặc dù ban đầu chúng ta có thể cảm nhận sự khan hiếm nhưng nếu nhìn kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy một thực tế phong phú và đa dạng. Càng phong phú chừng nào, nó càng cho nhiều đầu ra hơn với số đầu vào ít hơn và tính đa dạng cũng sẽ lớn hơn. Các hệ sinh thái không phát triển thành cơ chế độc quyền với một ít đấu thủ chi phối tất cả. Chúng phô bày những đặc tính gần với điều kiện thị trường mà nhà sáng lập kinh tế học hiện đại Adam Smith đã đề xuất: hàng ngàn đấu thủ điều chỉnh chính xác hoạt động của mình, như thể có một bàn tay vô hình hướng họ đến sự phân phối và sử dụng nguồn lực tốt nhất.
Những kỹ sư và nhà nông học bác bỏ mô hình toàn hệ thống vì cho là nó không thực tế chắc chưa biết đến những dự án đáng lưu ý đã đạt nhiều kết quả ấn tượng. Sản lượng cao với ít vật liệu đầu vào, tiêu dùng năng lượng thấp, và trong đa số trường hợp, hệ thống sản xuất vượt mức nhu cầu. Tăng cường sức khỏe, an ninh lương thực, nước uống là những lợi ích bổ sung – nhưng chẳng phải không quan trọng. Sự lưu chuyển dưỡng chất và năng lượng liên tục từ loài này sang loài khác trong một khuôn khổ do các định luật vật lý tạo ra đã chứng tỏ là nó có thể được áp dụng trong một bối cảnh công nghiệp.
Các ngành công nghiệp hiệu quả cao của Nền Kinh tế Xanh Lam có khả năng tạo công ăn việc làm cho mọi người đã bắt đầu hiện ra nơi chân trời. Chúng dựa vào cách thức tự nhiên dùng vật lý và sinh hóa để xây dựng toàn bộ hệ thống hoạt động tốt, lưu chuyển nhiều thực phẩm và năng lượng, chuyển đổi dễ dàng theo một chu trình khép kín không chất thải hay thất thoát năng lượng. Những lực mạnh mẽ như thế không chỉ quy định các thông số của đời sống trên trái đất mà còn giúp phát triển chính cái đời sống ấy nữa. Khi đi từ nhận thức đơn thuần đến việc xem xét một chu trình tái tạo, cả chúng ta cũng có thể có những hành vi và hoạt động thực tiễn nhằm bảo đảm cho nhu cầu cơ bản của mọi người được đáp ứng và hành tinh xanh của chúng ta cùng tất cả các sinh vật trên đó tiến tới một tương lai tốt đẹp hơn bao giờ.
* * *
[1] Khuynh hướng triết học mà A. Naess là đại diện, xem nhân loại là một bộ phận khăng khít của thiên nhiên và cho rằng môi trường cũng có quyền sống và phát triển như con người.
[2] Hệ thống thiết kế sinh thái được tạo ra nhằm đưa tính bền vững vào mọi khía cạnh của đời sống con người, đặc biệt chú trọng đến việc quy hoạch, tổ chức và bảo tồn nơi sinh sống lâu dài, cũng như việc sản xuất lương thực, cung cấp điện, phân vùng cảnh quan và xây dựng cơ cấu xã hội tốt đẹp hơn.
[3] “Dấu chân sinh thái” so sánh mức tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên của một nước, một vùng hay của trái đất với khả năng đáp ứng (tương đương với khả năng tái tạo sinh học) của nước ấy, vùng ấy hay của trái đất.
CHƯƠNG HAI. MÔ PHỎNG CÁC HỆ SINH THÁI CHO NỀN KINH TẾ XANH LAM
Motanai (Không phung phí thì không túng thiếu)
– Tục ngữ Nhật Bản
Một nền kinh tế phồn thịnh hết sức cần thiết cho sự bền vững. Nhưng ngược lại, nếu không có tính bền vững thực sự thì không một nền kinh tế nào có thể tiếp tục hoạt động được. Trong ý nghĩa đó, có lẽ bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng giải pháp cho nền kinh tế bất ổn hiện nay nằm trong sự hiểu biết và áp dụng logic của các hệ sinh thái. Lúc nào tự nhiên cũng cho thấy tính kinh tế thực sự − và tính bền vững thực sự. Nếu như chúng ta phát triển kinh tế theo tự nhiên, chúng ta có thể sử dụng năng lượng và tài nguyên một cách hiệu quả và không có chất thải, đồng thời tạo ra hàng trăm triệu việc làm. Các mô hình hệ sinh thái cung cấp chìa khóa cho sự thịnh vượng và phương tiện để chia sẻ với mọi người. Một hệ thống kinh tế lấy cảm hứng từ các hệ sinh thái sẽ hoạt động với những gì có được ở địa phương, chẳng hạn như những nguồn năng lượng tự nhiên thể hiện trước hết và chủ yếu các định luật vật lý. Khoa học vật lý mô tả các lực tiềm ẩn mà mọi loài trên trái đất sử dụng một cách năng động. Sự thông hiểu điều đó là con đường dẫn đến trạng thái bền vững. Chuyển đổi tình trạng suy thoái kinh tế hiện tại bằng cách mô phỏng cái logic nằm trong các hệ sinh thái sẽ cho phép chúng ta đáp ứng các nhu cầu cơ bản và thiết lập Nền Kinh tế Xanh Lam, một nền kinh tế thực sự phồn thịnh.
Mô phỏng tính hiệu quả của các hệ thống tự nhiên trong hoạt động và sử dụng vật chất là một phương pháp thực tiễn nhằm đạt tới sự bền vững và tính hiệu quả cao, đồng thời giữ sức cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng. Sự lưu chuyển chất dinh dưỡng và năng lượng là một đặc tính hài hòa khác của hệ sinh thái mà chúng ta rất muốn mô phỏng. Đó là phương pháp mà tự nhiên dùng để biến đổi tình trạng khan hiếm giả tạo thành đầy đủ rồi cuối cùng thành thừa thãi. Chúng ta có thể hình dung thác nhiều tầng như một thác nước, một dòng dinh dưỡng tự chảy mà không cần năng lượng, chỉ cần trọng lực thôi. Nó là một ẩn dụ tượng hình giúp chúng ta hiểu cách thức dưỡng chất được chuyển từ loài sinh vật này sang loài khác, vì lợi ích chung của mọi loài. Chất khoáng hấp thu trong đất nuôi vi sinh vật, vi sinh vật nuôi cây, cây lại nuôi các loài khác, với chất thải của loài này là chất dinh dưỡng của loài khác. Lưu chuyển năng lượng và dưỡng chất theo mô hình thác nhiều tầng dẫn đến sự bền vững bằng cách giảm bớt hoặc bỏ hẳn những đầu vào như năng lượng, đồng thời loại trừ chất thải (và chi phí xử lý), không phải chỉ vì vấn đề ô nhiễm, mà còn vì đó là cách sử dụng vật chất không hiệu quả.
Trên khắp thế giới có nhiều thí dụ kinh doanh thành công, vững vàng đã minh họa cách thức nền Kinh tế Xanh lam đem lại lợi ích chẳng những cho đất nước mà còn cả cho người dân nữa, với kết quả là mọi người đều có được an ninh lương thực, an toàn sinh kế và nghề nghiệp. Chúng ta có thể xem biến đổi đáng kể của làng Las Gaviotas trên thảo nguyên Vichada (Columbia) do Paolo Lugari thực hiện. Chúng ta có thể nghiên cứu dự án về an ninh lương thực và sinh kế ở Benin (Tây Phi) được hoàn thành bởi tu sĩ Godfrey Nzamujo. Chúng ta có thể quan tâm đến tầm nhìn rộng của Håkan Ahlsten và cư dân đảo Gotland về việc gìn giữ, phục hưng đất nước và văn hóa của họ; hay nỗ lực của làng Picuris Pueblo trong việc biến gỗ có đường kính nhỏ dễ bắt lửa thành nguyên liệu cho một hệ thống sinh học tổng hợp tạo ra việc làm, lương thực, chất đốt và vật liệu xây dựng một cách lâu dài. Các công việc ấy có điểm chung là sự mô phỏng cái thác nhiều tầng lưu chuyển dưỡng chất của tự nhiên và việc sử dụng những nguồn năng lượng vận hành theo các định luật vật lý. Cũng thế, mỗi công việc đều đạt tới an ninh lương thực và năng lượng, đồng thời tạo ra nhiều lợi ích, gồm cả chi thu lành mạnh, giảm cường độ vật liệu và tiết kiệm năng lượng.
THIÊN ĐÀNG HỒI PHỤC
Khi Paolo Lugari đề nghị biến đổi thảo nguyên Vichada ở Columbia thành rừng mưa như xưa, không ai nghĩ điều ấy có thể thực hiện trên cơ sở khoa học đang thịnh hành lúc bấy giờ. Một dải đất thảo nguyên hẹp phía tây sông Orinoco hoàn toàn vô giá trị. Đất chua (độ pH thấp); nước không uống được; đất, nước, không khí đều không dễ tiếp cận. Ai lại muốn mua, dù chỉ một mẫu Anh (acre) thôi? Đất được phân phối với giá hỗ trợ khoảng 2,50 đô la mỗi mẫu Anh. Ngân hàng Thế chấp Trung ương Columbia (Banco Central Hipotecario) tài trợ. Dù không có cả kinh nghiệm lẫn nguồn tài chính, Lugari kiên trì trồng cây, áp dụng một phương pháp sáng tạo để phục hồi đất thảo nguyên khô cằn, cạn kiệt, biến nó thành một vườn Địa đàng tươi tốt với tính đa dạng sinh học nhiệt đới. Ngày nay, một phần tư thế kỉ sau đó, Lugari chào mừng khách đến thăm khu rừng mưa nguyên sinh rộng 20.000 mẫu Anh. Lugari và ê kíp của mình khám phá ra rằng quan hệ cộng sinh giữa nấm rễ (mycorrhizal fungi) và thông Caribe (Pinus caribaea) không chỉ bảo đảm sự sinh tồn của 92% cây giống con mà còn thay đổi những thuộc tính địa lý của cả vùng nữa. Như thế nào vậy?
Khi được trồng trong một cơ chất chứa nhiều nấm Pisolithus tinctorius , những cây thông con Caribe tạo ra một khoảng râm mát riêng biệt bảo vệ đất và rễ cây khỏi tia tử ngoại của mặt trời. Mặc dù còn phải chịu stress vì nóng khiến lá thông rụng thành một tấm thảm dầy, thông vẫn phát triển cho tới lớn nhờ được nấm nuôi dưỡng. Thảm lá thông cải thiện độ ẩm của đất, đồng thời giữ những mảnh vụn phân hủy thành com-pốt không bị nước cuốn đi. Điều quan trọng là lớp phủ ấy cũng làm giảm nhiệt độ của đất. Vì khi nước mưa rơi xuống đất nóng, nó không thể thấm qua cả bề mặt xốp nên dễ dàng cuốn trôi đất hơn, gây ra nạn xói mòn. Nhưng nếu đất mát hơn, nước mưa có khả năng thấm vào lớp nền. Như vậy, độ thấm nước của đất tăng lên đã tạo ra một môi trường giữ chặt hạt giống mới. Cùng với sự phát triển của khu rừng mới, tính đa dạng sinh học cũng cao hơn và nước mưa dồi dào hơn. Vùng thảo nguyên khô cằn với nước uống kém chất lượng và đất quá chua giờ đã trở thành một rừng mưa có nước uống thừa thãi cũng như đất màu mỡ, hết sức thuận lợi cho sự nảy nở tươi tốt của giới thực vật.
Biểu đồ 2. Sự cộng sinh giúp phục hồi rừng mưa
Khi một nhóm làm phim Nhật Bản đến Gaviotas để ghi lại điều khó tin được đã quan sát thấy những đám mây bay đến gần rồi lơ lửng trên thảo nguyên. Lúc những đám mây này trôi trên phạm vi mát mẻ của khu rừng, họ rất ngạc nhiên vì chứng kiến một cơn mưa gây khoan khoái, dễ chịu. Thật vậy, khu rừng xanh tốt mát hơn cánh đồng hấp thu sức nóng. Khi nhiệt độ mặt đất thấp, hơi nước trong mây dễ ngưng tụ thành mưa hơn. Đã qua rồi 450 năm phát quang, đốt rừng làm rẫy và trồng những loại cỏ xâm hại để nuôi trâu bò, giờ đây trong thiên đàng mới của Las Gaviotas, nấm và cây cối phát triển tốt nhờ sống cộng sinh một cách hài hòa, tạo điều kiện tái sinh cho cả khu rừng.
Bất kể những chuyển đổi khí tượng và chất lượng đất đáng kinh ngạc, có lẽ kết quả đáng ca tụng nhất là sự tăng giá trị của đất. Đất có năng suất là đất tốt. Trong thời gian 21 năm, mỗi mẫu Anh đất thảo nguyên biến thành rừng mưa, nếu chỉ tính nước uống, thực phẩm thu hoạch từ rừng và sinh kế có được, đã tăng giá trị gấp khoảng 3.000 lần.
Trước khi phục hồi, cư dân sống quanh vùng Las Gaviotas không có cơ may tìm được việc làm. Họ thường mắc bệnh đường tiêu hóa, không thể có nước uống an toàn và khó tiếp cận dịch vụ y tế. Nhưng chỉ một thế hệ sau thôi, nước đã là tài sản chung được phân phối miễn phí. Nước dư thừa bán cho người giàu ở Bogota – họ sẵn sàng trả số tiền tương đương với giá một chai nước nhập khẩu San Pellegrino hay Evian – đem lại cho Las Gaviota một nguồn thu nhập chưa bao giờ có.
Thôi thúc bởi các thành quả của Las Gaviotas: chi thu lành mạnh, danh mục các công nghệ mà giấy phép sử dụng được cấp cho khắp thế giới, tiền lương rộng rãi và phúc lợi cho cộng đồng địa phương với 2.000 dân, William B. Harrison Jr., chủ tịch công ty dịch vụ tài chính JP Morgan đã ủng hộ việc mở rộng diện tích làng từ 20.000 thành 250.000 mẫu Anh. Trên cơ sở phân tích những thị trường mới nổi của JP Morgan, ông đưa ra đề nghị một gói đầu tư trị giá 300 triệu đôla với tổng thống Columbia Alvaro Uribe. Một sáng kiến phát triển như thế có thể tạo ra 100.000 việc làm trong thập kỉ tới, đồng thời cân đối lượng phát thải carbonic của những nước như Bỉ và Hà Lan.
Biểu đồ 3. Mô hình Las Gaviotas
Ở nơi mà các dịch vụ công và doanh nghiệp truyền thống chẳng bao giờ đem lại lợi ích cho dân cư địa phương, thì tầm nhìn rộng và công việc mở đường của một người đã đáp ứng được nhu cầu của người dân. Việc chăm sóc xã hội và môi trường theo lý tưởng doanh nghiệp ấy được hoàn thành nhờ đã mô phỏng các quá trình hệ sinh thái. Thành công của Las Gaviotas cho thấy rõ là ảnh hưởng qua lại giữa áp suất, nhiệt độ, sức căng bề mặt, khả năng dẫn nhiệt, từ trường và nhiều hơn nữa đã khiến mưa rơi, cây cối phát triển. Một khi đã hiểu các mối liên kết động và sự nối liền những tấm thảm thêu của tự nhiên thì chúng ta sẽ có được những cách tiếp cận mới.
AN NINH LƯƠNG THỰC Ở CHÂU PHI
Trung tâm Songhai ở Porto Novo, thủ đô nước Benin, Tây Phi, được quản lý bởi Godfrey Nzamujo, một tu sĩ dòng Dominic. Năm 1985, chỉ một năm sau khi Paolo Lugari triển khai kế hoạch tái trồng rừng Las Gaviotas, cha Nzamujo đảm trách chương trình đẩy lùi nạn đói và cung cấp thực phẩm cho người châu Phi. Chương trình bắt đầu trên vài mẫu Anh đất đầm lầy do cựu tổng thống Benin cấp. Ngày nay, sau một phần tư thế kỉ, nó đã xoay chuyển tình thế, biến suy thoái môi trường thành một hỗ trợ mạnh mẽ cho an ninh lương thực và sinh kế ở châu Phi.
Dưới sự hướng dẫn của cha Nzamujo, Songhai phát triển thành một hệ thống lưu chuyển dưỡng chất và năng lượng như thác nước nhiều tầng nhằm đạt những kết quả đáng kể. Nước thải cả xám lẫn đen từ nhà vệ sinh, việc giặt rửa cũng như mọi chất thải của người và thú đều được thu gom vào một bể phân hủy có ba ngăn. Lục bình, một loại cây xâm hại ở địa phương, được cắt nhỏ và cho vào bể phân hủy. Trong đó, hỗn hợp sinh khối tạo ra khí metan, cung cấp năng lượng cho địa phương. Sau quá trình khoáng hóa, phần sinh khối còn lại trở thành đồ ăn cho phiêu thực vật, phiêu động vật và sinh vật đáy; những loài này lại được dùng để nuôi cá trong dự án nuôi trồng thủy sản. Thiết kế bể phân hủy cho phép xử lý sinh khối và sản xuất gas ở mức độ cao, giống như biến đổi đột ngột axit - kiềm trong cơ thể chúng ta để chống vi khuẩn gây hại. Độ pH chuyển từ axit trong bể phân hủy sang độ kiềm cao ở ao trồng tảo ở gần đó. Bổ sung bởi ánh sáng mặt trời, vi khuẩn kị khí hỗ trợ vi tảo trong việc biến đổi mạnh mẽ CO 2 thành oxy, hoàn thành thiết kế hệ thống của tự nhiên nhằm loại trừ mầm bệnh. Giáo sư George Chan, người đã hiến trọn đời cho việc thiết kế những hệ thống canh tác và quản lý chất thải tổng hợp như thế có thể tự hào về các kết quả ấy.
Songhai đối mặt với một thử thách lớn về vệ sinh khác nữa: ruồi nhặng. Mặc dù có tính đến khả năng phun chất hóa học nhưng việc ấy không được phép thực hiện ở một môi trường sản xuất thực phẩm có kỳ vọng đạt nhãn sinh thái. Chiến lược của cha Nzamujo thật khác thường. Cha tìm đến con dòi, ấu trùng của ruồi, để giải quyết vấn đề.
Tất cả mọi thứ thải bỏ từ lò sát sinh ở trung tâm Songhai được thu gom vào một khu đặc biệt gồm hàng trăm bồn xi măng vuông chỉ sâu một gang tay và được bao bọc hoàn toàn bởi những con kênh nuôi cá chép. Một tấm lưới khổng lồ bao trùm khu ngoài trời ấy để ngăn chim bay vào. Mắt lưới chỉ lớn vừa đủ cho ruồi lọt qua. Ruồi sinh sôi nảy nở trên những thứ mà lò mổ thải bỏ vì không thể dùng làm đồ ăn được. Đám tiệc dành cho ruồi này đã biến khu đất thành một trại nuôi dòi to lớn với công suất mỗi tháng gần một tấn. Vậy mà không còn thấy một con ruồi nào ở những nơi khác của trung tâm nữa. Mọi con ruồi đều bu lại nơi có cái thứ đối với chúng là món cháo dinh dưỡng ngon lành, ăn ngốn ngấu rồi đẻ vô số trứng. Sau một thời gian, người ta phun nước vào chất thải đã được tiêu hóa phần lớn để dòi nổi lên trên và dễ thu hoạch hơn.
Có thể làm gì với dòi ư? Trước hết, người địa phương dùng nó để làm thức ăn rẻ tiền cho cá và chim cút. Cả cá lẫn trứng cút đều góp phần vào việc dinh dưỡng đầy đủ và an ninh lương thực của họ. Tuy nhiên, các enzim trong con dòi lại có tiềm năng tạo giá trị kinh tế lớn hơn. Chúng có đặc tính được chứng minh là chữa lành vết thương bằng cách kích thích tăng trưởng các tế bào sợi. Nhưng làm thế nào để có thể chiết enzim mà dòi vẫn còn sống để nuôi cá và chim cút? Một giải pháp vô cùng đơn giản: Ngâm dòi trong nước muối thì nó sẽ mửa ra enzim!
Đây lại là một thiết kế hệ sinh thái rất khéo léo. Mục tiêu ban đầu của cha Nzamujo là ngừa bệnh bằng một phương pháp trừ ruồi tự nhiên.
Giải pháp đó lại cung cấp enzim chữa bệnh một cách tự nhiên và hiệu quả. Trong khi sinh học và sinh hóa của con dòi cho thấy những đặc tính chữa bệnh, theo một giả thuyết mới, các enzim của nó phát ra một xung điện hầu như không thể đo được mà người ta chưa phát hiện vì không có máy móc thích hợp. Xung điện ấy kích thích sự phục hồi tế bào, thúc đẩy quá trình lành bệnh. Con dòi biết cách áp dụng các định luật vật lý (điện và từ tính) để làm vết thương mau lành.
Phương pháp chữa trị bằng dòi, đặc biệt cho người mắc bệnh đái đường, được nhiều chính phủ trên khắp thế giới chấp nhận. Một dạng “sạch” – không có dòi – có cơ may được cấp giấy phép nhanh để ra thị trường. Điều này sẽ rất được hoan nghênh vì nguyên nhân chính của các ca giải phẫu cưa cắt ở châu Phi là những vết thương không được chữa trị.
MỘT HÒN ĐẢO BỒNG BỀNH GIẤC MƠ
Gần một ngàn năm trước, các nhà buôn lớn nhất của Florence và Nga đã xây dựng nhà thờ và kho hàng ở Gotland, một hòn đảo tuy nhỏ nhưng đặc biệt nằm giữa biển Baltic. Đến thăm Visby, thành phố chính trên đảo, du khách sẽ có những ấn tượng khó quên. Bức tường đá lớn bao quanh thành phố không những chứa đựng nhiều tòa nhà và đại giáo đường lịch sử mà còn nhiều truyền thống nữa.
Đến thế kỉ hai mươi mốt, cư dân đảo đấu tranh tìm phương hướng đạt sự phồn vinh trong nền kinh tế toàn cầu hóa. Có vẻ như du lịch là khả năng lựa chọn duy nhất. Thật vậy, với gần một triệu khách trong năm, du lịch góp phần lớn nhất cho nền kinh tế của Gotland. Trong kỳ nghỉ hè, số cư dân địa phương tăng gấp mười lần, để rồi lại tụt xuống như cũ trong suốt thời gian còn lại của năm.
Tuy vậy, người dân ở đây lại muốn kiến tạo một tương lai cho quê hương của họ, nhất là cho các thế hệ tương lai; nếu không, các thế hệ này sẽ rời đảo sớm như có thể. Tầm nhìn của họ là xây dựng một cộng đồng bền vững phù hợp với các nguồn lực của địa phương, xứng đáng với bối cảnh những thành tựu lịch sử to lớn của nó và sự công nhận là Thành phố Di sản Thế giới của UNESCO. Theo lời mời của GS. TS. Carl-Göran Hedén, một thành viên của Hàn lâm viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, cộng đồng đã cùng với sinh viên, chuyên gia ngân hàng, nhà lập chính sách, nhà nghiên cứu và doanh nhân làm một bài tập hình dung để tìm giải pháp.
Bất cứ quan sát viên nào tìm kiếm những cơ hội phát triển khác với du lịch đều tập trung ngay vào vùng nông thôn. Với những nhà thờ và nhà tư nhân tuyệt đẹp, phong cảnh đồng quê được tạo hình một cách đáng yêu qua nhiều thế kỷ. Một trăm năm trước, khi củ cải đường được du nhập vào đảo, việc sản xuất nó phát triển thành một ngành công nghiệp mới. Tuy nhiên, khi quá trình toàn cầu hóa được củng cố, nhà máy đường phải đóng cửa vì không đủ sức cạnh tranh nữa. Không có khả năng nào khác để tiếp tục nghề nông, ngoại trừ cà rốt. Nổi tiếng với màu hung đỏ, cà rốt Gotland có được vị ngon tuyệt nhờ đất trên đảo có tính kiềm. Mặc dù không gặp vấn đề gì trong khi sản xuất, nhưng việc bán cà rốt từ một đảo nằm giữa biển Baltic là một thách thức. Hơn nữa, những nhà cung cấp các cửa hàng thực phẩm thường loại ra một lượng lớn nông sản không đáp ứng tiêu chuẩn ngặt nghèo của họ.
Cư dân đảo đã phát triển một phương pháp sáng tạo dựa vào lợi thế của sự lưu chuyển chất dinh dưỡng trong tự nhiên, đồng thời tạo ra giá trị và việc làm. Håkan Ahlsten, chuyên gia ngân hàng ở địa phương, thích ý tưởng làm một sản phẩm đơn giản: bánh cà rốt nướng. Sẵn có một nguyên liệu dồi dào, tươi tốt để sử dụng, thì không thể nào bỏ qua một doanh nghiệp sản xuất bánh cà rốt được. Sau khi đạt thỏa thuận, họ nhanh chóng tạo một công thức làm bánh cà rốt ngon lành. Bánh nướng Gotland đông lạnh rất được ưa chuộng trên khắp nước Thụy Điển và ngay cả ở nơi xa xôi như châu Á nữa. Trong vòng năm năm, số lao động ở hiệu làm bánh địa phương đã tăng vọt từ năm lên tới ba mươi.
Sáng kiến quan trọng kế tiếp bắt nguồn từ ý muốn đạt giá trị thị trường lớn hơn bằng cách sử dụng toàn bộ vụ mùa cà rốt. Ông Yngve Anderrson, một công dân đáng trọng khác của Gotland, đã đầu tư vào việc thiết kế và xây dựng một trung tâm phân loại cà rốt, nơi mà gần cả sản lượng có thể được tồn kho, phân loại và chế biến bằng máy móc tối tân.
Lượng cà rốt to lớn được phân ra nhiều loại riêng biệt bằng máy. Mỗi loại được đóng gói một cách khác, từ cà rốt tí hon đến cà rốt thon dài, cà rốt mập và lùn, đến loại củ có hình dáng khác thường. Đáng ngạc nhiên là cà rốt tí hon rửa sạch và đóng gói trước kia xem như chẳng có giá trị nào trên thị trường vì quá nhỏ, nay lại bán được nhiều gấp bốn lần cà rốt thông thường. Những củ to nhất không được đóng gói mà dùng để ép lấy nước, một thị trường ngách đem lại nhiều lợi nhuận. Thú vị thay, những củ cà rốt to nhất lại cho nhiều nước nhất – 40% nhiều hơn bình thường nếu tính theo thể tích. Thay vì thải bỏ, bã cà rốt được dùng làm đồ ăn lý tưởng cho heo.
Việc phân loại cà rốt nhằm tạo giá trị cao hơn lại đặt ra nhiều thách thức lớn. Máy móc chỉ có thể kham nổi việc chế biến toàn bộ sản lượng cà rốt nếu hoạt động đều trong cả năm, chớ không tập trung vào mùa thu hoạch chỉ kéo dài sáu tuần lễ. Tuy nhiên, chế biến suốt 12 tháng đòi hỏi phải đầu tư vào việc làm lạnh kho chứa hàng ở nhiệt độ bất biến là 0 o C. Khi tính khả thi của công cuộc kinh doanh này được chứng minh bằng giá bán cao hơn, thì thách thức kế tiếp là việc đáp ứng nhu cầu năng lượng hết sức lớn lao của hoạt động cả năm.
Khi xem các con số và biểu đồ liên quan, ông Yngve Andersson quyết định chấp nhận mạo hiểm, chỉ sử dụng năng lượng gió để cung cấp điện cho xí nghiệp. Toàn bộ hoạt động − từ trữ hàng, phân loại, chế biến, đóng gói, bán ra thị trường cho đến đông lạnh bánh cà rốt − đều dùng phong điện. Tiền đầu tư vào năng lượng gió dễ dàng lấy lại được từ hoạt động kinh doanh quốc tế. Tổng số lao động sử dụng trực tiếp và gián tiếp lên tới khoảng 250 người. Việc suy tính lại vấn đề cà rốt đã giúp người Gotland có được một cách thức tiến bộ để giảm chi phí, đồng thời tạo ra việc làm và an toàn sinh kế.
Việc tìm thấy giá trị ở những gì có được tại địa phương dẫn đến những ngành công nghiệp vững bền, có sức cạnh tranh và có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế, ngay cả khi nền kinh tế ấy thuộc về một đảo biệt lập trên biển Baltic. Dự án cà rốt là một trường hợp gây ấn tượng mạnh nhất, nhưng đó không phải là sáng kiến duy nhất của cư dân đảo. Nhiều bước đột phá khác chứng tỏ tính tiên phong của họ. Việc kết hợp sản xuất bia với bánh mì cũng đáng được khen ngợi. Hãng bia Gotland cung cấp một loại bia ngon tuyệt cho cư dân địa phương. Hèm còn lại từ quá trình sản xuất bia được chở tới hiệu bánh mì để dùng làm bánh mì – lại một thí dụ điển hình nữa của việc chuyển hóa chất thải của một quá trình thành nguyên liệu cho một quá trình khác. Bằng cách sử dụng cái gì có được ở địa phương, việc lưu chuyển chất dinh dưỡng và khích lệ doanh nhân thực hiện những ý tưởng khả thi, cư dân đảo Gotland đã đi trước những người đồng thời của họ hàng mấy năm trời.
CÁC GIẢI PHÁP TIẾN BỘ CỦA LÀNG PUEBLO
Những đám cháy rừng dữ dội thường trở thành tin thời sự. Hằng năm, nhiều đám cháy rừng đã tàn phá những hệ sinh thái rộng lớn ở miền tây Hoa Kỳ. Cục quản lý đất đai của bang New Mexico đã nhận tài trợ từ chính quyền liên bang để chi trả cho việc loại bỏ gỗ đường kính nhỏ (đến 18cm) ra khỏi đất làng Picuris Pueblo. Dù bị thiêu hủy hay vứt bỏ vào bãi rác, gỗ vụn cũng góp phần làm ô nhiễm không khí vì phát sinh khí carbonic Lynda Taylor và Robert Haspel đề nghị một phương án khác, và làm việc với các già làng Picuris Pueblo để tìm giải pháp lưu chuyển dưỡng chất và năng lượng phù hợp với phong tục tập quán của người Pueblo.
Việc loại bỏ gỗ nhỏ nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng được thực hiện nhanh chóng. Phần lớn số gỗ ấy được phơi khô rồi cho vào một container tái sử dụng và được thiêu đốt không hoàn toàn bằng cách giữ khói lại, nghĩa là biến đổi gỗ thành than củi. Tuy nhiên, vì tôn trọng truyền thống của người Pueblo nên cần phải xóa những dấu vết do xe thu dọn bụi rậm để lại trong rừng. Bổi làm bằng gỗ nhỏ được cấy bào tử một loại nấm bản địa rồi rải lên các dấu vết ấy. Lạ thay, chỉ hai năm sau mọi dấu vết đều biến mất. Các thành viên bộ lạc thu nhặt nấm để làm thức ăn và dùng phần thải bỏ giàu axit aminô làm nguyên liệu chế biến đồ ăn cho bầy bò rừng của gia đình Sam ở tại địa phương. Nhờ có đủ thức ăn cho bầy bò và sự hỗ trợ thường xuyên của Taylor và Haspel, gia đình Sam có thể cung cấp thịt bò rừng cho các thị trường thương mại.
Biểu đồ 4. Hệ thống Picuris Publeblo
Công việc khởi đầu như một cố gắng làm giảm nguy cơ cháy rừng đã trở thành một hệ thống sinh học tổng hợp tạo ra việc làm, thực phẩm, nhiên liệu và vật liệu xây dựng, đồng thời thay thế hóa chất và xăng. Kinh nghiệm của làng Picuris Pueblo là một thí dụ về phát triển kinh tế dựa vào các hệ thống tự nhiên, sử dụng những gì có ở địa phương và xây dựng trên truyền thống của người bản địa châu Mỹ.
Khi chúng ta thay thế những tiêu chuẩn cũ bằng một hệ thống có khả năng lưu chuyển dưỡng chất và năng lượng, thì một hệ thuyết kinh tế hoàn toàn mới xuất hiện. Những giải pháp khác thường có được từ việc lý giải lại tự nhiên cũng như chức năng của năng lượng và chất dinh dưỡng, những giải pháp ấy cho phép chúng ta đạt hiệu quả sử dụng nguồn lực cao hơn, thiết lập những ngành công nghiệp có sức cạnh tranh, tiếp nhận những đổi mới tạo ra việc làm và giá trị gia tăng. Đó là cách thức các hệ sinh thái phát triển thành những hệ thống ngày càng hiệu quả hơn, sử dụng ngày càng ít năng lượng hơn, cho dù số loài vật cứ tăng lên mãi. Đó là một thác nhiều tầng bao gồm tất cả đã dẫn đến sự phong phú trên mọi bình diện.
BÃ MÍA, MỘT GIẢI PHÁP NGỌT NGÀO
Những lượng chất thải nông nghiệp khổng lồ mà công nghệ chế biến thực phẩm của chúng ta tạo ra cũng có thể được xử lý khôn khéo bằng cách phản ánh các hệ sinh thái. Lấy thí dụ đường có nguồn gốc chủ yếu từ cây mía. Hàm lượng đường trong cây mía dao dộng trong khoảng 10 - 15%. Như vậy, mỗi tấn đường sản xuất được chỉ là một phần nhỏ của sinh khối cây mía. Thông thường phần chất thải còn lại, tức là bã mía, bị thiêu hủy. Các hệ thống tự nhiên ít khi dùng lửa như một nguồn năng lượng, trong khi con người lúc nào cũng sử dụng nó. Bã mía là một nguồn nhiên liệu vừa rẻ vừa dễ có, nhưng thành phần duy nhất thật sự cung cấp năng lượng là linhin. Các thành phần khác, xenluloza và hemi-xenluloza, chủ yếu thải ra khí carbonic khi thiêu hủy vì chúng cháy mà không cho nhiệt lượng hữu ích.
Nếu như chúng ta dùng bã mía để làm giấy, sản phẩm từ giấy và các tông, như đã được thực hiện trên quy mô nhỏ, chắc hẳn chúng ta sẽ đạt kết quả tốt hơn. Loại sợi nhiệt đới này không thích hợp với mô hình quản lý dây chuyền cung cấp hiện tại dựa vào những đồn điền thông và bạc hà rộng lớn trên khắp thế giới. Tuy nhiên, một ước tính cho thấy những con số đáng ngạc nhiên. Với mức sản xuất hàng năm từ 15 đến 30 tấn trên mỗi mẫu Anh, bã mía cho từ 100 đến 200 tấn sợi trong 7 năm, thời gian cần thiết để khai thác những cây thông mọc mau nhất. Về mặt cung cấp sợi, cây mía dễ dàng vượt qua những loại cây ở vùng ôn đới.
Như vậy chúng ta bắt đầu thấy có thể sử dụng nguyên liệu tái tạo như thế nào, đồng thời xây dựng những cụm công nghiệp có khả năng hoạt động tốt. Chính vì sự gắn bó với cái logic của những ngành công nghiệp nhiều chất thải (chỉ lấy đường và đốt bỏ bã mía trong trường hợp vừa mới nêu) mà chúng ta đã phải trả giá đắt đỏ bằng sự phát thải carbon nguy hại. Chính sự cả tin vào những tính toán thiển cận đã khiến chúng ta chỉ chiết xenluloza từ cây thông và phung phí 70 đến 80% sinh khối của cây. Còn nhiều thí dụ khác nữa. Việc thu hoạch hạt cà phê loại bỏ một lượng chất thải gây sửng sốt lên tới 99,8% tổng số sinh khối. Theo những nghiên cứu mới nhất về chất thải rắn ở Hoa Kỳ, nếu chi một đô la cho việc xử lý rác thải hộ gia đình thì phải tốn đến 70 đô la để giải quyết chất thải từ nông nghiệp, hoạt động khai thác mỏ và công nghiệp!
Bạn hãy tưởng tượng chúng ta sản xuất thực phẩm như tự nhiên: lưu chuyển chất dinh dưỡng qua nhiều giới khác nhau, từ cây đến nấm đến thú vật đến vi khuẩn đến tảo và ngược trở lại, theo nhiều hướng và với nhiều cách kết hợp khác nhau, tùy theo nơi cư trú riêng biệt. Chỉ cần những nguồn năng lượng duy nhất là ánh sáng và trọng lực, lúc nào cũng có sẵn và lại miễn phí! Đây là những tia sáng le lói của một nền kinh tế mới bám chặt vào những mô hình mạnh mẽ lưu chuyển chất dinh dưỡng và thường xuyên tạo ra thực phẩm, chỗ ở, việc làm, năng lượng và thu nhập.
CÁC HỆ THỐNG TỔNG THỂ Ở THÀNH PHỐ
Mô hình thác nhiều tầng cũng có tác dụng ở những khu phố và khu công nghiệp. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Thành phố Sinh thái ở Kitakyushu, Nhật Bản, đã mọc lên từ những đống đổ nát của bãi chất thải ô nhiễm bên bờ vịnh Dokai mà hồi trước người ta gọi là “Biển Tử thần”. Kitakyushu là một cơ sở sản xuất sắt tăng trưởng nhanh trong thời gian đầu, nhưng khi cạnh tranh quốc tế khiến giá thép hạ thấp, người ta đã phó mặc nó cho cư dân thành phố. Chính quyền tỉnh đóng vai trò chính trong việc bảo đảm tài trợ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu từ công nghiệp nặng sang công nghiệp môi trường. Trong thời gian Toshihiko Shirai làm giám đốc, kế hoạch Thành phố Sinh thái Kitakyushu đã cải tạo cả phần phía đông của khu vực rác thải Hibiki, cũng như phát triển, thúc đẩy các ngành công nghiệp môi trường và các công nghệ tiên tiến. Mỗi năm, hàng ngàn thực tập sinh và tình nguyện viên quốc tế đến Thành phố Sinh thái để học tập những công nghệ “3R” (reduce, reuse, recycle: tiết giảm, tái sử dụng, tái chế) hàng đầu, rồi trở về quê hương của họ xây dựng dự án, chia sẻ bí quyết mới tiếp thu được.
Rõ ràng việc nắm lấy thời cơ không chỉ có hiệu quả, mà còn là thiết yếu đối với tầng lớp lãnh đạo chính phủ và công nghiệp. Tuy nhiên, một mô hình kinh tế mới chỉ có thể thành công nếu thúc đẩy các sáng kiến kinh doanh ở cơ sở. Đây chính là nơi có khả năng truyền cảm hứng cho người chưa được nhận cảm hứng, tiếp cận người chưa được tiếp cận, nơi có cơ hội làm việc chung với những ai thường không nhận được sự quan tâm hay cơ may nào. Điều ấy sẽ thay đổi nhận thức của chúng ta để có thể làm tốt hơn trong thế giới hiện tại. Việc trao quyền cho thanh niên, nhất là những thanh niên lọt vào cái bẫy thất nghiệp và nghèo khó, có thể đạt những thành quả kinh tế to lớn. Cái cấu trúc khan hiếm giả tạo không hấp dẫn đối với những ai phải chịu đựng nó. Nếu bạn không có việc làm, đói khát, yếu đuối hay bị lợi dụng, thì sinh kế không phải là cuộc trò chuyện xã giao. Đó là vấn đề sống còn trước mắt. Nếu hành động theo cách thức của các hệ thống tự nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra nhiều việc làm hơn, đồng thời nâng cao năng suất và cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực. Bạn sẽ không bao giờ nghe nói cây, cá hay nấm bị thất nghiệp cả!
Xã hội chúng ta có thể đạt tới sự thịnh vượng như thế nào? Làm sao chúng ta có thể thường xuyên nhận được các nguồn tái tạo cho thực phẩm, chỗ ở, sinh kế và sức khỏe? Trong việc phản ánh những phương pháp thành công của các hệ sinh thái, chúng ta có thể bắt đầu lựa chọn những mô hình có một phạm vi rộng rãi, một xu hướng lưu chuyển, một mục tiêu bảo tồn hành tinh cùng các loài sống trên đó và một tương lai vĩnh cửu. Đó là nền kinh tế đích thực. Khi chúng ta hiểu rõ hệ thuyết ấy, hình ảnh của Nền Kinh tế Xanh Lam sẽ hiện ra như chim phượng hoàng tái sinh từ tro tàn của tình trạng bất ổn kinh tế, thu hút sức mạnh và cảm hứng từ tự nhiên.

