Nền Kinh Tế Xanh Lam - Chương 3+4

CHƯƠNG BA. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN CỦA TỰ NHIÊN

Tự nhiên dệt các tấm vải của mình bằng những sợi dài nhất.

Mỗi mảnh vải nhỏ của tự nhiên cho thấy cấu trúc của cả bức thảm thêu.

– Richard Feynman

CẤU TRÚC VÀ DÒNG CHẢY

Chúng ta có thể học những phương pháp đơn giản và thực dụng để tạo ra tiện nghi trong nhà từ các dòng chảy nước và không khí với những đặc chất vật lý tuyệt vời, cũng như từ các hệ thống giản đơn, hài hòa của những loài rất khác nhau như mối, ngựa vằn, bọ sa mạc Namib và trai. Nếu làm theo cái cấu trúc mới ấy, chúng ta có thể đạt nhiều kết quả hơn với ít năng lượng hơn và bảo đảm những điều kiện sức khỏe sẽ tốt hơn bao giờ hết. Chúng ta có thể loại bỏ nhiều bộ phận và sản phẩm được xem như không thể thiếu trong ngành xây dựng hiện đại. Sao có thể được như thế?

Những tòa nhà hoàn toàn khép kín và được cách ly tối đa để tiết kiệm năng lượng ít có khả năng tự điều hòa. Cần phải dùng máy bơm những lượng không khí nhất định qua tòa nhà để giữ sự thoải mái dễ chịu cho người sống nơi đó. Đáng tiếc là hơi ẩm lại tích tụ trong những tòa nhà khép kín, nhất là ở tầng hầm (không khí ẩm nặng hơn nên chuyển động xuống dưới). Phòng ngủ trở nên nóng vì không khí khô, gây khó khăn cho hệ thống hô hấp của chúng ta, trong khi những hạt bụi từ việc sử dụng máy móc điện tử tích tụ lại. Nhiều hạt bụi chứa tĩnh điện. Bọ mạt sinh sôi nảy nở trong những tấm thảm nhờ cửa sổ ba lớp kính với màn lọc tia tử ngoại tạo điều kiện ấp trứng lý tưởng cho chúng.

Mạt bụi là loài tương cận nhỏ tí ti của nhện. Chúng sống bằng gầu và vảy da của người. Mạt bụi là một thủ phạm quen thuộc gây các chứng dị ứng da và bệnh đường hô hấp như bệnh suyễn. Muốn loại trừ bọ mạt phải dùng đến những hóa chất mạnh có thể tồn tại hàng tháng trong tòa nhà khép kín, bên cạnh những hóa chất hữu cơ dễ bay hơi có trong đa số chất keo dùng cho thảm và đồ đạc. Đó không phải là cách thức chúng ta hình dung một tòa nhà sinh thái! Mặc dù chúng ta có thể tiết kiệm 30% năng lượng – thật ra có khả năng tạo ra tất cả điện dùng trong tòa nhà bằng pin mặt trời – nhưng độc tính của những hóa chất đắt đỏ và tình trạng căng thẳng của hệ thống miễn dịch của chúng ta là những tác động phụ ngoài ý muốn. Trái lại, nếu thiết kế tòa nhà hiệu quả năng lượng bao gồm những giải pháp thành công và được áp dụng hàng triệu năm bởi những loài sống trong một nơi cư trú tương tự, thì chúng ta sẽ ghi nhận một sự khác biệt hoàn toàn của những tòa nhà có lợi cho sức khỏe cũng như cách thức hoạt động của các hệ thống trong những tòa nhà ấy. Trong thực tế, những tòa nhà lành mạnh có hiệu quả gấp đôi vì chúng làm giảm chi phí năng lượng và y tế, đòi hỏi ít vốn mạo hiểm hơn cho việc xây dựng và bảo đảm đầu tư sẽ có lãi nhiều hơn. Bằng cách nào vậy?

MỐI, BẬC THẦY CỦA DÒNG CHẢY

Những nhà nông đầu tiên trên trái đất là mối và kiến. Có lẽ 100 triệu năm trước đây, mối đã đáp ứng được nhu cầu sinh tồn của mình trong điều kiện thời tiết biến đổi. Quá trình thích ứng của chúng thành công nhờ một hệ thống canh tác tương tự như nhà kính trồng rau quả. Chúng đã hoàn thiện một phương pháp điều hòa nhiệt độ và độ ẩm trong tổ, cho phép thu hoạch nhiều nấm, món ăn chủ yếu của chúng. Chúng đã đạt thắng lợi trong an toàn lương thực và chuyển dần từ săn bắt hái lượm sang định canh định cư một thời gian dài trước khi con người khôn ngoan (homo sapiens) xuất hiện.

Khả năng kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và khí áp đáng phục ấy tuân theo các định luật vật lý cũng như áp dụng những phép tính phức tạp vào việc canh tác và xây dựng. Mối đã hoàn thiện việc thiết kế những ống thông hơi, nơi không khí trở nên ấm và bay lên phía trên, tạo ra một độ chênh lệch áp suất trong tổ. Vì tổ mối có những đường ngầm tí ti thông với môi trường xung quanh nên không khí bên ngoài bay vào tổ làm cân bằng áp suất. Điều này minh họa chính xác định luật Newton thứ ba về chuyển động: “Mỗi lực tác động đều có một phản lực ngược chiều với cùng độ lớn.” Nhiệt độ của không khí bay qua các đường ngầm thay đổi rất ít nhờ tác dụng ổn định nhiệt của lớp đất nằm sâu hơn. Vì thế, độ ẩm và nhiệt độ bên ngoài sẽ quyết định lượng hơi ẩm còn lại trong không khí vào tổ nhà kính. Mối biết cách tính toán và xây dựng tổ ở bất cứ nơi nào trên thế giới, ở mọi vùng khí hậu và bảo đảm điều kiện phát triển lý tưởng cho ti thể nấm trắng, nguồn thức ăn bổ dưỡng chính của chúng.

Trong những năm 50 của thế kỷ 20, kiến trúc sư Thụy Điển Bengt Warne quan sát tổ mối ở Zimbabwe. Phác họa ban đầu của ông về những dòng chảy không khí trong gò mối, công bố trong quyển På Akacians Villkor (Về điều kiện sống của cây xiêm gai) có vẻ đơn giản nhưng lại là một thách thức đối với khả năng thích ứng của ngành kiến trúc hiện đại. Phải cần đến một kiến trúc sư Thụy Điển khác, Anders Nyquist (người đã từng gặp Warne nhưng chưa bao giờ hợp tác với ông này) để lập những công thức toán học nhằm quy tắc hóa những nhận thức của Warne thành một mô hình mà nếu so sánh với nó, các hệ thống quan trắc khí hậu tự động hiện nay sẽ trở thành lỗi thời. Dựa trên những nghiên cứu về cấu trúc tổ mối, Nyquist khám phá ra rằng có thể thiết kế những tòa nhà tiết kiệm năng lượng được điều hòa nhiệt độ theo nhu cầu của người ở trong nhà mà không phải nhốt họ trong một phòng kín hơi và cách ly hoàn toàn. Nơi nào không khí không lưu thông được, vi khuẩn và vi trùng có hại sẽ sinh sôi nảy nở. Trong một không gian như thế, khi một người hắt hơi thì tất cả mọi người sẽ bị cảm lạnh. Đó không thể là mục đích của tiết kiệm năng lượng!

Trường Laggarberg ở Timrå ngay bên cạnh thành phố Sundsvall (Thụy Điển), là một thiết kế của Nyquist dựa vào kỹ năng phi thường của cả loài mối lẫn những nền văn minh cổ xưa trong việc sưởi ấm hoặc làm mát nơi cư trú của mình mà không ngốn nhiều năng lượng hay sử dụng kỹ thuật cách ly hóa học hết sức tốn kém. Một hệ thống gồm nhiều lỗ thông và ống dẫn cho phép những dòng chảy không khí điều hòa nhiệt độ và giữ sự mát mẻ cho tòa nhà.

Mặc dù mối có kỹ năng đặc biệt hữu ích, loài côn trùng này bị buộc tội háu ăn gỗ ở khắp nơi trên thế giới. Nhưng nếu như chúng ta biết rằng mối có tác dụng làm cho đất màu mỡ lâu dài, có lẽ chúng ta ít có ác cảm và đánh giá chúng cao hơn. Thật vậy, thông thường 15% thảo mộc trở thành nguồn dinh dưỡng của loài nấm mà mối tiêu thụ. Quá trình phân hủy những mảnh gỗ vụn phát ra hơi ấm sưởi chúng trong mùa đông, đồng thời làm giàu lớp đất sâu trong hàng chục năm tới.

Chúng ta có thể học tập cách thức thông khí liên tục của loài mối trong một tòa nhà không cần điều hòa nhiệt độ. Nếu thay không khí thường xuyên, sẽ giảm được nguy cơ mắc “hội chứng tòa nhà gây bệnh” (sick building syndrome). Trong một tòa nhà như thế, không khí ngột ngạt và đầy vi khuẩn ngưng đọng lại, dẫn đến căn bệnh nhiễm nấm và vi khuẩn. Trong thế giới của loài mối, hệ thống thông khí cũng điều hòa độ ẩm là yếu tố có tính quyết định đối với phát triển của loài nấm mà mối cần để sống. Hệ thống lưu chuyển không khí của mối luôn luôn bảo đảm cho tổ có nhiệt độ chính xác là 30 0 C và độ ẩm 61%. Biến số duy nhất mà mối không kiểm soát được là nước. Lúc mưa lớn tổ có thể bị ngập nước. Tình trạng căng thẳng ấy báo hiệu cho loài nấm Termitomucis − một món ngon cho cả người sành ăn − sinh sôi nảy nở để bảo đảm sự sống còn của mình. Còn mối chúa thì giữ bào tử nấm trong miệng, đem tới nơi an toàn để bắt đầu canh tác ở một tổ mới.

Thật may là cao ốc đầu tiên mô phỏng công việc tài tình của mối được dựng lên ở Harare, thủ đô nước Zimbabwe. Trung tâm buôn bán và văn phòng Eastgate, một tòa nhà 10 tầng do nhóm kỹ sư Anh Arup xây dựng trong những năm 80 của thế kỷ 20 được điều hòa nhiệt độ chỉ bằng không khí lưu chuyển tự nhiên. Về mặt kinh tế, hệ thống đổi mới ấy cũng có sức thuyết phục. Trừ đi khoảng trống giữa các tầng dành cho những ống dẫn không khí, điểm hòa vốn giảm từ 55 xuống 46%, nghĩa là về cơ bản, cộng thêm một tầng ở cùng một độ cao, đồng thời giảm chi phí đầu tư (trong trường hợp này, tiết kiệm 3,5 triệu đô la) và chi phí vận hành từ 10 đến 15%. Nhiều ngân hàng tài trợ cho những dự án xây dựng ít rủi ro và mang lại nhiều lãi hơn, đòi hỏi ít vốn hơn và tính giá cho thuê tương đối thấp. Những đặc tính kinh tế dài hạn như: chi phí thấp, không cần bảo quản, thông khí tự nhiên để điều hòa nhiệt độ mà không cần đến phương pháp cơ học đắt tiền cũng thu hút những nguồn tài chính khác.

NHỮNG SỌC KHÁC MÀU

Qua ngựa vằn, chúng ta có thêm hiểu biết về những công nghệ có thể giảm bớt, trong vài trường hợp còn loại bỏ được yêu cầu cách nhiệt ở nhiều vùng trên thế giới bằng cách điều hòa nhiệt độ bề mặt. Ngựa vằn có khả năng làm nhiệt độ ngoài da của nó giảm gần 13,5 º C nhờ những luồng không khí cực nhỏ tạo nên bởi tác động qua lại giữa những sọc trắng và đen của nó. Đây lại là một “tinh chất” hoàn hảo khác của các định luật vật lý được dạy ở trường nhưng có lẽ không được hiểu trong ứng dụng cụ thể. Mặc dù ngành kiến trúc tìm cách điều tiết nhiệt độ bằng tính phản xạ nhiệt của màu trắng, nhưng trường hợp ngựa vằn lại chứng minh là nên sơn các tòa nhà đen và trắng hơn. Chúng ta biết rằng màu trắng phản chiếu ánh mặt trời, vì vậy làm giảm sức nóng. Màu đen hấp thụ ánh mặt trời nên làm tăng nhiệt độ bề mặt. Do đó, không khí trên những sọc trắng mát hơn không khí trên những sọc đen. Không khí nóng ở những sọc đen nhẹ hơn nên bay lên trên, khiến áp suất ở đó thấp hơn áp suất không khí ở những sọc trắng. Chênh lệch áp suất ấy làm phát sinh những luồng khí cực nhỏ làm mát bề mặt mà không cần đến hệ thống thông khí cơ học. Đó chẳng phải là một điều khác biệt đáng lưu ý hay sao? Nó có thể được thương mại hóa không?

Một tòa nhà văn phòng của công ty Daiwa House ở Sendai (Nhật Bản) cũng do Anders Nyquist thiết kế, đã lợi dụng sự tương tác giữa trắng và đen. Trong khi điều hòa nhiệt độ mặt ngoài tòa nhà, tác động qua lại giữa những bề mặt có màu tương phản khiến nhiệt độ trong nhà giảm bớt chừng 6,6 º C vào mùa hè. Như vậy, chỉ riêng tác động vật lý của những bề mặt trắng và đen cũng đủ làm giảm nhiệt độ trong nhà, tiết kiệm khoảng 20% năng lượng tiêu dùng. Mặc dù không ấn tượng bằng 13,5 º C của ngựa vằn, con người chúng ta đạt kết quả đó chỉ trong vài thập kỷ, trong khi ngựa vằn đã làm chủ kỹ thuật hàng trăm ngàn năm rồi. Áp suất thấp và cao được cân bằng bởi những cơn gió cực nhỏ. Thay vì cách ly nhiệt, tác động qua lại của các lực vật lý ngăn chận hơi nóng từ bên ngoài, giảm bớt lượng polyurethan (với chất phòng cháy) hay sợi thủy tinh dùng bên trong nhà. Thực ra ngựa vằn chỉ có lớp mỡ cách nhiệt dưới những sọc đen, còn cơ nằm dưới những sọc trắng không cần lớp mỡ như thế. Nghĩa là vật liệu được tiết kiệm, thật đơn giản. Hệ thống điều hòa nhiệt độ trên đây không ngừng hoạt động, chừng nào còn sự tương tác giữa trắng và đen, nghĩa là chừng nào mặt trời còn soi sáng và các định luật vật lý tiếp tục có tác dụng.

Nhằm mục đích tiết kiệm năng lượng, ngày nay các kiến trúc sư đề nghị nên cách ly bên trong và dưới mái nhà nhằm ngăn chận sức nóng hay hơi lạnh từ ngoài vào. Để đạt mục đích ấy, thông thường những người xây dựng dùng chất polyurethan hay sợi thủy tinh được chế biến với nhiều nguyên liệu và năng lượng. Ngựa vằn cho thấy cách tận dụng các định luật vật lý có thể đoán trước để làm mặt ngoài tòa nhà bớt nóng hay lạnh. Điều ấy đồng nghĩa với giảm nhu cầu sử dụng hóa chất hay hệ thống điều hòa đắt tiền. Sự tương tác dựa trên áp suất và nhiệt độ không đòi hỏi chi phí phụ trội, lại hoạt động liên tục. Thật vậy, các định luật vật lý không có ngoại lệ.

MỘT SA MẠC PHONG PHÚ

Quan sát sắc thẫm và quãng đời khác thường của cây Welwitschia mirabilis, một loài cây sa mạc, chúng ta có thêm lý do để nhận định rằng màu trắng không thôi chỉ đem lại sự thoải mái ngắn ngủi, nếu nói về nhu cầu chống nóng. Sa mạc Namib đã khô cằn ít nhất 55 triệu năm và được xem như vùng hoang mạc xưa nhất thế giới. Một con châu chấu tình cờ nhảy từ một cục đá xuống cát nóng sẽ bị cháy sém và chết trong vòng vài phút. Ở môi trường khan hiếm nước này, bảy năm mới mưa một lần, nhưng cây Welwitschia không chỉ sống sót mà chắc còn lập kỷ lục là loài cây sống lâu nhất trái đất với quãng đời dài khoảng 2.000 năm hay hơn thế nữa. Cây Welwitschia biết cách giữ hầu hết những giọt sương đọng trên hai cái lá của nó cũng như có khả năng hút hơi ẩm từ chỗ sâu tới hai mét với chiếc rễ cái dài.

Những màu sáng phản chiếu ánh mặt trời và làm giảm sự hấp thu nhiệt ở bề mặt. Vì con người thích sống ở những vùng có nhiệt độ tương đối thấp, họ sẽ gặp trở ngại trong môi trường hoang mạc. Mục đích chính của những sinh vật sống ở sa mạc không phải là đạt sự mát mẻ mà là hạ điểm sương xuống tới mức chúng có thể giữ lấy cả những lượng ẩm rất nhỏ. Một mặt phẳng mát nâng điểm sương lên nên làm giảm lượng nước thu góp vào mỗi sáng. Những màu thẫm khiến điểm sương hạ xuống với một bề mặt ấm hơn và không khí tương đối mát. Điều ấy nghĩa là cây cối và bọ cánh cứng sẽ hấp thu một lượng nhiệt lớn hơn nếu như chúng không thể phát tán nhiệt. Các thành viên của hệ sinh thái hoang mạc ấy sống sót nhờ giảm được nhiệt bằng cách thông khí và phát tán nhiệt, một bằng chứng khác của việc áp dụng các nguyên lý vật lý trong tự nhiên.

Sa mạc Namib cũng là nơi cư trú của nhiều loại địa y. Chúng thật ra không phải là một loài cây mà đúng hơn, là một hệ thống cộng sinh hay một hỗn hợp của hai loài sinh vật, đó là nấm và tảo. Nấm hoạt động như phần thân thu góp sương sớm, sương chiều cho toàn hệ thống địa y. Còn tảo quang hợp chất dinh dưỡng cần cho sự sống còn. Với những ti thể chỉ dầy hai, ba tế bào, có lẽ các địa y ấy là những thợ mỏ giỏi nhất thế giới, có khả năng đào sâu vào đá rắn chắc.

“Nhưng điều ấy có thể như vậy không?” Có lẽ chúng ta sẽ đặt câu hỏi ấy. Cái logic của việc đào sâu vào đá được hình thành bởi Alfred Nobel là người phát minh ra hóa chất có phản ứng nổ mạnh được biết dưới tên dynamit, hiện nay là phương tiện duy nhất để moi khoáng sản từ lòng đất sâu. Nhân loại cầu viện hóa học, trong khi các hệ thống tự nhiên ưu tiên sử dụng vật lý. Địa y không dùng đến dynamit; thực sự không có gì trong tự nhiên lại sử dụng một sức hủy hoại quá lớn như thế. Ti thể địa y với kích thước cực nhỏ của nó có thể len lỏi qua khoảng trống giữa những tinh thể đá. Khi tìm được một phân tử magie (magnesium), nó chuyển lên mặt đất để cây cối, chim thú cùng sử dụng. Nhờ kỹ thuật “đào mỏ” điêu luyện và chính xác của địa y, động, thực vật ở sa mạc Namib có thể tiếp cận chất khoáng vi lượng cần cho hoạt động của chúng trong môi trường dễ bị tổn thương này. Đóng góp của mỗi loài bảo đảm sự sống còn của tất cả những loài sống trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng ấy.

THU LẤY NƯỚC BẰNG SỨC HÚT VÀ LỰC ĐẨY

Bọ cánh cứng Onymacris plana , cũng là giống bản địa ở sa mạc Namib, không chỉ có màu thẫm thôi mà còn thật đen nữa. Nó đạt tới điểm sương tốt hơn cây cối ở cùng nơi cư trú bằng cách kết hợp phát tán nhiệt với một tác động vật lý khác: phản ứng kỵ nước. Mới nhìn qua, khả năng đẩy nước của con bọ có vẻ vô nghĩa như cái gạt nước kính tàu ngầm vậy. Tuy nhiên, phân tích kỹ lưỡng của nhà khoa học Anh Andrew Parker cho thấy những giọt sương cực nhỏ hình thành mỗi sớm mai ngay khi mặt trời vừa mọc nơi chân trời liền bị đẩy đi bởi bề mặt kỵ nước của cánh con bọ hay mặt lá cây trước khi nó bốc hơi. Nhưng rồi các giọt nước nhỏ tí ấy được thu hút trở lại bởi những mảng ưa nước quanh cánh con bọ. Sự tương tác giữa những bề mặt kỵ nước và ưa nước bảo đảm cho con bọ hàng ngày có thừa nước để uống và tắm rửa. Lạ thay, cái hệ thống điều hòa nước và nhiệt độ ấy lại mang tính phản trực giác: màu đen cho phép sống sót trong vùng khí hậu nóng nhất và tính kỵ nước lại đáp ứng nhu cầu nước uống.

SỰ BÁM CHẮC HOÀN HẢO

Thằn lằn không bận tâm đến giông bão. Chúng thản nhiên gần như trước mọi sự, dễ dàng bám chặt vào mọi bề mặt, dù ướt hay khô, dù nhám hay nhẵn nhụi. Thằn lằn sử dụng những lực tĩnh điện có tác động hút và đẩy giữa các phân tử, những lực được gọi theo tên nhà vật lý Hà Lan nhận biết chúng đầu tiên: van der Waals. Thật lạ lùng! Đồ vật dính chặt vào nhau nhờ những lực vật lý! Một ngày nào đó, những sản phẩm mới lấy cảm hứng từ cách vận dụng các lực hút và đẩy của thằn lằn có thể cạnh tranh với khóa dán Velcro. Sản phẩm này lại lấy cảm hứng từ những móc nhỏ của hạt cây ngưu bàng, loại cây đã áp dụng giải pháp “dán không cần keo” từ lâu rồi. Chúng ta có thể đưa ra giả thuyết rằng thằn lằn và ngưu bàng đạt tới sự hoàn hảo hơn con trai chẳng hạn, nếu nói về “khả năng dán”. Thằn lằn và ngưu bàng ưu tiên sử dụng vật lý, điều khiển cơ cấu sinh học của mình để tạo ra những tế bào có khả năng mong muốn. Trai lại dựa vào hóa học. Điều đó không có nghĩa là loài trai kém cỏi khi đưa ra giải pháp hóa học. Thật vậy, nó thôi thúc chúng ta tìm cách thay thế những độc chất mà các kỹ sư hóa đã phát triển để dùng cho bất cứ loại keo thương mại nào.

Trai sống nơi sóng vỗ thường xuyên. Vì vậy nó tạo ra một chất keo hoàn hảo để bám chặt vào đá. Nó biết cách làm cho chất keo kỵ nước của nó co dãn đến nỗi cơn sóng mạnh nhất cũng không thể tách rời nó được. Kaichang Li thuộc Đại học bang Oregon (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu chất dính của loài trai và áp dụng kết quả nghiên cứu vào việc phát triển một loại keo thương mại được công ty Columbia Forest Products dùng để thay thế nhóm chất epoxy chế từ formaldehyd, chất keo thường dùng cho ván ép và ván gỗ dán. Chất lượng không khí trong nhà tốt hơn rõ rệt nếu formaldehyd không phải là một thành phần của vật liệu xây dựng. Nếu các công ty dẫn đầu thị trường sử dụng hóa học xanh thay vì hóa chất độc hại và đưa những đổi mới mô phỏng theo tự nhiên vào sản phẩm của họ, thì họ sẽ thu được lợi nhuận cùng một lúc với sự bền vững. Như vậy, trong khi chúng ta thán phục thằn lằn và ngưu bàng về việc sử dụng các lực vật lý một cách tài tình mà không cần đến hóa học, chúng ta tôn trọng loài trai vì chúng đã dạy chúng ta cách thức loại trừ chất độc ra khỏi nhà ở, trường học và văn phòng.

XOÁY NƯỚC VỚI TÍNH CÁCH LÀ TÁC NHÂN DIỆT KHUẨN

Các hệ thống tự nhiên không giải quyết vấn đề nhiễm khuẩn bằng trận mưa hóa chất có tính hủy diệt. Vài ngoại lệ trong phạm vi sinh học được công bố rộng rãi như rắn hung dữ, ếch độc, nhện có nọc và nấm độc chết người. Tuy nhiên, độc tính của chúng chỉ nhắm đến những loài khác, chớ ít khi nào gây nguy hại cho dòng họ của chúng – mặc dù nhện góa phụ đen ăn thịt bạn tình là một trường hợp ngoại lệ, như thường có trong các định luật sinh học. Trước khi dùng bất cứ một phương tiện hóa học nào gây nguy hiểm, đột biến gien hay ung thư cho sinh vật cùng họ, mọi loài trong tự nhiên đều sử dụng các lực vật lý. Trong khi thế giới hữu sinh, nhất là động, thực vật dễ dàng truyền cho người cảm hứng trong những lĩnh vực từ thi ca cho đến công nghệ, phần vô sinh của tự nhiên cũng có thể chia sẻ nhiều bài học.

Có khi nào bạn thắc mắc các dòng sông tự tẩy sạch như thế nào không? Chúng lợi dụng vật lý và nhu cầu dinh dưỡng của hai họ vi khuẩn khác nhau. Chuyển động cuồn cuộn của một dòng sông liên tục tạo ra những xoáy nước. Một xoáy nước làm tăng áp suất ở trung tâm của nó đến mức độ sức ép và lực ma sát trong phạm vi na-no-met chọc thủng màng vi khuẩn.

Rồi các vi khuẩn ấy trở thành mồi ngon cho những loài khác ở phía dưới sông. Thức ăn phân phối như thế kết hợp với những nơi hòa tan nhiều oxy và những vùng hiếm khí trong dòng sông cho phép vi khuẩn và vi tảo khoáng hóa phần sinh khối dư thừa một cách mau lẹ, hiệu quả. Đồng thời, sự thay đổi từ nơi có nhiều oxy hòa tan đến nơi thiếu không khí khiến vi khuẩn hiếu khí có hại không thể nào sống sót được.

Sức mạnh của xoáy nước do dòng chảy tạo ra theo định luật hấp dẫn thuộc về những trường hợp ấn tượng nhất mà chúng tôi nghiên cứu. Có bao giờ bạn thấy một con sông chảy theo đường thẳng không? Logic nào nằm trong sự quanh co uốn khúc của một dòng sông? Lạ lùng thay, các kỹ sư công nghiệp đương thời lại thiết kế mọi thứ theo đường thẳng với những góc 90 độ. Tuy nhiên, Friedensreich Hundertwasser, kiến trúc sư - họa sĩ - nhà thiết kế nổi tiếng của thế kỷ 20 đã từng tuyên bố: “Đường thẳng cứng nhắc hoàn toàn xa lạ với con người, đời sống và toàn thể tạo vật.”

Một người Áo khác, nhà phát minh tài ba Viktor Schauberger sáng tạo ra công nghệ nổ tung vào trong, đã dùng đa số thời gian làm việc với tư cách một nhà lâm nghiệp. Ông quan sát thấy chuyển động xoáy kép theo hai hướng thẳng đứng và nằm ngang của những xoáy nước ở một con sông khiến các vật rắn lắng đọng xuống giữa lòng sông, đồng thời xói mòn đất đá dọc theo hai bờ. Một trong những thiết kế ban đầu mang tính đột phá của ông là một hệ thống vận chuyển gỗ quanh co như một con sông, cho phép những súc gỗ không bị mắc kẹt khi di chuyển. Đáng lưu ý! Hệ thống vận chuyển theo đường thẳng bị tắc nghẽn, còn hệ thống quanh co lại thông suốt. Trong khi những con sông được chỉnh lưu khiến trầm tích tụ lại, thì những dòng sông uốn khúc cung cấp nước ngọt và sạch!

Các nhà phát minh Thụy Điển Curt Hallberg và Morten Oveson đã tạo ra một mô hình toán học cho phép dự đoán sức mạnh của bất kỳ một xoáy nước nào. Với công nghệ xoáy nước phát triển, hiện nay chúng ta có thể thay thế những giải pháp hóa học gây ô nhiễm bằng những giải pháp vật lý. Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của công nghệ xoáy nước cùng với sự hiểu biết thêm về hình học tự nhiên của xoáy nước mở ra vô số cơ hội cho kinh tế và xã hội. Nếu chúng ta kết hợp các hiểu biết ấy với mái nhà gồm những ô ưa nước và kỵ nước mô phỏng theo con bọ sa mạc Namib, chúng ta có thể giảm tiêu dùng năng lượng và nguyên vật liệu, đồng thời tích trữ nước trên sân thượng một tòa nhà. Từ nơi đó, nước có thể theo định luật hấp dẫn chảy xuống các phòng phía dưới. Với công nghệ xoáy nước, chính nước xám dùng để giặt quần áo ở tầng mười có thể được tái sử dụng ở một, hai tầng dưới đó và như thế có thể giảm lượng nước thải từ 5 tới 10 lần.

Công ty Thụy Điển mới thành lập Watreco chào bán một thiết bị khử khí khỏi nước, chế tạo bằng công nghệ Vortex Process Technology® mà họ được cấp bằng sáng chế. Đó là một khả năng hấp dẫn cho những ai cần sản xuất hay bảo quản những lượng nước đá lớn. Khi bạn sản xuất nước đá, bạn đông lạnh cả nước lẫn không khí. Không khí là một chất cách nhiệt. Do đó, năng lượng cần để đông lạnh và bảo quản băng đá, chẳng hạn như ở sân khúc côn cầu hay nhà thi đấu trên băng, tùy thuộc vào lượng không khí hòa tan trong nước. Công nghệ xoáy nước loại trừ không khí nên tích cực góp phần tiết kiệm năng lượng (đến 43%, theo thử nghiệm của Đại học bang Ohio). Điều ấy làm giảm chi phí và tác động đến biến đổi khí hậu bằng cách loại trừ khí nhà kính ra khỏi quá trình tạo băng mà để sản xuất nó mỗi năm phải cần đến 100.000 kilowatt giờ.

Tuy nhiên, theo quan điểm doanh nghiệp, điều quyết định là băng đá sản xuất theo công nghệ ấy trong suốt nên những quảng cáo trưng bày dưới băng sẽ hiện rõ. Băng thường vỡ dưới trọng lượng của các đấu thủ khúc côn cầu vì bọt không khí trong nước khiến quá trình kết tinh không được hoàn hảo. Nhưng khi đã khử khí, băng vẫn trong và vững chắc ngay cả khi các đấu thủ trượt qua trượt lại trên đó. Chắc chắn những chuyên viên quảng cáo với kinh phí giới hạn sẽ nhận thấy ưu điểm phụ trội khi logo của họ được thấy rõ trong những buổi truyền hình thể thao. Rồi có lẽ cả những công ty quảng cáo cũng có thể bị thúc đẩy phải thanh toán hóa đơn. Đây có thể là một chiến thuật kinh doanh mới đầy lợi thế: công ty quảng cáo chi trả cho những thiết bị tiết kiệm năng lượng!

Thu nhập thêm từ dịch vụ quảng cáo nhiều gấp bội những khoản tiền tiết kiệm năng lượng và có thể tính bằng nhiều cách. Trong khi những khoản tiền to tát có thể được thỏa thuận với những nhà bảo trợ liên đoàn khúc côn cầu trên khắp thế giới, thì ở hàng ngàn sân trượt băng nhỏ hơn, việc sử dụng công nghệ xoáy nước để làm băng đá trong suốt có thể tạo ra thu nhập phụ trội và giảm áp lực kinh phí cho chính quyền địa phương.

Đáng chú ý là sân trượt băng của thị trấn Telluride thuộc bang Colorado tiêu thụ nhiều năng lượng nhất, chỉ sau nhà máy xử lý nước. Mới đây, thị trấn mua một hệ thống xoáy nước cho sân trượt băng của mình. Thị trấn dự kiến chi phí năng lượng sẽ giảm nhiều từ năm 2010, khi hệ thống được hoàn thành. Ở một nơi khác, thành phố Thụy Điển Malmö thấy rõ tiềm năng tiết kiệm/thu nhập nên đã xây dựng toàn bộ hệ thống làm băng đá bằng công nghệ xoáy nước. David Henderson, huấn luyện viên chính của đội khúc côn cầu Pháp, báo cáo đánh giá của ê kíp của mình về băng đá sản xuất bằng công nghệ xoáy nước như sau: “Các đấu thủ ưu tú đã đồng thanh khen ngợi sự cải tiến chất lượng băng về mặt rắn chắc và lâu bền. Băng trở nên trong hơn, dẫn đến một cải tiến quan trọng thứ hai: quảng cáo cho các nhà bảo trợ được thấy rõ ràng.”

Giá trị tạo ra bởi các ứng dụng vật lý thật là to lớn và vượt quá chi phí đầu tư rất nhiều. Thậm chí nó khiến cho việc tiết kiệm năng lượng có vẻ như là một lợi ích phụ thôi! Một công nghệ đơn giản tạo lợi thế cạnh tranh mới trong việc quảng cáo mà thoạt nhìn không thấy liên hệ gì đến không khí, năng lượng hay băng đá. Ước chừng trên thế giới có 16.000 sân trượt băng trong nhà. Nếu tất cả đều chấp nhận công nghệ xoáy nước, mỗi năm tổng số tiền tiết kiệm điện có thể đạt tới khoảng 200 triệu đô la. Hơn thế nữa, chi phí có thể sẽ thấp hơn nhiều so với tiền tiết kiệm được ngay trong năm đầu.

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP PHÒNG CHÁY TỰ NHIÊN

Một thời amiang được ca ngợi là sợi khoáng chất tự nhiên dùng để lợp mái nhà và cách nhiệt mà không sợ cháy. Nhưng rồi nó bị nhận dạng rõ ràng là một tác nhân gây bệnh ung thư. Tuy vậy, hàng chục năm sau khi nhiều nghiên cứu y tế và khoa học nghiêm túc đã chứng minh điều ấy, amiang vẫn còn được mua bán trên thị trường. Mỉa mai hơn nữa, những nước như Canada vốn tự hào là đang tiến tới mục tiêu bền vững lại tiếp tục cho phép khai thác mỏ amiang lộ thiên ở thế kỷ 21.

Cả châu Âu lẫn Hoa Kỳ đều triệt để cấm sử dụng amiang. Nhiều thỏa thuận không qua tòa án tốn vài tỉ đô la đã đè nén sự thèm muốn được tiếp tục dùng nó của ngành công nghiệp. Nhưng có một mặt trái của vấn đề. Luật pháp trên khắp thế giới cho phép sử dụng chất chống cháy trong nhiều sản phẩm như quần áo trẻ em, ghế ô tô, đồ lót, đồ đạc văn phòng và cả máy bay nữa. Sự tìm kiếm những hóa chất làm giảm khả năng gây cháy của mẩu thuốc lá hay nến đã thúc đẩy phát triển nhóm hóa chất gốc halogen . Những chất chống cháy này hoạt động tốt. Điều phiền phức duy nhất là hình như chúng cũng gây ung thư. Tệ hơn nữa, chúng tích tụ trong mô mỡ và cơ quan sinh sản của những loài có vú ở Bắc cực. Mọi người đều đồng ý rằng các hóa chất chống cháy ấy đã ra tới Bắc cực. Tuy nhiên, vì không ai giải thích được chúng đến đó bằng con đường nào, nên không thể xác minh mối liên hệ với các sản phẩm chứa halogen. Vì vậy không thể quy trách nhiệm pháp lý cho ai cả. Ngành công nghiệp sẽ tiếp tục sản xuất và bán các sản phẩm ấy.

Phải chăng người tiêu dùng tiếp tục làm ngơ trước sự tàn phá của các chất halogen mà người ta vứt bỏ và thiêu hủy? Các nhà khoa học tự hỏi gấu Bắc cực sẽ bị diệt chủng nhanh hơn vì sự vô sinh do hóa chất gây ra, hay vì sự phá vỡ nơi cư trú của chúng bởi biến đổi khí hậu. Vài chất thay thế như chất chống cháy gốc photpho được đưa ra thị trường; tuy nhiên, ngành công nghiệp quả quyết rằng không chất nào có hiệu quả như brom, một halogen .

Mats Nilsson, một nhà khoa học và nghiên cứu làm cho công ty Thụy Điển Trulstech Innovation đã phát triển nhiều chất keo và phấn từ những thành phần có thừa thãi và đạt độ sạch thực phẩm mà ông gọi là “những chất xơi nhiệt dạng phân tử”. Điều ấy có ý nghĩa. Cơ thể chúng ta có khả năng điều hòa nhiệt và oxy độc nhất vô nhị. Nếu nhiệt được dẫn ra khỏi nguồn nhiên liệu và oxy được khử thành carbon dioxit thì không còn nguy cơ cháy nữa. Đa số sinh viên hóa biết điều ấy dưới tên gọi là chu trình Krebs. Đó là một sự thay thế đáng giá: thay thế hóa chất gây ung thư có tác động xấu đến sức khỏe của chúng ta bằng vật liệu sạch, dễ kiếm và có giá phải chăng. Bạn hãy hình dung ưu thế cạnh tranh của chất chống cháy mà Nilsson phát minh. Không còn phải lựa chọn giữa cái chết tức khắc vì lửa và cái chết chầm chậm vì ung thư nữa! Chúng ta có thể thay thế sản phẩm hủy hoại đời sống bằng sản phẩm hỗ trợ đời sống. Các chất sinh hóa cần cho các phát minh của Nilsson có thể chiết ra từ bã nho, một phụ phẩm của nghề làm rượu chát, hay từ vỏ chanh cam là chất thải của ngành sản xuất nước trái cây.

Các sản phẩm ấy mô tả súc tích những ưu điểm của mô hình Kinh tế Xanh lam. Vẻ đẹp tuyệt vời của công nghệ Nilsson nằm ở tiềm năng giải quyết những thách thức sinh thái to lớn. Khi những đám cháy rừng tàn phá bang California hay Colorado, Cục Lâm nghiệp Hoa Kỳ (U.S. Forest Service) vội vã cho máy bay phun hóa chất chữa cháy. Bây giờ thay vì photpho, chúng ta có thể phủ kín cả vùng bằng những hóa chất có độ sạch thực phẩm và bảo đảm sự phục hồi mau lẹ của vùng bị cháy mà không gây thiệt hại cho hệ sinh thái.

Trong tương lai, cũng công nghệ ấy có thể được áp dụng để loại trừ hiểm họa nổ hầm mỏ. Metan tự nhiên tập trung quá nhiều trong những đường hầm ở mỏ gây ra nhiều thảm họa dưới đất nếu có tia lửa phát sinh từ máy đục khi cọ xát mạnh vào đá. Hiện nay, thiết bị đào mỏ được chế tạo bằng hợp kim niken và coban đắt tiền nhằm giảm nguy cơ từ tia lửa. Sử dụng những kênh thông gió sẵn có tại chỗ để phun chất chống cháy sạch vào không gian hầm mỏ có thể kìm hãm tia lửa và phòng cháy nổ. Điều ấy cũng làm giảm yêu cầu khai thác niken và coban cũng như chế biến những hợp kim hiệu suất cao hết sức tốn kém.

Những tiến bộ trong vật lý ứng dụng, hóa lý, hóa học và sinh học cho phép chúng ta tin rằng các đổi mới lấy cảm hứng từ tự nhiên đang tạo dựng một nền kinh tế mới. Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Achim Steiner, Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc, tuyên bố: “Nhiều công nghệ được dùng trong thương mại. Chúng ta chẳng còn nói lý thuyết nữa; đó là những kết quả thực tế đang tồn tại trong một thế giới thật và một thị trường thật.”

PHÁT HIỆN CÁCH GIẢI QUYẾT NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ BỀN VỮNG

Quan hệ thiết yếu giữa những định luật, lý thuyết vật lý và các điều kiện cơ bản cho cách thức sản suất, tiêu dùng và sống còn của chúng ta không được quan tâm cho lắm trong lớp học vật lý hiện tại. Tuy nhiên, nhờ xem xét các nguyên lý vật lý mà chúng ta hiểu được cách thức những thay đổi áp suất, nhiệt độ và độ ẩm rất nhỏ tạo ra những sản phẩm, quy trình khác thường mà tính hoàn thiện, chính xác và hiệu quả hơn hẳn những kết quả của công nghệ biến đổi gien. Thay vì dùng thủ thuật để sửa đổi đời sống sinh học, chúng ta có thể tìm thấy cảm hứng từ cách áp dụng vật lý của tự nhiên.

Những giải pháp nhanh chóng, chỉ dùng một lần có vẻ như không giải quyết được các vấn đề phức tạp mà chúng ta đang đối mặt, cả ở nơi cư trú cá nhân lẫn nơi cư trú lớn hơn là Trái Đất của chúng ta. Các ngành công nghiệp thành công của tương lai sẽ xem xét lại nền tảng khoa học và tìm nguồn cảm hứng cho những giải pháp sáng tạo: những giải pháp ứng dụng vật lý trước tiên, rồi mới đến hóa học. Nếu chúng ta tìm hiểu các lực cơ bản và các điều kiện tổng thể cho việc dự đoán những kết quả do vật lý quy định, thì chúng ta sẽ thấy sự khác biệt đáng kể giữa hóa học trong tự nhiên và hóa học đang chế ngự đời sống của chúng ta. Một ít phân tử còn lại trong những sản phẩm và những quy trình sản xuất tự nhiên phản ánh cách ứng dụng vật lý tốt nhất như có thể. Thằn lằn và trai cho thấy hai hệ thống dán dính, mỗi hệ thống hoạt động trong khuôn khổ những thông số vật lý rõ ràng. Mặc dù hóa học xanh và sinh học bền vững là những mục tiêu quan trọng, nhưng nếu nhìn kỹ hơn, chúng ta sẽ bắt gặp những lực quy định cả hai. Bất cứ lúc nào có thể được, các mô hình Kinh tế Xanh lam hoạt động theo vật lý. Một cách tiếp cận khác thường như thế, các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường cũng không thể làm hơn được.

Đó có lẽ là logic chúng ta cần phải theo trong một giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Thay vì sử dụng hóa học – truyền thống cũng như xanh – tự nhiên chỉ cho chúng ta cách loại trừ hóa học. Hóa học xanh và sinh học bền vững phải đối mặt với vấn đề tìm nguồn tài trợ và vượt qua thủ tục phê duyệt dai dẳng của những cơ quan có thẩm quyền ở các nước phát triển. Những khó khăn như thế cản trở việc cải cách, tái cấu trúc doanh nghiệp mà khủng hoảng kinh tế đòi hỏi phải thực hiện nhanh chóng. Khuôn khổ cạnh tranh của thị trường cần được phát triển để góp phần thúc đẩy những thủ tục điều tiết nhanh chóng khi có những nhận thức mới từ việc quan sát và áp dụng những gì tự nhiên đạt được.

Bạn hãy hình dung tác động của những đổi mới như thế trên việc thiết kế công trình xây dựng. Gần 50 trong danh mục 100 đổi mới của chúng tôi có thể được áp dụng cho nhà ở, văn phòng và nhà máy. Đầu tiên và trên hết, những tòa nhà sử dụng các công nghệ ấy tạo điều kiện tốt hơn cho sức khỏe của người ở đó. Như Trung tâm Pompidou của Jean Noel ở Pháp trình bày, một tòa nhà như thế có thêm lợi ích là những ai có cơ hội khảo sát nó kỹ sẽ thấy được cách ứng dụng khéo léo những định luật vật lý. Khi chúng ta chấp nhận các nguyên tắc của một Nền Kinh tế Xanh Lam thì lượng tiêu dùng những nguồn không tái tạo của chúng ta sẽ thu nhỏ lại so với trước đây, đồng thời vốn đầu tư và các chi phí khác cũng sẽ giảm.

Một Nền Kinh tế Xanh Lam không chỉ đem lại hiệu quả và lợi tức lớn hơn. Đa số những gì chúng ta nghĩ là cần thiết đều hoàn toàn vô ích và có thể được thay thế bằng những sản phẩm hay phương pháp đơn giản và tốt hơn. Các khả năng thay thế ấy không làm suy yếu, ngược lại còn tăng cường nền kinh tế của chúng ta, lại giúp tiết kiệm nguyên vật liệu và tiền bạc. Như vậy, với các đổi mới dựa trên những giải pháp thực dụng cho các vấn đề nghiêm trọng mà nhiều loài trên Trái đất đã giải quyết, chúng ta có thể định nghĩa lại mô hình có sức cạnh tranh. Những nhận định như thế giúp chúng ta đáp ứng nhiều thách thức đối với sự bền vững, đồng thời trao quyền lực và sự ưu tiên cho các nhà doanh nghiệp. Khi chúng ta tạo ra những phương thức tăng cường năng lực đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mọi người – nước, thực phẩm, y tế, nhà ở và năng lượng – với những gì sẵn có, thì chúng ta đang xây dựng một Nền Kinh tế Xanh Lam ngay từ gốc rễ.

Vài nhận định trao đổi trên đây – về những khả năng từ điều chỉnh điểm sương, tương tác màu sắc, phát tán nhiệt, cho đến lợi dụng tính kỵ nước – mở đường cho chúng ta đi tới những mẫu hình tư duy mới. Việc thiết kế công trình xây dựng hay nhà ở không cần phải đặt vấn đề tiết kiệm năng lượng nữa. Thay vào đó, vấn đề có thể là thay thế những ý tưởng cũ kỹ như dùng chất polyurethan để cách nhiệt bằng những ý tưởng mới mẻ và tốt hơn. Đó là một cách tiếp cận thú vị. Nền kinh tế theo định hướng tăng trưởng luôn luôn được thúc đẩy bởi sự tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn. Nhưng ở đây, việc giảm tiêu dùng lại kích thích nền kinh tế. Qua đó, một vật liệu hay quy trình sử dụng giải pháp hóa học độc hại được thay bằng một giải pháp chỉ áp dụng các tính chất vật lý.

Thay thế cái gì đó bằng... không gì cả. Điều ấy tạo dấu ấn cho nền Kinh tế Xanh lam đang hình thành của chúng ta.

CHƯƠNG BỐN. DẪN ÐƯỜNG CHO NHỮNG DOANH NGHIỆP DẪN ÐẦU THỊ TRƯỜNG

Ngày nay, chúng ta có một sự lầm lạc nhất thời được gọi là “tư bản công nghiệp”, tuy không chủ ý nhưng nó đang loại trừ hai nguồn vốn quan trọng nhất của nó − thế giới tự nhiên và những xã hội hoạt động tốt.

Không một nhà tư bản biết điều nào lại làm như thế.

– Amory Lovins

TRỒNG CÂY TỪ HẠT

Khởi đầu cách đây hơn 10 năm bằng một sự đầu tư thận trọng với số vốn ít hơn nửa tỉ đô la, đến năm 2008, các quỹ vốn mạo hiểm điều động khoảng 8,4 tỉ đô la vào việc phát triển “công nghệ xanh”, bất kể những tác động kiềm chế của tình trạng suy thoái và khả năng thanh toán bê bối trên toàn cầu. Ngày nay, 100 đổi mới được giới thiệu trong quyển sách này tạo ra khoảng 20.000 việc làm. Tuy đó đã là một điều khích lệ nhưng con số ấy chỉ là một dòng suối nhỏ, trong khi một thế giới cần một con sông rộng đến một tỉ việc làm mới. Trong khi tiền cứu trợ những ngành công nghiệp và những tổ chức tài chính phá sản có lẽ sẽ ra sông ra biển, việc đầu tư vào những đổi mới trong một danh mục tổng hợp có thể có tác động xúc tác mà thế giới đang cần gấp. Thậm chí người không có kinh nghiệm kinh doanh nhưng chỉ cần hiểu các nguyên tắc cơ bản của Nền Kinh tế Xanh Lam cũng có cơ may thành công trong doanh nghiệp. Nếu có được một giải pháp đòi hỏi ít chi phí hay năng lượng hơn bình thường hay những cơ hội với nhiều khả năng thu nhập, thì có lẽ chỉ cần một số vốn khởi nghiệp hay những khoản đầu tư vi mô để thúc đẩy việc thực hiện thành công.

Khủng hoảng dẫn đến sự tự do sáng tạo độc nhất vô nhị và mở ra một cửa sổ cơ hội để nhanh chóng xúc tiến những doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu cơ bản. Ngược lại, trong tình trạng bình thường người ta không thích hành động và cũng không có cơ hội để thành công. Các việc kinh doanh mạo hiểm mà chúng ta suy tính có lẽ là những cơ hội duy nhất trong đời người để tái định hướng nền kinh tế của chúng ta. Ở trung tâm thành phố, ngoại ô hay môi trường nông thôn, khắp nam, bắc, đông, tây, nơi nào chúng ta cũng có cơ hội giới thiệu những đổi mới và mô hình kinh tế đáp ứng nhu cầu của chúng ta tốt hơn 200 năm tiến bộ công nghệ.

Chỉ trong hai tháng cuối năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm mất đi khoảng 50 triệu việc làm ở những nước mới công nghiệp hóa. Một cuộc khủng hoảng kéo dài có thể đẩy thêm 200 triệu người vào vòng nghèo khổ. Tổ chức Lao động Quốc tế báo cáo con số “lao động nghèo” có thể lên tới 1,4 tỉ, nghĩa là phân nửa nhân dân lao động ở các nước đang phát triển. Làm sao chúng ta có thể tha thứ một sự nhạo báng như thế? Làm sao chúng ta có thể chịu đựng một sự mất mát tiềm lực con người như thế? Với tinh thần khẩn trương, chúng ta tập trung vào các giải pháp có khả năng cải thiện đời sống của nhiều người. An toàn sinh kế có nghĩa là mọi cá nhân có thể nhận được thực phẩm, chỗ ở và tiện nghi, có khả năng chu cấp đầy đủ cho gia đình họ, cũng như cảm nhận một mức độ nhân phẩm và sự thỏa mãn từ việc đóng góp sức lao động của mình. Các đổi mới mô phỏng cách lưu chuyển dưỡng chất và năng lượng của tự nhiên mời gọi chúng ta đến một tương lai phong phú, tốt đẹp hơn, một tương lai tràn đầy sức sống và đa dạng. Chúng có tiềm năng tạo ra hàng trăm triệu việc làm.

KHẢ NĂNG MỚI, TRIỂN VỌNG MỚI

Chúng ta có thể so sánh các biến động kinh tế toàn cầu hiện nay với những trận phun núi lửa, những cơn bão lốc mà tự nhiên gây ra. Mặc dù những thiên tai như thế đã tàn phá và gây nhiều cái chết thảm thương, nhưng chúng cũng đồng thời phục hồi ưu thế của môi trường chung quanh. Chúng là những ngoại lệ làm rõ thêm quy luật. Những trường hợp ngoại lệ ấy đặt cả hệ thống vào một tình trạng cực kỳ căng thẳng, nhưng chúng cũng mở ra những cơ hội, giải pháp mới đã không hiển nhiên trước đó.

Về mặt kinh tế, khi xảy ra một cuộc phá vỡ đến mức độ như thế, thì cũng có cách tiếp cận thị trường hoàn toàn mới. Những đổi mới có khả năng mô phỏng tác động lưu chuyển của tự nhiên và áp dụng các định luật vật lý có cơ may thành công vì chúng ít hưởng lợi từ những mô hình kinh doanh hiện hữu. Đơn giản là chúng không cạnh tranh theo cùng một luật chơi. Pin được thay thế bằng vật không phải là pin; thiết bị y tế, phẫu thuật, dược liệu được thay thế bằng “những cái không vừa nêu tên”! Thay vì thường xuyên đối phó với chất thải, “phần thừa của sản suất” được dùng để tạo ra nhiều thu nhập hơn hoạt động cốt lõi của một phương thức kinh doanh cũ. Về cơ bản, đó là lý do tại sao chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, chúng ta có cơ hội vừa tạo ra hàng triệu việc làm, vừa thoát khỏi sự khan hiếm, tình trạng ô nhiễm và rác thải. Hàng ngàn người ở hàng trăm nước trên thế giới sẽ hiểu các nguyên tắc bằng trực giác và thấy rõ các cơ hội ở những gì trước mắt họ. Việc làm của họ sẽ lưu chuyển và hợp nhất với hoạt động của những người khác, tạo thêm nhiều cơ hội cho một số người lớn hơn nữa. Cách tiếp cận sâu rễ bền gốc ấy lấy các mô hình của tự nhiên làm mẫu mực. Những đổi mới như thế có giá trị quy chiếu, và các giải pháp là thực tế.

Các cơ hội mới được nối liền với thực tế là việc sử dụng những nguồn không tái tạo là một yếu điểm. Sử dụng những thành phần độc hại là một yếu điểm lớn hơn nữa. Không có khả năng dùng những nguồn không thuộc về hoạt động kinh doanh cốt lõi hay thậm chí còn phá hủy những nguồn ấy nữa là những yếu điểm quan trọng làm mất đi nhiều cơ hội. Để rơi rụng hàng ngàn việc làm chẳng củng cố được lòng trung thành của khách hàng; chống lại sự thay đổi và nhận tiền cứu trợ của chính quyền chỉ là những hình thức lãng phí khác. Những sự việc ấy không xây dựng được niềm tin và không có cơ may thành công lâu dài.

Trong hai thập kỷ qua, nhiều học giả, giáo sư đại học, nhà lãnh đạo danh tiếng và có tài hùng biện đã giảng giải, trình bày về nhiều trường hợp đột phá được mô tả trong quyển sách này. Nhờ sự giới thiệu mở đầu của những nhà nghiên cứu khác nhau, một số thí dụ của ngành công nghệ tự nhiên được phát triển trên khắp thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu và phát minh xuất sắc đã nhiệt thành đóng góp vào sự tăng trưởng, thu hút sự chú ý đến lĩnh vực này. Khi ý thức ban đầu về công nghệ tự nhiên đến với những nhân vật có tên tuổi trên trường quốc tế, kinh phí được cấp cho việc nghiên cứu những đổi mới có thể hướng ngành kinh doanh đến sự bền vững. Phương tiện truyền thông đại chúng tường thuật về những đổi mới ấy kèm theo phim, ảnh tuyệt đẹp. Mọi chương trình phát hình đều được một cử tọa rộng lớn tán thưởng, và họ thiết tha muốn biết những thành tích khó tưởng tượng khác của giới động, thực vật.

Tuy nhiên, giới quản lý doanh nghiệp vẫn chưa hài lòng. Ngoại trừ một số ít trường hợp, đặc biệt ở Đức và Nhật, những nhà lãnh đạo thị trường thường chậm trễ trong việc chấp nhận hay thúc đẩy một công nghệ mới. Giới công nghiệp hầu như chỉ ủng hộ ngoài miệng nhưng ít khi đáp ứng các đơn đề nghị. Nhiều ủy viên quản trị doanh nghiệp tham dự những buổi trình bày các cơ hội tuyệt vời đã bày tỏ lòng nhiệt thành của mình. Nhưng rồi họ trở về văn phòng tiếp tục làm như từ trước tới nay. Trong buổi họp vào tháng một năm 2008 tại New York của Nhóm chuyên gia của Phó tổng thống Al Gore về giải pháp cho biến đổi khí hậu, người ta thường nghe: mặc dù vốn mạo hiểm hướng các ăng-ten của nó đến công nghệ tự nhiên, nhưng đa số những đổi mới được đề xuất quả thực “quá khác thường để có thể bắt rễ được”. Có lẽ điều ấy đúng, bởi vì các đổi mới ấy sẽ làm thay đổi về cơ bản mô hình kinh doanh hiện tại, và nếu các chuyên gia doanh nghiệp không muốn hoặc không có khả năng chấp nhận, họ sẽ khó hiểu và hầu như không có mối quan hệ nào với chúng.

Nếu chúng ta nghiêm túc trong việc thiết kế một mô hình kinh tế lấy cảm hứng từ các giải pháp tiến hóa theo thời gian của tự nhiên, thì sẽ không đủ nếu chỉ nghe thuyết trình, đọc những phóng sự, xem phim tài liệu đầy màu sắc và suy ngẫm về các mối quan hệ. Có một trở ngại chính mà chúng ta phải vượt qua để có thể biến ý tưởng thành hành động. Điều chủ yếu là các đổi mới phải được những người điều hành có tâm huyết đặt vào vị trí chiến lược có sức cạnh tranh. Hơn nữa, phải lập một lộ trình trong môi trường cạnh tranh, đi từ khám phá, đến hiểu biết khoa học, rồi đến thay thế mô hình sản xuất và tiêu dùng không lành mạnh, không bền vững hiện nay bằng một mô hình tốt hơn.

Làm thế nào chúng ta có thể chuyển đổi tình trạng suy thoái kinh tế - xã hội và hệ thống kinh tế tồi tệ của chúng ta hiện nay sang một hệ thống hỗ trợ đời sống, tăng cường khả năng phục hồi, dựa vào những gì có thể có được, áp dụng những cách thực hành tốt nhất, tạo ra vô số cơ hội học hỏi, thích ứng với điều kiện thay đổi, đáp ứng các nhu cầu cơ bản, xây dựng cộng đồng, giáo dục tinh thần trách nhiệm vượt qua chính mình, tạo công ăn việc làm, đem lại nhiều lợi tức và đặt ra những thách thức? Có nguy cơ con chúng ta sẽ đối đầu với những sai lầm mà chúng ta mắc phải: tiến hành chiến tranh, vi phạm nhân quyền, quẫn trí, vô cảm trước nạn đói nghèo đang hoành hành khắp thế giới. Cần phải thúc đẩy quyền tự do cải tiến, tư duy khác, có ý tưởng mới, tìm giải pháp đúng đắn, công bằng và ổn định. Dù là những em bé học mẫu giáo ở phố Manhattan sang trọng hay những cháu mặt đầy ghét và những nét gian khổ ở các favela (khu nhà ổ chuột) của Ecuador, thế hệ trẻ dễ dàng được thôi thúc bởi những cơ hội sinh động ở môi trường chung quanh. Tại sao các nhà lãnh đạo doanh nghiệp của chúng ta lại để mất cơ hội như vậy? Liệu có đủ doanh nhân có khả năng chuyển đổi hệ thống kinh tế, để chúng ta với tính cách là một xã hội có thể bỏ hành vi tiêu thụ ngày càng nhiều và làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên?

Số lượng đổi mới lớn lao dứt khoát sẽ là động lực thúc đẩy việc chuyển đổi kinh tế cần kíp ấy. Bạn hãy hình dung một nền kinh tế không có hội chứng thiếu hụt. Bạn hãy hình dung một nền kinh tế tiến dần đến sự đầy đủ, rồi những giây phút căng thẳng sẽ là chất xúc tác để đạt tới sự phong phú; nền kinh tế ấy luôn luôn thúc đẩy việc thực hiện những cách làm sáng tạo hơn nhằm kích thích sự đổi mới. Bạn hãy tưởng tượng một nền kinh tế khuyến khích thế hệ trẻ đạt tới những thành quả lớn hơn thành quả của cha mẹ họ – lớn hơn cả những gì cha mẹ họ có thể mường tượng được.

RA NGOÀI KHUÔN KHỔ

Mặc dù việc áp dụng mô hình thác nhiều tầng có lẽ hấp dẫn nhất đối với những tổ chức doanh nghiệp đổi mới với sứ mệnh xã hội quan trọng, nhưng cơ hội tạo việc làm trong nền kinh tế mới sẽ không dựa vào kết quả nghiên cứu các thao tác dẫn đến năng suất lao động của thế kỷ 19 và 20. Những cơ hội tạo việc làm mới sẽ xuất hiện từ công nghiệp “sinh” tạo, chớ không từ công nghiệp “chế” tạo [1] . Các ngành công nghiệp mới sẽ sử dụng những quy trình phù hợp với các định luật vật lý mà tự nhiên tuân theo.

Hóa chất mạnh, kim loại tinh chế và các vật liệu ô nhiễm, không tái sinh khác sẽ được thay thế bởi những giải pháp có được từ những đại lượng vật lý đơn giản − trọng lực, áp suất và nhiệt độ. Việc sinh tạo sẽ thay thế những quá trình độc hại, sử dụng nhiều năng lượng bằng những hoạt động ở nhiệt độ thường và sẽ lợi dụng những thay đổi áp suất tự nhiên cũng như các nguyên tắc vật lý khác để sản xuất hàng hóa. Chất thải sẽ trở thành nguồn nguyên liệu. Vật liệu có được ở địa phương sẽ được nhập vào dòng vật chất. Tiêu chuẩn môi trường sẽ tốt hơn và các ý tưởng sáng tạo sẽ được ưu tiên hơn những định chuẩn doanh nghiệp cứng nhắc mà nếu giữ nguyên trạng sẽ không thay đổi được dòng thu nhập.

Nhiều công ty đến nay vẫn còn hoạt động theo học thuyết quản lý đã ăn sâu vào tâm khảm, học thuyết không khuyến khích tư duy vượt giới hạn. Đó là một mô hình trung thành với năm nguyên tắc được phác thảo phía dưới. Trong thực tế, các nguyên tắc ấy có thể cản trở tiến bộ, thậm chí đối nghịch với một mô hình có khả năng cung cấp những phương tiện cần thiết để đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp của thời đại chúng ta. Thách thức của chúng ta không chỉ là ra khỏi khuôn khổ, nhưng là tìm cách thức để hoạt động với toàn bộ các nguyên tắc quản lý ấy, đồng thời thay thế giới hạn cũ kỹ bằng những cơ hội mới mẻ.

Nhiều năm trước đây, ông Soichiro Honda, người sáng lập Công ty Động cơ Honda, được hỏi khi cân nhắc việc phát triển từ một nhà chế tạo xe máy sang một nhà sản xuất ô tô, ông có làm một phân tích doanh nghiệp dựa vào những điểm mạnh và yếu của công ty ông cũng như của những công ty cạnh tranh hay không. Ông trả lời: “Nếu như ê kíp của chúng tôi làm một phân tích doanh nghiệp, chúng tôi sẽ không bao giờ mạo hiểm vào việc kinh doanh ô tô.” Ông bổ sung ngay: “Tôi chỉ lập một danh sách những yếu điểm của các nhà làm ô tô lớn nhất thế giới – và danh sách ấy đã khá dài.”

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ 1: KINH DOANH CỐT LÕI XÁC ÐỊNH BỞI NHÀ CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP

Những người tốt nghiệp trường kinh doanh hiện đại hành động theo tiên đề cho rằng mọi sáng kiến đều phải được phân tích kỹ lưỡng, đồng thời phải làm những báo cáo chi tiết, vạch ra những chiến lược rõ ràng để thành công và đẩy lùi những công ty cạnh tranh chính. Người ta huấn luyện các giám đốc điều hành và các nhà quản lý, yêu cầu họ hành động trong những lĩnh vực được xác định với các thông số rõ ràng để thành công. Nếu một công ty không có sức cạnh tranh, nó không thể tồn tại được. Chiếm thị phần có nghĩa người tiêu dùng cứ mua mãi một sản phẩm khi được chào bán với giá và chất lượng mà họ cảm nhận là lý tưởng. Tuy nhiên, một khi mô hình ấy đã trở thành xu hướng chủ đạo, người ủng hộ nó thường chống lại sự thay đổi và bào chữa cho những tổn hại không chủ ý mà nó gây ra cho môi trường và xã hội nói chung. Thậm chí sự mù quáng của cách thức kinh doanh cốt lõi còn có thể khiến người quản lý xa rời đạo đức xã hội và tạo ra một tiêu chuẩn đạo đức kép. Đáng lưu ý là giới doanh nghiệp thường cho rằng làm “ít xấu hơn” đồng nghĩa với “làm tốt”.

Quan niệm kinh doanh cốt lõi và năng lực cốt lõi là quan điểm chủ đạo trong các chỉ thị về quản lý trong nửa thế kỷ qua. Nếu một cách tiếp cận mới nằm ngoài phạm vi năng lực cốt lõi, sẽ vô cùng khó khăn để nó được ban quản trị chấp nhận. Hơn nữa, nếu chỉ dựa trên cơ sở những năng lực cốt lõi, một công nghệ mới cũng không thể được đưa ra thị trường. Cả khi một công ty dẫn đầu thị trường được thuyết phục là công nghệ mới sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh và thị phần, cũng không có gì bảo đảm công nghệ ấy sẽ được sử dụng cho việc phát triển. Thường các lĩnh vực mới dễ được tham gia hơn bởi những nhà doanh nghiệp đứng ngoài hàng ngũ những người gọi là lãnh đạo thị trường. Chuyển đổi trong nền tảng công nghệ và nhu cầu về năng lực mới sẽ giải thoát một công ty mới bắt đầu hoạt động khỏi sự ràng buộc của những kinh nghiệm trước đây trong ngành công nghiệp.

Hãy xem trường hợp máy điều hòa nhịp tim. Trong thời gian 50 năm, việc dùng phẫu thuật để cấy ghép sản phẩm y tế ấy vào cơ thể là giải pháp duy nhất để chữa trị tính thất thường của nhịp tim. Máy điều hòa nhịp tim được vận hành bằng một pin đặt cạnh xương đòn gánh. Lối sống đầy căng thẳng của chúng ta hiện nay đòi hỏi mỗi năm cần đến hàng triệu máy điều hòa nhịp tim – mỗi máy giá tối thiểu 50.000 đô la. Trong khi mọi người đều tập trung vào việc phát triển pin hiệu quả hơn, các giải pháp cho nhịp tim thất thường trong tương lai sẽ không yêu cầu dùng phẫu thuật và pin nữa. Chi phí của công nghệ chữa trị mới có thể không nhiều hơn 500 đô la; chi phí cho những ống nano chỉ có vài đô la thôi.

Ống nano hướng dòng điện từ mô khỏe mạnh tới vùng tim mắc bệnh dựa vào kết quả nghiên cứu những kênh trong tế bào truyền tính năng dẫn điện đến vùng quanh tim và xuyên qua tim cá voi. Đó là một những hiểu biết xa lạ đối với những người chế tạo máy điều hòa nhịp tim. Không một công ty thiết bị y tế theo xu hướng chủ đạo nào có được cơ sở để xây dựng ngành doanh nghiệp mới này. Đổi mới vừa kể đòi hỏi một chất dẫn điện, ống nano carbon, khả năng trao đổi thông tin, nguồn năng lượng tự nhiên và thiết kế chip. Một việc tái trang bị như thế ẩn chứa một vực thẳm đầy những yếu tố chưa được biết khiến các lãnh đạo thị trường từ chối đầu tư. Loại “công nghệ gây rối” ấy còn yêu cầu phải có nhân viên, những bộ phận và kế hoạch kinh doanh mới, có thể sánh với việc thành lập một đơn vị doanh nghiệp hoàn toàn mới. Thử thách lớn hơn cả là sự chấp nhận một cách tiếp cận như thế rất có thể sẽ thu hẹp dòng thu nhập đáng kể của các công ty thiết bị y tế.

Ai lại mạo hiểm vào một lĩnh vực chưa từng biết, nhất là trong giai đoạn suy thoái? Các tập đoàn công nghiệp khổng lồ như Boston Scientific hay Medronic không có xu hướng mở đường. Nếu một ban quản trị doanh nghiệp quyết định bỏ ra nhiều tiền để mua một thiết bị chế tạo theo một công nghệ đã qua thử thách, một thiết bị với khả năng sinh lợi bảo đảm, thì có lý do gì họ lại xúc tiến một quỹ nghiên cứu hay chấp thuận một việc đầu tư có thể gây thiệt hại? Ai lại muốn đẩy nhanh việc chuyển đổi sang phương pháp không giải phẫu ấy khi lợi tức thu vào chỉ là một phần nhỏ của dòng tiền mà mỗi ca giải phẫu tạo ra cho cả hệ thống y tế, kể cả nhà phẫu thuật, người gây mê, công ty dược và nhà máy chế tạo pin? Câu trả lời thật hiển nhiên: không ai trong số người hưởng lợi từ thị trường hiện nay.

Một thí dụ khác là việc sử dụng sáng tạo các đặc tính vật lý của xoáy nước. Hiện nay, các ngành công nghiệp khử muối, trừ cặn và lọc sạch nước đều lệ thuộc vào hóa học và phương pháp thẩm thấu ngược. Sản xuất nước uống từ nước biển đòi hỏi những hóa chất như clo diệt vi khuẩn, axit loại trừ cặn và áp suất đến 800 PSI để tách muối. Trong khi đó, công nghệ mới đã qua thử thách chỉ lợi dụng áp suất cao trong một xoáy nước để biến canxit thành aragonit. Áp suất càng lúc càng tăng của xoáy nước phá vỡ màng tế bào vi khuẩn, trong khi nước có tỉ trọng lớn hơn đạt tới 3,9ºC một cách tự nhiên, qua đó muối bị đẩy ra ngoài, khiến trung tâm dòng nước trở nên trong và tinh khiết. Đó là một phương pháp hoàn toàn khác với cách hoạt động của các công ty dẫn đầu thị trường, mặc dù có lẽ vài công ty như Nitto Denko, Siemens và General Electric sẵn sàng theo đuổi các phát triển mới ấy. Điều đó không chỉ đòi hỏi một tư duy tiến bộ, mà cả lòng ham muốn nắm vững công nghệ mới và sẵn sàng học những kỹ năng mới nữa.

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ 2: QUẢN LÝ DÂY CHUYỀN CUNG ỨNG

Quản lý dây chuyền cung cấp bao gồm việc kiểm tra nguyên vật liệu, giao dịch tài chính và cung cấp thị trường, từ khi thu hoạch nông sản hay thu gom nguyên liệu đến sản xuất, rồi đến tiêu dùng sản phẩm. Ngay cả khi một công ty dẫn đầu thị trường được thuyết phục là một công nghệ mới sẽ tạo cơ hội chiếm lợi thế cạnh tranh và thị phần, không có gì bảo đảm công nghệ ấy sẽ được sử dụng cho việc phát triển. Nó phải ăn khớp với một hệ thống chế tạo và phân phối − một dây chuyền cung cấp − đi trước sự đổi mới và có khả năng đột phá. Ê kíp quản lý chiến lược phải chắc chắn rằng các ý tưởng nghiên cứu có ý nghĩa đối với việc tiếp thị và sản xuất.

Nhiều hoạt động trong một công ty cần hội tụ chung quanh việc đưa vào sử dụng những công nghệ mới hay những sản phẩm mới xuất hiện. Thiếu sự hợp tác tích cực của mọi bộ phận, nhất là tài chính, quản lý dây chuyền cung cấp và tiếp thị, thì có thể gây ra nhiều mâu thuẫn công khai hay ngấm ngầm, những mâu thuẫn có nguyên nhân từ lợi ích cá nhân như kế hoạch thăng tiến và tiền thưởng cuối năm, hay từ các chính sách doanh nghiệp như quy tắc khấu hao, kế hoạch nộp thuế và mục tiêu thu nhập trong một quý. Trong thực tế, nhiều đổi mới được mô tả nơi đây hoàn toàn thích hợp với một mô hình chuỗi cung cấp hiện hữu. Dù vậy, việc phát triển thị phần là một thách thức chỉ có thể vượt qua với lòng dũng cảm và tính kiên trì.

Bây giờ, chúng tôi xin lấy thí dụ thuốc tiêm chủng thường cần cả một chuỗi bảo quản lạnh từ lúc sản xuất, vận chuyển, cung cấp cho đến khi cất giữ ở cơ quan y tế. Trong trường hợp này, quản lý dây chuyền cung cấp dựa vào việc kiểm soát nhiệt độ chặt chẽ. Nếu một khâu trong chuỗi bảo quản lạnh không hoạt động tốt thì thuốc chủng bị hư hỏng và phải loại bỏ. Ở các nước đang phát triển, việc ướp lạnh thường lệ thuộc vào một nguồn điện không ổn định. Giải pháp ở những nơi đó là đầu tư vào hệ thống làm lạnh bằng năng lượng mặt trời hay bằng propan để tránh rủi ro thuốc bị hư hỏng. Tuy nhiên, có nhiều giải pháp đổi mới khả thi.

Công nghệ ổn định nhiệt được phát triển bởi Bruce Roser và công ty mạo hiểm Cambridge Biostability của ông, lấy cảm hứng từ cây dương xỉ hồi sinh ( Polypodium polypodioides ) và một động vật không xương sống nhỏ tí ti là gấu nước (tardigrade). Họ chào bán một hệ thống đông khô sử dụng gấu nước để bảo quản thuốc chủng và sử dụng thiết bị tiêu chuẩn cho đổi mới ấy. Điều đó khiến nó được đưa vào dây chuyền cung cấp một cách dễ dàng.

Rất thích hợp với mô hình dây chuyền cung cấp là một đổi mới khác do hai nhà nghiên cứu Canada Sylvie Gauthier và Normand Voyer phát triển, và được chào bán bởi công ty mạo hiểm CO 2 Solutions niêm yết tại thị trường chứng khoán Toronto. Công nghệ đã đăng ký độc quyền của họ sử dụng khả năng tự nhiên của một chất xúc tác sinh học để quản lý khí CO 2 phát thải ở mức độ công nghiệp. Công nghệ ấy dễ dàng được ghép vào hệ thống cọ rửa của các nhà máy nhiệt điện than và nhà máy xi măng mà chỉ cần một điều chỉnh tối thiểu. Vì đó chỉ là một thiết bị phụ trợ cho công nghệ có sẵn nên không làm rối loạn hệ thống sản xuất và cung cấp hiện hữu. Do đó, đổi mới của họ có cơ may thâm nhập thị trường bằng những thỏa thuận với các văn phòng kỹ sư hàng đầu.

Các chất chống cháy và chống lửa của Mats Nilsson làm từ những thành phần có độ sạch thực phẩm đã kết hợp với chuỗi cung cấp để sử dụng trong tấm gỗ dán (dùng cho đồ đạc hoặc nhà ở), polyurethan (được dùng nhiều trong ô tô và nhà ở) và sợi thảm (dùng cho văn phòng, nhà ở và máy bay). Có hàng trăm ứng dụng khác nữa cần phải được phát triển. Mặc dù Nilsson có thể cung cấp các hóa chất vô hại ấy dưới dạng keo hay phấn, nhưng để kết dính các vật liệu cần được xử lý, phải thực hiện những điều chỉnh nhỏ cho mỗi ứng dụng. Nghiên cứu cho việc ấy đòi hỏi nhiều thời gian và tiền bạc. Phải am hiểu cách thức kết nối chất phòng cháy với những quy trình sản xuất để xử lý những vật liệu khác nhau như mủ cao su, ni-lông và xenluloza. Sự thiếu kinh phí đầu tư lớn đến nay đã làm giảm khả năng hoàn thành việc nghiên cứu cũng như xác định các đặc điểm kết dính của mỗi vật liệu và quy trình. Cho tới khi các chất halogen độc hại được thay thế bằng những phân tử mô phỏng theo chu trình Krebs, chúng ta cần phải đợi hàng thập kỷ nữa hay sao? Có lẽ chỉ khi người tiêu dùng bày tỏ sở thích của mình, họ mới có thể thúc đẩy các công ty xây dựng nhà cửa lớn nhất thế giới làm thử nghiệm, chấp nhận và sử dụng các sản phẩm ấy. Chúng ta hy vọng rằng những công ty theo xu hướng chủ đạo như Albemarle, Chematur hay BASF sẵn sàng tiến tới bằng những bước đột phá như thế.

NGUYÊN TÁC QUẢN LÝ 3: SỬ DỤNG NGUỒN LỰC BÊN NGOÀI

Những đổi mới thành công trong việc đáp ứng các yêu cầu của năng lực cốt lõi và quản lý chuỗi cung cấp cũng phải thích hợp với nguyên tắc sử dụng nguồn lực bên ngoài trong công tác quản lý. Sử dụng nguồn lực bên ngoài là một quá trình giao hợp đồng phụ cho các công ty bên thứ ba để ban quản trị có thể dành thì giờ, nhân lực và nguồn lực cho lĩnh vực cốt lõi của họ. Điều ấy đòi hỏi nhiều hơn việc chấp nhận một công nghệ mới bởi ban quản trị. Doanh nghiệp phải hành động với tư cách là tác nhân thay đổi đối với mọi nhà cung cấp và mọi công ty nhận thực hiện hợp đồng phụ. Nếu Daiwa House (Nhật Bản), công ty xây cất nhà cửa lớn nhất thế giới, quyết định thay thế hóa chất chống cháy mà họ đang sử dụng, công ty ấy cần phải phát triển và thử nghiệm những biến thể khác nhau của sản phẩm cho mỗi phạm vi ứng dụng, đề nghị cơ quan điều tiết công nghiệp chấp thuận, xác định các đặc điểm kỹ thuật mới và kết hợp với quy trình của hơn 600 nhà cung cấp và công ty nhận hợp đồng phụ. Đó sẽ là một công việc đáng kể.

Nếu chất chống cháy mới mẻ ấy chỉ cải thiện chất lượng không khí trong nhà nhưng không mang lại lợi tức phụ trội, thì việc chuyển đổi công nghệ trong giai đoạn suy thoái kinh tế sẽ khiến ban quản trị khó tập trung vào những nhiệm vụ cốt lõi mà họ đảm nhận: bảo đảm bán được nhiều hàng và cải thiện doanh thu. Ý muốn thay đổi phải đến từ tinh thần phục vụ cho sức khỏe và môi trường hơn là sự trung thành với những nguyên tắc quản lý thâm căn cố đế.

Một công nghệ khác dựa vào dãy số Fibonacci cho thấy những ứng dụng hiệu quả năng lượng có thể tiết kiệm bạc triệu cho các công ty sử dụng máy chủ vi tính bằng cách làm mát những máy chủ với hình học tự nhiên. Máy vi tính và máy chơi game như X-box của Microsoft quá nóng là một vấn đề quen thuộc. Tiếng động của quạt làm mát gây khó chịu. Khi làm việc với Cơ quan Ngư nghiệp và Động thực vật hoang dã của Úc, nhà tự nhiên học Jay Harman đã quan sát hình học chuyển động của những dòng nước đại dương và những luồng không khí. Dựa vào các quan sát đó, ông đã mô tả việc chuyển đổi hiệu quả chuyển động của tự nhiên thành những thiết kế khí động học mà ông gọi là “nguyên lý tạo dạng khí động học” (streamlining principle). Những gì ông học được từ vỏ ốc anh vũ và sừng linh dương châu Phi đã cải thiện đáng kể hiệu suất, sản lượng và cách sử dụng năng lượng của một loạt thiết bị xử lý chất lỏng, đồng thời giảm tiếng ồn. Ông đã thành lập tổ chức Pax Scientific năm 1997 và tạo nguồn vốn bằng cách bán giấy phép phụ thuộc khi có bằng chứng không thể tranh cãi về tính tiết kiệm năng lượng của công nghệ ấy. Tuy nhiên, không một ứng dụng nào của ông trở thành xu hướng chủ đạo. Ông và ê kíp của mình phải đối mặt với sự trì hoãn trong việc tiếp cận ban quản trị dây chuyền cung cấp, việc ứng phó với chu trình thay đổi nhanh chóng trong công nghiệp vi tính và việc phối hợp với nguồn lực bên ngoài trên khắp thế giới của công nghiệp vi tính. Số bằng sáng chế ngày càng tăng và lợi tức từ tiền ứng trước cho những giấy phép phụ thuộc vẫn tiếp tục cung cấp tài chính cho công việc nghiên cứu tiếp theo. Nhưng trước khi hoàn thành vụ buôn bán lớn đầu tiên còn một trở ngại thứ tư phải vượt qua nữa: con dấu chấp thuận của phó giám đốc phụ trách tài chính.

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ 4: DÒNG TIỀN LÀ VUA

Cả khi những sản phẩm mới có thể làm giảm chi phí bằng cách tiết kiệm tiền bạc hay năng lượng và đem lại lợi ích cho môi trường, cũng không dễ dàng bán được những sản phẩm ấy ra thị trường. Trong hoạt động doanh nghiệp thông thường, biên lợi nhuận (mức chênh lệch giữa giá thành và giá bán) được cải thiện là một điều tốt vì chúng tạo ra thu nhập phụ trội có thể dùng vào việc tái đầu tư. Nhưng kệ bày hàng tiêu dùng thì đắt, trong khi những sản phẩm tiêu dùng bán chạy, được quảng cáo rầm rộ trên phương tiện truyền thông đại chúng có nghĩa là dòng tiền lưu chuyển nhanh hơn. Trong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện tại, những công ty quốc tế khổng lồ với một danh mục sản phẩm lớn thường giảm thiểu số hàng chào bán cũng như số nhãn hiệu và chỉ cho vào catalogue của họ những sản phẩm quay vòng nhanh nhất, chớ không nhất thiết mang lại mức lãi cao nhất. Tổng số lợi tức thu được từ một sản phẩm chỉ có mức lãi 5% nhưng bán được hàng ngày sẽ cao hơn một sản phẩm với mức lãi 50% nhưng chỉ bán được một lần trong tháng. Sự quay vòng hàng hóa theo phương thức just-in-time [2] loại bỏ việc trữ hàng ở kho, giải phóng số vốn tồn đọng trong hàng hóa công nghiệp hay tiêu dùng tồn kho. Những loại hàng quay vòng nhanh rất hấp dẫn đối với nhà đầu tư và cổ đông; đặc biệt những ngành công nghiệp sản xuất và cung cấp nhu yếu phẩm rất thích những sản phẩm không chịu ảnh hưởng của những chu kỳ kinh tế hưng thịnh và suy thoái, như thực phẩm và những sản phẩm liên quan đến sức khỏe.

Một hoàn cảnh khác sau khủng hoảng tài chính là khó nhận được tín dụng. Khi có một công nghệ như công nghệ dùng xoáy nước để khử khí hòa tan trong nước của công ty Warenco có thể tiết kiệm 10 đến 12% năng lượng, ban quản trị tài chính của doanh nghiệp sẽ cho rằng mức giảm chi phí năng lượng ấy không thể biện hộ cho việc sử dụng nguồn tài chính eo hẹp. Hơn nữa, tiền chi cho việc tiếp thị và sản xuất có lẽ phải cần nhiều năm mới lấy lại được. Điều đó đủ để quyết định không mua công nghệ mới. Cả những đổi mới tiết kiệm 20 đến 30% năng lượng cũng khó có thể được chấp nhận trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Ý tưởng bảo đảm vốn đầu tư bằng những khoản tiết kiệm thuộc về một loại hình không thể chấp nhận được. Những đổi mới phải đem lại nhiều hơn sự tiết kiệm năng lượng; tốn ít chi phí hơn thôi chưa đủ. Các công ty dẫn đầu thị trường chỉ tin rằng việc đầu tư là cần thiết khi lợi tức phụ trội được bảo đảm.

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ 5: CẠNH TRANH CHÈN ÉP

Kể cả khi chiến lược gia doanh nghiệp, nhà quản lý chuỗi cung cấp và giám đốc tài chính đều tán thành đổi mới, vẫn còn phải tác động đến ê kíp tiếp thị. Các nhà phát minh và cách tân phải biết đề xuất một cách bán hàng độc đáo nhằm đưa một sản phẩm lên kệ hàng hay vào catalogue, đồng thời phải thành công trong việc “kể câu chuyện” của nó cho khách hàng tương lai. Trong một bầu không khí lo lắng về tình trạng thiếu hụt, thực tế trên kệ hàng cho thấy mọi người đều hoạt động trong một thị trường có đặc điểm là cung vượt quá cầu. Tình trạng đa dạng và có quá nhiều khả năng lựa chọn của chúng ta hiện nay được mô tả một cách thích đáng bởi thành ngữ Pháp “l’embarras du choix”, nghĩa là “có quá nhiều thứ để chọn lựa”.

Với nhiều khả năng lựa chọn như vậy, sự thành công không phải là lẽ đương nhiên, kể cả khi sản phẩm mới tốt và rẻ hơn. Khó khăn thứ nhất là gây sự chú ý, kế đó là thu hút người mua. Điều ấy có nguyên nhân là các công ty dẫn đầu thị trường theo đuổi một chiến lược được biết dưới tên “cạnh tranh chèn ép”. Nghĩa là nhiều sản phẩm dựa vào cùng một công nghệ nhưng thật ra chỉ là những biến thể với độ khác biệt rất nhỏ chiếm hết chỗ trên kệ hàng hay đáp ứng những yêu cầu công nghiệp khác nhau chút ít. Việc ấy có mục đích tạo cho người mua cảm tưởng họ có được đúng cái mình cần. Như vậy sẽ không còn nhiều chỗ cho cái mới nữa.

Sản phẩm và dịch vụ đều được tiêu chuẩn hóa; thủ tục sản xuất và phân phối được hợp lý hóa. Tính đa dạng trở thành trò tiếp thị tân kỳ và mẫu bao bì − hay bất cứ cái gì có tên gọi ấy − đều giống nhau ở mọi nơi. Về cơ bản, chỉ có một máy diesel trên thị trường thế giới, mặc dù nó được sử dụng bởi hàng chục nhà chế tạo ô tô. Các động cơ điện trong những thiết bị gia dụng gần như y hệt nhau ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Những quy trình sản xuất như thế củng cố thị phần trong tay một vài công ty mà mục tiêu là đạt hiệu quả kinh tế nhờ quy mô: sản xuất nhiều hơn một thứ duy nhất với mức chi phí ngày càng thấp hơn. Khi một món hàng nào được đưa vào xu hướng chủ đạo, lợi tức bảo đảm của nó sẽ cản trở, ngăn ngừa sự thay đổi.

Thị trường chất kết dính minh họa thật chính xác tình trạng lưỡng nan ấy. Có hàng trăm loại hồ và dung dịch keo dán trong một thị trường ngự trị bởi những công ty khổng lồ như 3M. Henkel, một công ty Đức kinh doanh những loại keo dán có nguồn gốc từ tinh bột. Trên thực tế, thị trường bị tràn ngập bởi những “giải pháp”. Hàng năm, nhu cầu thế giới về chất dán và chất trám trét đạt doanh thu gần 50 tỉ đô la. Chỉ riêng ở châu Âu, mỗi năm ngành sản xuất các chất ấy đầu tư 200 triệu đô la vào việc nghiên cứu và phát triển. Đó là một thị trường khổng lồ với năng lực nghiên cứu tập trung vào vài công ty có nhiều sản phẩm đến nỗi một sản phẩm mới, dù nó có ích và hấp dẫn đến đâu cũng khó kiếm được một thị trường ngách, chiếm một chỗ trên kệ hàng và trong các catalogue hay giành được sự chú ý của người tiêu dùng. Một bài đăng trên báo Time Magazine hay The Economist có thể đem lại một ít tiếng tăm, nhưng chừng nào không có đơn đặt hàng trên thực tế thì cũng chẳng ích gì. Mặc dù một ngày nào đó, nhiều giải pháp có thể thay thế những sản phẩm không thân thiện với môi trường, nhưng các công ty dẫn đầu thị trường hiện nay không sẵn sàng chấp nhận một sự thay đổi như thế.

Điều ấy lưu ý chúng ta về một hướng phát triển và giữ vững thị phần có thể đe dọa hay loại bỏ một sản phẩm trên đường đi tới thị trường chủ đạo. Biện pháp “làm nghẹt thở” có thể được ưu tiên áp dụng trước sự cạnh tranh chèn ép. Khi một sản phẩm mới bán trong một thị trường ngách và bị cảm nhận là mối đe dọa cho thị trường thông thường, các tập đoàn công nghiệp khổng lồ có thể mua đứt ngành doanh nghiệp đang lên và các bằng sáng chế công nghệ của nó. Hay là một số tiền lớn lao được đề nghị với nhà phát minh, rồi có lẽ công nghệ mới sẽ bị chôn vùi, không bao giờ đạt tới người tiêu dùng, chỉ vì nó có tác động phá vỡ một dòng thu nhập và mức lợi nhuận hiện có.

MẶT TRÁI CỦA ƯU ĐIỂM NHIỀU GIẢI PHÁP, ÍT THỜI GIAN

Bên cạnh một loạt giải pháp nhân tạo cạnh tranh với nhau trên thị trường, có nhiều đổi mới lấy cảm hứng từ các hệ thống tự nhiên. Khả năng của thằn lằn dẫn đến một đổi mới quen thuộc, trong khi khóa dán Velcro đã lấp đầy một thị trường ngách trị giá nhiều triệu đô la. Ong bắp cày chi Polistes gốc Trung Âu có thể dùng cái hàm khỏe của nó để đốn gỗ (vật lý trước hết). Rồi nó nhai những mảnh gỗ và hòa lẫn với dịch tiêu hóa. Như vậy, nó làm ngắn sợi gỗ bằng phương pháp hóa học. Khi hỗn hợp ấy khô, những sợi xenluloza đan xen vào nhau và chất kết dính trong dịch tiêu hóa của nó trở nên cứng. Cái tổ đã xong.

Trong khi ong bắp cày dùng một chất kết dính với dung môi là nước, ong mật sử dụng một chất dán chứa sáp để làm cái tổ có nhiều lỗ. Ở nhiệt độ cơ thể của ong, sáp là chất lỏng. Chỉ khi lạnh hơn, nó mới trở nên cứng và kết dính các thành phần lại. Do đó, sáp ong mật đáp ứng tốt nhất yêu cầu của các chất dán hiện đại, nghĩa là có đặc tính nóng chảy. Nó không chứa dung môi nhưng có thể được sử dụng như một chất lỏng. Ấu trùng của loài hàu có thể được gắn chặt vào gần như mọi vật cứng ở biển nhờ chất kết dính mà nó tiết ra. Chất kết dính ấy có khả năng chống thấm rất tốt và được tiết ra thường xuyên để bảo đảm không mất tác dụng.

Sự cạnh tranh chỉ trong lĩnh vực chất kết dính không thôi cũng đủ cho thấy có thừa khả năng sử dụng giải pháp tự nhiên. Do đó, ngay cả một ê kíp quản lý tỉnh táo cũng gặp khó khăn trong việc lựa chọn một đổi mới để hỗ trợ. Biết bắt đầu nơi đâu khi phòng nghiên cứu của mình hầu như không có nhà sinh vật học hay sinh hóa nào, còn các chiến lược tiếp thị và sản xuất thì bị buộc chặt bởi chiếc áo trói của việc kinh doanh dựa vào năng lực cốt lõi?

NGỤY TRANG XANH

Nhiều người trong chúng ta cho rằng mình hăng hái, tích cực, nhưng có thể nhiệt tình của người tiêu dùng và lòng ham muốn tìm giải pháp cho sự bền vững của những công dân lo âu lại trở thành một trở ngại cho việc tiếp cận một đổi mới thực sự. Trong khi tìm kiếm những giải pháp xanh, chúng ta quá hăng hái, nhanh chóng chấp nhận cái gì có vẻ như hiển nhiên sẽ dẫn tới sự bền vững, mặc dù trong thực tế, có thể cái đó không phải là một ý tưởng hay. Năm 2006, châu Âu vội vàng xúc tiến việc sản xuất nhiên liệu sinh học, để rồi hiểu rằng nhu cầu nguyên liệu to lớn và đột ngột, được thúc đẩy bởi những người muốn tiêu dùng nhiên liệu xanh, sẽ ảnh hưởng đến việc trồng bắp làm thực phẩm. Thay vì loại bắp thích hợp với người, nhiều nhà nông trồng bắp công nghiệp để làm thức ăn gia súc hoặc sản xuất nhiên liệu sinh học. Giá loại lương thực chủ yếu này tăng lên, khiến an ninh lương thực ở các nước đang phát triển càng khó đạt được hơn nữa. Hành động hối hả nhằm bảo đảm việc cung ứng bắp đã giúp các nhà buôn và các công ty chế biến nông sản lớn nhất thế giới đạt lợi nhuận kỷ lục, nhưng lại gây khó khăn vô cùng cho những người khác. Liên Hợp Quốc đã lên tiếng cảnh báo, và bắp cũng như dầu cọ không còn được khuyến khích làm nguồn nhiên liệu sinh học nữa.

Biểu đồ 5. Tình thế khó xử: chọn khả năng nào của bắp?

Tương tự như thế, chúng tôi đặt nghi vấn về ý nghĩa của việc làm xà phòng phân hủy sinh học bằng các axit béo có nguồn gốc từ cây cọ trồng trên đất suy thoái mà xưa kia là rừng mưa nhiệt đới. Chúng ta đã suy ngẫm về tính hợp lý của việc tiêu dùng nấm đông cô trồng trên cây đốn từ những rừng sồi Trung Quốc. Nếu chú ý tới bức tranh toàn diện hơn, chúng ta có thể tránh được hành động dễ dàng chấp nhận một giải pháp hiển nhiên để rồi sau này khám phá ra những điều tai hại.

Việc chế biến xà phòng phân hủy sinh học ở châu Âu và châu Mỹ đã phá hủy nơi cư trú của loài đười ươi. Khi những công ty có ý thức sinh thái phát triển một loạt xà phòng phân hủy sinh học trên cơ sở các axit béo từ cây cọ, thành công của họ trong việc chiếm thị phần đã kích thích các đấu thủ chính trên thị trường làm theo. Để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh, hàng triệu mẫu Anh rừng mưa nhiệt đới bị đốn hạ và thay thế bởi những đồn điền trồng cọ. Tổn hại không chủ ý ấy là bài học đắt giá để chúng ta hiểu rằng phân hủy sinh học không đồng nghĩa với bền vững. Những giải pháp xanh khiến sinh kế của người nghèo và nơi cư trú của loài linh trưởng bị đe dọa không thể chấp nhận được về mặt luân lý, đạo đức; chúng chỉ là một hình thức ngụy trang xanh.

Những giải pháp “xanh” với đầu vào hay quy trình có hại và tác động phụ ngoài ý muốn không đáng được tặng danh hiệu bền vững. Sẽ không hợp lý nếu chúng ta tán thưởng việc làm ít gây hại hơn, nhất là khi cả hệ sinh thái cần cho đời sống bị tổn hại. Khả năng lựa chọn hợp với đạo đức là thu được nhiều lợi nhuận hơn, chớ không phải gây hại ít hơn. Thay thế amiang bằng những chất chống cháy chứa halogen chẳng hạn không phải là một giải pháp thực sự. Một giải pháp ít độc hơn vẫn là một giải pháp độc hại. Chúng ta phải tìm ra những giải pháp không làm nhiễm bẩn chuỗi thức ăn cũng như môi trường xung quanh. Chúng ta có thể sửa đổi tư duy và nâng cao hoài bão của mình. Lý lẽ cho rằng một ít độc tố không gây hại dựa trên sự lừa dối là người ta có thể chịu đựng những lượng nhỏ của một chất đã được chứng minh là có hại, gây đột biến gien hay ung thư. Không có chẩn đoán “mắc bệnh ung thư một chút” nhưng chỉ có thể là: bạn mắc bệnh ung thư, hoặc bạn không mắc bệnh! Cũng thế, ý nghĩ bằng mọi cách kiếm được càng nhiều tiền càng tốt rồi dành một ít lợi nhuận để làm việc xã hội là vô đạo đức, mặc dù cái trò đền bù ấy rất phổ biến.

Thiếu khả năng thấy các mối liên hệ không hiển nhiên trước mắt là một thách thức chính mà chúng ta phải vượt qua khi xây dựng Nền Kinh tế Xanh Lam. Một số đổi mới đã không tránh khỏi những quy trình sai sót hoặc thiển cận. Khi điều chế một hợp chất mới để kiểm soát vi khuẩn theo phương pháp sinh học của công ty Biosignal (Úc), người ta đã dùng chính những dung môi độc của quá trình sản xuất chất nhân tạo tương ứng. Các tấm bạt kỵ nước - ưa nước đầu tiên để gom góp sương sa mạc được công ty QinetiQ (Anh) chế tạo từ những hóa chất có tiềm năng gây nguy hiểm cho sức khỏe công nhân và người tiêu dùng. Đèn huỳnh quang compact do công ty Osram sáng chế góp phần quan trọng vào việc tiết kiệm năng lượng và được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi, nhưng thủy ngân dùng trong việc chế tạo nó là một độc tố. Nếu thải bỏ, không tái chế bóng đèn đã qua sử dụng, chất độc ấy sẽ xâm nhập vào môi trường. Lương tâm không cho phép chúng ta ủng hộ việc tiết kiệm năng lượng, nhưng đồng thời lại thải thủy ngân vào hệ sinh thái. Chúng ta có thể làm tốt hơn nhiều.

LÚC ĐẦU 20 NGÀN, SAU THÀNH 100 TRIỆU

Khi thị trường yếu đi và biên lợi nhuận phải chịu áp lực, ít có khả năng ban quản trị của một doanh nghiệp ổn định muốn nhân viên phòng nghiên cứu hay thiết kế sản phẩm ủng hộ những ý tưởng sáng tạo theo cách của tự nhiên. Trong bối cảnh ấy, việc đưa vào áp dụng những đổi mới, kể cả những đổi mới với nhiều ứng dụng, là một thách thức. Nhưng thay vì than vãn về khó khăn trong việc thuyết phục các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, tốt hơn chúng ta nên vui sướng vì những đổi mới ấy sẽ tạo ra rất nhiều hoạt động kinh doanh mạo hiểm và việc làm lâu dài. Sự thiếu tích cực của những doanh nghiệp dẫn đầu thị trường hôm nay có thể khiến chúng thành cổ lỗ sĩ vào ngày mai, nhường cơ hội rất tốt cho những ai sẵn sàng sửa đổi luật chơi. Dĩ nhiên, cũng có thể giới quản lý theo xu hướng chủ đạo được thuyết phục và tư duy ngoài khuôn khổ. Chúng ta ai cũng đều biết qua kinh nghiệm bản thân là khi thất bại, chúng ta sẵn sàng thử một cách tiếp cận mới hơn.

Để vẽ lại hình ảnh tương lai, cần phải có nhiều nhà hoạt động khoa học, xã hội, doanh nghiệp, môi trường và văn hóa. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải rời bỏ một nền kinh tế mà tăng trưởng đi đôi với nợ nần chồng chất để lại cho con cháu chúng ta, đồng thời lãng phí nguồn lực của các thế hệ tương lai. Trong lúc này, khi chúng ta chứng kiến một cuộc tàn phá khủng khiếp bởi lòng tham, sự dối trá và nỗi mù quáng, khi chúng ta tỏ ý muốn thay đổi, thì có lẽ chính quyền, doanh nghiệp và công nghiệp sẽ sẵn sàng thay đổi nhận thức và phân phối nguồn lực nhằm hỗ trợ và phát triển Nền Kinh tế Xanh Lam. Có lẽ họ sẽ tiến tới với quyết tâm đáp ứng nhu cầu của mọi người bằng những gì chúng ta có được, những gì chúng ta có thể chia sẻ với kẻ khác.

* * *

[1] Một lối chơi chữ của tác giả: “eco”-facture, not “manu”-facture. PHH

[2] Cung cấp đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.