Nền Kinh Tế Xanh Lam - Chương 5+6

CHƯƠNG NĂM. KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG TUYỆT VỜI CỦA TỰ NHIÊN

Lạ thay, tự nhiên không gõ cửa mà cũng chẳng đột nhập! [1]

– Emily Dickinson

Bằng thạc sĩ quản trị doanh nghiệp (master of business administration; viết tắt: MBA) mang lại cho chủ nhân của nó một địa vị khiến họ đáng được chọn làm nhà quản lý hay lãnh đạo doanh nghiệp. Họ đã học cách phân tích các mối giao dịch và tương tác giúp xác định rõ mức giảm chi phí lao động và nguyên liệu, tối ưu hóa dòng thu nhập, mở rộng thị phần và cải thiện việc quản lý dây chuyền cung cấp. Đáng tiếc là các chuyên gia ấy, nay đã thành những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, có vẻ như sắp mất liên hệ với các nơi cư trú và cư dân của hành tinh chúng ta. Tệ hơn nữa, sự tập trung quá nhiều vào hoạt động kinh doanh cốt lõi khiến họ trở nên mù quáng, không nhận biết những cơ hội hiện thực bên ngoài lợi ích hay phạm vi hiểu biết của họ. Các hệ thống sản xuất và tiêu dùng của chúng ta đã lỗi thời, không có khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của mọi người. Chúng phải được cải tiến hoặc thay thế bằng những hệ thống phát triển mạnh mẽ nhờ hoạt động hài hòa với mọi sự sống, thúc đẩy quá trình đa dạng hóa và bảo đảm đầy đủ thực phẩm, nhà ở, y tế và sinh kế cho mọi người. Chính vì nhận định ấy mà chúng ta ngưỡng mộ và quan tâm đến khả năng thích ứng tuyệt vời của tự nhiên (mastery of brilliant adaptation; viết tắt: MBA) [2] .

Các hệ sinh thái là nguồn cảm hứng dạt dào cho việc sáng tạo những mô hình kinh tế có khả năng đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người. Các hệ thống tự nhiên biến đổi, tiến hóa không ngừng. Đó chính là sức mạnh và vẻ đẹp của chúng. Khi dự phần vào MBA của tự nhiên, chúng ta bắt đầu hiểu cách thức hợp nhất các đổi mới vào những hệ thống đa dạng: những hệ thống lưu chuyển thức ăn và năng lượng, cung cấp năng lượng từ những nguồn tổng hợp và tái tạo, thiết kế những cơ cấu tiếp nhận và sử dụng cái nhỏ bé, biến đổi nó thành cái lớn lao, thành mạng lưới hiệu quả đến nỗi không có gì bị thải bỏ, cho phép chúng ta thu được một năng lượng ròng.

Công nghiệp chống lại sự thay đổi liên tục. Tính có thể dự đoán được là tên gọi của trò chơi. Mô hình kinh doanh cốt lõi và năng lực cốt lõi theo đuổi năng suất một cách thái quá, khiến con đường thay đổi và tiến hóa tự nhiên bị ngăn trở. Đó chính là cái logic công nghiệp đã dẫn tới những giải pháp dựa vào thủ thuật biến đổi gien. Một khi bạn biết phương pháp thay đổi gien, bạn sẽ tin rằng mình biết cách đoán trước hậu quả của việc ấy. Trong khi những nhà lãnh đạo công nghiệp ưa chuộng một hệ thống sản xuất sử dụng hóa chất mạnh để cố định vĩnh viễn các phân tử và những biến đổi gien kìm hãm các khuynh hướng tiến hóa tự nhiên, thì các hệ sinh thái cung cấp một giải pháp khác hẳn. Nước là dung môi; các phân tử có những liên kết tạm thời cho phép chúng dễ dàng phân hủy sinh học và luôn luôn có thể kết nối lại với nhau. Các thay đổi gien tự nhiên xảy ra trong giới vi khuẩn thuộc về quá trình tiến hóa của chúng.

Hai khuôn khổ khác nhau ấy giải thích tại sao các hệ thống tự nhiên luôn luôn thay đổi trong khi các hệ thống công nghiệp vốn dĩ chống lại sự thay đổi. Nhằm tránh thay đổi và cung cấp nhiều hơn những sản phẩm như nhau, các hệ thống công nghiệp tạo ra những tiêu chuẩn được áp dụng khắp mọi nơi trên thế giới, lấy cớ là việc ấy sẽ giảm phí tổn. Ngược lại, các hệ sinh thái cung cấp mọi thứ ở địa phương. Vì các hệ sinh thái phát triển trên đa dạng sinh học địa phương nên việc tiêu chuẩn hóa ít có lợi. Dù sao đi nữa, đa dạng sinh học – như tên gọi đã hàm ý – có nền tảng là tính đa dạng. Điều ấy làm sáng tỏ lý do tại sao các mô hình kinh doanh mới dựa trên những đổi mới sẽ được thực hiện bởi hàng ngàn doanh nhân, mỗi người trong bọn họ sẽ tìm được một ngách thị trường và một cơ hội tốt. Mong muốn của giới công nghiệp là kiểm soát và tiêu chuẩn hóa, sáp nhập và bành trướng trên đường biểu diễn tưởng tượng của nền kinh tế sản xuất hàng loạt, ngoại tác hóa mọi phí tổn bên ngoài phạm vi nhỏ hẹp của họ. Trên thực tế, chỉ một ít loại cà chua và khoai tây được thương mại hóa trong khi có tới hàng trăm loại khác nhau. Việc độc canh những cây lương thực chính của chúng ta là lúa mì, lúa gạo, bắp và đậu nành giải thích tại sao đất nông nghiệp bị cạn kiệt và dịch bệnh dễ lây lan.

Quan sát tự nhiên, chúng ta sẽ thấy các hệ sinh thái đạt hiệu quả và tính đa dạng ngày càng cao hơn, đó là nhờ đóng góp của tất cả các bên tham dự cuộc chơi. Một cây tuyết tùng 500 năm tuổi và một chú gấu to lớn, đường bệ có lẽ là những sinh vật khiến chúng ta chú ý nhiều nhất khi lãng du trên dãy Rocky Mountains, nhưng quan sát kỹ hơn, chúng ta sẽ phát hiện hàng triệu loài khác, đa số không thể thấy được bằng mắt thường. Các loài ấy không chỉ có những đóng góp mà còn có vai trò rất quan trọng đối với toàn hệ thống. Quá trình tiến hóa bao hàm một xu hướng bất biến là đạt hiệu quả cao hơn và tính đa dạng lớn hơn. Các ngành kinh tế thành lập bởi những nhà hoạt động doanh nghiệp, khoa học, văn hóa và giáo dục ở mọi cấp độ cũng nên như thế.

Như Fritjof Capra giải thích, hệ sinh thái là mạng lưới của những mạng lưới. Có thể quan sát các nguyên tắc điều hành như nhau trong mỗi mạng lưới. Thật vậy, tất cả các hệ sinh thái đều luôn luôn kết nối, luôn luôn cho phép mọi thành viên đóng góp hết năng lực của mình, đồng thời hoạt động trong một phạm vi nhất định, nơi mà dưỡng chất và năng lượng lưu chuyển không ngừng và các định luật vật lý được tuân theo không ngoại lệ. Phỏng theo mô hình thác nhiều tầng và áp dụng các quy luật vật lý, chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu cơ bản ở khắp mọi nơi, bằng những thứ có được ở địa phương. Không còn sự khan hiếm, thiếu hụt giả tạo nữa, trong Nền Kinh tế Xanh Lam rất dồi dào thực phẩm, năng lượng, việc làm và lợi tức. Trước kết quả tiềm tàng ấy, bao nhiêu cộng đồng có thể phản đối? Bao nhiêu nhà doanh nghiệp không dám đưa những đổi mới như thế ra thị trường?

Mọi người có thể nghĩ xem việc sử dụng một công nghệ nền tảng thay thế hóa chất bằng những tác động thuần vật lý, tương tự cách hoạt động của cái xoáy nước, có ý nghĩa như thế nào. Mọi người có thể hiểu ý nghĩa đối với an ninh lương thực khi chất thải cây cà phê hay những cây nông nghiệp khác biến thành loại nấm giàu protein, tạo thu nhập từ cả chất thải lẫn nấm và cung cấp thức ăn chất lượng cao cho gia súc. Chúng ta đang gầy dựng vốn xã hội và loại trừ sự lạm dụng. Chúng ta đang biến một mặt hàng được kinh doanh trên toàn cầu thành một nguồn thực phẩm góp phần bảo đảm an ninh lương thực. Chắc hẳn mọi người đều có thể hiểu một giá trị như thế.

TRAO QUYỀN CHO DOANH NHÂN

Mô hình cho Nền Kinh tế Xanh Lam dựa trên những gì có thật. Trong khi tình trạng mất việc làm và thanh niên thất nghiệp gây căng thẳng trong thế giới công nghiệp, chúng ta phải đối đầu với thực tế là trên thị trường lao động của nền kinh tế hỗn loạn hiện nay không còn chỗ cho một tỉ lao động mới, nhất là từ các nước đang phát triển.

Bất lực trong việc hình dung những việc làm có ý nghĩa và đặt ra những thử thách xứng đáng cho cả một thế hệ có nghĩa là bảo thanh niên rằng họ không có tương lai, thế hệ của họ đã mất. Hàng đêm, hơn một tỉ người đi ngủ với bụng đói. Gần hai tỉ người không có cơ hội sử dụng nước uống an toàn. Tệ hơn nữa, hệ thống kinh tế hiện nay dựa trên cái khái niệm phá sản về sự khan hiếm; trong hệ thống ấy, tăng trưởng được trả giá bằng nợ nần thường xuyên để lại cho các thế hệ tương lai. Sự thiếu hụt được xem như cơ sở logic và một điều không thể tránh được, nhưng nhờ vậy mà việc cấp phát kinh phí được hiệu quả hơn. Cũng cái tâm lý khan hiếm ấy khích động người ta tranh luận và chống lại sự đổi mới, bởi vì nó mô tả các tác nhân thay đổi như mối đe dọa cho công ăn việc làm, đồng thời lại đề nghị giảm bớt lao động.

Vì vậy, sẽ cần đến tính sáng tạo và khả năng hòa nhập của các doanh nhân với khoa học, xã hội, thương mại, môi trường và truyền thông đại chúng để tiến tới Nền Kinh tế Xanh Lam. Những hệ thống tự nhiên có thể giúp xây dựng đội ngũ doanh nhân địa phương, cũng như quá trình tiến hóa đã thu nhận những đổi mới nhờ tính đa dạng. Không có sức đổi mới nào lớn hơn những người có tâm hồn trẻ trung, sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Mục tiêu rõ ràng cũng cần thiết như lòng kiên trì. May thay, bạn không cần kinh nghiệm trong một lĩnh vực nhất định, mà cũng không cần có nhiều tiền. Chỉ cần giữ căn bản đạo đức vững chắc và biết cách tạo ra dòng thu nhập bất chấp mọi điều bất lợi.

Như chúng tôi đã lưu ý, các đổi mới mô tả trong quyển sách này có lẽ khó được những doanh nghiệp theo khuynh hướng chủ đạo chấp nhận. Các công ty lớn thường thỏa mãn với việc tăng gia sản xuất những gì tỏ ra là thành công, có lẽ vì thiếu năng lực sáng tạo hay không muốn cam kết vốn ban đầu cho cách tiếp cận mới. Đó là một ưu thế lớn cho những nhà doanh nghiệp tích cực. Hoạt động trên cơ sở khoa học vững chắc, với tầm nhìn, ý thức xã hội và tình cảm, họ có thể thực hiện và phát triển các đổi mới ấy, tạo ra những làn sóng thay đổi thâm nhập mọi ngành kinh tế, thúc đẩy thị trường theo hướng bền vững. Họ sẽ thành công trong việc phát triển quan hệ đối tác tốt đẹp, sử dụng tốt khối cơ quan - tổ chức và đạt tới khả năng hiện thực trên thị trường bằng cách tranh thủ sự ủng hộ của người tiêu dùng trong cả một giai tầng kinh tế - xã hội rộng lớn. Họ sẽ đạt được thành công trên thị trường nhờ những sản phẩm tốt và rẻ hơn những đối thủ cạnh tranh.

Trong giai đoạn khủng hoảng, khi các công ty dẫn đầu thị trường bị stress, thậm chí một số công ty khó tiếp tục tồn tại, thì đó có lẽ là thời điểm tốt nhất để những người trẻ hay những người lớn tuổi có tâm hồn trẻ trung để tâm trí vào một mô hình kinh doanh mới. Nói thật ra, không thể có nhiều cơ hội sự nghiệp khi hàng triệu việc làm bị mất đi và công việc lương cao cho người có học vị là ngoại lệ, chớ không phải là điều thông thường. Hơn nữa, trái với dự đoán, thực sự trong thời gian suy thoái, những rào cản thị trường lại thấp hơn bình thường. Trong một nền kinh tế tương đối ổn định, các đổi mới không dễ dàng thâm nhập thị trường. Ngược lại, khi cả hệ thống kinh tế là bằng chứng của sự hỗn loạn, thì những người có thẩm quyền quyết định sẽ dễ chấp nhận mọi dự án nổi bật hay có vẻ ổn định. Một hãng lớn có thể sẽ sẵn sàng sản xuất loại hàng hóa khác hẳn hay chấp nhận phương pháp mới.

Nhiệm vụ của một nhà doanh nghiệp theo nghĩa của từ entrepreneur là kết hợp cái gì mới mẻ với cái đang tồn tại, là hoạt động như một lực nòng cốt trong việc biến ý tưởng thành của cải, như một tác nhân giữa ý tưởng và việc thực hiện. Tuy nhiên, nếu hoạt động đơn độc thì dù có nhiều vốn và nhiệt tình, bạn cũng khó đạt được điều gì. Thành công ở thị trường thường phụ thuộc vào sự hợp tác kinh doanh. Không hẳn các đổi mới sẽ vào được thị trường và các nhà quản trị doanh nghiệp, các chuyên gia ngân hàng đầu tư cũng không phải là những người nhào nặn thị trường duy nhất. Thường những đột phá thị trường được tạo ra bởi các tác nhân thay đổi, những người có khả năng ảnh hưởng tới thị trường và tạo lợi thế cho mình. Vì thế, một trong những cách thức để thành công trong việc ứng dụng đổi mới là hợp tác với các tác nhân thay đổi. Mặc dù có nhiều công-xoóc-xiom mang tính đổi mới (hãy xem xét vai trò của phương tiện truyền thông đại chúng, cộng đồng hoạt động thường dân và các tổ chức phi chính phủ), nhưng cũng có nhiều phương pháp thành công để gây sức ép một cách hiệu quả.

Ví dụ như các công ty bảo hiểm, họ bắt mạch thị trường hiện nay, liệt kê các khuynh hướng trong nền kinh tế thế giới trên cơ sở những khoản tiền mà họ phải chi trả. Các công ty bảo hiểm là một điểm áp lực hiển nhiên tạo ra sự thay đổi trên thị trường, nhất là khi có thể tiết kiệm được những khoản tiền đáng kể. Một trong những năng lực cốt lõi của họ là theo dõi sát sao rất nhiều thống kê. Không ai biết cách xử lý những con số hơn họ. Thật vậy, quyết định chống trạng thái bất biến của họ hoàn toàn dựa vào khoa học thống kê đơn thuần. Các công ty bảo hiểm cùng với người tiêu dùng, pháp đoàn đầu tư, cộng đồng và chính quyền địa phương là những đối tác trong các quyết định thúc đẩy đổi mới vượt qua tốc độ đều đều và các tiện nghi của ngành công nghiệp.

Để làm rõ điều ấy, chúng ta hãy xem xét cách thức các công ty bảo hiểm kiếm tiền qua việc đề nghị những chính sách bảo hiểm hỏa hoạn. Khi theo thống kê, số trẻ em tử vong vì lửa trở thành một mối lo ngại, các công ty bảo hiểm và các hãng sản xuất công nghiệp cùng vận động hành lang cho việc sử dụng hóa chất chống cháy. Thống kê cho thấy rủi ro hỏa hoạn giảm xuống khi hóa chất phòng cháy được sử dụng. Tỉ lệ hỏa hoạn thấp có nghĩa là lợi nhuận của ngành công nghiệp tăng thêm do bán được nhiều hóa chất. Vài thập kỷ sau, khi thống kê cho thấy số đàn ông mất khả năng sinh sản, số người bị dị ứng, hay thậm chí số trẻ em mắc bệnh ung thư tăng lên, và nếu những con số ấy được khoa học chứng minh là có liên quan trực tiếp tới việc sử dụng hóa chất phòng cháy, thì ngành công nghiệp bảo hiểm lại có thể thúc đẩy sự thay đổi bằng cách đề xuất với các nhà lập pháp thông qua một tiêu chuẩn hay giải pháp mới và hạn chế các chất bị nghi ngờ đã gây ra tình trạng ấy (cho dù đi ngược lại ý muốn của ngành công nghiệp).

Các công ty bảo hiểm và chuyên gia thống kê của họ thừa biết rằng họ không chứng minh được tính nhân quả của quan hệ nói trên. Ngược lại, sự đảo lộn trách nhiệm chứng minh làm thay đổi mô hình kinh doanh. Để được yên, ngành công nghiệp phải chứng tỏ mình đã cân nhắc mọi khả năng lựa chọn và đi tới kết luận là sẽ không bao giờ xảy ra tác động tiêu cực. Về phía các tác nhân thay đổi, họ có thêm một phương tiện bảo đảm sự chấp nhận nhanh chóng những đổi mới mang tính đột phá. Trong ví dụ của chúng ta, các nhà bảo hiểm có thể thu được nhiều lợi tức bằng cách bán những hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm cho những hãng làm hóa chất phòng cháy độc hại. Nếu có bằng chứng về mối tương quan giữa một hóa chất nhất định với một bệnh cụ thể nào đó thì phí bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm có thể tăng lên tới mức áp lực chi phí thúc đẩy ban quản trị thay đổi nhanh hơn luật pháp yêu cầu. Chi phí bảo hiểm và việc từ chối bảo hiểm rủi ro của các công ty tái bảo hiểm buộc hãng sản xuất phải có hành động thích hợp.

Các công ty bảo hiểm còn có thể tăng cường tiềm năng lợi nhuận bằng cách hợp nhất những dữ liệu từ mỗi công việc bảo hiểm rủi ro riêng biệt. Việc ấy cung cấp một cơ sở thông tin to lớn cho thấy con đường hiển nhiên dẫn tới sự thay đổi trong công nghiệp, thúc đẩy những đổi mới theo khuyến nghị của các công ty bảo hiểm. Các hãng bảo hiểm sức khỏe có thể xác định nhiều hóa chất có độc tính hơn xét nghiệm Ames, phương pháp đánh giá tiềm năng gây đột biến của các hợp chất hóa học. Họ có thể xếp loại các hóa chất bị nghi ngờ gây vấn đề sức khỏe và đề nghị những chất thay thế.

BA MỨC ĐỘ BỀN VỮNG

Rất thường khi ngành công nghiệp tìm thấy những chất tự nhiên thay thế các sản phẩm hiệu quả nhưng độc hại, rồi sản xuất những chất ấy theo phương thức truyền thống “đun nóng, tăng áp”, tạo ra một dấu chân carbon [3] quá lớn. Hay khi ngành công nghiệp đã tìm thấy những giải pháp trong sinh học, nhưng để chắc chắn đạt được những kết quả “có thể dự đoán trước”, họ lại dùng phương pháp nhân dòng vô tính và thủ thuật biến đổi gien. Như vậy, việc lấy cảm hứng từ tự nhiên để tìm những hợp chất thay thế sản phẩm tiêu chuẩn của thị trường đòi hỏi nhiều hơn một sự thay đổi đơn thuần từ hợp chất này sang hợp chất khác. Hợp chất và hệ thống sản xuất phải mô phỏng các quá trình tự nhiên để đạt tới sự hội tụ ở trạng thái bền vững theo mong muốn. Nền Kinh tế Xanh lam cung cấp một cẩm nang dựa vào vật lý và tự nhiên cho việc chọn lựa vật liệu và phương pháp sản xuất. Trên cơ sở đó, nó đề xướng một dòng thác sáng tạo và tái tạo, một dòng thác của những đổi mới khả thi. Như vậy, chúng ta có được sản phẩm lâu bền, hoạt động sản xuất và hệ thống tổng thể bền vững. Về mặt lợi ích kinh tế, điều ấy dẫn đến những sản phẩm, những quy trình và mô hình kinh doanh có sức cạnh tranh, vượt xa những hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Tự nhiên hoạt động ở nhiệt độ và áp suất của môi trường xung quanh. Cũng thế, vỏ bào ngư tuy cứng hơn loại gốm Kevlar đạn bắn không thủng cũng được tạo thành bởi nhiều lớp đắp chồng lên nhau trong điều kiện tự nhiên. Vỏ bào ngư làm bằng canxi cacbonat và protein, những vật liệu hoàn toàn có nguồn gốc tại chỗ. Đó là một quá trình bền vững. Các hãng làm đồ gốm có thể biện luận rằng tự nhiên sản xuất rất ít, rất chậm, trong khi tiêu chuẩn công nghiệp đòi hỏi phải sản xuất hiệu quả, đúng thời hạn và đem lại kết quả có thể dự đoán trước. Đúng như vậy, việc làm đồ gốm trong lò nung trên 1000 độ cần một thời gian ngắn hơn nhiều so với thời gian tạo ra vỏ bào ngư. Tuy nhiên, hãng sản xuất đồ gốm phải mua nguyên liệu từ công ty khai thác mỏ. Trước hết, người ta phải khám phá những mỏ ấy và cần có giấy phép để khai thác. Rồi phải vận chuyển nguyên liệu vòng quanh thế giới, chế biến (ở nhiệt độ và áp suất cao nhằm tăng tốc độ, tiêu chuẩn hóa hoạt động và đầu ra) cũng như giao hàng theo kích cỡ thích hợp. Nếu chúng ta tính đến những yếu tố ấy, từ khi tìm kiếm quặng cho đến lúc cung cấp canxi cacbonat cho cơ sở sản xuất đồ gốm, các ưu điểm về thời gian và năng suất sẽ không còn hiển nhiên nữa. Đáng lưu ý là khi nào việc khai thác mỏ là một khâu trong quá trình sản xuất, thì các hệ thống tự nhiên hoạt động nhanh hơn và chỉ sử dụng một phần nhỏ năng lượng.

MỘT ĐỔI MỚI, NHIỀU MỐI LỢI NHUẬN

Rõ ràng các đổi mới mô tả nơi đây có tiềm năng tạo ra nhiều dòng đa thu nhập. Thị trường xoay quanh đồng tiền nên tiền bạc là một phương tiện trao đổi. Đổi mới nào có nhiều ứng dụng thị trường sẽ hấp dẫn hơn và có nhiều khả năng được những doanh nghiệp ổn định chấp nhận. Cơ hội tạo ra nhiều mối lợi nhuận là một hiện tượng rất hấp dẫn vì nó huy động cùng lúc nhiều nguồn vốn cho nhiều thị trường ngách. Điều ấy làm giảm rủi ro của sự đổi mới. Tuy thế, việc đầu tư vẫn có nguy cơ cao. Các điều kiện của một thỏa thuận đầu tư có thể không hấp dẫn lắm đối với những nhà sáng chế, nhưng nhu cầu tài chính có thể cấp bách đến nỗi họ phải chấp nhận.

Trong tình trạng suy thoái, tiền bạc là vua. Những ai là tỉ phú sẽ dễ dàng đặt điều kiện cho sự thỏa thuận. Mô hình kinh doanh cốt lõi với một dòng thu nhập duy nhất thường được các nhà đầu tư ưa chuộng. Họ muốn ban quản trị chỉ tập trung vào một lĩnh vực nhiều hứa hẹn nhất. Mọi nhà đầu tư đều sẽ đánh giá cơ may thành công của một công nghệ mới. Các công ty kinh doanh muốn được nhiều vốn mạo hiểm hơn phải khám phá một danh mục thật dài gồm “những điều có thể sai lầm”. Đồng thời, họ phải giới thiệu một đổi mới với hàng chục ứng dụng khả thi với các công ty vốn mạo hiểm vững vàng ở Thung lũng Silicon. Tất cả các công ty ấy sẽ yêu cầu một ứng dụng bảo đảm tổng thu 100 triệu đô la trong vòng ba năm.

Rủi ro là đặc tính cố hữu của doanh nghiệp, nhưng những rủi ro liên quan đến đa số các đổi mới xem xét trong quyển sách này đã được tính toán, giảm nhẹ và thấp hơn thông thường rất nhiều. Thật vậy, các đổi mới ấy có thể làm giảm nguy cơ vì chúng thay đổi mô hình kinh doanh ngay từ cốt lõi của nó. Các thành tựu của công nghệ nền tảng, nơi mà những thông số cơ bản được sử dụng có hiệu quả, làm giảm rủi ro một cách rõ rệt và có khả năng đem lại nhiều lợi tức hơn việc tài trợ cho một ngách thị trường nhỏ hẹp. Trước một tiềm năng to lớn như thế, các nhà đầu tư nên đánh giá lại rủi ro trong quan hệ với nhiều mối thu nhập vừa nói đến. Đó là ưu điểm chính yếu của hầu hết các đổi mới hàng đầu được mô tả trong quyển sách này.

Chúng ta không cần nhìn đâu xa để chứng minh điều ấy. Ví dụ, có 37 ứng dụng thương mại từ xoáy nước được biết đến. Hơn 20 ứng dụng từ nhóm chất furanon trong rong biển, những chất hạn chế sự phát triển nhanh của màng sinh học bằng cách làm tắc nghẽn thông tin của vi khuẩn (xem chương 8). Số tiền tiết kiệm sẽ rất lớn khi một ca phẫu thuật tốn đến 50.000 đô la nhường chỗ cho một biện pháp không giải phẫu chỉ tốn 500 đô la nhằm điều hòa nhịp tim mà không dùng pin. Như vậy, thay vì chỉ bán một triệu máy điều hòa nhịp tim trong năm, ngành công nghiệp y tế có thể cung cấp một tỉ miếng đắp có cùng chức năng.

Polyme (hợp chất cao phân tử) tơ do công ty Oxford Material phát triển đã được năm công ty khác nhau khai thác, mỗi công ty với nguồn tài chính riêng biệt. Tổ chức Pax Scientific cũng chọn cách tiếp cận ấy, cấp kinh phí cho năm lĩnh vực ứng dụng khác nhau để hiểu rõ tự nhiên chuyển nước và không khí như thế nào mà ít chịu lực ma sát. Biosignal, công ty Úc mới khởi nghiệp đã phát triển những cách sử dụng nhóm chất furaron vào việc chống vi khuẩn (xem chương 8), có một chiến lược tương tự: họ phân chia những ứng dụng tiềm năng cho các thị trường: nông nghiệp, tiêu dùng, trang thiết bị y tế và công nghiệp cũng như điều trị, trước khi để danh mục công nghệ của họ nhập vào một công ty khác. Mỗi công ty con ấy có thể huy động nhiều nguồn khác nhau vào việc áp dụng những giải pháp ngách như chất chống rỉ sét trong hệ thống dẫn dầu khí, chất chống đổ mồ hôi hay một phương thuốc có tiềm năng chữa bệnh xơ nang. Tất cả đều bắt nguồn từ một công nghệ nền tảng. Watreco, công ty mới thành lập xây dựng trên cơ sở những diễn giải toán học của Curt Hallberg về xoáy nước, đã đưa vào thị trường những giải pháp đa dạng như tiết kiệm năng lượng trong việc tạo băng, tăng tốc độ thấm nước qua bãi cỏ sân golf, khử lớp vôi kết tụ trong ống dẫn nước và bơm không khí vào bể nuôi cá. Các công ty mạo hiểm ấy là những ví dụ sinh động về những doanh nghiệp sẵn sàng thúc đẩy tiến bộ của ngành kinh doanh.

Khả năng đem lại nhiều dòng thu nhập của các công nghệ ấy làm giảm rủi ro và tăng giá trị sở hữu trí tuệ, cho phép các nhà phát minh cấp giấy phép phụ cho những ứng dụng công nghệ. Như vậy, họ có thể tập trung vào những gì khơi gợi sự quan tâm và kích thích trí tò mò của họ. Để có khả năng vượt qua trở ngại, cần phải có nhiều quan hệ hợp tác. Mặc dù nhà phát minh và chuyên viên marketing có những mục tiêu khác nhau nhưng họ có thể liên kết một cách có lợi cho cả hai, bắt đầu với khoa học tiên tiến vững chắc và dựa trên phân tích sâu sắc của nhà doanh nghiệp về khả năng cạnh tranh. Giới đầu tư mạo hiểm sẵn sàng tài trợ cho những ai có ý tưởng hay. Điều cần thiết hiện nay là khả năng và sự sẵn sàng đưa những đổi mới ra thị trường.

Các đổi mới với tiềm năng tạo ra nhiều nguồn thu nhập ở những thị trường khác nhau rất hấp dẫn. Nếu các bộ máy làm ra tiền ấy biến đổi mô hình kinh doanh thì những doanh nghiệp phát triển các đổi mới ấy không chỉ đáp ứng một nhu cầu quan trọng, mà còn theo đuổi những cơ hội đầu tư và kinh doanh nữa.

LƯU CHUYỂN NGUỒN LỰC TRONG MỘT CỘNG ĐỒNG

Những đổi mới nêu trên còn có thể tạo điều kiện cho các cộng đồng đáp ứng nhu cầu của họ, nhất là trong những xã hội bị stress nặng nề. Chúng đặt nền tảng và cung cấp phương tiện để các nhóm hoạt động phát triển thành phong trào, giành được thị phần bất kể điều kiện khó khăn. Những cộng đồng không có vốn để kinh doanh buôn bán mà cũng chẳng có tiền đầu tư thường bị xem như ít nhiệt tình với việc dẫn nhập ý tưởng mới. Nhưng các thành tựu của cha Godfrey Nzamujo ở Benin, Chido Govero ở Zimbawe và Paolo Lugari ở Columbia đã chứng minh điều đó không đúng. Việc thiết kế và xây dựng các hệ thống sinh học tổng hợp của họ đã biến đổi những cộng đồng không có khả năng phát triển thành những cộng đồng làm ăn phát đạt. Phân nửa nhân loại sống ở vùng nông thôn. Các nước đang phát triển mà dân cư chủ yếu làm nghề nông hay sống ở nông thôn có thể hưởng lợi lớn từ những hệ thống sinh học tổng hợp, bổ sung bởi nhà máy lọc sinh học, ví dụ như hệ thống được sử dụng ở Las Gaviotas để thu thập nhựa thông, chế biến thành chín sản phẩm tại địa phương với năng lượng tái tạo trong vùng và dùng toàn bộ chất thải từ các quy trình ấy để sản xuất vật liệu xây dựng. Những hệ thống sinh học tổng hợp cũng giúp các nước công nghiệp thu nhỏ dấu chân sinh thái và tăng hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu của họ.

CƠ HỘI THẬT, GIẢI PHÁP THẬT

Việc thay đổi mô hình kinh doanh trở nên hiển nhiên và cần thiết, được phát triển từ những hiểu biết ngày càng nhiều của chúng ta về MBA của tự nhiên, tức là cách thức những hệ thống tự nhiên dựa vào các lực vật lý, chớ không tiêu thụ nguồn lực của hành tinh, ngay cả những gì cần để duy trì sự sống. Tác động rất đáng ngạc nhiên. Kết quả thật hấp dẫn. Có những vắc-xin không cần giữ lạnh, máy điều hòa nhịp tim không cần phẫu thuật, công nghệ xoáy nước khử lớp vôi trong ống dẫn nước không cần hóa chất, rong biển chống vi khuẩn bằng cách làm cho chúng điếc và tơ sắc bén như dao cạo – danh sách còn dài hơn nữa. Sự thay thế những gì độc hại và không lâu bền chỉ bằng quá trình tự nhiên chắc hẳn có thể giúp giải quyết các thách thức lớn nhất của thời đại chúng ta, đồng thời mở ra một cửa sổ cơ hội cho những sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới.

Cơ hội thay thế “một cái gì” bằng “không gì cả” – thay thế một vật liệu hay quá trình có hại bằng những đổi mới chỉ dựa vào vật lý và tự nhiên – gây hứng thú đặc biệt cho chúng ta. Khả năng giảm rủi ro bằng cách tạo ra nhiều thu nhập hơn khiến sản phẩm và dịch vụ có sức cạnh tranh. Điều đó sẽ thúc đẩy sự hình thành một lớp doanh nhân mới. Đó là cách thức tạo ra hàng triệu việc làm lâu bền, biến đổi sản phẩm kiểu cũ và phương thức sản xuất lỗi thời thành những đổi mới và quá trình dựa trên những giải pháp có giá trị tham chiếu, những giải pháp khuyến khích thế hệ tương lai trở thành những nhà phát minh. Hàng tỉ năm kinh nghiệm tích lũy trong quá trình tiến hóa của các loài và hệ sinh thái có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện những giải pháp và tạo ra những khả năng lựa chọn cho nhiều môi trường khác nhau. Đó là những giải pháp đã tỏ ra linh động và có tính đàn hồi.

Trong nhiều thập kỷ qua, mục tiêu bền vững đòi hỏi mọi người phải chi trả, đầu tư nhiều hơn để cứu giúp môi trường hay giảm bớt ô nhiễm. Nhưng ít ai sẵn sàng hay sẵn lòng chấp nhận cách thức ấy để đạt mục tiêu. Ngay cả thuế môi trường và tiền phạt trong trường hợp gây ô nhiễm cũng không thúc đẩy công tác bảo tồn một cách đáng kể. Ngày nay, chúng ta có thể đạt nhiều kết quả tốt hơn và tạo ra nhiều nguồn đa thu nhập, đồng thời phát triển vốn xã hội và tăng cường khả năng chịu đựng của cộng đồng. Những ai hưởng lợi từ một ít lựa chọn trong quá khứ bây giờ có thể hợp lý hóa việc đầu tư vào những giải pháp mới, những giải pháp sẽ củng cố xã hội và cộng đồng ngay từ gốc rễ. Động lực thúc đẩy sự thành công sẽ là hàng ngàn doanh nhân mà nhiệt tình và hoạt động tích cực dư sức bù đắp mọi thiếu hụt về tài chính và kinh nghiệm. Hơn nữa, những đổi mới thành công nhất ở thị trường sẽ là các đổi mới đáp ứng được nhu cầu cơ bản. Đó chính là điều mà thiên tài quản lý Peter Drucker đã khẳng định trong những năm 80 của thế kỷ trước: “Nhu cầu của người nghèo là cơ hội cho các nhà doanh nghiệp.”

Khi các nhà sản xuất muốn thay thế một quá trình độc hại bằng một quá trình khác ít độc hại hơn, thì họ chỉ “hành động ít tệ hại hơn” thôi. Đó là trường hợp đổ hàng tỉ đô la vào việc chế tạo pin ít độc, mặc dù bền hơn. Việc ấy vẫn lệ thuộc vào các quá trình khai thác quặng và luyện kim cũng như hóa chất độc hại, rồi sau cùng đại đa số pin bị ném vào bãi rác gây ô nhiễm môi trường, đầu độc hệ sinh thái, đồng thời là mối hiểm họa lâu dài cho sức khỏe của chúng ta. Nhiều người lý luận rằng một biện pháp giữa chừng ít ra cũng đi đúng đường. Đó thực sự là một tiêu chuẩn đạo đức lừa dối. Tất cả chúng ta phải khẩn trương hành động tốt hơn. Đừng chấp nhận quan niệm cho rằng hành động ít tệ hại hơn là đủ.

Tài liệu khoa học hiện nay cho thấy hàng ngàn khả năng đột phá lấy cảm hứng từ cách thức các loài sinh vật vượt qua những thử thách để sống còn. Mặc dù chỉ mới một ít loài để lộ cả quá trình của chúng, các bí ẩn còn có thể được khám phá và các cơ hội vẫn không thay đổi. Thời gian sẽ cho phép chúng ta hiểu chúng và thực hiện những đổi mới thúc đẩy phương thức sản xuất và tiêu dùng của chúng ta theo hướng bền vững.

Trong các chương sau, chúng ta sẽ xem xét khuôn khổ của Nền Kinh tế Xanh Lam trên cơ sở những đóng góp và giải pháp có hiệu lực ngay lúc này. Một Nền Kinh tế Xanh Lam sẽ áp dụng các thành tựu hệ sinh thái vào những hệ thống kinh tế. Thật vậy, việc thực hiện Nền Kinh tế Xanh Lam sẽ bảo đảm cho các hệ thống của con người, đúng hơn là mọi hệ thống sống, có thể đạt tới trạng thái ổn định và an toàn, một trạng thái bảo vệ, duy trì con đường tiến hóa và tái sinh.

* * *

[1] Nghĩa bóng: tự nhiên không thu hút sự chú ý đến mình mà cũng không quấy rầy ai.

[2] Ở đây, tác giả đối chiếu “mastery of brillant adoptation” với “master of business administration”, đồng thời dùng lối chữ, vì chữ tắt của hai từ đều là MBA.

[3] Tổng số lượng khí nhà kính như carbon đioxit và metan (tính bằng đương lượng CO 2 ) được phát thải bởi cả thế giới hay của một nước, một vùng, một ngành kinh tế v.v. hay của một cá nhân trong một năm.

CHƯƠNG SÁU. MÔ HÌNH THÁC NHIỀU TẦNG, DÒNG ÐA THU NHẬP

Hãy cho tôi một chỗ đứng, rồi tôi có thể lay chuyển quả Địa cầu!

– Archimedes

Trong thời kỳ biến động, những đầu óc tích cực tìm kiếm giải pháp ở bất cứ nơi nào có thể. Cả khi toàn bộ nền kinh tế bị xem như đang suy thoái, vẫn luôn luôn có những lĩnh vực tăng trưởng. Y tế, sản xuất lương thực và kiểm soát ô nhiễm là ba lĩnh vực mà mọi người đều nhất trí là chi tiêu chắc chắn sẽ tăng ngay cả trong thời kỳ khó khăn. Một thí dụ tiêu biểu nhất về tiềm năng tăng trưởng là nhu cầu tăng nhanh của thế giới về nấm thực phẩm và nấm dược liệu.

Kể từ khi xuất hiện một tầng lớp trung lưu có sức mua sắm ở Trung Quốc, nhu cầu về nấm đông cô tươi (tên khoa học: Lentinula edodes ) và các loại nấm khác đã bùng nổ. Tỉ số tăng trưởng hai chữ số là bình thường trong hơn hai thập kỷ qua. Châu Âu và Bắc Mỹ cũng đã khám phá giá trị dinh dưỡng và tác dụng chữa bệnh của nhiều loại nấm có tên gọi lạ tai như “mộc nhĩ” ( Auricularia auricula ), “nấm kim châm” ( Flammulina velutipes ), “nấm múa” hay “tọa kê” ( Grifola fondosa ) và “linh chi” ( Ganoderma lucidum ). Chẳng bao lâu nữa, rất có thể những tên gọi ấy sẽ trở thành một phần vốn từ vựng thường ngày của chúng ta, y hệt như “expresso”, “latte”, “sushi” và “pizza”.

Nhu cầu về nấm và số việc làm cần thiết để đáp ứng nhu cầu tăng lên từ khi thức ăn ngon ấy có thể được sản xuất tùy ý. Wu Sangong, một nhà khoa học - nhà nông ở thế kỷ XIII đã mở đầu việc thâm nhập của người Trung Quốc vào lĩnh vực protein bổ dưỡng của nấm, một trong năm giới của tự nhiên. Thủ đô nấm đông cô tươi trên thế giới là Thanh Viễn ở châu thổ sông Châu Giang thuộc Trung Quốc. Tuy nhỏ hơn khu vực vịnh San Francisco, nhưng Thanh Viễn sử dụng trên 120.000 người trồng nấm đông cô với giá trị thị trường ở phương Tây lên tới hơn một tỉ đô la. Theo giáo sư Shuting Chang, một chuyên gia về nấm thuộc trường Đại học Trung Hoa ở Hương Cảng, người đã góp phần chủ yếu vào sự thành công của nghề trồng nấm trên bình diện quốc tế, tổng giá trị xuất khẩu của ngành canh tác nấm Trung Quốc vượt quá 17 tỉ đô la và hỗ trợ 10 triệu việc làm trong năm 2007. Nấm trồng trên rơm hiển nhiên góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho dân số đông đảo của Trung Quốc, mặc dù điều này đã khiến các chuyên gia về dân số và lương thực phải ngạc nhiên trong nhiều thập kỷ.

Đây là một trường hợp mà chất dinh dưỡng có thể được lưu chuyển theo mô hình thác nhiều tầng qua cả năm giới của tự nhiên. Những phần thừa từ cây, trái và rau cải (giới thực vật) trở thành đồ ăn cho gà vịt, heo, cá (giới động vật). Nguồn thực phẩm này được bổ sung bằng nấm (giới nấm); nấm biến đổi một cách kỳ diệu chất thải thực vật, đặc biệt là rơm rạ thành thức ăn. Vi khuẩn (giới tiền nhân) cũng được huy động trong bể phân hủy để biến phân chuồng thành môi trường nuôi cấy tảo (giới protoctista ).

Nhu cầu nấm nhiệt đới của Hoa Kỳ chỉ có 175 gram/người/năm. Lượng tiêu thụ ở Canađa lớn gấp đôi. Hương Cảng (Hồng Kông) đạt con số đáng kinh ngạc là 13,6 kg/người/năm [1] . Nếu người tiêu dùng Mỹ ăn nhiều nấm như người Canađa, điều đó sẽ khiến doanh thu tăng thêm hai tỉ đô la. Nếu dân Mỹ thay đổi thói quen ăn uống cho giống với thói quen của dân Hương Cảng, công nghiệp nấm nhiệt đới sẽ vượt qua mọi ngành kinh doanh khác trên thế giới, kể cả ngành dầu hỏa, nếu tính theo giá thị trường hiện nay của dầu và nấm. Ý nghĩa của thống kê ấy nằm ở chỗ: theo truyền thống, nấm được trồng trên chất thải nông nghiệp mà đại đa số xem như một mối phiền toái và thường chỉ thiêu hủy.

Sinh khối từ vỏ cây, lõi ngô và rơm không chứa lượng protein hay polysaccharide đáng kể, vậy mà nấm mọc trên đó lại giàu protein. Tính trên trọng lượng khô, vài giống nấm sò có thể sánh với thịt về hàm lượng protein cũng như các axit amino thiết yếu. Thật bất ngờ khi nấm mỡ trắng ( Agaricus bisporus ) vẫn là loại nấm được tiêu thụ nhiều nhất ở phương Tây, mặc dù nó chứa ít protein nhất và cần phân ngựa tiệt trùng để phát triển. Thậm chí một số nước nhập khẩu chất thải này từ nước ngoài để trồng nấm mỡ trắng. Bạn hãy tưởng tượng xem, chúng ta có một nền thương mại thế giới tự do trao đổi phân ngựa để sản xuất loại protein kém chất lượng! Đó là một mô hình kinh doanh không bền vững mà cũng chẳng có tính cạnh tranh nên không đáp ứng được nhu cầu thực phẩm của một thế giới ngày càng đông đảo hơn.

Tác động qua lại giữa các hệ thống tự nhiên có khả năng bảo đảm việc tạo dòng thác lưu chuyển protein từ nhiều nguồn khác nhau chứ không lệ thuộc vào một nguồn duy nhất. Nếu thấu hiểu điều ấy, chúng ta có thể bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu bằng những gì có được ở địa phương. Nấm biến đổi chất thải thực vật thành những quả thể ăn được. Sau khi thu hoạch, phần nấm còn lại trong cơ chất là ty thể (còn gọi là thể sợi hay khuẩn ty) có thể dùng làm đồ ăn giàu chất dinh dưỡng cho gia súc. Đến lượt gia súc, chúng lại tạo ra phân chuồng mà vi khuẩn tiêu hóa thành phân bón làm giàu đất, giúp cây và loài tảo tăng trưởng tốt. Hệ thống lưu chuyển thức ăn từ một loài thuộc một giới tự nhiên này sang một loài thuộc một giới khác là điều kỳ diệu của các hệ sinh thái. Vì vậy không có nạn chết đói hay thất nghiệp trong một hệ sinh thái. Mọi cá thể đều hoạt động hết mình, vừa sống bằng thức ăn vốn là chất thải của một cá thể khác, vừa góp phần thỏa mãn nhu cầu cơ bản của cả hệ thống.

Mô hình sản xuất nấm nhiệt đới tương đối đơn giản. Trước hết, sinh khối dùng để trồng nấm được khử trùng dưới áp suất và nhiệt độ cao, nhưng một số người biết cách bỏ qua quá trình này. Trong phần lớn thời gian, môi trường nuôi cấy nấm – là vật liệu sinh học – ngừng sống hoặc chết dần đi. Kế đó, từng lượng nhỏ bào tử nấm được cấy vào. Đa số vi khuẩn đã bị loại trừ bởi quá trình khử trùng nên ty thể nấm có thể phát triển nhanh chóng trong cơ chất (môi trường nuôi cấy) suốt vài tuần lễ. Một khi cơ chất đã dày đặc khuẩn ty, sốc nhiệt hoặc nước được áp dụng. Việc này khiến quả thể xuất hiện. Nấm thường có đặc tính sinh sản mau lẹ khi sự sống còn của nó bị đe dọa. Phần nấm ăn được mà chúng ta gọi là “nấm” thật ra là quả thể – con cái của nấm.

Người Trung Hoa tái sử dụng rơm rạ để trồng nấm rơm ( Volvariella volvacea ). Đáng tiếc là một số giống lúa đã bị biến đổi gien, như trường hợp lúa gạo, để có thân lùn và vì vậy cho ít rơm hơn thông thường rất nhiều. Ở những nơi khác trên thế giới, người ta đốt rơm, gây ô nhiễm không khí nặng nề. Việc đốt rơm là một vấn đề khủng khiếp ở Ai Cập, tác động đến hơn 20 triệu người sống ở châu thổ sông Nil. Những ai nghiên cứu nhu cầu to lớn của dân chúng cần làm theo hiểu biết của người Trung Hoa trong việc biến đổi rơm rạ thành protein và phần thân nấm dưới đất thành thức ăn gia súc. Thực tế là những nước như Ai Cập đã tiếp nhận giống lúa biến đổi gien thân lùn, đồng thời trải qua tình trạng thiếu lương thực nên phải nhập khẩu lúa mì để bù vào khoản thiếu hụt.

Những cách thực hành nghề trồng nấm hiện nay không phải lúc nào cũng bền vững. Ở nơi nào cây sồi được dùng làm môi trường ưu tiên để trồng nấm, nó bị đốn, cắt vụn và biến đổi thành cơ chất tăng trưởng chất lượng cao cho nấm đông cô, một trong những loại nấm đắt tiền và bổ dưỡng nhất trên thị trường quốc tế. Mức cầu về nấm đông cô tươi tăng nhanh, vượt quá khả năng thu hoạch ở các rừng sồi trên khắp lãnh thổ Trung Quốc.

Suốt 15 năm qua, nhờ phương pháp canh tác cải tiến và hiệu quả, việc trồng các loại nấm bản địa cũng như nhiệt đới đã phát triển dần thành một ngành kinh doanh quanh năm có chi phí thấp và khả năng cạnh tranh. Ngành này có nhiều đổi mới dẫn tới sự hình thành một phương thức sản xuất và tiếp thị mới. Mô hình trồng nấm lấy cảm hứng từ việc lưu chuyển dưỡng chất trong các hệ sinh thái đã có giá trị tham chiếu ở châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Nhu cầu về nấm ngoại nhập gia tăng ở phương Tây cùng với giá bán ngày càng thấp hơn có tính quyết định đối với việc chấp nhận loại thức ăn không chứa cholesterol và chất béo này. Nhu cầu gia tăng khuyến khích người canh tác tìm kiếm những nguồn phế thải dồi dào để làm môi trường trồng nấm. Vì dây chuyền chuyển hóa chất thải thành lương thực này cần tương đối nhiều lao động, nó sẽ tạo ra hàng ngàn, thậm chí hàng triệu việc làm. Một số nhà doanh nghiệp hoạt động tại địa phương để thấy rõ tiềm năng tạo công ăn việc làm ấy, đặc biệt ở những vùng mà việc tiếp cận thị trường lao động là một thách thức lớn lao.

LỜI ĐỒN ĐÃI VỀ CÀ PHÊ

Khi chuyển sang thế kỷ XXI, nấm đã vượt qua cà phê, trở thành mặt hàng trao đổi nhiều thứ hai trên thế giới. Giờ đây, một cơ hội mới xuất hiện làm tăng thêm giá trị của cả hai: nấm trồng trên chất thải cà phê. Có hai dòng chất thải liên quan đến cà phê. Phần lớn chất thải phát sinh ở nông trại sau khi lấy hạt, được gọi là “thịt quả”. Việc pha chế cà phê tạo ra dòng thải thứ hai gọi là “bã”. Từ khi hạt cà phê rời nông trại cho đến lúc nấu xong bình cà phê, 99,8% sinh khối bị thải bỏ và chỉ có 0,2% được người uống cà phê hấp thụ. Trong khi thực tế ấy – như chúng tôi đã lưu ý trước đây – góp phần làm vấn đề quản lý chất thải trở nên nghiêm trọng, hiện nay có một phương pháp tích cực và sáng tạo để chuyển các dòng chất thải từ nông trại cũng như từ tiệm cà phê tới dòng mang chất dinh dưỡng nuôi nấm. Phương pháp ấy mở ra một cơ hội chưa từng có. Các chủ nông trại kiếm được khoảng một phần mười cent từ mỗi tách espresso bán ở tiệm cà phê với giá ba đô la, hệ số tăng giá là 3.000! Căn cứ vào lượng tiêu thụ cà phê năm 2008 trên toàn cầu là 134 triệu bao (mỗi bao chứa 60kg), tổng số sinh khối bị để cho thối rữa đạt mức gây sốc là 23,5 triệu tấn. Nếu như giá trị cà phê có thể tăng gấp đôi hay thậm chí nhiều hơn nữa nhờ giá trị tiềm ẩn trong chất thải từ việc thu hoạch và sản xuất cà phê, thì đó là một mỏ vàng thật sự.

Nấm mọc trên lignocellulose . Chất thải phát sinh với số lượng khổng lồ trong quá trình biến đổi từ trái cà phê trên bụi cây đến thức uống trong tách chủ yếu là lignocellulose . Hơn thế nữa, cà phê là loại cây gỗ cứng như cây sồi. Năm 1990, giáo sư Shuting Chang mà chúng tôi giới thiệu trước đây đã chứng minh rằng cà phê là một cơ chất lý tưởng cho việc canh tác nấm, nhất là nấm sò và nấm đông cô tươi. Ngay cả linh chi (Ganoderma lucidum), loại nấm thuốc được đánh giá cao, cũng phát triển tốt trên bã cà phê.

Từ nông trại đến lò rang cà phê rồi đến người tiêu dùng, hạt cà phê được giám sát một cách hoàn hảo. Ít khi bạn thấy loại nông sản nào trải qua những cuộc kiểm tra chất lượng chặt chẽ hơn. Khi pha chế cà phê, nước sôi hoặc hơi nước ở nhiệt độ cao thấm qua và khử trùng lớp bột cà phê. Tất cả những điều ấy đều tạo ưu thế lớn cho việc canh tác nấm và đơn giản hóa quá trình sản xuất nấm. Bã cà phê hấp bằng hơi nước được cho trở lại bao chứa ban đầu. Nó có thể dùng làm môi trường cấy bào tử nấm trực tiếp mà không cần khử trùng lần nữa. Như vậy chi phí sẽ giảm và việc cung ứng cho các doanh nhân địa phương cũng sẽ dễ dàng. Hơn thế nữa, vì chất cafein trong bã cà phê có tác dụng kích thích tăng trưởng của vài loại nấm, việc sử dụng bã cà phê cho phép thu hoạch sớm hơn và tạo ra một dòng tiền tốt hơn lối canh tác nấm thông thường. Về mặt kinh tế, điều ấy phù hợp hoàn toàn với lý tưởng của chúng tôi: đầu tư ít hơn, lợi nhuận nhiều hơn; một sáng kiến, nhiều lợi ích. Điều ấy có nghĩa: chi phí thấp hơn, đầu ra nhanh hơn, khách hàng trung thành hơn và thu nhập nhiều hơn.

LỢI ÍCH NHIỀU MẶT CỦA MÔ HÌNH CHUYỀN HÓA CHẤT THẢI CÀ PHÊ THÀNH NẤM ĂN (HỖ TRỢ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU THIÊN NIÊN KỶ CỦA LIÊN HỢP QUỐC)

CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG

VÀ NGƯỜI SẢN XUẤT

CHO HÀNH TINH CỦA CHÚNG TA

GIÀU HƠN:

cà phê cung cấp dưỡng chất lý tưởng và môi trường để trồng nấm

ÍT NĂNG LƯỢNG:

bã cà phê đã được khử trùng, không cần xử lý thêm

SẠCH HƠN:

cả việc pha chế lẫn việc cấy bào tử đều chỉ cần nước nóng

ÍT Metan HƠN:

bã cà phê được sử dụng nên không phân hủy ở bãi rác và ít thải khí nhà kính hơn

NHANH HƠN:

caphein khiến nấm mọc mau hơn

ÍT ĐỒNG CỎ HƠN:

thân nấm còn lại sau thu hoạch là đồ ăn lý tưởng cho gia súc

RẺ HƠN:

nguyên liệu miễn phí

ÍT ĐỐN CÂY HƠN:

cà phê là một loại cây gỗ cứng và thay thế cây sồi rất tốt

BỔ DƯỠNG HƠN:

nấm giàu protein, lại không có cholesterol và chất béo

ÍT RÁC HƠN:

phần lớn bã cà phê được sử dụng nên cần ít bãi rác hơn

AN NINH LƯƠNG THỰC:

chất thải từ nông sản hàng hóa bảo đảm lương thực cho địa phương

Việc kinh doanh mạo hiểm chuyển hóa chất thải thành thức ăn rẻ và bổ dưỡng cho mọi người rất hấp dẫn trong thời kỳ đầy thử thách hiện nay. Theo quan điểm kinh tế, thông điệp quan trọng nhất là phương pháp này giúp cải thiện dòng tiền, mối quan tâm của các nhà đầu tư và quản lý ngân hàng. Sau các công trình khoa học đầu tiên của giáo sư Chang, Carmenza Jaramillo đã bỏ sáu năm nghiên cứu việc sử dụng chất thải cà phê để nhân giống nấm cho viện nghiên cứu CENICAFE của Hiệp hội Cà phê Columbia ( Columbian Coffee Federation) . Chị công bố hơn 20 tài liệu khoa học đã được kiểm định trên nhiều tập san quốc tế để báo cáo về kết quả nghiên cứu của mình. Song song theo đó, TS. Ivanka Milenkovic thuộc Đại học Belgrade đã xem xét việc sử dụng phần thân nấm dưới đất sau thu hoạch để làm thức ăn gia súc, và nhận thấy lượng thịt hay sữa sản xuất bằng cách ấy không bị giảm sút. Rõ ràng phương pháp biến thịt quả thành protein mang lại nhiều lợi ích kinh tế quan trọng.

Rất tiếc các trang trại để cho thịt quả cà phê thối rữa, viện cớ đó là phân bón tốt. Mỗi năm có đến 16 triệu tấn chất thải hữu cơ phân hủy ở các nông trại cà phê và bãi rác, phát ra hàng triệu tấn khí nhà kính. Phương pháp sản xuất protein từ thịt quả làm giảm nhu cầu khai thác gỗ. Nhờ đó, cây cối, nhất là những loại cây gỗ cứng như sồi, có thể cố định carbon lâu dài, làm giảm tác động tai hại của biến đổi khí hậu. Đưa chất thải trở lại chu trình dinh dưỡng sẽ đơn giản hóa việc quản lý chất thải và cắt giảm khí metan phát sinh từ quá trình phân hủy sinh khối. Như vậy, sự kết hợp nấm với cà phê dẫn đến việc giảm mạnh mọi tiêu cực.

CHUYỂN HÓA THỊT QUẢ THÀNH Protein ĐỂ GIẢM NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TIẾN BỘ TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU THIÊN NIÊN KỶ

Sử dụng ít năng lượng

An ninh lương thực

Bảo tồn rừng

Trao quyền cho phụ nữ

Chi phí vận chuyển thấp hơn

Cải thiện sức khỏe trẻ em

Không cần bãi chôn lấp rác

Bền vững sinh thái

Không thải khí metan

Hợp tác toàn cầu

Loại bỏ việc sử dụng than

Chống HIV/AIDS

Phát triển phong trào thức ăn chậm 1

Học cách tự túc

Nếu nhìn cà phê dưới góc độ phát triển toàn cầu, chúng ta sẽ thấy rằng việc sử dụng thịt quả cà phê ở các nông trại có thể loại trừ những tác động tiêu cực đã làm hoen ố việc độc canh cà phê trong nhiều thập kỷ. Hơn nữa, cà phê với tính cách là một nông sản hàng hóa chỉ đem lại sinh kế cho chủ nông trại và cộng đồng của họ khi giá thị trường cao. Ở thời điểm cà phê hạ giá xuống dưới một ngưỡng nhất định, chủ nông trại, gia đình và cộng đồng của họ phải chịu khổ. Những lần sụt giá đáng kể, cái nghèo lại ập đến khủng khiếp đến nỗi nhiều cafeteros (người trồng cà phê ở châu Mỹ La-tinh) đã cày lấp bụi cà phê, trở lại tình trạng canh tác tự cung tự cấp với vài con bò trên mảnh đất của họ và ít có cơ may, thậm chí không bao giờ có cơ may kiếm đủ sống nữa. Mất khả năng nuôi gia đình và không được chuẩn bị làm việc gì khác để cứu họ khỏi đói, người chủ vườn cà phê cùng vợ con mình dọn đến một khu nhà ổ chuột ở ngoại ô thành phố, nhập bọn cùng hàng triệu người khác để tìm những việc làm lương thấp với một tương lai u ám.

Cuối thế kỷ XX, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nhiều cà phê thứ hai trên thế giới, tàn phá nhiều nước về mặt kinh tế, nhất là những nước ở châu Phi. Tuy nhiên, ngay khi cà phê và nấm hợp nhất thành một hệ thống tự nhiên, sự lưỡng phân giữa nông sản hàng hóa và an ninh lương thực sẽ biến mất. Chúng ta có thể dự kiến một tiềm năng xóa nghèo ở những vùng trồng cà phê trên cơ sở một dòng thác dinh dưỡng bao gồm cây cối, nấm và thú vật. Mỗi cân Anh [2] chất thải từ nông trại tạo ra ít nhất nửa cân Anh thức ăn giàu protein cho gia đình canh tác. Vì phần thân nấm dưới đất là đồ ăn rất tốt (và miễn phí) cho gia súc, chủ trang trại có đủ khả năng chăn nuôi, nhờ đó mà chất lượng thức ăn được cải thiện và an ninh lương thực được bảo đảm. Đây là một cơ hội độc nhất để quan sát cách thức chất thải từ một nông sản hàng hóa như cà phê đem lại an ninh lương thực và nhiều lợi ích khác. Những kỹ thuật canh tác như thế có thể được sự hưởng ứng của thanh niên, các nhóm người thất nghiệp và thiệt thòi, cũng như sự tán thành của những nhà quản trị kinh doanh cứng rắn khi thấy cơ hội làm ra tiền từ thứ không có giá trị gì. Một thập kỷ kinh nghiệm thực địa ở Zimbabwe là một cuộc trình diễn xuất sắc về những lợi ích ấy.

Chương trình “Trẻ mồ côi dạy trẻ mồ côi” bắt đầu bởi Chido Govero. Mất cả cha lẫn mẹ từ lúc lên bảy, Chido dạy những trẻ mồ côi khác cách trồng nấm trên chất thải nông nghiệp sẵn có ở địa phương, kể cả lục bình, một loài xâm hại mọc tràn lan gần khắp châu Phi. Ở Zambia, người ta gọi lục bình là “kẻ thù số 1 của mọi người” và đấu tranh chống lại nó bằng hóa chất và những loài ngoại lai như bọ ngũ cốc. Song mỗi kg lục bình có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho tới hai kg nấm. Chido thu nhặt nấm rừng trong mùa mưa và nắm vững kỹ thuật cấy mô để sản xuất hạt giống nấm. Với nguồn cảm hứng và sự hướng dẫn của Chido, các cô bé mồ côi đau khổ đã có được quyết tâm và kỹ năng xây dựng một tương lai không bị lợi dụng, tự tạo ra sinh kế và đồ ăn thức uống cho mình. An ninh lương thực thúc đẩy nhiều người nghĩ xa hơn cái ăn.

THỊT QUẢ THÀNH SINH KẾ

Dựa trên các kết quả ở Columbia, nếu đồng thời canh tác nấm, mỗi trại cà phê có thể tạo thêm hai việc làm mới. Điều ấy có nghĩa khoảng 25 triệu trại cà phê ở 45 nước sẽ tạo thêm 50 triệu việc làm trên toàn thế giới, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực không những cho người lao động mà còn cho gia đình họ nữa. Nếu tính cả các dòng thải khác như rơm, lõi ngô, cành vụn, lục bình, chúng ta sẽ nhanh chóng đạt tới con số đáng kinh ngạc. Khả năng cung cấp thực phẩm sản xuất tại chỗ cho người địa phương sẽ nâng cao thu nhập và tính ổn định của trang trại. Thay vì phải mất thời gian và tiền bạc mới có được bữa ăn kham khổ với những chất dinh dưỡng cơ bản nhất, việc sản xuất nấm cung cấp một lượng lớn thức ăn bổ dưỡng và giàu protein cũng như đồ ăn gia súc.

Đó chỉ là một nhánh phụ trong mô hình thác nhiều tầng của Nền Kinh tế Xanh Lam mới hình thành. Nó cung cấp một nhân tố kích thích việc tạo ra công ăn việc làm ở nông thôn. Nó có khả năng trở thành một trong những động cơ khởi động lại nền kinh tế thế giới. Nếu như các trang trại có việc làm tạo ra thu nhập và thực phẩm, cũng như sử dụng hết tiềm năng của nhiều thế hệ chuyên môn và những truyền thống nối tiếp nhau, thì sẽ không còn ai bị đẩy vào một tương lai ảm đạm trong các khu nhà ổ chuột ở thủ phủ gần đó nữa.

Còn những nhánh phụ khác nữa, chẳng hạn như việc tạo ra công ăn việc làm trong nội thành. Hơn một triệu tiệm cà phê ở các thành phố trên thế giới thải bã cà phê hàng ngày. Từ những thành phố A-rập cho tới các kohi shoppu (tiệm cà phê Nhật Bản) ở Tokyo, từ truyền thống cà phê Pháp tới văn hóa cà phê uống nhanh của Mỹ, sự chuyển hóa bã cà phê thành nấm đồng nghĩa với một trăm nghìn việc làm nhiều hơn ở những vùng đô thị. Nỗ lực mở đường ấy đã được thử thách ở Berlin (Đức) cũng như ở khu vực vịnh San Francisco. Không khó thực hiện đâu. Chúng ta biết rằng trẻ mồ côi ở Zimbabwe có thể làm việc ấy chỉ với chất thải ở địa phương, vậy chắc chắn cư dân thành phố cũng sẽ thành công.

Việc làm chỉ vững chắc khi đem lại thu nhập. Thu nhập chỉ lâu bền khi có giá trị gia tăng. Cốt lõi của định đề này là thực phẩm bổ dưỡng có giá thấp và dễ tiếp cận. Giá thấp sẽ khiến nhu cầu tăng lên một cách tương xứng, bảo đảm sinh kế cho chủ trang trại và phát triển việc kinh doanh. Nhờ vậy, thị phần sẽ luôn luôn được mở rộng. Những tính toán dựa trên kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy một tiềm năng thu nhập lớn lao từ việc trồng nấm trên cơ chất làm bằng bã cà phê. Nhìn chung, chỉ trên cơ sở chất thải cà phê thôi, các đơn vị sản xuất ở nội thành và các trang trại đã có thể cung cấp khoảng 16 triệu tấn thực phẩm bổ sung, với lượng protein tương đương với phân nửa lượng protein mà ngành nuôi cá trên toàn thế giới mang lại cho người tiêu dùng. Đó là một nguồn thu nhập chắc chắn và một nguồn cung cấp quan trọng cho thị trường thực phẩm thế giới đang hết sức căng thẳng bởi sự bùng nổ dân số. Chính sự lưu chuyển thực phẩm và năng lượng, chứ không phải thủ thuật biến đổi gien, sẽ cho phép chúng ta đáp ứng các nhu cầu cơ bản của nhân loại.

BỘ MÁY BIẾN THỊT QUẢ CÀ PHÊ THÀNH PROTEIN

Việc làm ở trang trại

mỗi trại 1 mẫu Anh = 2 việc; 2 x 25 triệu trại cà phê trên thế giới = 50 triệu việc

Việc làm ở nội thành

10 -15 tiệm cà phê = 10 việc; 21.000 tiệm cà phê ở Mỹ + khoảng 100.000 tiệm ở các nơi khác = 100.000 việc

Kết quả

16 triệu tấn protein ở 45 nước

Từ năm 2000-2010 doanh số tăng gấp 5 lần; 50,1 triệu việc làm trên toàn thế giới

Chất thải không khi nào được ưa thích. Ngoài những gì cá nhân chúng ta cho vào “dòng thải” ra, những thảm họa nặng nề khiến chúng ta chú ý đến chất thải hạt nhân, những vụ tràn dầu và ô nhiễm khí clo. Nhãn hiệu chất thải bị mọi người coi là xấu. Bây giờ bạn hãy hình dung một chất thải tạo ra việc làm và thức ăn bổ dưỡng. Đó là một tin tốt. Vì thịt quả và bã cà phê là một cơ chất lý tưởng để trồng nấm và tạo nên tất cả những lợi ích vừa được mô tả, nó phải được chào hàng và trở thành một phần hình ảnh tốt đẹp của cà phê: chất thải cà phê tạo ra thực phẩm bổ dưỡng và công ăn việc làm. Nó có thể được liên hệ với hiệu quả năng lượng, sinh kế vững chắc, giảm nhẹ biến đổi khí hậu và ngay cả với thức ăn bổ dưỡng giá rẻ nữa. Vốn xã hội sẽ trở nên lớn lao và phổ biến. Nếu xét rằng tất cả những thứ đó đều xuất phát từ cái bị coi là “chất thải” thì cà phê khó có thể được đánh giá cao hơn. Nhưng thật sự đó là chất thải của ai?

Nếu như các nhà buôn cà phê trên thế giới – từ tập đoàn Neumann Kaffee Gruppe đến công ty Nestlé Foods – có thể bảo đảm là các trang trại bán cà phê cho họ đều chuyển hóa tất cả chất thải tại chỗ thành môi trường nuôi cấy nấm, thì đó sẽ là một hành động đáng phục của những doanh nghiệp có trách nhiệm đối với xã hội. Việc ấy sẽ tạo ra việc làm và cải thiện an ninh lương thực. Nếu như những người đề xướng thương mại công bằng hỗ trợ kỹ thuật cần thiết cho các chủ trang trại để chuyển hóa chất thải thành nấm thì những người này còn thích buôn bán với ai hơn nữa? Sự lưu chuyển chất thải cà phê có thể trở thành một công cụ chiến lược cho việc lập hợp đồng cung ứng dài hạn với các chủ trang trại, nhà nhập khẩu và chủ lò rang cà phê.

Đi thêm một bước nữa, những nhà buôn và người tiêu dùng ủng hộ các phong trào thương mại công bằng và kinh doanh thực phẩm hữu cơ có thể nhận thức rằng công bằng thực sự, cơ hội tăng trưởng và phát triển thực sự có thể đạt được với 99,8% sinh khối cà phê ít có giá trị đối với những người thu hoạch, cung cấp và tiêu thụ hạt cà phê. Một quan điểm như thế vượt xa thương mại công bằng và thương mại hữu cơ. Nó cho phép ngành kinh doanh cà phê tiếp nhận sự phát triển bền vững ở mức độ đầy đủ nhất mà người ta có thể hình dung từ trước tới nay. Nhãn “sinh thái” chỉ chứng nhận việc không sử dụng phân bón và không phun hóa chất. Nó không nói gì đến hiệu quả sử dụng tài nguyên. Nhãn “thương mại công bằng” chỉ bảo đảm trả công đàng hoàng cho chủ trang trại chớ không đảm bảo giá trị gia tăng cho môi trường. Không mấy người uống cà phê thực sự biết rõ lượng sinh khối mà một trang trại tạo ra ít được sử dụng như thế nào, hay nhận thức đầy đủ về sự lãng phí liên hệ với thói quen tiêu dùng của họ. Nếu như các nhà buôn và nhà phân phối cà phê giúp thúc đẩy mô hình sản xuất protein từ thịt quả ở những trang trại cung cấp hạt cà phê cho họ, một sự hợp tác như thế sẽ dẫn đến những cộng đồng tự lực cánh sinh có an ninh lương thực và sinh kế thay vì phải chịu thiếu ăn và thất vọng. Cái tiềm năng đem lại lợi ích cho người nghèo, người thất nghiệp và cho Trái Đất mới khó tin làm sao!

Sáng kiến chuyển hóa thịt quả thành protein dựa vào khả năng của các hệ sinh thái cũng như những sáng kiến đáng trọng về thương mại hữu cơ và công bằng. Nó tạo giá trị cho 100% lượng sinh khối cà phê. Nếu được phát triển hoàn toàn ở mọi cộng đồng sản xuất cà phê bằng cách biến đổi dòng thải thành nguồn thu nhập, mô hình kinh doanh ấy có thể tạo ra một khoản thu nhập bằng 1,5 triệu lần thu nhập hiện tại từ loại nông sản ấy. Bạn thử tưởng tượng xem! 1,5 triệu lần nhiều hơn! Bằng cách thức như thế, các nhà doanh nghiệp trong Nền Kinh tế Xanh Lam sẽ xem xét tất cả các dòng thải và sẽ thành công trong việc loại trừ chúng hoặc biến đổi chúng thành những nhánh phụ đem lại sinh kế, an ninh lương thực và sự sung túc cho mọi người.

Biểu đồ 6. Thịt quả thành protein

Bạn hãy hình dung tách cà phê sẽ ngon hơn biết bao đối với tầng lớp khá giả trên thế giới nếu họ hiểu rằng việc tiêu dùng cà phê của họ sẽ giúp một cộng đồng canh tác đạt tới quyền tự quyết, trạng thái bền vững, an ninh lương thực và sinh kế. Tác dụng có lợi cho sức khỏe của cà phê sẽ tăng hơn nữa nhờ hương vị của sự thỏa mãn mà họ được hưởng nhưng không tốn thêm gì cả. Người tiêu dùng có khả năng hướng dòng tiền tới những ai hành động phù hợp với phát triển bền vững và sự công bằng, sử dụng những gì có được ở địa phương để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của mọi người và trao quyền cho các cộng đồng canh tác cà phê.

Những chương trình trồng nấm như thế đã được thử nghiệm tại thực địa và được hoàn thành ở nhiều nơi, từ Columbia tới Zimbabwe, từ San Francisco tới Berlin. Bang El Huila của Columbia có hơn 100 công ty sản xuất nấm từ cà phê và nhanh chóng thay thế các loại cây trồng bất hợp pháp bằng thực phẩm bổ dưỡng. Tất cả những người tham gia đóng góp đều kết luận rằng các chương trình ấy đã thành công. Kiến thức chuyên môn đã đầy đủ và sẵn sàng được chuyển giao.

Sức mạnh của một mô hình kinh tế công bằng và bền vững nằm ở chỗ nó tạo ra giá trị lớn hơn cho mọi bên tham gia. Mô hình sản xuất protein từ thịt quả không chú ý đến việc đầu tư nhiều hơn để tiết kiệm tiền bạc hay bù lại phí tổn phụ trội, nhưng chú trọng việc giảm chi phí cho mọi người, đồng thời tăng thêm thu nhập. Khi chất thải trở thành thực phẩm, nó tạo ra giá trị có thể đo lường được bằng số việc làm, dòng tiền mặt và lợi nhuận. Doanh nghiệp xanh và thương mại công bằng là những bàn đạp. Những ngành kinh tế hoạt động liên hoàn như các hệ sinh thái sẽ đạt mục tiêu tạo ra nhiều mối lợi cho những đối tác khác nhau.

TỪ CHẤT THẢI ĐẾN SIÊU DƯỠNG CHẤT

Tiếp tục trò chơi với tiềm năng của mô hình sản xuất protein từ thịt quả, chúng ta hãy hình dung một doanh nghiệp có đầu óc kinh doanh biết cách làm cho cà phê bổ dưỡng hơn và người tiêu dùng mạnh khỏe hơn: pha chế espresso hay cà phê sữa với nấm thuốc. Đa số các loại nấm đều giàu protein. Linh chi và đông cô tươi được đánh giá cao về mặt dinh dưỡng, đồng thời cũng là những vị thuốc kỳ diệu. Thời cổ xưa, linh chi đỏ mọc hoang chỉ đặc biệt dành riêng cho hoàng đế Trung Hoa. Mặc dù ít có nghiên cứu lâm sàng nào được công bố, ảnh hưởng tốt của các loại nấm này đối với một số tình trạng sức khỏe từ bệnh tiểu đường đến chứng áp huyết cao đã được kiểm nghiệm lâu dài trong y học truyền thống. Nếu như giá các loại nấm ngoại này có thể được giảm bằng cách áp dụng hệ thống sản xuất protein từ thịt quả, thì có thể cho một ít linh chi vào tách cà phê buổi sáng để mời những khách hàng muốn có ngay một liều thuốc tăng sức đề kháng.

Bài tính sau đây sẽ hấp dẫn đối với các bên liên quan. Ngoài sự nổi bật trong các phạm vi sử dụng lao động, thu nhập và dinh dưỡng, nếu như công ty cà phê Starbucks đề nghị nhóm khách hàng thường xuyên của họ trên khắp thế giới dùng cà phê có pha một ít linh chi bổ dưỡng, họ sẽ khởi đầu việc đẩy mạnh nhu cầu đối với loại nấm mà tên gọi tiếng Nhật reishi có nghĩa “trường sinh”. Nếu mỗi ngày có 100 khách hàng của một trong số 19.000 tiệm cà phê Starbucks trên khắp thế giới yêu cầu một chút linh chi trong tách espresso , macchiato , cà phê sữa hay trà của họ, với giá chẳng hạn như 0,50 đô la mỗi suất, thì doanh thu cả năm sẽ tăng thêm số tiền gây ấn tượng là 365 triệu đô la.

Chúng ta hãy tính tiếp: nếu như Starbucks muốn hỗ trợ chương trình Thịt quả thành Protein ở các trại cà phê và vùng đô thị, họ có thể dễ dàng tặng 10% khoản thu nhập tăng thêm tức 36,5 triệu đô la mỗi năm để tài trợ cho chương trình ấy. Việc này sẽ nhanh chóng mang lại lợi ích dưới dạng vốn xã hội và tiền khấu trừ thuế cho chi phí hoạt động xã hội ấy, đó là chưa nói tới công ăn việc làm, thu nhập và thực phẩm, những điều khả thi nhờ một thị trường tiêu thụ khoảng hai tấn linh chi mỗi ngày. Một số tiền như thế tương đương với 25 đô la mỗi cân Anh nấm cho chủ trại cà phê. Khi mà tổng giá trị quy ra tiền của riêng cà phê thôi chỉ là 1 cho chủ trang trại và 2.999 cho thương gia, chủ lò rang, tiệm cà phê... thì nhờ nấm linh chi, tỉ lệ hưởng lợi sẽ trở thành 1 cho chủ trang trại và 10 cho những người khác. Điều này sẽ bơm tiền ròng vào các nền kinh tế nông thôn và đô thị, kích thích cung - cầu một cách hiệu quả, xây dựng lòng tin của khách hàng, tăng vốn xã hội, tạo cơ hội việc làm và mở mang kiến thức, những vấn đề ngày nay ít được quan tâm.

Tiếng xấu gán cho chất thải bởi những danh sách đen các doanh nghiệp ô nhiễm nhất trên thế giới đã thu hút sự chú ý của công chúng ở khắp mọi nơi. Với mô hình Thịt quả thành Protein, chất thải được dán một nhãn hiệu hoàn toàn mới. Một sản phẩm khiến người ta liên tưởng đến nạn bóc lột và sự nghèo khổ có thể biến thành phương tiện xóa bỏ bất công và bảo đảm sinh kế. Cơ may đạt tới một thành quả tốt đẹp như thế đến vào một thời điểm thuận lợi. Nhãn hiệu tốt đánh dấu một sự chuyển đổi trọng tâm của mô hình kinh doanh. Những doanh nhân sẵn sàng tiếp nhận mô hình Thịt quả thành Protein có thể đóng một vai trò hết sức quan trọng trong xã hội bằng cách dành quyền quyết định cho khách hàng với sức mua của họ.

Cũng như cà phê, trà có thể làm nảy sinh một sáng kiến Thịt quả thành Protein riêng biệt. Lượng sinh khối cuối cùng còn lại trong một tách trà chỉ bằng phân nửa lượng sinh khối trong một tách cà phê, hay chỉ bằng một phần ngàn tổng lượng sinh khối trà lúc ban đầu. Cành vụn cây ăn trái là một khả năng khác để tạo môi trường trồng nấm. Các loại gỗ cứng không có tính kích thích của cafein trong bã cà phê. Dù sao đi nữa, chúng cũng là những loại gỗ có giá trị và không nên thiêu hủy theo cách thức hiện nay. Ivanka Milenkovic thuộc Đại học Belgrade đã thử dùng nhành vụn từ vườn táo làm môi trường nuôi cấy nấm. Ngay cả thời tiết lạnh lẽo của mùa đông cũng dường như không ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nấm. Trong các thử nghiệm tại thực địa, dê đã ăn phần còn lại sau khi thu hoạch nấm ngay cả khi các nhà khoa học chưa xác định hàm lượng axit amino. Như đã ghi chú trước đây, những bầy bò rừng ở New Mexico cũng cảm thấy ngon miệng như vậy.

Có vô số khả năng và nguồn nguyên liệu. Vấn đề then chốt chỉ đơn thuần là phát hiện giá trị trong chất thải. Lục bình, loại cây kiểng có nguồn gốc từ châu Mỹ La-tinh, đã gây thiệt hại tràn lan ở sông, hồ và những đập nước trong vùng nhiệt đới, khi nó sinh sôi nảy nở nhờ dòng dinh dưỡng lớn có nguồn gốc từ quá trình xói mòn đất và việc sử dụng quá nhiều phân bón. Nhưng thay vì tìm cách hủy diệt loại cây xâm hại này, ta có thể thu hoạch và chuyển hóa nó thành môi trường gieo cấy nấm. Trong khi các con thú nhai lại không thể ăn chính cây lục bình, phần âm dưới đất của cây nấm còn lại sau thu hoạch lại có thể là đồ ăn lý tưởng cho chúng. Chỉ với chất thải từ cà phê, trà, nhánh vụn, lục bình và rơm rạ không thôi chúng ta đã có thể sản xuất được một lượng thức ăn vô cùng lớn.

Các hệ sinh thái thôi thúc chúng ta nhìn xa hơn các mô hình thông thường để sáng tạo những mô hình thác nhiều tầng trong đó chất thải của cá thể này trở thành nguyên liệu cho một cá thể khác. Mang lại nhiều lợi ích cho nhiều đối tác khác nhau là một mô hình Kinh tế Xanh lam tích cực, công bằng và trở nên ngày càng hiệu quả hơn với tính đa dạng càng lúc càng lớn. Đó là cách thức rừng mưa tái sinh từ những thảo nguyên cạn kiệt. Đó là cách thức một nông sản hàng hóa như cà phê không chỉ có thể bảo đảm an ninh lương thực và đáp ứng các nhu cầu cơ bản như nước sạch, đất tốt và không khí trong lành, mà còn nâng cao thu nhập và tăng thêm nguồn vốn xã hội đáng kể. Do đó, mặc dù 10.000 việc làm hiện nay đã có thể được xem là một thành công, nhưng còn đến 25 triệu trại cà phê có thể hưởng lợi từ mô hình của chúng ta. Xét tầm cỡ của các khả năng ấy, có lẽ cả Nestlé, một công ty khổng lồ trong ngành kinh doanh cà phê, cũng nên xem xét lại một công cuộc làm ăn có vẻ như quá xa phạm vi kinh doanh cốt lõi của họ. Với một chút tầm nhìn, có lẽ lợi nhuận lớn hơn cùng với an ninh lương thực và bảo tồn môi trường cũng đủ để quyết định rồi.

Năm 1994, Sáng kiến Nghiên cứu Phát thải Số không (Zero Emissions Research Initiative) mở đường cho việc biến đổi thịt quả cà phê thải ra từ trang trại thành protein: dùng chất thải ấy để trồng nấm làm thức ăn cho người và nuôi gia súc bằng phần nấm dưới mặt đất. Phải nghiên cứu gần một thập kỷ trước khi mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất từ trại cà phê cho tới người tiêu dùng được cấp chứng nhận. Hai mươi bài công bố trên nhiều tập san quốc tế đặt cơ sở khoa học cho chương trình “Thịt quả thành Protein”. Hơn 10.000 người tham gia sản xuất nấm ở Columbia cùng với hàng chục dân làng ở Zimbabwe sinh sống nhờ các hoạt động đơn giản và bền vững ấy. Thêm vào đó, nhiều làng Ấn Độ đã áp dụng kỹ thuật này để tự túc trong việc sản xuất thực phẩm sau nhiều năm đói kém và suy dinh dưỡng. Riêng năm 2008, nhiều chương trình tập huấn được tổ chức cho những chủ trang trại ở Tanzania, Công-gô, Nam Phi, Cameroon, Mozambique và Hoa Kỳ nhằm giới thiệu phương pháp tổng hợp nói trên.

“Cà phê cho một cơ chất trồng nấm lạ thường, nó rất giàu chất xơ và cafein” , Emilio Echeverri, nguyên phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê Columbia ( Columbian Coffee Federation) giải thích. Echeverri hỗ trợ chương trình Thịt quả thành Protein từ lúc khởi đầu. Một thời gian sau, ông được bầu làm thống đốc bang Caldas chuyên trồng cà phê. Trong một môi trường có cafein, nấm có thể được thu hoạch nhanh gấp ba lần khi nó được trồng trên gỗ sồi. Như vậy, đó là một khả năng cứu nguy cho những rừng sồi ở Trung Quốc và các nơi khác.

Năm 1978, Carmenza Jaramillo nghiên cứu việc canh tác nấm mỡ trắng ( Agaricus bisporus ). Sau khi công bố 20 bài đã được kiểm định trên nhiều tập san quốc tế − kết quả của sáu năm nghiên cứu, chị đã dốc hết sức mình cho các mục tiêu của ZERI. Chị mở một trại trồng nấm ở Manizales (Columbia) và tập huấn nhiều người, thật nhiều người khác. Ngày nay, những học viên như Francenid Perdomo đã trở thành chuyên gia và cũng hào hiệp tập huấn cho nhiều người khác, chuyển giao kiến thức để giúp họ đạt tới an ninh lương thực. Song song theo đó, đứa con gái Chido Govero của tôi [3] , một trẻ mồ côi Zimbabwe từng sống sót trong nhiều năm với một chén đậu phộng mỗi ngày, đã học phương pháp trồng nấm ấy lúc mười hai tuổi. Sau vài tháng, con tôi đã thoát nghèo và có khả năng tự túc. Chido có cơ hội đặc biệt để học hai năm tại Đại học châu Phi ở thành phố Mutare (Zimbabwe). Dưới sự hướng dẫn của bà Margaret Tagwina ở phòng thí nghiệm dành cho khoa làm vườn của trường đại học, Childo đã hoàn thiện sự hiểu biết của mình về phương pháp nuôi cấy mô nấm. Rõ ràng con tôi có “tay trồng” theo cách người ta thường nói. Những gì Chido rờ đến đều tạo ra thực phẩm.

Paul Katzeff là một doanh nhân xã hội, người đã sáng lập công ty Thanksgiving Coffee ở Mendocino (California), người đầu tiên bán cà phê mang nhãn Thương mại Công bằng tại Mỹ. Thanksgiving Coffee trở thành công ty không carbon đầu tiên, cân bằng lượng khí thải bằng cách trồng 75.000 cây ở Ethiopia. Đó cũng là công ty đầu tiên dùng diesel sinh học để vận hành đội xe của họ. Katzeff giới thiệu ý tưởng “Thịt quả thành Protein” do ZERI phát triển với tất cả những đồng nghiệp của mình trong Hiệp hội Cà phê Đặc sản Hoa Kỳ (Specialty Coffee Association of America). Theo Katzeff, “Chúng ta luôn bị mắc kẹt giữa nông sản xuất khẩu và phát triển địa phương. Nhưng bây giờ, chất thải của nông sản xuất khẩu đem lại an ninh lương thực. Đây chính là mô hình kinh tế mà chúng ta phải theo.”

* * *

[1] Cân Anh: trọng lượng theo hệ thống đo lường Anh Mỹ, bằng 0,454 kg.

[2] 1 cân Anh = 454 gram.

[3] Xem chú thích 8.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.