Ngôn Từ - Chương 2
II
Viết
LÊ NGỌC MAI dịch
Charles Schweitzer chưa bao giờ tự coi mình là nhà văn nhưng tiếng Pháp vẫn còn mê hoặc ông, ở tuổi bảy mươi, bởi ông đã phải học thứ tiếng này một cách khó khăn và bởi nó không hoàn toàn thuộc về ông: ông chơi với nó, vui thú với các từ ngữ, ông thích phát âm các từ và lối nói khủng khiếp của ông không tha cho một âm tiết nào hết; khi ông có thời gian, ngòi bút của ông ghép các từ ngữ lại thành những bài thơ chúc tụng. Ông sẵn lòng minh họa các sự kiện của gia đình chúng tôi và của Học Viện bằng những tác phẩm hợp tình huống: những lời chúc mừng năm mới, chúc mừng sinh nhật, những chúc từ ở các bữa tiệc cưới, những diễn từ bằng thơ cho ngày lễ Saint-Charlemagne, những vở hài kịch ngắn, những câu đố chữ, những bài thơ hạn vần, những thứ tầm phào nhã nhặn; trong các cuộc hội nghị, ông ứng tác ra những bài thơ tứ tuyệt, bằng tiếng Đức và tiếng Pháp.
Vào đầu mùa hè chúng tôi lên đường đi Arcachon, hai người đàn bà và tôi, trước khi ông tôi dạy học xong. Ông viết thư cho chúng tôi ba lần một tuần: hai trang cho bà Louise, một mẩu tái bút cho mẹ Anne-Marie của tôi, còn cho tôi là cả một bức thư bằng thơ. Để tôi có thể thưởng thức được nhiều hơn niềm hạnh phúc của mình, mẹ tôi đã học và dạy tôi các quy tắc của luật thơ. Có người đã bắt gặp tôi đang nguệch ngoạc viết một lá thư trả lời bằng thơ, mọi người bèn giục giã tôi hoàn thành bức thư ấy, mọi người giúp đỡ tôi làm việc đó. Khi hai người đàn bà gửi bức thư đi, họ cười chảy nước mắt nghĩ tới sự sững sờ của người nhận. Lúc thư hồi đáp tôi, tôi được nhận một bài thơ khen ngợi; tôi cũng đáp lại bằng một bài thơ. Thói quen đã được hình thành, ông và cháu gắn bó với nhau bởi một mối liên hệ mới; hai người trò chuyện với nhau, như những thổ dân da đỏ, như đám ma cô khu Montmartre, bằng một thứ ngôn ngữ không dành cho phụ nữ. Tôi được tặng một cuốn từ điển vần thơ, tôi biến mình thành thợ thơ: tôi viết những mẩu thơ ngọt ngào tặng Vévé, một cô bé tóc vàng không lúc nào rời chiếc ghế dài và vài năm sau sẽ chết. Cô bé chả thiết gì đến những vần thơ đó: cô là một thiên thần; nhưng sự ngưỡng mộ của một đám công chúng đông đảo đã an ủi tôi trước sự thờ ơ kia. Tôi có tìm lại được một vài bài thơ thuở ấy. Đứa trẻ nào cũng có phần thiên tài, trừ Minou Drouet78, Cocteau79 đã nói như vậy vào năm 1955. Năm 1912, tất cả trẻ con đều có tài trừ tôi ra: tôi viết như khỉ bắt chước, theo nghi thức xã giao, để làm người lớn: tôi viết trước hết bởi tôi là cháu ngoại của ông Charles Schweitzer. Tôi được đưa cho xem những bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine; tôi chẳng thích những bài thơ ấy: tác giả viết theo kiểu tự do tùy ý; tôi quyết định viết lại các bài đó theo thể thơ alexandrin. Công việc vượt quá sức tôi và tôi tưởng như nhận thấy nó đã làm mọi người cười: đó là thử nghiệm thơ ca cuối cùng của tôi. Nhưng tôi đã được tung vào cuộc: tôi bèn chuyển từ thơ sang văn xuôi và không khó khăn gì để sáng tạo lại trên giấy những cuộc phiêu lưu cuốn hút mà tôi đọc được trong báo Cri-cri. Đã đến lúc: tôi sẽ khám phá ra sự hão huyền trong những mộng mơ của mình. Trong các chuyến phi ngựa tưởng tượng, chính thực tại là thứ mà tôi muốn đạt tới. Khi mẹ hỏi tôi, mắt không rời khỏi bản nhạc: "Poulou, con đang làm gì vậy?" cũng có lúc tôi phá hủy cam kết yên lặng của mình và trả lời: "Con đóng phim." Thực vậy, tôi thử kéo các hình ảnh ra khỏi đầu mình và dựng lại chúng bên ngoài tôi, giữa những đồ đạc thực sự và những bức tường thực sự, hiển hiện và rõ rệt như những hình ảnh tuôn ra trên màn ảnh. Không ăn thua; tôi chẳng thể lờ đi được nữa cái sự bịp bợm đến hai lần của mình: tôi giả vờ làm một diễn viên đang giả vờ làm một người hùng.
Vừa mới bắt đầu viết, tôi đã đặt bút xuống để khoái chí. Sự bịp bợm thì vẫn thế nhưng tôi nghĩ rằng tôi đã coi từ ngữ là tinh túy của sự vật. Không có gì làm cho tôi bối rối hơn là khi nhìn thấy những dòng chữ nguệch ngoạc dập xóa của mình dần dần đổi ánh ma trơi lấp lóe của chúng lấy độ đậm đặc mờ đục của chất liệu: đó là sự hiện thực hóa điều tưởng tượng. Bị mắc kẹt trong những tên gọi được đặt cho mình, một con sư tử, một thuyền trưởng thời Đệ nhị Đế chế, một người Bédouin đã xâm nhập vào phòng ăn; họ sẽ bị giam cầm ở đó mãi mãi, hòa nhập vào đó bằng các ký hiệu; tôi tưởng đã cắm neo được giấc mơ của mình vào cuộc đời bằng những tiếng sột soạt của ngòi bút thép. Tôi kiếm cho mình một quyển vở, một lọ mực tím, tôi viết lên bìa: "Vở để viết tiểu thuyết". Tiểu thuyết đầu tiên mà tôi viết được đến hết, tôi đặt tên là: Vì một con bướm. Một nhà bác học, con gái của ông ta, một chàng thám hiểm lực sĩ trẻ tuổi ngược dòng Amazone để tìm một con bướm quý. Đề cương truyện, các nhân vật, chi tiết của các cuộc phiêu lưu, thậm chí ngay cả nhan đề, tôi đều vay mượn hết ở một truyện tranh xuất bản quý trước. Sự đạo văn một cách cố ý này đã giải phóng tôi khỏi những nỗi lo ngại cuối cùng của mình: tất cả đương nhiên đều là thật bởi tôi có bịa ra cái gì đâu. Tôi không có tham vọng truyện của mình được đăng nhưng tôi đã dàn xếp để người ta in truyện này cho mình từ trước và tôi không viết một dòng nào chệch với truyện mà tôi dùng làm mẫu. Tôi có tự coi mình là một kẻ quay cóp không? Không. Mà tôi coi mình là một tác giả đặc biệt: tôi sửa sang, tôi làm cho tươi mới hơn; chẳng hạn, tôi cẩn thận thay đổi tên của các nhân vật. Sự sửa đổi nhỏ này cho phép tôi được trộn lẫn trí nhớ với trí tưởng tượng. Các câu văn, mới mẻ và hoàn toàn là văn viết, hình thành trong đầu tôi với một sự chắc chắn không lay chuyển mà người ta vẫn coi là do cảm hứng. Tôi ghi lại những câu văn ấy, chúng nhuốm nét đậm đà của sự vật ngay trước mắt tôi. Nếu như một tác giả được trời cho cảm hứng, như người ta thường nghĩ, là trở thành, một người khác chứ không còn là mình nữa cho đến tận chân tơ kẽ tóc, thì tôi đã biết tới cảm hứng vào thời bảy đến tám tuổi.
Tôi chưa bao giờ bị lừa hoàn toàn về "lối viết tự động" ấy. Nhưng bản thân trò chơi này khiến tôi thích thú: là đứa con duy nhất, tôi có thể chơi trò này một mình. Thỉnh thoảng, tôi ngừng tay, tôi làm ra vẻ do dự để được cảm thấy mình, với vầng trán đăm chiêu, ánh mắt lên đồng, giống như một nhà văn. Hơn nữa, vì thói ưa học làm sang, tôi rất khoái đạo văn, và tôi cố tình đẩy việc này đến mức cực đoan như các bạn sẽ thấy sau đây.
Boussenard và Jules Verne thường không bỏ lỡ một cơ hội nào để giáo hóa: vào những thời điểm kịch tính nhất, họ ngắt mạch kể chuyện để chuyển sang miêu tả một loài cây độc, một vùng cư dân bản địa. Là độc giả, tôi bỏ qua những trang truyền đạt kiến thức ấy; là tác giả, tôi nhét đầy những trang này vào trong các truyện của tôi. Tôi muốn dạy cho những người cùng thời của mình tất cả những điều mà tôi không hề biết: các phong tục của người Fuégien80, hệ thực vật của châu Phi, khí hậu vùng sa mạc. Bị chia cách bởi một đòn oái oăm của số phận rồi lại cùng lên một con tàu biển mà không biết và trở thành nạn nhân của cùng một vụ đắm tàu, nhà sưu tầm bướm và cô con gái của ông ta bám vào cùng một chiếc phao, ngẩng đầu lên, cùng thét: "Daisy!", "Cha!" Than ôi, có một con cá nhám góc đang lượn lờ kiếm thịt tươi, nó tiến lại gần, cái bụng của nó lóe lên giữa những đợt sóng. Những kẻ bất hạnh liệu có thoát chết không? Tôi bèn đi tìm tập "Pr-Z" của bộ Đại từ điển bách khoa Larousse, tôi vất vả vác cuốn sách đến tận bàn học của tôi, tôi mở từ điển ra ở trang cần tìm và tôi chép lại nguyên xi từng chữ hết dòng này đến dòng khác: "Cá mập thường được gặp ở vùng biển Đại Tây Dương nhiệt đới. Những con cá biển to rất phàm ăn này có thể dài đến tận mưòi ba mét và nặng đến tận tám tấn..." Tôi thong thả chép lại cái từ mục đó: tôi cảm thấy mình đang buồn chán một cách tao nhã, mình tài giỏi không thua gì Boussenard và, trong khi còn chưa tìm được cách để cứu các nhân vật của mình, tôi miệt mài với những niềm hứng khởi thanh cao.
Mọi thứ đều định trước để cái hoạt động mới mẻ này cũng sẽ chỉ là một trò khỉ bắt chước nữa mà thôi. Mẹ tôi không tiếc lời động viên tôi, bà dẫn khách khứa vào phòng ăn để họ bắt gặp nhà sáng tạo trẻ tuổi bên chiếc bàn học trò của mình; tôi làm ra vẻ quá mải mê đến nỗi không cảm thấy sự có mặt của những người ngưỡng mộ; họ vừa rón rén đi ra vừa thì thầm rằng tôi đáng yêu quá, rằng cảnh tượng này dễ thương quá. Bác Émile làm quà cho tôi một cái máy đánh chữ nhỏ mà tôi không dùng đến, bà Picard mua cho tôi một tấm bản đồ thế giới để tôi có thể vạch ra hành trình của những kẻ chu du thiên hạ mà không sợ bị sai. Mẹ Anne-Marie chép lại trên giấy láng truyện thứ hai tôi viết nhan đề Ông bán chuối, mọi người chuyền tay nhau xem. Đến bà ngoại cũng cổ vũ tôi: "ít nhất nó cũng ngoan, bà nói, nó không làm ồn." May thay sự tôn vinh đã bị nỗi bất bình của ông ngoại tôi dẹp đi.
Ông ngoại Karl không bao giờ chấp nhận cái mà ông gọi là những sự "đọc nhảm nhí" của tôi. Khi mẹ tôi thông báo với ông rằng tôi bắt đầu viết văn, thoạt đầu ông sung sướng, tôi nghĩ là ông hy vọng về một biên niên sử của gia đình chúng tôi với những quan sát sắc sảo và sự ngây thơ dễ thương. Ông cầm lấy cuốn vở của tôi, lật qua các trang, bĩu môi và rời phòng ăn, tức giận vì thấy lại dưới ngòi bút của tôi những điều "ngớ ngẩn" trong những tờ báo mà tôi yêu thích, về sau, ông chẳng quan tâm đến tác phẩm của tôi. Ê chề, mẹ tôi nhiều lần tìm cách bất ngờ dụ ông đọc truyện Ông bán chuối. Mẹ đợi khi ông đã xỏ chân vào đôi dép bông và ngồi vào ghế bành; trong lúc ông nghỉ ngơi yên lặng, ánh mắt bất động và cứng nhắc, đôi tay đặt trên đầu gối, mẹ chộp lấy cuốn bản thảo của tôi, lật xem một cách kín đáo rồi, đột nhiên bị lôi cuốn, bật cười một mình. Cuối cùng, với một sự phấn khích không kìm lại được, mẹ chìa cuốn vở cho ông: "Cha ơi, đọc xem này! Ngộ lắm cơ." Nhưng ông lấy tay gạt cuốn vở đi, hoặc nếu ông liếc mắt nhìn qua, thì là để bực bội chỉ ra những lỗi chính tả của tôi. Dần dần mẹ tôi trở nên e ngại: không dám khen ngợi tôi nữa và sợ làm tôi buồn, mẹ thôi không đọc văn của tôi để khỏi phải nói về chuyện này với tôi.
Gần như không được dung thứ, diễn ra một cách thầm lặng, hoạt động văn học của tôi rơi vào tình trạng nửa hợp pháp; tuy vậy, tôi vẫn tiếp tục công việc ấy một cách cần mẫn: vào những giờ ra chơi, những ngày thứ Năm và Chủ nhật, trong các kỳ nghỉ và ở trên giường, khi tôi may mắn bị ốm; tôi nhớ những đợt nghỉ ốm sung sướng, nhớ quyển vở bìa đen mép đỏ mà tôi cứ quay đi trở lại với nó như dệt một tấm thảm. Tôi ít đóng phim hơn: những truyện tôi viết đối với tôi đã thay thế mọi thứ khác. Tóm lại, tôi viết để giải trí.
Các cốt truyện của tôi trở nên phức tạp, tôi đưa vào đó những tình tiết đa dạng nhất, tôi trút tất cả những thứ tôi đã đọc, những cái hay và những cái dở, lẫn lộn lung tung, vào các bản viết hổ lốn ấy. Các câu chuyện bị hỏng đi vì thế; tuy nhiên, điều đó lại có lợi: phải sáng tạo ra những chỗ nối, và do vậy tôi đâm ra bớt đạo văn đi một chút. Và rồi, tôi phân thân. Năm trước, khi "đóng phim", tôi vào vai chính mình, tôi hăm hở lao vào thế giới tưởng tượng và tôi nghĩ mình đã không ít lần chìm hẳn vào trong đó. Tác giả, nhân vật chính giờ vẫn còn là tôi, tôi gán cho gã những giấc mơ hào hùng của mình. Thế nhưng chúng tôi là hai người khác nhau: gã không mang tên tôi và tôi chỉ nói về gã ở ngôi thứ ba. Thay vào việc gán cho gã những cử chỉ của mình, tôi dùng từ ngữ tạo cho gã một thân hình mà tôi làm như đã nhìn thấy. Việc "tạo khoảng cách" đột ngột như vậy lẽ ra có thể làm tôi hoảng sợ: nó lại khiến tôi thích thú; tôi sung sướng khi được là gã mà gã lại chẳng hẳn là tôi. Đó là một thứ búp bê của tôi, tôi uốn gã theo ý thích ngẫu hứng của mình, tôi có thể thử thách gã, đâm một cú bằng mũi giáo vào mạng sườn gã rồi chăm sóc gã như mẹ chăm sóc tôi, chữa lành bệnh cho gã như mẹ chữa lành bệnh cho tôi. Các tác giả yêu thích của tôi, do còn đôi chút ngượng ngùng, nên cứ dừng lại nửa chừng trên con đường đi tới cái tuyệt đỉnh: ngay cả trong truyện của Zévaco, chàng dũng sĩ không bao giờ thách đấu với hơn hai chục tên vô lại cùng một lúc. Tôi muốn cực đoan hóa tiểu thuyết phiêu lưu, tôi quẳng xuống sông xuống biển cái vẻ giống như thực, tôi tăng số kẻ thù và những hiểm nguy lên gấp bội: để cứu ông bố vợ tương lai và vị hôn thê của mình, chàng thám hiểm trẻ tuổi trong truyện Vì một con bướm đã chiến đấu ba ngày ba đêm chống lại lũ cá mập; kết cục nước biển đỏ lòm; bản thân chàng, trong khi đang bị thương, đã trốn thoát khỏi một trang trại bị thổ dân Apache vây hãm, tay ôm mớ ruột của chính mình vượt qua sa mạc, và không chịu để người ta khâu lại vết thương cho mình khi chưa nói chuyện được với vị tướng. Ít lâu sau, dưới cái tên Goetz von Berlichingen, vẫn chàng trai ấy lại khiến cho một đội quân phải tháo chạy. Một mình chống lại tất cả: đó là quy tắc của tôi; cần phải tìm ngọn nguồn của lối mộng mơ u ám và hoành tráng ấy ở chủ nghĩa cá nhân tư sản có tính đạo đức nghiêm ngặt của những người sống quanh tôi.
Là người hùng, tôi chiến đấu chống lại bạo cường; là kẻ sáng tạo, tôi lại biến chính mình thành bạo chúa, tôi đã biết mọi cám dỗ của quyền lực. Tôi vốn là người vô hại, tôi đã trở nên độc ác. Có gì ngăn cản được tôi chọc thủng đôi mắt của Daisy? Khiếp sợ, tôi tự trả lời: chẳng có gì hết. Và tôi chọc thủng mắt nàng như vặt đứt cánh một con ruồi. Tôi viết mà tim đập mạnh: "Daisy đưa tay dụi mắt: nàng đã bị mù" và tôi sững người, bút chổng ngược lên: về nguyên tắc tôi đã tạo nên một sự kiện nhỏ khiến tôi có nguy cơ chịu tiếng xấu như chơi. Thực sự tôi không phải là một kẻ ưa tìm khoái lạc trong bạo hành: niềm vui tai ác của tôi ngay lập tức biến thành sự hoảng hốt, tôi bèn hủy hết mọi quyết định của mình, tôi gạch xóa chằng chịt lên những dòng chữ đó để không thể đọc ra được nữa: cô gái trẻ sáng mắt trở lại hay đúng hơn là nàng chưa bao giờ bị mù. Nhưng ký ức về ý thích thất thường của mình còn dằn vặt tôi lâu: tôi tự chuốc vào thân những nỗi lo âu trầm trọng.
Thế giới trong truyện cũng làm tôi lo ngại: đôi khi, chán ngấy những cuộc thảm sát dễ dãi dành cho trẻ con, tôi để mình phiêu diêu, tôi sợ hãi phát hiện ra những tình huống khủng khiếp có thể xảy đến, một vũ trụ quái gở mà chỉ là mặt trái của quyền lực vạn năng của tôi; tôi tự nhủ: mọi chuyện đều có thể xảy ra! và điều đó có nghĩa là: tôi có thể tưởng tượng mọi thứ. Người run rẩy, vẫn cứ chực xé tờ giấy mình đang viết, tôi kể những chuyện tàn khốc siêu nhiên. Nếu có lúc nhìn qua vai tôi để đọc, mẹ tôi thốt lên một tiếng đầy hãnh diện và hãi hùng: "Óc tưởng tượng khiếp quá!" Mẹ mấp máy môi, muốn nói, nhưng chẳng tìm ra gì để nói và đột ngột bỏ đi: sự tháo lui của mẹ khiến cho nỗi lo sợ của tôi tăng thêm cực độ. Nhưng óc tưởng tượng không có tội tình gì: tôi không bịa ra những chuyện khủng khiếp ấy, tôi tìm thấy chúng, cũng như mọi thứ còn lại, trong trí nhớ của mình.
Thời ấy, phưong Tây ngắc ngoải vì ngột ngạt: đó là cái mà người ta gọi là "cuộc sống êm ả". Vì không có kẻ thù rõ ràng, giới trưởng giả lấy việc sợ cái bóng của chính mình làm vui; họ đổi sự buồn chán của mình lấy một nỗi lo âu có định hướng. Người ta nói đến thuật chiêu hồn, đến ngoại chất; ở phố Le Goff, nhà số hai, đối diện với tòa nhà của chúng tôi, người ta gọi hồn bằng bàn xoay81. Chuyện này diễn ra trên tầng năm: "ở nhà thầy đồng", bà ngoại tôi nói. Đôi khi, bà gọi chúng tôi và chúng tôi kịp đến để nhìn thấy những đôi tay đặt trên chiếc bàn một chân nhưng rồi có người tới gần cửa sổ và kéo rèm lại. Bà ngoại Louise bảo hằng ngày ông thầy đồng này tiếp lũ trẻ con cùng tuổi tôi được mẹ chúng dẫn đến. "Thế rồi, bà nói, bà nhìn thấy ông ta: ông ta đặt tay để ban phước cho những người ấy." Ông ngoại tôi lắc đầu, nhưng, tuy ông chỉ trích những trò lễ bái này, ông không dám cười nhạo chúng; mẹ tôi thì sợ, bà ngoại tôi, khác với thường lệ, có vẻ tò mò hơn là hoài nghi. Cuối cùng, mọi người đồng ý với nhau: "Nhất là đừng có quan tâm đến chuyện này nhé, nó làm cho người ta phát điên lên được đấy!" Mốt thời thượng lúc bây giờ là những câu chuyện quái dị; các tờ báo hợp trào lưu tuần nào cũng cung cấp hai hoặc ba truyện như vậy cho lớp công chúng bị khổ đạo Chúa đang luyến tiếc vẻ thanh tao của đức tin. Người kể chuyện thuật lại hết sức khách quan một sự kiện đáng nghi ngại; anh ta để cho chủ nghĩa thực chứng có một chút cơ hội: dù lạ lùng đến thế nào, sự kiện đó cũng phải chứa đựng một lời giải thích hợp lý. Lời giải thích này, tác giả đi tìm, tìm thấy, giới thiệu với chúng ta một cách trung thực. Nhưng, ngay lập tức, tác giả lại dùng tài năng của mình vào việc giúp chúng ta đánh giá được sự thiếu sót và dễ dãi của lời giải thích ấy. Chẳng có gì hơn nữa: câu chuyện kết thúc với một dấu hỏi. Nhưng thế là đủ: Thế Giới Khác có tồn tại, người ta càng không nhắc đến nó thì nó càng đáng sợ.
Khi mở tờ Buổi sáng, tôi lạnh buốt người vì khiếp hãi. Một truyện gây cho tôi ấn tượng mạnh hơn tất cả những truyện khác. Tôi vẫn còn nhớ tên của nó: Gió trong lùm cây. Một buổi tối mùa hè, một phụ nữ đang bị ốm, ở một mình trên tầng hai của một ngôi nhà thôn quê, trằn trọc mãi trên giường; qua chiếc cửa sổ để mở, một cây dẻ vươn cành vào trong phòng. Ở tầng trệt có nhiều người tụ tập, trò chuyện và nhìn màn đêm buông xuống trong vườn. Đột nhiên có người chỉ vào cây dẻ: “Kìa, kìa! Chả lẽ có gió hay sao?” Mọi người sửng sốt, họ đi ra bậc thềm: không có một làn gió thổi; thế nhưng lá cây cứ lay động. Đúng vào khoảnh khắc ấy, một tiếng thét vang lên! Ông chồng của người ốm lao lên cầu thang và thấy cô vợ trẻ ngồi thẳng dậy trên giường, chỉ tay vào cây dẻ rồi ngã lăn ra chết; cây dẻ đã lấy lại vẻ đờ đẫn thường lệ của nó. Người phụ nữ ấy đã nhìn thấy gì? Một kẻ điên trốn thoát khỏi trại tâm thần: đó sẽ chính là hắn ta, nấp trên lùm cây, lúc trước đã thò ra cái mặt nhăn nhó. Chính là hắn, phải là hắn bởi lý do là không có một lời giải thích nào khác có thể thỏa mãn được. Thế nhưng… Làm sao mà người ta lại không nhìn thấy hắn trèo lên? Không thấy cả lúc trèo xuống? Làm sao mà lũ chó lại không sủa hắn? Làm sao mà sáu tiếng sau đó, người ta lại có thể bắt được hắn ở cách khu nhà này một trăm cây số? Những câu hỏi không có trả lời. Người viết truyện xuống dòng và hờ hững kết luận: “Nếu tin theo dân làng, thì đó chính là Thần Chết đã lay động những cành dẻ.” Tôi vứt tờ báo đi, tôi giậm chân, tôi nói thật to: “Không! Không!” Tim tôi đập như muốn vỡ tung. Tôi đã tưởng mình bị ngất xỉu một hôm trên chuyến tàu đi Limoges, khi giở cuốn sách lịch Hachette ra xem: tôi rơi vào một bức tranh sởn tóc gáy: một bến tàu dưới ánh trăng, một cái càng dài sần sùi thò lên khỏi mặt nước, bám vào một gã say rượu, kéo gã này xuống đáy bến nước. Bức tranh ấy minh họa cho một đoạn văn mà tôi đọc ngấu nghiến và nó được kết thúc - hay gần như kết thúc - bằng những từ này: "Đây có phải là ảo giác do nát rượu? Phải chăng Địa Ngục đã hé mở?" Tôi sợ nước, sợ cua bể và cây cối. Sợ nhất là các cuốn sách: tôi nguyền rủa những kẻ tàn bạo đưa các hình ảnh ghê rợn ấy vào những câu chuyện của họ. Thế nhưng tôi lại bắt chước họ.
Tất nhiên, cần phải có cơ hội. Chẳng hạn, hoàng hôn buông xuống: bóng tối tràn ngập phòng ăn, tôi đẩy chiếc bàn nhỏ của mình dựa vào cửa sổ, nỗi sợ hãi lại trỗi dậy, tính cách thuần phục ở những người hùng của tôi - những người chắc chắn là cao cả, từng bị đòi hiểu nhầm rồi lại được phục hồi danh dự - lộ rõ ra là không ổn; thế rồi điều đó tới: một sinh vật rùng rợn mê hoặc tôi, nó vô hình: để thấy được nó thì phải miêu tả nó. Tôi nhanh chóng kết thúc cuộc phiêu lưu đang diễn ra, tôi đưa các nhân vật của mình đến một vùng hoàn toàn khác của trái đất, thường là dưới đáy biển hoặc là dưới lòng đất, tôi vội vã đặt họ trước những mối nguy hiểm mới: là những thợ lặn hay những nhà địa chất ngẫu hứng, họ tìm thấy dấu vết của Sinh Vật ấy, lần theo dấu vết đó và, bất thình lình, gặp nó. Cái thứ xuất hiện dưới ngòi bút của tôi lúc ấy - con bạch tuộc có đôi mắt lửa, động vật thân giáp nặng hai mươi tấn, con nhện khổng lồ biết nói - đó chính là tôi, quái vật nhóc con, đó là nỗi buồn chán trong cuộc sống của tôi, là nỗi sợ chết của tôi, là sự nhạt nhẽo và tính tai ác của tôi. Tôi không tự nhận ra được mình: vừa mới được tạo ra, con vật ghê tởm đã đứng lên chống lại tôi, chống lại các nhà nghiên cứu hang động dũng cảm của tôi, tôi lo sợ cho mạng sống của họ, tim tôi thót lại, tôi quên mất bàn tay mình đang vạch ra các từ ngữ, tôi tưởng mình đang đọc chúng. Thường thì mọi chuyện dừng lại ở đây: tôi không trao những người ấy cho Quái Vật nhưng tôi cũng không giải cứu họ; tóm lại, tôi chỉ cần cho hai bên tiếp xúc với nhau là đủ; tôi đứng dậy, đi vào bếp, đi sang thư viện; ngày hôm sau, tôi để trống một hoặc hai trang giấy và tung các nhân vật của mình vào một chiến dịch mới. Những cuốn "tiểu thuyết" kỳ lạ, luôn luôn bỏ dở, luôn luôn được bắt đầu lại hoặc tiếp tục, tùy ý, với những tên gọi khác, một mớ hổ lốn gồm những truyện hoang đường u ám và những cuộc phiêu lưu tươi sáng, những sự kiện hư ảo và những mục từ trong từ điển; tôi đã đánh mất những truyện ấy và đôi khi tôi tự nhủ rằng điều đó thật đáng tiếc: nếu như trước đây tôi dám nghĩ đến việc giấu kỹ chúng, chúng sẽ tiết lộ cho tôi toàn bộ tuổi thơ của tôi.
Tôi bắt đầu tự khám phá bản thân. Tôi gần như chẳng là gì hết, cùng lắm chỉ là một hoạt động vô thưởng vô phạt, nhưng cần gì hơn. Tôi thoát khỏi vở hài kịch: tôi còn chưa làm việc nhưng tôi đã không diễn trò nữa, kẻ nói dối đã có được sự thật trong lúc chế tạo ra những điều dối trá của mình. Tôi đã được sinh ra từ việc viết văn: trước đó, chỉ có một mê cung gương; ngay từ truyện đầu tiên tôi viết, tôi biết là một đứa trẻ đã thâm nhập vào tòa lâu đài gương. Khi viết văn, tôi tồn tại, tôi thoát khỏi những người lớn, nhưng tôi chỉ tồn tại để viết và nếu như tôi nói: tôi, điều đó có nghĩa là: tôi người viết văn. Có gì quan trọng đâu: tôi đã có được niềm vui; đứa trẻ sống giữa nhiều người đã tự cho mình những cuộc hẹn hò riêng tư.
Điều đó quá đẹp để có thể kéo dài: giá như tôi trụ lại được trong tình trạng bất hợp pháp, có lẽ tôi vẫn sẽ thành thực; người ta đã kéo tôi ra khỏi đó. Tôi đã đến độ tuổi mà người ta ước định rằng những đứa trẻ thuộc giới trưởng giả bộc lộ những dấu hiệu đầu tiên về thiên hướng của mình, từ lâu chúng tôi đã được cho biết rằng các cậu anh họ của tôi, Schweitzer, de Guérigny, sẽ làm kỹ sư giống như cha của họ: không cần phải phí thêm một phút nào nữa. Bà Picard muốn là người đầu tiên khám phá ra dấu hiệu in trên trán tôi. "Thằng bé này sẽ viết văn!" bà nói với vẻ chắc chắn. Bực bội, bà Louise cười nhạt; Blanche Picard quay về phía bà và nhắc lại một cách nghiêm nghị: "Nó sẽ viết văn! Nó sinh ra để viết văn." Mẹ tôi biết là ông Charles chẳng mấy khuyến khích tôi: mẹ lo ngại những chuyện rắc rối và nhìn kỹ tôi với ánh mắt cận thị: "Chị nghĩ thế à, chị Blanche? Chị nghĩ thế à?" Nhưng buổi tối, khi tôi nhảy phóc lên giường, trong chiếc áo ngủ, mẹ ôm siết vai tôi và mỉm cười nói với tôi: "Thằng bé của mẹ sẽ viết văn!" Ông ngoại tôi được thông báo một cách thận trọng: mọi người sợ sẽ có chuyện ầm ĩ. Ông chỉ gật đầu và tôi nghe thấy ông thổ lộ với ông Simonnot, ngày thứ Năm sau đó, rằng vào lúc hoàng hôn của cuộc đời, có ai mà lại không xúc động khi tham dự vào sự thức dậy của một tài năng. Ông tiếp tục lờ đi những bản viết nguệch ngoạc của tôi nhưng khi các học trò người Đức của ông đến nhà tôi ăn tối, ông đặt tay lên đầu tôi và nói đi nói lại, tách rõ từng âm tiết để khỏi bỏ lỡ dịp dạy họ cách nói tiếng Pháp bằng phương pháp trực tiếp: "Nó có khiếu văn chương."
Ông chẳng tin lấy một lời vào những điều mình nói, nhưng thế thì sao? Điều tai hại đã xảy ra rồi; phản đối tôi thẳng thừng thì có nguy cơ làm tình hình trầm trọng thêm: có thể tôi sẽ đâm ra ngoan cố. Ông Karl tuyên bố về thiên hướng của tôi là để giữ một cơ hội chuyển hướng tôi ra khỏi chuyện đó. Điều đó trái hẳn với một người có tính vô sỉ, nhưng ông đang già đi: sự nhiệt tình của ông khiến ông mệt mỏi; thẳm sâu trong suy nghĩ của ông, giữa một sa mạc lạnh lẽo vắng vẻ, tôi tin chắc rằng ai đó đã biết rõ về tôi, về gia đình tôi, về ông. Một hôm, khi tôi ngồi dưói chân ông đọc sách, trong cái không khí im lặng như tờ kéo dài bất tận mà ông áp đặt cho chúng tôi, một ý nghĩ lướt qua trong đầu ông khiến ông quên mất sự hiện diện của tôi; ông nhìn mẹ tôi với vẻ trách móc: "Thế nhỡ đâu thằng bé nảy ra ý định sống bằng ngòi bút thì sao?" Ông ngoại tôi yêu thích Verlame và có một tập thơ chọn lọc của nhà thơ này. Nhưng ông cho rằng ông đã nhìn thấy nhà thơ, hồi năm 1894, bước vào một quán rượu ở phố Saint-Jacques, "say bét nhè như một con lợn": cuộc gặp gỡ ấy đã làm hằn sâu trong ông thái độ khinh thường đối với các nhà văn chuyên nghiệp, những nhà ảo thuật lố bịch cứ đòi mọi người trả mình một đồng louis vàng để mình cho họ xem mặt trăng nhưng rốt cuộc lại giơ cái mông của mình ra, để nhận về một trăm xu. Mẹ tôi có vẻ sợ hãi nhưng không trả lời: mẹ biết rằng ông Charles có những dự kiến khác đối với tôi. Trong phần lớn các trường trung học, chân giáo sư tiếng Đức được dành cho những người Alsace trước đây đã chọn nước Pháp và người ta đã muốn ban thưởng cho lòng yêu nước của họ: bị kẹt giữa hai dân tộc, hai ngôn ngữ, họ đã học hành một cách lộn xộn và văn hóa của họ có những lỗ hổng; họ khổ sở vì điều đó; họ cũng than phiền rằng thái độ đối địch từ phía các đồng nghiệp của họ đã đẩy họ đứng bên ngoài cộng đồng giáo viên. Tôi sẽ là người báo thù cho họ, tôi sẽ báo thù cho ông tôi: là cháu ngoại của một người Alsace, tôi đồng thời cũng là người Pháp của nước Pháp; ông Karl sẽ giúp tôi có được một kiến thức toàn diện, tôi sẽ đi theo con đường vương giả: bằng con người tôi vùng Alsace tuẫn nạn sẽ vào học ở École normale supérieure82, sẽ thi đỗ thạc sĩ một cách xuất sắc, sẽ trở thành ông hoàng ấy: một giáo sư văn chương. Một buổi tối, ông tôi thông báo rằng ông muốn nói chuyện với tôi như giữa đàn ông với nhau, đám phụ nữ rút lui, ông đặt tôi ngồi vào lòng và chuyện trò với tôi một cách trịnh trọng. Tôi sẽ viết văn, đó là một việc đã quyết rồi; hẳn là tôi đã hiểu ông khá rõ để không nghi ngờ rằng ông sẽ cản trở những ước muốn của tôi. Nhưng phải nhìn thẳng vào sự việc, một cách tỉnh táo: văn chương không nuôi sống được ta. Tôi có biết rằng một số nhà văn nổi tiếng đã chết vì đói không? Rằng những người khác, để có miếng ăn, đã tự bán mình? Nếu tôi muốn giữ được độc lập của mình, nên chọn thêm nghề thứ hai. Làm giáo sư thì có thời gian rảnh rỗi; những mối quan tâm của giới đại học trùng với những mối quan tâm của các nhà văn: tôi sẽ liên tục chuyển từ thiên chức này sang thiên chức kia; tôi sẽ sống trong sự giao tiếp với các tác giả lớn; bằng cùng một hoạt động, tôi sẽ truyền đạt cho học trò của mình tác phẩm của các tác giả ấy và sẽ lấy cảm hứng của mình ở đó. Tôi sẽ quên đi cảnh quạnh hiu tỉnh lẻ khi sáng tác thơ, khi dịch Horace bằng dạng thơ không vần, tôi sẽ gửi cho các báo địa phương những mẩu bình luận văn học, gửi cho Tạp chí sư phạm một tiểu luận xuất sắc về việc giảng dạy tiếng Hy Lạp, một tiểu luận khác về tâm lý tuổi thiếu niên; đến lúc tôi chết người ta sẽ tìm thấy những thứ chưa từng xuất bản trong các ngăn kéo của tôi, một tác phẩm suy tư về biển, một vở hài kịch một hồi, vài trang viết uyên thâm và nhạy cảm về các công trình kiến trúc ở Aurillac83, đủ để làm thành một cuốn sách mỏng mà các học trò cũ của tôi sẽ chu đáo đảm nhận việc công bố.
Từ ít lâu nay, mỗi lúc ông ngoại tôi phấn khích trước những phẩm hạnh của tôi, tôi cứ lạnh như băng; giọng nói run lên vì yêu thương khi gọi tôi là "món quà trời cho", tôi làm ra vẻ vẫn nghe nhưng rốt cuộc tôi đã không còn nghe thấy nữa. Tại sao ngày hôm đó tôi lại lắng tai nghe giọng nói ấy, vào cái lúc mà nó nói dối một cách có chủ ý nhất? Do sự hiểu lầm nào mà tôi đã khiến cho nó phải nói ngược lại với điều mà nó có ý định dạy dỗ tôi? Đó là bởi giọng nói đó đã thay đổi: nó trở nên khô khan, cứng rắn, tôi cảm thấy đó như là giọng nói của người khuất bóng đã sinh ra tôi. Ông Charles có hai gương mặt: khi ông đóng vai ông ngoại, tôi coi ông như một gã hề cùng loại với tôi và tôi chẳng kính nể ông. Nhưng khi ông nói chuyện với ông Simonnot, với các con trai của ông, khi ở bàn ăn ông sai đám đàn bà trong nhà lấy cho ông chai dầu hoặc giỏ bánh mì, bằng cách chỉ tay mà chẳng nói một lời, tôi lại ngưỡng mộ uy thế của ông. Nhất là cái cách ông giơ ngón tay trỏ lên khiến tôi thật nể trọng: ông cẩn thận không giơ thẳng nó ra, mà vung lên một cách mơ hồ trong không khí, ngón tay hơi cụp lại một chút, để cho thứ mà ông chỉ thành ra không rõ ràng và hai bà phục vụ cứ phải đoán mò mệnh lênh của ông; thỉnh thoảng, bực bội, bà ngoại tôi nhầm lẫn và đưa cho ông cái đĩa hoa quả khi ông yêu cầu đồ uống: tôi chê trách bà tôi, tôi khuất phục trước những mong muốn đế vương đòi phải được đón ý hơn là được thỏa mãn ấy. Nếu như hồi đó ông Charles kêu lên từ đằng xa, hai tay dang rộng: "Đây là Hugo mới, đây là Shakespeare tương lai!" có khi giờ đây tôi đã là nhà thiết kế đồ họa công nghiệp hay giáo sư văn chương. Ông đã tránh hẳn việc đó: lần đầu tiên tôi phải đương đầu với vị gia trưởng; ông có vẻ âu sầu và càng đáng kính hơn vì ông đã quên cưng chiều tôi. Đó là thánh Moise đang đặt ra thứ luật pháp mới. Luật pháp dành cho tôi. Ông chỉ nhắc đến thiên hướng của tôi để nhấn mạnh những điều bất lợi của nó: tôi đi đến kết luận rằng ông đã thừa nhận thiên hướng đó. Dường như ông đang báo trước cho tôi rằng có thể tôi sẽ thấm đẫm những trang viết của mình bằng nước mắt hoặc sẽ nằm lăn lóc trên thảm sàn, nếp nghĩ trưởng giả chừng mực của tôi hẳn là bị xáo động ghê gớm. Ông đã thuyết phục được tôi về thiên hướng của mình đồng thời làm cho tôi hiểu rằng những sự lộn xộn xa hoa ấy không phải là dành cho tôi: để viết về các công trình ở Aurillac hay về giáo dục, than ôi, hoàn toàn chẳng cần say mê, chẳng cần rạo rực; những tiếng thổn thức bất hủ của thế kỷ 20, những người khác sẽ chịu trách nhiệm thốt lên. Tôi đành chấp nhận sẽ không bao giờ là bão tố sấm sét, mà sẽ tỏa sáng trong văn chương bằng những phẩm chất con nhà lành, bằng sự tử tế và chăm chỉ của mình. Nghề viết văn hiện ra trước mắt tôi như một hoạt động của con người có tầm cỡ, vừa cực kỳ nghiêm túc, vừa hết sức phù phiếm, và, về thực chất, chẳng có lợi ích gì, đến nỗi tôi chẳng hề nghi ngờ lấy một giây về việc nghề đó dành cho tôi; tôi tự nhủ cùng một lúc: "chỉ là thế thôi mà" và "mình có năng khiếu đấy". Như mọi kẻ mơ mộng hão, tôi đã lẫn lộn sự vỡ mộng với thực tế.
Ông Karl đã quay ngược tôi như lộn một tấm da thỏ: trước đó tôi cứ tưởng viết là để lưu giữ lại những giấc mơ của mình trong khi, nếu tin theo lời ông, tôi chỉ mơ ước thực hành ngòi bút của mình mà thôi: nhưng nỗi lo sợ, những niềm say mê tưởng tượng của tôi chỉ là những trò xảo thuật của tài năng trong tôi, chúng không có nhiệm vụ gì khác ngoài việc ngày ngày đưa tôi quay trở lại bàn học và cung cấp cho tôi những đề tài kể chuyện phù hợp với lứa tuổi của tôi trong lúc chờ đợi những sự gợi ý lớn lao từ kinh nghiệm và sự trưởng thành. Tôi đã mất đi những ảo mộng huyền diệu của mình: "A! ông tôi nói, không phải cứ có mắt là đã đủ đâu nhé, còn phải học cách sử dụng chúng nữa. Cháu có biết Flaubert đã làm gì khi Maupassant còn bé không? Ông ấy đặt cậu ta trước một cái cây và cho cậu ta hai tiếng đồng hồ để miêu tả nó.” Vậy là tôi học cách nhìn. Được định trước là người ca ngợi những lâu đài vùng Aurillac, tôi rầu rĩ ngắm những công trình nghệ thuật khác: tấm lót tay đặt bàn làm việc, chiếc đàn piano, chiếc đồng hồ quả lắc, những thứ cũng có thể sẽ thành bất tử - tại sao lại không nhỉ? - nhờ những bài viết buồn tẻ của tôi sau này. Tôi quan sát. Đó là một trò chơi ảm đạm và ngao ngán: phải đứng chôn chân trước chiếc ghế bành bọc loại vải nhung in hình trang trí và xem xét nó. Có gì để nói nhỉ? Này nhé, nó được bọc bằng một thứ vải màu xanh lục và thô ráp, nó có hai tay vịn, có bốn chân, có lưng ghê với hai quả thông nhỏ bằng gỗ nhô lên. Hiện tại chỉ có thế thôi nhưng tôi sẽ quay lại với nó, lần sau tôi sẽ quan sát kỹ hơn, rốt cuộc tôi sẽ biết rõ nó như lòng bàn tay mình; sau đó, tôi sẽ miêu tả nó, các độc giả sẽ nói: "Quan sát giỏi thế cơ chứ, nhìn tài thế cơ chứ, đúng thật cơ chứ! Đó là những nét mà người ta không bịa ra được!" Miêu tả những vật có thực bằng những từ ngữ chân thực với một ngòi bút thực sự, sẽ thật quái quỷ nếu tôi lại cũng không trở nên đích thực là tôi. Tóm lại tôi biết, biết dứt khoát, cần phải trả lời ông soát vé thế nào khi ông ta hỏi vé của tôi.
Hoàn toàn có thể nghĩ rằng tôi quý trọng hạnh phúc của mình! Điều đáng phiền là tôi lại chẳng hưởng thụ được hạnh phúc đó. Tôi đã được phong chức, người ta đã có lòng tốt cho tôi một tương lai và tôi tuyên bố rằng nó thật quyến rũ nhưng, một cách âm thầm che giấu, tôi ghét cay ghét đắng nó. Tôi đây, tôi đâu có cầu xin cái trách nhiệm thư ký tòa án ấy? Việc giao tiếp với những người danh giá đã cho tôi thấy rằng người ta không thể là nhà văn mà lại không trở nên nổi tiếng; nhưng, khi tôi so sánh thứ vinh quang dành cho tôi với vài tác phẩm nhỏ mà tôi sẽ để lại phía sau mình, tôi cảm thấy mình bị lừa phỉnh: liệu tôi có thể thực sự tin rằng lũ cháu của tôi sẽ còn đọc lại tôi và chúng sẽ phấn chấn vì một tác phẩm xoàng xĩnh đến thế, vì những chủ đề đã khiến tôi chán ngấy từ trước? Đôi khi tôi tự nhủ rằng tôi sẽ thoát khỏi cảnh bị lãng quên nhờ "phong cách" của mình, nhờ thứ phẩm chất bí ẩn ấy, thứ mà ông tôi phủ nhận ở Stendhal84 và thừa nhận ở Renan85: nhưng những lời nói vô nghĩa này không làm tôi yên lòng được.
Nhất là, phải từ bỏ chính mình. Hai tháng trước đó, tôi là một kiếm sĩ, một lực sĩ: chấm dứt! Giữa Corneille và Pardaillan, người ta lệnh cho tôi phải chọn. Tôi đã loại bỏ Pardaillan mà tôi yêu bằng cả trái tim; do khiêm nhường tôi đã chọn Corneille. Tôi đã từng thấy những người hùng chạy và chiến đấu trong vườn Luxembourg; choáng váng trước vẻ đẹp của họ, tôi đã hiểu rằng mình thuộc về hạng người thấp kém hơn. Cần phải tuyên bố điều đó, đút lại kiếm vào bao, trở về với bầy đàn tầm thường, quay lại với các nhà văn lớn, với những quý ông loắt choắt chẳng khiến được tôi e sợ ấy: họ đã từng là những đứa trẻ còi cọc, về điểm này ít ra tôi cũng giống họ; họ đã trở thành những người lớn ốm yếu, những ông già mũi dãi khụt khịt, tôi sẽ giống họ ở điểm đó; một nhà quý tộc đã sai người nện cho Voltaire một trận và tôi, có thể, sẽ bị một gã đại úy, một cựu anh hùng rơm chốn công viên, đánh cho mấy roi.
Bởi cam chịu nên tôi đã tưởng là mình có năng khiếu: ở phòng làm việc của ông Charles Schweitzer, bên trong những cuốn sách xộc xệch, bục chỉ, lẻ bộ, tài năng là cái thứ bị rẻ rúng nhất trần đời. Thì đấy, dưới Chế độ Cũ, biết bao nhiêu người con trai thứ khi sinh ra đã được định trước để làm giáo sĩ, về sau lại bị đẩy đi chỉ huy một tiểu đoàn86. Một hình ảnh đã thu tóm lại trong mắt tôi suốt một thời gian dài vẻ hào nhoáng thảm hại của sự nổi tiếng: một chiếc bàn dài phủ khăn trắng chất những bình nước cam và những chai rượu vang sủi bọt, tôi cầm lấy một chiếc ly, những người đàn ông mặc áo đuôi tôm đứng quanh tôi - có mười lăm người cả thảy - nâng cốc mừng sức khỏe của tôi, tôi phỏng đoán phía sau chúng tôi là khoảng trống mênh mông và bụi bặm của một gian phòng cho thuê. Có thể thấy là tôi chẳng đợi chờ gì nữa ở cuộc sống ngoài việc sau này nó có thể khôi phục lại cho tôi ngày hội hằng năm ở Viện Sinh Ngữ.
Số phận của tôi đã được tạo nên như vậy, ở nhà số một phố Le Goff, trong một căn hộ ở tầng sáu, phía dưới Goethe và Schiller, phía trên Molière, Racine, La Fontaine, đối diện với Henri Heme, Victor Hugo, trong những cuộc nói chuyện tái diễn đến cả trăm lần: ông Karl và tôi đuổi các bà ra ngoài, chúng tôi ôm chặt nhau, chúng tôi tiếp tục những cuộc đối thoại trực diện chẳng ai nghe ai mà mỗi một lời đều khiến tôi phải nhớ. Bằng những câu ngắn gọn rất đúng chỗ, ông Charles thuyết phục tôi rằng tôi không có tài năng thiên bẩm. Tôi chẳng có tài, thực vậy, tôi biết thế, tôi cóc cần điều đó; chủ nghĩa anh hùng, thứ đã vắng bóng và bất khả thi, mới là đối tượng say mê duy nhất của tôi: đó là sự bùng cháy của những tâm hồn nghèo nàn, cuộc sống nội tâm thảm hại và cảm giác về sự vô dụng của mình đã ngăn cấm tôi từ bỏ hoàn toàn niềm say mê ấy. Tôi không dám hân hoan về sự nghiệp anh hùng trong tương lai của mình nữa nhưng trong thâm tâm tôi hoảng sợ: có khi đã có sự nhầm con hoặc là nhầm thiên hướng cũng nên. Rối trí, để vâng lời ông Karl, tôi chấp nhận công việc chuyên cần của một nhà văn thứ yếu. Tóm lại, ông đã ném tôi vào văn học bằng sự chu đáo mà ông đã dùng để làm cho tôi rời bỏ nó: đến nỗi cho đến tận ngày nay, khi rơi vào tâm trạng khó chịu, có lúc tôi lại tự hỏi phải chăng tôi đã không tiêu phí bao ngày bao đêm, không bôi mực lên đầy các trang viết, không ném ra thị trường bao nhiêu cuốn sách mà chẳng ai muốn đọc, với niềm hy vọng duy nhất và điên rồ là làm hài lòng ông tôi. Xem ra thật khôi hài: vào tuổi ngoại ngũ tuần, để thực hiện ước nguyện của một cụ già đã chết, tôi ở trong tình trạng bị kéo vào một hoạt động mà chắc ông tôi sẽ chẳng tán thành.
Thực sự, tôi giống như anh chàng Swann87 đã dứt được khỏi mối tình của mình và thở dài: "Thế mà mình lại đi lãng phí cuộc đời vì một phụ nữ chẳng phải là kiểu người mà mình thích!" Đôi khi, tôi thô lỗ một cách kín đáo: đó là một nguyên tắc sơ đẳng để sống khỏe. Mà kẻ thô lỗ thì luôn luôn có lý nhưng chỉ đến một mức độ nào đó thôi. Đúng là tôi không có khiếu viết văn; người ta đã cho tôi biết điều đó, người ta coi tôi là loại nhồi nhét chữ nghĩa đầy đầu: tôi là một kẻ như vậy; những cuốn sách của tôi có mùi mồ hôi và cực nhọc, tôi thừa nhận là chúng bốc mùi trước mũi giới quý tộc của chúng ta, tôi thường viết chúng trái ý mình, có nghĩa là trái ý tất cả mọi người88, với một sự căng thẳng tinh thần rốt cuộc đã trở thành chứng tăng huyết áp ở tôi. Người ta đã khâu những mệnh lệnh vào dưới lớp da tôi: nếu có một ngày tôi không viết, vết sẹo thiêu đốt tôi; nếu tôi viết quá dễ dãi, nó cũng thiêu đốt tôi như vậy. Cái đòi hỏi thô thiển ấy giờ đây khiến tôi ngạc nhiên bởi sự cứng nhắc, vụng về của nó: nó giống như những con cua cổ quái và trịnh trọng mà sóng biển đẩy dạt vào những bãi tắm ở Long Island; cũng như những con cua ấy, nó tiếp tục sống qua những thời đại đã tàn phai. Suốt một thời gian dài tôi đã ghen tị với những người gác cổng ở phố Lacépède, khi ánh chiều buông và khí trời mùa hạ xua họ ra vỉa hè, ngồi vắt vẻo hai chân hai bên ghế: đôi mắt hồn nhiên của họ trông thấy được mọi thứ mà chẳng cần phải có sứ mệnh nhìn ngắm.
Chỉ có điều thế này: trừ một vài cụ già chuyên nhúng ngòi bút vào nước hoa và những gã công tử bột viết như bổ củi, những người viết văn dễ dàng không tồn tại trên đời. Điều đó gắn với bản chất của Ngôn Từ: người ta nói bằng chính thứ tiếng của mình, người ta viết bằng một thứ tiếng xa lạ. Tôi đi đến kết luận rằng tất cả chúng ta đều giống nhau trong nghề nghiệp của chúng ta: tất cả đều là tù khổ sai, tất cả đều mang vết xăm trên cơ thể. Thêm nữa bạn đọc đã hiểu là tôi ghét tuổi thơ của mình cùng tất cả những gì còn sót lại từ đó: giọng nói của ông tôi, cái giọng nói đã được ghi lại cứ dựng tôi bật dậy và đẩy tôi ngồi vào bàn ấy, tôi sẽ chẳng nghe theo nó nếu như nó không phải là giọng nói của chính tôi, nếu như tôi, vào cái thời từ tám đến mười tuổi, đã không ngạo mạn nhận lại vào mình trách nhiệm đối với cái sứ mệnh được coi là bắt buộc mà trước đó tôi đã nhún nhường đón nhận.
Tôi biết rất rõ rằng tôi chỉ là một cỗ máy sản xuất ra những cuốn sách.
Chateaubriand
Tôi đã suýt bỏ cuộc, về thứ năng khiếu mà ông Karl miễn cưỡng thừa nhận ở tôi, khi cho rằng phủ nhận nó hoàn toàn là không khôn khéo, thực chất tôi chỉ nhìn thấy trong đó một sự ngẫu nhiên không thể biện minh được cho một sự ngẫu nhiên khác, là bản thân tôi. Mẹ tôi có một chất giọng đẹp, vậy nên mẹ hát. Dù thế dẫu phải là mẹ tôi không đi tàu không vé. Còn tôi, tôi có khiếu văn chương, vậy nên tôi sẽ viết văn, tôi sẽ khai thác cái mỏ này suốt đời. Đồng ý. Nhưng khi nghệ thuật mất đi những quyền lực thánh thần của nó - ít nhất là đối với tôi - chắc tôi sẽ chỉ còn là một kẻ lang thang - có khá giả hơn một chút, vậy thôi. Để tự cảm thấy mình có ích, hẳn là tôi cần phải được mọi người đòi hỏi. Gia đình tôi đã nuôi dưỡng tôi một thời gian trong ảo tưởng này; mọi người nhắc đi nhắc lại với tôi rằng tôi là một món quà trời cho, tôi rất được mong đợi, tôi là người không thể thiếu được đối với ông tôi, mẹ tôi: tôi không còn tin vào điều đó nữa nhưng tôi đã từng giữ cảm giác rằng con người ta sinh ra là thừa thãi trừ phi được cho ra đời đặc biệt để thỏa mãn một sự chờ đợi. Hồi ấy, tôi kiêu hãnh và cô đơn đến mức đã muốn chết đi hoặc là được cả trái đất đòi hỏi.
Tôi không viết văn nữa: những lời tuyên bố của bà Picard đã làm cho những tự thoại từ ngòi bút của tôi có một tầm quan trọng lớn đến nỗi tôi không còn dám tiếp tục viết. Khi muốn quay lại với cuốn tiểu thuyết của mình, ít nhất là để cứu cặp đôi trẻ mà tôi đã để lại giữa sa mạc Sahara mà không có cả đồ ăn lẫn mũ cối, tôi đã biết thế nào là day dứt vì bất lực. Vừa ngồi xuống, đầu óc tôi đã rối mù, tôi vừa cắn móng tay vừa nhăn mặt: tôi đã mất đi sự ngây thơ. Tôi đứng dậy, đi lại loanh quanh trong căn hộ với tâm hồn của kẻ đốt nhà; than ôi, tôi chưa từng châm lửa đốt nơi này bao giờ. Tính tình dễ bảo bởi thân phận, bởi sở thích, bởi thói quen, sau này, tôi chỉ đến với sự nổi loạn để đẩy sự phục tùng đến cực độ. Tôi được mua cho một cuốn “vở bài tập", bọc vải đen với mép đỏ: không có dấu hiệu bên ngoài nào phân biệt được nó với "cuốn vở để viết tiểu thuyết" của tôi: chỉ cần tôi nhìn thấy nó, những bài tập ở trường và những nghĩa vụ riêng của tôi liền hợp nhất lại với nhau, tôi đồng nhất tác giả với cậu học trò, cậu học trò với ông giáo sư tương lai, viết văn và dạy ngữ pháp chỉ là một; cây bút của tôi, bị xã hội hóa, đã tuột khỏi tay tôi và suốt nhiều tháng trời tôi vẫn chẳng cầm lại nó. Ông tôi mỉm cười sau chòm râu khi tôi đem theo tâm trạng cáu kỉnh của mình vào phòng làm việc của ông: chắc là ông tự nhủ rằng chính sách của ông đã đem lại những kết quả đầu tiên.
Nó đã thất bại bởi tôi có cái đầu lậm đầy anh hùng ca. Thanh gươm của tôi đã bị bẻ gãy, bản thân tôi bị ném trả về với cuộc sống thường dân, ban đêm tôi thường có giấc mơ đầy lo âu này: tôi đang ở vườn hoa Luxembourg, gần hồ nước, đối diện với Thượng nghị viện; cần phải bảo vệ một bé gái tóc vàng giống Vévé, cô bé đã chết một năm trước đó, để chống lại một mối nguy hiểm chưa biết rõ. Cô bé, bình thản và tin tưởng, ngước nhìn tôi với đôi mắt nghiêm trang; thường thường, cô bé cầm một chiếc vòng thể dục. Chính tôi mới là người đang sợ hãi: tôi sợ phải bỏ rơi cô vào tay những thế lực vô hình. Thế nhưng tôi đã yêu cô bé ấy biết bao, bằng một tình yêu sầu muộn đến nhường nào! Tôi vẫn yêu cô, tôi đã tìm kiếm cô, cô đã bị lạc, rồi được tìm thấy, được ôm trong vòng tay tôi, rồi lại bị lạc nửa: đó là Anh Hùng Ca. Lúc tám tuổi, vào thời điểm cúi đầu khuất phục, tôi đã có một cú bật dậy mạnh mẽ; để cứu cô bé đã chết ấy, tôi lao vào một chiến dịch đơn giản và điên rồ đã khiến dòng đời tôi đổi hướng: tôi tuồn cho nhà văn những quyền lực thần thánh của người anh hùng.
Khởi đầu là một phát hiện hay đúng hơn là một sự trở lại của ký ức - bởi trước đó hai năm tôi đã có linh cảm về điều này: những tác giả lớn giống như những hiệp sĩ lang thang ở chỗ cả những người này lẫn những người kia đều gọi lên những biểu hiện biết ơn tha thiết. Đối với Pardaillan, chẳng cần phải tìm bằng chứng gì nữa: những giọt nước mắt của các cô bé mồ côi biết ơn đã cháy ròng ròng trên lưng bàn tay anh. Nhưng, nếu tin vào Đại từ điển bách khoa Larousse và những mẩu tin về những người mới qua đời mà tôi đọc trên các báo, nhà văn cũng được ưu ái không kém: chỉ cần sống lâu, cuối cùng thế nào ông ta cũng nhận được một bức thư cảm ơn của một người xa lạ; kể từ lúc đó, những lời cảm ơn không ngừng lại nữa, chúng xếp đống trên bàn làm việc của ông, chất đầy nhà ông; những người nước ngoài vượt biển đến để chào ông; các đồng bào của ông, sau khi ông chết, quyên góp tiền để dựng một công trình kỷ niệm ông; ở thành phố quê hương ông và đôi khi ở thủ đô của nước ông, có những đường phố mang tên ông. Tự thân nó, những sự bày tỏ ơn huệ này không khiến tôi quan tâm: chúng cứ làm tôi nhớ đến vở kịch gia đình. Một bức tranh, tuy vậy, đã khiến tôi xúc động: nhà tiểu thuyết nổi tiếng Dickens vài giờ nữa sẽ tới New York, người ta nhận thấy chiếc tàu thủy chở ông ở đằng xa; đám đông đã tụ tập trên bến tàu để đón ông, tất cả những khuôn miệng đều mở ra và cả ngàn chiếc mũ được giơ lên, người ta chen chúc đến nỗi lũ trẻ con phát nghẹt thở, thế nhưng, đám đông ấy lại cô độc, mồ côi và góa bụa, trống trải bởi sự vắng mặt duy nhất của người mà nó đang chờ đợi. Tôi nói khẽ: "Ở đây thiếu một người: đó là Dickens!" và nước mắt tôi trào ra. Thế nhưng tôi gạt bỏ những ấn tượng này, tôi đi thẳng vào nguyên nhân của nó: để được hoan nghênh nồng nhiệt đến thế, tôi tự nhủ, hẳn là các nhà văn phải đương đầu với những nguy hiểm ghê gớm nhất và có những cống hiến phi thường cho nhân loại. Một lần trong đời tôi đã tham dự vào một cơn phấn khích cuồng nhiệt như vậy: những chiếc mũ bay lên, những người đàn ông và đàn bà hô vang: tuyệt lắm, hoan hô; đó là ngày 14 tháng Bảy, những chàng Turcos89 diễu binh. Kỷ niệm đó đã khiến tôi bị thuyết phục hoàn toàn: dù có những khiếm khuyết về thể chất, có thói điệu bộ kiểu cách, có vẻ ngoài nữ tính, các đồng nghiệp của tôi là một dạng chiến binh, họ liều mạng sống của mình như những người lính đánh lẻ trong những trận chiến thần bí, người ta tán thưởng lòng dũng cảm chinh chiến của họ, còn hơn là tán thưởng tài năng của họ. Vậy đúng là như thế rồi! tôi tự nhủ. Người ta cần đến họ! Ở Paris, ở New York, ở Moskva, người ta mong đợi họ, trong tâm trạng lo âu hay phấn chấn, trước khi họ công bố cuốn sách đầu tiên của mình, trước khi họ bắt đầu viết, thậm chí trước cả khi họ ra đời.
Nhưng... thế còn tôi thì sao? Tôi, người có sứ mệnh viết văn? Thì người ta chờ đợi tôi chứ sao. Tôi đã biến Corneille thành Pardaillan: ông vẫn giữ đôi chân khèo, lồng ngực hẹp và bộ mặt xanh xao hốc hác của mình nhưng tôi bỏ đi tính hà tiện và thói hám lợi của ông; tôi trộn lẫn một cách có cân nhắc tài viết văn và lòng hào hiệp. Sau đó thì dễ như chơi để biến tôi thành Corneille và trao cho tôi sứ mệnh này: bảo vệ giống loài. Trò bịp bợm mới của tôi đã chuẩn bị cho tôi một tương lai kỳ cục; trước mắt thì nhờ đó mà tôi có được tất cả. Sinh ra ốm yếu, tôi đã kể lại những nỗ lực của mình để được tái sinh: những lời cầu xin của những kẻ vô tội lâm nguy đã từng khiến tôi hồi sinh đến ngàn lần. Nhưng đó chỉ là trò cười: là một hiệp sĩ rởm, tôi đã thực hiện những kỳ tích rởm mà sự hời hợt của nó rốt cuộc khiến tôi chán ngấy. Vậy mà giờ đây tôi được trả lại những giấc mơ của mình và chúng biến thành hiện thực. Bởi thiên chức của tôi là có thật, tôi không thể nghi ngờ điều đó vì vị thủ lĩnh tối cao đã đứng ra bảo đảm rồi. Là đứa trẻ tưởng tượng, tôi trở thành một hiệp sĩ thực sự mà các chiến công sẽ là những cuốn sách thực sự. Tôi được mọi người đòi hỏi! Người ta mong đợi tác phẩm của tôi mà tập một sẽ không xuất hiện trước năm 1935, dù tôi tràn đầy nhiệt huyết. Vào quãng năm 1930 mọi người bắt đầu sốt ruột, họ nói với nhau: "Cái anh chàng này thong dong nhỉ! Thế là đã hai mươi nhăm năm chúng ta nuôi anh ta để chẳng làm gì hết! Chúng ta sẽ ngoẻo mà không được đọc anh ta à?" Tôi trả lời họ, bằng giọng của mình từ năm 1913: "Này, hãy để cho tôi có thời gian làm việc chứ!" Nhưng là nói một cách ân cần: tôi thấy rõ là họ cần tôi cứu giúp - chỉ Chúa trời mới biết vì sao - và nhu cầu ấy đã làm nảy sinh ra tôi, chính tôi, phương tiện duy nhất thỏa mãn được nó. Trong thâm tâm, tôi cố bắt gặp sự chờ đợi toàn cầu đó, nguồn sống của tôi và lý do tồn tại của tôi; đôi khi tôi tưởng mình sắp thành công đến nơi nhưng rồi, sau một lát, tôi lại buông xuôi tất cả. Có sao đâu: những ánh chóp lóe giả tạo ấy đã đủ đối với tôi. Yên tâm, tôi nhìn ra bên ngoài: có khi người ta đã cần đến tôi ở một số nơi rồi cũng nên. Nhưng không: hãy còn sớm quá. Là đối tượng tuyệt vời của một ước muốn còn chưa được biết đến, tôi vui vẻ chấp nhận ẩn danh một thời gian. Đôi khi bà tôi dẫn tôi đến phòng đọc sách của bà và tôi thích thú nhìn thấy các quý bà dáng người dong dỏng với vẻ trầm tư, không hài lòng, cứ len lỏi từ bức tường này sang bức tường khác để tìm kiếm tác giả sẽ thỏa mãn được họ: không thể tìm được bởi đó là tôi, cái chú nhóc đang luẩn quẩn bên váy họ mà họ thậm chí chẳng nhìn đến nữa.
Tôi cười tinh nghịch, tôi khóc vì cảm động: tôi đã trải qua quãng đời ngắn ngủi của mình trong việc tạo ra cho bản thân những sở thích, những quyết định dứt khoát mà rồi chúng lại tan biến ngay lập tức. Vậy mà giờ đây người ta đã dò sâu trong tôi và mũi dò đã tìm ra được phần bất biến; tôi là nhà văn cũng như ông Charles Schweitzer là ông ngoại vậy: sinh ra như thế và mãi mãi là như thế. Tuy nhiên có lúc một nỗi lo ngại đã lấp ló hiện ra phía sau sự phấn khởi: thứ tài năng mà tôi nghĩ là đã được ông Karl bảo đảm, tôi không chấp nhận coi đó là một điều ngẫu nhiên và tôi dàn xếp để biến nó thành một sứ mệnh, nhưng, vì thiếu những lời cổ vũ và một sự thỉnh cầu thực sự, tôi không thể quên là chính tôi đã trao cho mình sứ mệnh này. Nảy sinh từ một thế giới cổ xưa, vào lúc tôi thoát ra khỏi Tự Nhiên để cuối cùng cũng trở thành chính mình, thành cái Kẻ Khác ấy mà tôi tự coi là mình trong mắt những người khác, tôi nhìn thẳng vào Số Phận của mình và tôi nhận ra nó: đó chỉ là tự do của tôi, được tôi cẩn thận dựng lên như một thứ quyền lực xa lạ. Tóm lại, tôi không sao lừa được mình hoàn toàn. Cũng không thể hoàn toàn làm cho mình tỉnh ngộ. Tôi dao động. Sự do dự của tôi đã khơi lại một vấn đề cũ: làm sao kết hợp được những niềm tin chắc chắn của Michel Strogoff với tính hào hiệp của Pardaillan? Là hiệp sĩ, tôi chưa bao giờ nhận sắc chỉ vua ban; có nên chấp nhận làm tác giả theo mệnh lệnh? Nỗi bối rối không bao giờ kéo dài quá lâu; tôi chịu sự chi phối của hai tín điều đối lập nhau mà tôi thích ứng rất tốt với những mâu thuẫn của chúng. Thậm chí, điều đó còn tiện cho tôi, khi vừa là món quà trời cho vừa tự mình làm nên tất cả. Những ngày có tâm trạng vui vẻ, mọi thứ đều do tôi, tôi được tạo ra từ hư vô bởi chính sức mình để đem đến cho mọi người những thứ mà họ muốn đọc: là đứa trẻ phục tùng, tôi sẽ tuân lệnh cho đến chết nhưng là tuân lệnh tôi. Vào những giờ u ám, khi tôi cảm thấy tình trạng rảnh rỗi của mình vô vị đến phát ngấy, tôi chỉ có thể nguôi đi bằng cách đổ riệt cho định mệnh: tôi triệu loài người đến và quy cho họ trách nhiệm về cuộc đời tôi; tôi chỉ là sản phẩm của một đòi hỏi tập thể. Phần lớn thời gian, tôi giữ sự bình yên trong lòng bằng cách chú ý để không bao giờ loại bỏ cả tự do, là thứ gây phấn chấn, lẫn sự cần thiết, là điều dùng để biện minh.
Pardaillan và Strogoff có thể hòa hợp tốt với nhau: mối nguy hiểm là ở chỗ khác và tôi đã được chứng kiến một cuộc đụng đầu khó chịu mà sau đó đã buộc tôi phải cẩn trọng. Kẻ chịu trách nhiệm lớn là Zévaco, người mà tôi vốn chẳng ngờ vực; ông muốn cản trở tôi hay cảnh báo cho tôi? Sự thể là một ngày đẹp trời, ở Madrid, tại một posada90, trong khi tôi chỉ bị cuốn hút vào Pardaillan, anh chàng tội nghiệp, lúc đó đang vừa nghỉ ngơi vừa uống một ly rượu rất xứng đáng, thì ông tác giả kia lại khiến tôi phải chú ý tới một thực khách chẳng phải là ai khác ngoài Cervantès91. Hai người đàn ông làm quen với nhau, bày tỏ sự quý trọng lẫn nhau và sẽ thử thực hiện cùng nhau một phi vụ đáng nể. Tệ hơn nữa, Cervantès, hết sức vui sướng, đã thổ lộ với người bạn mới của mình rằng ông muốn viết một cuốn sách: cho đến lúc đó, nhân vật chính của cuốn sách này hãy còn mờ nhạt nhưng, nhờ ơn Chúa, Pardaillan đã xuất hiện, sẽ làm nguyên mẫu cho ông. Sự phẫn nộ xâm chiếm người tôi, suýt nữa thì tôi vứt cuốn sách đi: thật là thiếu tế nhị! Tôi là nhà văn-hiệp sĩ, người ta cắt tôi ra làm đôi, mỗi một nửa trở thành một con người trọn vẹn, gặp nửa kia và gây nghi vấn về nửa kia. Pardaillan chẳng phải là ngu ngốc nhưng chắc không viết được Don Quichotte; Cervantès chiến đấu tốt nhưng chẳng nên trông đợi một mình ông có thể khiến cho hai mươi tên kỵ binh hung dữ phải tháo chạy. Bản thân tình bạn của họ đã làm nổi rõ các giới hạn của họ. Người đầu tiên nghĩ: "Anh ta hơi ốm yếu, cái gã thông thái rởm ấy, nhưng anh ta không thiếu dũng cảm." Còn người thứ hai thì nghĩ: "Dĩ nhiên! Đối với một kẻ võ biền, anh chàng này tư duy không đến nỗi tệ quá." Thêm nữa tôi hoàn toàn không thích việc người hùng của tôi được dùng làm nguyên mẫu cho hiệp sĩ Mặt Buồn92. Hồi còn chơi trò "đóng phim" tôi đã được tặng một cuốn Don Quichotte ở dạng biên soạn lại, tôi chẳng đọc được quá năm chục trang: người ta công khai chế giễu những kỳ tích của tôi! Còn bây giờ thì lại chính là Zévaco... Biết tin vào ai đây? Thực sự, tôi giống như loại đàn bà phóng túng, như thứ gái trại lính: trái tim tôi, trái tim hèn nhát của tôi, ưa thích gã phiêu lưu hơn người trí thức; tôi xấu hổ nếu chỉ là Cervantès mà thôi. Để ngăn mình phản bội, tôi để cho nỗi khiếp sợ thống trị trong đầu óc và trong từ ngữ của mình, tôi xua đuổi từ anh hùng và những từ tương tự, tôi gạt bỏ các hiệp sĩ lang thang, tôi không ngớt tự nói với mình về các nhà văn, về những mối nguy hiểm đe dọa họ, về ngòi bút sắc nhọn của họ đâm xuyên bọn ác, tôi tiếp tục đọc Pardaillan và Fausta, Những người khốn khổ, Truyền thuyết các thế kỷ, tôi khóc cho Jean Valjean93, cho Éviradnus94 nhưng, khép sách lại, tôi xóa tên họ ra khỏi trí nhớ và tôi điểm danh đội quân thực sự của mình. Silvio Pellico95: bị tù chung thân. André Chémier96: bị chặt đầu. Étienne Dolet97: bị thiêu sống. Byron98: chết cho nước Hy Lạp. Với một say mê lạnh lùng tôi ra sức làm thay hình đổi dạng thiên chức của mình bằng cách trút vào đó những giấc mơ cũ của tôi, không có gì khiến tôi lùi bước: tôi bẻ cong các ý niệm, tôi xuyên tạc nghĩa của các từ, tôi lẩn tránh mọi người vì sợ những cuộc gặp gỡ khó chịu và những sự so sánh. Sau lúc để hồn mình thoát xác phiêu du là tới cuộc huy động tổng thể và thường trực: tôi trở thành một nền độc tài quân sự.
Sự bất ổn vẫn tồn tại dưới một hình thức khác: tôi trau dồi tài năng của mình, còn gì tốt hơn thế nữa. Nhưng thứ đó sẽ dùng vào việc gì? Mọi người cần đến tôi: để làm gì chứ? Tôi khổ sở tự hỏi về vai trò và mục đích của mình. Tôi hỏi: "Rốt cuộc, đó là cái gì vậy?" và, trong chốc lát, tôi tưởng đã mất tất cả. Chẳng là cái gì hết. Không phải cứ muốn làm anh hùng là được; cả lòng dũng cảm lẫn tài năng đều không đủ, cần phải có những con rắn bảy đầu và những con rồng. Tôi không thấy những thứ đó ở đâu cả. Voltaire và Rousseau99 đã đấu trí kịch liệt vào thời của họ: đó là bởi hãy còn những tên bạo chúa. Hugo, từ đảo Guernesey, đã giáng đòn sấm sét vào Badinguet, kẻ mà ông tôi đã dạy tôi cám ghét. Nhưng tôi không thấy có công trạng gì trong việc hô vang lòng căm thù của mình bởi gã hoàng đế này đã chết từ bốn mươi năm trước, về lịch sử đương đại, ông Charles im bặt: con người thuộc phe ủng hộ Dreyfus100 ấy lại không bao giờ nói với tôi về vụ Dreyfus. Thật đáng tiếc! Lẽ ra tôi đã có thể đóng vai trò của Zola101 một cách thật hãng say: bị la ó khi ra khỏi tòa án, tôi quay người lại trên bậc lên xuống của xe ngựa, tôi hạ gục những kẻ kích động nhất - không, không: tôi tìm được một từ kinh khủng khiến họ phải lùi bước. Và dĩ nhiên, tôi đây thì tôi chẳng chịu lánh sang Anh; không được đời hiểu đúng, bơ vơ, thật tuyệt vời khi được trở lại thành Grisélidis, được lang thang khắp phố phường Paris mà chẳng phút nào ngờ rằng Panthéon102 đang chờ đợi mình.
Hằng ngày bà tôi nhận được báo Buổi sáng và, nếu tôi không nhầm, báo Excelsior103: tôi được biết về sự tồn tại của giới đạo tặc mà tôi, cũng như mọi người lương thiện, ghê tởm. Nhưng những con hổ mang mặt người này không phải là đối tượng của tôi: ông Lépine104 can trường đủ để trị bọn chúng. Đôi khi giới công nhân tức giận, ngay lập tức các nguồn vốn tiêu tan nhưng tôi chẳng hiểu gì hết về chuyện này và tôi còn chưa biết ông ngoại nghĩ gì về điều đó. Ông thực hiện đều đặn nghĩa vụ cử tri, từ phòng viết phiếu kín ông bước ra với vẻ mặt như trẻ lại, hơi tự đắc, và khi đám phụ nữ trong nhà trêu chọc ông: "Nào, ông nói xem ông bầu cho ai đi!" ông trả lời cụt ngủn: "Đây là việc của đàn ông!" Thế nhưng, khi người ta bầu tổng thống mới, ông lại bắt chúng tôi nghe, trong một lúc buông thả, rằng ông không tán thành việc Pams105 ra ứng cử: "Đó là một gã buôn thuốc lá!" ông bực bội thốt lên. Vị trí thức tiểu tư sản ấy muốn rằng người công chức số một của nước Pháp phải là một người cùng loại với ông, một trí thức tiểu tư sản, Poincaré106. Giờ đây mẹ tôi lại cam đoan với tôi rằng ông thường bầu cho đảng cấp tiến và mẹ đã từng biết rất rõ điều đó. Chuyện này chẳng làm tôi ngạc nhiên: ông đã từng chọn đảng của các công chức; và rồi phe cấp tiến vẫn trụ lại được: ông Charles thỏa mãn khi vừa bầu cho một đảng ổn định vừa bỏ phiếu cho một đảng đang biến chuyển. Tóm lại nền chính trị Pháp, nếu tin theo ông, hoàn toàn không tệ chút nào.
Điều đó khiến tôi ngao ngán: tôi đã tự vũ trang để bảo vệ nhân loại trước những nguy hiểm khủng khiếp và tất cả mọi người lại cam đoan với tôi rằng nhân loại đang từ từ tiến tới sự hoàn thiện. Ông ngoại đã nuôi dạy tôi trong sự kính trọng nền dân chủ tư sản: vì nó, tôi sẵn lòng vung ngòi bút của mình lên; nhưng dưới thời tổng thống Fallières107 nông dân cũng được bỏ phiếu: còn đòi hỏi gì hơn nữa? Và một người theo lý tưởng cộng hòa thì làm gì nếu anh ta đang được hưởng hạnh phúc sống trong chế độ cộng hòa? Anh ta ăn không ngồi rồi hoặc đi dạy tiếng Hy Lạp và miêu tả những công trình kiến trúc ở Aurillac vào những lúc rảnh rỗi. Tôi lại trở về điểm xuất phát của mình và tôi tưởng như bị nghẹt thở thêm lần nữa trong cái thế giới không có xung đột khiến nhà văn phải thất nghiệp này.
Vẫn chính là ông Charles đã kéo tôi ra khỏi khó khăn. Đương nhiên, việc ấy diễn ra mà ông không hề hay biết. Hai năm trước, để hướng tôi tới sự hiểu biết về chủ nghĩa nhân văn, ông đã trình bày cho tôi những tư tưởng mà sau đó ông không nhắc lại thêm một lời nào nữa, vì sợ khuyến khích sự điên rồ của tôi, nhưng chúng đã hằn sâu trong tâm trí tôi. Chúng lặng lẽ lấy lại tính chất mãnh liệt, và để giữ được phần cốt lõi, chúng biến dần nhà văn-hiệp sĩ thành nhà văn-tuẫn nạn. Tôi đã kể về việc vị mục sư hụt ấy, trung thành với ý muốn của cha mình, đã giữ gìn cái Thần Diệu để chuyển nó vào Văn Hóa ra sao. Từ sự hòa trộn này đã sinh ra Chúa Thánh Linh, biểu trưng của Bản Thể vô hạn, vị thánh bảo hộ của văn học và nghệ thuật, của các từ ngữ hoặc sinh ngữ và của Phương pháp Trực tiếp, con bồ câu trắng108 vẫn đem lại hạnh phúc cho gia đình Schweitzer bởi sự xuất hiện của nó, vào những ngày Chủ nhật, nó bay lượn phía trên những chiếc đàn ống, những dàn nhạc, vào những ngày làm việc, nó đậu trên đầu ông tôi. Những câu nói trước đây của ông Karl, tập hợp lại, đã tạo thành một phát ngôn trong đầu tôi: thế giới là nạn nhân của Cái Ác; chỉ có một cách giải thoát: chết cho chính mình, cho trái đất, từ dưới đáy của sự sụp đổ chiêm nghiêm về những Lý Tưởng bất khả thi. Bởi người ta không thể đạt được điều đó mà không có một sự rèn luyện đầy khó khăn và nguy hiểm, công việc này đã được phó thác cho giới chuyên môn. Các trí giả nhận trách nhiệm về loài người và cứu vớt họ bằng sự chuyển hồi công trạng109: những kẻ ác thú nơi trần thế, cả lớn lẫn nhỏ, cứ việc thoải mái giết chóc lẫn nhau hoặc sống u mê với một cuộc đời không biết đến chân lý, bởi đã có các nhà văn và các nghệ sĩ suy ngẫm thay cho họ về Cái Đẹp, về Cái Thiện. Để kéo toàn bộ loài người ra khỏi thú tính chỉ cần hai điều kiện: phải cất giữ các di vật - tranh, tượng, sách - của các bậc trí giả đã chết ở những chỗ được canh gác; phải còn lại ít nhất là một bậc trí giả đang sống để tiếp tục công việc và tạo ra những di vật tương lai.
Những điều nhảm nhí tệ hại: tôi đã nuốt trọn chúng mà chẳng hiểu cho lắm, tôi vẫn còn tin chúng khi đã hai mươi tuổi. Vì những điều ấy mà suốt một thời gian dài tôi đã coi tác phẩm nghệ thuật là một sự kiện siêu hình mà sự ra đời của nó khiến cả vũ trụ phải quan tâm. Tôi khai quật thứ tôn giáo tàn bạo ấy lên và biến nó thành của mình để tô điểm cho cái thiên chức tẻ nhạt của tôi: tôi vơ vào thân những oán thù và cay đắng chẳng hề thuộc về mình, cũng chẳng thuộc về ông tôi, những nỗi tức giận xưa cũ của Flaubert, của anh em Goncourt110, của Gautier111 đã đầu độc tôi; sự căm ghét trừu tuợng của họ đối với con người, được nhập vào tôi dưói cái lốt tình yêu, đã tiêm nhiễm cho tôi những tham vọng mói. Tôi trở thành người giáo phái Cathare112, tôi lẫn lộn văn học với sự cầu nguyện, tôi biến nó thành một nghi lễ hiến tế mạng người. Những người anh em của tôi chỉ yêu cầu tôi có mỗi một việc, tôi kết luận, là đem ngòi bút của mình ra cứu chuộc họ: họ phải chịu đựng một sự thiếu hụt bản thể mà nếu không có sự trợ giúp của Thánh Thần có thể liên tục đưa họ đến chỗ bị hủy hoại; nếu sáng sáng tôi mở mắt ra, nếu khi lướt nhìn qua cửa sổ, tôi thấy các Quý Ông và các Quý Bà hãy còn sống đi ngang qua trên đường phố, đó là bởi từ tinh mơ đến hoàng hôn một người lao động tại gia đã gắng sức viết nên một trang bất tử để đem lại cho chúng ta một ngày hưởng án treo ấy. Anh ta sẽ lại làm việc khi màn đêm buông xuống, tối nay, ngày mai, cho đến khi chết vì kiệt sức; tôi sẽ tiếp tục sự nghiệp: tôi cũng vậy, tôi sẽ giữ lại giống nòi đang bên bờ vực thẳm bằng vật hiến tế thần bí của mình, bằng tác phẩm của mình; người chiến binh lặng lẽ nhường chỗ cho vị giáo sĩ: như Parsifal113 bi thương, tôi tự hiến mình làm vật hiến sinh chuộc tội. Từ ngày tôi khám phá ra Chantecler114, một nút thắt đã hình thành trong tim tôi: một nút cuộn của loài rắn độc mà phải mất ba mươi năm mới tháo gỡ nổi: thân xác tả tơi, máu me đầm đìa, bị án đòn dữ dội, con gà trống ấy vẫn tìm được cách để bảo vệ cả một đàn gia cầm, chỉ cần tiếng gáy của nó là đủ để làm cho một con chim ưng phải tháo chạy và cả đám đông hèn hạ bèn tâng bốc con gà trống sau khi đã chế nhạo nó; con chim ưng biến mất, nhà thơ trở lại trận đấu, được Cái Đẹp truyền cảm hứng và làm tăng thêm sức lực, nhà thơ xông tới và quật ngã đối thủ. Tôi khóc: Grisélidis, Corneille, Pardaillan, tôi tìm được tất cả những người ấy trong cùng một nhân vật: Chantecler sẽ là tôi. Tất cả hiện ra trước tôi thật đơn giản: viết văn, đó là tăng thêm một viên ngọc vào chuỗi vòng hạt của các Nàng Thơ, là để lại cho hậu thế ký ức về một cuộc đời mẫu mực, là bảo vệ dân chúng trước chính họ và trước kẻ thù, là xin được phúc lành trời ban cho con người bằng một Lễ Thánh long trọng. Tôi không nghĩ đến chuyện rằng người ta có thể viết để được người khác đọc.
Người ta viết cho hàng xóm của mình hoặc là cho Thượng đế. Tôi quyết định viết cho Thượng đế để cứu những người hàng xóm của mình. Tôi muốn có những người chịu ơn chứ không phải là có các độc giả. Thái độ coi thường làm hỏng lòng hào hiệp của tôi. Ngay từ thời tôi bảo vệ các bé gái mồ côi, tôi đã bắt đầu bằng việc rũ bỏ lũ nhóc ấy khi bảo chúng đi trốn. Làm nhà văn, cách thức của tôi không thay đổi: trước khi cứu vớt nhân loại, tôi bắt đầu bằng việc bịt mắt mọi người; chỉ đến lúc xong việc ấy tôi mới quay lại chiến đấu với những tên lính nhỏ bé màu đen và nhanh nhẹn, các từ ngữ; khi bé gái mồ côi mới của tôi dám tháo băng bịt mắt ra, tôi đã ở xa; được cứu thoát bởi một kỳ tích lẻ loi, thoạt nhiên cô bé sẽ không nhận thấy một cuốn sách nhỏ mới toanh mang tên tôi rạng ngời trên một giá sách của thư viện quốc gia.
Tôi xin biện hộ bằng các tình tiết giảm nhẹ. Có ba tình tiết như vậy. Trước hết, qua một sự huyễn tưởng rõ ràng, chính quyền sống của tôi đã bị tôi đặt nghi vấn. Ở cái nhân loại không có giấy thông hành cứ trông chờ vào ý muốn tối thượng của Nghệ Sĩ ấy, có thể nhận ra đứa trẻ thừa mứa hạnh phúc đang buồn chán trên chòi cao của mình, tôi chấp nhận cái huyền thoại chán ngấy về vị Thánh cứu vớt dân đen, bởi vì rốt cuộc dân đen chính là tôi: tôi tuyên bố mình là vị cứu tinh đẳng cấp đối với quần chúng là để giải cứu bản thân mình một cách thầm lặng và, theo cách nói của những người dòng Tên, chỉ là việc phụ thêm.
Vả lại lúc đó tôi mới có chín tuổi. Là đứa con duy nhất và không có bạn bè, tôi không tưởng tượng nổi là tình trạng cô độc của mình có thể chấm dứt. Phải thú nhận rằng tôi là một tác giả chẳng mấy được biết đến. Tôi đã bắt đầu viết văn trở lại. Những tiểu thuyết mới của tôi, vì không nghĩ ra được gì hơn, giống những truyện cũ từng li từng tí, nhưng chẳng ai nhận ra điều đó. Ngay cả tôi, vốn ghét đọc lại những thứ mình đã viết, cũng chẳng nhận ra: ngòi bút của tôi lướt nhanh đến nỗi tôi thường bị đau cổ tay; tôi quẳng xuống sàn nhà những quyển vở đã viết kín, rốt cuộc tôi quên chúng, chúng biến mất; bởi lý do này mà tôi không hoàn thành cái gì hết: kể đoạn kết của một câu chuyện để làm gì khi phần mở đầu đã bị mất. Thêm nữa, nếu như ông Karl hạ cố liếc qua những trang viết ấy, trong mắt tôi ông cũng chẳng phải là độc giả mà là quan tòa tối cao và hẳn là tôi sợ bị ông kết án. Viết văn, công việc làm chui của tôi, chẳng đi đến đâu hết, thành thử, nó biến thành mục đích tự thân: tôi viết chỉ để mà viết. Tôi không hối tiếc điều đó: nếu như trước đây truyện của tôi được đọc, tôi đã cố làm hài lòng mọi người, tôi đã lại trở thành tuyệt vòi. Là kẻ viết chui, tôi chân thật.
Cuối cùng, chủ nghĩa duy tâm của bậc trí giả lại dựa trên chủ nghĩa hiện thực của đứa trẻ con. Tôi đã nói điều đó ở trên: do đã khám phá thế giới thông qua ngôn ngữ, suốt một thời gian dài tôi cứ tưởng ngôn ngữ là thế giới. Tồn tại, đó là có một cái tên được kiểm soát ở đâu đó trên những Biểu Bảng bất tận của Lời Nói; viết là khắc vào đó những thực thể mới hoặc là - đây là ảo tưởng dai dẳng nhất của tôi - bắt những thứ sống động bằng chiếc bẫy của câu chữ: nếu tôi phối hợp các từ một cách khéo léo, đối tượng sẽ bị mắc vào giữa các ký hiệu, tôi túm được nó. Tôi đã bắt đầu, ở vườn Luxembourg, bằng việc mê mải vào một phiên bản nhái xuất sắc của cây tiêu huyền: tôi không quan sát cái cây đó, hoàn toàn trái lại, tôi tin tưởng để đầu óc trống không, tôi chờ đợi; sau một lát, những cành lá thực sự của nó đã xuất hiện dưới dạng một tính từ đơn giản hoặc đôi khi là cả một mệnh đề: tôi đã làm cho vũ trụ giàu thêm với một màu cây xanh rung rinh. Tôi chưa bao giờ đặt những thứ tôi tìm được lên trang giấy: chúng tích tụ lại trong trí nhớ của tôi, tôi nghĩ thế. Thực ra tôi quên chúng đi. Nhưng chúng đem lại cho tôi linh cảm về vai trò tương lai của mình: tôi sẽ ấn định các tên gọi. Từ nhiều thế kỷ, ở Aurillac, hàng đống những khối trắng tạp nham vô tích sự đòi được có những hình hài cố định, được có một ý nghĩa: tôi sẽ biến chúng thành những công trình thực sự. Như kẻ khủng bố115, tôi chỉ nhằm vào bản thể của chúng: tôi sẽ kiến tạo nó bằng ngôn ngữ; là nhà hùng biện, tôi chỉ yêu thích ngôn từ: tôi sẽ dựng lên những giáo đường bằng lới nói dưới con mắt biếc của chữ trời. Tôi sẽ xây dựng cho hàng thiên niên kỷ. Khi cầm một cuốn sách lên, dù tôi có mở ra gập lại đến hai chục lần cũng chẳng sao, tôi thấy rõ là nó không bị hỏng đi. Khi lướt trên cái thực thể bất biến này: văn bản, ánh mắt của tôi chỉ là một biến cố nhỏ xíu trên bề mặt, nó không làm hư hại gì hết, nó chẳng làm hao mòn gì. Tôi thì, trái lại, thụ động, nhất thời, tôi là con muỗi bị ánh đèn pha rọi vào lóa mắt; tôi rời phòng làm việc, tắt đèn: vô hình trong đêm đen, cuốn sách vẫn rực chói; cho riêng nó. Tôi sẽ cho các tác phẩm của mình sự dữ dội của những tia sáng gay gắt ấy, và về sau, trong những thư viện đổ nát, chúng sẽ tiếp tục sống sót sau con người.
Tôi thích thú với việc ẩn mình trong bóng tối, tôi muốn kéo dài điều đó, muốn được vẻ vang vì nó. Tôi ghen tị với những tù nhân nổi tiếng đã viết trong ngục tối trên giấy thô. Họ vẫn có nghĩa vụ cứu chuộc những người đương thời của mình nhưng không còn phải giao du với đám ấy nữa. Dĩ nhiên, sự tiến bộ của thời thế đã làm giảm đi ở tôi cơ hội khai thác tài năng của mình trong cảnh giam cầm, nhưng tôi không tuyệt vọng hoàn toàn về chuyện đó: sửng sốt trước sự khiêm tốn trong những tham vọng của tôi, Thượng đế hẳn sẽ muốn biến chúng thành hiện thực. Trong lúc chờ đợi tôi tự giam mình trước.
Bị ông ngoại tôi phỉnh phờ, mẹ tôi không bỏ lỡ một dịp nào để vẽ lên những niềm vui tương lai của tôi: nhằm lôi cuốn tôi mẹ bèn đặt vào đời tôi tất cả những thứ mà đời mẹ thiếu: sự thanh thản, rảnh rang, hài hòa; khi tôi là một giáo sư trẻ còn độc thân, một bà già đẹp lão sẽ cho tôi thuê một căn phòng tiện nghi có mùi oải huơng và mùi khăn vải thơm mát, tôi đi nhoáng một cái là đến trường trung học, tôi trở về nhà cũng nhanh nhẹn như thế; buổi tối tôi nán lại trước cửa phòng mình để chuyện vãn với bà chủ nhà yêu quý tôi hết mực; thêm nữa, tất cả mọi người đều yêu quý tôi, bởi tôi sẽ lịch sự và rất có giáo dục. Tôi chỉ nghe thấy có một từ: căn phòng của con, tôi quên đi trường trung học, bà vợ góa của vị sĩ quan cấp tá, mùi hương tỉnh lẻ, tôi không còn thấy gì khác ngoài một quầng sáng trên bàn tôi: ở giữa một gian phòng chìm trong bóng tối, rèm cửa kéo kín, tôi cúi người trên một quyển vở bọc vải đen. Mẹ tôi tiếp tục kể, bỏ qua mười năm: một viên thanh tra giáo dục nâng đỡ tôi, giới thượng lưu ở Aurillac vui lòng đón tiếp tôi, cô vợ trẻ của tôi yêu tôi bằng tình yêu đằm thắm nhất, tôi cho nàng những đứa con xinh đẹp khỏe mạnh, hai trai và một gái, nàng được hưởng thừa kế, tôi mua một mảnh đất ven đô, chúng tôi thuê thợ xây nhà, và Chủ nhật nào cũng vậy, cả gia đình lại đi kiểm tra công trường xây dựng. Tôi chẳng nghe gì hết: trong mười năm ấy, tôi không rời chiếc bàn của mình: người nhỏ bé, để ria mép như cha tôi, cúi xuống một chồng từ điển, bộ ria mép của tôi bạc đi, bàn tay tôi vẫn lướt nhanh, những cuốn vở rơi xuống sàn gỗ hết quyển này đến quyển khác. Nhân loại đang ngủ, lúc đó là ban đêm, vợ tôi và các con tôi đang ngủ trừ phi là họ đã chết, bà chủ nhà của tôi đang ngủ; trong mọi hồi ức giấc ngủ đã chừa tôi ra. Thật cô đơn biết nhường nào: hai tỷ người nối nhau và tôi, phía trên họ, là người canh gác duy nhất.
Chúa Thánh Linh nhìn tôi. Đúng vào lúc ấy ngài vừa mới quyết định trở lại lên trời và bỏ mặc con người; tôi chỉ kịp có thời gian để trình diện, tôi cho ngài xem những vết thương của tâm hồn tôi, những giọt lệ ướt đẫm trang giấy của tôi, ngài nhìn qua vai tôi để đọc và cơn giận của ngài tan biến. Ngài nguôi giận bởi độ thẳm sâu của những nỗi đau hay bởi vẻ đẹp huy hoàng của tác phẩm? Tôi tự nhủ: bởi tác phẩm; tôi trộm nghĩ: bởi những nỗi đau. Tất nhiên Chúa Thánh Linh chỉ coi trọng những văn bản thực sự nghệ thuật nhưng tôi đã đọc Musset, tôi biết rằng "những bài ca tuyệt vọng nhất là những bài ca đẹp nhất" và tôi đã quyết định bắt lấy Cái Đẹp bằng một nỗi tuyệt vọng gài trong bẫy. Cái từ thiên tài luôn luôn khiến tôi thấy có vẻ đáng ngờ: tôi đã đi đến chỗ hoàn toàn chán ghét nó. Lo sợ ở đâu, thử thách ở đâu, cám dỗ bị đẩy lùi ở đầu, rốt cuộc, công lao ở đâu, nếu như tôi đã có thiên khiếu? Tôi đã khó chịu với việc có một tấm thân và ngày nào cũng như ngày nào vẫn có một cái đầu ấy, tôi sẽ chẳng để cho mình bị nhốt lại trong một công cụ. Tôi chấp nhận được chỉ định với điều kiện việc này không dựa trên cơ sở gì hết, rằng nó lóe lên, vô nguyên cớ, trong hư không tuyệt đối. Tôi thì thầm trao đổi với Chúa Thánh Linh: "Con sẽ viết văn", ngài bảo tôi. Còn tôi thì vặn vẹo đổi bàn tay: "Con có gì vậy, thưa Đức Chúa, để cho ngài chọn con? - Chẳng có gì đặc biệt. - Vậy thì, tại sao lại là con? - Không có lý do. - ít nhất thì con cũng có chút tài viết lách chứ? - Chẳng có tài gì. Con tưởng là những tác phẩm lớn sinh ra từ những ngòi bút tài ba chăng? - Thưa Đức Chúa, một khi con kém cỏi như vậy, làm sao con có thể viết nổi một quyển sách? - Bằng cách làm việc chăm chỉ. - Vậy bất cứ ai cũng có thể viết văn được ạ? - Bất cứ ai cũng làm được, nhưng con là người mà ta chọn." Trò gian lận này thật tiện lợi: nó cho phép tôi tuyên bố mình chẳng tài cán gì đồng thời lại tôn vinh trong tôi một tác giả của những kiệt tác tương lai. Tôi được ân sủng, được đánh dấu trước, nhưng chẳng có tài năng: tất cả có được là do sự kiên nhẫn lâu dài và những nỗi bất hạnh của tôi; tôi chối bỏ mọi sự đặc biệt ở mình: những nét cá tính làm cho con người ta bị gò bó; tôi không trung thành với bất cứ gì hết ngoài với sự cam kết long trọng là thứ đưa tôi đến vinh quang qua những đớn đau. Những nỗi đau đớn ấy, còn phải tìm cho ra; đó là vấn đề duy nhất nhưng xem chừng nan giải bởi người ta đã tước đi mất của tôi hy vọng sống bần hàn: vô danh hay nổi tiếng, tôi cũng sẽ ăn lương của ngành giáo dục, tôi sẽ chẳng bao giờ đói cả. Tôi dự định sẽ có những nỗi đau buồn khủng khiếp vì tình nhưng chẳng hào hứng mấy: tôi ghét những kẻ si tình đến mê muội; Cyrano116 làm cho tôi phẫn nộ, cái gã Pardaillan rởm ấy cứ ngớ nga ngớ ngẩn trước mặt phụ nữ: Pardaillan thực sự thì cuốn hút mọi trái tim mà thậm chí chẳng buồn chú ý đến điều đó; công bằng mà nói thì cái chết của Violetta, người tình của Pardaillan, đã làm đau buốt trái tim chàng mãi mãi. Một cuộc sống góa bụa, một vết thương không thể lành: vì đâu, vì một bóng hồng117 nhưng tuyệt nhiên không phải do lỗi của nàng; điều đó cho phép tôi gạt đi những trò tán tỉnh của tất cả các cô nàng khác. Cần đào sâu thêm chuyện này. Nhưng, dù thế nào chăng nữa, cứ cho rằng cô vợ trẻ người Aurillac của tôi chết trong một tai nạn đi, nỗi bất hạnh ấy vẫn không đủ để người ta chọn tôi: nó vừa ngẫu nhiên vừa quá thông thường. Sự cuồng nhiệt của tôi đã đi đến tận cùng: bị chế nhạo, bị đánh đập, một số tác giả đã sống mòn mỏi trong ô nhục và bóng đêm cho đến tận hơi thở cuối cùng, vinh quang chỉ phủ lên xác chết của họ: đấy tôi sẽ là như vậy đó. Tôi sẽ viết về Aurillac và những bức tượng của nó, một cách tận tâm. Không có khả năng hận thù, tôi sẽ chỉ nhằm tới việc hòa giải, phụng sự. Thế nhưng, vừa mới xuất hiện, cuốn sách đầu tiên của tôi sẽ gây chuyện ầm ĩ, tôi sẽ trở thành kẻ thù của xã hội: báo chí vùng Auvergne lăng mạ tôi, các thương nhân từ chối bán hàng cho tôi, những kẻ quá khích ném đá vào cửa kính nhà tôi; để tránh bị đám đông hành hình, tôi phải bỏ trốn. Thoạt đầu choáng váng, tôi sẽ trải qua nhiều tháng trong tình trạng ngớ ngẩn, cứ nói đi nói lại không ngừng: "Đó chỉ là hiểu lầm thôi! Vì tất cả mọi người đều tốt mà!" Và quả thực đó chỉ là một sự hiểu lầm nhưng Chúa Thánh Linh lại không cho phép chuyện đó được giải tỏa. Tôi sẽ khỏi bệnh; một hôm, tôi ngồi vào bàn và viết một cuốn sách mới: về biển hoặc là về núi. Cuốn sách này không có ai nhận xuất bản. Bị truy đuổi, phải cải trang, có khi còn bị đi đày biệt xứ, tôi sẽ viết những cuốn sách khác, nhiều cuốn sách khác, tôi sẽ dịch Horace dưới dạng thơ, tôi sẽ trình bày những tư tưởng hiện đại và rất hợp lý về giáo dục học. Chẳng ích gì: những cuốn vở của tôi cứ chất đống trong một chiếc hòm, không được xuất bản.
Câu chuyện có hai cách kết thúc; tôi chọn cách này hay cách khác là tùy theo tâm trạng. Trong những ngày u ám, tôi thấy mình chết trên một chiếc giường sắt, bị tất cả mọi người thù ghét, tuyệt vọng, đúng vào lúc điệu kèn vinh quang chuẩn bị vang lên. Những lần khác tôi lại cho mình được hưởng đôi chút hạnh phúc. Vào lúc năm mươi tuổi, để thử một chiếc bút mới, tôi viết tên mình lên một bản thảo mà ít lâu sau sẽ bị thất lạc. Có người tìm thấy nó, trên một tầng gác áp mái, ở tình trạng tồi tệ, trong một chiếc tủ tường tại ngôi nhà tôi mới rời đi, người đó đọc bản thảo ấy, xúc động mang nó tới cho Arthème Fayard, nhà xuất bản nổi tiếng đã in sách của Michel Zevaco. Thế là thắng lợi rực rỡ: mười ngàn bản hết veo trong vòng hai ngày. Biết bao nhiêu là ân hận trong các trái tim. Một trăm phóng viên lao đi tìm tôi mà chẳng thấy. Ở ẩn, suốt một thời gian dài tôi không hay biết về việc dư luận đổi chiều như vậy. Sau cùng, một ngày, tôi bước vào một quán cà phê để trú mưa, tôi nhìn thấy một tờ báo vứt lăn lóc và tôi thấy điều gì? "Jean-Paul Sartre, nhà văn giấu mặt, người tụng ca Aurillac, nhà thơ của biển." Ở trang thứ ba, chiếm sáu cột báo, bằng chữ in hoa. Tôi mừng điên lên. Không: tôi u sầu một cách khoái trá. Dù sao đi nữa thì tôi cũng trở về nhà, tôi đóng nắp và chằng buộc lại chiếc hòm đựng bản thảo, với sự giúp đỡ của bà chủ nhà, và tôi gửi chiếc hòm ấy đến nhà xuất bản Fayard mà không ghi địa chỉ của mình. Đến chỗ này của câu chuyện, tôi ngừng lại để lao vào bày đặt những mưu kế tinh xảo: nếu tôi gửi chiếc hòm từ chính thành phố mà tôi sống, các nhà báo sẽ phát hiện ra ngay nơi tôi ở ẩn. Vậy nên tôi sẽ mang chiếc hòm lên Paris, tôi phái một nhân viên chở hàng thuê mang chiếc hòm đến đặt ở nhà xuất bản; trước khi lên tàu về, tôi trở lại những nơi chốn của tuổi thơ mình, phố Le Goff, phố Soufflot, vườn hoa Luxembourg. Quán bia Balzar lôi cuốn tôi; tôi nhớ là ông tôi - đã mất từ hồi ấy - từng đem tôi đến đó vài lần, vào năm 1913: ông cháu tôi đã ngồi cạnh nhau trên chiếc ghế băng, tất cả mọi người nhìn chúng tôi với vẻ thông đồng, ông gọi một cốc vại bia bock và, cho tôi, một ly bia nhỏ, tôi cảm thấy mình được yêu quý. Như vậy, ở tuổi ngũ tuần và đầy hoài niệm, tôi đẩy cửa quán bia và gọi cho mình một ly nhỏ. Ở bàn bên cạnh những phụ nữ trẻ và đẹp đang chuyện trò sôi nổi, họ nhắc đến tên tôi. "Ôi! một cô trong bọn nói, có thể ông ấy già, ông ấy xấu nhưng có quan trọng gì đâu: em có thể cho đi ba mươi năm của đời mình để trở thành vợ ông ấy!" Tôi gửi cho nàng một nụ cười kiêu hãnh và buồn bã, nàng đáp lại tôi bằng một nụ cười sửng sốt, tôi đứng dậy, tôi biến mất.
Tôi đã bỏ ra rất nhiều thời gian để gọt giũa tỉ mỉ đoạn này và hàng trăm đoạn khác mà tôi xin tránh cho bạn đọc. Người ta sẽ nhận ra ở đó, qua hình ảnh dự phóng vào một thế giới tương lai, chính là tuổi thơ của tôi, hoàn cảnh của tôi, những trò bịa đặt năm tôi lên sáu, những sự dỗi hờn ở các chàng hiệp sĩ không được đời nhìn nhận của tôi. Tôi vẫn còn hờn dỗi, khi đã chín tuổi, và tôi lấy làm vui thú tột độ với việc đó: vì hờn dỗi, tôi duy trì, như một kẻ tuẫn nạn kiên cường, sự hiểu lầm mà chính Chúa Thánh Linh hình như cũng đã ngán. Tại sao không nói tên mình ra cho có gái xinh đẹp hâm mộ tôi? À! tôi tự nhủ, nàng đến muộn quá rồi. - Nhưng dù thế nào thì nàng cũng chấp nhận tôi cơ mà? - Thì là bởi vì tôi quá nghèo. - Quá nghèo! Thế tiền nhuận bút thì sao? Lý lẽ bác bẻ này không ngăn được tôi: trước đó tôi đã viết thư bảo Fayard phân phát cho người nghèo số tiền thuộc về tôi. Tuy nhiên vẫn cần phải kết luận: thì đây! tôi tắt nghỉ trong căn phòng nhỏ của mình, bị đời bỏ rơi nhưng thanh thản: sứ mệnh đã hoàn thành.
Có một điều gây ấn tượng mạnh cho tôi trong câu chuyện được suy đi nghĩ lại đến ngàn lần ấy: từ ngày tôi thấy tên mình trên tờ báo, một động lực đã bị phá hủy, đối với tôi thế là hết; tôi buồn rầu hưởng thụ danh tiếng của mình nhưng tôi không viết nữa. Hai kết cục chỉ là một: dù là tôi chết đi để được sinh ra trong vinh quang, hay là vinh quang đến trước và giết chết tôi, sự ham viết đều là vỏ bọc bên ngoài của thái độ khước từ cuộc sống. Vào thời ấy có một giai thoại khiến tôi xáo động, tôi không biết đã đọc nó ở đâu: chuyện đó xảy ra ở thế kỷ trước; ở một trạm ga nhỏ thuộc vùng Siberi có một nhà văn đi đi lại lại trong lúc đợi tàu. Không một mái nhà ở phía chân trời, không một bóng người sống động. Nhà văn khó nhọc vác cái đầu to đùng ủ rũ của mình. Ông là người cận thị, độc thân, thô kệch, lúc nào cũng giận dữ; ông buồn chán, ông nghĩ về căn bệnh viêm tuyến tiền liệt của mình, về những món nợ của mình. Một nữ bá tước trẻ xuất hiện, trong cỗ xe ngựa, trên con đường dọc theo đường ray: nàng nhảy ra khỏi xe, chạy theo người du khách mà nàng chưa từng gặp nhưng khẳng định là nhận ra nhờ một bức ảnh chụp bằng kỹ thuật Daguerre mà nàng đã được cho xem, nàng cúi người, cầm lấy bàn tay phải của ông và hôn. Câu chuyện dừng lại ở đây và tôi không biết nó muốn nói điều gì. Ở tuổi lên chín tôi thấy thán phục việc ông tác giả cấm cảu ấy đã tìm được cho mình những nữ độc giả trên thảo nguyên và có một người phụ nữ đẹp đến thế tới nhắc cho ông ta nhớ lại vinh quang mà ông ta đã lãng quên: như thế là được sinh ra. Đi sâu hơn nữa, đó lại là chết đi: tôi cảm thấy điều ấy, tôi cũng muốn điều ấy; một gã thường dân khi còn sống thì không thể nhận được sự bày tỏ lòng ngưỡng mộ như vậy từ một phụ nữ quý tộc. Nữ bá tước dường như nói với ông ta: "Nếu như tôi có thể đến với ông và chạm vào ông, đó là bởi thậm chí chẳng cần thiết duy trì sự cao hơn về đẳng cấp nữa; tôi không lo ông sẽ nghĩ gì về cử chỉ của tôi, tôi không còn nhìn nhận ông như một con người mà như là biểu tượng cho tác phẩm của ông." Bị giết chết bởi một nụ hôn tay, ở cách Saint-Peterbourg hàng ngàn verste118, năm mươi lăm năm kể từ lúc sinh ra, một du khách đã bốc cháy, vinh quang của ông đã thiêu rụi ông, chỉ để lại từ ông, bằng những dòng chữ lửa, danh mục các tác phẩm của ông. Tôi nhìn thấy nữ bá tước trở lên cỗ xe của mình, biến mất và thảo nguyên lại rơi vào cô quạnh; khi hoàng hôn xuống con tàu lao qua không dừng ở trạm ga để gỡ lại lúc chạy muộn, tôi cảm thấy sâu trong lòng cơn rùng mình sợ hãi, tôi nhớ đến Gió trong lùm cây và tự nhủ: "Nữ bá tước, đó là cái chết." Một ngày, nàng sẽ đến, trên một con đường vắng ngắt, nàng sẽ hôn tay tôi.
Cái chết khiến tôi choáng ngợp bởi tôi không thích sống: đó chính là điều giải thích nỗi khiếp hãi mà nó gọi lên ở tôi. Khi đồng nhất cái chết với vinh quang, tôi đã biến nó thành đích tới của mình. Tôi đã muốn chết; đôi khi nỗi ghê sợ làm đóng băng sự nôn nóng của tôi: nhưng không bao giờ lâu cả; niềm vui thần thánh lại hồi sinh, tôi chờ đợi cái khoảnh khắc sét đánh mà tôi sẽ cháy rực tới tận xương. Những ý định sâu kín nhất của chúng ta là những dự kiến và những cuộc trốn chạy gắn với nhau không rời: lao vào viết một cách điên cuồng để được dung thứ về sự tồn tại của mình, tôi thấy rõ ràng việc đó có đôi phần thực tế, bất chấp những lời huênh hoang khóac lác và những trò giả dối; bằng chứng là năm mươi năm sau, tôi vẫn còn viết. Nhưng, nếu trở lên đến tận ngọn nguồn, tôi thấy ở đó có một cuộc đâm đầu bỏ chạy, một thứ tự sát theo kiểu Gribouille119; đúng vậy, còn hơn cả một bản anh hùng ca, còn hơn cả một sự hy sinh vì nghĩa lớn, chính cái chết mới là điều mà tôi tìm kiếm. Suốt một thời gian dài tôi đã từng lo sợ sẽ phải kết thúc như mình đã bắt đầu, ở bất cứ đâu, bằng bất cứ cách nào, và cái chết mập mờ của tôi chỉ là hình ảnh phản chiếu sự ra đời mập mờ của tôi. Thiên chức của tôi đã làm mọi thứ thay đổi: những nhát gươm biến đi, những dòng chữ còn ở lại, tôi phát hiện ra rằng Người Hiến Tặng, trong Văn Chương, có thể biến thành chính Vật Hiến Tặng của mình, tức là thành vật thể thuần túy. Sự ngẫu nhiên đã làm tôi thành con người, sự hào hiệp sẽ làm tôi thành cuốn sách, tôi có thể để những lời lẽ của mình, ý thức của mình, vào những khuôn chữ đồng, thay những ồn ào của đời mình bằng những ghi dấu không gì xóa được, thay da thịt mình bằng một phong cách, thay những vòng xoáy mong manh của thời gian bằng sự vĩnh cửu, xuất hiện trước Chúa Thánh Linh như một chất kết tủa từ ngôn ngữ, trở thành một điều ám ảnh đối với giống loài, rốt cuộc là thành một thứ khác, khác tôi, khác những người khác, khác tất cả. Tôi sẽ bắt đầu bằng việc cho mình một tấm thân không bị hao mòn và sau đó tôi sẽ trao mình cho những người sử dụng. Tôi sẽ không viết vì thú vui được viết mà để tạc tấm thân vinh quang ấy trong từ ngữ. Từ trên nấm mộ của mình mà xem xét, tôi thấy sự ra đời của tôi giống như một điều xấu cần thiết, như một sự hóa thân hoàn toàn tạm thời để chuẩn bị cho sự thay hình đổi dạng của tôi: để tái sinh thì phải viết, để viết thì phải có một bộ óc, phải có mắt, có tay; khi công việc kết thúc, những bộ phận này sẽ tự tiêu tan: vào quãng năm 1955, một con ấu trùng sẽ nở, hai mươi lăm con bướm dưới dạng khổ giấy gập đôi sẽ thoát ra, đập tất cả các trang của chúng để bay đến đậu trên một giá sách của thư viện quốc gia. Những con bướm ấy không phải là gì khác ngoài tôi. Tôi: hai mươi lăm tập sách, mười tám ngàn trang văn bản, ba trăm bức hình trong đó có chân dung tác giả. Xưong cốt của tôi làm bằng da và bìa các tông, lớp thịt giấy da của tôi có mùi hồ và nấm mốc, qua sáu chục cân giấy tôi ung dung hiện diện, thoải mái hoàn toàn. Tôi tái sinh, cuối cùng tôi trở thành một con người trọn vẹn, suy nghĩ, nói, hát, sang sảng, tự khẳng định với cái sức ì không thể chối cãi được của vật chất. Người ta cầm lấy tôi, mở tôi ra, bày tôi lên bàn, người ta dùng lòng bàn tay vuốt phẳng tôi và thỉnh thoảng làm rách tôi. Tôi cứ mặc kệ và rồi đột nhiên tôi lóe sáng, tôi ngời chói, tôi chi phối từ xa, quyền lực của tôi xuyên qua không gian và thời gian, đánh gục kẻ ác, bảo vệ người tốt. Không ai có thể quên tôi, cũng không thể lờ tôi đi được: tôi là một linh vật quan trọng tiện dùng và khủng khiếp. Tri giác của tôi tan tành nát vụn: càng tốt. Những tri giác khác đã nhận trách nhiệm về tôi. Người ta đọc tôi, tôi đập vào những con mắt; người ta nói bằng lời tôi, tôi ở trong mọi khuôn miệng, ngôn ngữ phổ quát và dị biệt; trong hàng triệu ánh mắt tôi trở thành điều lạ lùng cần phải khám phá; đối với người biết yêu quý tôi, tôi là mối bận tâm thầm kín nhất của họ nhưng, nếu họ muốn chạm vào tôi, tôi tránh đi và biến mất: tôi không hiện diện ở bất cứ nơi nào nữa, rốt cuộc, tôi tồn tại! tôi tồn tại khắp nơi: sống ký sinh trên nhân loại, những việc thiện của tôi sẽ day dứt mọi người và buộc họ không ngừng gợi lại sự vắng mặt của tôi.
Trò ảo thuật này đã thành công: tôi đã vùi cái chết trong tấm vải liệm của vinh quang, tôi đã không nghĩ đến gì khác nữa ngoài thứ này, chẳng bao giờ nghĩ đến thứ kia, mà không nhận thấy rằng hai thứ đó chỉ là một. Vào lúc mà tôi viết những dòng này, tôi biết là tôi đã hết thời khoảng vài năm. Vậy mà tôi lại hình dung một cách rõ ràng, chẳng vui vẻ gì cho lắm, cái tuổi già đang lấp ló và vẻ lụ khụ của mình trong tương lai, vẻ lụ khụ và cái chết của những người tôi yêu quý; còn về cái chết của mình, không bao giờ tôi nghĩ đến. Tôi đã từng nói ngụ ý với những người thân của mình - trong đó có một số người kém tôi mười lăm, hai mươi, ba mươi tuổi - rằng tôi sẽ buồn tiếc biết bao khi phải sống lâu hơn họ: họ chế nhạo tôi và tôi cười cùng với họ nhưng chẳng có gì thay đổi, sẽ chẳng có gì thay đổi hết: lúc chín tuổi, một thủ thuật đã tước đi mất của tôi khả năng cảm nhận một cảm xúc bi thương nào đó được coi là đặc thù cho thân phận của chúng ta. Mười năm sau, ở Ecole normale, cảm xúc bi thương ấy đã đánh thức một số bạn thân nhất của tôi bật dậy, trong hãi hùng hay giận dữ: tôi thì vẫn cứ ngáy vang như sấm. Sau một cơn bệnh nặng, một người bạn trong số đó đã cam đoan với chúng tôi rằng anh ấy đã trải nghiệm nỗi ghê rợn khi hấp hối, kể cả cho đến tận hơi thở cuối cùng; Nizan120 là người bị ám ảnh nhất: thỉnh thoảng, giữa lúc đang thức hẳn hoi, anh thấy mình là xác chết; anh đứng dậy, đôi mắt lúc nhúc giòi, mò mẫm cầm lấy chiếc mũ phớt tròn Borsalino của mình, rồi biến mất; người ta tìm thấy anh hai hôm sau, say bét nhè, bên những người không quen biết. Đôi khi, trong một căn phòng ký túc xá, những kẻ bị kết án ấy kể cho nhau nghe về những đêm trắng của họ, về những trải nghiệm trước thời hạn của họ đối với hư vô: họ hợp ý nhau ngay khi vừa nói nửa lời. Tôi nghe họ nói, tôi yêu mến họ đủ nhiều để hết lòng mong muốn được giống họ, nhưng tôi gắng sức vô ích, tôi không hiểu nổi và chỉ nhớ được những điều sáo mòn về chuyện tang ma: người ta sống, người ta chết, người ta không biết ai sống cũng chẳng biết ai chết; một giờ trước khi chết người ta vẫn còn sống. Tôi không nghi ngờ gì về việc trong những lời của họ có một ý nghĩa mà tôi không nắm được; tôi im bặt, ghen tị, lạc lõng. Cuối cùng, họ quay về phía tôi, chưa chi đã bực bội: “Còn cậu, cậu thờ ơ với chuyện đó à?" Tôi dang tay với vẻ bất lực và nhún nhường. Họ cười cáu kỉnh, choáng váng vì cái điều hiển nhiên ngời ngời mà họ không tài nào truyền cho tôi được: "Khi đi ngủ chẳng lẽ không bao giờ cậu tự nhủ rằng có những người chết trong giấc ngủ sao? Khi đánh răng, chẳng lẽ không bao giờ cậu nghĩ: lần này là xong, đây là ngày cuối cùng của mình? Chẳng lẽ không bao giờ cậu cảm thấy cần phải đi thật nhanh, nhanh, nhanh, và thấy không đủ thời gian? Cậu tưởng mình bất tử chắc?" Tôi trả lời, nửa như thách thức, nửa như bị lôi kéo: "Chính thế: tớ nghĩ mình bất tử." Chẳng có gì sai hơn thế: tôi đã được dự phòng để tránh những cái chết ngẫu nhiên, có thế thôi; Chúa Thánh Linh đã ra lệnh cho tôi làm một công việc lâu dài, ngài phải để cho tôi có thời gian thực hiện công việc đó chứ. Chết vì danh dự, chính cái chết của tôi bảo vệ tôi khỏi những sự chệch đường, khỏi các cơn sung huyết, khỏi bệnh viêm màng bụng: nó và tôi, chúng tôi đã định ngày; nếu tôi đến chỗ hẹn quá sớm, tôi sẽ không tìm được nó; bạn bè tôi cứ việc chê trách tôi không bao giờ nghĩ đến cái chết đi: họ chẳng biết rằng không một giây phút nào tôi ngừng cảm thấy nó.
Giờ đây, tôi cho là họ có lý: họ đã chấp nhận mọi thứ ở thân phận của chúng ta, kể cả nỗi lo âu; tôi đã chọn cách yên lòng; và đúng là như thế, thực chất, tôi tin mình bất tử: tôi tự giết mình trước vì những người đã chết là những kẻ duy nhất có được sự bất tử. Nizan và Maheu121 đã biết rằng họ sẽ là đối tượng của một cuộc tấn công man rợ, rằng họ sẽ bị cướp đi khỏi cuộc đời khi đang sung sức, máu tràn đầy. Còn tôi, tôi tự dối mình: để gạt bỏ sự tàn bạo của cái chết, tôi biến cái chết thành mục đích của mình và biến cuộc đời mình thành phương tiện duy nhất được biết tới để chết: tôi từ từ tiến đến kết cục của mình, chỉ có những hy vọng và ham muốn vừa đủ để lấp đầy những cuốn sách tôi viết, tin chắc rằng đợt dâng trào cuối cùng từ trái tim tôi sẽ để lại dấu ấn trên trang cuối cùng của tập cuối cùng trong số những tác phẩm của tôi và cái chết chỉ lấy đi một người đã chết. Lúc hai mươi tuổi, Nizan ngắm nhìn phụ nữ và ô tô, nhìn mọi tài sản của thế giới này với vẻ vội vã đầy tuyệt vọng: phải nhìn thấy mọi thứ, phải nắm bắt mọi thứ ngay lập tức. Tôi cũng nhìn, nhưng với thái độ hào hứng nhiều hơn là thèm muốn: tôi không ở trên trái đất để hưởng thụ mà để làm một bảng tổng kết. Điều đó có chút gì quá dễ dãi: do tính rụt rè của một đứa trẻ quá ngoan, do hèn nhát, tôi đã lùi bước trước những hiểm họa của một cuộc sống để ngỏ, tự do và không có sự đảm bảo của thánh thần, tôi tin chắc rằng mọi thứ đều đã được viết trước, hơn thế nữa, đã kết thúc.
Hiển nhiên là cái thủ thuật gian lận này đã khiến tôi tránh được thứ cám dỗ tự yêu mình. Bị đe dọa xóa sổ, bạn bè tôi người nào cũng núp mình trong hiện tại, phát hiện ra rằng cuộc đời sẽ phải chấm dứt của mình là không thể thay thế được và tự thấy mình thật lâm ly, quý giá và độc nhất vô nhị; người nào cũng tự yêu quý bản thân; tôi, kẻ đã chết, tôi chẳng yêu quý mình: tôi thấy mình rất bình thường, còn buồn tẻ hơn cả Corneille vĩ đại và tính dị biệt chủ thể ở tôi chẳng có ích lợi gì trong mắt tôi ngoài việc chuẩn bị cho cái khoảnh khắc sẽ biến tôi thành khách thể. Vì điều đó tôi có khiêm tốn hơn không? Không, nhưng tôi xảo trá hơn: tôi trao cho hậu thế của mình trách nhiệm yêu tôi thay tôi; đối với những người đàn ông và đàn bà còn chưa sinh ra, một ngày nào đó tôi sẽ có sức quyến rũ, có một thứ gì đó mà tôi chẳng rõ, tôi sẽ làm cho họ hạnh phúc. Tôi còn ranh ma và xảo quyệt hơn nữa: cái cuộc sống mà tôi thấy chán ngắt và tôi chỉ có thể dùng làm phương tiện để chết ấy, tôi sẽ bí mật trở lại với nó để cứu nó; tôi nhìn nó qua những đôi mắt của tương lai và nó hiện ra trước tôi như một câu chuyện cảm động và tuyệt đẹp mà tôi đã trải nghiệm thay cho tất cả mọi người, một câu chuyện mà nhờ tôi, không có ai phải trải nghiệm lại nữa mà chỉ cần kể lại. Tôi đã đặt vào đó một cảm xúc thực sự cuồng nhiệt: tôi chọn cho tương lai cái quá khứ của một người chết vĩ đại và tôi thử sống theo kiểu lộn ngược. Từ chín đến mười tuổi, tôi đã hoàn toàn trở thành kẻ tồn tại sau khi đã chết.
Đó không hẳn là lỗi của tôi: ông tôi đã nuôi tôi lớn lên trong ảo tưởng hồi cố. Vả chăng, chính ông cũng chẳng có lỗi và tôi không hề giận ông: cái ảo ảnh ấy nảy sinh một cách tự phát từ văn hóa. Khi các nhân chứng đã mất đi, cái chết của một con người lỗi lạc mãi mãi thôi chẳng còn là một đòn sét đánh, thời gian biến nó thành một đặc điểm tính cách. Một người quá cố từ lâu là một người chết về tổng thể, họ là người chết khi ở lễ rửa tội không hơn không kém lúc ở lễ xức dầu cuối cùng, cuộc đời của họ thuộc về chúng ta, chúng ta đi vào đó qua đầu này, qua đầu kia, qua khúc giữa, chúng ta đi xuống, chúng ta lại ngược lên dòng chảy của nó một cách tùy thích: đó là bởi trình tự niên đại đã bị phá võ; không thể nào khôi phục lại nó được: nhân vật ấy không còn bị nguy cơ nào đe dọa nữa và thậm chí chẳng còn trông đợi cái cảm giác nhồn nhột trong lỗ mũi sẽ dẫn đến một tràng hắt xì hơi. Cuộc đời của họ chưng ra vẻ ngoài của một tiến trình, nhưng ngay khi ta muốn cho nó một chút sức sống, nó lại quay về với tính chất của các sự kiện diễn ra cùng một lúc. Chẳng ích gì khi bạn đặt mình vào vị trí của người đã mất, làm ra vẻ chia sẻ những say mê, những sự thiếu hiểu biết, những thiên kiến của họ, làm sống lại những cuộc kháng cự đã bị xóa sổ, một chút nóng lòng hay e ngại, bạn vẫn sẽ chẳng thể tự ngăn mình đánh giá cách cư xử của họ dưới ánh sáng của những kết quả không đoán trước được và của những thông tin mà người ấy đã không có, cũng không thể ngăn mình gán một tính chất trang trọng đặc biệt cho những sự kiện mà hiệu quả của chúng sau đó sẽ để lại dấu ấn cho người ấy nhưng họ lại trải nghiệm chúng một cách thờ ơ. Ảo ảnh là đây: tương lai còn thực hơn cả hiện tại. Chuyện đó không đáng ngạc nhiên: trong một cuộc đời đã chấm dứt, chính đoạn kết là thứ mà người ta coi là sự thật về phần mở đầu. Kẻ quá cố ở lại lưng chừng giữa con người và giá trị, giữa sự kiện nguyên sơ và sự tái dựng; câu chuyện của người ấy trở thành một thứ bản chất xoay vòng được thâu tóm trong từng khoảnh khắc của nó. Trong các phòng khách ở Arras, một chàng luật sư trẻ lạnh lùng và kiểu cách ôm chiếc đầu của mình dưới nách bởi chàng là Robespierre122 quá cố, chiếc đầu ấy chảy máu nhỏ giọt nhưng không dây bẩn thảm; không một ai trong đám thực khách nhận thấy chiếc đầu ấy còn chúng ta thì lại chỉ nhìn thấy nó mà thôi; phải thêm năm năm nữa thì chiếc đầu ấy mới lăn vào sọt và tuy vậy nó lại ở đây, trong trạng thái bị cắt rời, cất tiếng nói những lời trang nhã bất chấp bộ quai hàm treo lủng lẳng123. Nếu được nhận ra, ảo ảnh thị giác này không gây phiền phức gì: người ta có thể sửa được nó; nhưng các bậc trí giả thời ấy lại che giấu nó, họ dùng nó để nuôi dưỡng lý tưởng của mình. Họ ngụ ý rằng khứ một tư tưởng lớn muốn ra đời, nó bèn triệu tập con người lỗi lạc sẽ thể hiện nó từ trong một khoang bụng đàn bà; nó sẽ chọn cho người ấy thân phận của anh ta, môi trường sống của anh ta, nó sẽ định lượng chính xác những người thân của anh ta có trí tuệ thế nào và thiếu khả năng thấu hiểu tư tưởng mới ra sao, nó quy định nền giáo dục mà anh ta được hưởng, nó đặt anh ta trước những thử thách cần thiết, bằng những đường nét liên tiếp nó tạo ra cho anh ta một tính cách không ổn định với những sự bấp bênh mà nó điều chỉnh cho tới lúc đối tượng được chăm sóc kỹ lưỡng nhường ấy bừng sáng khi hạ sinh ra nó. Điều đó không được tuyên bố ở đâu hết nhưng mọi thứ đều ám chỉ rằng có một chuỗi các nguyên nhân che đậy một trật tự đảo ngược và bí mật.
Tôi đã sử dụng cái ảo ảnh ấy một cách hào hứng để hoàn thành việc đảm bảo cho số phận của mình. Tôi nắm lấy thời gian, tôi đảo ngược nó và mọi thứ trở nên sáng tỏ. Chuyện đó bắt đầu bằng một cuốn sách nhỏ màu lam thẫm có những trang trí lòe loẹt bằng kim tuyến đã hơi xỉn màu, với những trang giấy dày dặn bốc mùi tử khí và có nhan đề: Thời thơ ấu của những người nổi tiếng; một mảnh nhãn dán xác nhận rằng bác Georges của tôi đã được nhận cuốn sách ấy vào năm 1885, với danh nghĩa giải nhì môn số học. Tôi đã phát hiện ra nó, vào cái thời tiến hành những cuộc phiêu du kỳ quặc của mình, tôi lật qua rồi bực bội quẳng nó đi: những đứa trẻ được ân sủng ấy hoàn toàn chẳng có gì giống các thần đồng; họ chỉ gần gũi tôi bởi các phẩm chất nhạt nhẽo của họ và tôi cứ tự hỏi tại sao người ta lại nói về họ. Cuối cùng cuốn sách biến mất: tôi đã quyết định trừng phạt nó bằng cách giấu nó đi. Một năm sau, tôi xáo tung tất cả các giá sách lên để tìm lại nó: tôi đã thay đổi, thần đồng đã trở thành người lớn bị giày vò bởi tuổi thơ. Thật bất ngờ: cuốn sách cũng đã thay đổi. Vẫn là những từ đó nhưng lúc này chúng nói với tôi về tôi. Tôi linh cảm rằng tác phẩm ấy sẽ hại tôi, tôi ghét nó, tôi sợ nó. Hằng ngày, trước khi mở nó ra, tôi tới ngồi trước cửa sổ: nếu có nguy hiểm, tôi sẽ để cho ánh sáng thật của ban ngày tràn vào mắt mình. Giờ đây, tôi thấy buồn cười khi có những người phiền lòng về ảnh hưởng của Fantomas hay của André Gide: họ tưởng là bọn trẻ không tự chọn những chất độc của chúng sao? Tôi đã nuốt chất độc của mình với sự khắc khổ đầy lo âu của những con nghiện ma túy. Thế nhưng, nó có vẻ như vô hại. Người ta động viên các độc giả trẻ tuổi: sự ngoan ngoãn và lòng hiếu thảo dẫn đến tất cả, thậm chí dẫn đến cả việc trở thành Rembrandt hay Mozart: trong các mẩu truyện ngắn người ta thuật lại những việc làm rất đỗi bình thường của những cậu bé cũng bình thường không kém nhưng nhạy cảm và hiếu thảo có tên là Jean-Sébastien124, Jean-Jacques125 hay Jean-Baptiste126 và là những đứa trẻ đem lại hạnh phúc cho người thân của mình giống như tôi đem lại hạnh phúc cho người thân của tôi. Nhưng nọc độc là đây: tuy không bao giờ nêu tên của Rousseau, Bach cũng như Molière, tác giả lại dùng tài nghệ của mình để đưa vào mọi chỗ những lời ám chỉ tới tầm quan trọng tương lai của họ, để lơ đễnh nhắc đến, qua một chi tiết, những tác phẩm của họ hay những hành động nổi tiếng nhất của họ, để ngấm ngầm sắp xếp các chuyện kể của mình một cách khéo đến nỗi người ta không thể hiểu được sự có tầm thường nhất nếu không liên hệ nó với những sự kiện về sau; trong cảnh náo động hằng ngày tác giả cho buông xuống một bầu không khí lặng như tờ đầy huyền diệu sẽ làm biến đổi tất cả: tương lai. Một cậu bé Sanzio127 nào đó vô cùng mong muốn được gặp Giáo hoàng; cậu xoay xở khéo đến nỗi người ta dẫn cậu ra quảng trường thành phố vào một ngày mà Đức Cha đi qua đó; cậu bé tái nhợt đi, mở to mắt, cuối cùng người ta bảo cậu: "Ta nghĩ là con hài lòng, phải không Raffaello? Ít ra, con cũng nhìn thấy rõ Đức Cha của chúng ta chứ?" Nhưng cậu lại trả lời, vẻ ngơ ngác: "Đức Cha nào cơ ạ? Con chỉ nhìn thấy các màu sắc!" Một ngày khác cậu bé Miguel128, vốn muốn theo nghiệp binh đao, ngồi dưới một gốc cây, đang thích thú với một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp thì đột nhiên, tiếng va đập rầm rầm của kim loại khiến cậu giật nẩy mình: đó là ông già điên bên hàng xóm, một nhà tiểu quý tộc bị phá sản, đang nhún nhảy trên lưng một con ngựa tiều tụy và đâm ngọn giáo gỉ của mình vào một chiếc cối xay. Vào bữa ăn tối, Miguel kể lại chuyện này với vẻ vui nhộn và dễ thương đến nỗi cậu làm cho tất cả mọi người cười rũ rượi; thế nhưng, sau đó, khi chỉ còn một mình trong phòng riêng, cậu ném cuốn tiểu thuyết xuống sàn nhà, giẫm chân lên, khóc nức nở hồi lâu.
Những đứa trẻ ấy sống trong sự nhầm lẫn: chúng cứ tưởng mình hành động và nói năng một cách ngẫu nhiên trong khi những câu nói ngắn ngủi nhất của chúng cũng có mục đích thực sự là báo hiệu về số phận của chúng. Tác giả và tôi trao đổi với nhau những nụ cười cảm động phía trên đầu lũ trẻ ấy; tôi đọc về cuộc đời của những người giả tầm thường ấy như cách Chúa trời đã tạo ra nó: bắt đầu từ đoạn kết. Thoạt đầu, tôi mừng rỡ: đó là những người anh em của tôi, vinh quang của họ có thể sẽ là vinh quang của tôi. Rồi sau đó mọi thứ đảo lộn: tôi lại ở phía bên kia của trang giấy, trong cuốn sách: tuổi thơ của Jean-Paul giống tuổi thơ của Jean-Jacques hay Jean-Sébastien và chẳng có điều gì xảy ra với cậu mà lại không có tính dự báo sâu sắc. Chỉ có điều, lần này, chính lũ cháu của tôi là những người được tác giả trao cho những cái nháy mắt. Bản thân tôi thì được nhìn, từ lúc chết đến lúc ra đời, bằng ánh mắt của những đứa trẻ tương lai mà tôi không hình dung nổi và tôi không ngớt gửi cho chúng những thông điệp không thể giải mã được đối với tôi. Tôi rùng mình, đờ người ra bởi cái chết của bản thân, ý nghĩa thực sự của mọi cử chỉ nơi tôi, không còn quyền sở hữu chính mình, tôi bèn thử đi qua trang sách theo hướng ngược lại và ở về phía các độc giả, tôi ngẩng đầu lên, tôi xin ánh sáng trợ giúp: vậy mà ngay cả việc này cũng thế, đó là một thông điệp; nỗi lo lắng đột ngột ấy, mối nghi ngờ ấy, chuyển động ấy của ánh mắt và chiếc cổ, người ta sẽ diễn giải những thứ ấy ra sao, vào năm 2013, khi họ có hai chiếc chìa khóa có thể mở được tôi, tác phẩm và cái chết? Tôi không thể đi ra khỏi cuốn sách: tôi đã đọc xong nó từ lâu nhưng tôi vẫn là một nhân vật của nó. Tôi tự dò xét mình: một giờ trước tôi đã tán chuyện linh tinh với mẹ tôi: tôi đã báo trước điều gì nhỉ? Tôi nhớ được một vài câu trong những lời mình đã nói, tôi cất cao giọng nói lại những câu ấy, điều đó chẳng làm tôi sáng tỏ hơn. Những câu nói cứ tuột đi, bí hiểm; giọng nói của tôi vang lên trong chính tai mình như một giọng nói xa lạ, một vị thần ranh ma đã cướp mất những suy nghĩ của tôi ở tận trong đầu tôi và vị thần này chẳng phải ai khác ngoài một chú nhóc tóc hoe vàng của thế kỷ 30, ngồi trước cửa sổ, quan sát tôi qua một quyển sách. Với một nỗi khiếp sợ yêu thương, tôi cảm thấy ánh mắt của cậu bé găm tôi vào thiên niên kỷ của tôi. Vì cậu ta tôi bèn tạo ra mình giả mạo: tôi sản xuất ra những câu có hai nghĩa mà tôi thốt lên trước mặt mọi người. Mẹ tôi thấy tôi ngồi ở bàn học, viết nguệch ngoạc, mẹ nói: "Trời tối quá! Con trai yêu của mẹ học đến mờ cả mắt." Đó là dịp để trả lời một cách hoàn toàn vô tội: "Ngay cả trong bóng tối con vẫn có thể viết." Mẹ tôi cười, gọi tôi là thằng bé ngốc nghếch, mẹ bật đèn sáng, công việc thế là xong, cả hai chúng tôi đều không biết rằng tôi vừa mới thông báo cho năm ba nghìn về sự tàn phế trong tương lai của tôi. Sự thể là, vào lúc cuối đời, bị mù nặng còn hơn cả Beethoven bị điếc, hẳn là tôi sẽ viết tác phẩm cuối cùng của mình một cách mò mẫm: người ta sẽ tìm thấy bản thảo trong đống giấy tờ của tôi, mọi người sẽ thất vọng nói: "Nhưng không thể đọc được!" Thậm chí có khi người ta còn bàn đến chuyện vứt nó vào thùng rác. Cuối cùng thì thư viện thành phố Aurillac sẽ đòi giữ nó, vì sự tôn kính thuần túy, nó sẽ ở lại chỗ đó một trăm năm, bị lãng quên. Thế rồi, một ngày, vì yêu quý tôi, những người trẻ tuổi uyên bác sẽ thử giải mã nó: họ có dùng cả cuộc đời cũng chẳng phải là quá nhiều để khôi phục lại cái mà, đương nhiên, sẽ là kiệt tác của tôi. Mẹ tôi đã rời khỏi căn phòng, tôi còn lại một mình, tôi lặp lại cho chính mình, chậm rãi, đặc biệt là chẳng nghĩ ngợi gì đến điều đó: "Trong bóng tối!" Có một tiếng cộp khô khốc: cậu chắt của tôi, ở trên cao, khép cuốn sách lại: cậu bé mơ mộng về thời thơ ấu của cụ mình và những giọt nuớc mắt lán trên má cậu: "Thế nhưng đúng là nhu vậy thật, cậu thở dài, cụ đã viết trong cảnh tối tăm!"
Tôi diễu võ dương oai trước những đứa trẻ sẽ sinh ra và giống tôi từng nét một, tôi tự làm cho mình rơi nuớc mắt khi gọi đến những giọt nước mắt mà tôi sẽ khiến chúng phải trút ra. Tôi nhìn thấy cái chết của mình bằng mắt của chúng; nó đã xảy ra rồi, đó là sự thật của tôi: tôi đã trở thành bài báo tưởng nhớ chính mình khi mới qua đời.
Sau khi đọc phần trên, một người bạn nhìn kỹ tôi với vẻ lo ngại: "Cậu bệnh nặng, anh nói, còn hơn cả mức mà mình hình dung nữa." Bệnh? Tôi cũng không rõ lắm. Sự hoang tưởng của tôi hiển nhiên là đã được xây đắp kỹ. Trong mắt tôi, vấn đề chính có lẽ là vấn đề về sự chân thành thì đúng hơn. Khi chín tuổi, tôi vẫn còn ở trong phạm vi của nó; sau đó, tôi đã vượt hẳn qua nó.
Lúc đầu, tôi hoàn toàn lanh mạnh: một kẻ gian lận vặt biết dừng lại đúng lúc. Nhưng tôi đã lam việc chăm chỉ: ngay cả trong chuyện bịp bợm, tôi vẫn là một kẻ nhồi nhét kiến thức đầy đầu; giờ đây tôi coi những trò lừa đảo của mình là những bài tập tinh thần và sự giả tạo của mình là biếm họa của một sự chân thành trọn vẹn vẫn không ngừng đến sát tôi rồi lại vuột khỏi tôi. Tôi đã không chọn thiên chức của mình: những người khác đã áp đặt nó cho tôi. Thực ra thì nào có gì đâu: những lời nói gió bay, do một bà già tung ra, và mưu mẹo của ông Charles. Nhưng chỉ cần tôi tin là đã đủ rồi. Những người lớn, có vị trí vững vàng trong tâm hồn tôi, đã giơ tay chỉ ra ngôi sao của tôi; tôi không nhìn thấy nó nhưng tôi nhìn thấy ngón tay, tôi tin vào những người vẫn khẳng định là họ tin ở tôi. Họ đã cho tôi biết về sự tồn tại của những người chết lỗi lạc - một trong số đó là người chết tương lai - Napoléon, Thémistocle, Philippe Auguste, Jean-Paul Sartre. Tôi không nghi ngờ điều này: nếu thế thì sẽ là nghi ngờ những người lớn ấy. Chỉ có điều, người sau cùng đó, tôi những muốn được gặp ông ta mặt đối mặt. Tôi há hốc miệng, tôi vặn vẹo người để kích thích thứ trực giác có thể thỏa mãn mình, tôi là người đàn bà lãnh cảm với những cơn quằn quại nhằm khêu gợi rồi thử thay thế cảm giác cực khoái. Người ta sẽ bảo là cô ta giả vờ hay chỉ hơi mẫn cán quá thôi? Dù thế nào đi nữa thì tôi cũng chẳng đạt được gì, tôi vẫn luôn luôn ở phía trước hoặc phía sau cái tầm nhìn không tưởng có thể giúp đuọc tôi khám phá chính bản thân mình và, đến cuối những bài tập của mình, tôi lại trở nên đáng ngờ và chẳng thu được gì hết ngoài những nỗi bực dọc tệ hại. Dựa trên nền tảng là uy thế, là lòng tốt không thể phủ nhận của những người lớn, không điều gì có thể xác nhận hay bác bỏ cái sứ mệnh bất khả xâm phạm, đã được niêm phong của tôi, nó ở trong tôi nhưng thuộc về tôi ít đến nỗi tôi đã chẳng bao giờ có thể nghi ngờ nó, dù chỉ trong khoảnh khắc, và tôi chẳng có khả năng làm nó biến đi mà cũng chẳng đồng hóa nổi nó.
Ngay cả khi niềm tin là sâu sắc, nó cũng không bao giờ trọn vẹn. Phải không ngừng bảo vệ nó hay, ít ra, phải tránh hủy hoại nó. Tôi là người đã được tiền định, danh tiếng lẫy lừng, tôi đã có ngôi mộ của mình ở nghĩa trang Père-Lachaise và có thể còn được vào Panthéon, có đại lộ của mình ở Paris, có các vườn hoa và quảng trường của mình ở tỉnh lẻ, ở nước ngoài: thế nhưng, ở ngay giữa sự lạc quan, tôi vẫn giữ mối nghi ngờ vô hình, không tên gọi, về sự không chắc chắn của mình. Ở bệnh viện Sainte-Anne, một bệnh nhân gào lên từ trong giường: "Tôi là hoàng tử đây! Hãy bắt giam đại công tước." Người ta đến gần, nói thầm vào tai anh ta: "Xì mũi đi?" và anh ta xì mũi; người ta hỏi anh ta: "Cậu làm nghề gì?" anh ta khẽ khàng trả lời: "Thợ sửa giày" và lại bắt đầu gào lên. Tất cả chúng ta đều giống anh chàng ấy, tôi nghĩ vậy; dù sao đi nữa, về phần tôi, khi bước vào tuổi lên chín, tôi đã giống anh ta: tôi vừa là hoàng tử vừa là thợ sửa giày.
Hai năm sau đó hẳn là mọi người cho rằng tôi đã lành bệnh: chàng hoàng tử đã biến mất, gã thợ giày chẳng tin vào điều gì hết, tôi thậm chí chẳng còn viết nữa; bị quẳng vào sọt rác, bị thất lạc hoặc bị đốt cháy, những quyển vở để viết tiểu thuyết đã nhường chỗ cho những quyển vở dùng để phân tích logic, viết chính tả, làm tính. Nếu có ai đó chui vào trong chiếc đầu mở toang tứ bề của tôi, họ có thể gặp trong đó một vài bức tượng bán thân, một bảng cửu chương kỳ quái và quy tắc tam suất, ba mươi hai tỉnh cùng với các tỉnh lỵ nhưng không có các quận lỵ, một loại hoa hồng có tên là rosarosarosamro-saerosaerosa, những công trình lịch sử và văn học, một vài câu châm ngôn về cách đối nhân xử thế khắc trên những tấm bia và đôi khi, như dải sương mù lẩn quất trên khu vườn buồn bã này, một sự mộng mơ chứa khoái cảm tàn bạo. Bé gái mồ côi, không có. Chàng dũng sĩ, không một dấu vết. Những từ anh hùng, tuẫn nạn và thần thánh chẳng còn được viết ở bất cứ đâu, chẳng còn được bất cứ giọng nói nào nhắc lại. Chàng cựu Pardaillan học kỳ nào cũng nhận được những phiếu báo sức khỏe đạt yêu cầu: là đứa trẻ có trí tuệ trung bình và đạo đức rất tốt, không có năng khiếu mấy trong các môn khoa học chính xác, có trí tưởng tượng không quá đà, nhạy cảm; hoàn toàn bình thường dù có một thứ điệu bộ kiểu cách nhất định, vả lại việc này cũng đang bớt đi. Vậy mà tôi đã trở nên hoàn toàn điên rồ. Có hai sự kiện, một sự kiện chung và cái kia là riêng tư, đã thổi bay đi đôi chút lý trí còn sót lại ở tôi.
Sự kiện đầu tiên là một bất ngờ thực sự: vào tháng Bảy năm 14, người ta vẫn còn đếm được một vài kẻ ác, nhưng đến ngày mùng 2 tháng Tám129, đột nhiên, đức hạnh đã giành được chính quyền và ngự trị: tất cả người Pháp trở thành người tốt. Các kẻ thù của ông tôi lao vào vòng tay ông, các nhà xuất bản vào cuộc, đám dân đen thốt ra những điều tiên tri: bạn bè của chúng tôi thu lượm được những lời lẽ cao cả giản dị của người gác cổng nhà họ, của ông đưa thư, của anh thợ đặt ống nước, và kể lại cho chúng tôi, tất cả mọi người đều ồ lên, trừ bà tôi, rõ ràng là đáng ngờ. Tôi vui sướng: nước Pháp diễn kịch trước mắt tôi, tôi diễn kịch vì nước Pháp. Thế nhưng chiến tranh nhanh chóng làm tôi buồn chán: nó gây phiền nhiễu cho đời tôi ít đến nỗi lẽ ra tôi đã có thể quên tiệt nó rồi; nhưng tôi chán ngấy nó khi tôi nhận thấy nó làm hại đến việc đọc sách báo của tôi. Những ấn phẩm yêu thích của tôi biến mất khỏi các quầy bán báo; Arnould Galopin130, Jo Valle131, Jean de la Hire132 từ bỏ các nhân vật quen thuộc của họ, những cậu thiếu niên ấy, những người anh em của tôi, những người đi vòng quanh trái đất bằng máy bay hai tầng cánh, bằng thủy phi cơ và chiến đấu theo cách hai hoặc ba người chống lại cả trăm; những cuốn tiểu thuyết thực dân thời trước chiến tranh nhường chỗ cho những tiểu thuyết chiến tranh, có các chàng thủy thủ tập sự, các thanh niên vùng Alsace và các trẻ mồ côi, con nuôi lấy phước của trung đoàn. Tôi ghét những kẻ mới đến ấy. Những nhà phiêu lưu bé nhỏ của rừng rậm, tôi coi họ là những đứa trẻ thần đồng bởi họ tàn sát các thổ dân mà sau hết cũng là những người lớn: bản thân tôi cũng là thần đồng, tôi nhận ra mình trong họ. Nhưng, những đứa con của quân đội, mọi việc diễn ra bên ngoài họ. Tính chất anh hùng cá nhân bị lung lay: để chống lại những kẻ hoang dã thì có sự vượt trội về vũ khí trợ giúp; để chống lại đại bác của quân Đức thì phải làm gì? Phải có những khẩu đại bác khác, có các pháo thủ, có một đội quân. Ở giữa những chiến binh dũng cảm vẫn thường xoa đầu và bảo vệ cậu ta, đứa trẻ thần đồng bị rơi lại vào thời thơ ấu; tôi cũng bị rơi lại vào đó, cùng với cậu ta. Thỉnh thoảng, do thương hại, tác giả giao cho tôi trách nhiệm đi chuyển tin, quân Đức bắt được tôi, tôi có vài câu đối đáp kiêu hãnh và rồi tôi trốn thoát, tôi trở lại được phòng tuyến của quân ta và tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình. Người ta khen ngợi tôi, tất nhiên rồi, nhưng không thực sự nồng nhiệt và trong ánh mắt người cha của vị tưóng tôi chẳng tìm thấy cái nhìn ngây ngất của các góa phụ và lũ trẻ mồ côi. Tôi đã bị mất sự chủ động khởi xướng: người ta đã chiến thắng ở các trận đánh, người ta sẽ chiến thắng cả cuộc chiến mà không cần có tôi; những người lớn đã lấy lại độc quyền làm anh hùng, tôi thì có lúc lượm được khẩu súng của một người chết và bắn vài phát, nhưng chẳng bao giờ cả Arnould Galopin lẫn Jean de la Hire lại cho phép tôi được tấn công bằng lưỡi lê. Là người hùng tập sự, tôi sốt ruột chờ đợi đến tuổi được nhập ngũ. Hay đúng hơn là không phải vậy: đó là đứa con của quân đội chờ đợi, đó là đứa trẻ mồ côi vùng Alsace. Tôi tách ra khỏi họ, tôi gấp cuốn sách lại. Viết văn, đó sẽ là một công việc lâu dài bạc bẽo, tôi đã biết vậy, tôi sẽ có đủ kiên nhẫn. Nhưng đọc, đó là một ngày hội: tôi muốn có mọi vinh quang ngay lập tức! Vậy mà người ta dành cho tôi một tương lai thế nào? Làm lính! Quý hóa nhỉ! Khi đi lẻ, một chiến binh chẳng quan trọng hơn một đứa trẻ. Anh ta xông lên tấn công cùng với những người khác và chiến thắng là của trung đoàn. Tôi không tha thiết gì đến việc tham dự vào những thắng lợi chung. Khi Arnould Galopin muốn tôn vinh một quân nhân, ông chẳng tìm thấy cái gì hay ho hơn là phái anh ta đi cứu một đại úy bị thương. Sự tận tụy âm thầm này khiến tôi khó chịu: cứ như người nô lệ cứu ông chủ. Thêm nữa, đó chỉ là một chiến công ngẫu nhiên: vào thời chiến, lòng dũng cảm là thứ được phân phát tốt nhất; chỉ cần đôi chút may mắn là tất cả mọi người lính khác đều có thể làm được như vậy. Tôi điên tiết: điều mà tôi thích nhất ở chủ nghĩa anh hùng thời trước chiến tranh, đó là sự cô đơn và tính chất vô tư của nó: tôi để lại phía sau mình những đức hạnh tẻ nhạt thường ngày, tôi hào hiệp sáng chế ra một con người cho riêng tôi; Vòng quanh thế giới bằng thủy phi cơ, Những cuộc phiêu lưu của một cậu bé Paris, Ba chàng hướng đạo sinh, tất cả những áng văn kỳ diệu ấy đã hướng dẫn tôi trên con đường dẫn tới cái chết và sự phục sinh. Vậy mà bỗng nhiên, các tác giả của những truyện đó đã phản bội tôi: họ đã đặt chủ nghĩa anh hùng vào tầm tay của tất cả mọi người; lòng dũng cảm và sự hy sinh tận tụy trở thành một phẩm chất đời thường; tệ hơn nữa, người ta đã dìm những thứ đó xuống hàng những nghĩa vụ sơ đẳng nhất. Bối cảnh thay đổi theo hướng của sự biến hóa sau: những đám sương mù quần tụ của vùng Argonne133 đã thay thế cho mặt trời lừng lững duy nhất và ánh sáng cá nhân chủ nghĩa của xứ Ecuador.
Sau một khoảng tạm ngừng chừng vài tháng, tôi quyết định cầm lại bút để viết một cuốn tiểu thuyết theo đúng lòng mình và cho các quý ông kia một bài học đích đáng. Đó là vào tháng Mười năm 14, chúng tôi đã không rời khỏi Arcachon. Mẹ tôi mua cho tôi những quyển vở giống hệt nhau; trên các tấm bìa vở màu hoa cà có vẽ hình Jeanne d'Arc134 đội mũ cứng, dấu hiệu của thời đại. Với sự bảo trợ của Trinh nữ, tôi bắt đầu viết câu chuyện về anh lính Perrin: anh bắt cóc Kaiser135, đem ông ta trong tình trạng bị trói về phòng tuyến của quân ta, rồi, trước toàn trung đoàn tập hợp lại, anh thách ông ta đấu một chọi một, quật ngã ông ta, kề dao vào cổ bắt ông ta phải ký một hòa ước nhục nhã, trả lại cho chúng ta vùng Alsace-Lorraine. Sau một tuần truyện của tôi đã làm tôi mệt lử. Cuộc đấu tay đôi, tôi vay mượn ý tưởng từ các tiểu thuyết kiếm hiệp: Stoerte-Becker, con trai của một gia đinh giàu có và bị kết án đi đày biệt xứ, bước vào một quán rượu của đám bất lương; bị một gã lực lưỡng, thủ lĩnh của đám này, lăng mạ, chàng giết chết hắn ta bằng những cú đấm, giành lấy vị trí của hắn rồi trở ra, với tư cách vua của lũ du côn, vừa kịp để đưa đám quân của mình lên một chiếc tàu cướp biển. Nghi lễ này phải tuân thủ những nguyên tắc bất di bất dịch và chặt chẽ: kẻ đại diện cho Cái Ác phải được coi như bất khả chiến bại, người đại diện cho Cái Thiện thì chiến đấu giữa những tiếng la ó và chiến thắng không ngờ của anh ta khiến những kẻ hay giễu cợt phải đờ người ra vì khiếp sợ. Nhưng về phần tôi, do thiếu kinh nghiệm, tôi lại đi vi phạm tất cả các quy tắc và làm ngược với điều mà mình mong muốn: to khỏe ở mức như ông ta thì Kaiser chẳng phải là một tay vạm vỡ, ai cũng biết trước là Perrin, lực sĩ tuyệt đỉnh, chỉ cần giáng một cú là xong. Thêm nữa, công chúng thù địch với ông ta, các chiến binh của chúng ta thét vào mặt ông ta lòng hận thù của họ: bằng một sự đảo ngược khiến tôi phải bàng hoàng, Guillaume II, tội phạm nhưng đơn độc, toàn thân hứng đầy những lời chế nhạo và những cú khạc nhổ, đã tiếm đoạt ngay trước mắt tôi sự cô đơn vương giả ở những người hùng của tôi.
Còn có chuyện tệ hơn thế nữa. Cho đến lúc bấy giờ chưa có điều gì khẳng định hay bác bỏ cái mà bà Louise gọi là "những công trình quái gở” của tôi: châu Phi thì mênh mông, xa xôi, dân cư thưa thớt, thiếu thông tin, không ai có thể chứng minh rằng các nhà thám hiểm của tôi không đến đó, rằng họ không nổ súng chống lại những người Pygmée vào cái giờ mà tôi đang kể về trận chiến đấu của họ. Tôi không đi xa đến mức nhận mình là người viết sử của họ nhưng tôi đã được nghe nói nhiều về sự thật ở các tác phẩm tiểu thuyết đến nỗi là tôi đã định nói lên điều có thực thông qua những truyện bịa đặt của mình, bằng một cách thức mà tôi còn chưa rõ nhưng sẽ đập vào mắt các độc giả tương lai của tôi. Vậy mà, trong cái tháng Mười trái khoáy ấy, tôi đã tham dự đầy bất lực vào sự đụng độ giữa hư cấu và thực tế: gã Kaiser sinh ra từ ngòi bút của tôi, bị bại trận, đã ra lệnh ngừng bắn; như vậy theo đúng logic thì mùa thu của chúng tôi phải được chứng kiến hòa bình trở lại, thế nhưng chính báo chí và người lớn cứ nói đi nói lại từ sáng đến tối là chúng ta đã bước vào chiến tranh và nó sẽ kéo dài. Tôi cảm thấy mình đã bị lừa phỉnh: tôi là một kẻ bịp bợm, tôi kể những chuyện tầm phào mà chả ai buồn tin: tóm lại tôi đã khám phá ra sự tưởng tượng. Lần đầu tiên trong đời tôi tự đọc lại mình. Mặt đỏ bừng. Tôi, chính tôi đã thích thú với những chuyện huyễn tưởng trẻ con này sao? Suýt nữa thì tôi từ bỏ văn chương. Cuối cùng tôi mang quyển vở của mình ra bãi biển và vùi nó vào trong cát. Sự khó chịu tiêu tan; tôi lấy lại được lòng tin: chắc chắn là tôi đã được tiền định; chỉ có điều, văn học có bí mật của nó, sẽ có ngày nó tiết lộ cho tôi. Trong lúc chờ đợi, độ tuổi của tôi khiến tôi phải hết sức dè dặt. Tôi đã không viết nữa.
Chúng tôi đã trở lại Paris. Tôi từ bỏ hẳn Amould Galopin và Jean de la Hire: tôi không thể tha thứ cho những kẻ cơ hội ấy vì họ đã có lý khi làm trái ý tôi. Tôi bất bình với chiến tranh, thứ sử thi của sự tầm thường. Ấm ức, tôi đào ngũ khỏi thời đại của mình và ẩn náu trong quá khứ. Vài tháng trưóc đó, vào cuối năm 1913, tôi đã khám phá ra Nick Carter, Buffalo Bill, Texas Jack, Sitting Bull: ngay khi chiến sự bắt đầu, những ấn phẩm này biến mất: ông tôi cho rằng chủ nhà xuất bản là người Đức. May thay, có thể tìm thấy ở những chỗ bán lại đồ cũ bên bờ sông phần lớn các tập đã xuất bản. Tôi kéo mẹ tôi ra bờ sông Seine, chúng tôi tiến hành lục lọi từng cửa hàng một từ ga Orsay đến ga Austerlitz: có lần chúng tôi đã mang về được mười lăm tập sách cùng một lúc, chẳng bao lâu tôi đã có năm trăm tập. Tôi xếp chúng thành những chồng đều đặn, tôi không biết chán khi đếm chúng, khi đọc to lên những nhan đề bí ẩn của chúng: Một vụ án trên khinh khí cầu, Thỏa ước với quỷ sứ, Những người nô lệ của nam tước Moutoushimi, Sự phục sinh của Dazaar. Tôi thích vì những tập sách đó ngả vàng, có vết ố, thô cứng, với một thứ mùi lạ lùng của lá úa: đó chính là những chiếc lá úa, là sự hoang tàn bởi chiến tranh đã làm ngừng lại tất cả; tôi biết rằng cuộc phiêu lưu cuối cùng của người đàn ông có mái tóc dài sẽ mãi mãi là điều mà tôi chẳng rõ, rằng tôi sẽ mãi mãi không được biết về cuộc điều tra cuối cùng của vua thám tử: những người hùng đơn độc ấy cũng như tôi là nạn nhân của xung đột thế giới và bởi thế tôi càng yêu quý họ hơn. Để vui vẻ đến điên cuồng, tôi chỉ cần ngắm nhìn những bức tranh màu trang trí các trang bìa. Buffalo Bill đang cưỡi ngựa, phi nước đại trên đồng cỏ, lúc thì truy đuổi, lúc thì chạy trốn thổ dân da đỏ. Tôi thích những tranh minh họa về Nick Carter hơn. Người ta có thể thấy chúng đơn điệu: gần như trong tất cả các bức tranh nhà thám tử đại tài đều đang đánh đấm hoặc bị nện bằng dùi cui. Nhưng những cuộc ẩu đả này diễn ra trên các đường phố của khu Manhattan, ở những bãi đất hoang, được bao quanh bởi những hàng rào màu nâu hoặc những ngôi nhà ọp ẹp hình khối lập phương màu máu khô: những thứ đó mê hoặc tôi, tôi tưởng tượng ra một thành phố khắc khổ và đẫm máu bị không gian xâm lấn và gần như không che khuất nổi vùng thảo nguyên cưu mang nó: ở đó tội ác và đức hạnh cả hai đều nằm ngoài vòng pháp luật, kẻ sát nhân và người thực thi công lý, cả hai đều tự do và đầy quyền lực, đối chọi với nhau vào buổi tối, bằng những nhát dao. Ở thành phố này cũng như ở châu Phi, dưới cùng một mặt trời rực lửa, tính chất anh hùng trở thành một bản ngẫu hứng triền miên: sự say mê của tôi đối với New York bắt nguồn từ đó.
Tôi quên đi cùng một lúc chiến tranh và sứ mệnh của mình. Khi người ta hỏi tôi: "Lớn lên con sẽ làm gì?" tôi trả lời một cách nhã nhặn, khiêm tốn rằng tôi sẽ viết văn, nhưng tôi đã từ bỏ những giấc mộng vinh quang của mình và những bài tập tinh thần. Nhờ đó, có lẽ, những năm xung quanh năm 14 là những năm hạnh phúc nhất của tuổi thơ tôi. Mẹ tôi và tôi bằng tuổi nhau và chúng tôi không rời nhau. Mẹ gọi tôi là chàng hiệp sĩ phụng sự mẹ, người đàn ông bé nhỏ của mẹ; tôi kể với mẹ tất cả mọi chuyện. Còn hơn là tất cả nữa: công việc viết văn đã quay trở lại, dưới dạng những lời ríu rít trẻ thơ và tuôn ra từ miệng tôi; tôi miêu tả tất cả những gì tôi nhìn thấy, những thứ mà mẹ Anne-Marie cũng nhìn thấy rõ như tôi, những ngôi nhà, cây cối, mọi người, tôi tự tạo cho mình những cảm xúc vì thú vui được kể lại điều đó với mẹ, tôi trở thành máy biến đổi năng lượng; thế giới sử dụng tôi để biến thành lời nói. Điều đó bắt đầu bằng một lời nói luyên thuyên không rõ của ai vang lên trong đầu tôi: một người nào đó nói: "Tôi bước đi, tôi ngồi xuống, tôi uống một cốc nước, tôi ăn một chiếc kẹo hạnh nhân." Tôi cao giọng lặp lại theo từng lời một: "Con bước đi, mẹ ạ, con uống một cốc nước, con ngồi xuống." Tôi tưởng như có hai giọng nói, trong đó một giọng - rất ít thuộc về tôi và không phụ thuộc vào ý muốn của tôi - đọc cho giọng kia những lời của mình; tôi kết luận rằng mình là người nhị thân. Những sự rối loạn nhẹ này kéo dài dai dẳng cho đến tận mùa hè: chúng làm tôi kiệt sức, tôi khó chịu vì chúng và cuối cùng đâm sợ. "Trong đầu con có tiếng nói", tôi bảo mẹ tôi nhưng, may thay, mẹ tôi không lo lắng.
Điều đó không làm hỏng cả niềm hạnh phúc của tôi lẫn sự gắn kết của mẹ con tôi. Chúng tôi có những huyền thoại của mình, lối nói của mình, những lời nói đùa đã thành lệ của mình. Suốt gần một năm, ít nhất cứ mười lần thì lại có một lần, tôi kết thúc các câu nói của mình bằng những từ sau được thốt lên với vẻ cam chịu mỉa mai: "Nhưng không sao cả." Tôi nói: "Đây là một con chó trắng to. Nó không trắng, nó màu xám nhưng không sao cả." Chúng tôi đã tạo thành thói quen kể cho nhau nghe những sự cố vụn vặt trong cuộc sống của mình theo phong cách sử thi đồng thời với lúc chúng diễn ra; chúng tôi nói về mình ở ngôi thứ ba số nhiều. Chúng tôi đợi xe buýt, nó đi ngang qua chỗ chúng tôi mà không dừng lại; một trong hai chúng tôi bèn thốt lên: "Họ vừa nện chân xuống đất vừa nguyền rủa trời cao" và chúng tôi bật cười. Trước mặt mọi người chúng tôi có sự thỏa thuận ngấm ngầm: một cái nháy mắt là đủ. Trong một cửa hàng, trong một tiệm trà, chúng tôi thấy cô bán hàng trông có vẻ buồn cười, mẹ tôi bảo tôi lúc đi ra: "Vừa nãy mẹ không nhìn con, mẹ sợ mình phì cười vào mặt cô ấy", và tôi cảm thấy tự hào về khả năng của mình: không có nhiều đứa trẻ biết cách làm cho mẹ chúng phì cười chỉ bằng một ánh mắt. Bản tính rụt rè, chúng tôi đã sợ hãi cùng nhau: một hôm, ở bờ sông, tôi phát hiện ra mười hai số Buffalo Bill mà tôi hãy còn chưa có; mẹ tôi đang chuẩn bị trả tiền thì một người đàn ông tiến lại gần, trông to béo và nhợt nhạt, với cặp mắt đen như than, bộ râu quết xi, đội chiêc mũ rơm đáy bằng và có cái vẽ dễ xơi mà các gã đẹp trai thời ấy thường khoái trá thể hiện. Ông ta nhìn mẹ tôi chòng chọc, nhưng lại nói với tôi: "Chú mày được chiều chuộng thật, chú nhóc, chú mày được chiều chuộng thật!" ông ta nhắc đi nhắc lại với vẻ vội vã. Thoạt đầu, tôi chỉ tức giận: thường thì người ta không gọi tôi là chú mày một cách nhanh chóng thế; nhưng tôi bắt gặp ánh mắt điên khùng của ông ta và chúng tôi, mẹ Anne-Marie và tôi, hai người như biến thành một cô gái sợ hãi và lùi phắt lại. Chưng hửng, người đàn ông lảng ra xa: tôi đã quên hàng ngàn gương mặt, nhưng cái mặt nhờn mỡ ấy, giờ tôi vẫn còn nhớ; thuở đó tôi chẳng biết gì về chuyện xác thịt và tôi không hình dung được người đàn ông này muốn gì ở chúng tôi nhưng sự thèm muốn hiển hiện rõ ràng đến nỗi dường như tôi hiểu được và, bằng một cách nhất định, mọi thứ đã bị phơi bày trước mắt tôi. Sự thèm muốn ấy, tôi cảm thấy nó thông qua mẹ tôi; qua mẹ, tôi học được cách đánh hơi con đực, sợ nó, ghét nó. Sự cố này thắt chặt hơn mối liên hệ của chúng tôi: tôi chạy lon ton với vẻ cứng rắn, tay cầm tay mẹ tôi và tôi tin chắc là mình bảo vệ mẹ. Đó có phải là kỷ niệm về những năm ấy? Đến bây giờ vẫn vậy, tôi không thể không thích thú khi nhìn thấy một đứa trẻ quá nghiêm túc nói với bà mẹ trẻ con của mình với vé trịnh trọng, âu yếm; tôi thích thứ tình bạn dịu dàng hoang sơ nảy sinh xa đám đàn ông và chống lại họ như thế. Tôi nhìn những cặp trẻ con này hồi lâu và rồi tôi nhớ ra rằng mình là một người đàn ông và tôi quay đầu đi.
Sự kiện thứ hai diễn ra vào tháng Mười năm 1915: tôi đã được mười tuổi ba tháng, mọi người không thể nghĩ đến việc giữ tôi như nhốt học trò hư lâu hơn được nữa. Ông Charles Schweitzer nén những hiềm khích của mình và ghi tên cho tôi vào trường tiểu trung học Henri-IV với tư cách ngoại trú.
Ở bài tập làm văn đầu tiên, tôi đứng bét lớp. Là cậu trai trẻ theo lối cổ, tôi coi việc giảng dạy là một mối quan hệ cá nhân: cô Marie-Louise truyền đạt kiến thức cho tôi bởi tình cảm quý mến, tôi nhận kiến thức ấy bởi sự thân thiện, vì tình cảm của cô. Tôi chưng hửng bởi những bài học từ trên bục giảng dành cho tất cả mọi người, bởi sự lạnh lùng có tính dân chủ theo quy định. Bị so sánh không ngừng, sự vượt trội mà tôi hằng mơ ước đã tan biến: bao giờ cũng có người trả lời tốt hơn hoặc nhanh hơn tôi. Tôi được yêu quý quá nhiều nên không thể đặt lại nghi vấn về mình được: tôi thật lòng ngưỡng mộ các bạn của mình và không ghen tị với họ: rồi tôi cũng sẽ đến lượt thôi. Vào lúc năm mươi tuổi. Tóm lại, tôi sa sút mà không đau khổ; bị một cảm giác kích động đột ngột xâm chiếm, tôi sốt sắng nộp những bài làm tệ hại của mình. Chưa chi ông tôi đã nhíu lông mày; mẹ tôi vội vã xin gặp ông Ollivier, thầy giáo chủ nhiệm của tôi. Thầy tiếp chúng tôi trong căn hộ độc thân nhỏ của mình; mẹ tôi cất giọng nói du dương; đứng dựa vào chiếc ghế bành mẹ ngồi, tôi vừa nghe mẹ nói vừa nhìn ánh nắng rọi qua lớp bụi ở cửa kính. Mẹ tôi ra sức chứng minh rằng tôi có giá trị hơn những bài làm của tôi: tôi đã tự học đọc một mình, tôi đã viết tiểu thuyết; hết sạch lý lẽ mẹ tôi bèn tiết lộ là tôi sinh ra sau mười tháng: được nấu kỹ hơn những người khác, vàng rực hơn, giòn ngon hơn vì ở lâu hơn trong lò. Bị ấn tượng trước vẻ duyên dáng của mẹ tôi hơn là trước những thành tích của tôi, thầy Ollivier chăm chú nghe mẹ nói. Đó là một người đàn ông cao lớn, hốc hác, đầu hói và toàn xương sọ, với cặp mắt trũng sâu, nước da màu sáp ong và, dưới cái mũi dài gồ lên, có một vài sợi lông màu hung. Thầy từ chối dạy tư cho tôi, nhưng hứa sẽ "theo sát" tôi. Tôi chẳng đòi hỏi gì hơn thế: tôi rình ánh mắt của thầy trong giờ học; thầy chỉ nói cho tôi thôi, tôi tin chắc là như vậy; tôi nghĩ là thầy yêu quý tôi, tôi yêu quý thầy, một vài lời nói tốt lành làm nốt phần việc còn lại: tôi đã trở thành một học sinh khá mà không cần cố gắng. Ông tôi lẩm bẩm trong miệng khi đọc những phiếu điểm cuối học kỳ, nhưng ông không nghĩ đến việc rút tôi ra khỏi trường trung học nữa. Lên lớp năm, tôi có những thầy giáo khác, tôi bị mất cách đối xử đặc ân nhưng tôi đã quen với sự dân chủ.
Việc học ở trường khiến tôi không có thời gian để viết; những mối giao tiếp mới lại làm mất đi đến cả ham muốn đó của tôi. Rốt cuộc tôi đã có bạn bè! Tôi, kẻ bị xua đuổi ở các công viên, mọi người đã chấp nhận tôi ngay từ ngày đầu tiên và với cách thức tự nhiên nhất trần đời: tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên. Thành thực mà nói thì các bạn của tôi có vẻ gần tôi hơn là những chàng Pardaillan trẻ tuổi đã từng làm tim tôi tan nát: đó là những học trò ngoại trú, những cậu con trai được mẹ cưng chiều, những học sinh chăm chỉ. Quan trọng gì đâu: tôi vui mừng khôn xiết. Tôi có hai cuộc sống. Trong gia đình, tôi tiếp tục trò giả vờ làm một người đàn ông. Nhưng lũ trẻ với nhau thì lại ghét những trò con nít: đó là những người đàn ông thực sự. Là người đàn ông giữa những người đàn ông, hằng ngày tôi rời khỏi trường trung học cùng với ba anh em nhà Malaquin, Jean, René, André, với Paul và Norbert Meyre, với Brun, với Max Bercot, với Grégoire, chúng tôi vừa chạy vừa hò hét trên quảng trường Panthéon, đó là một thời điểm hạnh phúc quan trọng: tôi rũ bỏ vỏ hài kịch gia đình; không hề muốn nổi bật, tôi cười theo mọi người, tôi lặp lại những mật hiệu và những câu nói hài hước, tôi im lặng, tôi tuân lệnh, tôi bắt chước những cử chỉ của các bạn bên cạnh tôi, tôi chỉ có một ham mê: hòa nhập. Gầy, rắn rỏi và vui vẻ, tôi cảm thấy mình cứng cỏi như thép, rốt cuộc tôi đã được giải thoát khỏi tội lỗi hiện sinh: chúng tôi chơi bóng, giữa khách sạn Các Vĩ Nhân và bức tượng Jean-Jacques Rousseau, tôi là người không thể thiếu được: the right man in the right place. Tôi không còn ghen tị gì nữa với ông Simonnot: khi lừa bóng qua Grégoire, Meyre có thể chuyền bóng cho ai nếu như tôi, chính tôi, không có mặt ở đây, lúc này? Những mơ ước vinh quang của tôi xem ra nhạt nhẽo và u ám biết bao bên cạnh những trực cảm vụt lóe giúp tôi khám phá ra sự cần thiết của mình.
Không may những thứ đó lại tắt nhanh hơn là rực sáng. Những trò chơi của chúng tôi khiến chúng tôi bị "kích động quá mức", như các bà mẹ của chúng tôi đã nói, và thỉnh thoảng lại biến các nhóm của chúng tôi thành một đám nhỏ nhất trí mà trong đó tôi chìm nghỉm; nhưng chúng tôi không bao giờ có thể quên được lâu cha mẹ mình mà sự hiện diện vô hình của họ khiến chúng tôi nhanh chóng rơi lại vào sự cô độc chung của các bầy thú. Không mục tiêu, không đích tới, không thứ bậc, lũ chúng tôi dao động giữa trạng thái hợp nhất hoàn toàn và trạng thái đứng sát cạnh nhau. Cùng nhau, chúng tôi sống trong sự thật nhưng chúng tôi không thể chống lại thứ tình cảm được gán cho đứa này đứa khác trong bọn và chống lại cái cảm giác rằng chúng tôi từng người một lại thuộc về những tập thể ngọn nguồn, nhỏ hẹp và đầy quyền lực, nơi sáng tạo ra những huyền thoại cuốn hút, nơi người ta được nuôi dưỡng bởi sai lầm và nơi người ta áp đặt cho chúng tôi ý muốn độc đoán của họ. Được cưng chiều và tuân theo lối cũ, nhạy cảm, thích lý sự, khiếp sợ sự hỗn loạn, ghét bạo lực và bất công, thống nhất và chia rẽ bởi niềm tin ngầm hiểu rằng thế giới đã được tạo nên cho chúng tôi sử dụng và cha mẹ mình là tốt nhất trần đời, chúng tôi mong muốn chẳng xúc phạm đến ai và giữ được lịch sự ngay cả trong những trò chơi của mình. Chế giễu, nhạo báng là những thứ bị cấm ngặt; có ai nổi nóng thì cả nhóm bèn vây quanh, làm cho cậu ta dịu đi, bắt cậu ta phải xin lỗi, cứ như là chính mẹ cậu ta trách mắng cậu ta qua miệng của Jean Malaquin hay Norbert Meyre vậy. Vả lại, tất cả các bà mẹ ấy đều quen biết nhau, và họ đối xử với nhau một cách tàn nhẫn: họ kể cho nhau nghe những lời nói của chúng tôi, những điều chúng tôi chỉ trích, những sự đánh giá của mỗi đứa đối với cả bọn; chúng tôi, những thằng con trai, chúng tôi giấu nhau những điều mà các bà mẹ nói. Mẹ tôi trở về vẻ bực tức sau khi đến chơi nhà bà Malaquin và bà này đã nói thẳng toẹt với mẹ tôi: “André cho là Poulou cứ làm bộ làm tịch." Nhận xét này chẳng làm tôi bối rối: các bà mẹ vẫn nói chuyện với nhau như thế; tôi chẳng giận André tí nào và không hé một lời với cậu ta về chuyện này. Tóm lại, chúng tôi tôn trọng cả thế giới, người giàu và người nghèo, lính tráng và thường dân, người trẻ và người già, con người và thú vật: chúng tôi chỉ coi thường bọn học bán trú và nội trú thôi: bọn đó phải có tội thế nào thì gia đình chúng mới bỏ rơi chúng chứ; có thể cũng có những bậc cha mẹ tồi tệ thật, nhưng điều đó cũng có thay đổi gì đâu: con thế nào thì xứng với cha thế ấy. Chiều tối, sau bốn giờ, khi những học trò ngoại trú tự do đã rời khỏi trường trung học, nơi đây trở thành một chốn quạnh hiu đầy hiểm họa.
Những tình bạn thận trọng đến thế không thể diễn ra thiếu đôi phần lạnh nhạt. Vào các kỳ nghỉ, chúng tôi chia tay nhau không luyến tiếc. Tuy vậy, tôi yêu quý Bercot. Là con trai của một góa phụ, cậu ấy như anh em của tôi. Cậu ấy đẹp trai, mảnh khảnh và hiền lành; tôi nhìn mái tóc đen dài để theo kiểu Jeanne d'Arc của cậu không biết chán. Nhưng nhất là, chúng tôi, cả người này lẫn người kia, đều có niềm kiêu hãnh là đã đọc đủ mọi thứ và chúng tôi tách riêng ra ở một góc sân chơi có mái che để nói chuyện văn chương, tức là để bắt đầu liệt kê đến lần thứ một trăm, mà vẫn cứ vui thích, những tác phẩm đã qua tay chúng tôi. Một hôm, cậu nhìn tôi với vẻ điên khùng và thổ lộ với tôi rằng cậu muốn viết văn. Sau này tôi gặp lại cậu ở lớp tu từ136, vẫn đẹp trai nhưng bị bệnh lao: cậu chết năm mười tám tuổi.
Tất cả chúng tôi, thậm chí cả Bercot chừng mực, đều ngưỡng mộ Bénard, một cậu bé yếu chịu rét và tròn trĩnh như một chú gà con. Tiếng đồn về những thành tích của cậu ta vang đến tận tai các bà mẹ của chúng tôi khiến các bà hơi khó chịu một chút nhưng vẫn đem cậu ta ra làm gương cho chúng tôi không biết chán mà lại chẳng làm cho chúng tôi ghét cậu ta được. Hãy đánh giá xem chúng tôi có thiên vị không: cậu ấy là học trò bán trú thế mà chúng tôi lại yêu quý cậu ấy hơn vì điều đó; trong mắt chúng tôi, đó là một học trò ngoại trú danh dự. Buổi tối, dưới ánh đèn gia đình, chúng tôi nghĩ tới nhà truyền giáo ấy đang ở lại nơi rừng rú để cải hóa bọn man rợ của ký túc xá và chúng tôi bớt sợ đi. Nói đúng ra thì chính bọn nội trú cũng tôn trọng cậu ấy. Giờ đây tôi không còn thấy rõ lắm những lý do của sự đồng tình nhất trí ấy. Bénard hiền lành, nhã nhặn, nhạy cảm; cùng với điều đó là môn nào cũng nhất. Thêm nữa, mẹ cậu nhịn ăn nhịn mặc vì cậu. Các bà mẹ của chúng tôi không giao thiệp với bác thợ may này nhưng họ thường xuyên nói với chúng tôi về bác ấy để cho chúng tôi đo được sự lớn lao của tình yêu người mẹ; chúng tôi thì lại chỉ nghĩ đến Bénard: cậu là ánh sáng, niềm vui của người đàn bà bất hạnh kia; chúng tôi đo sự lớn lao của tình cảm đứa con; rốt cuộc, tất cả mọi người đều mủi lòng trước những người nghèo tử tế ấy. Thế nhưng, điều đó dường như vẫn chưa đủ: thật ra, Bénard chỉ sống nửa chừng thôi; tôi chưa bao giờ nhìn thấy cậu ấy thiếu chiếc khăn len to sù sụ; cậu mỉm cười với chúng tôi một cách dễ thương nhưng nói ít và tôi nhớ là mọi người đã ngăn cậu tham gia vào những trò chơi của chúng tôi. Về phần tôi, sự yếu ớt của cậu càng chia rẽ chúng tôi với cậu thì tôi càng tôn sùng cậu hơn: cậu đã được đặt trong tủ kính; cậu chào và ra hiệu cho chúng tôi từ sau lớp kính nhưng chúng tôi không tới gần cậu: chúng tôi yêu quý cậu từ xa bởi ngay lúc còn sống, cậu đã có sự nhạt nhòa của các biểu tượng. Trẻ con thường thuận theo thói đời: chúng tôi biết ơn cậu đã đưa sự hoàn hảo đến mức phi cá tính. Khi cậu nói chuyện với chúng tôi, những câu nói tầm thường của cậu khiến chúng tôi phấn khởi; không bao giờ chúng tôi thấy cậu tức giận hay vui vẻ quá; ở trong lớp, cậu không bao giờ giơ tay, nhưng khi cậu được hỏi, Sự Thật lên tiếng qua miệng cậu; không do dự mà cũng chẳng hăng hái, vừa đúng như cách mà Sự Thật cần phải lên tiếng. Cậu khiến cái băng đảng trẻ thần đồng chúng tôi sửng sốt bởi cậu là người giỏi nhất mà chẳng phải thần đồng. Vào thời ấy, tất cả chúng tôi ít nhiều đều mồ côi cha: các Quý Ông ấy đã chết hoặc đang ở mặt trận, những người ở lại, ốm o, nhu nhược, thì tìm cách để cho những đứa con trai của họ quên họ đi; đó là thời trị vì của các bà mẹ: Bénard là hình ảnh phản chiếu cho chúng tôi thấy những tính năng tiêu cực của chế độ mẫu quyền đó.
Đến cuối mùa đông, cậu ấy chết. Lũ trẻ con và những người lính thường chẳng bận tâm mấy đến những người chết: thế nhưng chúng tôi có bốn mươi người khóc nức nở sau quan tài cậu. Các bà mẹ của chúng tôi lo toan chu đáo: hố sâu đuợc phủ đầy hoa; các bà làm đến mức khiến chúng tôi coi sự ra đi này như một giải thưởng đặc biệt hạng ưu được trao trong năm học. Vả lại Bénard đã sống ít đến nỗi cậu không chết thực sự: cậu ở lại giữa chúng tôi, với sự hiện diện lan tỏa và thiêng liêng. Ý thức đạo đức của chúng tôi đột nhiên thay đổi: chúng tôi đã có người quá cố yêu quý của mình, chúng tôi nói về cậu với giọng khẽ khàng, với một thú vui sầu muộn. Có thể chúng tôi, giống như cậu, cũng sẽ bị chết sớm: chúng tôi tưởng tượng ra những giọt nước mắt của mẹ mình và chúng tôi tự cảm thấy mình quý giá. Tuy vậy, phải chăng tôi đã nằm mơ? Tôi vẫn lờ mờ giữ ký ức về một điều hiển nhiên tàn nhẫn: bà thợ may ấy, người góa phụ ấy, bà ấy đã mất tất cả. Phải chăng tôi đã thực sự nghẹt thở vì ghê sợ trước ý nghĩ này? Phải chăng tôi đã thoáng nhìn thấy Cái Ác, thấy sự vắng mặt của Chúa trời, thấy một thế giới mà người ta không sống nổi? Tôi tin là như vậy: nếu không, tại sao trong tuổi thơ bị chối bỏ, bị lãng quên, bị đánh mất của tôi, hình ảnh Bénard lại giữ được sự rõ ràng đau đớn thế?
Vài tuần sau đó, lớp năm A I là sân khấu của một sự kiện đặc biệt: trong giờ học tiếng Latin cánh cửa mở ra, Bénard bước vào, được ông gác cổng hộ tống, cậu chào ông Durry, thầy giáo của chúng tôi, và ngồi xuống. Tất cả chúng tôi đều nhận ra cặp kính gọng sắt của cậu, chiếc khăn choàng cổ của cậu, cái mũi hơi gồ lên của cậu, cái vẻ gà con sợ rét của cậu: tôi đã tưởng rằng Chúa trời trả lại cậu cho chúng tôi. Thầy Durry dường như cũng sững sờ như chúng tôi: thầy ngừng lại, hít hơi mạnh rồi hỏi: "Họ, tên, học theo dạng nào, nghề nghiệp cha mẹ." Bénard trả lời rằng cậu học bán trú và là con của một kỹ sư, rằng cậu tên là Paul-Yves Nizan. Tôi là người sửng sốt nhất trong bọn; vào giờ ra chơi, tôi thử làm thân với cậu, cậu hưởng ứng: chúng tôi kết bạn với nhau. Tuy vậy có một chi tiết khiến tôi linh cảm rằng tôi không đối diện với Bénard mà là với phiên bản nhái hắc ám của cậu: Nizan bị lé mắt. Đã quá muộn để cân nhắc đến chuyện này: tôi đã yêu quý sự hiện thân của Cái Thiện trong gương mặt ấy; rốt cuộc tôi lại yêu quý cậu vì chính cậu. Tôi đã bị mắc bẫy, việc hướng tới đức hạnh lại dẫn tôi đến chỗ thương yêu Ác Quỷ. Thực ra mà nói, cậu Bénard giả cũng chẳng độc ác gì cho lắm: cậu sống, có vậy thôi; cậu có tất cả các phẩm chất của người giống hệt cậu, nhưng đã bị suy biến đi. Ở cậu, tính cách dè dặt của Bénard biến thành sự che giấu: khi sững sờ bởi những cảm xúc dữ dội và ngoài ý muốn, cậu không gào thét nhưng chúng tôi thấy cậu tái nhợt đi vì tức giận, nói năng lắp bắp: điều mà chúng tôi cho là tính hiền lành chỉ là một sự tê liệt nhất thời; không phải là sự thật được bày tỏ qua miệng cậu mà là một kiểu khách quan ngạo ngược và phóng túng khiến chúng tôi ngại ngùng bởi không quen với điều đó và, dù rằng cậu rất yêu cha mẹ mình, tất nhiên rồi, cậu là người duy nhất nói về họ một cách mỉa mai. Ở lớp, cậu không xuất sắc bằng Bénard; trái lại, cậu đọc nhiều và muốn viết văn. Tóm lại, đó là một con người trọn vẹn và không có gì làm tôi ngạc nhiên hơn là thấy một con người dưới những đường nét của Bénard. Bị ám ảnh bởi sự giống nhau ấy, tôi không bao giờ biết là phải ca ngợi cậu vì đã phô bày vẻ ngoài của đức hạnh hay là phải chê trách cậu vì chỉ có mỗi cái vẻ ngoài đó mà thôi và tôi không ngừng chuyển từ niềm tin mù quáng sang sự ngờ vực không suy xét. Chúng tôi chỉ trở thành những người bạn thực sự sau đó rất lâu, sau một thời gian dài xa cách.
Trong vòng hai năm những sự kiện và những cuộc gặp gỡ ấy đã khiến cho các suy nghĩ trăn trở của tôi tạm ngừng nhưng không xóa bỏ được nguyên nhân của nó. Trên thực tế, về cơ bản, chẳng có gì thay đổi: sứ mệnh ấy đã được người lớn đặt vào tôi trong phong bì niêm phong, tôi không nghĩ đến nó nữa nhưng nó vẫn còn nguyên. Nó đã xâm chiếm con người tôi. Lúc chín tuổi, ngay cả trong những khi quá đà tệ hại nhất tôi vẫn tự kiểm soát bản thân. Lúc mười tuổi, tôi không còn để mắt đến mình nữa. Tôi chạy với Brun, tôi trò chuyện với Bercot, với Nizan: trong khi đó, bị bỏ mặc để tự thân xoay xở, cái sứ mệnh hão của tôi đã tượng hình và, cuối cùng, đã ngả sang cái phần tối trong tôi; tôi không thấy lại nó nữa, nó nhào nặn tôi, lực hấp dẫn của nó tác động lên mọi thứ, uốn cong cây cối và những bức tường, tạo dựng vòm trời trên đầu tôi. Tôi đã coi mình là một ông hoàng, sự điên rồ của tôi là làm ông hoàng đó. Loạn thần kinh tính cách, một nhà phân tích trong đám bạn tôi nói vậy. Cậu ấy có lý: từ mùa hè năm 14 đến mùa thu năm 1916 sứ mệnh của tôi đã trở thành tính cách của tôi; sự hoang tưởng của tôi đã rời đầu óc tôi để ngấm vào xương tủy tôi.
Chẳng có gì mới xảy ra với tôi: tôi đã tìm lại được nguyên xi thứ mà tôi đã từng diễn trò, tiên đoán. Chỉ có một điểm khác biệt: không biết, không nói, tôi thực hiện mọi thứ một cách mù quáng. Hồi trước, tôi hình dung đời mình bằng những hình ảnh: cái chết của tôi gợi lên sự ra đời của tôi, sự ra đời của tôi đẩy tôi về phía cái chết của mình; ngay khi tôi từ bỏ việc nhìn thấy nó, chính tôi đã trở thành mối quan hệ qua lại ấy, tôi bị kéo căng như sắp đứt giữa hai thái cực này, sinh ra và chết đi ở mỗi nhịp đập của trái tim. Sự bất tử sau này đã trở thành tương lai cụ thể của tôi: nó đập vào từng khoảnh khắc vu vơ, ở giữa sự chú ý sâu sắc nhất, nó là một thoáng lơ đãng còn sâu sắc hơn, là sự trống rỗng đầy viên mãn, là đôi chút không thực của thực tế; nó hủy hoại, từ xa, hương vị của chiếc kẹo caramen trong miệng tôi, những nỗi buồn và những niềm vui trong tim tôi; nhưng nó lại cứu vớt cái thời điểm đáng chán nhất chỉ vì một lý do rằng thời điểm đó đến sau cùng và đem tôi lại gần với nó; nó cho tôi lòng kiên nhẫn để sống: không bao giờ tôi còn muốn bỏ qua hẳn hai mươi năm, lướt qua hai mươi năm khác nữa, không bao giờ tôi còn tưởng tượng đến những ngày thắng lợi xa xăm của mình; tôi chờ đợi. Mỗi một giây phút tôi lại chờ đợi giây phút sau bởi lúc tiếp theo được rút ra từ chính lúc trước đó. Tôi sống thanh thản trong tình huống cực kỳ khẩn cấp: luôn luôn đi trước chính mình, mọi thứ đều thu hút tôi, không có gì giữ tôi lại được. Thật nhẹ lòng biết bao! Thuở trước những ngày của tôi giống nhau đến nỗi đôi khi tôi cứ tự hỏi phải chăng mình đã bị bắt buộc chịu đựng sự luân hồi vĩnh hằng của vẫn một ngày ấy thôi. Những ngày đó đã không thay đổi nhiều, chúng vẫn giữ thói quen xấu vừa nặng nề buông xuống vừa run rẩy; nhưng tôi, tôi đã thay đổi trong những ngày ấy: không phải là thời gian đã trôi ngược lại trên tuổi thơ ngưng đọng của tôi nữa, mà đó là tôi, mũi tên phóng ra theo mệnh lệnh, đã xuyên thủng thời gian và lao thẳng tới đích. Năm 1948, ở Utrecht, giáo sư Van Lennep có cho tôi xem các trắc nghiệm phóng chiếu. Một tấm bìa nào đó đã khiến tôi phải chú ý: trên đó có hình một con ngựa đang phi nước đại, một người đàn ông đang bước đi, một con đại bàng đang sải cánh bay, một chiếc xuồng máy đang lao vút; đối tượng trắc nghiệm cần phải chỉ ra hình vẽ gây cho mình cảm giác tốc độ mạnh nhất. Tôi nói: "Đó là chiếc xuồng." Sau đó tôi tò mò nhìn cái hình vẽ đã gây ấn tượng mạnh đến thế: chiếc xuồng dường như đang bứt khỏi mặt hồ, chỉ một khoảnh khắc nữa thôi hẳn là nó sẽ bay lượn phía trên mặt nước gọn sóng uể oải kia. Ngay tức khắc tôi thấy rõ lý do lựa chọn của mình: lúc mười tuổi tôi đã từng có cảm giác rằng mũi tàu của tôi rạch đường đi qua hiện tại và giật tôi ra khỏi đó; kể từ khi ấy tôi cứ chạy, giờ tôi vẫn còn chạy. Dưới mắt tôi, tốc độ không được nhận thấy rõ ở khoảng cách đã vượt qua trong một quãng thời gian xác định bằng ở sức giật.
Hơn hai mươi năm trước, vào một buổi tối khi đi ngang qua quảng trường Ý, Giacometti137 đã bị một chiếc ô tô đâm phải. Bị thương, chân bị trẹo, lúc rơi vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh thoạt tiên anh cảm thấy một thứ gì như là niềm vui. "Rốt cuộc thì cũng có điều gì đó xảy ra với mình." Tôi biết thái độ triệt để của anh: anh chờ đợi điều tồi tệ nhất; cuộc đời này mà anh yêu tới mức không muốn có bất cứ một cuộc đời nào khác nữa, nó đã bị đảo lộn, bị đứt đoạn có lẽ bởi sự tàn bạo ngu xuẩn của ngẫu nhiên: "Vậy là, anh tự nhủ, mình không phải được sinh ra để tạc tượng, thậm chí cũng chẳng phải là để sống, mình chẳng được sinh ra để làm gì hết." Điều làm anh phấn khích là thứ trật tự đáng ngại của các nguyên nhân bỗng đột nhiên bị lộ ra và là việc dán ánh mắt như hóa đá vì tai họa vào ánh đèn thành phố, vào mọi người, vào chính tấm thân mình đang nằm bẹp trong bùn đất: đối với một nhà điêu khắc, chất liệu đất đá luôn có ở xung quanh. Tôi thán phục cái ý muốn đón nhận mọi thứ ấy. Nếu yêu thích những điều bất ngờ thì phải yêu đến tận như thế, đến tận những chớp lóe hiếm hoi tiết lộ cho những kẻ tài tử rằng trái đất không được tạo ra cho họ.
Lúc mười tuổi, tôi cho rằng mình chỉ thích những điều bất ngờ. Mỗi mắt xích của đời tôi đều phải là thứ không lường trước được, đều phải mới tinh. Tôi chấp nhận trước những chuyện bất trắc, những điều rủi ro và, để công bằng, cần phải nói rằng tôi đã tỏ ra thân thiện với những chuyện đó. Một buổi tối đèn điện tắt: bị mất điện; từ một phòng khác mọi người gọi tôi, tôi bèn bước đi với hai tay dang ra và đập đầu vào một cánh cửa ra vào mạnh đến nỗi bị gãy mất một cái răng. Điều đó làm tôi thích thú, dù bị đau, tôi vẫn cười. Cũng giống như Giacometti sau này hẳn là đã cười về cái chân của mình nhưng lại vì những lý do hoàn toàn trái ngược. Bởi tôi đã quyết định từ trước rằng câu chuyện đời tôi sẽ có một kết cục hạnh phúc, nên điều không lường trước được chỉ có thể là một trò lừa, điều mới lạ chỉ có thể là một hiện tượng bề ngoài, sự đòi hỏi của dân chúng, khi làm cho tôi được sinh ra, đã giải quyết mọi sự từ trước: tôi nhìn thấy ở cái răng gãy ấy một dấu hiệu, một lời cảnh báo tối nghĩa mà sau này tôi sẽ hiểu. Nói một cách khác, tôi bảo toàn trật tự của các đích tới trong mọi tình huống, bằng mọi giá; tôi nhìn đời mình qua cái chết của mình và chỉ thấy một ký ức đóng kín không gì có thể thoát ra, không gì có thể lọt vào. Có thể hình dung được sự an toàn của tôi? Những điều ngẫu nhiên không tồn tại: tôi chỉ phải đương đầu với những điều ngẫu nhiên giả mạo xảy đến theo ý trời. Báo chí làm cho người ta tưởng rằng có những thế lực tản mát lẩn quất trên đường phố, làm hại dân thường: tôi, người đã được tiền định, tôi sẽ không gặp phải những thứ như thế. Có thể tôi sẽ mất một cánh tay, một cái chân, hai con mắt. Nhưng tất cả đều theo cách: những nỗi bất hạnh của tôi bao giờ cũng chỉ là những thử thách, những phương tiện để làm ra một cuốn sách. Tôi đã học được cách chịu đựng buồn đau và bệnh tật: tôi thấy ở đó những bước đầu để đi tới cái chết huy hoàng của mình, những nấc thang mà cái chết tạo ra để đưa tôi lên tới nó. Sự chăm sóc có phần dữ dội ấy không làm tôi phật ý và tôi hết sức mong muốn tỏ ra xứng đáng với nó. Tôi coi sự tồi tệ nhất như là điều kiện để đạt được sự tốt đẹp nhất; ngay cả những lỗi lầm của tôi cũng có ích, như vậy tức là tôi chẳng phạm lỗi nào. Mười tuổi, tôi đã tin chắc về bản thân: tầm thường, không thể được đời chấp nhận, tôi nhìn thấy ở những thất bại của mình các điều kiện dẫn đến thắng lợi sau khi tôi chết. Dù bị mù mắt hay cụt chân, bị lạc lối do những sai lầm, tôi sẽ thắng cả cuộc chiến sau khi thua nhiều trận đánh. Tôi không phân biệt các thử thách dành cho những người được ân sủng với những thất bại mà trách nhiệm thuộc phần tôi, điều đó có nghĩa rằng tôi thấy những tội lỗi của mình, về thực chất, là những rủi ro và tôi nhận trách nhiệm về những chuyện không may của mình như đó là lỗi của bản thân; trên thực tế, tôi không thể mắc bệnh, dù là lên sởi hay sổ mũi, mà không tuyên bố rằng mình là thủ phạm: tôi đã mất cảnh giác, tôi đã quên mặc măng tô, quên quàng khăn. Tôi bao giờ cũng thích kết tội mình hơn kết tội thế giới; chả phải vì tử tế đâu: đó là để chỉ phải phụ thuộc vào chính mình mà thôi. Sự kiêu ngạo ấy không loại trừ tính khiêm nhường: tôi càng sẵn lòng tin rằng mình có thể phạm sai lầm hơn khi những khuyết điểm của tôi chắc chắn là con đường ngắn nhất để đi tới Cái Thiện. Tôi tìm cách để cảm thấy trong sự biến chuyển của đời mình một súc hút không thể cưỡng lại cứ không ngừng buộc tôi đạt được những tiến bộ mới, bất kể tôi có muốn hay không.
Mọi đứa trẻ đều biết là chúng đang tiến bộ. Vả lại người ta không cho phép chúng không biết điều đó: "Cần phải tiến bộ hơn, đang trên đà tiến bộ, tiến bộ đáng kể và đều đặn..." Người lớn kể cho chúng tôi nghe về lịch sử Pháp: sau Đệ nhất Cộng hòa, cái nền cộng hòa hãy còn bấp bênh ấy, thì có đệ nhị rồi đệ tam là một chính thể vững mạnh: việc gì cũng phải quá tam ba bận mới xong. Tinh thần lạc quan tư sản thời ấy được tóm tắt trong chương trình của phe cấp tiến: của cải vật chất dồi dào tăng lên, xóa bỏ đói nghèo bằng cách nhân rộng tri thức và tầng lớp chủ sở hữu nhỏ. Chúng tôi, những quý ông trẻ tuổi, người ta đã đặt trong tầm tay chúng tôi tinh thần lạc quan ấy và chúng tôi hài lòng phát hiện ra rằng những tiến bộ cá nhân của mình thể hiện lại những tiến bộ của quốc gia. Tuy vậy, hiếm có người muốn vượt cha ông mình: đối với đa số, chỉ cần đạt đến lứa tuổi trưởng thành; sau đó họ sẽ ngừng lớn và ngừng phát triển: chính thế giới xung quanh họ mới là thứ cần phải tự phát tốt lên và tiện nghi hơn. Một số người trong chúng tôi chờ đợi thời điểm ấy với sự nôn nóng, một số người khác thì với nỗi lo sợ và số khác nữa thì lại đầy luyến tiếc, về phần tôi, trước khi được trao sứ mệnh, tôi lớn lên với thái độ thờ ơ: áo toga loại nào thì tôi cũng cóc cần138. Ông ngoại tôi cho rằng tôi bé tí teo và phiền lòng về điều đó: "Nó sẽ có chiều cao của họ nhà Sartre", bà tôi nói để chọc tức ông. Ông làm ra vẻ không nghe thấy, ông đứng yên trước mặt tôi và nhìn tôi từ đầu đến chân: "Nó đang lớn lên! cuối cùng ông nói mà không tin tưởng lắm. Tôi chẳng chia sẻ cả nỗi lo lẫn niềm hy vọng của ông: cỏ dại thì cũng lớn lên đây thôi; đó là bằng chứng cho thấy hết ngu dại. Vấn đề của tôi lúc đó, là phải trở nên tốt in aeternum139. Tất cả đã thay đổi khi cuộc đời tôi bắt đầu tăng tốc: chỉ làm việc tốt thôi thì không còn đủ nữa, phải làm tốt hơn ở mọi lúc. Tôi chỉ còn có một nguyên tắc: trèo lên. Để nuôi dưỡng những tham vọng của mình và để che giấu sự quá mức của chúng, tôi sử dụng kinh nghiệm chung: trong những tiến bộ chưa ổn định của mình khi còn nhỏ tôi muốn nhìn thấy những hiệu quả đầu tiên mà định mệnh của mình tạo ra. Những điều tốt lên có thật nhưng nhỏ bé và rất tầm thường ấy gây cho tôi ảo tưởng thấy được sức đi lên của mình. Là đứa trẻ sống giữa nhiều người, trước mặt người khác tôi cũng theo sự huyễn tưởng của giai cấp và thế hệ mình: chúng ta tận hưởng những kiến thức đã có được từ trước, chúng ta tích lũy kinh nghiệm, hiện tại giàu có lên bởi toàn bộ quá khứ. Khi chỉ có một mình thì còn lâu tôi mới thỏa mãn với điều đó. Tôi không thể chấp nhận được rằng người ta tiếp nhận bản thể từ bên ngoài vào, rằng nó được bảo toàn nhờ quán tính và những biến chuyển của tinh thần là kết quả của những biến chuyển có từ trước. Sinh ra từ một sự chờ đợi của tương lai tôi vọt lên, rực sáng, trọn vẹn và lặp lại nghi lễ ra đời của mình trong từng khoảnh khắc: ở những thay đổi của trái tim mình tôi muốn thấy chóp lửa bùng lên lách tách. Vậy thì tại sao quá khứ lại làm tôi giàu có lên được? Nó không tạo ra tôi, trái lại, đó chính là tôi, tái sinh từ tro cốt của mình, đã kéo ký ức của bản thân ra từ hư vô bằng một sự sáng tạo tái lặp mãi mãi. Tôi tái sinh thành người tài giỏi hơn và tôi sử dụng tốt hơn vốn tích trữ đang ngủ yên trong hồn mình bởi lý do đơn giản là mỗi một lần cái chết đến gần hơn, nó lại chiếu rọi tôi chói chang hơn bằng thứ ánh sáng thần bí của nó. Tôi thường nghe nói: quá khứ thúc đẩy chúng ta, nhưng tôi tin chắc rằng tương lai lôi kéo tôi; hẳn là tôi đã khó chịu nếu cảm thấy trong mình những năng lượng từ tốn vận hành, những thiên khiếu nảy nở chậm rãi. Tôi đã nhồi nhét sự tiến bộ liên tục của giới tư sản vào hồn mình và biến nó thành một thứ máy nổ; tôi hạ thấp quá khứ trước hiện tại và hiện tại trước tương lai, tôi biến thuyết tiến hóa êm ả thành một thứ thuyết tai biến có tính cách mạng và đứt quãng. Mấy năm trước, người ta đã lưu ý tôi rằng các nhân vật trong kịch và tiểu thuyết của tôi thường đưa ra quyết định một cách đột ngột và vào thời điểm khủng hoảng, rằng, chẳng hạn, chỉ cần một khoảnh khắc là đủ để Oreste trong vở kịch Ruồi140 hoàn thành sự biến cải bản thân. Dĩ nhiên: tôi tạo ra họ theo hình mẫu của tôi mà lại; tuyệt nhiên không phải là như tôi trên thực tế, hẳn thế rồi, mà là như tôi muốn được như vậy.
Tôi đã trở thành kẻ phản bội và tôi vẫn là như thế. Tôi có dấn thân hoàn toàn vào điều mình đang thực hiện, có dành trọn vẹn bản thân cho công việc, cho nỗi tức giận, cho tình bạn, thì cũng chẳng ích gì, chỉ trong chốc lát tôi sẽ tự chối bỏ, tôi biết vậy, tôi muốn vậy và chưa chi tôi đã phản bội mình, với đầy đam mê, bởi linh cảm vui sướng về sự phản bội của mình trong tương lai. Nói đại thể, tôi giữ những cam kết của mình cũng như mọi người; ổn định trong tình cảm và trong lối cư xử nhưng tôi lại bội bạc với những cảm xúc của mình: những công trình kiến trúc, những bức tranh, những phong cảnh, đã có thời thứ được xem sau cùng là thứ đẹp nhất; tôi làm mất lòng bạn bè khi gọi lại một kỷ niệm chung mà đối với họ vẫn đáng quý, bằng thái độ bất cần đời hoặc chỉ đơn giản là hời hợt - để tự thuyết phục rằng mình đã dứt ra được khỏi những chuyện ấy. Do không đủ yêu mình, tôi lẩn tránh một cách mù quáng; kết quả: tôi càng ít yêu bản thân hơn, quá trình tiến triển nghiệt ngã này không ngừng làm mất giá trị của tôi trong chính mắt mình: hôm qua tôi cư xử tệ vì đó là hôm qua và hôm nay tôi đã cảm thấy trước sự đánh giá nghiêm khắc mà tôi sẽ dành cho mình ngày mai. Đặc biệt, không có chuyện bát nháo bỏ chung một rọ: tôi tách quá khứ của mình ra ở một khoảng cách đáng kể. Thời niên thiếu, tuổi trưởng thành, cái năm vừa mới qua đi, những thứ đó sẽ luôn luôn là Chế độ Cũ: Chế độ Mới được báo hiệu trong thời điểm hiện tại nhưng chẳng bao giờ được thiết lập: ngày mai thì lại khất lần ngày kia. Đặc biệt, những năm đầu đời của mình, tôi đã xóa bỏ: khi bắt đầu viết cuốn sách này, tôi đã phải mất nhiều thời gian để giải mã những năm ấy dưới những nét gạch xóa. Bạn bè ngạc nhiên hồi tôi ba mươi tuổi: "Cậu cứ như là không từng có cha mẹ ấy nhỉ. Cũng chẳng có tuổi thơ." Và tôi đã ngu ngốc mà hãnh diện về điều đó. Tuy vậy, tôi yêu quý và kính trọng sự trung thành khiêm nhường và bền bỉ mà một số người - nhất là phụ nữ - gìn giữ đối với các sở thích, các ham muốn, các hoạt động trước đây của họ, đối với các lễ hội đã mất đi, tôi ngưỡng mộ ý chí của họ trong việc vẫn giữ mình nguyên như cũ giữa những đổi thay, trong việc bảo toàn ký ức của mình, trong việc mang theo vào cõi chết con búp bê đầu tiên, chiếc răng sữa đầu tiên, tình yêu đầu tiên. Tôi biết có những người đàn ông lúc tuổi xế chiều đã ngủ với một người đàn bà già nua chỉ vì lý do duy nhất là thời trẻ họ đã từng ước muốn người đàn bà ấy; những người khác thì giữ mối thù đối với người đã chết hoặc thà đánh nhau còn hơn là thừa nhận một lỗi nhẹ mà mình phạm phải hai mươi năm trước. Tôi thì tôi chẳng giữ mối thù nào và tôi thú nhận hết, một cách vui lòng: về chuyện tự phê bình, tôi là người có khiếu, với điều kiện là người ta đừng có ý định áp đặt chuyện đó cho tôi. Năm 1936, năm 1945, người ta đã làm tình làm tội cái kẻ mang tên tôi: chuyện đó có liên quan gì đến tôi? Tôi buộc kẻ đó phải trả giá vì những sự lăng nhục đã phải hứng chịu ấy: cái gã đần độn này thậm chí chẳng biết cách làm cho người ta tôn trọng mình. Một người bạn cũ gặp tôi; kể lể cay đắng: anh ta vẫn giữ một niềm oán trách suốt mười bảy năm trời; trong một tình huống nhất định, tôi đã không tôn trọng anh. Tôi lờ mờ nhớ lại là, hồi đó, tôi đã tự vệ bằng cách phản công, rằng tôi đã chê trách anh về sự nhạy cảm quá mức, về thói hoang tưởng bị hại của anh, tóm lại là tôi có cách nhìn của mình về sự cố này: điều đó lại chỉ làm cho tôi vội vã hơn trong việc chấp nhận cách nhìn của anh; tôi nhất trí hoàn toàn với quan điểm của anh, tôi dồn dập kết tội mình: tôi đã cư xử hợm hĩnh, ích kỷ, tôi là kẻ nhẫn tâm; đó là một cuộc triệt hạ vui vẻ: tôi khoái trá về sự sáng suốt của mình; thừa nhận lỗi của mình với đầy thiện ý như vậy, đó là chứng tỏ với bản thân rằng mình không thể phạm những lỗi ấy nữa. Người ta có thể tin điều đó được không? Lòng trung thực của tôi, sự thú tội cao thượng của tôi chỉ làm cho kẻ khiếu nại bực tức. Anh ta chặn đứng tôi lại, anh biết là tôi lợi dụng anh: chính tôi là người mà anh oán giận, chính cái thằng tôi sống động, ở hiện tại, ở quá khứ, vẫn là cái kẻ mà anh đã từng biết nhưng tôi thì bỏ lại cho anh một di hài bất động vì cái thú vui được cảm thấy mình như một đứa trẻ mới sinh ra. Rốt cuộc đến lượt tôi cũng nổi giận với cái gã điên cứ đi đào bới xác chết ấy. Trái lại, nếu như người ta có nhắc với tôi một vài tình huống mà, như mọi người nói, tôi đã tỏ ra không đến nỗi tệ, tôi bèn gạt phắt kỷ niệm ấy đi; mọi người tưởng tôi khiêm tốn nhưng hoàn toàn ngược lại: tôi nghĩ rằng ngày hôm nay tôi sẽ làm tốt hơn và ngày mai còn tốt hơn nhiều nữa. Các nhà văn đứng tuổi không thích người ta khen ngợi họ quá nồng nhiệt về tác phẩm đầu tiên của họ: nhưng tôi, tôi tin chắc điều này, tôi là người mà những lời khen như vậy ít làm vui lòng nhất. Cuốn sách hay nhất của tôi là cuốn mà tôi đang viết; ngay sau đó là cuốn được xuất bản mới nhất nhưng tôi đã chuẩn bị, một cách âm thầm, để sắp tới sẽ chán ngấy nó. Các nhà phê bình hôm nay cứ việc chê cuốn sách đó dở đi, có thể họ sẽ làm tôi mếch lòng, nhưng sáu tháng nữa tôi sẽ gần như đồng ý với họ. Tuy nhiên với một điều kiện: dù họ đánh giá tác phẩm ấy là nghèo nàn và kém cỏi đến thế nào đi nữa, tôi muốn họ vẫn đặt nó lên trên tất cả những gì tôi đã viết trước nó; tôi bằng lòng để cả mớ bị mất giá miễn là người ta duy trì thứ bậc theo trình tự thời gian, thứ duy nhất giữ được cho tôi cái cơ may ngày mai sẽ viết tốt hơn, ngày kia còn tốt hơn nữa và kết thúc bằng một kiệt tác.
Đương nhiên tôi chẳng dễ bị lừa: tôi thấy rõ là chúng ta thường tự lặp lại mình. Nhưng cái nhận thức mới có được này chỉ làm mai một dần những tín điều hiển nhiên trước đây của tôi mà không xóa bỏ hoàn toàn được chúng. Đời tôi có một vài nhân chứng kỹ tính không bỏ qua cho tôi bất cứ điều gì hết; họ thường bắt gặp tôi lại vẫn rơi vào những vết xe đổ cũ. Họ nói với tôi điều đó, tôi tin họ và rồi, đến phút cuối, tôi lại tự khen mình: hôm qua thì tôi mù quáng; tiến bộ của tôi hôm nay là đã hiểu ra rằng mình không tiến bộ nữa. Đôi khi, chính tôi là nhân chứng buộc tội mình. Chẳng hạn tôi nhận thấy rằng, hai năm trước, tôi đã viết một trang có thể có ích cho tôi. Tôi đi tìm nhưng không thấy trang đó; càng tốt: vì nhượng bộ thói lười biếng, suýt nữa thì tôi đã nhét một thứ cũ kỹ vào một tác phẩm mới: giờ đây tôi viết hay hơn bao nhiêu, tôi sẽ viết lại. Khi tôi đã làm xong việc đó, một sự tình cờ khiến tôi tìm lại được trang viết bị thất lạc. Sững sờ: trừ một vài dấu phẩy, tôi đã diễn đạt chính ý tưởng ấy bằng chính những từ ngữ ấy. Tôi do dự và rồi tôi vứt cái tài liệu đã cũ rích vào sọt rác, tôi giữ lại bản mới: nó có cái gì đó mà tôi không rõ tốt hơn bản cũ. Tóm lại là tôi tự dàn xếp: vỡ mộng, tôi tự thay đổi bản thân một cách gian lận để vẫn còn cảm thấy được niềm ngây ngất trẻ trung của người leo núi, bất chấp sự lão hóa đang làm tôi tàn tạ đi.
Lúc mười tuổi tôi còn chưa biết đến những thói gàn dở, những sự lặp lại của mình và nỗi nghi ngờ chưa thoáng hiện trong tôi: trong lúc chạy lon ton, nói liến thoắng, bị mê hoặc bởi những cảnh tượng trên đường phố, tôi không ngừng thay da đổi thịt và tôi nghe thấy những lóp da cũ của mình lần lượt rơi xuống. Khi tôi đi dọc lên theo phố Soufflot, ở mỗi bước chân, trong ánh lấp lóe lướt qua của các ô kính cửa hiệu, tôi cảm nhận được sự chuyển động của đời mình, quy luật của nó và cái sứ mệnh đẹp đẽ là bất tuân mọi thứ. Tôi mang theo mình trọn vẹn con người tôi. Bà ngoại tôi muốn mua lại cho đủ bộ bát đĩa của bà; tôi đi theo bà vào một cửa hàng bán đồ sứ và thủy tinh; bà chỉ vào một chiếc liễn xúp có nắp đậy gắn hình quả táo đỏ nhô lên, những chiếc đĩa in hoa. Đó không hẳn là thứ mà bà muốn: những chiếc đĩa của bà, tất nhiên, có in hoa nhưng còn có cả hình những con côn trùng màu nâu bò dọc trên những cành hoa nữa. Đến lượt bà chủ cửa hàng sôi nổi: bà ta biết rất rõ thứ mà bà khách hàng muốn, bà ta đã từng có mặt hàng này, nhưng từ ba năm nay, người ta không sản xuất nó nữa; cái kiểu này mới hơn, giá hời hơn, vả lại, có côn trùng hay không thì hoa vẫn cứ là hoa chứ, đứng không nào, sẽ chẳng có ai đi vạch lá tìm sâu đâu, câu đó nói trong trường hợp này thật hợp. Bà tôi không tán thành ý kiến ấy, bà cố nài: có thể xem qua một chút trong kho được không? À, trong kho ạ, vâng, tất nhiên là được, nhưng phải mất thời gian mà bà chủ cửa hàng thì lại chỉ có một mình: nhân viên của bà vừa đi về mất rồi. Mọi người để tôi vào một xó và dặn tôi không được đụng vào bất cứ thứ gì, mọi người bỏ quên tôi đang khiếp sợ trước những đồ dễ vỡ xung quanh, trước những vật lóe sáng bụi bặm, trước chiếc mặt nạ thể hiện gương mặt đã chết của Pascal141, trước chiếc bô dùng cho phòng ngủ có hình đầu của tổng thống Fallieres. Vậy mà mặc dù vẻ ngoài như thế, tôi lại là một nhân vật phụ giả mạo. Là thế này, một số tác giả thường đẩy các "vai cầm cờ" lên phía trước sân khấu và giới thiệu những nhân vật chính của họ một cách thoáng qua không rõ mặt. Độc giả chẳng nhầm lẫn đâu: họ lướt qua chương cuối để xem tiểu thuyết kết thúc có hậu không, họ biết là chàng trai trẻ nhợt nhạt, đang đứng dựa bên lò sưởi, có ba trăm năm mươi trang ở trong lòng. Ba trăm năm mươi trang ái tình và phiêu lưu. Tôi thì có ít nhất năm trăm trang. Tôi là nhân vật chính của một câu chuyện dài kết thúc có hậu. Câu chuyện này, tôi đã thôi không tự kể cho mình nữa: để làm gì cơ chứ? Tôi tự cảm thấy mình đầy tính tiểu thuyết, thế thôi. Thời gian đang kéo lùi lại phía sau những bà già do dự, những bông hoa bằng sành và toàn bộ cửa hàng, những chiếc váy đen nhạt màu đi, những giọng nói trở nên nhẹ bỗng, tôi thấy thương bà tôi, chắc mọi người chẳng còn gặp lại bà ở phần hai nữa. Về phần tôi, tôi là khúc mở đầu, là khúc giữa và hồi kết gom lại trong một cậu bé tí teo nhưng đã già, đã chết, đang ở đây, trong bóng tối, giữa những chồng đĩa xếp cao hơn cậu ta và ở ngoài kia, rất xa, dưới ánh mặt trời tang tóc của vinh quang. Tôi là hạt vi thể ở điểm đầu quỹ đạo của mình và là chùm sóng dội ngược lại vào nó sau khi đập vào thanh chắn ở điểm đến. Tập hợp lại, dồn sát lại, một tay chạm vào nấm mồ của mình và tay kia chạm vào chiếc nôi của mình, tôi cảm thấy mình ngắn ngủi và rực rỡ, một cú sét bị bóng tối át đi.
Thế nhưng nỗi buồn chán không rời bỏ tôi; lúc thì kín đáo, lúc thì khiến mọi người phát ngán, tôi nhượng bộ thứ cám dỗ nguy hại nhất khi không chịu đựng nổi nỗi buồn chán nữa: vì thiếu kiên nhẫn Orphée đã để mất Eurydice142, vì thiếu kiên nhẫn tôi thường để mất chính mình. Mất phương hướng bởi tình trạng vô cồng rôi nghề, đã có lúc tôi quay lại nhìn sự điên rồ của minh khi lẽ ra phải quên nó đi, tôi lén lút duy trì nó và tập trung chú ý vào những đối tượng bên ngoài; vào những lúc ấy, tôi muốn hiện thực hóa mình ngay tức khắc, muốn chỉ bằng một ánh mắt là bao quát được ngay toàn bộ điều vẫn ám ảnh tôi khi tôi không nghĩ đến nó. Thật tai họa! Sự tiến bộ, thái độ lạc quan, những sự phản bội vui vẻ và mục đích thầm kín, tất cả những thứ mà tôi tự cho thêm vào lời tiên đoán của bà Picard đều sụp đổ. Lời tiên đoán thì vẫn còn nhưng tôi biết làm gì với nó? Do muốn bảo toàn mọi khoảnh khắc của tôi nên lời phán truyền rỗng tuếch ấy đã không tách riêng ra bất cứ khoảnh khắc nào; tương lai, đùng một cái trở nên khô quắt, chẳng còn là gì nữa ngoài một bộ xương, tôi tìm thấy lại nỗi khó khăn để tồn tại của minh và tôi nhận ra rằng nó chưa bao giờ rời bỏ tôi.
Một kỷ niệm không ngày tháng: tôi ngồi trên một chiếc ghế băng, ở vườn hoa Luxembourg: mẹ tôi bảo tôi ngồi nghỉ bên cạnh mẹ bởi tôi nhễ nhại mồ hôi, do đã chạy qua nhiều. Ít nhất trình tự nhân quả là như thế. Tôi buồn chán đến nỗi bèn kieu ngạo đảo ngược trình tự đó: tôi chạy bởi vì tôi cần phải nhễ nhại mồ hôi để tạo cho mẹ tôi cơ hội gọi tôi lại. Mọi thứ đều dẫn đến chiếc ghế băng này, mọi thứ đều phải dẫn đến đó. Vai trò của nó là gì? Tôi không biết và thoạt đầu tôi chẳng bận tâm đến điều đó: từ tất cả những ấn tượng lướt qua trong đầu tôi, sẽ không có một ấn tượng nào bị mất đi; có một mục đích: tôi sẽ biết được nó, cháu chắt tôi sẽ biết được nó. Tôi đung đưa đôi chân ngắn ngủn không chạm đất, tôi nhìn thấy đi ngang qua là một người đàn ông vác một gói đồ, một người đàn bà gù: điều đó sẽ có ích. Tôi tự nhắc lại với mình một cách phấn khích: "Điều cực kỳ quan trọng là mình phải ngồi lại." Sự buồn chán nhân lên; tôi không còn kiềm chế để khỏi đưa mắt liếc vội vào trong bản thân mình nữa: tôi không đòi hỏi những phát hiện giật gân mà tôi muốn đoán được ý nghĩa của giây phút này, cảm thấy được sự cấp bách của nó, có được một chút khả năng tiên đoán thiết yếu đầy bí ẩn mà tôi vẫn gán cho Musset, Hugo. Đương nhiên tôi chỉ nhìn thấy mờ mịt mù sương. Sự thỉnh cầu trừu tượng về sự cần thiết của tôi và thứ trực giác nguyên sơ về sự hiện hữu của tôi tồn tại bên nhau mà không giao tranh cũng chẳng trộn lẫn vào nhau. Tôi không còn nghĩ đến gì khác nữa ngoài việc trốn chạy, tìm lại cái tốc độ ù tai đã từng cuốn tôi đi: vô ích; phép mầu đã mất. Chân tôi như có kiến đốt, tôi vặn vẹo người. Vừa đúng lúc ông trời giao cho tôi một trách nhiệm mới: điều cực kỳ quan trọng là tôi lại phải chạy. Tôi nhảy vọt lên, tôi lao vun vút; đến cuối đường tôi quay lại: chẳng có gì nhúc nhích, chẳng có gì xảy ra. Tôi tự giấu bản thân nỗi thất vọng của mình bằng những lời nói: trong một căn phòng đã trang bị nội thất ở Aurillac, tôi khẳng định, vào khoảng năm 1945, cuộc chạy này sẽ có những hậu quả không thể đánh giá nổi. Tôi tỏ ra thỏa mãn, tôi phấn khích; để ép Chúa Thánh Linh, tôi chơi trò đòi ngài phải tin tôi: tôi thống thiết thề thốt xứng đáng với cơ hội mà ngài đã cho tôi. Tất cả đều rất mong manh, tất cả đều cực kỳ căng thẳng và tôi biết điều đó. Mẹ tôi đã lao đến bên tôi, này đây là áo len, là khăn quàng cổ, áo khoác: tôi để cho mình bị bọc lại, tôi là một gói đồ. Còn phải chịu đựng phố Soufflot, bộ ria mép của ông gác cổng, ông Trigon, tiếng lục khục của chiếc thang máy thủy lực. Cuối cùng thằng bé tai ương đang nuôi tham vọng đã lại ở trong thư viện, lê la từ ghế này sang ghế khác, lật qua các cuốn sách rồi quẳng đi; tôi đến gần cửa sổ, tôi nhận thấy một con ruồi dưới lớp rèm cửa, tôi làm cho nó bị kẹt vào chiếc bẫy bằng vải muslin và giơ về phía nó ngón tay trỏ chết chóc. Khoảnh khắc này nằm ngoài chương trình, được tách ra khỏi thời gian chung, đặt riêng sang một bên, vô song, bất động, chẳng dẫn đến điều gì hết cả tối nay lẫn mai sau: Aurillac sẽ mãi mãi chẳng biết đến sự vĩnh hằng mờ ảo ấy. Nhân Loại thiu thiu ngủ; còn nhà văn nổi tiếng - người này thì là một vị thánh không làm đau đến một con ruồi - ông ta lại vừa đi chơi. Đơn độc và thiếu vắng tương lai trong một phút giây ngưng đọng, một đứa trẻ tìm cảm giác mạnh ở việc giết chóc; bởi người ta từ chối cho tôi một định mệnh của con người, tôi sẽ là định mệnh của một con ruồi. Tôi chẳng vội vàng, tôi để cho nó có đủ thời gian để đoán nhận ra gã khổng lồ đang cúi về phía nó; tôi đẩy ngón tay lên, con ruồi tan xác, tôi đã bị chơi khăm! Lẽ ra không nên giết nó, trời ạ! Trong cả vũ trụ, đó là sinh vật duy nhất sợ tôi; tôi không còn được ai coi trọng nữa. Là kẻ đi giết sâu bọ, tôi đã chiếm chỗ của nạn nhân và đến lượt mình cũng trở thành sâu bọ. Tôi là con ruồi, tôi đã luôn luôn là con ruồi. Lần này thì tôi đã rơi hẳn xuống đáy. Tôi chẳng còn gì để làm nữa ngoài việc cầm lấy cuốn Những cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Corcoran ở trên bàn, vừa buông người xuống thảm vừa hú họa mở cuốn sách đã đọc đi đọc lại cả trăm lần ra, tôi chán chường, tôi buồn rầu đến nỗi không còn cảm giác căng thẳng nữa và, ngay từ dòng đầu tiên, tôi đã quên mình đi. Corcoran lùng sục trong thư viện vắng ngắt, khẩu súng cạc bin kẹp nách, con hổ cái của chàng bám sát theo; những bụi cây trong rừng rậm vội vã dàn xung quanh họ; ở đằng xa tôi đã trồng cây, lũ khỉ chuyền từ cành này sang cành khác. Đột nhiên Louison, con hổ cái, bỗng gầm lên. Corcoran đứng lặng: kẻ thù đây rồi. Chính cái thời điểm hồi hộp này là lúc mà vinh quang của tôi chọn để trở lại nơi trú ngụ của mình, Nhân Loại chọn để giật mình thức dậy và gọi tôi đến cứu, Chúa Thánh Linh chọn để thì thầm với tôi những lời xúc động sau: "Hẳn là con chẳng đi tìm ta nếu con đã không từng tìm thấy ta."143 Sự khen ngợi này sẽ phí hoài: chẳng có ai ở đây để nghe ngoài chàng Corcoran dũng mãnh. Như thể chỉ đợi lời tuyên bố ấy, Nhà Văn nổi tiếng trở về; một cậu chắt cúi mái tóc vàng trên câu chuyện đời tôi, nước mắt chảy ướt đôi mắt cậu, tương lai hiện lên, một tình yêu bất tận bao bọc tôi, những luồng sáng quay tròn trong tim tôi; tôi không nhúc nhích, tôi không hề đưa mắt nhìn vào ngày hội. Tôi tiếp tục đọc rất bình thản, cuối cùng ánh sáng tắt đi, tôi không cảm thấy gì nữa ngoài một nhịp điệu, một sự thôi thúc không cưỡng lại được, tôi khởi động, tôi đã khởi động, tôi tiến lên, động cơ kêu vù vù. Tôi cảm nhận thấy tốc độ của tâm hồn tôi.
Sự bắt đầu của tôi là như thế: tôi chạy trốn, những thế lực bên ngoài đã định hình cho sự trốn chạy của tôi và tạo nên tôi. Qua một quan niệm lỗi thời của văn hóa, tôn giáo lộ ra, được dùng làm hình mẫu: bởi tính chất ngây thơ, không có gì gần gũi với một đứa trẻ hơn thế cả. Người ta dạy cho tôi truyện tích Kinh Thánh, sách Phúc Âm, giáo lý Cơ Đốc mà không cho tôi phương tiện để tin: kết quả là một sự rối loạn đã trở thành thứ trật tự riêng của tôi. Có những sự xô lệch, có một sự dịch chuyển đáng kể: được lấy ra từ Công giáo, cái thiêng liêng được đặt vào văn học và người cầm bút xuất hiện, làm thế phẩm cho người Thiên Chúa giáo mà tôi không thể trở thành: công việc duy nhất của anh ta là cứu rỗi, việc anh ta lưu lại nơi hạ giới này không có mục đích nào khác là để làm cho anh ta xứng đáng được hưởng cực lạc sau khí chết bởi những thử thách mà anh ta chịu đựng với đầy phẩm cách. Cái chết biến thành một nghi lễ chuyển tiếp và sự bất tử dưới cõi trần hiện ra như là thứ thay thế cho cuộc sống vĩnh hằng. Để đảm bảo với tôi rằng loài người sẽ khiến tôi trường tồn người ta thuyết phục tôi tin chắc trong đầu là loài người sẽ không diệt vong. Tắt nghỉ trong lòng nhân loại, đó là sinh ra và trở thành vô biên nhưng nếu người ta trình bày trước tôi giả thuyết rằng có thể tới một ngày một thảm họa sẽ hủy diệt cả hành tinh, dù là sau năm mươi ngàn năm nữa, chắc tôi đã khiếp sợ; đến bây giờ vẫn vậy, đã vỡ mộng, tôi vẫn không thể không hãi hùng khi nghĩ đến chuyện mặt trời nguội lạnh đi: các đồng loại của tôi cứ việc quên tôi ngay sau đám tang tôi cũng được, có hệ trọng gì đối với tôi đâu; một khi họ còn sống thì tôi sẽ còn ám ảnh họ, sẽ là thứ không nắm bắt được, không tên, nhưng hiện diện trong từng người một giống như hàng tỷ người đã chết đang ở trong tôi mà tôi không biết và tôi đang giữ cho họ khỏi bị hủy diệt; nhưng lỡ mà nhân loại biến mất, nó sẽ thực sự giết những người chết của mình.
Huyền thoại rất đơn giản và tôi đã nuốt trôi nó chẳng khó khăn gì. Tin Lành và Công giáo, mối ràng buộc đồng thời với hai tôn giáo của tôi đã ngăn trở tôi tin vào các thánh, vào Đức Mẹ Đồng Trinh và cuối cùng là vào Chúa trời một khi mà người ta còn gọi họ bằng tên của họ. Nhưng một sức mạnh tập thể to lớn đã thâm nhập vào tôi; trú ngự trong tim tôi, nó rình đợi, đó là Đức tin của những người khác; chỉ cần thay tên và sửa đổi bề ngoài đối tượng thông thường của nó là đủ: nó nhận ra đối tượng ấy dưới những đồ ngụy trang đã lừa được tôi, nó lao vào thứ đó, siết chặt thứ đó trong nanh vuốt của minh. Tôi cứ tưởng trao mình cho văn học trong khi, thực ra, tôi bước vào đời tu hành. Trong tôi niềm xác tín của tín đồ khiêm nhường nhất đã trở thành điều hiển nhiên kiêu ngạo về số phận tiền định của mình. Người được tiền định, tại sao không? Mọi người Cơ Đốc giáo phải chăng không là người được ân sủng? Tôi, ngọn cỏ hoang dại, lớn lên trên nền đất phì nhiêu của Công giáo, gốc rễ của tôi hút ra từ đó những chất tinh túy và tôi biến nó thành nhựa sống của mình. Từ đó nảy sinh sự mù quáng sáng suốt mà tôi đã chịu đựng ba mươi năm. Một buổi sáng, năm 1917, ở La Rochelle, tôi đợi mấy người bạn hẹn đi cùng tôi đến trường trung học; họ đến muộn, chẳng bao lâu tôi không còn biết bày trò gì để tiêu khiển nữa và tôi quyết định nghĩ về Đấng Toàn Năng. Ngay lúc ấy ngài lao vụt xuống trong không trung và biến mất mà không giải thích: ngài không tồn tại, tôi tự nhủ với một vẻ ngạc nhiên lễ độ và tôi tưởng chuyện này đã giải quyết xong. Ở một khía cạnh nào đó thì nó đã được giải quyết thật bởi vì, từ thuở ấy, tôi tuyệt nhiên chẳng bao giờ bị cám dỗ bởi ý tưởng đào xói lại nó lên. Nhưng vị khác thì ở lại, đó là Đấng Vô Hình, Chúa Thánh Linh, vị Chúa bảo đảm cho sứ mệnh của tôi và cai quản đời tôi bằng những thế lực lớn mạnh vô danh và thiêng liêng. Với vị đó, tôi càng khó thoát ra hơn bởi ngài đã ngự ở phần sau của đầu tôi trong những khái niệm bị đánh tráo mà tôi sử dụng để tự hiểu mình, để xác định vị trí của mình và tự biện hộ cho mình. Viết văn, đã một thời gian dài là nấp sau một thứ mặt nạ để cầu xin Cái Chết, cầu xin Tôn Giáo giành giật cuộc sống của mình khỏi sự ngẫu nhiên. Tôi đã là người tu hành. Là người hoạt động vì lý tưởng, tôi muốn tự cứu mình bằng các tác phẩm; là người theo khuynh hướng thần bí, tôi thử vén bức màn im lặng của bản thể bằng một tiếng xì xào bất bình của từ ngữ và, nhất là, tôi lẫn lộn sự vật với tên gọi của chúng: như thế là tin. Tôi đã bị ảo giác. Một khi ảo giác vẫn còn, tôi vẫn coi mình đã xử lý xong chuyện đó. Vào năm ba mươi tuổi tôi đã thực hiện thành công cái cú tài tình sau: tôi miêu tả trong cuốn Buồn nôn144 - một cách rất chân thành, tin tôi đi - sự tồn tại vô nghĩa, chán ngán của các đồng loại của mình còn sự tồn tại của bản thân thì lại cho là vô can. Tôi là Roquentin, ở nhân vật ấy tôi đã chỉ ra, không nương nhẹ, phần cốt lõi của đời mình; đồng thời tôi lại là tôi, kẻ được ân sủng, người viết biên niên sử của địa ngục, chiếc máy chụp ảnh hiển vi bằng kính và thép hướng xuống chất lỏng nguyên sinh của chính mình. Sau này tôi đã trình bày một cách vui vẻ rằng con người là bất khả hữu; bản thân tôi cũng bất khả hữu, tôi chỉ khác mọi người bởi mỗi cái sứ mệnh là phải biểu lộ tính bất khả hữu ấy và, do vậy, tính chất ấy lại biến đổi, trở thành tính khả hữu thầm kín nhất của tôi, đối tượng cho sứ mệnh của tôi, bàn đạp cho vinh quang của tôi. Tôi đã là tù nhân của những điều hiển nhiên đó nhưng tôi không nhìn thấy chúng: tôi nhìn thế giới xuyên qua chúng. Giả mạo đến tận xương tủy và bị lừa phỉnh, tôi đã vui vẻ viết về thân phận bất hạnh của chúng ta. Là kẻ giáo điều tôi đã hoài nghi tất cả trừ việc tôi là kẻ được sự hoài nghi lựa chọn; tay này của tôi khôi phục lại thứ mà tay kia phá hủy và tôi coi nỗi lo ngại là điều đảm bảo cho sự an toàn của mình; tôi hạnh phúc.
Tôi đã thay đổi. Tôi sẽ kể lại sau về chuyện thứ a xít nào đã ăn mòn những lớp trong suốt biến dạng bọc quanh tôi, về chuyện khi nào và bằng cách nào tôi đã tập sự bạo lực, đã khám phá ra sự xấu xí của mình - điều mà trong một thời gian dài đã là yếu tố tiêu cực của tôi, là thứ vôi sống trong đó đứa trẻ tuyệt vời biến mất - về chuyện vì lý do gì mà tôi đã đi đến chỗ suy nghĩ chống lại bản thân một cách có hệ thống đến mức đánh giá sự hiển nhiên của một ý tưởng qua nỗi khó chịu mà nó gây ra cho mình. Ảo ảnh hồi cố bị nát vụn, người tuẫn nạn, sự cứu rỗi, sự bất tử, tất cả đều biến thoái, tòa lâu đài rơi vào cảnh tan hoang, tôi tóm lấy Chúa Thánh Linh ở tầng hầm và tôi trục xuất ngài ra khỏi đó; chủ nghĩa vô thần là một công việc nghiệt ngã và dài hơi: tôi nghĩ mình đã thực hiện nó đến cùng. Giờ đây tôi thấy rõ, tôi đã vỡ mộng, tôi biết những trách nhiệm thực sự của mình, chắc chắn là tôi xứng đáng được giải thưởng về ý thức công dân; từ gần mười năm nay tôi là một con người tỉnh táo, đã chữa khỏi một thứ bệnh điên rồ lâu dài, cay đắng và dịu ngọt và rất đỗi ngạc nhiên và không thể nhớ lại mà không cười về những trò trước đây của mình và không còn biết làm gì với cuộc đời mình nữa. Tôi lại trở thành người du khách không có vé như tôi đã là thế khi bảy tuổi: người soát vé bước vào toa tàu của tôi, ông ta nhìn tôi, không nghiêm khắc bằng ngày xưa: thực ra ông ta chỉ muốn rời bước, để cho tôi yên ổn kết thúc chuyến đi; chỉ muốn tôi đưa ra một lý do cáo lỗi chấp nhận được, bất kể là gì, ông ta cũng sẽ bằng lòng. Không may tôi lại chẳng tìm thấy lý do nào và, vả lại, thậm chí tôi cũng chẳng muốn tìm kiếm: chúng tôi vẫn sẽ mặt đối mặt, trong tình trạng khó xử, cho tới tận Dijon, nơi tôi biết rất rõ là chẳng có ai đợi tôi.
Tôi thôi dồn tâm sức nhưng tôi không bỏ cuộc: tôi vẫn viết văn. Làm gì khác được?
Nulla dies sine linea145.
Đó là thói quen của tôi và sau nữa là nghề nghiệp của tôi. Suốt một thời gian dài tôi đã coi ngòi bút của mình là thanh gươm, giờ đây tôi biết sự bất lực của chúng ta. Quan trọng gì đâu; tôi đang làm, tôi sẽ làm ra những cuốn sách; cần phải có những thứ đó, dù sao nó cũng có ích. Văn hóa chẳng cứu vớt được gì cũng chẳng cứu vớt được ai, nó không bào chữa được. Nhưng đó là một sản phẩm của con người: con người tự chiếu mình vào đó, nhận ra mình trong đó; duy nhất chỉ có nó, tấm gương phê phán ấy cho con người thấy hình ảnh của mình. Vả lại, cái tòa nhà cũ kỹ đổ nát kia, sự bịp bợm của tôi, đó cũng là tính cách của tôi: người ta thoát được một chứng loạn thần kinh, người ta không thể thôi là chính mình. Mòn mỏi đi, mờ nhạt đi, trở nên nhún nhường, thu mình lại, chẳng được ai biết đến, tất cả những đường nét của đứa trẻ vẫn còn lại ở người đàn ông tuổi ngũ tuần. Phần lớn thời gian chúng rúm ró trong bóng tối, chúng rình đợi: ở khoảnh khắc lơ đãng đầu tiên, chúng ngẩng cao đầu và thâm nhập vào giữa ban ngày trong một bộ đồ hóa trang: tôi khẳng định chân thành là chỉ viết cho thời đại của mình nhưng tôi bực bội về sự nổi tiếng hiện tại của tôi; đó không phải là vinh quang bởi tôi vẫn còn sống và điều đó tuy vậy đã đủ để bác bỏ những giấc mơ xưa cũ của tôi, phải chăng tôi vẫn còn âm thầm nuôi dưỡng chúng? Không hẳn vậy: tôi đã cải biên chúng, tôi nghĩ thế: bởi tôi đã bị mất cơ hội chết khi không được đời biết đến, thỉnh thoảng tôi lại hãnh diện vì sống mà không được đời hiểu đứng. Grisélidis không chết. Pardaillan vẫn còn ở trong tôi. Cả Strogoff nữa. Tôi chỉ thuộc về họ mà họ thì thuộc về Chúa trời và tôi lại không tin vào Chúa trời. Bạn thử xem có rối trí không, về phần tôi, tôi đâm rối trí và đôi khi tôi tự hỏi phải chăng tôi không chơi trò ai thua thì thắng và tôi không cố gắng chà đạp lên những hy vọng thuở xưa của mình để mọi thứ được trả lại cho tôi gấp bội. Trong trường hợp ấy tôi sẽ là Philoctète146: tuyệt đẹp và hôi thối, con người tàn phế ấy đã cho đi đến cả chiếc cung của mình một cách vô điều kiện; nhưng, ngầm hiểu, ta có thể tin chắc rằng anh ta chờ được ban thưởng.
Để chuyện đó lại thôi. Bà tôi hẳn sẽ nói rằng:
"Lũ người trần, coi nhẹ mọi chuyện thôi, đừng nặng nghĩ."
Điều mà tôi thích nhất ở sự điên rồ của mình, đó là nó đã bảo vệ tôi ngay từ ngày đầu, chống lại những sự quyến rũ của "giới tinh hoa": tôi chưa bao giờ cho rằng mình may mắn sở hữu một "tài năng": vấn đề duy nhất của tôi là tự cứu mình - chẳng có gì trong tay, chẳng có gì trong túi - bằng công việc và niềm tin. Thành thử sự lựa chọn thuần túy của tôi không nâng tôi lên trên ai cả: không có trang bị, không có dụng cụ, tôi dốc toàn bộ con người mình vào việc cứu toàn bộ bản thân. Nếu tôi xếp Sự Cứu Rỗi bất khả thi vào kho chứa đạo cụ, còn lại được những gì? Một con người trọn vẹn, hình thành từ cả loài người và ngang giá với tất cả và bất cứ ai cũng ngang giá với mình.

