Người Đàn Bà Mù Chữ - Chương 2

Diễn hề

Những năm năm mươi./span>span class="calibre_1"> Ngoại trừ một vài người ưu tiên, ở xứ tôi ai cũng nghèo. Có vài người còn nghèo hơn các người khác.

Đương nhiên ở nội trú chúng tôi được nuôi nấng. Chúng tôi có mái nhà để ở, có cái để ăn nhưng thức ăn thì rất dở và không đủ nên lúc nào chúng tôi cũng đói. Mùa đông thì lạnh. Chúng tôi mặc măng-tô ở trường và cứ mỗi mười lăm phút, chúng tôi đứng dậy vận động để cho ấm người. Trong phòng ngủ cũng lạnh, chúng tôi mang bít-tất để ngủ và khi chúng tôi lên phòng học, chúng tôi quấn mền đem theo.

Vào thời đó, tôi mặc áo măng-tô đen của anh Yano vì anh đã mặc chật, áo không có nút, bị rách phía bên trái.

Sau này một người bạn nói với tôi:

- Hồi đó tôi phục bạn thật, mùa đông mà mặc cứ phong phanh, áo chẳng có nút.

Trên đường đến trường tôi mang cặp cho cô bạn vì tôi không có cặp, tôi để sách vở trong cặp của cô. Cái cặp rất nặng, mấy ngón tay tôi tê buốt vì không có găng tay. Tôi cũng không có bút chì, bút mực, không có đồng phục thể thao. Tôi mượn tất cả.

Tôi cũng mượn luôn giày khi đôi giày bị hư phải đem đi sửa.

Nếu buộc phải trả lại giày, tôi phải nằm nhà ba ngày chờ cho giày sửa xong. Tôi không thể nói cho bà giám đốc nội trú biết tôi không đến trường được vì không có giày. Tôi nói tôi đau, bà giám đốc tin vì tôi là học sinh giỏi và ngoan. Bà sờ trán tôi và bảo:

- Con sốt rồi, ít nhất cũng 38 độ. Con nhớ đắp chăn cho ấm.

Tôi đắp chăn cho ấm. Nhưng tôi lấy tiền đâu để trả cho ông thợ giày? Làm sao tôi xin tiền cha mẹ được. Cha tôi đang bị tù và mấy năm nay chúng tôi bặt tin cha. Mẹ gặp đâu làm đó. Mẹ ở với Tila trong một căn phòng nhỏ, hàng xóm cho mẹ mượn bếp để nấu ăn.

Trong một thời gian ngắn, mẹ có làm việc ở thành phố tôi học. Có lần trên đường về nhà tôi ghé thăm mẹ. Đó là căn phòng ở tầng hầm, dưới ánh đèn điện, mười mấy bà ngồi chung quanh cái bàn to, họ đang ngồi gói thuốc độc vào bao để bẫy chuột.

Mẹ hỏi tôi:

- Mọi chuyện điều tốt?

Tôi trả lời:

- Mọi chuyện điều tốt mẹ ạ. Mẹ đừng lo cho con.

Mẹ không hỏi tôi cần gì nhưng tôi cũng nói thêm:

- Con không cần gì hết. Em Tila sao rồi mẹ?

Mẹ nói:

- Em khỏe. Mùa thu này em cũng sẽ vào trường nội trú.

Chúng tôi chẳng còn gì để nói. Tôi muốn nói tôi đã sửa đôi giày, ông thợ giày cho tôi mắc nợ, tôi cần tiền để trả cho ông gấp nhưng nhìn chiếc áo cũ kỹ của me, nhìn đôi găng thấm chất độc, tôi không thể nói gì. Tôi ôm hôn mẹ, tôi ra đi và không trở lại đó nữa.

Để kiếm chút tiền, giờ ra chơi tôi tổ chức một buổi trình diễn ngắn hai mươi phút. Tôi viết kịch bản và cùng với hai hay ba cô bạn, chúng tôi diễn kịch. Chúng tôi học rất nhanh, đôi khi chúng tôi còn cương thêm. Đặc sản của tôi là bắt chước các cô thầy. Buổi sáng, chúng tôi thông báo cho vài lớp, sáng hôm sau thêm vài lớp khác. Giá vé vào xem tương đương với giá chiếc bánh lưỡi liềm bà gác-dan bán trong giờ ra chơi.

Buổi trình diễn tiến hành tốt đẹp, chúng tôi thành công lớn, khán giả chen nhau xem chật hành lang. Có cả giáo sư đến xem, khi nào như vậy chúng tôi buộc phải đổi đề tài ngay, không dám tiếp tục diễn bắt chước họ.

Với các cô bạn khác, với kịch bản khác, tôi tiếp tục diễn trong khuôn khổ trường nội trú. Buổi chiều, chúng tôi đi từ phòng ngủ này đến phòng ngủ khác, họ mời, họ năn nỉ, họ chuẩn bị cho chúng tôi những bữa tiệc với những gói quà mà các cô gái nhà quê được cha mẹ gởi ra. Chúng tôi, các nữ nghệ sĩ, chúng tôi bình tâm nhận tiền hay thức ăn, phần thưởng lớn nhất của chúng tôi là hạnh phúc làm cho mọi người cười.

Ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ thù nghịch

Thoạt tiên khởi, chỉ có một ngôn ngữ./span>span class="calibre_1"> Đồ vật, sự chuyện, tình cảm, màu sắc, giấc mơ, thư từ, sách vở, báo chí, thảy đều là ngôn ngữ.

Còn nhỏ tôi không hình dung ra được có thể có một loại ngôn ngữ nào khác, có một người nào đó nói một chữ mà tôi sẽ không hiểu.

Trong nhà bếp của mẹ tôi, trong trường học của cha tôi, trong nhà thờ của chú Guéza, ngoài đường phố, trong các căn nhà của làng tôi, trong thành phố của ông bà nội ngoại, mọi người nói cùng một thứ tiếng, không bao giờ tôi nghe một thứ tiếng nào khác.

Người ta nói rằng những người Du Mục ở vùng sâu hẻo lánh của làng nói một loại ngôn ngữ khác nhưng hồi đó tôi nghĩ đó không phải là ngôn ngữ thật, đó chỉ là loại ngôn ngữ họ sáng chế ra chỉ để nói với nhau, giống như khi anh Yano và tôi tìm một cách nào đó để nói mà em Tila không hiểu chúng tôi nói gì.

Tôi còn nghĩ các người Du Mục phải làm như vậy vì trong quán cà-phê nhỏ trong làng, họ có những ly đánh dấu riêng, những cái ly dành riêng cho họ vì không ai muốn uống cái ly người Du Mục đã uống.

Người ta còn nói người Du Mục là mẹ mìn. Chắc chắn là họ ăên cắp rất nhiều đồ nhưng khi đi qua những căn nhà làm bằng đất sét ọp ẹp của họ, người ta thấy trẻ con chơi đầy sân và tự hỏi vì sao họ lại còn ăn cắp thêm trẻ con. Thêm nữa khi người Du Mục vào làng để bán đồ sành sứ hay những giỏ đan bằng nan, họ cũng nói “một cách bình thường” loại ngôn ngữ của chúng tôi.

Khi tôi lên chín, chúng tôi dọn nhà. Chúng tôi đến ở trong một ngôi làng gần biên giới, nơi mà một phần tư dân làng nói tiếng đức. Đối với người Hung chúng tôi, đó là thứ tiếng thù nghịch, bởi vì nó nhắc đến thời nước Áo thống trị và đó cũng là thứ tiếng của quân đội ngoại quốc chiếm đóng xứ sở chúng tôi thời đó.

Một năm sau, quân đội nước khác đến chiếm đóng nước tôi. Tiếng liên xô trở thành thứ tiếng bắt buộc ở trường học, các thứ tiếng ngoại quốc khác đều bị cấm.

Không một ai biết nói tiếng liên xô. Các giáo sư dạy ngôn ngữ nước ngoài: đức, pháp, anh đều phải học cấp tốc tiếng liên xô trong vài tháng, nhưng họ thật sự không hiểu và cũng không thích dạy thứ tiếng này. Thêm nữa, học sinh cũng không thích học thứ tiếng này.

Đây đúng là một loại tẩy chay trí tuệ ở tầm quốc gia, một loại kháng cự thụ động một cách tự nhiên, không hòa hợp, xuất phát từ trong người mình.

Cũng trong tinh thần hờ hững này mà thầy chẳng thích dạy, trò chẳng thích học các môn địa lý, sử ký và văn chương Liên Xô. Và thế là cả một thế hệ học sinh ngu dốt đậu ra trường.

Vì thế đến năm hai mươi mốt tuổi, khi đến Thụy Sĩ, tình cờ tôi ở trong một thành phố nói tiếng pháp, tôi đối diện với một ngôn ngữ hoàn toàn mới lạ. Và chính ở đây, tôi bắt đầu phấn đấu để nắm vững một ngôn ngữ, một cuộc phấn đấu dài hạn gay go kéo dài suốt cả cuộc đời.

Tôi nói tiếng pháp từ hơn ba mươi năm nay, tôi viết tiếng pháp từ hơn hai mươi năm nay nhưng tôi không khi nào nắm vững nó. Tôi nói lúc nào cũng vấp lỗi và khi viết thì tôi phải thường xuyên tra cứu tự điển.

Vì lý do đó mà tôi cho tiếng pháp cũng là thứ tiếng thù nghịch. Cũng còn một lý do khác, lý do này còn trầm trọng hơn: tiếng pháp đang giết dần tiếng mẹ đẻ.

Cái chết của Staline

Tháng ba 1953./span>span class="calibre_1"> Staline chết. Chúng tôi biết tin từ hôm qua. Buồn là chuyện bắt buộc ở trường nội trú. Chúng tôi đi ngủ mà không nói với nhau một tiếng nào. Buổi sáng chúng tôi hỏi nhau:

- Hôm nay có phải là ngày nghĩ không?

Bà giám thị nói:

- Không. Các con đến trường như thường lệ nhưng không được hát.

Chúng tôi sắp hàng đến trường như thường lệ nhưng không hát. Công sở treo cờ đỏ và cờ đen.

Thầy giáo chủ nhiệm chờ chúng tôi. Thầy nói:

- Vào lúc mười một giờ sẽ có chuông reo. Các con đứng dậy giữ một phút im lặng. Trong lúc chờ đợi, các con làm bài luận với đề tài: “Cái chết của Staline.” Trong bài luận này, các con viết vai trò của đồng chí Staline đối với các con. Trước hết là hình ảnh một người cha, kế đó là hình ảnh của một ngòn đèn pha chiếu sáng.

Một cô bật khóc nứa nở. Thầy giáo nói:

- Con cố nén cảm xúc. Đứng trước đau đớn lớn lao này, ai cũng thương cảm. Nhưng chúng ta cố nén đau thương. Vì các con đang bị xúc động nên thầy sẽ không chấm điểm bài luận này.

Chúng tôi viết. Thầy giáo chắp tay sau lưng đi quanh lớp.

Có một tiếng chuông reo. Chúng tôi đứng dậy. Thầy nhìn đồng hồ. Chúng tôi chờ. Đáng lý còi hụ của thành phố phải hụ lên giờ này. Một cô bạn ngồi gần cửa sổ nhìn ra đường và nói:

- Đó chỉ là tiếng chuông của xe rác.

Chúng tôi ngồi xuống lại, cười ngắt nghẻo.

Sau đó là tiếng chuông trường học và còi hụ thành phố reo, chúng tôi đứng dậy nhưng vì nghe tiếng chuông của xe rác nên chúng tôi lại cười. Chúng tôi đứng một phút, có vẽ như rất dài, lòng xúc động trong tiếng cười thinh lặng, thầy giáo cũng cười với chúng tôi.

Trong nhiều năm, tôi từng mang tấm hình màu của Staline trong túi nhưng đến khi ông chết tôi mới hiểu vì sao dì tôi đã xé hình Staline khi tôi ở lại nhà dì.

Học thuyết của ông vĩ đại và công hiệu, nhất là đối với những người trẻ. Rudolf Noureev, người ly khai, người nhảy tài ba kể chuyện: “Ngày Staline chết, tôi đi ra ngoài, về đồng quê. Tôi chờ có một cái gì phi thường xảy ra, chờ thiên nhiên phản ứng cho thảm kịch lớn lao này. Chẳng có gì xảy ra. Không động đất, không một dấu hiệu.”

Không. “Động đất” chỉ xảy ra ba mươi sáu năm sau, nhưng đó không phải là phản ứng của thiên nhiên mà phản ứng của các dân tộc. Phải chờ đến bao nhiêu năm như thế để “Cha” của chúng tôi mới thật sự chết, để “ngọn đèn pha sáng chói” mới thật sự tắt, vĩnh viễn tắt, chúng tôi hy vọng như thế.

Ông có ý thức ông gây ra bao nhiêu thảm kịch không. Không ai biết điều này. Ở Roumanie, người ta đang còn đếm xác chết; ở Hongrie, có ba mươi lăm ngàn người chết năm 1956. Điều mà người ta không bao giờ lượng định được là vai trò tác hại mà nhà độc tài đã tác động lên triết lý, nghệ thuật, văn chương của các xứ Đông Âu. Khi áp đặt học thuyết của họ, Liên Bang Xô Viết không những đã ngăn chận phát triển kinh tế mà còn bóp nghẹt nền văn hóa và bản sắc các dân tộc này.

Theo chỗ tôi biết, không một văn sĩ ly khai Nga nào đề cập hay nêu lên vấn đề này. Họ nghĩ gì, họ cũng chịu ách độc tài, họ nghĩ gì về những “xứ sở nho nhỏ không quan trọng này,” những xứ sở này còn chịu thêm ách áp bức của ngoại bang, của họ. Của xứ sở họ. Có bao giờ họ xấu hổ vì chuyện này?

Tới đây, tôi buộc phải nghĩ đến Thomas Bernhard, văn sĩ lớn người Áo, ông liên tục phê bình và đả kích - hận thù cũng có, yêu thương cũng có và khôi hài cũng có – xứ của ông, thời của ông, xã hội ông sống thời đó.

Ông chết ngày 12 tháng 2 năm 1989. Ông không được quốc gia hay quốc tế để tang, không có nước mắt cá sấu, cũng có thể không có cả nước mắt thật. Chỉ những độc giả say mê, trong số đó có tôi, là hiểu cái mất mát lớn lao cho văn chương: Từ nay Thomas Bernhard không còn viết nữa. Tệ hơn: ông cấm xuất bản các bản thảo ông để lại.

Đó là tiếng nói “không” cuối cùng đối với xã hội của nhà văn tài ba, tác giả quyển sách có tên Oui - Vâng. Quyển sách đó đang ở trước mặt tôi cùng với Bê-tông - Béton, Người Đắm Tàu - Le Naufrage, Kẻ bắt chước - L’Imitateur, Các cây cối phải hạ - Des Arbres à abattre. Oui-Vâng là quyển sách đầu tiên của ông tôi đọc. Tôi cho nhiều bạn bè mượn đọc và nói với họ là tôi chưa bao giờ cười nhiều như thế khi đọc quyển sách này. Họ trả lại sách và cho biết không thể nào đọc hết quyển sách, vì “rất nản” và “chịu không thấu.” Còn về nét “khôi hài” thì họ không thấy đâu hết.

Đúng là nội dung quyển sách này quá kinh khủng, bởi vì “vâng” là “vâng” nhưng “vâng” với cái chết, và như thế là “không” với sự sống.

Tuy thế, dù muốn hay không, Thomas Bernhard sẽ vĩnh viễn là tấm gương cho những ai tự cho mình là văn sĩ.

Ký ức

Qua báo chí và truyền hình tôi biết được tin một em bé mười tuổi, người Thổ Nhĩ Kỳ, đã chết vì đói, lạnh và kiệt sức khi lén lút băng qua biên giới Thụy Sĩ với cha mẹ. Những “người dẫn đường” bỏ họ lại ở biên giới, nói họ chỉ có việc đi thẳng là đến ngôi làng Thụy Sĩ đầu tiên. Họ băng núi, vượt rừng không biết bao nhiêu giờ. Trời lạnh. Cuối cùng người cha cõng con trên lưng. Nhưng quá trễ. Khi đến đầu làng, đứa bé đã chết vì mệt, vì lạnh và kiệt sức.

Phản ứng đầu tiên của tôi là phản ứng của bất kỳ người dân Thụy Sĩ nào: “Làm sao họ dám đem con nít đi phiêu lưu như thế? Vô trách nhiệm như thế thì không thể chấp nhận được.” Nghĩ lại phản ứng của cú choáng thật hung bạo và bộc phát. Ngọn gió lạnh cuối tháng mười một thổi vào căn phòng ấm áp của tôi và tiếng nói hãi hùng của ký ức vang lên trong đầu tôi: “Thế nào à? Bà quên tất cả sao? Bà đã làm y như vậy, đúng y như vậy. Và con của bà thì gần như vừa mới sinh.”

Đúng rồi, tôi nhớ rồi.

Tôi hai mươi mốt tuổi. Tôi lập gia đình được hai năm, cô con gái tôi mới bốn tháng. Tôi băng qua biên giới Hung-Áo một chiều tháng mười một. “Người dẫn đường” tên là Joseph, tôi biết anh ta.

Chúng tôi là một nhóm khoảng hơn chục người trong số đó có vài đứa bé. Con gái tôi ngủ trong lòng cha, tôi mang hai túi xách. Một túi đựng bình sữa, tả lót, áo quần cho em bé. Túi kia đựng tự điển. Chúng tôi im lặng đi sau Joseph một tiếng đồng hồ. Trời tối đen mịt. Thỉnh thoảng có hỏa châu và ánh đèn sáng lên, chúng tôi nghe tiếng súng nổ từng tràng, tiếng đạn bay rồi thì im lặng và trời lại tối đen.

Đến bìa rừng, Joseph ngừng lại và nói:

- Các ông bà đã ở Áo. Chỉ việc đi thẳng. Làng xóm cũng không xa đây.

Tôi ôm hôn Joseph. Tất cả mọi người cho anh tiền và dù sao loại tiền này cũng chẳng có giá trị ở Áo.

Chúng tôi đi trong rừng. Rất lâu. Rất lâu. Cành cây làm rách mặt, chúng tôi té xuống hố, chân giẫm lên lá ướt, mắt cá chân bị kẹt vào rễ cây. Chúng tôi thắp lên vài cái đèn tay nhưng ánh sáng của nó chỉ khoanh được một vòng nhỏ, cây tuyền cây. Chúng tôi có cảm tưởng đi vòng vòng.

Một em bé nói:

- Con sợ. Con muốn về nhà. Con muốn đi ngủ.

Một em khác khóc. Một bà nói:

- Mình đi lạc rồi.

Một người đàn ông trẻ nói:

- Chúng ta ngừng ở đây. Nếu đi tiếp tục không chừng quay về Hung.

Đứng yên ở đây để tôi đi xem xét.

Về lại Hung có nghĩa là: bị tù vì đã vượt biên giới trái phép và cũng có thể bị lính biên phòng bắn chết.

Người đàn ông trẻ leo lên cây. Khi trèo xuống, anh nói:

- Tôi biết mình đang ở đâu. Tôi lấy ánh sáng làm chuẩn. Đi theo tôi.

Chúng tôi đi theo anh. Một lát sau, căn rừng sáng dần và cuối cùng chúng tôi đi đúng đường, không còn cành cây, không có lỗ hổng, không có rễ cây.

Bỗng nhiên một ánh sáng thật sáng rọi vào chúng tôi, một giọng nói vang lên.

- Dừng lại!

Một trong chúng tôi nói bằng tiếng đức:

- Chúng tôi là những người tị nạn.

Lính biên phòng Áo vừa trả lời vừa cười:

- Chúng tôi nghi vậy. Đến đây với chúng tôi.

Họ dắt chúng tôi vào ngôi làng. Ở đó có rất nhiều người tị nạn. Ông thị trưởng đến:

- Ai có trẻ con đi tới trước.

Chúng tôi được một gia đình nông dân cho tá túc. Họ rất dễ thương. Họ săn sóc con tôi, cho chúng tôi ăn, soạn giường ngủ cho chúng tôiû.

Điều ngạc nhiên là tôi giữ rất ít kỷ niệm về tất cả những chuyện này. Chuyện xảy ra như trong giấc mơ hay trong một cuộc sống khác. Như thử ký ức tôi từ chối không muốn nhớ lại giây phút tôi đã mất đi một phần lớn cuộc đời của tôi.

Tôi để lại Hung cuốn nhật ký với cách viết bí mật và các bài thơ đầu tiên của tôi. Tôi cũng để lại anh em tôi, cha mẹ tôi, không báo cho họ cũng không nói một lời chào hay lời từ biệt. Nhưng nhất là, ngày hôm đó, một ngày cuối tháng mười một năm 1956, tôi vĩnh viễn mất đi cái gọi là thuộc về một dân tộc.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.