Người Đàn Bà Mù Chữ - Chương 3

Dời trại

Từ ngôi làng Áo chúng tôi đi xe ca đến thành phố Vienne. Ông thị trưởng ngôi làng trả tiền vé xe cho chúng tôi. Trong suốt chuyến đi, con gái tôi nằm ngủ trên đầu gối tôi. Trên đường đi, từng hàng cột lân tinh nối dài. Tôi chưa bao giờ thấy hàng cột lân tinh sáng như vậy.

Đến Vienne, chúng tôi tới trạm cảnh sát để trình diện. Ở đó, trong văn phòng cảnh sát, tôi thay tã và cho con bú bình sữa. Cháu mửa. Cánh sát viên cho chúng tôi địa chỉ trung tâm tị nạn và chỉ đường xe điện miễn phí để chúng tôi đến đó. Trên xe điện, các bà ăn mặc lịch sự bồng con tôi trên đầu gối họ, họ kín đáo bỏ tiền vào túi cho tôi. Trung tâm tị nạn là một tòa nhà rất lớn, có thể ngày xưa đó là một công xưởng hay một doanh trại. Trong những căn phòng rộng mênh mông này, nệm rơm được để thẳng dưới đất. Có phòng tắm công cọng, có phòng ăn rất lớn. Ở cửa vào phòng ăn, có tấm bảng đen để ghi tên tìm người thân. Tìm cha mẹ, bạn bè bị lạc mất khi qua biên giới, trước hoặc sau khi đến Vienne và ngay cả trong trung tâm này, đông đúc và hỗn độn.

Như hầu hết mọi người, chồng tôi ngồi cả ngày chờ ở các văn phòng tòa đại sứ để tìm nước định cư. Tôi ở lại phòng với đứa con gái, cháu nằm trên nệm và chơi với mấy sợi rơm. Tôi bắt buộc phải học vài tiếng đức để có thể xin những thứ cần thiết cho con tôi. Bồng con trên tay, tôi xuống nhà bếp và nói với một ông có vẻ như trưởng bếp ở đây: “Xin ông cho tôi sữa cho cháu.” Hay: “Xin ông cho tôi xà-bông cho con nít.” Lúc nào ông cũng cho riêng tôi những thứ tôi cần.

Gần đến Noel, chúng tôi đi xe lửa đến Thụy Sĩ. Có những cành thông để trên cái bàn nhỏ kê gần cửa sổ, kẹo sôcôla và cam. Đó là chiếc xe lửa đặc biệt. Ngoài những người đi kèm, chuyến xe chỉ gồm người Hung và chỉ ngừng lại ở biên giới Thụy Sĩ. Đến đó có một đội kèn đón tiếp chúng tôi, có các bà dễ thương đưa ly trà bằng giấy, kẹo sôcôla và cam qua cửa sổ cho chúng tôi.

Chúng tôi đến Lausanne/span>. Chúng tôi ở trong một doanh trại phía trên cao thành phố, gần sân đá banh. Có những bà ăn mặc như nữ quân nhân bồng con giùm chúng tôi, miệng tươi cười trấn an chúng tôi. Đàn ông đàn bà tắm riêng. Người ta mang áo quần chúng tôi đi tẩy trùng.

Những người trong chúng tôi đã sống trong những hoàn cảnh như vậy, sau này họ thú nhận là lúc đó họ rất sợ. Chúng tôi chỉ an lòng sau khi gặp lại nhau và nhất là khi thấy các con chúng tôi được tắm rửa sạch sẽ, được ăn no. Cô con gái tôi êm đềm ngủ trong một cái nôi rất đẹp bên cạnh giường tôi, cháu chưa bao giờ có được như vậy.

Sau trận đá banh chiều chúa nhật, các khán giả đến thăm chúng tôi sau hàng rào chắn của doanh trại. Họ cho chúng tôi sôcôla và cam, họ còn cho thêm thuốc lá và tiền, làm cho chúng tôi không còn nhớ đến trại tập trung mà nghĩ đến sở thú. Những người dè dặt nhất không dám ra ngoài sân, ngược lại những người khác thì cả ngày chìa tay qua hàng rào chắn và họ so sánh với nhau các phẩm vật nhận được.

Mỗi tuần nhiều lần các hãng kỹ nghệ đến đây tìm nhân công. Bạn bè, người quen đều tìm được việc làm và nhà ở. Họ ra đi và để lại địa chỉ.

Sau một tháng ở Lausanne, chúng tôi còn ở lại Zurich/span> một tháng, ở trong một trường học trong rừng. Có lớp dạy sinh ngữ nhưng tôi ít được dịp đi học vì con còn nhỏ.

Cuộc đời tôi sẽ như thế nào nếu tôi ở lại Hung? Tôi nghĩ sẽ khó khăn hơn, nghèo hơn nhưng ít nhất đỡ đơn độc, đỡ xé lòng và cũng có thể hạnh phúc hơn.

Có một điều tôi chắc chắn là tôi sẽ viết, bất cứ ở đâu, bất cứ ngôn ngữ nào.

Sa mạc

Từ trung tâm tị nạn Zurich, chúng tôi được “phân phối” đi khắp Thụy Sĩ. Như thế đó, tình cờ, chúng tôi đến thành phố Neuchâtel, đúng hơn là Valangin, ở đó dân làng đã dọn sẵn cho chúng tôi một căn hộ hai phòng ngủ, có sẵn đồ đạc. Vài tuần sau, tôi bắt đầu làm việc trong một xưởng chế tạo đồng hồ ở Fontainemelon.

Tôi dậy từ năm giờ rưởi sáng. Cho con ăn, mặc áo cho con, mặc áo cho tôi, đi xe buýt chuyến sáu giờ rưởi chở tới nhà máy. Gởi con ở nhà trẻ, vào xưởng làm việc. Năm giờ chiều tan xưởng. Đón con ở nhà trẻ, đi xe buýt về nhà. Đi chợ ở cửa hàng nhỏ trong làng, nhóm lò sưởi (vì căn hộ không có hệ thống sưởi toàn nhà), chuẩn bị nấu bữa ăn chiều, cho con ngủ, rửa chén, viết một chút rồi đi ngủ.

Xưởng máy là nơi rất thuận lợi để làm thơ. Công việc đơn điệu, vừa làm việc vừa có thể nghĩ chuyện khác, máy móc chạy theo một nhịp đều đặn như nhịp ngắt của các vần thơ. Trong hộc tủ, tôi có tờ giấy và cây viết. Khi bài thơ thành hình, tôi ghi lại. Chiều đến, tôi chép sạch sẽ vào tập.

Chúng tôi có cả chục người Hung làm việc tại xưởng máy. Trong giờ nghỉ trưa, chúng tôi gặp nhau ở căng-tin nhưng thức ăn quá khác biệt với thức ăn chúng tôi thường ăn nên gần như chúng tôi không ăn được. Phần tôi, trong một năm ròng, buổi trưa tôi chỉ uống cà-phê sữa và ăn bánh mì.

Ở xưởng máy, mọi người đều dễ thương với chúng tôi. Họ cười, họ nói với chúng tôi nhưng chúng tôi không hiểu gì hết.

Chính nơi đây bắt đầu cuộc sống sa mạc. Sa mạc xã hội, sa mạc văn hóa. Từ hân hoan của những ngày cách mạng, ngày trốn đi giờ đây là kế tiếp của thinh lặng, của trống rỗng, của nhớ nhung những ngày mà chúng tôi có cảm tưởng như tham dự vào một cái gì rất quan trọng, có tính cách lịch sử – có thể lắm – nhớ quê hương, nhớ gia đình, nhớ bạn bè.

Chúng tôi chờ một cái gì khi đến đây. Chúng tôi không biết mình chờ gì nhưng chắc chắn không phải điều này: những ngày làm việc nhàm chán, những buổi tối thinh lặng, cuộc sống tê liệt, không có gì mới, không ngạc nhiên, không hy vọng.

Về mặt vật chất, chúng tôi sống khá hơn trước. Chúng tôi có hai phòng ngủ thay vì một. Có đủ than, đủ thức ăn. Nhưng so với những gì chúng tôi đã mất thì với giá này, quá đắt.

Trong chuyến xe buýt buổi sáng, người soát vé ngồi bên cạnh tôi, lúc nào cũng ông này, to mập, vui vẻ, ông nói chuyện với tôi suốt chuyến đi. Tôi không hiểu lắm nhưng rồi thì tôi cũng hiểu ông muốn trấn an tôi, ông giải thích người Thụy Sĩ sẽ không để cho người Nga đến đây. Ông nói không có gì phải sợ, không có gì phải buồn, đời sống ở đây an toàn. Tôi cười, tôi không thể nói với ông rằng tôi không sợ người Nga, tôi buồn là vì tôi quá an toàn ở đây, vì chẳng có gì khác để làm, chẳng suy nghĩ gì về công việc, xưởng làm, chợ búa, giặt giũ, nấu ăn, chẳng có gì để mong chờ ngoài mong chờ đến ngày chúa nhật được ngủ thêm, được mơ lâu thêm một chút về quê hương.

Với một nhúm tiếng pháp ít ỏi, làm sao giải thích cho ông hiểu mà không làm ông buồn rằng xứ sở đẹp đẽ của ông chỉ là sa mạc đối với chúng tôi, những người tị nạn, một sa mạc mà chúng tôi phải băng qua để đến cái mà người ta gọi là “hội nhập”, “hòa đồng”. Lúc đó, tôi chưa biết là sẽ có một số người chẳng bao giờ băng qua được.

Có hai người trong nhóm chúng tôi trở về Hung dù án tù đang chờ họ. Hai người khác, đàn ông trẻ, độc thân, đi xa hơn, tận Mỹ và Canada/span>. Bốn người khác còn đi xa hơn, đi đến nơi xa nhất mà con người ta có thể đi tới, xa quá biên giới hai nước. Theo chỗ tôi biết, bốn người này đã tự tử trong hai năm đầu tiên xa xứ. Một người uống thuốc ngủ, một người dùng hơi gaz, hai người khác dùng dây. Người trẻ nhất mới mười tám tuổi. Cô tên là Gisèle.

Làm sao để trở thành nhà văn?

Đương nhiên trước hết là phải viết./span>span class="calibre_1"> Sau đó phải tiếp tục viết. Dù chẳng ai thích đọc bài mình viết. Dù mình có cảm tưởng sẽ chẳng bao giờ có ai thích đọc bài mình viết. Dù bản thảo chất đống trong hộc, mình quên nó và viết cái khác.

Khi đến Thụys Sĩ, hy vọng trở thành nhà văn của tôi là con số không. Tôi có đăng vài bài thơ trong một tạp chí văn chương Hung, nhưng dịp may và khả năng được in ngừng ngang đó. Sau nhiều năm tháng làm việc nổ lực, tôi viết được hai kịch bản bằng tiếng pháp, tôi không biết mình cần phải làm gì, gởi ở đâu, gởi cho ai.

Kịch bản đầu tiên – John và Joe – được trình diễn trong một quán cà-phê, Café du Marché ở thành phố Neuchâtel. Sau bữa ăn chiều thứ sáu, thứ bảy, vài diễn viên tài tử tổ chức những buổi “dạ quán.” Tôi khởi nghiệp kịch gia như thế đó. Vở kịch thành công, được diễn ròng mấy tháng, mang đến cho tôi niềm hạnh phúc vô biên và khuyến khích tôi viết tiếp.

Hai năm sau, một trong các kịch bản của tôi được diễn ở Nhà Hát Tarentule, Saint-Aubin, một ngôi làng nhỏ gần Neuchâtel. Cũng những diễn viên tài tử diễn.

“Cơ nghiệp” kịch của tôi hình như ngừng ở đó, mười mấy kịch bản của tôi nằm trên kệ, chầm chậm vàng dần theo thời gian. May thay có người khuyên tôi nên gởi kịch bản đến đài phát thanh và thế là khởi đầu cho một “cơ nghiệp” khác, cơ nghiệp tác giả của đài truyền thanh. Ở đây, các kịch bản của tôi được diễn hay nói đúng hơn được đọc bởi những diễn viên nhà nghề và tôi nhận được tiền bản quyền. Từ năm 1978 đến năm 1983, đài phát thanh Suisse Romande thực hiện năm kịch bản của tôi, tôi còn nhận đơn đặt hàng viết kịch về tuổi thơ ấu nhân dịp năm chủ đề tuổi thơ ấu.

Dù vậy tôi không bỏ kịch nghệ. Năm 1983, tôi nhận làm việc với trường kịch nghệ Trung Tâm Văn Hóa Neuchâtel. Công việc của tôi là viết một vở kịch theo yêu cầu của mười lăm em học sinh. Tôi rất thích công việc này, tôi tham dự tất cả các buổi tập dượt.

Thường thường các buổi học bắt đầu bằng đủ loại vận động cơ thể. Các bài tập vận động này làm tôi nhớ lại những gì tôi làm khi còn nhỏ với anh tôi, với cô bạn của tôi. Các loại vận động thinh lặng, ngồi bất động, nhịn đói... Tôi bắt đầu viết những đoạn ngắn về các kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi chưa nghĩ đến những đoạn ngắn này về sau sẽ thành sách. Dù vậy, hai năm sau, trên bàn viết của tôi là một quyển tập lớn chép lại một câu chuyện có mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc như một quyển tiểu thuyết thật. Còn phải đánh máy lại, sửa lại, đánh máy lại thêm một lần nữa, loại bớt những gì rườm rà, sửa và sửa tiếp tục cho đến khi tôi thấy bản văn có thể in được. Đến giai đoạn này, tôi cũng chưa biết rõ mình sẽ làm gì với bản thảo. Gởi cho ai, cho người nào? Tôi không quen nhà xuất bản nào và cũng không quen ai quen nhà xuất bản. Tôi nghĩ đến nhà xuất bản “L’Âge d’Homme”, nhưng một anh bạn bảo tôi: “Phải bắt đầu bằng ba nhà xuất bản lớn ở Pháp.” Anh cho tôi địa chỉ ba nhà xuất bản: Gallimard, Gasset, Seuil. Tôi làm ba bản thảo, tôi chuẩn bị ba gói nhỏ, tôi viết ba bức thư giống nhau: “Kính thưa ông Giám Đốc...”

Cái ngày tôi đi bỏ thư bưu điện, tôi nói với cô con gái đầu:

- Mẹ đã gởi quyển tiểu thuyết của mẹ.

Con tôi nói:

- Vậy hả mẹ? Mẹ tin họ sẽ xuất bản sao?

Tôi trả lời:

- Tin chứ, chắc chắn.

Đúng vậy, tôi không nghi ngờ một giây nào hết. Tôi tin chắc, tôi xác quyết tiểu thuyết của tôi hay, nó sẽ được in không có vấn đề. Do đó tôi vừa ngạc nhiên vừa thất vọng vì sau bốn đến năm tuần, nhà xuất bản Gallimard và tiếp đó là nhà xuất bản Gasset gởi trả lại bản thảo kèm theo bức thư lễ phép từ chối, loại thư viết sẵn. Tôi tự nhủ tôi phải đi tìm thêm vài địa chỉ các nhà xuất bản khác và một buổi chiều tháng mười một, điện thoại reo. Đầu dây bên kia là ông Gilles Carpentier, nhà xuất bản Seuil. Ông nói vừa đọc bản thảo và cho biết từ vài năm nay ông chưa đọc một bản thảo nào hay như thế. Ông còn nói sau khi đọc lần đầu, ông đã đọc lại và nghĩ có thể xuất bản được. Nhưng để được xuất bản cần có sự đồng ý của nhiều người khác. Ông nói sẽ gọi tôi trong vài tuần nữa. Một tuần sau, ông gọi: “Tôi chuẩn bị ký hợp đồng với bà.”

Ba năm sau, tôi đi dạo trên đường phố Berlin/span> với cô Erika Tophoven, cô dịch truyện của tôi. Chúng tôi ngừng lại trước các tiệm sách. Trong cửa kiếngï, họ chưng quyển tiểu thuyết thứ hai của tôi. Còn ở nhà tôi, trên kệ là quyển Quyển Tập Lớn – Le Grand Cahier, được dịch ra mười tám thứ tiếng.

Chiều hôm đó, ở Berlin/span>, chúng tôi có một buổi đọc sách. Độc giả đến gặp tôi, nghe tôi và đặt câu hỏi về các sách của tôi, về đời tôi, về tiến trình trở thành nhà văn của tôi. Và đây là câu trả lời: kiên nhẫn viết, kiên trì viết, không bao giờ mất lòng tin vào những gì mình viết thì sẽ trở thành nhà văn.

Người đàn bà mù chữ

Một ngày, cô hàng xóm và là bạn tôi nói:

- Tôi xem một phóng sự trên đài truyền hình nói về các nữ công nhân ngoại quốc. Họ làm việc cả ngày ở xưởng thợ. Chiều về họ làm việc nhà, săn sóc con cái.

Tôi nói:

- Thì tôi cũng làm như vậy khi đến Thụy Sĩ.

Cô nói:

- Thêm nữa, mấy bà này không biết nói tiếng pháp.

- Hồi đó tôi cũng không biết nói tiếng pháp.

Bạn tôi chán. Cô không thể nào kể câu chuyện lý thú cô xem ở đài truyền hình về các nữ công nhân ngoại quốc này. Cô đã quên quá khứ của tôi, cô không thể tưởng tượng tôi cũng thuộc vào nhóm các phụ nữ không biết tiếng địa phương, từng làm việc trong xưởng thợ và chiều về chăm sóc gia đình.

Còn tôi, tôi nhớ rõ. Xưởng thợ, chợ búa, con cái, ăn uống. Và thứ tiếng xa lạ. Ở xưởng thợ khó mà nói. Máy móc ồn ào. Các công nhân chỉ nói chuyện trong cầu tiên, khi hút vội điếu thuốc.

Các cô bạn công nhân dạy cho tôi điều thiết yếu. Khi các cô nói: “Trời đẹp” thì các cô chỉ cho tôi xem cảnh vật ở Val-de-Ruz. Các cô sờ vào tôi để dạy cho tôi các chữ khác: tóc, cánh tay, bàn tay, miệng, mũi.

Buổi chiều, tôi về nhà với con. Con bé giương mắt ngạc nhiên nhìn khi tôi nói bằng tiếng Hung với con.

Một lần, con tôi khóc vì tôi không hiểu nó, lần khác vì nó không hiểu tôi.

Năm năm sau ngày đến Thụy Sĩ, tôi nói tiếng pháp nhưng tôi không đọc. Tôi lại trở thành bà mù chữ. Tôi, bốn tuổi đã biết đọc.

Tôi biết các chữ. Nhưng khi đọc, tôi không nhận ra chúng. Các chữ không liên hệ gì với nhau. Tiếng Hung là ngữ âm, tiếng pháp trái lại.

Tôi không biết sao tôi có thể sống mà không đọc trong vòng năm năm trời như thế. Hồi đó, mỗi tháng một lần, tờ Tập San Văn Chương Hung đăng các bài thơ của tôi; cũng có các quyển sách tiếng Hung nhưng thường là sách đọc rồi, những quyển này được Thư Viện thành phố Genève gởi cho chúng tôi nhưng thà là đọc lại còn hơn không đọc gì hết. Và may thay, tôi còn viết.

Con tôi sắp được sáu tuổi và sắp đi học.

Tôi cũng vậy, tôi trở lại trường học. Hai mươi sáu tuổi, tôi ghi tên học khóa hè ở Đại Học Neuchâtel, để học đọc. Đó là lớp tiếng pháp cho sinh viên nước ngoài. Có người Anh, người Mỹ, người Đức, người Nhật, người Thụy Sĩ gốc đức. Bài thi nhập học là một bài viết. Tôi không biết gì, tôi vào lớp của những người tập tểnh.

Sau vài bài học, vị giáo sư nói với tôi:

- Cô nói tiếng pháp rất hay. Vì sao cô ở lớp này?

Tôi trả lời:

- Tôi không biết đọc, không biết viết. Tôi là người mù chữ.

Ông cười:

- Mình sẽ xem lại chuyện này.

Hai năm sau, tôi đậu Chứng Chỉ Tiếng Pháp với hạng ưu.

Tôi biết đọc, tôi lại biết đọc. Tôi có thể đọc Victor Hugo, Rousseau, Voltaire, Sartre, Camus, Michaux, Francis Ponge, Sade, tất cả những tác giả nào tôi muốn đọc bằng tiếng pháp và cả những tác giả không phải là người pháp nhưng được dịch ra tiếng pháp như Faulkner, Steinbeck, Hemingway. Đầy cả sách, đầy những sách có thể hiểu được, cho tôi.

Tôi có thêm hai đứa con. Cùng với chúng, tôi tập đọc, học chính tả, học chia động từ.

Khi các con hỏi tôi ý nghĩa của một chữ, cách viết chính tả, tôi không bao giờ nói:

- Mẹ không biết.

Tôi nói:

- Mẹ sẽ coi lại.

Và tôi tra tự điển, không mệt mỏi, tôi coi lại. Tôi trở nên một người đam mê tự điển.

Tôi biết tôi sẽ chẳng bao giờ viết được tiếng pháp giống như các văn sĩ Pháp sinh ra đã là người pháp nhưng tôi sẽ viết trong khả năng của tôi, khả năng tốt nhất tôi có thể làm.

Ngôn ngữ này tôi không chọn nó. Ngôn ngữ này áp đặt trên tôi bằng số phận, bằng tình cờ, bằng cuộc sống.

Tôi bắt buộc viết bằng tiếng pháp. Một thách thức.

Thách thức của một người đàn bà mù chữ.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.