Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Phần 1

CHỦ NGHĨA DUY THỰC MỚI

01

Đây là cuốn sách thể hiện ý tưởng tiến bộ.

Một ý tưởng đã khiến bao nhà cai trị phải lo lắng. Một ý tưởng không ngừng bị các tôn giáo và hệ tư tưởng phủ nhận, vùi dập; bị giới truyền thông phớt lờ và bị gạch bỏ khỏi các biên niên sử của loài người.

Đó cũng là ý tưởng được rất nhiều ngành khoa học chứng minh và công nhận. Một ý tưởng được toàn bộ quá trình tiến hóa chứng minh và vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống thường ngày. Một ý tưởng nằm tận căn trong bản chất con người tới mức nó không được chú ý và bị bỏ qua.

Giá như chúng ta đủ can đảm xem xét ý tưởng đó một cách nghiêm túc, thì biết đâu đấy, nó lại là nguyên nhân khơi mào cho một cuộc cách mạng vĩ đại hay lật nhào xã hội thì sao?! Bởi một khi bạn thực sự hiểu được ý nghĩa của nó, thì nó sẽ trở thành thứ vũ khí sắc bén, bẻ cong mọi tư tưởng khiến bạn không bao giờ còn nhìn nhận thế giới như nó vốn là.

Vậy ý tưởng đó là gì?

Đó là hầu hết mọi người, trong sâu thẳm, đều rất lương thiện.

Tôi không biết có ai giải thích luận điểm này tốt hơn Tom Postmes, giáo sư môn Tâm lý học Xã hội tại Đại học Groningen ở Hà Lan. Suốt nhiều năm, ông luôn hỏi sinh viên cùng một câu hỏi.

• Hãy tưởng tượng một chiếc máy bay gặp trục trặc và phải hạ cánh khẩn cấp. Trong khoang tràn ngập khói và mọi hành khách đều nhận ra họ phải nhanh chóng thoát khỏi đó. Vậy trong hai trường hợp dưới đây, trường hợp nào sẽ xảy ra?

• Tại Hành tinh A, những hành khách quay sang người bên cạnh mình để hỏi xem họ có ổn không. Trẻ em, người già, người khuyết tật và những phụ nữ mang thai được ưu tiên giải cứu trước. Thậm chí, người ta sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình, nhường cơ hội cho những người hoàn toàn xa lạ.

• Tại Hành tinh B, mạnh ai nấy chạy, mọi người rơi vào trạng thái hoảng loạn. Người ta xô đẩy và chen lấn. Trẻ em, người già và những người khuyết tật bị những người khác giẫm đạp.

Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta sống trên hành tinh nào?

Sau đó, giáo sư Postmes nói: “Có khoảng 97% số người đã trả lời tôi rằng chúng ta đang sống tại Hành tinh B. Tuy nhiên, điều bất ngờ là thực tế trong hầu hết mọi trường hợp, chúng ta lại sống trên Hành tinh A.”[1]

Cho dù bạn bạn có đặt câu hỏi này cho những người thuộc tầng lớp hay đảng phái nào cũng vậy. Cánh tả hay cánh hữu, giàu hay nghèo, ít học hay uyên bác,… hầu như mọi người đều đưa ra nhận định sai lầm. Postmes nói thêm: “Họ đều không biết. Tân sinh viên, sinh viên năm ba hay năm cuối đều không trả lời đúng. Thậm chí ngay cả những giáo sư hay những người thuộc đội ứng phó tình huống khẩn cấp cũng không thể trả lời được. Và nguyên nhân không phải vì thiếu những nghiên cứu về vấn đề này bởi chúng ta đã có sẵn mọi thông tin cần thiết từ thời Thế chiến thứ Hai.”

Thậm chí, ngay cả những thảm họa nghiêm trọng nhất trong lịch sử cũng đã diễn ra trên Hành tinh A. Chẳng hạn như vụ chìm tàu Titanic. Nếu xem phim, hẳn là bạn đã nghĩ mọi người đều mù quáng vì hoảng loạn – trừ nhóm tứ tấu đàn dây. Trên thực tế, việc sơ tán hành khách khi con tàu gặp nạn được thực hiện một cách rất trật tự và hiệu quả. Một nhân chứng từng ở trên tàu vào thời khắc sinh tử đã kể lại rằng: “Không hề có dấu hiệu cho thấy mọi người đang hoảng loạn hay bị kích động mạnh, không hề có bất kì tiếng gào thét nào cả, nhất là không có chuyện mạnh ai nấy chạy.”[2]

Hoặc chúng ta có thể xem lại vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Khi Trung tâm Thương Mại Thế giới bị tấn công, hàng nghìn người vẫn bình tĩnh đi xuống lối thoát hiểm, mặc dù họ biết sinh mạng mình đang ngàn cân treo sợi tóc, nhưng họ vẫn dành lối ưu tiên cho lính cứu hỏa và những người bị thương. Một người sống sót đã kể lại rằng: “Thực tế là mọi người vẫn nói: “Không, không, bạn hãy đi trước đi”. Tôi không thể tin nổi, trong tình thế cấp bách đó mà mọi người vẫn nhường nhau: “Không, không, bạn hãy đi trước đi.” Đó quả là điều phi thường.”[3]

Một lầm tưởng tồn tại bền vững bấy lâu nay rằng bản chất con người vốn ích kỉ, hung hăng và dễ hoảng loạn. Đó là những điều mà nhà sinh vật học người Hà Lan Frans de Waal gọi là lý thuyết vỏ ngoài (veneer theory): lý thuyết này cho rằng văn minh chỉ là một lớp vỏ bọc ngoài mỏng manh, dễ biến mất trước sự khiêu khích dù nhỏ nhặt nhất.[4] Trớ trêu thay, thực tế lại chứng minh điều ngược lại. Chính khi khốn cùng nhất – bom rơi đạn lạc hoặc thiên tai ập đến – con người lại trở về với bản ngã vốn rất đỗi tốt đẹp của mình.

Ngày 29 tháng 8 năm 2005, cơn bão Katrina đã đổ bộ và tàn phá bang New Orleans. Những đoạn đê chắn lũ bị vỡ đã khiến 80% nhà cửa trong khu vực bị ngập và làm ít nhất 1.836 người thiệt mạng. Đó là một trong những trận bão gây hậu quả kinh hoàng nhất lịch sử Hoa Kỳ.

Trong suốt tuần sau khí cơn bão qua đi, báo chí ngập tràn những bài viết về các vụ cưỡng bức và nổ súng khắp New Orleans. Những báo cáo rợn người về hoạt động của các băng nhóm tội phạm, các vụ cướp bóc, hay vụ một tay súng bắn tỉa ngắm vào những chiếc trực thăng cứu nạn. Bên trong công trình Superdome✻, được dùng làm nhà tránh bão, khoảng 25.000 người chen chúc nhau, không điện, không nước. Những tin tức như vụ hai đứa trẻ sơ sinh bị cắt cổ, một bé gái bảy tuổi bị cưỡng hiếp và bị sát hại tràn ngập khắp các mặt báo.[5]

Cảnh sát trưởng cho biết thành phố đang rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ và thống đốc bang Louisiana cũng lo sợ điều tương tự. Bà nói: “Điều khiến tôi tức giận nhất là sau những thảm họa như thế này con người sẽ bộc lộ ra những điều xấu xa nhất.”[6]

Nhận định của bà nhanh chóng xuất hiện trên khắp các mặt báo. Trên báo Guardian của Anh, sử gia danh tiếng Timothy Garton Ash cũng đưa ra quan điểm được khá nhiều người đồng tình: “Hãy loại bỏ những nhu yếu phẩm cơ bản của cuộc sống văn minh, có tổ chức – thức ăn, chỗ ở, nước uống, an ninh cá nhân tối thiểu – chỉ trong vài giờ sau chúng ta sẽ trở lại một nhà nước tự nhiên theo quan điểm Hobbes✻, một cuộc chiến tranh mà ở đó mọi người chống lại nhau. […] Chỉ một vài người tạm thời đóng vai những thiên thần, còn lại, hầu hết sẽ trở lại làm vượn.”

Lại một lần nữa, lý thuyết vỏ ngoài trỗi dậy trong vầng hào quang. Theo Garton Ash, New Orleans là sự kiện khơi mào, mở ra một lỗ nhỏ trên “lớp vỏ mỏng chúng ta tạo ra trên bề mặt mắc ma sủi bọt của tự nhiên, bao gồm cả bản chất con người.”[7]

Phải nhiều tháng sau, khi cánh nhà báo di tản khỏi hiện trường, nước lũ cũng đã rút hết và các nhà bình luận đã chuyển sang chủ đề khác thì các nhà nghiên cứu mới tìm thấy câu trả lời thật sự về những điều đã diễn ra ở New Orleans trong trận lũ lụt lịch sử đó.

Âm thanh nghe có vẻ giống như tiếng súng nổ nhưng thực tế chỉ là cái van xả của bình khí nào đó bị bật ra. Tại Superdome, sáu người chết. Trong đó, bốn vụ là do những nguyên nhân tự nhiên, một vụ do dùng thuốc quá liều và một vụ do tự sát. Cảnh sát trưởng cho biết là ông không hề nhận được tin báo về bất kì một vụ cưỡng hiếp hay giết người nào tại khu vực ông quản lý. Đúng là có xảy ra tình trạng cướp bóc, nhưng chủ yếu là do các băng đảng liên kết với nhau để cùng tồn tại, thậm chí một số băng đảng còn bắt tay hợp tác với cảnh sát.[8]

Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Thảm họa thuộc Đại học Delaware kết luận rằng “phần lớn những hoạt động mới nổi về bản chất đều mang tính xã hội”.[9] Một đội thuyền cứu hộ từ tận Texas cũng đến để giải cứu những người còn đang mắc kẹt ra khỏi vùng lũ. Hàng trăm người dân cũng tự thành lập các đội cứu nạn, có những nhóm tự xưng là Robin Hood – gồm 11 người – họ tự tìm kiếm đồ ăn, quần áo, thuốc men tại các khu vực không bị ảnh hưởng bởi cơn bão, sau đó phân phát cho những người cần.[10]

Tóm lại, cơn bão Katrina không khiến cho New Orleans rơi vào tình trạng hỗn loạn, cướp bóc hay vô chính phủ. Hơn bao giờ hết, cả thành phố tràn ngập tinh thần can trường, sự sẻ chia và lòng nhân hậu.

Một lần nữa, cơn bão này đã xác nhận và khẳng định về cách con người phản ứng trước các thảm họa. Nó hoàn toàn trái ngược với những điều chúng ta thấy trên phim ảnh. Sau gần 700 cuộc nghiên cứu được thực hiện kể từ năm 1963, Trung tâm Nghiên cứu Thảm họa tại Đại học Delaware đã đưa ra kết luận rằng chưa hề xảy ra bất kì tình trạng hỗn loạn và mất kiểm soát nào trên toàn nước Mỹ. Không hề có chuyện ai cũng sống ích kỉ, chỉ biết lo lắng cho bản thân. Tội ác – giết người, trộm cắp, cưỡng hiếp – có xu hướng giảm. Người dân không hề sốc, ngược lại họ khá bình tĩnh và biết mình phải làm gì. Một nhà nghiên cứu thảm họa đã chỉ ra: “Dù diễn ra ở mức độ nào, thì tình trạng cướp bóc luôn bị lu mờ trước những hành động lan tỏa lòng vị tha được thể hiện thông qua việc cho đi và chia sẻ hàng hóa, dịch vụ miễn phí, trên quy mô lớn.”[11]

Trong tai họa, những điều đẹp đẽ nhất nơi con người được bộc lộ và phát huy. Tôi chưa từng biết phát hiện xã hội học nào dù đã được hiện thực kiểm chứng chắc chắn nhưng vẫn vô tình bị gạt qua một bên như điều này. Bức tranh về tình người mà giới truyền thông dựng nên hoàn toàn trái ngược với những điều mà con người đã làm cho nhau khi tai họa ập đến.

Trở lại với tình trạng tại New Orleans sau cơn bão, tất cả những đồn thổi dai dẳng do cánh báo chí gây ra đã khiến người dân tại khu vực đó phải trả một giá quá đắt, bằng chính sinh mạng con người.

Không ai muốn mạo hiểm đi vào một thành phố bị mang tiếng là đang hỗn loạn mà không được cảnh sát bảo vệ. Bên cạnh đó, việc huy động nhân lực nhằm ứng phó với tình trạng khẩn cấp diễn ra khá chậm. Vệ binh Quốc gia được điều đến, lần cứu trợ lớn nhất phải kể đến là khoảng 72.000 binh sĩ đã có mặt. Thống đốc bang phát biểu rằng: “Những binh sĩ này biết cách bắn giết và tôi mong họ sẽ làm thế nếu cần.”[12]

Và sự thật là họ đã làm vậy. Ngay trên cầu Danziger ở phía đông thành phố, cảnh sát đã nổ súng vào sáu người da màu vô tội, trong khi những người dân này không hề có vũ trang, trong số những người thiệt mạng có một thanh niên 17 tuổi và một bệnh nhân tâm thần khoảng 40 tuổi. Sau này, năm sĩ quan liên quan đến vụ bắn súng đó đã bị kết án tù nhiều năm.[13]

Đúng, thảm họa ở New Orleans là một trường hợp cực đoan. Nhưng khi xét lại, những động cơ trong các thảm họa thường diễn ra theo một kịch bản chung: nghịch cảnh xảy ra, một làn sóng hợp tác tự phát để ứng phó với thảm họa, sau đó quan chức địa phương hoảng sợ và rồi xảy ra thảm họa thứ hai do chính con người tạo ra – bằng những lời đồn thổi rằng người dân đang hoảng loạn.

Rebecca Solnit, tác giả cuốn sách A Paradise Built in Hell (tạm dịch: Thiên đường được xây nơi địa ngục) đã đưa ra một nhận định sâu sát về hậu quả mà cơn bão Katrina để lại: “Điều khiến tôi ấn tượng nhất là sự hoảng loạn của giới tinh hoa – những người có quyền lực – những người biểu lộ toàn bộ nhân tính trong hình ảnh của chính họ.”[14] Các nhà độc tài và những kẻ chuyên quyền, các thống đốc và tướng lĩnh – tất cả bọn họ đều viện đến sức mạnh bạo lực để ngăn chặn các kịch bản mà họ tự vẽ ra trong đầu, với giả định rằng một anh chàng Joe bình thường✻ nào đó bị những tư lợi chế ngự và bủa vây, giống họ.

02

Mùa hè năm 1999, tại một trường học ở thị trấn Bornem của Bỉ, chín đứa trẻ cùng mắc một căn bệnh lạ. Buổi sáng, khi chúng đến trường thì không có bất kì dấu hiệu nào cho thấy chúng đang bị bệnh; nhưng sau bữa trưa, chúng bắt đầu có triệu chứng: ốm, đau đầu, nôn mửa, tim đập nhanh. Khi tìm hiểu nguyên nhân, điều duy nhất các giáo viên nghĩ đến là thức uống Coca-Cola mà chín đứa trẻ đã uống trong giờ giải lao.

Chẳng mất nhiều thời gian để giới báo chí hóng được câu chuyện. Tại trụ sở chính của Coca-Cola điện thoại đổ chuông dồn dập. Ngay trong tối đó, công ty đã ra thông cáo báo chí với nội dung sẽ thu hồi tất cả sản phẩm của họ trên toàn nước Bỉ. Một phát ngôn viên của Coca-Cola đã lên tiếng: “Chúng tôi đang tích cực điều tra nguyên nhân và hi vọng trong thời gian sớm nhất, đưa ra câu trả lời xác đáng cho khách hàng của chúng tôi.”[15]

Nhưng quá muộn. Các triệu chứng mà chín em học sinh đó gặp phải đã nhanh chóng lan ra khắp nước Bỉ, thậm chí còn vượt qua biên giới và lan sang cả Pháp. Những đứa trẻ nhợt nhạt, mềm oặt nằm trên xe cấp cứu. Chỉ trong vài ngày, sự nghi ngờ còn đổ dồn lên mọi sản phẩm Coca-Cola như: Fanta, Sprite, Nestea, Aquarius… tất cả các sản phẩm này bỗng chốc trở thành mối nguy hại cho mọi trẻ em. “Sự cố Coca-Cola” đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong lịch sử 107 năm kể từ khi thành lập công ty, buộc họ phải thu hồi 17 triệu thùng đồ uống ở Bỉ và tiêu hủy tất cả số hàng lưu kho[16]. Tổn thất lên đến hơn 200 triệu đô la.[17]

Chỉ vài tuần sau, các chuyên gia về độc tố đã có trong tay bản kết quả điều tra. Họ đã tìm thấy gì sau khi thực hiện các xét nghiệm lon Coca? Kì lạ là chẳng có gì cả. Không có thuốc trừ sâu. Không mầm bệnh. Không kim loại nặng. Không một yếu tố gây ngộ độc nào. Vậy còn kết quả xét nghiệm các mẫu máu và nước tiểu từ hàng trăm bệnh nhân thì sao? Cũng chẳng có gì, mọi chỉ số đều bình thường. Các bác sĩ xét nghiệm không thể tìm thấy bất kì tác nhân gây bệnh nào đã gây ra các triệu chứng khiến hơn một nghìn đứa trẻ phải nhập viện.

Một nhà nghiên cứu đã trả lời rằng: “Không nghi ngờ gì cả, những trẻ đó thực sự bị bệnh, nhưng không phải vì chúng đã uống Coca.”[18]

Sự cố Coca-Cola khiến chúng ta liên tưởng đến một câu hỏi triết học lâu đời.

Chân lý là gì?

Có những điều luôn đúng trong mọi trường hợp cho dù bạn có tin hay không, chẳng hạn như: nước sôi ở 100°C, hút thuốc có hại cho sức khỏe, Tổng thống Kennedy bị ám sát ở Dallas vào ngày 22 tháng 11 năm 1963…

Tuy nhiên, bên cạnh những điều hiển nhiên đúng lại có một số điều có khả năng trở thành hiện thực nếu chúng ta tin những điều đó là đúng. Niềm tin của chúng ta được các nhà xã hội học gọi là lời tiên tri tự ứng nghiệm (self-fulfilling prophecy). Nghĩa là nếu bạn dự đoán một ngân hàng sẽ phá sản và điều đó đủ sức thuyết phục nhiều người đóng tài khoản của họ lại thì khi đó, chắc chắn ngân hàng này sẽ phá sản.

Hoặc hãy xem tác dụng của hiệu ứng giả dược (placebo effect). Nếu bác sĩ đưa cho bạn một viên thuốc giả và nói nó sẽ giúp bạn khỏi bệnh, thì có khả năng bạn sẽ thấy sức khỏe của mình dần trở nên tốt hơn. Lời trấn an càng ấn tượng thì cơ hội khỏi bệnh càng lớn. Nhìn chung, việc tiêm chích có hiệu quả hơn việc uống thuốc. Thậm chí vào thời xưa, việc chích máu cũng có tác dụng chữa bệnh, không phải vì y học thời trung cổ quá hiệu nghiệm, mà vì người ta tin rằng những thủ thuật y học quyết liệt ắt hẳn phải có tác dụng.

Và cách trấn an bệnh nhân mạnh mẽ nhất là gì? Phẫu thuật! Bác sĩ khoác lên người chiếc áo blu trắng, thực hiện gây mê và trở ra, tự thưởng cho mình một tách cà phê. Khi bệnh nhân tỉnh lại, bác sĩ phẫu thuật liền thông báo là ca mổ rất thành công. Một nghiên cứu do tạp chí British Medical Journal thực hiện đã so sánh hiệu quả giữa quy trình phẫu thuật thực tế với việc phẫu thuật giả (cho những bệnh như đau lưng và ợ nóng) và đưa ra kết luận rằng các giải pháp trấn an cũng thật sự phát huy tác dụng với ba phần tư số trường hợp, và tới một nửa là có hiệu nghiệm giống như làm thật.[19]

Nhưng nó cũng có tác dụng theo cách khác.

Chẳng hạn bạn uống một viên thuốc giả, và nghĩ rằng nó khiến mình bị bệnh, kết quả là bạn có khả năng bị bệnh đúng như những gì bạn nghĩ. Bác sĩ cảnh báo bệnh nhân rằng loại thuốc họ sử dụng sẽ gây ra tác dụng phụ, và họ sẽ thấy mình mắc những triệu chứng đó. Hiệu ứng phản dược (nocebo effect), vẫn chưa được kiểm chứng hay nghiên cứu chính thức, bởi để thực hiện những thí nghiệm này còn phải xét đến khía cạnh đạo đức nghề y khi thuyết phục những người khỏe mạnh tin rằng họ bị bệnh. Dù sao thì mọi bằng chứng đều chỉ ra rằng hiệu ứng phản dược có thể rất mạnh mẽ.

Đó cũng là kết luận của giới quan chức y tế Bỉ đưa ra trong vụ Coca-Cola năm 1999. Có thể một hoặc hai lon Coca mà những đứa trẻ ở Bornem uống thực sự có vấn đề. Ai dám khẳng định chứ?! Nhưng với hàng trăm chai Coca khác thì hẳn các nhà khoa học phải biết rõ nó thực sự có vấn đề hay không. Họ hiểu rằng vấn đề nằm ở chỗ, hàng trăm đứa trẻ trên khắp đất nước đã bị lây nhiễm chứng bệnh “tâm lý đám đông”. Nói đơn giản hơn là: những đứa trẻ đó đã tưởng tượng ra nó.

Còn chưa kể đến những nạn nhân giả vờ mắc bệnh. Hơn một nghìn trẻ em Bỉ thực sự bị nôn mửa, phát sốt và chóng mặt. Vậy mới thấy nếu niềm tin của bạn vào một điều gì đó đủ lớn, thì điều đó sẽ trở thành sự thật. Nếu có một bài học cần rút ra từ hiệu ứng phản dược, thì đó là: các ý tưởng không đơn thuần chỉ là các ý tưởng. Chúng ta là những gì chúng ta tin. Chúng ta sẽ tìm thấy những gì chúng ta muốn tìm. Và những gì chúng ta dự đoán sẽ trở thành hiện thực.

Đến đây, có lẽ bạn đã hiểu điều tôi muốn nói: nếu chúng ta nhìn nhân tính bằng nhãn quan u ám thì cũng tương tự như hiệu ứng phản dược.

Nếu chúng ta tin rằng: mọi người không đáng tin, thì chúng ta sẽ dùng chính cách đó đối xử với người khác, thậm chí còn gây tổn thương cho tất cả mọi người. Một vài ý tưởng có sức mạnh định hình thế giới, chẳng hạn như quan điểm của chúng ta về người khác, vì cuối cùng bạn sẽ nhận được điều đúng như những gì bạn kì vọng.

Nếu chúng ta muốn giải quyết những thách thức lớn của thời đại – biến đổi khí hậu, mất niềm tin nơi con người – tôi nghĩ, điều trước tiên, chúng ta cần làm là nuôi dưỡng những quan điểm tốt về bản chất con người.

Để độc giả được rõ, tôi muốn khẳng định rằng cuốn sách này không phải là một bài thuyết giáo về “tính bản thiện” của con người. Rõ ràng, chúng ta không phải là những thiên thần. Chúng ta là những sinh vật phức tạp, có những mặt tốt và cả những mặt không tốt, vấn đề là chúng ta đang hướng tới mặt nào.

Luận điểm của tôi chỉ đơn giản là: chúng ta – về bản chất, như những đứa trẻ sống trên một hòn đảo hoang, khi chiến tranh nổ ra hay thiên tai ập đến – có thiên hướng mạnh mẽ hướng về mặt tốt, mặt lương thiện của mình. Bằng những lập luận hết sức khoa học, tôi sẽ chứng minh quan điểm tích cực về bản chất con người thực tế là như thế nào. Tôi cũng tin thực tế còn có thể trở nên tốt hơn những gì tôi nghĩ nếu tất cả chúng ta bắt đầu tin như vậy.

Tôi từng đọc một truyện ngụ ngôn, nó khá thú vị đồng thời chứa đựng một chân lý vô cùng đơn giản nhưng lại hết sức sâu sắc:

Một ông già nói với cháu mình rằng: “Trong lòng ông đang diễn ra một trận chiến kịch liệt giữa hai con sói. Một con sói độc ác – giận dữ, tham lam, ghen ghét, ngạo mạn và hèn nhát. Con còn lại rất tốt bụng – hiền lành, yêu thương, khiêm nhường, hào phóng, trung thực và đáng tin. Hai con sói này cũng đang tranh đấu bên trong cháu và bên trong tất cả mọi người”.

Cậu bé liền hỏi lại: “Vậy con sói nào sẽ thắng ạ?”

Ông già mỉm cười trả lời: “Con nào mà cháu nuôi dưỡng và chăm sóc thì con đó sẽ thắng”.

03

Trong những năm qua, mỗi khi nói với mọi người về chủ đề cuốn sách mà tôi đang viết này, tôi lại thấy cặp lông mày của họ nhíu lại. Đó là dấu hiệu cho thấy sự không tin tưởng. Một nhà xuất bản tại Đức đã thẳng thừng từ chối xuất bản cuốn sách này. Tổng biên tập của nhà xuất bản đó đã nói rằng bà không tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”. Một thành viên trong giới trí thức tại Paris từng quả quyết với tôi rằng người Pháp cần đến bàn tay cứng rắn của chính phủ. Và khi tôi đến Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào năm 2016, bất kì ai tại bất kì nơi nào tôi gặp đều hỏi rằng có phải đầu óc tôi đang có vấn đề không.

Phần lớn mọi người đều tử tế ư? Đã bao giờ tôi xem tivi chưa?

Cách đây không lâu, một nghiên cứu do hai nhà tâm lý học của Mỹ thực hiện, đã chứng minh rằng con người bướng bỉnh và cố chấp ra sao khi một mực khăng khăng tin rằng: bản chất con người là ích kỉ. Hai nhà nghiên cứu đã để các đối tượng thí nghiệm xem một vài tình huống về những điều tử tế mà con người đã làm cho nhau. Vậy sau đó những người này đã thấy gì? Về cơ bản, chúng ta được giáo dục để nhìn thấy sự ích kỉ ở khắp mọi nơi.

Họ có thấy ai đó giúp một người già qua đường không?

Họ có thấy nhưng lại cho rằng đó là một màn kịch được dàn dựng.

Họ có thấy ai đó hỗ trợ tiền cho một người vô gia cư không?

Hẳn là người cho tiền chỉ muốn cho mọi người thấy rằng mình cũng tử tế.

Thậm chí, ngay cả khi hai nhà nghiên cứu cho các đối tượng của họ xem dữ liệu cụ thể về những hành động tốt như: người lạ trả lại ví mà họ nhặt được, hay sự thật rằng đại đa số mọi người không dối trá hoặc trộm cắp. Tuy nhiên, kết quả là các đối tượng vẫn không chịu nhìn nhận rằng: bản chất con người vốn rất tốt đẹp. Hai nhà tâm lý đã viết: “Các đối tượng vẫn quả quyết rằng những lối hành xử có vẻ vị tha và đầy tính người ấy, cuối cùng, chắc chắn vẫn chỉ là sự ích kỉ mà thôi.”[20]

Hoài nghi là căn nguyên gây ra mọi chuyện. Người hoài nghi luôn đúng.

Khi đọc đến đây, có thể bạn sẽ nghĩ: có điều gì đó không đúng, chưa bao giờ tôi được giáo dục để có cách nhìn tiêu cực như thế. Ở nơi tôi sống, mọi người rất tin tưởng, giúp đỡ nhau, thậm chí chẳng nhà nào phải khóa cửa. Bạn đã đúng, rất dễ để nhìn nhận rằng những người sống quanh chúng ta – những người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp của chúng ta – họ đều tử tế.

Nhưng khi chúng ta vượt ra khỏi phạm vi khu vực mình sống và nhìn ở góc rộng hơn, thì những hoài nghi về sự tử tế của con người sẽ nhanh chóng xâm chiếm chúng ta. Hãy xem lại cuộc Khảo sát Giá trị Thế giới✻, một cuộc khảo sát lớn tiến hành từ những năm 1980 bởi một nhóm các nhà khoa học tại gần 100 quốc gia trên thế giới. Trong bảng khảo sát có một câu hỏi: “Bạn cho rằng mình có thể tin tưởng được hầu hết mọi người, kể cả người lạ hay bạn cần thận trọng khi tiếp xúc với những người lạ?”

Những câu trả lời này đáng để chúng ta phải suy ngẫm. Phần lớn mọi người tại các quốc gia đều nghĩ rằng, đa số mọi người đều không đáng tin. Thậm chí, ở những nền dân chủ đã hình thành từ lâu như: Pháp, Đức, Anh và Hoa Kỳ, đa số dân chúng đều có chung quan điểm đó.[21]

Một câu hỏi khiến tôi luôn cảm thấy thú vị đó là: tại sao chúng ta lại có quan điểm tiêu cực về con người, trong khi theo bản năng, chúng ta tin tưởng những người trong các cộng đồng gần gũi của mình như làng xóm, họ hàng. Vậy tại sao niềm tin đó lại thay đổi khi áp dụng với tất cả mọi người? Tại sao có rất nhiều điều luật và quy định, nhiều công ty và thiết chế xã hội lại bắt đầu với giả định rằng không thể tin tưởng được mọi người? Tại sao khoa học đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng mọi người đang sống trên Hành tinh A, nhưng chúng ta cứ khăng khăng tin mình đang sống trên Hành tinh B?

Phải chăng là do thiếu giáo dục? Không thể khẳng định điều đó bởi vì trong cuốn sách này, tôi sẽ giới thiệu rất nhiều nhà trí thức một mực tin và khẳng định rằng loài người là giống loài vô đạo đức. Vậy nguyên nhân là do niềm tin hoặc do thể chế chính trị ư? Không. Một số tôn giáo xây dựng đức tin trên nền tảng giáo lý: con người luôn tội lỗi. Giới tư bản thì cho rằng bất kể là ai thì cũng đều có động cơ tư lợi. Hay rất nhiều nhà khoa học tự nhiên đã xem con người là một bệnh dịch hủy diệt trái đất. Tuy có hàng nghìn quan điểm về vấn đề bản tính con người nhưng bản chất con người thì chỉ có một.

Điều khiến tôi băn khoăn là: Tại sao chúng ta lại hình dung con người thật xấu xa? Điều gì khiến chúng ta tin rằng bản chất của chính mình là tồi tệ?

Hãy thử hình dung có một loại ma túy mới xuất hiện trên thị trường. Nó rất dễ gây nghiện và hầu như tất cả mọi người đều dính phải nó. Các nhà khoa học nhanh chóng điều tra và chẳng mấy mà họ đã đưa ra kết luận rằng thứ ma túy ấy gây ra những cảm giác: “nhận thức sai về rủi ro, lo lắng, tâm trạng trì trệ, trông chờ, khinh thường cũng như thù địch với người khác và đương nhiên là phê nữa.”[22]

Bạn có sử dụng thứ ma túy này không? Con cái bạn có thử nó không? Chính phủ có hợp thức hóa nó không? Câu trả lời cho tất cả câu hỏi trên là: Có. Bởi thứ ma túy tôi đang nói đến là một trong những thứ ma túy phổ biến nhất, lan truyền nhanh nhất trong thời đại chúng ta. Thứ ma túy đó chúng ta vẫn dùng hằng ngày, không những vậy nó còn được đảm bảo và phân phối cho con cái chúng ta trên quy mô toàn cầu.

Thứ ma túy đó chính là tin tức.

Tôi được dạy để tin rằng tin tức là yếu tố rất tốt và cần thiết cho sự phát triển của con người. Là một công dân, bạn có nghĩa vụ phải đọc báo và xem thời sự. Chúng ta càng biết nhiều tin tức, chúng ta càng hiểu biết và nền dân chủ của chúng ta càng trở nên tốt đẹp hơn. Đây là điều mà nhiều phụ huynh nói với con cái họ, tuy nhiên các nhà khoa học lại đưa ra kết luận trái ngược hoàn toàn. Kết quả mà hàng chục nghiên cứu đã chỉ ra là: tin tức chính là một mối hiểm họa ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của con người.[23]

Người đầu tiên tiến hành những nghiên cứu trong lĩnh vực này, từ những năm 1990, là George Gerbner (1919-2005). Cũng chính ông là người đã tìm ra thuật ngữ hội chứng thế giới trung dung (mean world syndrome) nhằm miêu tả hiện tượng này đi kèm với các triệu chứng lâm sàng như: hoài nghi, yếm thế và bi quan. Những người theo dõi tin tức thường đồng tình với những tuyên bố: “Hầu hết mọi người chỉ quan tâm đến bản thân.” Họ tin rằng chúng ta, với tư cách là mỗi cá nhân đều bất lực trong việc làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Họ dễ bị căng thẳng và suy nhược hơn.

Một vài năm trước, người dân tại 30 quốc gia khác nhau đều được hỏi chung một câu hỏi: “Bạn nghĩ thế giới đang trở nên tốt đẹp hơn, hay vẫn vậy, hay ngày càng tệ đi?”. Ở mọi quốc gia, từ Nga tới Canada, từ Mexico tôi Hungary, đại đa số mọi người đã trả lời rằng thế giới đang ngày càng tệ đi.[24] Nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Trong những thập kỉ gần đây, nghèo đói, chiến tranh, tử vong ở trẻ em, tội phạm, lao động trẻ em, tử vong do thiên tai và số vụ tai nạn máy bay đều giảm mạnh. Hiện tại chúng ta đang sống trong kỉ nguyên giàu có nhất, an toàn nhất và lành mạnh nhất từ trước đến nay.

Vậy tại sao chúng ta không nhận ra điều này? Rất đơn giản, bởi với con người ngày nay tin tức càng độc lạ, sự kiện càng khác thường, giật gân – một vụ tấn công khủng bố, nổi dậy bạo lực, hay thiên tai – thì càng có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Bạn sẽ không bao giờ thấy bài báo nào có tiêu đề như Kể từ hôm qua, số người phải sống trong cảnh đói nghèo đã giảm đi 137.000 người, mặc dù số liệu này được báo cáo rất chính xác và chi tiết hằng ngày trong suốt 25 năm qua.[25] Bạn cũng không bao giờ thấy một bản tin truyền hình trực tiếp có phóng viên đứng ở hiện trường và nói: “Nơi tôi đang đứng không hề có bất kì dấu hiệu nào cho thấy chiến tranh sắp nổ ra cả.”

Một vài năm trước, một nhóm các nhà xã hội học người Hà Lan đã tiến hành phân tích cách các vụ tai nạn máy bay được đưa tin trên truyền thông. Trong khoảng những năm 1991-2005, họ nhận thấy một tỉ lệ nghịch là: số vụ tai nạn máy bay liên tục giảm, nhưng sự chú ý của giới truyền thông về các vụ tai nạn máy bay lại tăng lên rất nhiều. Và thật lạ lùng, mọi người ngày càng sợ phải bay trên những chiếc máy bay ngày càng an toàn.[26]

Trong một nghiên cứu khác do nhóm nghiên cứu truyền thông thực hiện khi họ biên soạn cơ sở dữ liệu về hơn bốn triệu đầu mục tin tức: di trú, tội phạm và khủng bố để xem liệu có mô thức chung nào trong những vấn đề này không. Điều mà họ phát hiện là trong những thời điểm di trú hoặc bạo lực giảm đi, báo chí lại đưa tin nhiều hơn về nó. “Vì vậy,” họ kết luận, “dường như chẳng hề có quan hệ hay thậm chí là cả mối quan hệ tiêu cực giữa tin tức và thực tiễn.”[27]

Dĩ nhiên, khi nhắc đến cụm từ “tin tức” tôi không có ý nói đến toàn bộ nền báo chí hiện nay, bởi có rất nhiều bài báo giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới. Nhưng tin tức – thông tin về các sự kiện bất ngờ và giật gân – ngày càng trở nên phổ biến và được nhiều người đón đọc hơn. Tại các nước phương Tây, cứ mười người trưởng thành thì có đến tám người “tiêu thụ” tin tức hằng ngày. Trung bình mỗi ngày chúng ta thường dành ra một giờ để đọc tin tức. Nếu gộp lại, cả đời một người sẽ dành ra khoảng ba năm chỉ để đọc tin.[28]

Tại sao con người lại dễ bị tin tức làm ảnh hưởng và đe dọa? Có hai lý do. Lý do thứ nhất là thiên kiến tiêu cực (negativity bias) – theo thuật ngữ của ngành tâm lý học – chúng ta hướng đến điều Xấu nhiều hơn là điều Tốt. Quay lại thời săn bắt và hái lượm, nỗi sợ rắn hay nhện mang lại điều tốt gấp trăm lần hiện tại. Việc sợ quá nhiều sẽ không giết chết bạn; nhưng sợ quá ít thì chắc chắn là có đấy. Lý do thứ hai là, chúng ta cũng bị đè nặng bởi thiên kiến sẵn có (availability bias). Nếu chúng ta thường xuyên thấy điều gì đó, chúng ta liền giả định rằng nó khá phổ biến quanh chúng ta. Thực tế, hằng ngày chúng ta tiếp nhận một lượng thông tin lớn về các vụ: tai nạn máy bay, thảm họa, những vụ bắt cóc trẻ em và những vụ chặt đầu – các vụ việc này có xu hướng lưu lại trong trí nhớ rất lâu – và điều đó khiến thế giới quan của chúng ta trở nên méo mó, tiêu cực. Như chuyên gia thống kê người Lebanon, Nassim Nicholas Taleb, lạnh lùng nói: “Lý trí của chúng ta không đủ mạnh để miễn nhiễm trước những điều tiêu cực mà báo chí viết ra.”[29]

Trong kỉ nguyên số, tin tức mà chúng ta tiếp nhận ngày càng trở nên cực đoan hơn. Trước đây, các nhà báo không biết nhiều về cá nhân từng độc giả, vậy nên họ viết cho đại chúng. Nhưng hiện tại, những ông trùm đằng sau Facebook, Twitter và Google lại biết rất rõ từng người một. Họ biết thông tin nào khiến bạn sốc, kính hãi, thông tin nào khiến bạn phải nhấp chuột. Họ biết cách thu hút sự chú ý của bạn và duy trì nó, bằng cách đó họ biết nên phục vụ bạn “món ăn” nào sẽ sinh lợi cho họ – những quảng cáo được cá nhân hóa.

Những vũ điệu truyền thông cuồng loạn này không khác gì cuộc tấn công trực diện, một cái bạt tai nhắm thẳng vào thế giới trần tục. Phải thành thật nhìn nhận là đời sống cũng như hành động của hầu hết mọi người đã trở nên dễ đoán hơn. Điều này có vẻ tạo ra cảm giác dễ chịu thật đấy nhưng cũng không kém phần tẻ nhạt. Cho nên trong khi chúng ta thích có những người hàng xóm dễ chịu với cuộc sống tẻ nhạt (và may là hầu hết hàng xóm đều thích hợp), nhưng “tẻ nhạt” lại không khiến bạn phải giật mình hay thu hút sự chú ý của bạn. “Dễ chịu” thì nhà sản xuất các chương trình lại không bán được quảng cáo. Và vì thế Thung lũng Silicon tiếp tục cung cấp cho chúng ta tiêu đề nhử✻ giật gân hơn bao giờ hết, biết rất rõ, như một tiểu thuyết gia Thụy Sĩ từng châm biếm: “Tin tức tác động đến trí óc giống như đường với cơ thể.”[30]

Từ vài năm trước, tôi quyết tâm không xem tin tức hoặc lướt điện thoại trong lúc ăn sáng nữa. Và thay vì lướt mạng xã hội hay đọc báo, tôi sẽ đọc một cuốn sách về lịch sử, tâm lý học hoặc triết học.

Tuy nhiên, tôi cũng nhanh chóng nhận ra một điều vô cùng đơn giản. Hầu hết nội dung các cuốn sách cũng là viết về những điều khác thường. Những cuốn sách về lịch sử nằm trong danh sách bán chạy nhất luôn nói về các thảm họa và nghịch cảnh, quyền hành và áp bức. Về chiến tranh, chiến tranh, và… chiến tranh. Và nếu một thời kì nào đó không có chiến tranh, thì các sử gia sẽ gọi đó là thời kì chiến nhàn (interbellum) – giai đoạn giữa các cuộc chiến.

Trong các ngành khoa học, quan điểm luôn chiếm thế thượng phong đó là: loài người luồn luôn xấu xa. Hãy thử tìm đọc một vài cuốn sách tiêu biểu về bản chất con người, bạn sẽ thấy những tiêu đề như Demonic Males (tạm dịch: Quỷ dữ), The Selfish Gene✻ và The Murderer Next Door (tạm dịch: Sát nhân nhà hàng xóm). Từ lâu, các nhà sinh vật học đã thừa nhận lý thuyết tiến hóa theo cách u ám nhất. Lý thuyết này cho rằng, cho dù một loài động vật có vẻ làm một điều gì đó tốt đẹp, nhưng cuối cùng vẫn bị coi là ích kỉ. Tình cảm gia đình ư? Sẽ bị coi là gia đình trị! Con khỉ chia sẻ một quả chuối? Sẽ bị coi là để cho kẻ khác lợi dụng, ăn bám![31] Một nhà sinh vật học người Mỹ từng mỉa mai: “Những hành động thể hiện tính hợp tác lại bị coi là sự pha trộn của chủ nghĩa cơ hội và bóc lột… Hãy xé toạc lớp vỏ “người vị tha” và bạn sẽ nhìn thấy dòng máu “đạo đức giả” đang chảy trong họ”.[32]

Trong lĩnh vực kinh tế học, cái nhìn về con người cũng không sáng sủa hơn là mấy. Các nhà kinh tế định nghĩa chúng ta là con người kinh tế (homo economicus) nghĩa là luôn cố gắng vì lợi ích riêng của mình chẳng khác gì những người máy ích kỉ, đầy toan tính. Dựa trên quan niệm về bản chất con người này, các nhà kinh tế đã xây lên một thánh đường lý thuyết chắc chắn và đúc kết lại thành hàng chồng giấy tờ dày cộp chỉ để ghi các điều luật quy định.

Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy chưa một ai từng nghiên cứu xem liệu con người kinh tế có thực sự tồn tại hay không. Mãi cho tới năm 2000, nhà kinh tế học Joseph Henrich và nhóm của ông mới bắt đầu nghiên cứu về vấn đề này. Họ đã thăm 15 cộng đồng tại 12 quốc gia trên năm châu lục. Đối tượng nghiên cứu mà họ chọn bao gồm: nông dân, dân du mục và những người săn bắt hái lượm, nhằm tìm kiếm điều mà chúng ta gọi là họ người (hominid) đã dẫn dắt lý thuyết kinh tế trong hàng thập kỉ. Tuy nhiên nghiên cứu này đã không đạt được kết quả như mong muốn. Sau mỗi lần như vậy, những điều thu thập được đều chỉ ra rằng con người vốn rất tử tế, rất tốt bụng.[33]

Sau khi công bố phát hiện có tầm ảnh hưởng này, Henrich tiếp tục tìm kiếm sinh vật huyền thoại mà rất nhiều nhà kinh tế học dựa vào để phát triển các lý thuyết của mình. Cuối cùng ông ấy đã tìm thấy: con người kinh tế bằng xương bằng thịt. Mặc dù người (homo) chưa phải là từ chính xác để chỉ về giống loài này. Ông nhận ra, hóa ra con người kinh tế không phải là con người, mà là loài tinh tinh. Henrich đã ghi lại rằng: “Các dự đoán thường thấy về mô hình con người kinh tế đã đạt được thành công trong việc dự đoán hành vi của tinh tinh trong những thí nghiệm đơn giản. Cho nên, toàn bộ lý thuyết về con người kinh tế không hề trở nên vô ích mà chỉ là đã áp dụng nhầm giống loài mà thôi.”[34]

Tệ hơn nữa là, quan điểm mập mờ về bản chất con người đã tạo ra một hiệu ứng phản dược suốt nhiều thập kỉ. Những năm 1990, giáo sư kinh tế học Robert Frank đã rất băn khoăn rằng: không biết việc nhìn nhận loài người cơ bản là ích kỉ sẽ gây ra tác động như thế nào đến sinh viên của mình. Ông giao cho sinh viên một loạt bài tập được thiết kế nhằm đo lường tính cách quảng đại và bao dung của họ. Vậy kết quả thu được từ bài tập này là gì? Đó là càng nghiên cứu kinh tế học lâu thì sinh viên của ông càng trở nên ích kỉ. Chính Frank đã đưa ra kết luận: “Chúng ta trở thành những gì mà chúng ta dạy.”[35]

Học thuyết bản chất con người vốn là ích kỉ đã bén rễ sâu vào suy nghĩ cũng như tư duy của người phương Tây. Những nhà tư tưởng lớn như: Thucydides, Augustine, Machiavelli, Hobbes, Luther, Calvin, Burke, Bentham, Nietzsche, Freud và các nhà lập quốc Hoa Kỳ đều có những luận điểm riêng cho lý thuyết về văn minh. Tuy nhiên, tất cả họ đều cho rằng loài người đang sống trên Hành tinh B.

Quan điểm yếm thế này vốn đã được lưu truyền từ thời Hy Lạp cổ đại. Chúng ta đọc được về nó ở những trước tác của một trong những sử gia đầu tiên, Thucydides, khi ông mô tả một cuộc nội chiến nổ ra trên đảo Corcyra của Hy Lạp năm 427 trước Công nguyên. Ông viết: “Với những quy ước thông thường của một cuộc sống văn minh bị rối loạn, thì con người với bản chất sẵn sàng phạm lỗi ngay cả ở nơi có luật pháp, sẽ kiêu hãnh phô bày bản chất đích thực của mình.”[36] Có nghĩa là, cách con người hành xử chẳng khác gì những con thú.

Một nhãn quan tiêu cực được truyền bá trong Kitô giáo ngay từ những ngày đầu đó là: con người sinh ra đã mắc tội (hay còn gọi là tội nguyên tổ). Giáo lý này được rất nhiều vị thánh nổi tiếng rao giảng, chẳng hạn như Thánh Augustine (354-430), trong một tác phẩm của mình ông đã viết: “Không ai hoàn toàn sạch tội cả, cho dù là một đứa trẻ mới sinh.”[37]

Quan niệm về tội nguyên tổ vẫn phổ biến suốt thời cải cách tôn giáo, khi những người Tin Lành tách khỏi Giáo hội Công giáo La Mã. Theo nhà cải cách và nhà thần học John Calvin thì “bản chất của con người không chỉ thiếu và ít điều tốt, mà còn phong phú và sẵn có mọi điều xấu xa đến mức chúng không thể ở yên một chỗ”. Niềm tin này được lưu truyền trong những bản văn Tin Lành chính yếu như Giáo lý vấn đáp Heidelberg (1563), trong đó có viết rằng con người: “hoàn toàn không thể làm bất kì điều gì tử tế và có thiên hướng làm mọi điều xấu xa”.

Thật lạ là, không chỉ có Kitô giáo truyền thống, mà suốt cả thời kì Khai sáng, thời kì vốn đặt lý trí lên đức tin, cũng xuất phát từ quan điểm tiêu cực về bản chất con người. Các tín hữu Chính Thống giáo được thuyết phục rằng giống loài chúng ta cơ bản là trụy lạc và điều tử tế nhất chúng ta có thể làm là thoa một lớp dầu bóng bẩy lên lòng mộ đạo. Các triết gia thời kì Khai sáng cũng cho rằng loài người trụy lạc, nên đã “kê đơn” một mớ giá trị đạo đức nhằm cố gắng che đi sự thối nát sẵn có ở mỗi người.

Tính liên tục và xuyên suốt trong tư duy phương Tây về quan niệm và bản chất con người khiến chúng ta phải kinh ngạc. Niccolò Machiavelli, cha đẻ môn khoa học chính trị đã kết luận: “Có thể nói đặc điểm chung của mọi con người là: vô ơn, hay thay đổi, đạo đức giả.” John Adams, nhà sáng lập nền dân chủ Mỹ cũng tán đồng với ý kiến đó, ông viết: “Mọi người đều trở thành những tên bạo chúa nếu họ có cơ hội.” Còn Sigmund Freud, cha đẻ của tâm lý học hiện đại thì nói: “Chúng ta là hậu duệ của vô số những thế hệ sát nhân.”

Vào thế kỉ 19, sau khi Charles Darwin đã công bố thuyết tiến hóa của mình, nó nhanh chóng được giới khoa học đem ra bàn luận và mổ xẻ. Nhà khoa học uy tín Thomas Henry Huxley cũng rao giảng rằng cuộc sống là một trận chiến vĩ đại “con người chống lại con người, dân tộc chống lại dân tộc”.[38] Triết gia Herbert Spencer đã bán được cả trăm nghìn cuốn sách về điều mà ông khẳng định rằng, chúng ta cần phải thêm dầu vào lửa trong trận chiến này, vì “toàn bộ nỗ lực của mẹ thiên nhiên là loại bỏ những gì kém cỏi để thế giới không còn những thứ ấy, và nhường chỗ cho những điều tốt đẹp hơn”.[39]

Điều đáng nói là những nhà tư tưởng này gần như được chúng khẩu đồng từ ca tụng như “những nhà hiện thực chủ nghĩa”, trong khi các nhà tư tưởng bất đồng chính kiến với lòng tin vào sự lương thiện của con người lại bị đem ra giễu cợt, bị coi là một trò đùa.[40] Emma Goldman, một nhà nữ quyền dành cả đời để đấu tranh cho tự do và bình đẳng đã bị phỉ báng và khinh miệt đến độ bà đã phải thốt lên: “Tội nghiệp thay bản chất con người, bao tội ác rùng rợn đã được thực hiện nhân danh người!… Gã lang băm mắc bệnh tâm thần càng nặng, thì thái độ kiên định của gã về sự xấu xa cũng như những khiếm khuyết của bản chất con người càng hiển hiện rõ.”[41]

Cho đến gần đây, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mới cùng đi đến thống nhất rằng: quan điểm nghiệt ngã của chúng ta về nhân tính con người là bởi những thay đổi triệt để mà chúng ta đã thực hiện. Nhận thức này vẫn còn mới mẻ đến độ nhiều người trong số họ không nhận ra mình có đồng sự. Khi tôi có dịp trò chuyện với một nhà tâm lý học xuất chúng về khuynh hướng mới của ngành sinh học, bà đã phải thốt lên rằng: “Ôi Chúa ơi, vậy là nó cũng đang diễn ra ở lĩnh vực đó à?”[42]

04

Trước khi trình bày kết quả nghiên cứu của tôi về quan điểm mới về nhân loại, tôi muốn các bạn lưu ý ba điều.

Thứ nhất, bênh vực thiện tính của con người nghĩa là chống lại Hydra, con quái vật bảy đầu trong Thần thoại Hy Lạp mọc thêm hai đầu mỗi khi Hercules chặt đi một cái. Tư tưởng yếm thế cũng tương tự như vậy. Đối với mỗi luận cứ bất tín về bản tính tốt đẹp của con người mà bạn giải quyết, lại có thêm hai luận cứ khác xuất hiện thay thế. Lý thuyết vỏ ngoài giống như một thứ xác sống, liên tục quay lại tấn công chúng ta.

Thứ hai, để bênh vực và bảo vệ quan điểm về tính bản thiện nơi con người trước những quan điểm trái chiều, cần có chính kiến cũng như lý lẽ sắc bén. Với những người có quyền lực, một quan điểm với cái nhìn hết sức tươi sáng về bản chất con người, rõ ràng là một lời đe dọa trực tiếp. Lật đổ. Nổi loạn. Nó hàm ý rằng chúng ta không phải những con thú ích kỉ cần phải chế ngự, kiềm thúc và điều chỉnh. Điều đó đưa ra ngụ ý rằng chúng ta cần một kiểu lãnh đạo khác. Chẳng khác gì một công ty mà đội ngũ nhân viên, vốn có động cơ thực chất từ bên trong, không cần đến các nhà quản lý nữa, hay một nền dân chủ với những công dân tận tụy, tốt bụng và không cần đến sự lãnh đạo của các chính trị gia.

Thứ ba, bênh vực tính bản thiện nơi con người nghĩa là sẵn sàng vượt qua những cơn bão dư luận. Bạn sẽ bị coi là kẻ ngu đần, đầu đất, thậm chí là điên rồ. Bất kì điểm yếu nào trong lý trí của bạn cũng sẽ bị đem ra phơi bày hoặc bị chỉ trích một cách tàn nhẫn, về cơ bản, làm một người yếm thế thường dễ chịu hơn. Một vị giáo sư rao giảng về sự sa đọa của con người, có thể dự đoán được bất kì điều gì tiêu cực mà ông muốn, vì những điều ông dự đoán nếu không trở thành sự thật lúc này, thì cũng trở thành sự thật vào lúc khác, cứ đợi thôi bởi thất bại vẫn luôn chờ chực. Hoặc chính tiếng nói lý trí của ông ấy đã ngăn chặn được điều tồi tệ nhất. Những nhà tiên tri về ngày tận thế, họ thật uyên thâm và tỏ ra nguy hiểm, bất kể họ đang ba hoa điều gì.

Ngược lại, những lý lẽ về niềm hi vọng lại luôn bị coi là mang tính tạm thời. Không có gì sai cả – chỉ là chưa sai thôi. Bạn không bị lừa dối – là bạn chưa bị thôi. Một người theo chủ nghĩa lý tưởng có thể đúng cả đời mình nhưng vẫn luôn bị mọi người coi là kẻ khờ khạo. Cuốn sách này mong muốn độc giả sau khi đọc xong sẽ thay đổi não trạng đó. Bởi những điều tưởng chừng phi lý, phi thực tế và bất khả thi hôm nay rất có thể trở thành hiện thực vào ngày mai.

Đã đến thời chủ nghĩa hiện thực mới lên ngôi. Đã đến lúc một quan điểm tươi sáng về nhân loại xuất hiện.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.