Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Phần 2

CHÚA RUỒI ĐỜI THỰC

01

Khi bắt đầu viết cuốn sách này, tôi biết một câu chuyện mà tôi phải giải quyết trước.

Câu chuyện xảy ra như sau, một chiếc máy bay bị rơi xuống một hòn đảo hoang ở Thái Bình Dương, những người may mắn sống sót là vài học sinh người Anh. Các cậu bé không tin vào vận may của mình, cứ như thể chúng vừa hạ cánh xuống một vùng đất giống như trong những câu chuyện phiêu lưu kì thú. Chẳng có gì ngoài bãi biển, vỏ ốc và nước. Và tuyệt vời nhất là không có người lớn.

Ngày đầu tiên, các cậu bé thiết lập một nền dân chủ. Một cậu bé tên là Ralph được bầu làm thủ lĩnh của nhóm. Cậu là người khỏe mạnh, có khả năng thuyết phục và điển trai, cả nhóm đặt rất nhiều hi vọng vào cậu. Kế hoạch của Ralph dành cho cả nhóm chỉ đơn giản là: vui vẻ, sống sót và phát tín hiệu để những con tàu đi qua đến cứu.

Điều đầu tiên đã thành công. Hai điều còn lại thì sao? Cũng thành công nhưng không nhiều. Hầu hết các cậu bé đều quan tâm đến việc tiệc tùng và vui đùa hơn là trông coi ngọn lửa báo tin. Jack, cậu bé tóc đỏ, ham mê săn bắn và theo thời gian, cậu cùng các bạn mình ngày càng trở nên liều lĩnh hơn. Cuối cùng khi một con tàu đi qua đảo, chúng đã bỏ lỡ việc đốt lửa cầu cứu.

“Cậu đã phá quy định!” Ralph giận dữ kết tội.

Jack nhún vai, “Ai thèm quan tâm chứ?”

“Quy định là điều duy nhất chúng ta có!”

Khi màn đêm buông xuống, các cậu bé bị nỗi sợ hãi bóp nghẹt. Các cậu lo sợ những con thú mà các cậu tin là đang lởn vởn trên đảo rình rập. Nhưng con thú duy nhất ở trên hòn đảo lại đang nằm trong chính bọn trẻ. Chẳng bao lâu, chúng bắt đầu vẽ mặt, cởi bỏ hết quần áo và phát tiết những ham muốn như: cấu, véo, đá và cắn.

Trong tất cả các cậu bé, chỉ một người cố giữ được cái đầu lạnh. Piggy, biệt danh mà người khác đặt cho cậu vì cậu mập và lùn nhất trong đám, ngoài ra cậu còn bị hen, cận thị và không biết bơi. Piggy là tiếng nói của lý trí, nhưng chẳng ai lắng nghe. Cậu rầu rĩ tự hỏi: “Chúng ta là gì vậy? Những con người hay con vật, hay là giống man rợ nào đó?”

Nhiều tuần trôi qua. Một ngày nọ, có một sĩ quan hải quân Anh đến để giải cứu những đứa trẻ. Hòn đảo giờ là một hoang địa âm ỉ. Ba đứa trẻ, trong đó có Piggy, đã chết. Viên sĩ quan tiếp cận bọn trẻ đã nói: “Tôi cứ nghĩ rằng một nhóm con trai người Anh thì có thể tạo ra màn thể hiện hay ho hơn thế.” Ralph, thủ lĩnh của nhóm các cậu bé, từng là người rất chuẩn mực và hành xử lễ độ, đã bật khóc.

Tiếng khóc đó có thể hiểu là: “Ralph khóc than vì sự kết thúc của những ngây thơ. Và cũng có thể vì sự tăm tối của tâm hồn con người…”

Thực tế, câu chuyện trên không hề có thật, nó được một giáo viên người Anh tên là William Golding viết và xuất bản năm 1951. “Viết ra một câu chuyện về vài cậu bé trên một hòn đảo, cho thấy bọn trẻ sẽ thật sự hành xử như thế nào, không phải là một ý tưởng hay sao?” William Golding từng hỏi vợ mình như vậy.[1]

Cuốn sách của Golding, Lord of the Flies✻, đã bán được hàng chục triệu bản, được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ và được xếp vào danh sách những tác phẩm văn học kinh điển của thế kỉ 20.

Khi nhìn lại, điều khiến cuốn sách đạt được thành công hiện lên rõ ràng, có thể thấy Golding là bậc thầy về khả năng khắc họa những tầng sâu, tăm tối nhất của con người. Trong lá thư lần đầu gửi nhà xuất bản, ông đã viết: “Thậm chí, nếu được làm lại cuộc đời thì bản chất của chúng ta vẫn buộc chúng ta vấy bẩn nó.”[2] Cho đến tận sau này ông vẫn nhận xét: “Con người sinh ra thói xấu như con ong làm ra mật.”[3]

Dĩ nhiên, Golding cũng là người mang tâm thức thời đại (Zeitgeist) của những năm 1960, khi thế hệ mới chất vấn cha mẹ mình về những hành động tàn bạo họ đã làm trong Thế chiến thứ Hai. Họ muốn tìm hiểu xem trại tập trung Auschwitz có phải là một sự dị thường hay liệu có một tên phát xít nào đó luôn ẩn nấp bên trong chúng ta hay không?

Trong Chúa Ruồi, William Golding đã tập trung lột tả vế thứ hai và ngay lập tức tạo được một cơn địa chấn. Lionel Trilling, một nhà phê bình văn học lớn cho rằng cuốn tiểu thuyết “đánh dấu bước đột phá về văn hóa”.[4] Cũng chính nhờ cuốn tiểu thuyết này mà Golding đã giành được giải Nobel Văn học vào năm 1983. Hội đồng Nobel Thụy Điển từng nhận xét, “tác phẩm của ông đã soi sáng hoàn cảnh của con người trên thế giới ngày nay bằng sự sáng suốt của nghệ thuật kể chuyện hiện thực cùng sự đa dạng và phổ quát của thần thoại”.

Cho đến nay, Chúa Ruồi được độc giả đón nhận không chỉ với tư cách là một cuốn tiểu thuyết đơn thuần, mà ẩn sâu trong nội dung nó còn có nhiều tầng giá trị hơn thế. Chắc chắn, tiểu thuyết này có thể xếp cùng kệ với những cuốn tiểu thuyết khác, tuy nhiên việc Golding đào sâu, mô tả kĩ bản chất con người đã nâng tầm để nó trở thành một cuốn sách giáo khoa đúng nghĩa về lý thuyết vỏ ngoài. Trước Golding, chưa một ai từng thử sức với đề tài chủ nghĩa hiện thực chân thực khi xây dựng tuyến nhân vật chính là những đứa trẻ. Thay vì viết những câu chuyện cổ tích ủy mị, hay những ngôi nhà trên thảo nguyên mênh mông hoặc những chàng hoàng tử nhỏ bé cô đơn, thì đây – có vẻ vậy – là một cái nhìn dữ dội xem trẻ con thật sự là gì.

02

Tôi đọc tác phẩm Chúa Ruồi từ hồi niên thiếu. Mỗi khi suy ngẫm về nó tôi đều cảm thấy vỡ mộng, đồng thời tôi chưa bao giờ nghi ngờ quan điểm của Golding về bản chất con người được thể hiện qua tác phẩm đó.

Nhiều năm sau, tôi đọc lại cuốn sách đó và những cảm giác trên đã không còn. Tôi bắt đầu tìm hiểu về tác giả, tôi hiểu ra ông là một người bất hạnh. Một người nghiện ngập. Dễ trầm cảm. Một người cha bạo hành con cái. Đến mức chính Golding cũng từng thú nhận: “Tôi hiểu những gã phát xít là như thế nào, vì bản chất, tôi chính là một gã phát xít mà.”

Và chính “một phần của sự tự nhận thức đáng buồn đó” đã giải thích cho việc ông ấy viết Chúa Ruồi.[5]

Những người khác không mấy quan tâm đến Golding. Người viết tiểu sử về Golding từng nhận xét, thậm chí ông ấy còn không đánh vần đúng tên của người quen. “[Một] vấn đề với tôi còn cấp bách hơn cả việc gặp gỡ người khác,” Golding nói, là “bản chất con Người với chữ N viết hoa✻.”[6]

Vì thế tôi bắt đầu thắc mắc: Liệu có ai từng nghiên cứu xem thực sự bọn trẻ sẽ làm gì nếu chỉ có mình chúng trên một hòn đảo hoang? Tôi đã viết một bài về chủ đề này, trong đó tôi so sánh Chúa Ruồi với những hiểu biết mang tính khoa học và đưa ra kết luận rằng: Khả năng là bọn trẻ sẽ hành xử theo cách rất khác.[7] Tôi trích lại lời nhà sinh vật học Frans de Waal từng nói: “Không có bất kì bằng chứng nào cho thấy những đứa trẻ sẽ hành xử như vậy khi được tự tung tự tác.”[8]

Độc giả của bài viết đó phản ứng theo cách đầy hoài nghi. Tất cả những ví dụ mà tôi đưa ra, chỉ liên quan đến việc bọn trẻ: ở nhà, ở trường hoặc trại hè. Nó không trả lời cho câu hỏi cơ bản là: Điều gì xảy ra khi bọn trẻ bị bỏ lại trên một đảo hoang một mình?

Vậy là tôi bắt đầu cuộc tìm kiếm một Chúa Ruồi phiên bản đời thực.

Dĩ nhiên, vào những năm 1950, có rất ít cơ hội cho phép các nhà nghiên cứu tiến hành thử nghiệm về hành vi của trẻ vị thành niên bị bỏ mặc ở nơi hoang dã hàng tháng trời. Nhưng chẳng nhẽ trong thực tế một tai nạn tương tự lại chưa bao giờ xảy ra ư? Một vụ đắm tàu chẳng hạn?

Tôi bắt đầu tìm kiếm thông tin trên internet với các từ khóa: “Trẻ em bị đắm tàu”, “Chúa Ruồi đời thực”, “Trẻ em trên đảo”. Tuy nhiên, kết quả đầu tiên tôi tìm được là thông tin về một chương trình thực tế của Anh từ năm 2008, trong đó những người chơi tự tranh đấu với nhau. Sau đó, tình cờ tôi tìm thấy một blog vô danh kể về một câu chuyện khiến tôi chú ý: “Một hôm, vào năm 1977, sáu cậu bé người Tonga lên đường tham gia một chuyến câu cá. […] Thế rồi một cơn bão lớn ập đến đánh chìm chiếc tàu của các cậu, cả nhóm bị dạt lên một hoang đảo. Vậy những con người nhỏ bé này đã làm gì để sống sót? Các cậu tự đưa ra một quy định là không bao giờ được cãi nhau.”[9]

Bài viết không đưa ra nguồn trích dẫn nào cả. Sau một thời gian tìm kiếm, tôi phát hiện rằng câu chuyện này được trích từ một cuốn sách có nhan đề The Child in The Country (tạm dịch: Đứa trẻ nơi thôn dã, xuất bản năm 1988) của Colin Ward, một tác giả theo chủ nghĩa vô chính phủ nổi tiếng. Hóa ra Ward lại trích dẫn câu chuyện từ một báo cáo của một chính trị gia người Ý, Susanna Agnelli, soạn cho một ủy ban quốc tế nào đó.

Cảm thấy đầy hi vọng, tôi tiếp tục tìm kiếm thông tin về những bài báo liên quan. Và tôi đã gặp may khi tìm thấy bản báo cáo tại một cửa hàng sách cũ. Hai tuần sau, nó được giao đến cửa nhà tôi. Xem qua một lượt, tôi tìm thấy thông tin mình cần ở trang 94.

Chỉ sáu cậu bé trên một hoang đảo, không có người lớn. Cùng một nội dung, cùng chi tiết, cùng ngôn từ và tiếp tục… không có nguồn.[10]

Được thôi, tôi nghĩ mình có thể lần theo chi tiết bà Susanna Agnelli này và hỏi xem bà ấy biết được câu chuyện này từ đâu. Nhưng tôi đã không gặp may bởi vì bà ấy đã qua đời vào năm 2009. Tôi nghĩ rằng, nếu thực sự chuyện này đã xảy ra thì nhất định phải có một bài báo nào đó viết về nó trong khoảng năm 1977. Không chỉ vậy, biết đâu các cậu bé đó vẫn còn sống thì sao! Nhưng tôi lục tìm hết kho lưu trữ này tới kho lưu trữ khác mà chẳng thể tìm được bất kì một thông tin gì.

Đôi khi, những gì bạn cần là một chút may mắn, và may mắn đã mỉm cười với tôi. Vào một ngày nọ, tôi đến một kho lưu trữ báo để tìm kiếm thông tin tư liệu, tôi gõ nhầm một con số và tìm tới tận những năm 1960. Và nó ở đó. Tham chiếu tới năm 1977 trong báo cáo của Agnelli hóa ra lại là lỗi in ấn.

Trong số báo ngày 6 tháng 10 năm 1966 của tờ báo The Age ở Úc, một tít bài đập vào mắt tôi: Buổi gặp mặt vào ngày Chủ nhật của những người Tonga sống sót sau vụ đắm tàu. Câu chuyện liên quan đến sáu cậu bé được tìm thấy ba tuần trước đó trên một đảo nhỏ ở phía nam Tonga, một quần đảo thuộc Thái Bình Dương (được Anh bảo hộ cho tới năm 1970). Các cậu bé được một thuyền trưởng người Úc giải cứu sau khi bị dạt vào hòn đảo Ata và sống trên đó trong hơn một năm. Theo thông tin bài báo cung cấp, viên thuyền trưởng còn mời một đài truyền hình đến ghi hình tái hiện lại tháng ngày sống trên đảo của các cậu bé.

Cuối bài báo, tác giả có khẳng định: “Câu chuyện sống sót của những cậu bé được xem là một trong những câu chuyện kinh điển vĩ đại của biển cả.”

Sau khi đọc xong bài báo đó, đầu óc tôi nổ tung với hàng loạt câu hỏi: Các cậu bé đó còn sống không? Liệu tôi có thể tìm được thước phim truyền hình đã dựng lại câu chuyện đó không? Quan trọng nhất là tôi có một đầu mối: người thuyền trưởng Peter Warner. Có thể ông ấy vẫn còn sống! Nhưng làm cách nào bạn tìm được địa chỉ của một ông già ở bên kia địa cầu?

Tôi tiếp tục tìm kiếm thông tin về vị thuyền trưởng đó và một lần nữa may mắn lại mỉm cười với tôi. Trong số báo gần đây của tờ Daily Mercury, một tờ báo địa phương nhỏ của vùng Mackay, Úc, tôi bắt gặp tiêu đề: NHỮNG NGƯỜI BẠN GẮN BÓ SUỐT 50 NĂM. In kèm bài báo là một bức ảnh nhỏ chụp hai người đang khoác tay và cười với nhau. Bài báo mở đầu bằng nội dung: “Tại một đồn điền trồng chuối ở Tullera, gần Lismore, có một đôi bạn… Những người này có đôi mắt biết cười và một năng lượng khỏe khoắn ít thấy ở tuổi họ. Người lớn hơn, đã 83 tuổi, là con trai của một vị doanh nhân giàu có. Người trẻ hơn, 67 tuổi, là đứa con của tự nhiên, theo đúng nghĩa đen.”[11]

Tên của họ là gì ư? Peter Warner và Mano Totau. Họ gặp nhau ở đâu?

Trên một hoang đảo.

03

Vào một buổi sáng của tháng 9, tôi cùng vợ tôi, Maartje đã lên đường đi tìm họ. Tôi thuê một chiếc xe hơi ở Brisbane, bờ đông nước Úc, và lái xe với tâm trạng lo lắng. Tôi phải thi đến sáu lần mới lấy được bằng lái cộng với việc phải điều khiển xe mé bên trái đường, nên tôi cảm thấy khá căng thẳng. Nhưng điều khiến tôi hồi hộp hơn cả là: tôi đang đi gặp một nhân vật chính từ “một trong những câu chuyện kinh điển vĩ đại về biển cả”.

Khoảng ba tiếng sau, chúng tôi đã đến được chỗ cần đến, một nơi mà ngay cả Google Maps cũng phải bó tay. Đó là nơi ở của thuyền trưởng Peter Warner, một ngôi nhà lụp xụp cạnh con đường bụi bặm. Trông thấy ông tôi tự nhủ: Người đã cứu sáu cậu bé bị lạc trên hoang đảo 50 năm trước đây rồi!

Có vài điều tôi muốn các bạn biết về Peter trước khi tôi kể câu chuyện ông đã cứu sống những cậu bé ra sao, vì riêng cuộc đời ông đã đáng được dựng thành phim, ông là con út của Arthur Warner, từng là một trong những người giàu có và quyền lực nhất nước Úc. Những năm 1930, Arthur cai quản cả một đế chế rộng lớn gọi là Electronic Industries, thống trị ngành phát thanh của đất nước thời kì đó.

Lẽ ra Peter sẽ trở thành người kế tục cha mình. Tuy nhiên năm 17 tuổi, ông đã bỏ trốn. Ông chọn biển cả để thỏa mãn máu phiêu lưu của mình. “Tôi thích chiến đấu với tự nhiên hơn là con người”, ông giải thích.[12]

Peter dành nhiều năm tháng của tuổi trẻ để rong ruổi khắp các vùng biển, từ Hồng Kông đến Stockholm, từ Thượng Hải đến St. Petersburg. Năm năm sau ông trở về nhà, đứa con hoang đàng trình cho cha mình chứng chỉ thuyền trưởng Thụy Điển. Không chút xúc động, Arthur Warner đã yêu cầu con trai học lấy một nghề hữu dụng.

“Nghề gì dễ nhất thưa bố?” ông Peter hỏi.

“Kế toán,” cụ Arthur nói dối.[13]

Mất thêm năm năm nữa trong trường nội trú để Peter lấy được tấm bằng kế toán. Sau đó, ông tiếp tục làm việc cho công ty của cha mình. Tuy nhiên ông vẫn say mê với biển cả và bất kì khi nào có thể đi xa, Peter lại đến Tasmania, nơi ông duy trì đội thuyền đánh cá của mình. Chính nghề đánh cá này đã mang ông ấy tới Tonga vào mùa đông năm 1966. Ông đã có một buổi diện kiến nhà vua để xin phép được đánh bắt tôm hùm ở vùng biển Tonga. Rất tiếc, Đức vua Taufa’ahau Tupou IV đã từ chối thỉnh cầu này.

Đầy thất vọng, Peter quay trở về Tasmania, nhưng ông lại chọn đường vòng một chút, ra khỏi vùng biền của hoàng gia để được buông lưới. Và ông nhìn thấy nó, một hòn đảo nhỏ xíu giữa vùng biển xanh ngắt.

Đảo Ata.

Peter biết từ lâu chẳng có con thuyền nào thả neo ở đó. Hòn đảo từng có người sinh sống, cho tới một ngày đen tối năm 1863, một chiếc tàu nô lệ xuất hiện nơi đường chân trời và ra đi cùng tất cả những người bản địa. Kể từ đó, Ata bị bỏ hoang, bị nguyền rủa và lãng quên.

Nhưng ông Peter nhận thấy có gì đó kì lạ. Qua ống nhòm, ông nhìn thấy những khoảng đất bị đốt cháy trên vách đá xanh, ông kể lại rằng: “Ở miền nhiệt đới các đám cháy tự bùng lên là điều hết sức bất thường. Cho nên tôi quyết định khám phá.” Khi xuồng của ông tiếp cận mũi phía tây hòn đảo, Peter nghe thấy tiếng hét từ phía tổ quạ.

“Tôi nghe thấy tiếng ai đó đang gọi!” Một thủy thủ hét lên.

“Vớ vẩn,” ông Peter quát lại. “Chỉ toàn là tiếng quạ chí chóe thôi.” Nhưng sau đó, qua ống nhòm, ông thấy một cậu bé. Trần truồng. Tóc xõa xuống tận vai. Sinh vật hoang dã này nhảy khỏi sườn núi và lao mình xuống nước. Đột nhiên, các cậu bé khác cũng xuất hiện và lao theo, tiếng hét của các cậu đã xé toạc không gian yên ắng của biển cả.

Peter hạ lệnh cho thủy thủ đoàn lên đạn, ông rất thận trọng bởi tập quán của người Polynesia là sẵn sàng đánh đuổi những tên tội phạm nguy hiểm ở những hòn đảo xa xôi. Chẳng mấy chốc cậu bé đầu tiên đã bơi tới xuồng. “Tên cháu là Stephen,” cậu nói bằng thứ tiếng Anh hoàn hảo. “Chúng cháu có sáu người và chúng cháu bị dạt vào đây khoảng 15 tháng trước.” ông Peter thấy hơi nghi ngờ. Khi đã lên tàu, các cậu bé nói rằng các cậu là học sinh của một trường nội trú ở Nukualofa, nằm ở thủ đô Tonga. Chỉ vì quá ngán những bữa ăn ở trường nên chúng đã quyết định trộm một chiếc thuyền ra biển câu cá, sau đó, đen đủi làm sao lại gặp ngay phải một cơn bão.

Peter nghĩ rằng rất có thể những điều các cậu nói là sự thật. Ông sử dụng hệ thống radio hai chiều của mình gọi tới Nukualofa. Ông nói với nhân viên trực điện thoại: “Tôi có sáu đứa trẻ ở đây. Nếu tôi cung cấp cho anh tên của chúng, anh có thể hỏi giáo viên để xác nhận xem liệu chúng có phải là học sinh của trường được không?”

“Rất sẵn lòng,” người trực điện thoại đáp.

Hai mươi phút chậm chạp trôi đi. Kể lại đoạn này, Peter rơm rớm nước mắt.

Cuối cùng, nhân viên trực giọng nghẹn ngào trả lời, “Anh đã tìm thấy chúng ư! Mấy cậu bé này bị cho là đã chết. Tang lễ đã được tổ chức. Nếu đúng là chúng thì đây quả là một phép màu!”

Sau đó tôi hỏi Peter xem ông ấy từng nghe nói đến cuốn Chúa Ruồi chưa.

“Có, tôi đọc nó rồi,” ông ấy cười và nói tiếp: “Nhưng đó là một câu chuyện hoàn toàn khác với đời thực!”

04

Nhiều tháng sau, tôi cố gắng tái hiện lại một cách chính xác nhất những gì đã xảy ra với các cậu bé khi họ bị dạt vào hòn đảo Ata. Phải nói là trí nhớ của Peter rất tốt, thậm chí dù đã 90 tuổi nhưng mọi điều ông kể đều khớp với các nguồn khác.[14]

Một nguồn thông tin rất hữu ích nữa đó là Mano Totau đang sống cách Peter vài tiếng lái xe. Mano Totau là một trong sáu cậu bé từng được Peter cứu. Mano, 15 tuổi vào thời điểm đó, giờ đã 70 tuổi, luôn coi thuyền trưởng là một trong số bạn thân nhất của mình. Vài ngày sau khi thăm Peter, tôi đã đến gặp Mano. Ông ấy đón tiếp hai vợ chồng tôi tại nhà ông ở vịnh Deception, phía bắc Brisbane.

Chúa Ruồi phiên bản đời thực được Mano kể lại cho chúng tôi nghe, câu chuyện bắt đầu vào tháng 6 năm 1965.

Đương nhiên vai chính là sáu cậu bé, học sinh trường St. Andrew’s, một trường nội trú Công giáo khá nghiêm khắc ở Nukualofa. Cậu lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 13, và cả sáu cậu bé đều có một điểm chung: chúng cảm thấy ngán trường học muốn chết! Các cậu choai này thèm những chuyến phiêu lưu hơn là việc làm bài tập, thèm cuộc sống tự do hơn là bị nhốt trong trường.

Cho nên các cậu nảy ra một kế hoạch bỏ trốn: tới Fiji, cách đó khoảng 500 dặm, hoặc nếu có thể thì đi thẳng một mạch tới New Zealand. Mano nhớ lại: “Rất nhiều bạn khác trong trường biết chuyện này, nhưng họ lại cho là chúng tôi đang đùa.”

Chỉ một trở ngại duy nhất, không ai trong số các cậu bé sở hữu một con thuyền, cho nên các cậu đã “mượn tạm” chiếc thuyền của ông Taniela Uhila, một ngư dân mà tất cả các cậu đều không ưa.

Các cậu chẳng chuẩn bị gì nhiều: hai bao chuối, vài quả dừa và một mỏ hàn khí đốt nhỏ, đó là tất cả nhu yếu phẩm các cậu gói ghém được. Còn chẳng ai nghĩ đến việc mang theo một tấm bản đồ chứ đừng nói gì đến la bàn. Đặc biệt nhất là không ai trong số các cậu có kinh nghiệm đi biển hay từng là thủy thủ. Chỉ có cậu bé nhỏ tuổi nhất, David, biết cách điều khiển một con thuyền, mà theo cậu thì đó “chính là lý do họ muốn tôi đi cùng.”[15]

Chuyến đi bắt đầu mà chẳng gặp trở ngại gì. Chẳng ai chú ý đến con thuyền nhỏ vừa rời cảng vào buổi tối hôm đó. Bầu trời quang đãng, chỉ có làn gió nhẹ mơn man, biển cả yên tĩnh.

Nhưng ngay đêm đó các cậu bé đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng. Các cậu đã ngủ quên. Vài tiếng sau, các cậu bị đánh thức bởi nước mưa đang ào ạt trút xuống. Trời tối đen như mực. Tất cả những gì chúng thấy là những con sóng ngầu bọt cuộn lên tứ phía. Các cậu giương buồm nhưng lập tức bị gió xé tan tành. Tiếp theo là vỡ bánh lái. Cậu bé lớn nhất là Sione còn đùa: “Khi chúng ta về nhà, chúng ta phải nói với ông Taniela rằng, đúng là người làm sao của chiêm bao làm vậy – chiếc thuyền này quá già cỗi và xộc xệch!”[16]

Thế nhưng những ngày tiếp theo, chẳng có nhiều chuyện để mà bông đùa. Mano nhớ lại: “Chúng tôi lênh đênh trên biển tám ngày liền. Không thức ăn. Không nước uống.” Các cậu bé cố gắng bắt cá. Chúng tìm cách hứng lại ít nước mưa trong những gáo dừa và chia nhau thật công bằng, mỗi người nhấp một ngụm buổi sáng và một ngụm nữa vào buổi tối. Sione thử đun nước biển bằng chiếc mỏ hàn khí đốt nhưng nó chao đi và khiến cậu bị bỏng một vệt lớn ở chân.

Đến ngày thứ tám, một phép lạ hiện ra nơi đường chân trời. Đất liền. Chính xác hơn là một hòn đảo nhỏ. Đó không phải một thiên đường nhiệt đới với những hàng cọ xanh tươi vẫy chào, những bãi biển cát trắng kéo dài, mà là một khối đá xù xì, nhô lên khỏi đại dương chừng hơn 300 mét.

Tám ngày lênh đênh trên Thái Bình Dương

Hành trình sáu cậu bé đi tới Ata

Hồi ấy, một nhà thám hiểm người Tây Ban Nha đã tìm thấy Ata chỉ vài năm trước, và nó bị coi là nơi con người không thể sinh sống. Ông nghĩ, đó là nơi lý tưởng dành cho những chuyến thám hiểm xác tàu đắm mà công ty ông thường tổ chức cho đám nhà giàu với những nhu cầu khác thường nào đó. Ông ấy đã đích thân đến và kiểm tra, tuy nhiên chỉ 9 ngày sau, con người tội nghiệp đó đã phải từ bỏ ý định. Khi một phóng viên hỏi liệu công ty của ông có định mở các dịch vụ kinh doanh trên hòn đảo không, ông không do dự mà trả lời thẳng thừng rằng: “Không bao giồ. Hòn đảo quá khắc nghiệt.”[17]

Tuy nhiên, nhóm thiếu niên lại có một trải nghiệm khác hẳn với nhà thám hiểm người Tây Ban Nha. Thuyền trưởng Warner viết trong hồi kí rằng: “Thời điểm chúng tôi đến, các cậu bé đã thiết lập được một hệ sinh thái nhỏ gồm có vườn thực vật nhỏ, những thân cây khoét rỗng để trữ nước mưa, khu vực tập thể thao với những khối tạ kì lạ, một khoảng đất bằng phẳng để chơi quần vợt, một chuồng gà nhỏ và một đống lửa không bao giờ tắt, tất cả đều do các cậu bé tự làm, bằng hai bàn tay, một lưỡi dao cũ cộng thêm quyết tâm cao độ.”[18]

Chính Stephen – sau này là một kĩ sư – sau vô số thất bại, đã tìm cách tạo ra lửa nhờ sử dụng hai chiếc que. Trong khi các cậu bé trong câu chuyện Chúa Ruồi tưởng tượng đánh nhau vì lửa thì những cậu bé trong Chúa Ruồi đời thực lại chăm chút cho ngọn lửa để nó không bao giờ tắt, suốt hơn một năm.

Các cậu bé nhất trí làm việc theo nhóm hai người, phân công nhiệm vụ rõ ràng: làm vườn, làm bếp và cảnh giới. Thỉnh thoảng các cậu cũng cãi nhau, nhưng bất cứ khi nào chuyện đó xảy ra thì các cậu sẽ giải quyết bằng cách áp dụng một khoảng thời gian tạm nghỉ (time-out). Những người cãi nhau, mỗi người một ngả đi đến hai đầu hòn đảo cho đến khi hạ hỏa, và theo như lời Mano kể: “Khoảng bốn tiếng sau, họ sẽ trở lại nơi ở và cùng nói xin lỗi nhau. Đó là cách chúng tôi áp dụng để duy trì tình bạn.”[19]

Mỗi ngày đều bắt đầu và kết thúc bằng những bài hát và lời nguyện ngắn. Kolo tự làm một cây ghita đơn giản từ một mảnh ván mà cậu tìm được, nửa cái gáo dừa và sáu sợi thép lấy từ con thuyền vỡ nát của họ – cây đàn này đã được Peter giữ gìn mãi về sau – và cậu ấy chơi đàn để khích lệ tinh thần của cả nhóm.

Cũng nhờ nó mà tinh thần của cả nhóm được khích lệ rất nhiều. Cả mùa hè dài, trời ít mưa khiến các cậu bé khát đến mức muốn phát rồ. Các cậu cũng cố gắng đóng một chiếc bè để rời khỏi đảo, nhưng vừa mới xuống nước nó đã bị sóng đánh tan thành từng mảnh[20]. Rồi một trận bão quét qua đảo và quật một cái cây đổ trúng vào túp lều của các cậu.

Tệ nhất là lần Stephen không may bị trượt ngã xuống vách đá và bị gãy một chân. Các cậu bé khác lần xuống tìm rồi đưa cậu lên. Cái chân gãy của Stephen được cố định bằng cành và lá cây. “Đừng lo,” Sione đùa. “Chúng tớ sẽ phụ trách công việc của cậu, còn cậu chỉ việc nằm đó nghỉ ngơi giống như Đức vua Taufa‘ahau Tupou!”[21]

Sau đó, người ta phát hiện ra các cậu bé và cứu thoát các cậu vào Chủ Nhật ngày 11 tháng 9 năm 1966. Về thể chất, các cậu hoàn toàn khỏe mạnh, không mắc bất cứ bệnh gì. Bác sĩ địa phương, Posesi Fonua, hết sức kinh ngạc trước vóc người, cơ bắp của từng cậu bé và nhất là cái chân hoàn toàn lành lặn của Stephen.

Nhưng đây chưa phải là đoạn kết cho cuộc phiêu lưu của các cậu, bởi vì khi về đến Nukualofa, có rất nhiều cảnh sát đang chờ gặp các cậu. Những cậu bé đang hi vọng rằng hẳn là có rất nhiều người, kể cả cảnh sát sẽ rất xúc động trước sự trở về của sáu chàng trai bị lạc. Nhưng sự thật thì không phải vậy. Cảnh sát đã lên tàu của thuyền trưởng Peter, bắt giữ sáu cậu bé và giam chúng vào tù. Ông Taniela Uhila, người có chiếc thuyền bị các cậu bé “mượn tạm” 15 tháng trước, vẫn rất giận dữ và quyết định kiện các cậu.

May thay, Peter đã nảy ra một kế hoạch hoàn hảo. Ông chợt nghĩ ra rằng câu chuyện đắm tàu của các cậu bé có thể là chất liệu hoàn hảo cho Hollywood. Sáu cậu bé bị bỏ lại trên một hòn đảo… đó là một câu chuyện mà mọi người sẽ bàn tán trong nhiều năm nữa. Là kế toán trong công ty của cha mình, đồng thời Peter cũng quản lý cả truyền thông của công ty nên ông có quen biết nhiều người làm trong ngành truyền hình.[22]

Viên thuyền trưởng biết chính xác ông cần phải làm gì. Đầu tiên, từ Tonga, ông gọi cho những người quản lý Channel 7 ở Sydney và nói với họ: “Các vị có thể sở hữu bản quyền phát hành phim ở Úc, và giao cho tôi quyền phát hành phim trên toàn thế giới. Sau đó tôi sẽ cứu những đứa trẻ này ra khỏi tù và đưa chúng trở lại đảo.” Tiếp đó, Peter tìm tới gặp ông Uhila và trả cho ông ta 150 bảng tiền chiếc thuyền cũ, giúp các cậu bé được thả với điều kiện các cậu phải hợp tác để quay bộ phim này.

Vài ngày sau, một nhóm từ Channel 7 bay đến trong chiếc DC-3 cổ, chuyên bay dịch vụ một chuyến mỗi tuần xuất phát từ Tonga. Khi mô tả lại cảnh đó với Maartje và tôi, Peter cười khùng khục. “Bước ra khỏi chiếc máy bay đó là ba người của đài truyền hình khoác những bộ vest cùng đôi giày mũi nhọn.”

Lúc đoàn đến đảo Ata, sáu cậu bé cũng theo đến đó, nhóm người từ Channel 7 ai nấy đều mặt xanh nanh vàng. Tệ hơn, họ không biết bơi, ông Peter phải trấn an họ: “Đừng lo. Những cậu bé này sẽ cứu các anh.”

Thuyền trưởng lái thuyền đưa mấy người đàn ông run như cầy sấy ra chỗ sóng vỗ mạnh nhất và hướng dẫn: “Đây là chỗ các anh cần nhảy ra.”

Thậm chí 50 năm sau, kí ức đó vẫn khiến mắt ông Peter ướt nhèm – lần này do cười. “Tôi đẩy họ ra, và đám người truyền hình đến từ Úc này chìm xuống, còn mấy cậu Tonga thì lặn xuống, kéo họ lên, vượt qua sóng biển, đẩy họ vào phía những tảng đá.”

Tiếp đó, đoàn phải leo lên vách đá, mất rất nhiều thời gian để leo lên được đến nơi. Cuối cùng khi họ lên đến đỉnh, cả nhóm khuỵu xuống vì kiệt sức. Không có gì ngạc nhiên khi bộ phim tài liệu về những cậu bé trên hoang đảo Ata đã không thành công. Những cảnh quay không chỉ tệ mà hầu hết cuộn phim 16 mm đều mất, chỉ còn tổng cộng khoảng 30 phút. “Thực tế nó chỉ được 20 phút, cộng với quảng cáo,” Peter đính chính.

Theo lẽ tự nhiên, ngay khi tôi nghe nói về phim tài liệu của Channel 7, tôi đã muốn được xem nó. Peter không giữ bản nào cho nên ngay khi trở lại Hà Lan, tôi đã liên hệ với một đại lý chuyên tìm và phục chế các bản ghi cũ. Nhưng cho dù họ tìm kiếm thế nào thì cũng không thể tìm thấy nó.

Sau đó, Peter lại can thiệp, ông giúp tôi liên hệ với một nhà làm phim độc lập có tên Steve Bowman từng tới thăm “các cậu bé” vào năm 2006. Steve rất thất vọng bởi câu chuyện về những cậu bé này chưa bao giờ nhận được sự chú ý đúng tầm. Bộ phim tư liệu của ông chưa bao giờ được phát sóng vì đơn vị phát hành phim bị phá sản, tuy nhiên ông vẫn giữ các cuộn phim phỏng vấn thô của mình. Ông rất tốt bụng đề nghị chia sẻ những tư liệu đó với tôi và cũng để tôi liên hệ với Sione, người lớn tuổi nhất trong các “cậu bé”. Rồi ông nói rằng ông có bản sao duy nhất của bộ phim tư liệu 16 mm ấy.

“Tôi có thể xem nó được không?” Tôi hỏi Steve.

“Dĩ nhiên rồi,” ông trả lời tôi.

Và vậy là sau nhiều tháng trời mò mẫm từ một câu chuyện mơ hồ trên blog kể về sáu cậu bé bị đắm tàu, hôm nay tôi đã được xem đoạn phim nguyên gốc năm 1966 trên máy tính của mình. Bộ phim mở đầu với lời thoại: “Tôi là Sione Fataua cùng năm bạn học khác đến từ trường Trung học St Andrew’s và chúng tôi bị dạt lên hòn đảo này vào tháng 6 năm 1965.”

Các cậu rất hân hoan khi được trở về với gia đình mình ở Tonga. Gần như tất cả mọi người trên hòn đảo Ha’afeva – dân số 900 người – đổ ra đường để chào đón các cậu bé sống sót trở về nhà.

“Bữa tiệc này chưa kết thúc thì đã chuẩn bị cho bữa tiệc khác,” giọng thuyết minh phim tài liệu năm 1966 vang lên.

Thuyền trưởng Peter được phong là anh hùng dân tộc. Chẳng bao lâu sau ông nhận được một bức thư từ đích thân Vua Taufa‘ahau Tupou IV, mời vị thuyền trưởng này đến triều kiến một lần nữa. Đức vua nói: “Cảm ơn ngài vì đã cứu sáu thần dân của ta. Giờ, có điều gì ta có thể làm cho ngài không?”

Vị thuyền trưởng không chút suy nghĩ mà trả lời luôn: “Tôi muốn được bắt tôm hùm ở vùng biển này và khởi nghiệp kinh doanh ở đây.”

Lần này nhà vua đã đồng ý. Peter trở về Sydney, rút khỏi công ty của cha mình và đặt đóng một con tàu mới. Sau đó ông mời sáu cậu bé tới và dành tặng cho các cậu điều đã khơi nguồn tất cả: cơ hội được thấy thế giới bên ngoài Tonga, ông thuê Sione, Stephen, Kolo, David, Luke và Mano làm thủy thủ trên con tàu đánh cá mới của mình.

Tên con tàu là gì ư? Là Ata.

05

Đây là phiên bản Chúa Ruồi đời thực.

Đó quả là một câu chuyện với kết thúc có hậu – chất liệu cho những tiểu thuyết ăn khách, sân khấu Broadway✻ và cả những bộ phim bom tấn. Tuy nhiên, điều đáng buồn là câu chuyện có thật này chẳng được mấy ai biết đến. Trong khi các cậu bé sống sót tại Ata không hề được biết đến thì cuốn sách của William Golding, lại được nhiều người biết đến và tìm đọc. Thậm chí, các sử gia về ngành truyền thông còn cho rằng chính Golding là người – không chủ đích – sáng tạo ra một trong những loại hình giải trí phổ biến nhất trên truyền hình ngày nay: Truyền hình thực tế.

Tiền đề của các chương trình thực tế, với các tên gọi như Big Brother hay Temptation Island, nghĩa là khi con người bị bỏ mặc, phải tự mình xoay xở thì họ sẽ hành xử giống như những con thú. Người sáng tạo ra chuỗi chương trình Survivor đình đám đã trả lời trong một buổi phỏng vấn rằng: “Tôi đã đọc đi đọc lại Chúa Ruồi. Lần đầu tiên tôi đọc là khi 12 tuổi, lần tiếp theo là 20 tuổi và lần nữa là khi tôi 30, vì thế chúng tôi quyết định làm chương trình này.”[23]

Chương trình đầu tiên đánh dấu sự ra đời cho thể loại truyền hình thực tế có tên là The Real World của MTV. Kể từ lần đầu lên sóng vào năm 1992, phần mở đầu của chương trình bao giờ cũng là cảnh một người chơi lặp lại câu: “Đây là câu chuyện có thật về bảy người xa lạ… Hãy xem điều gì sẽ xảy ra khi người ta không còn lịch thiệp và bắt đầu phải sống thực tế.”

Dối trá, lừa lọc, kích động, chống đối là tất cả những điều mà mỗi tập của chương trình muốn truyền tải và muốn chúng ta tin “thực tế” chính là như vậy đó! Nhưng hãy tìm hiểu thật kĩ hậu trường của các chương trình thực tế này, bạn sẽ thấy người tham gia thường bị gài bẫy, bị chuốc cho say và trở nên bất đồng, mâu thuẫn với nhau theo những cách không thể sốc hơn được nữa. Nó cho thấy, nhà sản xuất đã phải dụng công như thế nào để khơi ra điều tồi tệ nhất nơi con người.

Một chương trình thực tế khác tên là Kid Nation, từng cho 40 đứa trẻ ở cùng nhau trong một thị trấn ma tại New Mexico với hi vọng chúng sẽ tự tiêu diệt lẫn nhau. Tuy nhiên điều đó đã không xảy ra. Một thành viên từng tham gia vào chương trình đó nhớ lại rằng: “Trong những lần kiểm tra định kì, họ đều thấy chúng tôi sống với nhau rất hòa thuận, nên họ đã tìm cách gây chuyện để chúng tôi đánh nhau.”[24]

Bạn có thể nói: Chuyện đó thì có ý nghĩa gì cơ chứ? Đó chỉ là một chương trình giải trí thôi mà!

Nhưng hiếm khi một câu chuyện chỉ đơn thuần là một câu chuyện. Những câu chuyện cũng có thể tạo ra những hiệu ứng khác nhau, hoặc tốt hoặc xấu. Trong một nghiên cứu gần đây, nhà tâm lý học Bryan Gibson đã chứng minh rằng việc xem những chương trình truyền hình kiểu Chúa Ruồi có thể khiến mọi người trở nên hung bạo hơn.[25] Việc trẻ em xem những hình ảnh bạo lực và hành động gây hấn ở tuổi trưởng thành có mối liên hệ mật thiết với nhau giống như mối liên hệ giữa amiăng✻ và ung thư, hay giữa việc dung nạp canxi với mật độ xương.[26]

Những câu chuyện yếm thế có thể gây ra những phản ứng còn rõ rệt hơn trong cách chúng ta nhìn nhận thế giới. Một nghiên cứu khác tại Anh cũng cho thấy những cô gái xem nhiều chương trình truyền hình thực tế hơn thường có quan điểm rằng, nhỏ nhen và dối trá là điều cần thiết để vươn lên trong cuộc sống.[27] George Gerbner một nhà nghiên cứu trong ngành truyền thông từng nhận định: “Người kể những câu chuyện về một nền văn hóa thực sự chi phối được hành vi của con người.”[28]

.. Đã đến lúc chúng ta cần kể câu chuyện Chúa Ruồi theo cách khác, tích cực hơn.

Chúa Ruồi phiên bản đời thực là một câu chuyện về tình bạn và sự chân thành, một câu chuyện chứng minh rằng chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều nếu chúng ta biết dựa vào nhau. Dĩ nhiên, đó chỉ là một câu chuyện. Nhưng nếu chúng ta có ý định làm cho Chúa Ruồi trở thành cuốn sách gối đầu giường của hàng triệu thiếu niên thì chúng ta cũng cần nói với chúng về những đứa trẻ đời thực bị mắc kẹt trên đảo hoang. Một giáo viên ở trường Trung học St Andrew’s tại Tonga tiết lộ rằng: “Tôi thường kể lại câu chuyện sinh tồn của sáu học sinh đã sống sót nơi đảo hoang cho các lớp nghiên cứu xã hội của chúng tôi, và các sinh viên rất hứng thú với câu chuyện đó.”[29]

Sau đó, điều gì xảy ra với Peter và Mano? Nếu bạn tình cờ ở một đồn điền chuối bên ngoài Tullera, gần Lismore, thì có thể bạn đã gặp họ: hai ông già đang đùa giỡn hoặc đang khoác vai nhau. Một người là con trai một nhà doanh nghiệp lớn, còn người kia xuất thân khiêm nhường hơn. Nhưng họ là những người bạn đích thực của nhau.

Sau khi vợ tôi chụp ảnh Peter, ông ấy liền quay sang lục lọi trong tủ một hồi, rồi lôi ra một chồng giấy đặt vào tay tôi. Ông giải thích đó là hồi kí mà ông ấy viết cho con cháu của ông.

Tôi nhìn xuống trang đầu tiên và thấy dòng chữ: “Cuộc sống dạy ta rất nhiều, ngay cả bài học rằng các con sẽ luôn tìm kiếm điều tốt đẹp và tích cực nhất nơi con người.”

Peter Warner, tháng 9 năm 2017. Photo © Maartje ter Horst.

Mano Totau, tháng 9 năm 2017. Photo © Maartje ter Horst.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.