Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Phần 8
Đoạn Kết
MƯỜI QUY TẮC ĐỂ SỐNG THEO
“Nếu tôi làm một bộ phim về vụ bắt cóc một phụ nữ và xích cô ấy vào một máy tản nhiệt suốt 5 năm – điều xảy ra có lẽ chỉ duy nhất một lần trong lịch sử – nó được gọi là phân tích thực tế nhức nhối về xã hội. Nếu tôi làm một bộ phim như Love Actually (tạm dịch: Tình yêu đích thực) nói về những người đang yêu, và có khoảng một triệu người đang yêu ở Anh hiện nay, thì đó được gọi là sự thể hiện tình cảm về một thế giới phi thực tiễn.”
Richard Curtis
Truyền thuyết kể rằng có hai từ được khắc ở lối vào Đền thờ Apollo tại Delphi. Đền thờ là một địa điểm hành hương lớn, và du khách đến đây từ mọi nơi của Hy Lạp cổ đại để nhận được lời khuyên của những bậc thần thánh.
Những gì họ đọc được ngay khi bước vào, là: GNOTHI SEAUTON.
Hiểu chính mình.
Khi xem xét bằng chứng gần đây nhất của tâm lý học và sinh vật học, của khảo cổ học và nhân chủng học, của xã hội học và lịch sử, chúng ta có thể kết luận rằng suốt hàng nghìn năm con người bị một hình ảnh rất sai lầm về chính mình dẫn dắt. Trong thời gian dài, chúng ta cho rằng con người vốn ích kỉ, chúng ta là những con thú hoặc tệ hơn nữa… Trong nhiều thời kì, chúng ta tin nền văn minh là lớp vỏ mỏng manh sẽ bị xé toạc trước sự khiêu khích nhỏ nhất. Giờ đây chúng ta đã nhận ra quan điểm về nhân loại này, quan điểm về lịch sử này của chúng ta hoàn toàn phi thực tiễn.
Trong những chương cuối cùng của cuốn sách này, tôi đã cố gắng trình bày viễn cảnh về một thế giới mới đang chờ sẵn, nếu chúng ta thay đổi quan điểm của mình về bản chất con người. Có lẽ tôi chỉ mới xới bề mặt lên. Nói cho cùng, nếu chúng ta tin hầu hết mọi người đều tử tế và tốt bụng thì mọi thứ sẽ thay đổi theo hướng đó. Chúng ta có thể hoàn toàn nghĩ lại cách chúng ta tổ chức trường học và nhà tù, doanh nghiệp và cả nền dân chủ của mình. Và cách chúng ta sống cuộc đời của mình.
Đến lúc này, tôi cần chỉ ra rằng tôi không phải là người thích đọc sách self-help. Nếu bạn hỏi tôi vì sao, tôi sẽ trả lời rằng vì chúng ta đang sống trong một thời đại của sự hướng nội quá nhiều và hướng ngoại quá ít. Một thế giới tốt đẹp hơn không bắt đầu với tôi, mà với tất cả chúng ta, và nhiệm vụ chính của chúng ta là xây dựng những thiết chế khác. Một trăm mẹo khác để leo lên chiếc thang sự nghiệp hoặc mường tượng ra con đường đưa bạn tới sự giàu có sẽ không đưa chúng ta tới đâu cả.
Nhưng rồi có một người bạn hỏi tôi liệu việc viết cuốn sách này có thay đổi quan điểm của chính tôi về cuộc sống không, và tôi nhận ra rằng câu trả lời là có. Một quan điểm thực tế về bản chất con người không thể không có những hàm ẩn lớn về cách chúng ta tương tác với người khác. Vì vậy, với giá trị của nó, đây là mười quy tắc sống của chính tôi, dựa trên những gì tôi học được trong vài năm qua.
1. Khi nghi ngờ, hãy giả định điều tốt đẹp nhất
Điều răn đầu tiên tôi nhắn nhủ chính mình cũng là điều khó nhất. Trong Chương 3 chúng ta đã thấy rằng con người tiến hóa để kết nối, nhưng việc kết nối lại đòi hỏi sự khéo léo. Bạn nói một điều gì đó nhưng bị người khác hiểu sai đi, hoặc có người nhìn bạn và họ thấy bạn thật nực cười, hoặc những nhận xét khó chịu về bạn đến tai bạn. Trong các mối quan hệ, thậm chí cả những mối quan hệ được tạo dựng trong nhiều năm như hôn nhân chẳng hạn, chúng ta cũng thường không biết người khác đang nghĩ gì về mình.
Và vậy là chúng ta suy đoán. Chẳng hạn, tôi nghi ngờ một đồng nghiệp không thích tôi. Bất kể điều đó có đúng hay không thì cách ứng xử của tôi chắc chắn sẽ thay đổi theo hướng không giúp gì cho việc cải thiện mối quan hệ của chúng tôi. Trong Chương 1 chúng ta thấy rằng con người có một định kiến tiêu cực. Chỉ một nhận xét khó chịu cũng tạo ấn tượng sâu đậm hơn mười lời khen gộp lại (điều xấu dường như mạnh hơn, nhưng nó lại bị cái tốt lấn át). Và khi nghi ngờ, chúng ta thiên về giả định điều xấu nhất.
Trong khi đó, chúng ta trở thành nạn nhân của những điều được biết đến như là những phản hồi bất tương xứng, về cơ bản, điều này có nghĩa là nếu niềm tin của bạn vào ai đó đặt không đúng chỗ, thì sớm muộn sự thật cũng được bày ra. Bạn phát hiện ra rằng người bạn tốt nhất của mình đã rời khỏi đất nước cùng số tiền tiết kiệm cả đời của bạn, hoặc thỏa thuận về căn nhà mua lại đó thực tế quá hời đến mức khó là sự thật được, hoặc sau sáu tuần sử dụng Ab King Pro bạn vẫn không có được cơ bụng sáu múi như họ hứa hẹn trên truyền hình. Nếu bạn đã quá tin tưởng thì cuối cùng bạn cũng tìm ra sự thật thôi.[1]
Nhưng nếu bạn quyết định không tin ai đó, thì bạn sẽ chẳng bao giờ biết liệu mình có đúng hay không. Vì bạn không bao giờ nhận được phản hồi nào cả. Giả sử bạn bị một gã người Hà Lan tóc vàng nào đó lừa, vậy là bạn thề không bao giờ tin vào những người tóc vàng từ Hà Lan nữa. Cả quãng đời còn lại, bạn sẽ nghi ngờ tất cả những người Hà Lan tóc vàng, mà không bao giờ đối mặt với chân lý đơn giản là hầu hết những người đó đều rất tử tế.
Vì vậy khi đã nghi ngờ người khác đang không thực sự tốt với mình như cách họ thể hiện, bạn nên làm gì?
Cách thực tế nhất là giả định họ đang đối xử rất tốt đẹp với mình – dành cho họ cái lợi của sự nghi ngờ. Thường điều này khá hợp lý vì hầu hết mọi người đều có ý tốt. Và trong trường hợp hiếm hoi là ai đó thực sự tìm cách lừa gạt bạn, cách bạn phản ứng có thể có một lối hành xử không theo thông lệ.[2] (Hãy nghĩ đến Julio Diaz, người đã mời tên cướp tuổi thiếu niên đi ăn tối).
Nhưng sẽ ra sao nếu bạn vẫn bị gạt? Nhà tâm lý học Maria Konnikova đã nói về điều này trong cuốn sách thú vị mà bà viết về những kẻ lừa đảo chuyên nghiệp.[3] Bạn có thể hi vọng rằng mẹo chính mà bà sử dụng sẽ luôn là cảnh giác. Nhưng không. Konnikova, chuyên gia hàng đầu về gian lận và lừa đảo, đi đến một kết luận rất khác. Bà nói, tốt hơn hết là chấp nhận và lý giải cho thực tế rằng thỉnh thoảng bạn vẫn bị lừa gạt. Đó là một cái giá rất nhỏ để trả cho sự xa xỉ là cả một đời tin tưởng người khác.
Hầu hết chúng ta cảm thấy xấu hổ khi nhận ra niềm tin của mình bị đặt nhầm chỗ. Nhưng có lẽ, nếu bạn là người duy thực, bạn nên cảm thấy tự hào một chút. Thực tế, tôi thậm chí còn tiến xa hơn: Nếu bạn chưa bao giờ bị lừa, thì bạn nên hỏi liệu thái độ cơ bản của bạn đã đủ tin tưởng chưa.
2. Nghĩ theo các kịch bản hai bên cùng thắng
Chuyện kể rằng một hôm Thomas Hobbes đi dạo ở London cùng một người bạn thì ông đột nhiên dừng lại để cho một người ăn mày ít tiền. Người bạn của ông vô cùng ngạc nhiên. Chẳng phải chính Hobbes nói rằng bản chất của chúng ta là ích kỉ ư? Triết gia này không thể nhìn thấy một vấn đề đó là, việc phải chứng kiến nỗi khổ của người ăn mày khiến cho Hobbes khó chịu, cho nên cho người đó vài xu sẽ mang lại cho ông cảm giác thật tốt. Do vậy, hành động của ông xuất phát từ lợi ích của bản thân.[4]
Trong vài thế kỉ qua, các triết gia và nhà tâm lý đã vắt óc suy nghĩ câu hỏi liệu có một thứ như là sự ích kỉ thuần túy hay không. Nhưng thành thực mà nói, toàn bộ vụ tranh luận đó không thật sự khiến tôi quan tâm. Bởi vì chỉ cần hình dung đang sống trong một thế giới mà bạn sẽ cảm thấy khó chịu mỗi lần bạn thực hiện một hành động tử tế xem. Thế giới này sẽ là cái quái gì vậy?
Thật tuyệt vời là chúng ta sống trong một thế giới nơi mà những việc làm tốt sẽ cho ta cảm thấy tốt hơn. Chúng ta thích đồ ăn vì không có đồ ăn chúng ta chết đói. Chúng ta thích tình dục vì không có tình dục chúng ta tuyệt chủng. Chúng ta thích giúp đỡ vì không có nhau chúng ta sẽ tàn lụi. Khi bạn làm những việc tốt, việc đó thường khiến bạn cảm thấy mình có ích bởi vì đó là một điều tốt đẹp.
Buồn thay, ngay cả các công ty, trường học và các thiết chế chính trị khác vẫn được tổ chức dựa trên niềm tin rằng: về bản chất, chúng ta bị nhốt trong sự cạnh tranh với nhau. Trong cuốn sách Think Big and Kick Ass (tạm dịch: Nghĩ lớn để thành công), Donald Trump khuyên rằng: “Nếu bạn là người chiến thắng trong một thương vụ lớn – mà không phải bên đối thủ. Bạn đè bẹp đối thủ và ra đi với điều gì đó tốt hơn cho bản thân.”[5]
Trên thực tế, chính xác thì điều này lại vận hành theo cách khác hẳn. Những thương vụ tốt nhất là những thương vụ mà tất cả các bên cùng thắng. Chẳng hạn những nhà tù ở Na Uy? Chúng tốt hơn, nhân văn hơn và đỡ tốn kém hơn. Hay tổ chức chăm sóc y tế tại gia của Jos de Blok ở Hà Lan? Nó cung cấp chất lượng cao hơn với chi phí thấp hơn, trả cho nhân viên nhiều hơn và khiến cho cả nhân viên và bệnh nhân thỏa mãn hơn. Đây là các kịch bản trong đó tất cả cùng thắng.
Cùng mạch suy nghĩ như vậy, tài liệu về tha thứ nhấn mạnh rằng việc tha thứ cho người khác sẽ mang lại lợi ích cho chính chúng ta.[6] Nó không chỉ là một món quà, mà còn là một thỏa thuận tốt đẹp, vì tha thứ là thôi lãng phí năng lượng của bạn cho sự ác cảm và thù hận. Rất hiệu quả, bạn giải phóng bản thân để cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhà thần học Lewis B. Smedes từng viết: “Tha thứ là phóng thích một tù nhân, và sau đó bạn phát hiện ra rằng tù nhân đó chính là bạn.”[7]
3. Đặt ra nhiều câu hỏi hơn
Quy tắc Vàng của hầu hết mọi triết lý trong lịch sử thế giới là: “Đừng làm với người khác những điều mà bạn không muốn người khác làm với bạn.” Điều khôn ngoan này đã được nhà tư tưởng Trung Quốc là Khổng Tử truyền bá từ 2.500 năm trước. Nó được các sử gia Hy Lạp là Herodotus và triết lý của Plato nhắc lại và vài thế kỉ sau, quy tắc này được đưa vào nội dung trong Kinh Thánh của người Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo.
Ngày nay, hàng tỉ phụ huynh đã dạy Quy tắc Vàng này cho con cái mình. Nó xuất hiện theo hai kiểu: huấn thị tích cực (Hãy đối xử với người khác như cách con muốn người khác đối xử với con) và huấn thị tiêu cực (Đừng làm với người khác những gì con không muốn người ta làm như vậy với mình…). Thậm chí, một số nhà thần kinh học còn tin quy tắc này là một sản phẩm của hàng triệu năm tiến hóa của loài người và được lập trình trong não bộ chúng ta.[8]
Cho dù vậy, tôi vẫn tin Quy tắc Vàng không còn. Trong Chương 10, chúng ta thấy rằng thấu cảm có thể là một hướng dẫn không thực sự tốt: đơn giản là thực tế chúng ta không phải lúc nào cũng giỏi cảm nhận những gì người khác muốn. Tất cả các nhà quản lý, CEO, nhà báo và nhà hoạch định chính sách nghĩ rằng họ làm vậy là đang tước đi tiếng nói của những người khác. Đây là lý do tại sao bạn hiếm khi thấy những người tị nạn được phỏng vấn trên truyền hình. Đây cũng là lý do tại sao nền dân chủ và báo chí của chúng ta tạo thành dòng chảy một chiều. Và đây cũng là lý do tại sao các nhà nước phúc lợi của chúng ta lại chìm trong chủ nghĩa gia trưởng.
Tốt hơn hết là bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi. Để công dân có tiếng nói của họ, như trong nền dân chủ toàn dân tham gia ở Porto Alegre (xem Chương 15). Để nhân viên chỉ đạo các đội nhóm của chính họ, như trong nhà máy của Jean-François Zobrist (xem Chương 13). Hay việc để cho trẻ em tự vạch ra lộ trình học tập của chính chúng như tại trường của Sjef Drummen (xem Chương 14).
Biến thể của câu châm ngôn quen thuộc này, còn được biết đến là “Quy tắc Bạch kim”, do George Bernard Shaw đúc kết: “Đừng làm cho người khác những gì bạn muốn họ làm cho bạn,” bởi vì: “Không phải tất cả chúng ta đều nghĩ hoặc cảm thấy giống nhau.”[9]
4. Tôi luyện sự thấu cảm, rèn luyện lòng trắc ẩn
Quy tắc Bạch kim không kêu gọi sự thấu cảm mà là lòng trắc ẩn. Để giải thích sự khác biệt này, hãy để tôi giới thiệu hòa thượng Matthieu Ricard, một người điều khiển được suy nghĩ của mình. (Nếu điều này hấp dẫn bạn, tôi sẽ tiết lộ là phải ngồi thiền 50.000 tiếng mới giúp ông đạt đến cảnh giới đó).
Không lâu trước kia, Ricard được nhà thần kinh học Tania Singer mời dành ra một buổi sáng để ngồi trước máy quét não của bà.[10] Singer muốn biết điều gì xảy ra trong não bộ chúng ta khi chúng ta cảm thấy thấu cảm. Quan trọng hơn, bà muốn biết liệu có sự thay thế không.
Để chuẩn bị, Singer mời Ricard xem một bộ phim tài liệu vào buổi tối hôm trước về những trẻ mồ côi ở một viện tại Rumani. Ngày hôm sau, khi vận hành chiếc máy quét não, Singer đề nghị ông nhớ lại ánh mắt trống rỗng của chúng. Những đôi tay đôi chân khẳng khiu của chúng. Ricard làm theo lời của bà, cố gắng hết mức hình dung cách những đứa trẻ mồ côi người Rumani ấy cảm nhận.
Một tiếng sau, ông cảm thấy bị vắt kiệt sức, suy nhược.
Vì đó là những gì mà sự thấu cảm làm với chúng ta. Vắt kiệt sức. Trong thí nghiệm sau này, Singer đề nghị một nhóm tình nguyện viên dành 15 phút nhắm mắt khơi gợi sự thấu cảm nhiều nhất có thể, tất cả các ngày trong một tuần. Việc này kéo dài chừng nào họ có thể trụ được. Đến cuối tuần, tất cả những người tham gia đều bi quan hơn. Một phụ nữ nói khi bà ấy nhìn vài hành khách đi cùng chuyến tàu sau đó, tất cả những gì bà ấy nhìn thấy chỉ là khổ đau.[11]
Singer quyết định thử cách khác. Một lần nữa, bà đề nghị nhà sư nghĩ về những trẻ mồ côi Rumani, nhưng lần này ông không phải hình dung bản thân mình ở địa vị chúng. Thay vào đó, bà muốn ông áp dụng kĩ năng mà ông đã mất nhiều năm để hoàn thiện, cảm nhận không phải với chúng, mà là cho chúng. Thay vì chia sẻ nỗi khổ đau của chúng, Ricard tập trung khơi dậy những tình cảm ấm áp, quan tâm và chăm lo. Thay vì tự mình trải qua khổ đau của chúng, ông giữ cho bản thân thoát khỏi nó.
Lập tức Singer có thể thấy khác biệt hiện lên màn hình, vì những phần hoàn toàn khác của bộ não Ricard sáng lên. Sự thấu cảm chủ yếu kích thích thùy não trước, nằm ngay phía trên tai chúng ta, nhưng giờ vùng sáng lại là thể vân và ở thùy trán.
Chuyện gì đã xảy ra? Tâm lý mới của Ricard là những gì chúng ta gọi là lòng trắc ẩn. Và, khác với thấu cảm, lòng trắc ẩn không tiêu hao năng lượng của chúng ta. Thực tế, sau đó Ricard cảm thấy khá hơn nhiều. Đó là vì lòng trắc ẩn đồng thời được kiểm soát hơn, tách biệt và có tính xây dựng. Nó không phải là để chia sẻ sự khổ đau của người khác, mà nó giúp bạn nhận ra điều đó và rồi dẫn bạn đến hành động. Không chỉ vậy, lòng trắc ẩn cho chúng ta năng lượng, đó chính là thứ chúng ta cần để có thể giúp đỡ được người khác..
Để nêu một ví dụ khác, giả sử con bạn sợ bóng tối. Là cha mẹ, bạn sẽ không núp vào một góc phòng và thút thít cùng con mình (thấu cảm). Thay vào đó, bạn cố gắng trấn an và an ủi chúng (lòng trắc ẩn).
Vậy tất cả chúng ta có nên bắt đầu rèn luyện lòng trắc ẩn bằng phương pháp thiền định như Matthieu Ricard không? Phải thừa nhận là ban đầu, đối với tôi việc đó nghe khá mới mẻ, nhưng có một vài bằng chứng khoa học cho thấy thiền định có thể rèn luyện lòng trắc ẩn của chúng ta.[12] Não bộ là một cơ quan dễ bảo, nếu chúng ta tập luyện để cơ thể ta cường tráng thì tại sao lại không làm điều tương tự với đầu óc của chúng ta cơ chứ?
5. Cố gắng hiểu người khác, thậm chí nếu bạn không biết họ là ai
Thành thực, tôi đã thử tập thiền, nhưng cho đến giờ không thành công cho lắm. Vì lý do nào đó, luôn có một email, tweet hay video nữa về một chú dê trên tấm bạt lò xo khiến tôi phải chú ý đến ngay lập tức. Và thiền 50.000 giờ ư? Xin lỗi, nhưng tôi còn cuộc sống.
Rất may cho tôi, có một cách nữa để lùi ra xa mà nhìn, đó là sử dụng phương pháp của các triết gia thời Khai sáng từ thế kỉ 18. Nó là gì? Lý trí. Tri thức. Khả năng của chúng ta đặt mọi việc vào quan điểm hợp lý là một quá trình tâm lý huy động các phần khác nhau của não bộ chúng ta. Khi chúng ta sử dụng tri thức của mình để cố gắng hiểu ai đó, điều này kích hoạt vỏ não trước trán, một khu vực nằm ngay phía sau trán và đặc biệt lớn ở con người.[13]
Chắc chắn tôi biết có nhiều nghiên cứu về một nghìn lẻ một trường hợp trong đó phần não này gây ra sai lầm. Những nghiên cứu cho thấy chúng ta thường không hề lý trí và tự chủ. Tuy nhiên, tôi nghĩ điều quan trọng là đừng phóng đại những phát hiện đó lên. Chúng ta liên tục sử dụng những bằng chứng và lập luận duy lý trong đời sống thường nhật, và chúng ta xây dựng những xã hội toàn luật lệ, quy tắc và thỏa thuận. Sức mạnh lý trí của chúng ta không phải là một lớp vỏ mỏng phủ lên bản chất cảm xúc của chúng ta, mà là một đặc điểm quan trọng và là những gì khiến chúng ta con người hơn.[14]
Hãy xem tầm nhìn của Na Uy về các nhà tù, dường như họ là những người rất khác so với phần còn lại trong chúng ta. Bằng cách áp dụng tri thức của chúng ta và kiểm tra số liệu thống kê tái phạm, chúng ta nhận ra đó là một cách tuyệt vời để xử trí giới tội phạm, hoặc xem đạo đức chính trị của Nelson Mandela. Hết lần này đến lần khác ông nén những cảm xúc của mình xuống và luôn nhạy bén cũng như phân tích tình huống. Mandela không chỉ có tấm lòng nhân hậu, ông ấy cũng khôn ngoan không kém. Việc có niềm tin ở người khác là một quyết định vừa lý trí vừa cảm xúc.
Dĩ nhiên, khi xem một ai khác từ đâu đến không có nghĩa là bạn cần nhìn tận mắt. Bạn có thể hiểu lối tư duy của một tên phát xít, một kẻ khủng bố hay một người rất hâm mộ bộ phim Love Actually mà không cần trực tiếp tham gia vào phong trào phát xít, khủng bố hay thể loại phim ảnh yêu đương lãng mạn. (Phải nói rằng tôi là một thành viên đầy tự hào của nhóm cuối cùng). Hiểu người khác ở cấp độ lý trí là một kĩ năng, đó cũng là điều có thể rèn luyện được.
Những khi chúng ta cần đến năng lực lý trí của mình nhất lại là để thi thoảng kìm hãm ham muốn được trở nên tốt đẹp của chúng ta. Nhiều khi chính bản năng hòa đồng của chúng ta lại là thứ cản trở chân lý và sự công bằng. Vì chẳng phải tất cả chúng ta đều từng thấy ai đó bị đối xử bất công nhưng vẫn giữ im lặng để tránh rắc rối cho mình đấy sao? Chẳng phải tất cả chúng ta đều chọn cách im lặng chỉ để giữ hòa khí hay sao? Chẳng phải tất cả chúng ta đều từng lên án những người đấu tranh cho các quyền của họ là những người làm con thuyền lắc lư hay sao?
Tôi nghĩ đó là một nghịch lý lớn của cuốn sách này. Tôi cho rằng con người tiến hóa thành sinh vật cơ bản là hòa đồng, nhưng nhiều khi tính hòa đồng của chúng ta lại là vấn đề. Lịch sử dạy rằng sự tiến bộ thường bắt đầu với những người – như Jos de Blok của Buurtzorg và Sjef Drummen của Agora – mà người khác luôn cảm thấy họ đang rao giảng hoặc thậm chí không thân thiện cho lắm. Những người can đảm leo lên bục diễn thuyết trong những sự kiện xã hội. Người dám nêu ra những chủ đề khó chịu khiến cho bạn cảm thấy không thoải mái. Hãy trân trọng những người này, vì họ là chìa khóa cho sự tiến bộ.
6. Yêu bản thân bản như người khác yêu bản thân họ
Ngày 17 tháng 7 năm 2014, một máy bay Boeing 777 của Malaysia Airlines rơi xuống bên ngoài làng Hrabove ở Ukraine. Trên khoang là 298 hành khách, 193 trong số họ là người Hà Lan. Chiếc máy bay bị bắn hạ bởi những kẻ ly khai thân Nga. Hậu quả là không một ai sống sót.
Mới đầu, các báo cáo về 298 trường hợp tử vong đó khiến tôi cảm thấy rất khó hiểu, nhưng tôi lại đọc được một bài trên một tờ báo của Hà Lan khiến tôi ấn tượng sâu sắc.[15]
Nó mở đầu với một bức ảnh của Karlijn Keijzer (25 tuổi) và Laurens van der Graaff (30); một tấm ảnh tự chụp khuôn mặt rạng rỡ của một anh chàng tóc vàng và một cô gái tóc xoăn được chụp ngay trước khi họ lên máy bay. Tôi đọc được rằng họ gặp nhau ở một câu lạc bộ chèo thuyền tại Amsterdam. Rằng Laurens viết bài cho Propria Cures, một tờ báo sinh viên rất nổi tiếng, còn Karlijn gần học xong bằng Tiến sĩ của cô ở Hoa Kỳ.
Và nhất là họ phát cuồng vì nhau.
“Họ sẽ là một cặp đôi hạnh phúc, đắm say nhau đến mức không thể buông tay nhau”, một người bạn của cặp đôi đã nói vậy. Tôi tự hỏi mình, chẳng phải là rất đạo đức giả khi vừa bỏ qua một bài viết về những tội ác tại Iraq ở trang 7, vậy mà giờ lại nhỏ lệ là sao? Bình thường, kiểu tít báo chỉ đưa tin tập trung như: “Hai công dân Hà Lan bỏ mạng ngoài khơi Nigeria”, trong khi cả một chiếc thuyền với toàn bộ hành khách thiệt mạng, khiến tôi cảm thấy bức xúc.
Nhưng con người là những sinh vật hạn chế. Chúng ta quan tâm nhiều hơn đến những người giống chúng ta, cùng chung ngôn ngữ, diện mạo hay nền tảng. Tôi cũng từng là một sinh viên đại học ở Hà Lan và đã tham gia một câu lạc bộ ở đại học. Tôi cũng gặp một cô gái với những lọn tóc kiều diễm ở đó và tôi cũng viết cho Propria Cures. Những đồng nghiệp của Laurens cho biết: “Không có gì ngạc nhiên là sẽ cần một tên lửa phòng không mới ngăn được cơ thể mạnh mẽ của cậu ấy.”[16]
Chính anh trai Karlijn gửi cho tờ báo bức ảnh tự chụp trước lúc họ mất. Anh ấy nói: “Điều duy nhất tôi đề nghị là quý báo hãy cho cả đất nước và thế giới thấy nỗi đau mà tôi, chị tôi cùng cha mẹ chúng tôi đang phải trải qua. Đây là nỗi đau của hàng trăm người khác ở Hà Lan.”
Và anh ấy đã đúng. Tất cả mọi người đều quen biết ai đó hoặc biết người thân của ai đó trên chuyến máy bay định mệnh đó. Những ngày ấy, tôi cảm nhận về Hà Lan theo cách mà trước đây tôi chưa bao giờ cảm nhận được.
Tại sao chúng ta lại quan tâm nhiều hơn đến những người có vẻ như giống chúng ta? Ở Chương 10, tôi viết rằng cái ác thực hiện được vai trò của nó từ khoảng cách xa. Khoảng cách khiến chúng ta chửi bới người lạ trên internet. Khoảng cách giúp binh sĩ bỏ qua ác cảm của họ đối với bạo lực. Và khoảng cách dẫn tới những tội ác kinh khủng nhất trong lịch sử, từ chế độ nô lệ đến việc thảm sát người Do Thái.
Nhưng lựa chọn con đường của lòng trắc ẩn và bạn nhận ra khoảng cách, sự khác biệt giữa mình với những người lạ mới ít làm sao. Lòng trắc ẩn đưa bạn vượt ra khỏi chính mình, cho tới khi những người gần gũi và thân yêu ấy không quan trọng hơn hay kém hơn so với phần còn lại của thế giới. Tại sao Đức Phật lại từ bỏ gia đình mình? Tại sao Giê-su lại hướng dẫn môn đệ của mình bỏ lại sau lưng cha mẹ họ, vợ con họ, anh chị em của họ?
Nhưng có lẽ bạn có thể mang điều này đi quá xa.
Có lẽ ban đầu, tình yêu dành cho những người mà chúng ta gọi là đồng bào sẽ rất nhỏ. Nếu một người ghê tởm bản thân thì làm sao họ có thể yêu được bất kì ai khác? Nếu ai đó không nhìn đến gia đình và bè bạn, thì làm sao họ có thể gánh vác gánh nặng của thế giới này? Chúng ta không thể gánh vác việc lớn nếu chúng ta không giải quyết được việc nhỏ. Trong số 193 hành khách Hà Lan có nhiều người đàn ông và phụ nữ đã không ngần ngại làm cho thế giới trở thành nơi tốt đẹp hơn, từ những người nghiên cứu AIDS tới những người ủng hộ nhân quyền. Và những người chịu mất mát lớn nhất chính là những người gần gũi với họ nhất.
Là con người, tất nhiên chúng ta có sự phân biệt. Chúng ta làm những điều mình thích và quan tâm đến bản thân mình hơn. Điều đó chẳng có gì phải xấu hổ cả – nó làm cho chúng ta là con người. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng những người khác, những người xa lạ kia, cũng có gia đình họ yêu thương. Họ đều là con người giống như chúng ta!
7. Tránh xa tin tức
Ngày nay, một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự xa cách đó chính là tin tức. Xem thời sự buổi tối có thể khiến bạn cảm thấy mình không bị lạc hậu, nhưng sự thật là nó làm sai lệch thế giới quan của bạn. Tin tức có xu hướng khái quát hóa mọi người thành các nhóm như chính trị gia, tầng lớp tinh hoa, nhóm phân biệt chủng tộc và người tị nạn. Tệ hơn, tin tức thường quay cận cảnh những trái táo xấu.
Truyền thông xã hội cũng y như vậy. Những thông tin kiểu như một vài kẻ bắt nạt buông những lời cay độc trên mạng xã hội lại được các thuật toán ưu tiên đẩy lên hàng đầu trên các trang Facebook và Twitter của chúng ta. Chính bằng cách khai thác thiên kiến tiêu cực của chúng ta mà những nền tảng số này kiếm được bộn tiền, thậm chí kiếm được càng nhiều lợi nhuận nếu mọi người càng hành xử tệ. Vì cách hành xử tệ thu hút nhiều sự chú ý hơn, tạo ra nhiều cú nhấp chuột nhất, và ở nơi nào chúng ta bấm quảng cáo thì ở đó có tiền.[17] Điều này biến mạng xã hội thành những thấu kính khuếch đại những tính cách tồi tệ nhất của chúng ta.
Các nhà thần kinh học chỉ ra rằng sự thèm khát tin tức và các thông báo là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang bị “nghiện”, và Thung lũng Silicon đã thấy điều này từ lâu. Các nhà quản lý, lãnh đạo ở các công ty như Facebook và Google đã nghiêm cấm con của họ lên internet và nhất là tham gia mạng xã hội. Thậm chí khi các chuyên gia giáo dục cất lời ca ngợi iPad ở các trường và các kĩ năng số hóa, thì giới tinh hoa công nghệ, giống như những ông trùm ma túy, lại bảo vệ chính con cái họ trước lĩnh vực kinh doanh độc hại của họ.[18]
Quy tắc ngón tay cái✻ của tôi là gì ư? Tôi có một vài quy tắc: Tránh xa tin tức truyền hình và các thông báo (trên điện thoại), thay vào đó đọc một tờ báo cuối tuần vào ngày Chủ Nhật có lối viết sâu sắc và những bài phóng sự chuyên sâu, cho dù là trực tuyến hay báo giấy. Hãy rời xa màn hình của bạn và đi gặp những người thật bằng xương bằng thịt. Hãy ngẫm nghĩ về những thông tin bạn đưa vào não của mình giống như cách bạn làm với thức ăn để nuôi cơ thể.
8. Đừng đấm những tên phát xít mới
Nếu bạn là một tín đồ đam mê tin tức, thì bạn rất dễ bị vướng vào sự vô vọng. Mục đích của việc tái chế, đóng thuế và đóng góp cho các tổ chức từ thiện là gì khi người khác trốn tránh nghĩa vụ của họ?
Nếu bạn bị cám dỗ bởi những suy nghĩ như vậy, hãy nhớ rằng hoài nghi chỉ là cách gọi khác của sự lười nhác. Nó là lý lẽ biện minh cho việc vô trách nhiệm. Vì nếu bạn tin hầu hết mọi người đều hư hỏng thì bạn không bị kích động về sự bất công bởi dù thế nào đi nữa thì thế giới cũng là địa ngục!
Ngoài ra còn một kiểu chủ nghĩa tích cực khác nhưng cũng đáng ngờ giống như chủ nghĩa hoài nghi. Đây là kiểu người làm những việc tốt nhưng chỉ để “đánh bóng” hình ảnh bản thân. Người nào đi theo con đường này sẽ trở thành kẻ nổi loạn hiểu rõ mọi chuyện nhất, họ đưa ra lời khuyên mà không đếm xỉa đến bất kì lợi ích nào của người khác. Những tin xấu trở thành tin tốt, vì tin xấu (“Tình trạng nóng lên toàn cầu tăng nhanh!”, “Bất bình đẳng tệ hơn chúng ta nghĩ!”) chứng minh được rằng chúng luôn đúng.[19]
Nhưng có một cách khác mà thị trấn nhỏ Wunsiedel ở Đức đã áp dụng. Cuối những năm 1980, phó tướng của Adolf Hitler là Rudolf Hess được an táng tại nghĩa trang địa phương, Wunsiedel nhanh chóng trở thành một địa điểm hành hương của những người theo Chủ nghĩa Phát xít mới. Thậm chí ngày nay, đám đầu trọc đã tổ chức tuần hành khắp thị trấn Wunsiedel vào ngày 17 tháng 8 hằng năm, ngày giỗ của Hess, nhằm khích động bạo loạn và bạo lực.
Và hằng năm, những người chống phát xít cho những tên phát xít mới những điều chúng muốn. Khó tránh được khi một video xuất hiện trên mạng cho thấy một người nào đó rất hãnh diện khi táng một tên phát xít mới. Nhưng sau đó, việc làm này cho thấy nó đã phản tác dụng. Cũng như việc đánh bom khu vực Trung Đông là lộc trời cho với đám khủng bố, đấm một tên phát xít chỉ càng khiến những kẻ cực đoan trở nên cực đoan hơn. Hành động đó xác thực thế giới quan của chúng và khiến việc thu hút những kẻ mới gia nhập trở nên dễ dàng hơn nhiều.
Wunsiedel quyết định thực hiện một chiến lược khác. Năm 2014, một người Đức lém lỉnh tên là Fabian Wichmann có một ý tưởng tuyệt vời. Sẽ ra sao nếu thị trấn biến tháng 3 của Rudolf Hess thành một cuộc đi bộ từ thiện? Người dân thích ý tưởng đó. Cứ mỗi mét mà đám phát xít mới bước đi, người dân thị trấn lại cam kết góp 10 euro cho tổ chức EXIT-Deutschland của Wichmann, dùng vào việc giúp mọi người rời khỏi các nhóm cực hữu.
Trước sự kiện, người dân thị trấn đánh dấu vạch xuất phát và vạch kết thúc. Họ làm những biểu ngữ cảm ơn những người đi bộ vì nỗ lực của họ, trong khi những tên phát xít mới không biết đó là hoạt động gì. Vào ngày 17 tháng 8, người dân Wunsiedel chào đón bằng những tiếng cổ vũ thật lớn và tung hoa ngay khi đám phát xít mới đi đến vạch kết thúc. Tổng cộng, sự kiện quyên được hơn 20.000 euro.
Wichmann nhấn mạnh rằng điều quan trọng sau một chiến dịch như thế này là để cửa mở. Mùa hè năm 2011, tổ chức của ông đã tặng áo phông tại một lễ hội nhạc rock của những tên phát xít mới. Trên áo phông có trang trí những hình ảnh ngộ nghĩnh và có vẻ ủng hộ hệ tư tưởng phát xít mới. Nhưng sau khi được giặt sạch, một thông điệp khác xuất hiện: “Những gì chiếc áo phông này của bạn làm được thì bạn cũng có thể làm được. Chúng tôi có thể giúp bạn thoát khỏi phái cực hữu.”[20]
Chuyện này nghe có vẻ sến sẩm, nhưng tuần tiếp theo số lượng các cuộc điện thoại gọi tới EXIT-Deutschland tăng lên 300%. Wichmann chứng kiến thông điệp của ông khiến cho nhóm phát xít mới mất phương hướng như thế nào. Nơi mà chúng mong đợi sự ghê tởm và phẫn nộ, thì lại nhận được một bàn tay chìa ra.
9. Bước ra khỏi tủ: đừng xấu hổ khi làm điều tốt
Để chìa bàn tay ra bạn cần một thứ quan trọng hơn tất thảy. Sự can đảm. Vì bạn có thể bị gán cho một trái tim rỉ máu hay một hành động phô trương, Giê-su đã từng cảnh báo trong Bài giảng Trên núi của Ngài: “Khi anh em bố thí, đừng đánh trống thổi kèn. Khi anh em cầu nguyện, hãy vào phòng riêng đóng cửa lại và cầu nguyện với một mình Cha trên trời.”[21]
Thoạt nghe thì có vẻ lời khuyên trên rất hợp lý. Ai lại muốn được người khác cho là thánh thiện? Hẳn là sẽ an toàn hơn nhiều khi làm những điều tốt đẹp trong âm thầm hoặc chí ít là chuẩn bị sẵn một cái cố:
“Tôi bận suốt.”
“Tôi không cần tiền. ”
“Lý lịch của tôi trông sẽ ổn.”
Các nhà tâm lý học hiện đại phát hiện ra rằng khi người ta làm gì đó bằng sự tử tế đích thực, họ thường bịa ra những động cơ thật ích kỉ. Điều này diên ra khá phổ biến ở các nền văn hóa phương Tây, nơi chủ nghĩa cá nhân hay lý thuyết vỏ ngoài ăn sâu bén rễ nhất.[22] Và nó có ý nghĩa: nếu bạn cho rằng hầu hết mọi người đều ích kỉ, thì bất kì việc làm tốt nào cũng bị nghi ngờ. Một nhà tâm lý học Mỹ từng nhận xét: “Mọi người có vẻ ghê tởm khi thừa nhận rằng cách hành xử của họ được thúc đẩy bởi lòng trắc ẩn hoặc lòng tốt hay sự chân thành đích thực.”[23]
Nhưng rủi thay, sự thận trọng này lại hoạt động như một hiệu ứng phản dược. Khi bạn đội lốt một người kích kỉ, bạn củng cố những giả định mang tính hoài nghi của người khác về bản chất con người. Tệ hơn, bằng việc che giấu những việc làm tốt của mình, bạn đã cách ly chúng vào một phòng kín, nơi chúng không thể trở thành một ví dụ sống động cho người khác thấy. Làm vậy thật sự đáng tiếc, vì sức mạnh bí mật của giống loài Homo puppy nằm ở chỗ chúng ta rất giỏi bắt chước nhau.
Đừng hiểu sai ý tôi: truyền cảm hứng cho người khác không có nghĩa là cứ phải phô trương những việc làm của bạn, và bảo vệ cái tốt không có nghĩa là thổi kèn ca ngợi bản thân. Trong Bài giảng Trên núi, Giê-su cảnh báo các môn đệ của mình phải cẩn thận nhằm tránh việc khoe mẽ, trong khi đó ngài lại khích lệ người khác: “Anh em là ánh sáng của thế gian. Một thành phố xây trên núi thì không tài nào che giấu được. Cũng chẳng ai thắp đèn rồi lấy thúng úp lên, mà đặt nó trên đế, và để đèn chiếu sáng khắp ngôi nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm…”[24]
Quan điểm cho rằng làm việc tốt có thể lan tỏa đã được minh chứng bởi hai nhà tâm lý học Mỹ trong một thí nghiệm xuất sắc được thực hiện vào năm 2010.[25] Họ đặt ra một trò chơi đặt cược trong đó 120 tình nguyện viên, tất cả đều xa lạ với nhau, được chia thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 người. Mỗi người nhận một ít tiền để khởi đầu và sau đó được thoải mái lựa chọn liệu họ có đóng góp cho quỹ chung của nhóm hay không và sẽ đóng góp bao nhiêu. Sau vòng đầu, tất cả các nhóm được xáo trộn để không có hai người nào lại ở cùng một nhóm hai lần.
Những gì xảy ra tiếp theo là một mánh lới nhằm nhân số tiền lên. Mỗi khi có người đóng góp thêm một đô la vào phần vốn góp ở vòng đầu, những người chơi khác trong nhóm sẽ đóng góp trung bình 20 xu trong vòng tiếp theo, cho dù họ đang chơi với người khác. Hiệu ứng này được tiếp tục thực hiện đến vòng thứ ba, nhưng ở vòng ba này, người chơi sẽ đóng góp trung bình thêm 5 xu. Kết thúc thí nghiệm, mọi người mang số tiền góp được ra đếm và nhận ra mọi khoản đóng góp 1 đô la đều tăng gấp đôi.
Tôi thường nghĩ đến nghiên cứu này vì đây là điều tôi muốn ghi nhớ. Mọi việc làm tốt giống như một viên sỏi ném xuống ao, lan tỏa những vòng tròn theo mọi hướng. “Cơ bản là chúng ta không thể thấy sự hào phóng của mình tuôn chảy như thế nào trên mạng xã hội để có thể tác động đến cuộc sống của hàng chục, thậm chí hàng trăm người khác”, một trong số những nhà nghiên cứu của thí nghiệm trên nhận xét.[26]
Lòng tốt dễ lan tỏa. Thậm chí nó có sức lây lan đến mức nhiễm cả vào những người vốn chỉ “kính nhi viễn tri”. Trong số những nhà tâm lý học đầu tiên nghiên cứu hiệu ứng này có Jonathan Haidt, nghiên cứu của ông được thực hiện vào cuối thập niên 90 của thế kỉ trước.[27] Ở một trong những bài viết của mình, ông kể câu chuyện về một sinh viên giúp một bà lão xúc tuyết khỏi lối chạy xe của bà. Sau đó, một trong những người bạn của cậu đã nhìn thấy hành động này và viết: “Tôi cảm thấy như thể mình muốn nhảy ra khỏi xe và ôm chầm lấy cậu ấy. Tôi cảm thấy như mình đang chạy và hát, hoặc nhảy chân sáo và cười vang. Tôi thấy phấn khích. Tôi cảm thấy như đang nói những điều tốt đẹp về mọi người. Đang viết một bài thơ hay hoặc một tình khúc. Đang chơi trên tuyết như một đứa trẻ. Đang kể với tất cả mọi người về việc làm của cậu ấy.”[28]
Haidt phát hiện ra rằng người ta thường ngạc nhiên và xúc động khi chứng kiến những hành động hào hiệp. Khi nhà tâm lý hỏi các đối tượng nghiên cứu của mình rằng kiểu trải nghiệm này tác động đến họ như thế nào, họ đều mô tả về một sự thôi thúc khó cưỡng muốn được đi ra ngoài và giúp đỡ ai đó.
Haidt gọi cảm xúc này là “sự cao thượng”. Con người được cấu tạo để chỉ cần một dấu hiệu đơn giản của lòng tốt cũng đủ làm chúng ta cảm thấy ấm áp và rạo rực. Điều thú vị nữa là hiệu ứng này xảy ra ngay cả khi chúng ta nghe được những câu chuyện này từ người khác. Nó như thể là chúng ta nhấn nút thiết lập lại về tinh thần, xóa sạch những cảm xúc hoài nghi của mình để lại có một thế giới quan rõ ràng.
10. Hãy thực tế
Và giờ là đến quy tắc mà tôi cho là quan trọng nhất để tuân theo.
Nếu có một điều tôi tìm cách thực hiện trong cuốn sách này, đó là thay đổi ý nghĩa của cụm từ “chủ nghĩa hiện thực”. Chẳng phải là trong cách sử dụng từ hiện đại, chủ nghĩa hiện thực trở thành từ đồng nghĩa với hoài nghi – với những ai có quan điểm bi quan hay sao?
Thực tế, chính người hoài nghi lại thường mất đi sự tiếp xúc. Thực tế, chúng ta sống ở Hành tinh A, nơi mọi người có xu hướng hành xử rất tốt với người khác.
Cho nên hãy thực tế. Hãy can đảm. Hãy sống đúng với bản chất của bạn và sẵn sàng trao đi niềm tin. Hãy làm điều tốt đẹp giữa ban ngày và đừng xấu hổ vì chính sự rộng lượng của mình. Mới đầu bạn có thể bị hiểu nhầm là cả tin và khờ khạo. Nhưng hãy nhớ, những gì khờ khạo vào ngày hôm nay lại trở nên phổ biến vào ngày mai. Đã đến lúc chào đón một chủ nghĩa hiện thực mới.
Đã đến lúc có quan điểm mới về loài người.
LỜI CẢM ƠN
Vào tháng 1 năm 2013 tội nhận được tin nhắn từ triết gia người Hà Lan là Rob Wijnberg hỏi liệu tôi có thể uống cà phê với ông ấy không. Wijnberg nói với tôi rằng ông muốn thảo luận kế hoạch về việc mở một diễn đàn báo chí mới. Ông dự tính sản xuất một ấn phẩm không có những tin tức thời sự, không quảng cáo và không có sự hoài nghi. Thay vào đó, chúng tôi đưa ra những giải pháp.
Trong vài tháng, những gì sẽ trở thành De Correspondent đã lập một kỉ lục thế giới mới về huy động vốn, và tôi nhận được công việc mới. Cuốn sách này là kết quả của bảy năm làm việc tại De Correspondent. Nó là sản phẩm của vô số những cuộc trò chuyện với những độc giả đã mài giũa, cải thiện, thậm chí lật ngược những ý tưởng của tôi. Nó là kết quả của đặc quyền có thể theo đuổi những dam mê của riêng tôi và được tiếp sức bởi thứ ma thuật gọi là động lực nội tại.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp ở đó. Dĩ nhiên là cảm ơn cả Rob nữa, người đã truyền năng lượng cho tôi. Tới Jesse Frederik, người đã dạy tôi biết tự phê bình nhiều hơn nữa về chính những ý tưởng của mình. Tới Milou Klein Lankhorst, người nhiều lần chứng tỏ nhà xuất bản của ông là nhà xuất bản sách tốt nhất châu Âu. Và tới cả Andreas Jonkers vì những đóng góp với tư cách là một phó giám đốc xuất bản sách đã có những đóng góp vô giá cho cuốn sách này.
Quả thật, tôi còn có một may mắn khác là được Harminke Medendorp đồng ý biên tập bản gốc tiếng Hà Lan. Harminke nằm trong số những người giỏi nhất lĩnh vực của bà, có thể chỉ với vài câu hỏi cụ thể cũng đủ làm cho bạn nhận ra thực tế bạn đang muốn nói gì. Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp đã đọc các bản thảo tiếng Hà Lan: Tomas Vanheste, Maurits Martijn, Rosan Smits, Marnix de Bruyne, Sanne Blauw, Michiel de Hoog, Johannes Visser, Tamar Stelling, Jelmer Mommers, Arjen van Veelen, Maite Vermeulen, Riff y Bol, Charlotte Remarque, và Anna Vossers. Khi bạn được làm việc với những người như họ, thật khó để hoài nghi điều gì.
Tôi cũng xin cảm ơn Matthias van Klaveren, Sem de Maagt, Huib ter Horst và Carlijn Kingma, những người ầã đọc nhiều phần trong bản sách gốc và đưa ra những lời khuyên giá trị. Carlijn là một trong những họa sĩ tài năng nhất châu Âu và tác phẩm nghệ thuật của chị ấy tạo ra dựa trên cuốn sách này có lẽ sẽ được treo ở các phòng trưng bày rất lâu sau khi những trang sách của tôi bị lãng quên.
Vối phiên bản tiếng Anh, tôi vô cùng biết ơn Elizabeth Manton và Erica Moore. Hoạt động dịch thuật quả là rất khó khăn và công việc này cũng thường không được đánh giá cao. Nhưng trong môn nghệ thuật chữ nghĩa, họ là bậc thầy không ai sánh bằng. Tôi cũng cảm ơn các biên tập viên Ben George ở Little, Brown và Alexis Kirschbaum ở Bloomsbury, những người đã giúp trau chuốt hơn về mặt nội dung, các đại diện văn học của tôi là Rebecca Carter và Emma Parry, những người tin tưởng cuốn sách này ngay từ đầu, và biên tập viên Richard Collins vì công việc xuất sắc của anh ấy.
Cuối cùng, tôi mắc nợ gia đình mình rất nhiều, các chị gái, các anh rể và cả bạn bè tôi. Cảm ơn Jurrien vì đã là một người bạn tuyệt vời. Cảm ơn vợ tôi, Maartje, vì mọi thứ (kể cả tên sách tiếng Anh). Và cảm ơn ba mẹ tôi, Peta và Kees Bregman, những người tôi dành tặng cuốn sách này.
Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Trầm lặng: Sức mạnh tiềm ẩn của người hướng nội.
Cuốn sách được xuất bản ở Việt Nam với tựa đề Cho và nhận: Vì sao giúp người đưa ta đến thành công?
Cuốn sách được phát hành ở việt Nam với tựa đề Tâm lý học đám đông.
Nguyên bản tiếng Anh có chơi chữ “spirits”, vừa mang nghĩa “rượu mạnh”, vừa mang nghĩa “cảm xúc, tâm trạng”. (Tất cả chú thích đánh dấu ✻ là của dịch giả, chú thích đánh số là của tác giả)
Mercedes-Benz Superdome, một sân vận động kiêm trung tâm triển lãm có mái vòm nằm ở trung tâm New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ.
Thomas Hobbes (1588-1679), triết gia người Anh thời Phục Hưng, ông được coi là một trong những người sáng lập triết học chính trị hiện đại. Tác phẩm Leviathan (tạm dịch: Quái vật Leviathan) viết năm 1651 của ông thiết lập nền tảng cho nền triết học chính trị phương Tây theo quan điểm lý thuyết Về khế ước xã hội. Ý tưởng về khế ước xã hội không phải do Hobbes nghĩ ra, nhưng được ông tư duy theo cách hoàn toàn khác. Theo đó, ta có một nhà nước tự nhiên trước khi chính quyền được hình thành. Trong nhà nước này, Hobbes cho rằng con người sẽ không bị ràng buộc bởi luật lệ, và vì họ có tư lợi nên tất yếu có xung đột và xảy ra “chiến tranh tất cả chống lại tất cả…”. Để loại bỏ một cuộc chiến tranh như vậy và bảo toàn lợl ích của tất cả, Hobbes cho rằng, con người phải thỏa hiệp nhau để xây dựng một chính quyền có quốc vương nắm quyền lực tuyệt đối bởi chỉ có quyền lực tuyệt đối mới giải quyết được mọi xung đột. Thỏa hiệp đó chính là khế ước xã hội.
Nguyên văn “average Joe”, cách nói của người Mỹ để chỉ một người bình thường.
Khảo sát Giá trị Thế giới (WVS] là một dự án nghiên cứu toàn cầu khám phá giá trị và niềm tin của mọi người, cách họ thay đổi theo thời gian cũng như tác động xã hội và chính trị mà họ có. Kế từ năm 1981, mạng lưới các nhà khoa học xã hội trên toàn thế giới đã tiến hành khảo sát quốc gia đại diện như một phần của WVS ở gàn 100 quốc gia.
Nguyên văn “clickbait”, hay còn gọi là mồi câu nhấp chuột. Đây là một đường liên kết với tiêu đề hấp dẫn, lôi cuốn khiến mọi người tò mò và nhấp chuột vào.
Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Gen vị kỉ.
Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Chúa Ruồi.
Trong bản tiếng Anh là chữ M của từ “Man”.
Sân khấu Broadway là tên gọi của một hệ thống hơn 40 nhà hát lớn ở quận Theatre, Manhattan, New York. Cùng với sân khấu West End tại London, Broadway được xem là một trong những sân khấu hàng đâu trong lĩnh vực nghệ thuật thương mại tại các quốc gia nói tiếng Anh.
Amiăng (Asbestos) là chất gây ra ung thư phổ biến nhất.
Trí thông minh Machiavelli là khả năng của một sinh vật để tham gia chính trị thành công với nhóm xã hội.
Tác phẩm được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Quân vương.
Nguyên văn tiếng Anh “antediluvian” là giai đoạn được ghi lại trong Kinh Thánh giữa mốc diệt vong của con người và câu chuyện hồng thủy trong sách Sáng Thế kí. Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ thứ gì đó cổ lỗ, cũ kĩ.
“Con voi đang ở trong phòng” là câu thành ngữ trong tiếng Anh ám chỉ một vấn đề hệ trọng ngay trước mắt nhưng mọi người đều tránh nói về nó.
Indiana Jones: là một nhân vật giả tưởng trong loạt phim Mỹ có chủ đề khảo cổ học.
Bản gốc tiếng Anh chơi chữ bằng hai từ có cách phát âm găn giống nhau: struggle (đấu tranh) và snuggle (ôm ấp).
Câu chuyện Sa Ngã kể về việc Adam và Eva đã ăn trái cấm, sau đó họ bị Thiên Chúa trừng phạt.
Đĩa Petri là đĩa dùng để nuôi cấy tế bào vi khuẩn, nấm… trong phòng thí nghiệm.
Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Sụp đổ.
Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Điểm bùng phát.
Chương trình hội thảo, tọa đàm do TED (viết tắt của Technology, Entertainment, Design), một tổ chức truyền thông đại chúng thành lập năm 1984 với khẩu hiệu “những ý tưởng đáng lan tỏa”, thực hiện. TED chuyên tiến hành những hội thảo, trao đổi, thảo luận về nhiều chủ đề khoa học, văn hóa và học thuật.
Cách ngôn là loại câu nói ngắn gọn, súc tích, có ý nghĩa giáo dục đạo đức, tư tưởng, được nhiều người coi là chuẩn mực, khuôn thước để làm theo và vươn tới. Cách ngôn cũng có thể được rút ra trong kho tàng tục ngữ của từng vùng hoặc từ những trước tác, những lời nói của các lãnh tụ, các học giả, các nhà văn lớn.
Hiệu ứng bàng quan hay Hội chứng Genovese là hiện tượng tâm lý xã hội, hiện tượng này chỉ về một tình huống khẩn cấp mà trong đó những người chứng kiến đã không giúp đỡ nạn nhân.
Lực lượng Vệ quốc, tên gọi chung các lực lượng vũ trang quân đội Đức quốc xã.
Ngày D-Day thường được sử dụng đế nói về chiến dịch đổ bộ lên bãi biển Normandy của quân đội Đồng minh diễn ra vào ngày 6 tháng 6 năm 1944.
Tức ma túy đá, một loại ma túy có thế gây ra tình trạng hung hăng bạo lực.
Chủ nghĩa Machiavelli mô tả khuôn mẫu của hành vi chính trị bỏ qua các tiêu chuẩn đạo đức để đạt được các mục tiêu chính trị và duy trì quyền lực.
Cuốn sách được phát hành ở Việt Nam với tựa đề Sapiens Lược sử loài người.
Tiếng Anh là: Iron Law of Oligarchy. Đây là thuật ngữ do Roberto Michels (1876-1936) đặt ra để mô tả tuyên bố của ông rằng, ngay cả các đảng xã hội chủ nghĩa, tức là các đảng tuyên xưng chế độ dân chủ nội bộ nhưng trên thực tế lại bị một nhóm tinh hoa kiểm soát: “Nói đến tổ chức là nói đến chế độ đầu sỏ”.
Tiếng Anh là American Founding Fathers, là một nhóm gồm bảy người đã đứng lên thống nhất và lãnh đạo 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ trong cuộc each mạng Mỹ chống lại sự cai trị của Vương quốc Anh. Họ bao gôm: John Adams, Benjamin Frankin, Alexander Hamilton, John Jay, Thomas Jefferson, James Madison và George Washington.
Bất tuân dân sự là các hoạt động công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng.
Chất được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài, chất này còn được gọi là hoóc-môn xã hội hay được xem như một hệ thống thông tin hóa học.
Cuộc đua chuột (Rat race) là thuật ngữ được người Mỹ sử dụng, để diễn tả cuộc chạy đua của con người nhằm đạt được những thành tựu cao hơn trong đời. “Cuộc đua chuột” ám chỉ những cuộc đua bất tận để theo đuổi thứ vô nghĩa.
Bingo là trò chơi cực kì phổ biến ở các nước phương Tây, khi người chơi hoàn thành thử thách, họ sẽ hét to: “Blngo”.
Nguyên văn “spin doctor” là những người khiến cho những ý kiến, sự kiện và bài diễn văn chính trị trở nên hấp dẫn, sống động hơn.
Tiếng Anh là Sick day pool là một chương trình trong đó người lao động đóng góp những ngày nghỉ phép không dùng đến của mình vào quỹ chung để đồng nghiệp có thể yêu cầu dùng khi họ cần một thời gian nghỉ phép dài quá số ngày quy định, ví dụ như nghỉ chữa bệnh nan y.
Bản gốc chơi chữ đồng âm khác nghĩa giữa “sharing economy” (kinh tế chia sẻ) và “shearing economy” (kinh tế bớt xén).
Nhà nước hợp hiến là Nhà nước ra đời dựa trên những cơ sở pháp lý có hiệu lực, được quảng đại quần chúng nhân dân trong nước thừa nhận và được cộng đồng quốc tế công nhận.
Tiếng Anh là Transit police là lực lượng cảnh sát chuyên bảo vệ và giải quyết các vụ án liên quan đến hành khách sử dụng phương tiện giao thông công cộng như tàu điện ngầm, xe buýt, tàu hỏa…
Vụ tấn công Na Uy năm 2011 gồm các cuộc tấn công khủng bố được phối hợp nhằm tấn công chính phủ, một trại hè chính trị và khu vực thường dân tại Na Uy diễn ra vào thứ Sáu, ngày 22 tháng 7 năm 2011. Vụ đầu tiên là một vụ nổ bom ở Regjeringskvartalet, trụ sở của chính phủ tại Oslo, khoảng 15h26, bên ngoài văn phòng của Thủ tướng Jens Stoltenberg và các tòa nhà chính phủ khác. Vụ đánh bom đã giết chết tám người và làm bị thương nhiều người khác. Vụ tấn công thứ hai xảy ra khoảng hai giờ sau đó tại một trại thanh thiếu niên được tổ chức bởi tổ chức thanh thiếu niên (AUF) của Công đảng Na Uy tại hòn đảo Utoya trong Tyrifjorden, Buskerud. Ít nhất một tay súng vũ trang cải trang như là một cảnh sát nổ súng tại điểm cắm trại, giết chết 69 người tham dự.
Chế độ a-pác-thai (apartheid) là chính sách phân biệt chủng tộc trước đây đã được tiến hành ở Nam Phi từ năm 1948 đến 1990. Từ Apartheid trong tiếng Hà Lan dùng ở châu Phi có nghĩa là sự riêng biệt, nó miêu tả sự phân chia chủng tộc giữa thiểu số người da trắng và phần đông dân số người da đen.
Thuật ngữ do Tổng Giám mục Desmond Tutu đặt ra để chỉ Cộng hòa Nam Phi thời kì hậu phân biệt chủng tộc, sau cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên vào năm 1994.
Ku Klux Klan thường được gọi là KKK hoặc Klan, là một nhóm thù ghét của những người Mỹ da trắng, có mục tiêu chính là người Mỹ gốc Phi.
African National Congress: Đại hội Dân tộc Phi được thành lập vào năm 1912 tại Bloemfontein để đấu tranh cho quyền lợi của người da đen ở Nam phi.
Tiếng Anh là zip-code level, nghĩa là cấp độ sử dụng trong điều tra thống kê dân số ở Hoa Kỳ.
Tiếp thị du kích là chiến thuật marketing thu hút sự ngạc nhiên của người tiêu dùng, tạo ấn tượng khó xóa nhòa trên một lượng lớn các tin tức xã hội. Hầu hết các chiến dịch tiếp thị du kích đều đáng nhớ và tấn công người tiêu dùng ở cấp độ cá nhân.
Quy tắc ngón tay cái là cụm từ trong tiếng Anh, chỉ các hướng dẫn được ứng dụng rộng rãi, cung cấp lời khuyên đơn giản về một chủ đề nào đó. Quy tắc ngón tay cái mang tính thực hành và kinh nghiệm hơn là một nghiên cứu lý thuyết.
[1] Churchill phát biểu tại Hạ viện ngày 30 tháng 7 năm 1934.
[2] J. F. C. Fuller, The Reformation of War (London, 1923), tr. 150.
[3] Gustave Le Bon, The Crowd. A study of the Popular Mind (Kitchener, 2001), tr. 19. Xuất bản lần đầu năm 1896.
[4] Richard Overy, “Hitler and Air Strategy”, Tạp chí Contemporary History (tháng 7 năm 1980), tr. 410.
[5] J. T. MacCurdy, The structure of Morale (Cambridge, 1943), tr. 16.
[6] Trích trong Richard Overy, The Bombing War. Europe 1939-1945 (London, 2013), tr. 185.
[7] Angus Calder, The People’s War. Britain 1939-1945 (London, 1991), tr. 174.
[8] Overy, The Bombing War, tr. 160.
[9] Robert Mackay, Half the Battle: Civilian Morale in Britain During the Second World War (Manchester, 2002), tr. 261.
[10] Trích trong Overy, The Bombing War, tr. 145. Đầu năm 1941, chỉ 8% hầm trú ẩn là được sử dụng. Xem Overy, tr. 137.
[11] Sebastian Junger, Tribe. On Homecoming and Belonging (London, 2016).
[12] Richard Overy, “Civilians on the frontline”, Observer (ngày 6 tháng 9 năm 2009).
[13] Mollie Panter-Downes, London War Notes 1939-1945 (New York, 1971), tr. 105.
[14] Overy, The Bombing War, tr. 264.
[15] Thậm chí những người bạn biết rõ Frederick Lindemann cũng mô tả ông ấy như là người “luôn nghĩ rằng mình đúng mọi việc, không bao giờ sẵn sàng nhượng bộ hay thừa nhận thất bại”, “có khuynh hướng coi các quan điểm trái ngược với mình là một sự xúc phạm cá nhân” và “không bao giờ ngại phê phán một chủ đề kể cả khi ông ấy không hiểu”. Xem Hugh Berrington, ‘When does Personality Make a Difference? Lord Cherwell and the Area Bombing of Germany’, Tạp chí International Political Science (tháng 1 năm 1989).
[16] Brenda Swann và Francis Aprahamian, J. D. Bernal. A Life in Science and Politics (London, 1999), tr. 176. Hai nghìn trẻ em được giao viết các bài luận về những trải nghiệm của chúng. Ngày nay đọc những bài luận ấy, sự dũng cảm của chúng thật đáng ngạc nhiên. “Tôi bị vùi lấp, bị thương nhưng tôi vẫn giúp kéo những xác người và người bị thương ra,” một cậu bé 10 tuổi viết về ngôi nhà bị phá hủy của cậu. Xem Martin L. Levitt, “The Psychology of Children: Twisting the Hull-Birmingham Survey to Influence British Aerial Strategy in World War II”, Psychologic und Geschichte (tháng 5 năm 1995).
[17] Solly Zuckerman, From Apes to Warlords. An Autobiography, 1904-1946 (London năm 1988), tr. 405. Trong bản in đầu tiên của cuốn sách này, xuất bản năm 1978, Zuckerman thêm vào trang tiêu đề của báo cáo Hull như một phụ lục, vì thế vi phạm lệnh cấm vận có hiệu lực cho tới năm 2020.
[18] Charles Webster và Noble Frankland, The Strategic Air Offensive Against Germany 1935-1945 (London, 1961), tr. 332.
[19] C. T.R. Snow, “Whether we live or die”, tạp chí Life (ngày 3 tháng 2 năm 1961), tr. 98.
[20] Overy, The Bombing War, tr. 356.
[21] Jorg Friedrich, The Fire. The Bombing of Germany 1940-1945 (New York, 2006), tr. 438.
[22] Friedrich Panse, Angst und Schreck (Stuttgart, 1952), tr. 12.
[23] Friedrich, The Fire, tr. 418-20.
[24] Báo cáo của Anh không được đưa ra cho tới 50 năm sau. Xem Sebastian Cox (chủ biên), Cơ quan Khảo sát Bom đạn Anh, The Strategic Air War Against Germany, 1939-1945. Báo cáo chính thức của Cơ quan Khảo sát Bom đạn Anh (London, 1998).
[25] John Kenneth Galbraith, A Life in Our Times (Boston, 1981), tr. 206. Một câu hỏi trị giá cả triệu đô la, dĩ nhiên là điều gì sẽ xảy ra nếu phe Đồng minh đầu tư ít hơn cho không quân của họ và nhiều hơn cho lục quân và hải quân? Sau Thế chiến thứ Hai, người nhận giải Nobel là Patrick Blackett viết rằng lẽ ra chiến tranh sẽ kết thúc sớm hơn 6 đến 12 tháng. Và người Đức cũng có kết luận tương tự. Albert Speer, Bộ trưởng Bộ Vũ trang và sản xuất Chiến tranh, nói ông ấy lo lắng nhất là các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng của Đức, trong khi tư lệnh Không quân Hermann Göring chủ yếu nhớ các cuộc tấn công vào các nhà máy lọc dầu của Đức. Đến mùa thu năm 1944, dự trữ dầu của Đức giảm sút. Xe tăng chết máy, máy bay bị kẹt trong hầm chứa và pháo được ngựa kéo đi. Nhưng điều đó không ngăn cản người Anh ném bom dân thường Đức. Trong ba tháng cuối năm 1944, 53% vụ ném bom nhắm vào các vùng đô thị, và chỉ 14% nhằm vào các nhà máy lọc dầu. Đến lúc đó, người Anh thực tế đã ngừng sử dụng hỏa tiễn, biết rằng chẳng còn gì nhiều để cháy. Trong khi đó, sản xuất dầu của Đức phục hồi. Xem Max Hastings, Bomber Command (London, 1979), tr. 327-34.
[26] Edward Miguel và Gerard Roland, “The Long Run Impact of Bombing Vietnam”, Tạp chí Development Economics (tháng 9 năm 2011), tr. 2.
[1] Tom Postmes, email gửi tác giả, ngày 9 tháng 12 năm 2016.
[2] Jack Winocour (chủ biên), The Story of the Titanic As Told by Its Survivors (New York, 1960), tr. 33.
[3] Trích trong Rebecca Solnit, A Paradise Built in Hell. The Extraordinary Communities that Arise in Disaster (New York, 2009), tr. 187.
[4] Frans de Waal, The Bonobo and the Atheist. In Search of Humanism Among the Primates (New York, 2013), tr. 43.
[5] Gary Younge, “Murder and Rape – Fact or Fiction?”, Guardian (ngày 6 tháng 9 năm 2005).
[6] Robert Tanner, “New Orleans Mayor Orders Police Back to Streets Amid Increasingly Violent Looting”, Seattle Times (ngày 1 tháng 9 năm 2005).
[7] Timothy Garton Ash, “It Always Lies Below”, Guardian (ngày 8 tháng 9 năm 2005).
[8] Jim Dwyer và Christopher Drew, “Fear Exceeded Crime’s Reality in New Orleans”, New York Times (ngày 29 tháng 9 năm 2005).
[9] Havidán Rodríguez, Joseph Trainor và Enrico L. Quarantelli, “Rising to the Challenges of a Catastrophe: The Emergent and Prosocial Behavior Following Hurricane Katrina”, The Annals of the American Academy of Political and Social Science (số 1,2006).
[10] Matthieu Ricard, Altruism. The Power of Compassion to Change Yourself and the World (New York, 2015), tr. 99.
[11] Enrico L. Quarantelli, “Conventional Beliefs and Counterintuitive Realities”, Social Research: An International Quarterly of the Social Sciences (số 3, 2008), tr. 885.
[12] AFP/Reuters, “Troops Told “Shootto Kill” in New Orleans” (ngày 2 tháng 9 năm 2005).
[13] Trymaine Lee, “Rumor to Fact in Tales of Post-Katrina Violence”, New York Times (ngày 26 tháng 8 năm 2010).
[14] Solnit, A Paradise Built in Hell, tr. 131.
[15] Trích trong CNN Money, “Coke Products Recalled” (ngày 15 tháng 6 năm 1999).
[16] B. Nemery, B. Fischler, M. Boogaerts, D. Lison và J. Willems, “The Coca-Cola Incident in Belgium, June 1999”, Food and Chemical Toxicology (số 11, 2002).
[17] Victoria Johnson và Spero c. Peppas, “Crisis Management in Belgium: the case of Coca-Cola” tạp chí quốc tế Corporate Communications (số 1,2003).
[18] Bart Dobbelaere, “Colacrisis was massahysterie”, De Standaard (ngày 2 tháng 4 năm 2000).
[19] Karolina Wartolowska chủ biên, “Use of Placebo Controls in the Evaluation of Surgery: Systematic Review”, tạp chí British Medical (ngày 21 tháng 5 năm 2014).
[20] Clayton R. Critcher và David Dunning, “No Good Deed Goes Unquestioned: Cynical Reconstruals Maintain Belief in the Power of Self-interest”, tạp chí Experimental Social Psychology (số 6, 2011), tr. 1212.
[21] Sören Holmberg và Bo Rothstein, “Trusting other people”, Public Affairs (30 tháng 12 năm 2016).
[22] Jodie Jackson, “Publishing the Positive. Exploring the Motivations for and the Consequences of Reading Solutions-focusedjournalism”, constructivejournalism.org (mùa thu 2016).
[23] Wendy M. Johnston và Graham C. L. Davey, “The psychological impact of negative TV news bulletins: The catastrophizing of personal worries”, tạp chí British Psychology (ngày 13 tháng 4 năm 2011).
[24] Hans Rosling, Factfulness (London, 2018), tr. 50.
[25] Chris Weller, “A top economist just put the fight against poverty in stunning perspective”, Business Insider (ngày 17 tháng 10 năm 2017).
[26] Toni van der Meer et al., “Mediatization and the Disproportionate Attention to Negative News. The case of airplane crashes”, Journalism Studies (ngày 16 tháng 1 năm 2018).
[27] Laura Jacobs (biên tập), “Back to Reality: The Complex Relationship Between Patterns in Immigration News Coverage and Real-World Developments in Dutch and Flemish Newspapers (1999-2015)”, Mass Communication and Society (ngày 20 tháng 3 năm 2018).
[28] Nic Newman (biên tập), Reuters Institute Digital News Report. Tracking the Future of News (2012). Xem thêm Rob Wijnberg, ‘The problem with real news – and what we can do about it’, Medium.com (ngày 12 tháng 9 năm 2018).
[29] Michael Bond, “How to keep your head in scary situations”, New Scientist (ngày 27 tháng 8 năm 2008).
[30] Rolf Dobelli, “Avoid News. Towards a Healthy News Diet”, dobelli.com (tháng 8 năm 2010).
[31] Frans de Waal, The Bonobo and the Atheist, tr. 38-9.
[32] Michael Ghiselin, The Economy of Nature and the Evolution of Sex (Berkeley, 1974), tr. 247.
[33] Joseph Henrich chủ biên, “In Search of Homo Economicus: Behavioral Experiments in 15 Small-Scale Societies”, tạp chí American Economic Review (số 2,2001).
[34] David Sloan Wilson và Joseph Henrich, “Scientists Discover what Economists Haven’t Found: Humans”, Evonomics.com (ngày 12 tháng 7 năm 2016).
[35] David Sloan Wilson, “Charles Darwin as the Father of Economics: A Conversation with Robert Frank”, The Evolution Institute (ngày 10 tháng 9 năm 2015).
[36] Thucydides, History of the Peloponnesian War, Rex Warner dịch (1972), tr. 242-5.
[37] Saint Augustine, The Confessions of Saint Augustine, Maria Boulding dịch (2012), tr. 12?
[38] Thomas Henry Huxley, The Struggle for Existence in Human Society (xuất bản lần đầu năm 1888).
[39] Herbert Spencer, Social Statistics, Chương XVIII, đoạn 4 (1851).
[40] “Tôi không tin rằng xu hướng bản chất con người luôn hướng xuống,” Mahatma Gandhi, lãnh tụ huyền thoại của phong trào giành độc lập của An Độ, người mà Churchill xem như một “thầy tu khổ hạnh cởi trần”. “Cái thiện của con người là ngọn lửa có thể được giấu kín nhưng không bao giờ dập tắt,” trích lời Nelson Mandela phát biểu.
[41] Emma Goldman, Anarchism and Other Essays (Stillwell, 2008), tr. 29. Xuất bản lần đâu năm 1910.
[42] Đây là Marie Lindegaard, nhân vật mà chúng ta sẽ gặp trong Chương 9.
[1] William Golding nhớ lại điều này trong phần giới thiệu ấn phẩm đọc ghi âm cuốn sách của ông sản xuất những năm 1980. Xem William Golding, Lord of the Flies. Read by the author (Listening Library, 2005).
[2] John Carey, William Golding. The Man Who Wrote Lord of the Flies (London, 2010), tr. 150.
[3] William Golding, The Hot Gates (London, 1965), tr. 87.
[4] Arthur Krystal (biên tập), A Company of Readers. Uncollected Writings of W. H. Auden, Jacques Barzun và Lionel Trilling (2001), tr. 159.
[5] Trích trong Carey, William Golding, tr. 82.
[6] Như trên, tr. 259.
[7] Trong “Dit gebeurt er als je gewone kinderen vrijlaat in de wildernis”, De Correspondent (ngày 6 tháng 6 năm 2017).
[8] Frans de Waal, The Bonobo and the Atheist, tr. 214.
[9] MaryAnn McKibben Dana, “Friday Link Love: Doubt, Virginia Woolf, and a Real-Life Lord of the Flies”, theblueroom.org (ngày 3 tháng 5 năm 2013).
[10] Susanna Agnelli, Street Children. A Growing Urban Tragedy (London, 1986).
[11] Jamie Brown, “Mates Share 50-Year Bond”, Daily Mercury (ngày 12 tháng 12 năm 2014).
[12] Trích trong Kay Keavney, “The Dropout Who Went to Sea”, The Australian Women’s Weekly (ngày 19 tháng 6 năm 1974).
[13] Ngoại trừ những chỗ được nói rõ, mọi trích dẫn của Peter Warner và Mano Totau trong chương này đều từ các phỏng vấn của chính tôi với họ.
[14] Đặc biệt xem Keith Willey, Naked Island – and Other South Sea Tales (London, 1970).
[15] Steve Bowman, một nhà làm phim người Úc, phỏng Vấn David năm 2007 và chia sẻ đoạn phim (chưa công bố) của ông với tôi. Câu trích này được lấy từ phim tài liệu của Bowman.
[16] Willey, Naked Island, tr. 6.
[17] Trích trong Scott Hamilton, “In remote waters”, readingthemaps.blogspot.com (ngày 18 tháng 11 năm 2016).
[18] Peter Warner, Ocean of Light. 30 years in Tonga and the Pacific (Keerong, 2016), tr. 19.
[19] Đây là cách Sione nhớ đến sự việc, ông đã kể với tôi qua điện thoại “Chúng tôi ở rất gần nhau. Bất kì lúc nào xảy ra cãi vã, tôi đều cố gắng xoa dịu các cậu bé. Rồi chúng khóc, chúng xin lỗi, và thế là hết. Lần nào cũng vậy.”
[20] Thực tế, điều này rất may mắn. Tin rằng họ ở gần Samoa, các cậu bé vạch một lộ trình đi về phía Nam, trong khi thực tế họ sẽ phải đi lên phía Bắc.
[21] Willey, Naked Island, tr. 33.
[22] Warner, Ocean of Light, tr. 89.
[23] Charlotte Edwardes, “Survivor Game Show Based on Public School”, Daily Telegraph (ngày 3 tháng 6 năm 2001).
[24] Robert Evans và Michael Thot, “5 Ways You Don’t Realize Reality Shows Lie”, Cracked.com (ngày 7 tháng 7 năm 2014).
[25] Viện Nghiên cứu Hướng đạo sinh nữ, “Girls and Reality TV” (2011).
[26] Robert Sapolsky, Behave. The Biology of Humans at Our Best and Worst (London, 2017), tr. 199.
[27] Bryan Gibson chủ biên, “Just ‘Harmless Entertainment?’ Effects of Surveillance Reality TV on Physical Aggression”, Psychology of Popular Media Culture (ngày 18 tháng 8 năm 2014).
[28] Trích trong CBC Arts, “George Gerbner Leaves the Mean World Syndrome”, Peace, Earth & Justice News (ngày 8 tháng 1 năm 2006).
[29] Một giáo viên được nhà làm phim tài liệu Steve Bowman phỏng vấn, nằm trong tài liệu chưa công bố mà ông đã chia sẻ cho tôi.
[1] Từ điển Oxford định nghĩa hominin là “Động vật linh trưởng thuộc nhóm phân loại (Hominini), gồm các loài được coi như người, là tổ tiên trực tiếp của loài người, hoặc có liên hệ rất gần với người.” Họ rộng hơn của hominid cũng bao gồm loài vượn lớn.
[2] Charles Darwin, “To Joseph Dalton Hooker”, Darwin Correspondenceproject (ngày 11 tháng 1 năm 1844).
[3] Richard Dawkins, The Selfish Gene. 30th Anniversary Edition (2006), tr. ix. Xuất bản lần đầu năm 1976. Dawkins về sau xóa đoạn này (xem cuối chương này).
[4] Claire Armitstead, “Dawkins Sees off Darwin in Vote for Most Influential Science Book”, Guardian (ngày 20 tháng 7 năm 2017).
[5] Michael J. Edwards, “Fascinating, But at Times I Wish I Could Unread It”, review on Amazon.com (ngày 7 tháng 8 năm 1999). Đây là một trong những đánh giá được xếp hạng cao nhất của cuốn sách trên Amazon.
[6] Marcus E. Raichle và Debra A. Gusnard, “Appraising the Bram’s Energy Budget’, PNAS (ngày 6 tháng 8 năm 2002).
[7] E. Hermann chủ biên, “Humans Have Evolved Specialized Skills of Social Cognition: The Cultural Intelligence Hypothesis”, Science (ngày 7 tháng 9 năm 2007).
[8] Joseph Henrich, The Secret of Our Success. How Culture Is Driving Human Evolution, Domesticating Our Species, and Making Us Smarter (Princeton, 2016), tr. 16-17.
[9] Như trên, tr. 17-21.
[10] Maria Konnikova, The Confidence Game (New York, 2016). Xem phần lời bạt để biết thêm về cuốn sách thú vị của Konnikova.
[11] Charles Darwin, The Expression of the Emotions in Man and Animals (New York, 1872), tr. 309. Năm 2018 đã công bố một nghiên cứu nhỏ với năm con vẹt đuôi dài màu lam và vàng, kết quả cho thấy loài vẹt này cũng có khả năng đỏ mặt. Xem Aline Bertin chủ biên, “Facial Display and Blushing: Means of Visual Communication in Blue-and-Yellow Macaws (Ara Ararauna)?’’, PLoS One (ngày 22 tháng 8 năm 2019).
[12] Johann Carl Fuhlrott, “Menschliche Oberreste aus einer Felsengrotte des Diisselthals. Ein Beitrag zur Frage uber die Existenz fossiler Menschen”, trong Verhandlungen des Naturhistorischen Vereins der preujiischen Rheinlande und Westphalens (Phần 16,1859), tr. 131-53.
[13] Tên của hiệp hội ở Đức là Niederrhefnische Gesellschaft für Natur-und Heilkunde.
[14] Paige Madison, “The Most Brutal of Human Skulls: Measuring and Knowing the First Neanderthal”, British Journal for the History of Science (số 3,2016), tr. 427.
[15] Tên gọi này (Homo stupidus) do nhà sinh vật học Ernst Haeckel đề xuất, nhưng không được ưa dùng vì nhà giải phẫu học William King đã nghĩ ra Homo neanderthalensis hai năm trước.
[16] João Zilhao, “The Neanderthals: Evolution, Paleoecology, and Extinction”, trong Vicki Cummings, Peter Jordan and Marek Zvelebil, The Oxford Handbook of the Archaeology and Anthropology of Hunter-Gatherers (Oxford, 2014), tr. 192.
[17] Thomas D. Berger và Erik Trinkaus, “Patterns of Trauma among the Neandertals”, Journal of Archaeological Science (tháng 11 năm 1995).
[18] Thomas Wynn và Frederick L. Coolidge, How to Think Like a Neanderthal (Oxford, 2012), tr. 19. Nếu bạn vẫn hình dung người Neanderthal như một dạng cư dân hang động ăn lông ở lỗ, thì hãy nghĩ lại. Năm 2018, một nhóm các nhà khảo cổ học so sánh số mảnh xương sọ của 295 người Neanderthal với người Homo sapiens (tổ tiên trực tiếp của chúng ta) của cùng giai đoạn. Họ đã tìm thấy gì? Không có khác biệt. Cuộc sống của một người Neanderthal không man rợ hơn chúng ta. Chúng ta dường như cũng là dạng vật nuôi nguyên thủy mà thôi. Xem Judith Beier chủ biên, “Similar Cranial Trauma Prevalence among Neanderthals and Upper Palaeolithic modern humans”, Nature (ngày 14 tháng 11 năm 2018).
[19] Paola Villa và Wil Roebroeks, “Neandertal Demise: An Archaeological Analysis of the Modern Human Superiority Complex”, PLoS One (ngày 30 tháng 4 năm 2014).
[20] Yuval Noah Harari, Sapiens. A Brief History of Humankind (London, 2011), tr. 19.
[21] Jared Diamond, “A Brand-New Version of Our Origin Story”, New York Times (ngày 20 tháng 4 năm 2018).
[22] Ngoại trừ chỗ được nói rõ, nguồn chính của tôi về câu chuyện này là Lee Alan Dugatkin và Lyudmila Trut, How to Tame a Fox (and Build a Dog). Visionary Scientists and a Siberian Tale of Jump-Started Evolution (Chicago, 2017).
[23] Lee Alan Dugatkin và Lyudmila Trut, “How to Tame a Fox and Build a Dog”, American Scientist (số 4, 2017).
[24] Dugatkin và Trut, How to Tame a Fox, tr. 58.
[25] Như trên, tr. 124.
[26] Robert L. Cieri chủ biên, “Craniofacial Feminization, Social Tolerance, and the Origins of Behavioral Modernity”, Current Anthropology [No. 4, 2014).
[27] Con người không phải hậu duệ trực tiếp của người Neanderthal (dù nhiều người có DNA Neanderthal, Homo sapiens và Homo neanderthalensis rõ ràng có con cái chung); tuy nhiên, tổ tiên Homo sapien chưa thuần hóa của chúng ta 50.000 năm trước khá giống với người Neanderthal, có nghĩa là họ trông nam tính hơn hẳn. Xem Brian Hare, “Survival of the Friendliest: Homo sapiens Evolved via Selection for Prosociality”, Annual Review of Psychology (2017).
[28] Brian Hare, The Genius of Dogs. Discovering the Unique Intelligence of Man’s Best Friend (London, 2013). tr. 40
[29] Như trên, tr. 88.
[30] Brian Hare, “Survival of the Friendliest - Brian Hare, Duke Forward in Houston”, YouTube (ngày 20 tháng 1 năm 2016). Hare nói điều này ở phút 3 phút 56 giây.
[31] Quá trình thuần hóa có ảnh hưởng đến biểu hiện sắc tố melanin ở lông, điều này cũng lý giải những đốm trắng trên những con cáo của Dmitri. Brian Hare, “Survival of the Friendliest: Homo sapiens Evolved via Selection for Prosociality’’, Annuo/ Review of Psychology (2017).
[32] Ricardo Miguel Godinho, Penny Spikins và Paul O’Higgins, ‘Supraorbital Morphology and Social Dynamics in Human Evolution”, Nature Ecology & Evolution (số 2, 2018). Xem thêm Matteo Zanella, ‘Dosage analysis of the 7qll.23 Williams region identifies BAZ1B as a major human gene patterning the modern human face and underlying self-domestication”, Science Advances (ngày 4 tháng 12 năm 2019).
[33] Henrich, The Secret of Our Success, tr. 214.
[34] James Thomas và Simon Kirby, “Self domestication and the evolution of language”. Biology & Philosophy (ngày 27 tháng 3 năm 2018).
[35] Peter Turchin, Ultrasociety. How 10,000 Years of War Made Humans the Greatest Cooperators on Earth (Chaplin, 2016), tr. 48.
[36] Joris Luyendijk, “Parasitair”, NRC Handelsbiad (ngày 13 tháng 12 năm 2012).
[37] Julia Carrie Wong, “Uber’s ‘hustle-oriented’ culture becomes a black mark on employees’ resumes”, Guardian (ngày 7 tháng 3 năm 2017).
[38] Jeremy Lent, The Patterning Instinct. A Cultural History of Humanity’s Search for Meaning (New York, 2017), tr. 94-5.
[39] Julianne Holt-Lunstad, “Testimony before the US Senate Aging Committee”, aging.senate.gov (ngày 27 tháng 4 năm 2017).
[40] Helen Louise Brooks, “The Power of Support from Companion Animals for People Living with Mental Health Problems: A Systematic Review and Narrative Synthesis of the Evidence”, BMC Psychiatry (ngày 5 tháng 2 năm 2018).
[41] Cuối thập niên 1980, nhà nhân chủng học tiến hóa David Buss tiến hành một khảo sát tại 37 quốc gia, hỏi hàng vạn người họ tìm kiếm điều gì ở bạn đời. Câu trả lời của họ cho thấy có sự khác biệt nhỏ giữa hai giới. Diện mạo quan trọng với nam giới hơn, tiền bạc có ý nghĩa với phụ nữ hơn. Đương nhiên, điều này được lan truyền trên truyền thông. Những gì bị bỏ qua hoàn toàn là một đặc điểm được coi là sự đồng thuận số một: lòng tốt. Xem Dacher Keltner, “The Compassionate Species”, Greater Good Magazine (ngày 31 tháng 7 năm 2012).
[1] Trích trong Melyssa Allen, “Dog Cognition Expert Brian Hare Visits Meredith”, meredith.edu (tháng 10 năm 2016).
[2] Carsten K. w. De Dreu chủ biên, “The Neuropeptide Oxytocin Regulates Parochial Altruism in Intergroup Conflict Among Humans”, Science (ngày 11 tháng 6 năm 2010).
[3] Raymond Dart, “The Predatory Transition from Ape to Man”, International Anthropological and Linguistic Review (số 4,1953).
[4] Như trên
[5] Rami Tzabar, “Do Chimpanzee Wars Prove That Violence Is Innate?” bbc.com (ngày 11 tháng 8 năm 2015).
[6] Richard Wrangham và Dale Peterson, Demonic Males: Apes and the Origins of Human Violence [New York, 1996), tr. 63.
[7] Kí hiệu “!” chỉ âm thanh lách tách là một phăn của ngôn ngữ !Kung.
[8] Richard Lee, The !Kung San (New York, 1979), tr. 398.
[9] Steven Pinker, The Better Angels of Our Nature. Why Violence Has Declined (London, 2011), tr. 36.
[10] Như trên, tr. xxi.
[11] Như trên
[12] Về trận Makin, xem Anthony King, The Combat Soldier. Infantry Tactics and Cohesion in the Twentieth and Twenty-First Centuries (Oxford, 2013), tr. 46-8.
[13] Bill Davidson, “Why Half Our Combat Soldiers Fail to Shoot’’, Collier’s Weekly (ngày 8 tháng 11 năm 1952).
[14] Trích trong King, The Combat Soldier, tr. 48.
[15] S. L. A. Marshall, Men Against Fire. The Problem of Battle Command (Oklahoma, 2000), tr. 79.
[16] Như trên, tr. 78.
[17] Trích trong John Douglas Marshall, Reconciliation Road: A Family Odyssey (Washington DC, 2000), tr. 190.
[18] Như trên
[19] David Lee, Up Close and Personal: The Reality of Close-Quarter Fighting in World War II (London, 2006), tr. 19.
[20] Max Hastings, “Their Wehrmacht Was Better Than Our Army”, Washington Post (ngày 5 tháng 5 năm 1985).
[21] Richard Holmes, Acts of War. Behaviour of Men in Battle (London, 1985), tr. 376.
[22] Dave Grossman, On Killing. The Psychological Cost of Learning to Kill in War and Society (New York, 2009), tr. 31.
[23] R. A. Gabriel, No More Heroes. Madness and Psychiatry in War (New York, 1987), tr. 31.
[24] Major T. T. S. Laidley, “Breech-loading Musket”, in The United States Service Magazine (tháng 1 năm 1865), tr. 69.
[25] Grossman, On Killing, tr. 23-6.
[26] Như trên, tr. 23.
[27] George Orwell, Homage to Catalonia (London, 2000), tr. 39. Xuất bân lần đầu năm 1938.
[28] Randall Collins, Violence. A Micro-sociological Theory (Princeton, 2008), tr. 53.
[29] Như trên, tr. 11.
[30] Craig McGregor, “Nice Boy from the Bronx?’’, New York Times (ngày 30 tháng 1 năm 1972).
[31] Lee Berger, “Brief Communication: Predatory Bird Damage to the Taung Type-Skull of Australopithecus africanus Dart 1925”, American Journal of Physical Anthropology (ngày 31 tháng 5 năm 2006).
[32] Về cuộc tranh luận này, xem John Horgan, “Anthropologist Brian Ferguson Challenges Claim that Chimp Violence is Adaptive”, Scientific American (ngày 18 tháng 9 năm 2014).
[33] Michael L. Wilson chủ biên, “Lethal Aggression in Pan is Better Explained by Adaptive Strategies than Human Impacts”, Nature (ngày 18 tháng 9 năm 2014).
[34] Brian Hare, “Survival of the Friendliest: Homo sapiens Evolved via Selection for Prosociality”, Annual Review of Psychology (2017), tr. 162-3.
[35] Robert Sapolsky, “Rousseau with a Tail. Maintaining a Tradition of Peace Among Baboons”, trong War, Peace, and Human Nature. The Convergence of Evolutionary and Cultural Views (Oxford, 2013), tr. 421.
[36] John Horgan, “The Weird Irony at the Heart of the Napoleon Chagnon Affair”, Scientific American (ngày 18 tháng 2 năm 2013).
[37] Robert Sapolsky, Behave. The Biology of Humans at Our Best and Worst (London, 2017), tr. 314.
[38] R. Brian Ferguson, “Born to Live: Challenging Killer Myths”, trong Robert W. Sussman và C. Robert Cloninger (biên tập), Origins of Altruism and Cooperation (New York, 2009), tr. 258-9.
[39] Trích trong Christopher Ryan và Cacilda Jetha, Sex at Dawn. How We Mate, Why We Stray, and What It Means for Modern Relationships (New York, 2010), tr. 196.
[40] Douglas Fry, “War, Peace, and Human Nature: The Challenge of Achieving Scientific Objectivity”, trong Douglas Fry (biên tập). War, Peace, and Human Nature. The Convergence of Evolutionary and Cultural Views (Oxford, 2013), tr. 18-19.
[41] Như trên, tr. 20.
[42] Douglas TR. Fry và Patrik Soderberg, “Lethal Aggression in Mobile Forager Bands and Implications for the Origins of War’’, Science (ngày 19 tháng 7 năm 2013).
[43] Kim R. Hill chủ biên, “Hunter-Gatherer Inter-Band Interaction Rates. Implications for Cumulative Culture”, PLoS One (ngày 24 tháng 6 năm 2014).
[44] K. R. Hill chủ biên, “Co-residence Patterns in Hunter-Gatherer Societies Show Unique Human Social Structure” Science (ngày 11 tháng 3 năm 2011). Xem thêm Coren L. Apicella, “Social networks and cooperation in hunter-gatherers”, Nature (ngày 26 tháng 1 năm 2012).
[45] Jonathan Haas và Matthew Piscitelli, “The Prehistory of Warfare. Misled by Ethnography”, trong Douglas Fry (biên tập), War, Peace, and Human Nature, tr. 178-81.
[46] Như trên, tr. 181-3.
[47] Hai điểm khai quật liên tục được trích dẫn là cung cấp “bằng chứng” đầu tiên về chiến tranh thời tiền sử. Điểm thứ nhất là Jebel Sahaba ở bắc Sudan, nơi vào năm 1964 các nhà khảo cổ tìm thấy 61 xương có niên đại xấp xỉ 13.000 năm trước, trong số đó 21 xương có những dấu vết của cái chết do bạo lực. Phân tích gần đây hơn giảm số lượng này xuống còn 4. Xem Robert Jurmain, “Paleoepidemiolgical Patterns of Trauma in a Prehistoric Population from Central California”, trên American Journal of Physical Anthropology (ngày 12 tháng 4 năm 2001). Người dân Jebel Sahaba sống trên bờ sông Nile màu mỡ và xây dựng một nghĩa địa cho người chết, nên rất có thể họ đã sống trong các khu định cư. Địa điểm thường được đề cập thứ hai là Naturuk, gần Hỗ Turkana ở Kenya, nơi tìm thấy 27 xương (mang những dấu vết của bạo lực), ước tính 10.000 năm tuổi. Khi các nhà khảo cổ công bố phát hiện này trên tạp chí Nature năm 2016, truyền thông toàn cầu săn đón như là “bằng chứng” chắc chắn cho thấy con người bẩm sinh là những sinh vật hiếu chiến. Nhưng người ta vẫn tranh cãi về ý nghĩa của Naturuk. Nhiẽu nhà khảo cổ chỉ ra rằng bờ hồ Turkana là một địa điểm màu mỡ nơi cư dân săn bắt hái lượm quy tụ, nên rất hợp lý là họ đã họp nhất đo đạc của mình và từ bỏ lối sống du mục. Vài tháng sau khi bài báo này xuất hiện, tờ Nature xuất bản một phản ứng từ nhóm khảo cổ khác đặt vấn đề về giá trị pháp lý của kểt luận cho rằng các “nạn nhân” này đã có một kết cục bạo lực. Bài viết thứ hai này bị hầu hết truyền thông phớt lờ. Xem Christopher M. Stojanowski chủ biên, “Contesting the Massacre at Nataruk”, Nature (ngày 24 tháng 11 năm 2016). Thậm chí không có những tranh cãi này, điều quan trọng là nhận thấy rằng – ngoài Jebel Sahaba và Naturuk – không còn bằng chứng nào về bất kì cuộc chiến tranh tiền sử nào, trái ngược hoàn toàn với tình trạng tràn ngập bằng chứng khảo cổ không hề gây tranh cãi (dưới dạng tranh hang động và mộ tập thể) về chiến tranh trong thời kì sau khi con người bắt đầu sống trong các khu định cư và làm nông nghiệp.
[48] R. Brian Ferguson, “Pinker’s List. Exaggerating Prehistoric War Mortality”, trong Douglas Fry (biên tập), War, Peace, and Human Nature, tr. 126. Xem thêm Hisashi Nakao chủ biên, “Violence in the Prehistoric Period of Japan: The Spatio-Temporal Pattern of Skeletal Evidence for Violence in the Jomon Period”, Biology Letters (ngày 1 tháng 3 năm 2016).
[1] Sarah Blaffer Hrdy, Mothers and Others. The Evolutionary Origins of Mutual Understanding (2009), tr. 27.
[2] Catherine A. Lutz, Unnatural Emotions: Everyday Sentiments on a Micronesian Atoll & Their Challenge to Western Theory (Chicago, 1988).
[3] Christopher Boehm, Hierarchy in the Forest. The Evolution of Egalitarian Behavior (Cambridge, 1999), tr. 68. Xem thêm Christopher Boehm, Moral Origins. The Evolution of Virtue, Altruism and Shame (New York, 2012), tr. 78-82.
[4] Robert Lee, The !Kung San: Men, Women, and Work in a Foraging Society (Cambridge, 1979), tr. 244.
[5] Như trên, tr. 246.
[6] Blaffer Hrdy, Mothers and Others, tr. 27.
[7] Lee, The !Kung San, tr. 394-5.
[8] Có lẽ không thể kiềm chế được các thủ lĩnh thừa tự tin nếu không có sự đổi mới đơn giản nhưng hiệu quả về vũ khí phóng xa, tức là nói rằng chúng ta học cách ném đá, phóng giáo và bắn tên. So sánh xương Homo khai quật được cho thấy rằng, theo thời gian, vai và cổ tay chúng ta tiến hóa, làm cho chúng ta thành những người ném giỏi hơn. Trong khi con người có mục đích rất rõ thì tinh tinh và đười ươi lại không (một con tinh tinh giận dữ thỉnh thoảng cũng ném gì đó, nhưng thường trượt). Các nhà khảo cổ nghĩ vũ khí phóng xa của chúng ta có lẽ tinh xảo hơn hẳn bất kì thứ gì người Neanderthal có. Theo nhà nhân chủng học tiến hóa Peter Turchin, điều này cần được xem là phát minh then chốt trong lịch sử nhân loại, thậm chí vượt hơn cả lửa, nông nghiệp và bánh xe. Không có vũ khí phóng xa, những thành viên hung hãn hơn của giống loài chúng ta đáng lẽ có nhiều hậu duệ hơn và giống loài Homo puppy có thế không bao giờ tự thuần hóa.
[9] Về mặt cá nhân, cư dân săn bắt hái lượm thích thành viên thân thích của họ. Nếu đàn ông có quyền lực độc tôn thì họ ưu ái gia đình của riêng họ. Nếu đàn ông và phụ nữ chia sẻ quyền lực, họ phải nhượng bộ. Họ sẽ muốn sống với cả hai bên của gia đình, dẫn đến một mạng lưới xã hội phức tạp hơn. Đây chính là những gì chúng ta thấy ở cư dân săn bắt hái lượm du mục. Xem M. Dyble chủ biên, “Sex Equality Can Explain the Unique Social Structure of Hunter-Gatherer Bands”, Science, tập 348, số 6236 (ngày 15 tháng 5 năm 2015). Xem thêm Hannah Devlin, “Early Men and Women Were Equal, Say Scientists”, Guardian (ngày 14 tháng 5 năm 2015).
[10] Blaffer Hrdy, Mothers and others, tr. 128.
[11] Như trên, tr. 134.
[12] Nicholas A. Christakis, Blueprint. The Evolutionary Origins of a Good Society (New York, 2019), tr. 141-3.
[13] Carel van Schaik và Kai Michel, The Good Book of Human Nature. An Evolutionary Reading of the Bible (New York, 2016), tr. 51.
[14] Đấy là chưa nói rằng dân chơi thập niên 60 của thế kỉ trước răt đúng với suy nghĩ con người sinh ra để tự do yêu đương. Hôn nhân khớp hoàn hảo với bản chất của chúng ta, giống loài Homo puppy là một trong vài động vật có vú tham gia “ràng buộc theo cặp” – tức là tình yêu lãng mạn. Giả dụ vậy, thì chúng ta không phải đều là những người hùng trong việc thủy chung tới khi cái chết chia lìa chúng ta, nhưng khoa học nói rằng mối quan hệ yêu đương là khát vọng phổ quát của con người. Xem Christakis, Blueprint, tr. 168.
[15] E. Leacock, Myths of Male Dominance. Collected Articles on Women Cross-Culturally (New York, 1981), tr. 50.
[16] Jared Diamond, The World Until Yesterday. What Can We Learn from Traditional Societies? (London, 2013), tr. 11.
[17] ở Đông Bắc Louisiana có một địa điểm khảo cổ với những phát hiện từ 3.200 năm trước tại địa hình toàn các gò đống chỉ có thể do con người tạo ra. Gò lớn nhất, Bird Mound, cao tới gần 22 m và sẽ cần 8 triệu thúng cát nặng 25 kg mỗi thúng mới tạo thành. Một nghiên cứu khảo cổ học cho thấy rằng việc xây dựng gò này mất không quá vài tháng và là công sức chung của ít nhất 10.000 nhân công. Xem Anthony L. Ortmann, “Building Mound A at Poverty Point, Louisiana: Monumental Public Architecture, Ritual Practice, and Implications for Hunter-Gatherer Complexity”, Geoarcheology (ngày 7 tháng 12 năm 2012).
[18] Jens Notroff, Oliver Dietrich and Klaus Schmidt, “Building Monuments, Creating Communities. Early Monumental Architecture at Pre-Pottery Neolithic Gdbekli Tepe” trong James F. Osborne (biên tập), Approaching Monumentality in Archeology (New York, 2014), tr. 83-105.
[19] Erik Trinkaus chủ biên, The People of Sunghir: Burials, Bodies, and Behavior in the Earlier Upper Paleolithic (Oxford, 2014).
[20] David Graeber và David Wengrow, “How to Change the Course of Human History (at Least, the Part That’s Already Happened)”, Eurozine (ngày 2 tháng 3 năm 2018).
[21] Thuật ngữ “cái ôm sinh tồn” do nhà sinh vật Martin Nowak nghĩ ra. Xem Martin Nowak, “Why We Help”, Scientific American (số 1, 2012), tr.34-9.
[22] Van Schalk và Michel, The Good Book of Human Nature, tr. 44-5.
[23] Như trên, tr. 48-9.
[24] Gregory K. Dow, Leanna Mitchell và Clyde G. Reed, “The Economics of Early Warfare over Land”, tạp chí Development Economics (tháng 7 năm 2017). Phần hai của bài viết này có cái nhìn tổng quan rất hay về bằng chứng khảo cổ.
[25] Douglas w. Bird chủ biên, “Variability in the Organization and Size of Hunter-Gatherer Groups. Foragers Do Not Live in Small-Scale Societies’’ tạp chí Human Evolution (tháng 6 năm 2019).
[26] Turchin, Ultrasociety, tr. 163.
[27] R. Brian Ferguson, “Born to Live: Challenging Killer Myths”, trong Robert w. Sussman và c. Robert Cloninger (biên tập), Origins of Altruism and Cooperation (New York, 2009), tr. 265-6.
[28] Sáng thế kí 3:19-24. Xem thêm Van Schaik và Michel, The Good Book of Human Nature, tr. 44-5.
[29] Như trên, tr. 50-51.
[30] Jared Diamond là tác giả bài viết kinh điển về việc chúng ta kém đi như thế nào do phát minh ra nông nghiệp. Xem Jared Diamond, ‘The Worst Mistake in the History of the Human Race’, tạp chí Discover (tháng 5 năm 1987).
[31] James C. Scott, Against the Grain. A Deep History of the Earliest States (New Haven, 2017), tr. 104-5.
[32] Jean-Jacques Rousseau, A Dissertation On the Origin and Foundation of The Inequality of Mankind and is it Authorised by Natural Law? Xuất bản lần đầu năm 1754.
[33] Van Schaik và Michel, The Good Book of Human Nature, tr. 52-4.
[34] Hervey C. Peoples, Pavel Duda và Frank w. Marlowe, “Hunter-Gatherers and the Origins of Religion”, Human Nature (tháng 9 năm 2016).
[35] Frank Marlowe, The Hadza. Hunter-Gatherers of Tanzania (Berkeley, 2010), tr. 61.
[36] Như trên, tr. 90-93.
[37] Lizzie Wade, “Feeding the gods: Hundreds of skulls reveal massive scale of human sacrifice in Aztec capital”, Science (ngày 21 tháng 6 năm 2018).
[38] Richard Lee, “What Hunters Do for a Living, or, How to Make Out on Scarce Resources”, Man the Hunter (Chicago, 1968), tr. 33.
[39] James C. Scott, Against the Grain, tr. 66-7.
[40] Turchin, Ultrasociety, tr. 174-5.
[41] Scott, Against the Grain, tr. 27-9.
[42] Để có cái nhìn tổng thể lịch sử sâu rộng, xem David Graeber, Debt. The First 5,000 Years (London, 2011).
[43] Scott, Against the Grain, tr. 139-49.
[44] Như trên, tr. 162.
[45] Owen Lattimore, “The Frontier in History”, trong Studies in Frontier History: Collected Papers, 1928-1958 (London, 1962), tr. 469-91.
[46] Bruce E. Johansen, Forgotten Founders (Ipswich, 1982), Chương 5.
[47] James W. Loeven, Lies My Teacher Told Me. Everything Your American History Textbook Got Wrong (2005), tr. 101-2.
[48] Junger, Tribe, tr. 10-11.
[49] Như trên, tr. 14-15.
[50] Biểu tượng của thế tài này là cuốn The Decline and Fall of the Roman Empire (1776) của Edward Gibbon. Một cuốn sách ăn khách thời hiện đại là Collapse (2005) của Jared Diamond.
[51] Một số học giả đặt câu hỏi rằng liệu Iliad và Odyssey có nên gán hểt cho một cá nhân hay không, gợi ý rằng cái tên Homer nên được xem như một nhãn hiệu gắn với một câu chuyện Hy Lạp hay. Điều này có nghĩa là Homer chưa bao giờ tồn tại.
[52] Adam Hochschild, Bury the Chains: Prophets and Rebels in the Fight to Free an Empire’s Slaves (Boston, 2005), tr. 2.
[53] Max Roser và Esteban Ortiz-Ospina, “Global Extreme Poverty”, OurWorldInData.org (2018).
[54] Đây là câu mở đầu cuốn The Social Contract của Rousseau (xuất bản lần đầu năm 1762).
[55] Bjprn Lomborg, “Setting the Right Global Goals”, Project Syndicate (ngày 20 tháng 5 năm 2014).
[56] Max Roser và Esteban Ortiz-Ospina, “Global Extreme Poverty”.
[57] Trích trong Chouki El Hamel, Black Morocco. A History of Slavery, Race, and Islam (Cambridge, 2013), tr. 243.
[58] Mauritius ở Tây Phi là quốc gia cuối cùng trên thế giới bãi bỏ chế độ nô lệ, năm 1981.
[59] Thời Ba Tư và La Mã, quá trình mở rộng nhà nước đã giúp cho thế giới ngày càng an toàn hơn. Mặc dù nghe như một nghịch lý nhưng có một cách giải thích logic. Khi các quốc gia và đế chế tăng lên, thêm nhiều công dân của họ sống cách xa biên giới hơn. Chính tại biên giới là nơi xảy ra chiến tranh; cuộc sống bình yên hơn trong nội địa. Minh chứng cho điều này là Pax Romana (Hòa bình La Mã), một giai đoạn ổn định kéo dài được bảo đảm bởi những chiến dịch rất lớn của những người Leviathan mạnh nhất. Theo nghĩa này, ít nhất thì Hobbes cũng đúng: một hoàng đế toàn năng tốt hơn là một trăm ông vua nhỏ đáng thất vọng. Xem Turchin, Ultrasociety, tr. 201-2.
[60] José Maria Gomez chủ biên, “The Phylogenetic Roots of Human Lethal Violence, Supplementary Information”, Nature (ngày 13 tháng 10 năm 2016), tr. 9.
[61] Năm 2017, 2.813.503 trường hợp khai tử tại Hoa Kỳ. Theo Hệ thống Báo cáo Tử vong Bạo lực Quốc gia, 19.500 trong số này là nạn nhân bị giết. Cùng năm đó, 150.214 trường hợp khai tử ở Hà Lan, trong số đó 158 bị giết.
[62] Câu chuyện này có lẽ ngụy tạo. ‘Not letting the facts ruin a good story’, South China Morning Post (29 tháng 9 năm 2019).
[1] Nội dung về cuộc đời và cuộc phiêu lưu của Roggeveen dựa trên hồi kí tuyệt vời của Roelof van Gelder, Naar het aards paradijs. Het rusteloze leven van Jacob Roggeveen, ontdekker van Paaseiland (1659-1729) (Amsterdam, 2012).
[2] F. E. Baron Mulert, De rets van Mr. Jacob Roggeveen ter ontdekking van het Zuidland (1721-1722), (The Hague, 1911), tr. 121.
[3] H. J. M. Claessen, “Roggeveen zag geen reuzen toen hij Paaseiland bezocht”, NRC Handelsblad (ngày 18 tháng 4 năm 2009).
[4] Vị quản lý khách sạn người Thụy Sĩ này là Erich von Däniken, và cuốn sách của ông có tiêu đề Chariots of the Gods? Unsolved Mysteries of the Past.
[5] Lars Fehren-Schmitz, “Genetic Ancestry of Rapanui before and after European Contact”, Current Biology (ngày 23 tháng 10 năm 2017).
[6] Katherine Routledge, The Mystery of Easter Island. The story of an Expedition (London, 1919).
[7] Reidar Solsvik, “Thor Heyerdahl as world heritage”, Rapa Nui Journal (tháng 5 năm 2012).
[8] Trích trong Jo Anne Van Tilburg, “Thor Heyerdahl”, Guardian (ngày 19 tháng 4 năm 2002).
[9] William Mulloy, “Contemplate The Navel of the World”, tạp chí Rapa Nui (so 2, 1991). Xuất bản lần đầu năm 1974.
[10] Jared Diamond, Collapse. How Societies Choose to Fail or Succeed (New York, 2005), tr. 109.
[11] J. R. Flenley và Sarah M. King, “Late Quaternary Pollen Records from Easter Island”, Science (ngày 5 tháng 1 năm 1984).
[12] Diamond nợ sử gia Clive Ponting, người viết về đảo Phục Sinh trong cuốn A Green History of the World của ông (1991). Ở trang đầu, Ponting mô tả đảo đúng như Roggeveen đã thấy: “khoảng 3.000 người sống trong những túp lều lau sậy tồi tàn hoặc hang động, tham gia vào chiến tranh gần như liên miên và đành phải ăn thịt đồng loại trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm bổ sung nguồn thức ăn ít ỏi sẵn có trên đảo”.
[13] Paul Bahn và John Flenley, Easter Island, Earth Island (London, 1992).
[14] Jan J. Boersema, The Survival of Easter Island. Dwindling Resources and Cultural Resilience (Cambridge, 2015).
[15] Carlyle Smith, “The Poike Ditch”, trong Thor Heyerdahl (biên tập), Archeology of Easter Island. Reports of the Norwegian Archaeological Expedition to Easter Island and the East Pacific (Phần 1, 1961), tr. 385-91.
[16] Carl TR. Lipo và Terry L. Hunt, “A.D. 1680 and Rapa Nui Prehistory”, Asian Perspectives (so 2, 2010). Xem thêm Mara A. Mulrooney chủ biên, ‘The myth of A.D. 1680. New Evidence from Hanga Ho’onu, Rapa Nui (Easter Island)’, tạp chí Rapa Nut (tháng 10 năm 2009).
[17] Caroline Polet, “Indicateurs de stress dans un échantillon d’anciens Pascuans” Antropo (2006), tr. 261-70.
[18] Xem Vincent H. Stefan chủ biên (biên tập), Skeletal Biology of the Ancient Rapanui (Easter Islanders), (Cambridge, 2016).
[19] Carl TR. Lipo chủ biên, “Weapons of War? Rapa Nui Mata’a Morphometric Analyses”, Antiquity (tháng 2 năm 2016), tr. 172-87.
[20] Kristin Romey, “Easter Islanders’ Weapons Were Deliberately Not Lethal”, National Geographic (ngày 22 tháng 2 năm 2016).
[21] Terry L. Hunt và Carl TR. Lipo, “Late Colonization of Easter Island”, Science (ngày 17 tháng 3 năm 2006).
[22] Ronald Wright, A Short Histoiy of Progress (Toronto, 2004), tr. 61.
[23] Hans-Rudolf Bork và Andreas Mieth, “The Key Role of the Jubaea Palm Trees in the History of Rapa Nui: a Provocative Interpretation”, tạp chí Rapa Nui (tháng 10 năm 2003).
[24] Nicolas Cauwe, “Megaliths of Easter Island”, Proceedings of the International Conference “Around the Petit-Chausseur Sit” (Sion, 2011).
[25] Các nhà khảo cổ Carl Lipo và Terry Hunt nghĩ một vài bức tượng được “đi” thẳng đứng tới vị trí nhờ dùng chão, không phải cây, theo cách giống như bạn di chuyển một chiếc tủ lạnh hoặc máy giặt. Phương pháp này cũng cần ít người hơn. Xem Carl Lipo và Terry Hunt, The Statues that Walked. Unraveling the Mystery of Easter Island (New York, 2011). Câu chuyện của Lipo và Hunt phổ biến trên truyền thông, nhưng Jan Boersema vẫn tin hầu hết các bức tượng được lăn trên các thân cây bởi những toán người đông đảo, vì hiệu quả không phải là nhân tố khích lệ đằng sau những sự kiện làm việc tập thể như vậy.
[26] E. E. w. Schroeder, Nias. Ethnographische, geographische en historische aanteekeningen en studien (Leiden, 1917).
[27] S. S. Barnes, Elizabeth Matisoo-Smith và Terry L. Hunt, “Ancient DNA of the Pacific Rat (Rattus exulans) from Rapa Nui (Easter Island)’, tạp chí Archaeological Science (tập 33, tháng 11 năm 2006).
[28] Mara A. Mulrooney, “An Island-Wide Assessment of the Chronology of Settlement and Land Use on Rapa Nui (Easter Island) Based on Radiocarbon Data”, tạp chí Archaeological Science (so 12, 2013). Phải chăng chuột không hề gây ra vấn đề cho nông nghiệp trên đảo? Boersema nghĩ là không. “Hầu hết hoa màu lương thực là các loại củ,” ông giải thích, “mọc dưới đất. Và chuối mọc trên những cây nhỏ nên kém thu hút chuột hơn.”
[29] “Easter Island Collapse Disputed By Hawaii Anthropologist”, Huffington Post (ngày 6 tháng 12 năm 2017).
[30] Jacob Roggeveen, Dagverhaal der ontdekkings-reis van Mr. Jacob Roggeveen (Middelburg, 1838), tr. 104.
[31] Bolton Glanvlll Corney, The Voyage of Captain Don Felipe Gonzalez to Easter Island 1770-1 (Cambridge, 1908), tr. 93.
[32] Beverley Haun, Inventing Easter Island (Toronto, 2008), tr. 247.
[33] James Cook, A Voyage Towards the South Pole and Round the World, Phần 1 (1777).
[34] Henry Lee, “Treeless at Easter”, Nature (ngày 23 tháng 9 năm 2004).
[35] Cuốn sách nghi vấn là của Thor Heyerdahl chủ biên. Archaeology of Easter Island. Reports of the Norwegian Archaeological Expedition to Easter Island and the East Pacific (Phần 1,1961), tr. 51.
[36] Thor Heyerdahl, Aku-Aku: The Secret of Easter Island (1957).
[37] Nội dung của Carl Behren có trong phụ lục cuốn sách của Glanvill Corney, The voyage of Captain Don Felipe Gonzalez to Easter Island 1770-1, tr. 134.
[38] Cook, A Voyage Towards the South Pole and Round the World, Chương 8.
[39] Một số nhà khoa học tin rằng các bức tượng bị đổ trong một trận động đất. Số khác lại nghĩ một số moai được đặt lên các nấm mộ của những tù trưởng đã chết. Xem Edmundo Edwards chủ biên, “When the Earth Trembled, the Statues Fell”, tạp chí Rapa Nui (tháng 3 năm 1996).
[40] Điều này cũng làm xuất hiện trong tục “Thờ người chim”, một cuộc thi thường niên giữa các thanh niên đại diện cho các bộ lạc khác nhau nhằm giành được quả trứng nhạn biển (một loài hải điểu) đầu tiên trong mùa. Chính xác truyền thống này xuất hiện khi nào thì không rõ, nhưng có lẽ trước khi Roggeveen đến. Tục này cũng gắn với moai. Sau cuộc thi, thủ lĩnh mới được bầu đến sống trong một ngôi nhà bên ngoài mỏ đá nơi các bức tượng được đẽo gọt. Khi Roggeveen đến vào năm 1722, moai vẫn có chức năng nghi lễ, thậm chí nếu không còn khả năng vận chuyển chúng (sử dụng cây) và cho dù tục Thờ Người chim có lẽ đã tồn tại.
[41] Josh Pollard, Alistair Paterson và Kate Welham, “Te Miro o’one: the Archaeology of Contact on Rapa Nui (Easter Island)” World Archaeology (tháng 12 năm 2010).
[42] Henry Evans Maude, Slavers in Paradise: The Peruvian Labour Trade in Polynesia, 1862-1864 (Canberra, 1981), tr. 13.
[43] Nicolas Casey, “Easter Island Is Eroding”, New York Times (ngày 20 tháng 7 năm 2018).
[1] Ben Blum, “The Lifespan of a Lie”, Medium.com (ngày 7 tháng 6 năm 2018).
[2] Craig Haney, Curtis Banks và Philip Zimbardo, “A Study of Prisoners and Guards in a Simulated Prison”, Naval Research Review (1973).
[3] Malcolm Gladwell, The Tipping Point. How Little Things Can Make A Big Difference (London, 2000), tr. 155.
[4] Haney, Banks và Zimbardo, “A Study of Prisoners and Guards in a Simulated Prison”.
[5] Muzafer Sherif, Group Conflict and Cooperation. Their Social Psychology (London, 2017), tr. 85. Xuất bản lần đầu năm 1967.
[6] Muzafer Sherif chủ biên, The Robbers Cave Experiment. Intergroup Confl ict and Cooperation (Middletown, 1988), tr. 115.
[7] Như trên, tr. 98.
[8] Gina Perry, The Lost Boys. Inside Muzafer Sherif’s Robbers Cave Experiment (London, 2018), tr. 39.
[9] Như trên tr. 138.
[10] Như trên tr. 139.
[11] Như trên tr. 146.
[12] Trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford, 12 sinh viên được giao vai tù nhân (chín cộng với ba người thay thế), và 12 người vai lính gác (chín cộng với ba người thay thế).
[13] Blum, “The Lifespan of a Lie”.
[14] Philip Zimbardo, The Lucifer Effect. How Good People Turn Evil (London, 2007), tr. 55.
[15] Peter Gray, “Why Zimbardo’s Prison Experiment Isn’t in My Textbook”, Psychology Today (ngày 19 tháng 10 năm 2013).
[16] Romesh Ratnesar, “The Menace Within”, Stanford Magazine (tháng 7/8 năm 2011).
[17] Dave Jaffe, “Self-perception”, Lưu trữ Nhà tù Stanford, số ST-b09-f40.
[18] “Tape 2” (tháng 14 tháng 8 năm 1971), Stanford Magazine, số ST-bO2-fO2.
[19] A. Cerovina, “Final Prison Study Evaluation” (ngày 20 tháng 8 năm 1971), số ST-bO9-fl5.
[20] “Tape E” (không ngày tháng), số ST-b02-f21,tr. 1-2.
[21] Blum, “The Lifespan of a Lie”.
[22] Blum, “The Lifespan of a Lie”.
[23] Như trên
[24] Như trên
[25] Alastair Leithead, “Stanford prison experiment continues to shock”, BBC (ngày 17 tháng 8 năm 2011).
[26] Suốt nhiều năm, các nhà tâm lý học sử dụng “thí nghiệm” của Zimbardo để kích thích nhiệt tình của sinh viên với lĩnh vực này. Thibault Le Texier nói chuyện với nhiều giảng viên, những người nói rằng họ thích thảo luận về Thí nghiệm Nhà tù Stanford vì ít nhất nó khiến sinh viên rời mắt khỏi điện thoại của họ. Đáp lại câu hỏi của tôi liệu vẫn nên dạy nội dung này trong lớp ngày nay không, Le Texier đáp tỉnh bơ, “Thí nghiệm Stanford là cái nhìn tổng quan rất tốt về mọi sai lầm anh có thể gây ra trong nghiên cứu khoa học”.
[27] Kim Duke và Nick Mirsky, “The Stanford Prison Experiment,” BBC Two (ngày 11 tháng 5 năm 2002). Trích dẫn đầy đủ của Dave Eshelman trong phim tài liệu này là: “Sẽ rất thú vị khi thấy những gì diễn ra nếu tôi không quyết định ép buộc mọi việc. […] Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết.”
[28] Emma Brockes, “The Experiment”, Guardian (ngày 16 tháng 10 năm 2001).
[29] Như trên.
[30] Graeme Virtue, “Secret service; What happens when you put good men in an evil place and film it for telly? Erm, not that much actually”, Sunday Herald (ngày 12 tháng 5 năm 2002).
[31] Blum, “The Lifespan of a Lie”.
[1] “Persons Needed for a Study of Memory”, New Haven Register (ngày 18 tháng 6 năm 1961).
[2] Stanley Milgram, Obedience to Authority. An Experimental View (London, 2009], tr. 30-31. Xuất bản lần đầu năm 1974.
[3] Stanley Milgram, “Behavioral Study of Obedience”, tạp chí Abnormal and Social Psychology, tập 67, số 4 (1963).
[4] Walter Sullivan, “Sixty-five Percent in Test Blindly Obey Order to Inflict Pain”, New York Times (ngày 26 tháng 10 năm 1963).
[5] Milgram, Obedience to Authority, tr. 188.
[6] Milgram nói điều này trong một phỏng vấn trên chương trình truyền hình Sixty Minutes ngày 31 tháng 3 năm 1979.
[7] Amos Elon, “Introduction”, trong Hannah Arendt, Eichmann in Jerusalem. A Report on the Banality of Evil (London, 2006), tr. XV. Xuất bản lần đầu năm 1963.
[8] Arendt, Eichmann in Jerusalem.
[9] Harold Takooshian, “How Stanley Milgram Taught about Obedience and Social Influence”, trong Thomas Blass (biên tập), Obedience to Authority (London, 2000), tr. 10.
[10] Gina Perry, Behind the Shock Machine. The Untold story of the Notorious Milgram Psychology Experiments (New York, 2013), tr. 5.
[11] Như trên, tr. 327.
[12] Như trên, tr. 134.
[13] Gina Perry, “The Shocking Truth of the Notorious Milgram Obedience Experiments”, tạp chí Discover (2 tháng 10 năm 2013).
[14] Milgram, “Behavioral Study of Obedience”.
[15] Perry, Behind the Shock Machine (2012), tr. 164. Xem thêm Gina Perry chủ biên, “Credibility and Incredulity in Milgram’s Obedience Experiments: A Reanalysis of an Unpublished Test”, Social Psychology Quarterly (ngày 22 tháng 8 năm 2019).
[16] Stanley Milgram, “Evaluation of Obedience Research: Science or Art?” Stanley Milgram Papers (Hộp 46, tệp 16). Bản thảo chưa xuất bản (1962).
[17] Stephen D. Reicher, S. Alexander Haslam và Arthur Miller, “What Makes a Person a Perpetrator? The Intellectual, Moral, and Methodological Arguments for Revisiting Milgram’s Research on the Infl uence of Authority”, Tạp chí Social Issues, tập 70, số 3 (2014).
[18] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 93.
[19] Cari Romm, “Rethinking One of Psychology’s Most Infamous Experiments”, The Atlantic (ngày 28 tháng 1 năm 2015).
[20] Stephen Gibson, “Milgram’s Obedience Experiments: a Rhetorical Analysis”, British Journal of Social Psychology, tập 52, số 2 (2011).
[21] S. Alexander Haslam, Stephen D. Reicher và Megan E. Birney, “Nothing by Mere Authority: Evidence that in an Experimental Analogue of the Milgram Paradigm Participants are Motivated not by Orders but by Appeals to Science”, tạp chí Social Issues, tập 70, số 3 (2014).
[22] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 176.
[23] S. Alexander Haslam và Stephen D. Reicher, “Contesting the “Nature” of Conformity: What Milgram and Zimbardo’s Studies Really Show”, PLoS Biology, tập 10, số 11 (2012).
[24] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 70.
[25] Blum, “The Lifespan of a Lie”.
[26] Như trên
[27] “Tape E” (không có ngày), Stanford Prison Archives, so ST-bO2-f21, tr. 6.
[28] Như trên, tr. 2.
[29] Perry, Behind the Shock Machine, tr. 240.
[30] Arendt, Eichmann in Jerusalem, tr. 276.
[31] Bettina Stangneth, Eichmann Before Jerusalem: The Unexamined Life of a Mass Murderer (London, 2015).
[32] “The Adolph Eichmann Trial 1961”, trong Great World Trials (Detroit, 1997), tr. 332-7.
[33] Ian Kershaw, ‘“Working Towards the Fuhrer.’ Reflections on the Nature of the Hitler Dictatorship”, Contemporary European History, tập 2, số 2 (1993).
[34] Chẳng hạn xem Christopher R. Browning, “How Ordinaiy Germans Did It”, New York Review of Books (ngày 20 tháng 6 năm 2013).
[35] Roger Berkowitz, “Misreading ‘Eichmann in Jerusalem”, New York Times (ngày 7 tháng 7 năm 2013).
[36] Như trên
[37] Ada Ushpiz, ‘The Grossly Misunderstood “Banality of Evil” Theory”, Haaretz (ngày 12 tháng 10 năm 2016).
[38] Perry. Behind the Shock Machine, tr. 72.
[39] Matthew M. Hollander, “The Repertoire of Resistance: NonCompliance With Directives in Milgram’s “Obedience” experiments”, British Journal of Social Psychology, tập 54, số 3 (2015).
[40] Matthew Hollander, “How to Be a Hero: Insight From the Milgram Experiment”, Huffington Post (ngày 27 tháng 2 năm 2015)?
[41] Bo Lidegaard, Countrymen: The Untold Story of How Denmark’s Jews Escaped the Nazis, of the Courage of Their Fellow Danes – and of the Extraordinary Role of the SS (New York, 2013), tr. 71.
[42] Như trên, tr. 353.
[43] Như trên, tr. 113.
[44] Như trên, tr. 262.
[45] Như trên, tr. 173.
[46] Như trên, tr. 58.
[47] Peter Longerich, “Policy of Destruction. Nazi Anti-Jewish Policy and the Genesis of the ‘Final Solution’”, Bảo tàng tưởng niệm tàn sát người Do Thái Hoa Kỳ, Bài giảng thường niên Joseph và Rebecca Meyerhoff (ngày 22 tháng 4 năm 1999), tr. 5.
[48] Lidegaard, Countrymen, tr. 198.
[49] Như trên, tr. 353.
[1] Bài viết đầu tiên về vụ giết người, xem Martin Gansberg, “37 Who Saw Murder Didn’t Call the Police”, New York Times (ngày 27 tháng 3 năm 1964).
[2] Nicholas Lemann, “A Call for Help”, The New Yorker (ngày 10 tháng 3 năm 2014).
[3] Gansberg, “37 Who Saw Murder Didn’t Call the Police”, New York Times.
[4] Peter C. Baker, “Missing the story”. The Nation (ngày 8 tháng 4 năm 2014).
[5] Kevin Cook, Kitty Genovese. The Murder, The Bystanders, The Crime That Changed America (New York, 2014), tr. 100.
[6] Abe Rosenthal, “Study of the Sickness Called Apathy”, New York Times (ngày 3 tháng 5 năm 1964).
[7] Gladwell, The Tipping Point, tr. 27.
[8] Rosenthal nói điều này trong phim tài liệu The Witness (2015), do anh trai Kitty là Bill Genovese thực hiện.
[9] Bill Keller, “The Sunshine Warrior”, New York Times (ngày 22 tháng 9 năm 2002).
[10] John M. Darley và Bibb Latené, “Bystander j Intervention in Emergencies”, tạp chí Personality and Social Psychology, tập 8, số 4 (1968).
[11] Malcolm Gladwell nói 85 và 31 phần trăm trong sách của ông, nhưng bài viết gốc nói rõ rằng đây là tỉ lệ phần trăm số người chạy tới giúp đỡ trước khi tiếng kêu xin giúp đỡ đầu tiên của “nạn nhân” chấm dứt (sau 75 giây). Nhiều người đáp lại sau lúc này nhưng vẫn trong vòng hai phút rưỡi.
[12] Maureen Dowd, “20 Years After the Murder of Kitty Genovese, the Question Remains: Why?”, New York Times (ngày 12 tháng 3 năm 1984).
[13] Cook, Kitty Genovese, tr. 161.
[14] Rachel Manning, Mark Levine và Alan Collins, “The Kitty Genovese Murder and the Social Psychology of Helping. The Parable of the 38 Witnesses”, American Psychologist, tập 62, số 6 (2007).
[15] Sanne là biệt danh. Tên thật của cô ấy tôi không biết, nhưng bốn người cứu cô ấy thì biết.
[16] “Mannen die moeder en kind uit water redden: ‘Elke fi tte A’dammer ZOU dit doen’”, at5.nl (ngày 10 tháng 2 năm 2016).
[17] “Vier helden redden moeder en kind uit zinkende auto”, nos.nl (10 tháng 2 năm 2016).
[18] Peter Fischer chủ biên, “The bystandereffect: a meta-analytic review on bystander intervention in dangerous and non-dangerous emergencies”, Psychological Bulletin, tập 137, số 4 (2011).
[19] Như trên
[20] R. Philpot chủ biên, “Would I be helped? Cross-National CCTV Shows that Intervention is the Norm in Public Conflicts”, American Psychologist (tháng 3 năm 2019).
[21] Nội dung này dưa trên ba cuốn sách: Kevin Cook, Kitty Genovese (2014); Catherine Pelonero, Kitty Genovese. A True Account of a Public Murder and Its Private Consequences (New York, 2014]; và Marcia M. Gallo, “No One Helped.” Kitty Genovese, New York City and the Myth of Urban Apathy (Ithaca, 2015).
[22] Cô ấy nói điều này trong phim tài liệu The Witness năm 2015 của Bill Genovese.
[23] Baker, “Missing the story”.
[24] Robert c. Doty, “Growth of Overt Homosexuality In City Provokes Wide Concern”, New York Times (ngày 17 tháng 12 năm 1963).
[25] Pelonero, Kitty Genovese, tr. 18.
[26] Như trên
[27] Như trên
[28] Như trên
[29] Saul M. Kassin, “The Killing of Kitty Genovese: What Else Does This Case Tell Us?” Perspectives on Psychological Science, tập 12, so 3 (2017).
[1] Để có thảo luận sáng suốt, xem Jesse Bering, “The Fattest Ape: An Evolutionary Tale of Human Obesity”, Scientific American (ngày 2 tháng 11 năm 2010).
[1] James Burk, “Lời giới thiệu”, trong James Burk (biên tập), Morris Janowitz. On Social Organization and Social Control (Chicago, 1991).
[2] Chẳng hạn xem Martin Van Creveld, Fighting Power: German and US Army Performance, 1939-1945, ABC-CLIO (1982).
[3] Max Hastings, “Their Wehrmacht Was Better Than Our Army”, Washington Post (ngày 5 tháng 5 năm 1985).
[4] Trích trong Edward A. Shils và Morris Janowitz, “Cohesion and Disintegration in the Wehrmacht in World War II”, Public Opinion Quarterly, tập 12, số 2 (1948).
[5] Như trên, tr. 281.
[6] Như trên, tr. 303.
[7] Như trên, tr. 284.
[8] Felix Römer, Comrades. The Wehrmacht from Within (Oxford, 2019).
[9] Bài viết đầu tiên của Janowitz và Shils sẽ trở thành một trong những nghiên cứu được trích dẫn rộng rãi nhất trong xã hội học thời hậu chiến. Có sự đồng thuận rộng khắp trong giới xã hội học về giá trị “thuyết nhóm chính yếu” của họ, tức là khái niệm cho rằng binh sĩ cơ bản chiến đấu cho những đồng đội tức thời của họ, mặc dù với một vài cảnh báo. Một số nhà khoa học chỉ ra rằng cũng có sự căm ghét thật sự đối với kẻ thù trong số các tân binh thường, đặc biệt ở Mặt trận phía Đông. Thêm nữa, ở đâu các quân nhân chuyên nghiệp thế kỉ 21 được quan tâm, chỉ có ba nhân tố thật sự quyết định thành công: huấn luyện, huấn luyện và huấn luyện thêm. Các nhà xã hội học thời này dựa vào đó phân biệt giữa gắn kết nhóm và gắn kết nhiệm vụ, ý rằng sự hợp tác hiệu quả không đòi hỏi binh sĩ thấy có tình cảm sâu sắc với nhau. Tuy nhiên, mối quan hệ đồng đội trong quân nhân về mặt lịch sử rất quan trọng trong đa số các cuộc chiến.
[10] Michael Bond, The Power of others. Peer Pressure, Group Think, and How the People Around Us Shape Everything We Do (London, 2015), tr. 128-9.
[11] Amy Chua, Political Tribes. Group Instinct and the Fate of Nations (New York, 2018), tr. 100.
[12] Bond, The Power of Others, tr. 94-5.
[13] Như trên, tr. 88-9.
[14] Benjamin Wallace-Wells, “Terrorists in the Family”, New Yorker (ngày 24 tháng 3 năm 2016).
[15] Donato Paolo Mancini và Jon Sindreu, “Sibling Ties Among Suspected Barcelona Plotters Underline Trend”, Wall street Journal (ngày 25 tháng 8 năm 2017).
[16] Deborah Schurman-Kauflin, “Profiling Terrorist Leaders. Common Characteristics of Terror Leaders”, Psychology Today (ngày 31 tháng 10 năm 2013).
[17] Aya Batrawy, Paisley Dodds và Lori Hinnant, “Leaked Isis Documents Reveal Recruits Have Poor Grasp of Islamic Faith”, Independent (ngày 16 tháng 8 năm 2016).
[18] Như trên.
[19] J. Kiley Hamlin, Karen Wynn và Paul Bloom, “Social Evaluation by Preverbal Infants”, Nature (ngày 22 tháng 11 năm 2007).
[20] Paul Bloom, Just Babies. The Origins of Good and Evil (New York, 2013), tr. 28.
[21] J. Kiley Hamlin chủ biên, “Not Like Me = Bad: Infants Prefer Those Who Harm Dissimilar Others”, Psychological Science, tập 24, số 4 (2013).
[22] Karen Wynn nói điều này trên chương trình Anderson Cooper 360 của CNN ngày 15 tháng 2 năm 2014.
[23] Bloom, Just Babies, tr. 104-5.
[24] Phân tích lớn đầu tiên, bao gồm 26 nghiên cứu, kết luận rằng sở thích của trẻ nhỏ đối với người tốt là “một phát hiện thực nghiệm đã có từ lâu”. Nhưng không phải ai cũng thuyết phục. Một số nhà khoa học nhắc lại thí nghiệm của Hamlin thấy hiệu ứng tương tự, nhưng những người khác lại không thấy tương quan đáng kể. Xem Francesco Margoni và Luca Surian, “‘Infants’ Evaluation of Prosocial and Antisocial Agents: A Meta-Analysis”, Developmental Psychology, tập 54, số 8 (2018).
[25] Susan Seligson, “Felix Warneken Is Overturning Assumptions about the Nature of Altruism”, tạp chí Radcliffe (mùa Đông năm 2015).
[26] Trong TEDx Talk của Warneken (tiêu đều: “Need Help? Ask a 2-Year-Old”), có sẵn trên YouTube, bạn có thể thấy một video xúc động cảnh một đứa trẻ lên khỏi một hố bóng để giúp ai đó đang cần.
[27] Không chỉ vậy, nếu bạn thưởng cho một đứa nhỏ kẹo hoặc đo chơi, Warneken thấy sau đó chúng ít giúp đỡ hơn, vì đó không phải là động lực của chúng (xem Chương 13 về động lực nội tại). Felix Warneken và Michael Tomasello, “Extrinsic Rewards Undermine Altruistic Tendencies in 20-Month-Olds”, Development Psychology, tập 44, số 6 (2008).
[28] Stephen G. Bloom, “Lesson of a Lifetime”, tạp chí Smithsonian (tháng 9 năm 2005).
[29] Như trên.
[30] Như trên.
[31] Rebecca S. Bigler và Meagan M. Patterson, “Social Stereotyping and Prejudice in Children. Insights for Novel Group Studies”, trong Adam Rutland, Drew Nesdale và Christia Spears Brown (biên tập), The Wiley Handbook of Group Processes in Children and Adolescents (Oxford, 2017), tr. 184-202.
[32] Yarrow Dunham, Andrew Scott Barron và Susan Carey, “Consequences of “Minimal” Group Affiliations in Children”, Child Development, tập 82, số 3 (2011), tr. 808.
[33] Xem thêm Hejing Zhang chủ biên, “Oxytocin Promotes Coordinated Outgroup Attack During Intergroup Conflict in Humans”, eLife (ngày 25 tháng 1 năm 2019).
[34] Hiển nhiên, tôi không đơn độc. Xem Elijah Wolfson, “Why We Cry on Planes”, The Atlantic (ngày 1 tháng 10 năm 2013).
[35] Paul Bloom, Against Empathy. The Case for Rational Compassion (New York, 2016), tr. 15.
[36] Daniel Batson, “Immorality from Empathy-induced Altruism: When Compassion and Justice Conflict,: tạp chí Personality and Social Psychology, tập 68, số 6 (1995).
[37] Michael N. Stagnant và Paul Bloom, ‘The Paradoxical Effect of Empathy on the Willingness to Punish’, Đại học Yale, bản thảo chưa xuất bân (2016). Xem thêm Bloom, Against Empathy, tr. 195.
[38] Các nhà tâm lý học nhắc đến điểm này như là “khoảng trống lên mặt đạo đức” – xu hướng nhận thức rằng điều có hại ảnh hưởng lên chúng ta (hoặc những người chúng ta quan tâm) thế nào đó lại tồi tệ hơn nhiều so với bất kì điều có hại nào chúng ta gây cho người khác. Việc tấn công một người được yêu quý gây khó chịu cho chúng ta đến mức chúng ta tìm cách trả miếng, việc chúng ta xem là thỏa đáng và chính đáng khi thực hiện, nhưng hoàn toàn quá đáng khi người khác làm vậy, thúc đẩy chúng ta đáp trả. (Bạn có thể đã trải qua kiểu cãi vã leo thang này trong các mối quan hệ. Khoảng trống lên mặt đạo đức cũng có thể giúp chúng ta hiểu hàng thập kỉ đổ máu ở Israel và Palestine. Nhiều người đổ lỗi cho tình trạng thiếu sự thấu cảm, nhưng tôi thì tin đúng hơn là ở Trung Đông có quá nhiều sự thấu cảm).
[39] George Orwell, “Looking Back on the Spanish War” (tháng 8 năm 1942).
[40] Grossman, On Killing, tr. 122.
[41] Như trên, tr. 126.
[42] John Ellis, The World War II Databook. The Essential Facts and Figures for All the Combatants (London, 1993), Bảng 57, tr. 257.
[43] Vậy nạn diệt chủng ở Rwanda năm 1994, khi ước tính 800.000 người Tutsi và Hutu ôn hòa bị sát hại thì sao? Ở phương Tây, ví dụ này thường được sử dụng để vẽ loài người như những “quái vật” khát máu, nhưng đó chủ yếu vì chúng ta biết quá ít về lịch sử. Gần đây hơn, một sử gia viết, “Giờ có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng cuộc tiêu diệt đại trà các công dân Rwanda là đỉnh cao của một chiến dịch được chuẩn bị kỹ lưỡng, tổ chức chu đáo, sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, bộ máy tuyên truyền, chính quyền dân sự, và hậu cần quân đội”. Những vụ giết người thực tế được tiến hành bởi một thiểu số nhỏ, trong đó ước tính 97 phần trăm người Hutu không tham gia. Xem Abram de Swaan, The Killing Compartments. The Mentality of Mass Murder (New Haven và London, 2015], tr. 90.
[44] Lukasz Kamienski, Shooting Utr. A Short History of Drugs and War (Oxford, 2016).
[45] Lee, Up Close and Personal, tr. 27.
[46] Các tay súng bắn tỉa thường thuộc về 1 đến 2 phăn trăm binh sĩ bị rối loạn nhân cách và không có ác cảm tự nhiên với việc giết chóc. Xem Susan Neiman, Moral Clarity. A Guide for Grown-Up Idealists (Princeton, 2008), tr. 372.
[47] Dave Grossman, “Hope on the Battlefield”, trong Dacher Keltner, Jason Marsh và Jeremy Adam Smith (biên tập), The Compassionate Instinct. The Science of Human Goodness (New York, 2010), tr. 41.
[48] Grossman, On Killing, tr. 178.
[49] Nhiều binh sĩ chiến đấu trong Thế chiến thứ Nhất và thứ Hai cũng bị tổn thương; tuy nhiên, đem so sánh thì Việt Nam bị tổn thương nhiều hơn. Dĩ nhiên, còn có những nhân tố khác (như thái độ tiếp đón lạnh nhạt mà các cựu binh từ Việt Nam nhận được khi trở về), nhưng tất cả bằng chứng cho thấy rằng điều lớn nhất là cách binh sĩ được ra điều kiện để giết hại. Ba nghiên cứu gần đây với 1.200 cựu binh chiến tranh Việt Nam, 2.797 chiến tranh Iraq và 317 Chiến tranh vùng Vịnh cho thấy những binh sĩ giết người (do điều kiện của họ) có nguy cơ bị PTSD cao hơn nhiều. Xem Shira Maguen chủ biên, “The Impact of Reported Direct and Indirect Killing on Mental Health Symptoms in Iraq War Veterans”, tạp chí Traumatic Stress, tập 23, số 1 (2010); Shira Maguen chủ biên, “The impact of killing on mental health symptoms in Gulf War veterans”, Psychological Trauma. Theory, Research, Practice, and Policy, tập 3, số 1 (2011); và Shira Maguen chủ biên, “The Impact of Killing in War on Mental Health Symptoms and Related Functioning”, tạp chí Traumatic Stress, tập 45, số 10 (2009).
[50] Frederick L. Coolidge, Felicia L. Davis và Daniel L. Segal, “Understanding Madmen: A DSM-IV Assessment of Adolf Hitler”, Individual Differences Research, tập 5, số 1 (2007).
[51] Bond, The Power of Others, tr. 94-5.
[1] Miles J. Unger, Machiavelli. A Biography (London, 2011), tr. 8.
[2] Niccolo Machiavelli, The Prince, James B. Atkinson dịch (Cambridge, Mass., 2008), tr. 271. Xuất bản lần đầu năm 1532.
[3] Machiavelli, The Discourses. Trích trong sách đã dẫn ở trên, tr. 280.
[4] Dacher Keltner, The Power Paradox. How We Gain and Lose Influence (New York, 2017), tr. 41-9.
[5] Melissa Dahl, “Powerful People Are Messier Eaters, Maybe”, The Cut (ngày 13 tháng 1 năm 2015).
[6] Xem để biết tổng quan: Aleksandra Cislak chủ biên, “Power Corrupts, but Control Does Not: What Stands Behind the Effects of Holding High Positions”, bản tin Personality and Social Psychology, tập 44, số 6 (2018), tr. 945.
[7] Paul K. Piff chủ biên, “Higher Social Class Predicts Increased Unethical Behaviour”, Proceedings of the National Academy of Sciences, tập 109, số 11 (2012), ptr. 4086-91.
[8] Benjamin Preston, “The Rich Drive Differently, a Study Suggests”, New York Times (ngày 12 tháng 8 năm 2013).
[9] Xem Jeremy K. Boyd, Katherine Huynh và Bonnie Tong, “Do wealthier drivers cut more at all-way stop intersections? Mechanisms underlying the relationship between social class and unethical behavior” (Đại học California, San Diego, 2013). Và Beth Morling chủ biên, “Car Status and stopping for Pedestrians (#192)” Psych File Drawer (ngày 2 tháng 6 năm 2014).
[10] Keltner, The Power Paradox, tr. 99-136.
[11] Jeremy Hogeveen, Michael Inzlicht và Suhkvinder S. Obhi, “Power Changes How the Brain Responds to Others”, tạp chí Experimental Psychology, tập 143, số 2 (2014).
[12] Jerry Useem, “Power Causes Brain Damage”, The Atlantic (tháng 7/8 năm 2017).
[13] Ví dụ xem M. Ena Inesi chủ biên, “How Power Corrupts Relationships: Cynical Attributions for Others’ Generous Acts”, tạp chí Experimental Social Psychology, tập 48, số 4 (2012), tr. 795-803.
[14] Keltner, The Power Paradox, tr. 137-58.
[15] Varun Warrier chủ biên, “Genome-Wide Analyses of Self-Reported Empathy: Correlations with Autism, Schizophrenia, and Anorexia Nervosa”, Nature, Translational Psychiatry (ngày 12 tháng3 năm 2018).
[16] Lord Acton, “Letter to Bishop Mandell Creighton” (ngày 5 tháng 4 năm 1887), xuất bản trong J. N. Figgis và R. V. Laurence (biên tập), Historical Essays and Studies (London, 1907).
[17] Frans de Waal, Chimpanzee Politics. Power and Sex Among Apes (Baltimore, 2007), tr. 4. Xuất bản lần đầu năm 1982.
[18] Frans de Waal và Frans Lanting, Bonobo. The Forgotten Ape (Berkeley, 1997).
[19] Natalie Angier, “In the Bonobo World, Female Camaraderie Prevails”, New York Times (ngày 10 tháng 9 năm 2016).
[20] Frans de Waal, “Sex as an Alternative to Aggression in the Bonobo”, trong Paul R. Abramson và Steven D. Pinkerton, Sexual Nature/Sexual Culture (Chicago, 1995), tr. 37.
[21] Christopher Boehm, “Egalitarian Behavior and Reverse Dominance Hierarchy”, Current Anthropology, tập 34, số 3 (1993), tr. 233.
[22] Christina Starmans, Mark Sheskin và Paul Bloom, “Why People Prefer Unequal Societies”, Nature Human Behaviour, tập 1, số 4 (2017).
[23] Xem thêm Rutger Bregman và Jesse Frederik, “Waarom vuilnismannen meer verdienen dan bankiers”. De Correspondent (2015).
[24] Người ủng hộ thuyết này nổi tiếng nhất là Yuval Noah Harari, trong cuốn Sapiens (2011) của ông.
[25] Robin Dunbar, How Many Friends Does One Person Need? Dunbar’s Number and Other Evolutionary Clues (Cambridge, Mass., và London, 2010), tr. 26.
[26] Lời biện hộ thuyết phục nhất cho thuyết này là trong Ara Norenzayan, Big Gods (2013). Xem thêm Harvey Whitehouse chủ biên, “Complex Societies Precede Moralizing Gods Throughout World History”, Nature (ngày 20 tháng 3 năm 2019) và Edward Slingerland chủ biên, ‘Historians Respond to Whitehouse et al. (2019), “Complex Societies Precede Moralizing Gods Throughout World History”, PsyArXiv Preprints (ngày 2 tháng 5 năm 2019).
[27] Harari, Sapiens, tr. 34.
[28] Douglas W. Bird chủ biên, “Variability in the organization and size of hunter-gatherer groups: Foragers do not live in small-scale societies”, tạp chí Human Evolution (tháng 6 năm 2019).
[29] Hill chủ biên, “Hunter-Gatherer InterBand Interaction Rates. Implications for Cumulative Culture”.
[30] Graeber và Wengrow, “How to Change the Course of Human History (at Least, the Part That’s Already Happened)”.
[31] Machiavelli, The Prince, tr. 149.
[32] David Graeber, The Utopia of Rules. On Technology, Stupidity and the Secret Joys of Bureaucracy (Brooklyn and London, 2015), tr. 31-3.
[33] Đây là lý do các nhà kính tế học nghiêm túc có thể tiên liệu sớm việc câu chuyện thần thoại chúng ta gọi là “Bitcoin” sẽ thất bại trong khi đô la sẽ thống trị nhiều thập kỉ nữa. Đồng đô la được hậu thuẫn bởi quân đội mạnh nhất thế giới, trong khi Bitcoin chỉ được hậu thuẫn bằng niềm tin.
[34] Harari, Sapiens, tr. 153.
[35] Noam Chomsky, “What is the Common Good?”, Truthout (ngày 7 tháng 1 năm 2014).
[36] Việc sự xấu hổ có hiệu quả như thế nào gần đây được minh chứng lại qua phong trào #MeToo. Bắt đầu từ tháng 10 năm 2017, hàng nghìn phụ nữ đánh gục cả loạt nam giới quá khích theo cách gợi nhớ rất rõ đến cách đười ươi bonobo cái kiềm chế đối thủ và các bộ lạc du mục thuần hóa những kẻ ưa bắt nạt. Bằng việc công khai làm nhục thủ phạm, những kẻ khác sẽ nghĩ kỹ trước khi có hành vi tương tự.
[37] Olivia Solon, “Crazy at the Wheel: Psychopathic CEOs are Rife in Silicon Valley, Experts Say”, Guardian (ngày 15 tháng 3 năm 2017). Xem thêm Karen Landay, Peter, D. Harms và Marcus Credé, “Shall We Serve the Dark Lords? A Meta-Analytic Review of Psychopathy and Leadership”, tạp chí Applied Psychology (tháng 8 năm 2018).
[1] C. TR. Snow, “Science and Government”, The Godkin Lectures (1960).
[2] David Hume, “Of the Independency of Parliament”, trong Essays, Moral, Political, and Literary (1758, Phần 1).
[3] Xem bài thơ nổi tiếng của Bernard Mandeville ‘The Grumbling Hive: Or, Knaves turn’d Honest’, The Fable of The Bees: or, Private Vices, Public Benefits (1714).
[4] Marshall Sahlins, The Western Illusion of Human Nature (Chicago, 2008), tr. 72-6
[5] Đức Giáo hoàng Francis, “Why the Only Future Worth Building Includes Everyone”, TED Talks (tháng 4 năm 2017).
[6] Ara Norenzayan, Big Gods (Princeton, 2013), tr. 75.
[7] Nếu bạn không tin, cuốn này sẽ nói rõ với bạn: Hans Rosling, Factfulness. Ten Reasons We’re Wrong About the World – and Why Things Are Better Than You Think (New York, 2018).
[8] Để có cái nhìn tổng quan, xem chương đầu cuốn sách trước của tôi Utopia for Realists (London, 2017).
[9] Ví dụ, xem Zygmunt Bauman, Modernity and the Holocaust (Ithaca, 1989), và Roger Griffin, Modernism và Fascism. The Sense of a Beginning under Mussolini and Hitler (Basingstoke, 2007).
[1] Hanna Rosin và Alix Spiegel, “How to Become Batman”, NPR (ngày 23 tháng 1 năm 2015).
[2] Katherine Ellison, “Being Honest About the Pygmalion Effect”, tạp chí Discover (tháng 12 năm 2015).
[3] Như trên.
[4] Dov Eden, “Self-Fulfilling Prophecy and the Pygmalion Effect in Management”, Oxford Bibliographies (20 tháng 10 năm 2016).
[5] Lee Jussim và Kent D. Harber, “Teacher Expectations and Self-Fulfilling Prophecies: Knowns and Unknowns, Resolved and Unresolved Controversies”, tạp chí Personality and Social Psychology (ngày 1 tháng 5 năm 2005). Xem thêm Rhona s. Weinstein, “Pygmalion at 50: harnessing its power and application in schooling”, Educational Research and Evaluation (11 tháng 12 năm 2018).
[6] Dov Eden, Ellison, “Being Honest About the Pygmalion Effect”.
[7] Franklin H. Silverman, “The “Monster” Study”, tap chí Fluency Disorders, tập 13, số 3 (1988)
[8] John C. Edwards, William McKinley và Gyewan Moon, “The enactment of organizational decline: The self-fulfilling prophecy”, International Journal of Organizational Analysis, tập 10, số 1 (2002).
[9] Daisy Yuhas, “Mirror Neurons Can Reflect Hatred”, Scientific American (ngày 1 tháng 3 năm 2013).
[10] John Maynard Keynes, The General Theory of Employment, Interest, and Money (London, 1936), Chương 12.
[11] Dan Ariely, “Pluralistic Ignorance”, YouTube (ngày 16 tháng 2 năm 2011).
[12] Pinker, The Better Angels of Our Nature (2011), tr. 561-5.
[1] Hedwig Wiebes, “Jos de Blok (Buurtzorg): ‘Ik neem nooit zomaar een dag vrij’’’ Intermediair (ngày 21 tháng 10 năm 2015).
[2] Như trên.
[3] Như trên.
[4] Haico Meijerink, “Buurtzorg: ‘Wij doen niet aan strategische flauwekul”’, Management Scope (ngày 8 tháng 10 năm 2014).
[5] Gardiner Morse, “Why We Misread Motives” tạp chí Harvard Business (tháng 1 năm 2003).
[6] Như trên.
[7] Frederick Taylor, The Principles of Scientific Management (New York, 1911), Chương 2, tr. 59.
[8] Robert Kanigel, The One Best Way. Frederick Winslow Taylor and the Enigma of Efficiency (Cambridge, 2005), tr. 499.
[9] Edward L. Deci, “Effects of Externally Mediated Rewards on Intrinsic Motivation’’, tạp chí Personality and Social Psychology, tạp 1, số 1 (1971), tr. 114.
[10] Karen McCally, “Self-Determined”, tạp chí Rochester (tháng 7 – tháng 8 năm 2010).
[11] Uri Gneezy và Aldo Rustichini, “A Fine is a Price”, tạp chí Legal Studies, tập 29, số 1 (2000).
[12] Samuel Bowles và Sandra Polania Reyes, “Economic Incentives and Social Preferences: A Preference-Based Lucas Critique of Public Policy”, University of Massachusetts Amherst Working Papers (2009).
[13] Amit Katwala, “Dan Ariely: Bonuses boost activity, not quality”, Wired (tháng 2 năm 2010).
[14] Perceptions Matter: The Common Cause UK Values Survey, Quỹ Common Cause (2016).
[15] Milton Friedman, “The Methodology of Positive Economics”, trong Essays in Positive Economics (Chicago, 1966).
[16] Sanford E. DeVoe và Jeffrey Pfeffer, “The Stingy Hour: How Accounting for Time Aff ects Volunteering”, Personality and Social Psychology Bulletin, tập 36, số 4 (2010).
[17] Steve Crabtee, “Worldwide, 13% of Employees Are Engaged at Work”, Gallup (ngày 8 tháng 10 năm 2013).
[18] Wiljan van den Berge và Bas ter Weel, Baanpolarisatie in Nederland. CPB Policy Brief, Cục Thống kê Hà Lan (2015), tr. 14.
[19] Enzo van steenbergen và Jeroen Wester, “Hogepriester van de kleinschalige zorg”, NRC Handelsblad (ngày 12 tháng 3 năm 2016). Một số đối thủ cạnh tranh chỉ trích thực tế rằng Buurtzorg hoán chuyển bệnh nhân có những vấn đề nghiêm trọng sang các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc khác, nhưng không có bằng chứng chứng minh. Ngược lại, nghiên cứu của chuyên gia tư vấn KPMG là David Ikkersheim hé lộ rằng Buurtzorg tốt hơn và rẻ hơn thậm chí sau khi chỉnh lại năng lực chăm sóc. Xem David Ikkersheim, “Buurtzorg: hoe zat het ook alweer?” Skipr (ngày 9 tháng 5 năm 2016).
[20] Stevo Akkerman, “Betere zorg zonder strategische ffatsen”, Trouw (ngày 1 tháng 3 năm 2016).
[21] The Corporate Rebels, “FAVI. How Zobrist Broke Down Favi’s Command-And-Control Structures”, corporate-rebels.com (ngày 4 tháng 1 năm 2017).
[22] Patrick Gilbert, Nathalie Raulet Crozet và Anne-Charlotte Teglborg, “Work Organisation and Innovation – Case Study: FAVI, France”, European Foundation for the Improvement of Living and Working Conditions (2013).
[1] Stephen Moss, Natural Childhood Report (National Trust), tr. 5.
[2] John Bingham, “British Children among Most Housebound in World”, Daily Telegraph (ngày 22 tháng 3 năm 2016).
[3] S. L. Hofferth và J. F. Sandberg, ‘Changes in American Children’s Time, 1981-1997’, trong S. L. Hofferth và J. Owens (biên tập), Children at the Millennium: Where Have We Come from? Where Are We Going? (Stamford, 2001).
[4] Peter Gray, “The Decline of Play and the Rise of Psychopathology in Children and Adolescents”, American Journal of Play, tập 23, số 4 (2011), tr. 450.
[5] Jantje Beton/Kantar Public (TNS NIPO), Buitenspelen Onderzoek 2018, jantjebeton. nl (17 tháng 4 năm 2018)
[6] Frank Huiskamp, “Rapport: Nederlandse leerlingen zijn niet gemotiveerd”, NRC Handelsblad (16 tháng 4 năm 2014).
[7] Gezinsrapport. Een portret van het gezinsleven in Nederland, Viện Nghiên cứu Xã hội Hà Lan (The Hague, 2011).
[8] Rebecca Rosen, “America’s Workers: Stressed Out, Overwhelmed, Totally Exhausted”, The Atlantic (ngày 27 tháng 3 năm 2014).
[9] Jessica Lahey, “Why Kids Care More About Achievement Than Helping others”, The Atlantic (ngày 25 tháng 5 năm 2014).
[10] Ví dụ, xem c. Page Moreau và Marit Gundersen Engeset, “The Downstream Consequences of Problem-Solving Mindsets: How Playing with LEGO Influences Creativity”, tạp chí Marketing Research, tập 53, số 1 (2016).
[11] Peter Gray, “The Play Deficit”, Aeon (ngày 18 tháng 9 năm 2013).
[12] How to Tame a Fox (And Build a Dog) (2017), tr. 73.
[13] Sarah Zielinski, “Five Surprising Animals That Play”, ScienceNews (ngày 20 tháng 2 năm 2015).
[14] Johan Huizinga, Homo Ludens. Proeve eener bepaling van het spelelement der cultuur (1938)”
[15] Peter Gray, “Play as a Foundation for Hunter Gatherer Social Existence”, American Journal of Play (mùa xuân năm 2009).
[16] Jared Diamond, The World Until Yesterday. What Can We Learn From Traditional Societies? (London, 2013), tr. 204.
[17] Như trên, tr. 194.
[18] J. Mulhern, A History of Education, a Social Interpretation (New York, 1959), tr. 383.
[19] James C. Scott, Two Cheers for Anarchism. Six Easy Pieces on Autonomy, Dignity and Meaningful Work and Play (Princeton, 2012), tr. 54-5.
[20] Eugen Weber, Peasants into Frenchmen: The Modernization of Rural France, 1870-1914 (Stanford, 1976).
[21] Howard TR. Chudacoff, Children at Play. An American History (New York, 2008).
[22] Peter Gray, “The Decline of Play and the Rise of Psychopathology in Children and Adolescents” (2011).
[23] Robert Dighton, “The Context and Background of the First Adventure Playground”, adventureplay.org.uk
[24] Colin Ward, Anarchy in Action (London, 1996), tr. 89.
[25] Arvid Bengtsson, Adventure Playgrounds, Crosby Lockwood (1972), tr. 20-21.
[26] Penny Wilson, “children are more complicated than kettles, the life and work of Lady Allen of Hurtwood”, theinternationale.com (2013).
[27] Như trên.
[28] Như trên.
[29] Mariana Brussoni chủ biên, “What is the Relationship between Risky Outdoor Play and Health in Children? A Systematic Review”, International Journal of Environmental Research and Public Health, tập 12, số 6 (ngày 8 tháng 6 năm 2015).
[30] Rebecca Mead, “State of Play”, The New Yorker (ngày 5 tháng 7 năm 2010).
[31] Erving Goffman, “On the Characteristics of Total Institutions” (1957).
[32] Robin Bonifas, Bullying Among Older Adults. How to Recognize and Address an Unseen Epidemic (Baltimore, 2016).
[33] Matt Sedensky, “A surprising bullying battleground: Senior centers”, Associated Press (ngày 13 tháng 5 năm 2018).
[34] Randall Collins, Violence. A Micro-sociological Theory (Princeton, 2008), tr. 166.
[35] Xem Hogwarts, ngôi trường nổi tiếng với Harry Potter. Trong thế giới tưởng tượng cuốn hút của J. K. Rowling đó là một nơi kì diệu, nhưng trong thực tiễn tôi ngờ rằng đó sẽ là địa ngục với nhiều trẻ em. Trẻ em được nhóm theo tuổi (thành các lớp) và theo cá tính (thành nhà, ví dụ Gryffindor và Slytherin). Những nhân vật quyền lực khích lệ sự cạnh tranh với một hệ thống điểm phức tạp. Nếu bạn muốn ra ngoài, lựa chọn duy nhất của bạn là Giáng sinh và nghỉ hè. Các nhà giáo dục học nhất trí rằng Hogwarts là công thức của một nền văn hóa bắt nạt.
[36] Đừng hiểu nhầm tôi, có những kỹ năng cơ bản, như đọc và viết, mà con người sống trong xã hội hĩện đại không thế thiếu. Và có những trê kém năng khiếu học những kỹ năng này hơn. Trong trường hợp như thế, hướng dẫn của chuyên gia qua một giáo viên được đào tạo là quan trọng.
[37] Robert Dur và Max van Lent, “Socially Useless Jobs”, Tinbergen Institute Discussion Paper (ngày 2 tháng 5 năm 2018).
[38] David Graeber, “On the Phenomenon of Bullshit Jobs: A Work Rant”, tạp chí Strike! (tháng 8 năm 2013).
[39] Ivan Illich, Deschooling Society (New York, 1971).
[40] Peter Gray, Free to Learn. Why Unleashing the Instinct to Play Will Make Our Children Happier, More Self-Reliant, and Better Students for Life (New York, 2013].
[41] Lois Holzman, “What’s the Opposite of Play?”, Psychology Today (ngày 5 tháng 4 năm 2016).
[42] “‘Depression: Let’s Talk’ Says WHO, As Depression Tops List of Causes of Ill Health”, Tổ chức Y tế Thế giới (ngày 30 tháng 3 năm 2017).
[43] Peter Gray, “Self-Directed Education -Unschooling and Democratic Schooling”, Oxford Research Encyclopedia of Education (tháng 4 năm 2017).
[1] Các thành phố ở Venezuela hơi giống các hạt tại các bang Hoa Kỳ, đây cũng là nơi chính quyền địa phương vận hành và thị trường được bầu chọn.
[2] Gabriel Hetland, “Emergent Socialist Hegemony in Bolivarian Venezuela: The Role of the Party”, trong Susan J. Spronk và Jeffery R. Webber, Crisis and Contradiction: Marxist Perspectives on Latin America in the Global Political Economy (Leiden, 2015), tr. 131.
[3] Gabriel Hetland, “Howto Change the World: Institutions and Movements Both Matter”, tạp chí Berkeley Journal of Sociology (ngày 3 tháng 11 năm 2014).
[4] Về nội dung có sức thuyết phục, xem Gabriel Hetland, “Grassroots Democracy in Venezuela”, The Nation (ngày 30 tháng 1 năm 2012).
[5] Như trên.
[6] Dmytro Khutkyy, “Participatory budgeting: An empowering democratic institution”, Eurozine (ngày 31 tháng 10 năm 2017).
[7] Brazil: Toward a More Inclusive and Effective Participatory Budget in Porto Alegre (Ngân hàng Thế giới, 2008), tr. 2.
[8] Martin Calisto Friant, “Sustainability From Below: Participatory Budgeting in Porto Alegre”, Đại hội lần thứ Nhất về Nghiên cứu Đô thị ở Ecuador (tháng 11 năm 2017), tr. 13.
[9] Paolo Spada, “The Economic and Political Eff ects of Participatory Budgeting”, Đại hội Hiệp hội Nghiên cứu Mỹ Latin (2009).
[10] Esteban Ortiz-Ospina and Max Roser, “Trust”, OurWorldInData.org (2018).
[11] Về bài phê bình luận văn này, xem Omar Encarnacion, The Myth of Civil Society. Social Capital and Democratic Consolidation in Spain and Brazil (Basingstoke, 2003).
[12] “Porto Alegre’s Budget Of, By, and For the People”, tạp chí Yes! (ngày 31 tháng 12 năm 2002).
[13] Ginia Bellafante, “Participatory Budgeting Opens Up Voting to the Disenfranchised and Denied”, New York Times (ngày 17 tháng 4 năm 2015).
[14] Mona Serageldin chủ biên, “Assessment of Participatory Budgeting in Brazil”, Trung tâm Đại học Harvard về nghiên cứu phát triển đô thị (2005), tr. 4.
[15] Gianpaolo Baiocchi, “Participation, Activism, and Politics: The Porto Alegre Experiment in Deliberative Democratic Theory”, Archon Fung và Erik Olin Wright (biên tập), Deepening Democracy. Institutional Innovations in Empowered Participatory Governance (New York, 2001), tr. 64.
[16] Alana Semuels, “The City That Gave Its Residents $3 Million”, The Atlantic (ngày 6 tháng 11 năm 2014).
[17] Baiocchi, “Participation, Activism, and Politics: The Porto Alegre Experiment in Deliberative Democratic Theory”.
[18] Gianpaolo Baiocchi và Ernesto Gariuza, “Participatory Budgeting as if Emancipation Mattered”, Politics & Society, tập 42, số 1 (2014), tr. 45.
[19] George Monbiot, Out of the Wreckage. A New Politics for an Age of Crisis (London, 2017), tr. 130.
[20] Anne Pordes Bowers và Laura Bunt, “Your Local Budget. Unlocking the Potential of Participatory Budgeting”, Nesta (2010).
[21] Gianpaolo Baiocchi, “Participation, Activism, and Politics: The Porto Alegre Experiment and Deliberative Democratic Theory”, Politics & Society, tập 29, số 1 (2001), tr. 58.
[22] Các nhà nghiên cứu thuộc Ngân hàng Thế giới cũng kết luận những tiến bộ nhanh chóng là nhờ ngân sách tham gia. Tỷ lệ ngân sách thành phố phân bổ cho chăm sóc sức khỏe và giáo dục tăng từ 13% năm 1985 lên 40% năm 1996. Xem Serageldin chủ biên, “Assessment of Participatory Budgeting in Brazil”.
[23] Patrick Kingsley, “Participatory democracy in Porto Alegre”, Guardian (ngày 10 tháng 9 năm 2012).
[24] Serageldin chủ biên, “Assessment of Participatory Budgeting in Brazil”.
[25] Michael Touchton và Brian Wampler, “Improving Social WellBeing Through New Democratic Institutions”, Comparative Political Studies, tập 47, số 10 (2013).
[26] “Back to the Polis: Direct Democracy”, The Economist (ngày 17 tháng 9 năm 1994).
[27] David Van Reybrouck, Against Elections. The Case for Democracy (London, 2016).
[28] “Communism”, oxforddictionaries.com.
[29] Graeber, Debt, tr. 94-102.
[30] Garrett Hardin, “The Tragedy of the Commons”, Science, tập 162, số 3859 (ngày 13 tháng 12 năm 1968).
[31] John Noble Wilford, “A Tough-minded Ecologist Comes to Defense of Malthus”, New York Times (ngày 30 tháng 6 năm 1987).
[32] Ian Angus, “The Myth of the Tragedy of the Commons”, Climate & Capitalism (ngày 25 tháng 8 năm 2008).
[33] John A. Moore, “Science as a Way of Knowing Human Ecology”, American Zoologist, tập 25, số 2 (1985), tr. 602.
[34] Tim Harford, “Do You Believe in Sharing?” Financial Times (ngày 30 tháng 8 năm 2013).
[35] Như trên.
[36] Chính thức: Giải thưởng Sveriges Riksbank về Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển cho Khoa học Kinh tế để tường nhớ Nobel.
[37] Tine de Moor, “The Silent Revolution: A New Perspective on the Emergence of Commons, Guilds, and Other Forms of Corporate Collective Action in Western Europe”, International Review of Social History, tập 53, số S16 (tháng 12 năm 2008).
[38] Công trình kinh điển về quá trình này là Karl Polanyi, The Great Transformation. The Political and Economic Origins of Our Time (Boston, 2001). Xuất bản lần đầu năm 1944.
[39] Tine de Moor, “Homo Cooperans. Institutions for collective action and the compassionate society”, Diễn văn khánh thành Đại học Utrecht (ngày 30 tháng 8 năm 2013).
[40] Ví dụ, xem Paul Mason, Postcapitalism. A Guide to Our Future (London, 2015).
[41] Ví dụ, xem Shoshana Zuboff , The Age of Surveillance Capitalism. The Fight for a Human Future at the New Frontier of Power (London, 2019).
[42] Damon Jones và loana Elena Marinescu, “The Labor Market Impacts of Universal and Permanent Cash Transfers: Evidence from the Alaska Permanent Fund”, NBER Working Paper (tháng 2 năm 2018).
[43] Tôi cũng đã viết về nghiên cứu này của Đại học Bắc Carolina và về thu nhập cơ bản phổ quát ở nơi khác. Xem Utopia for Realists. And How We Can Get There (London, 2017), tr. 51-4. Giờ tôi thích thuật ngữ “cổ tức công dân” hơn là “thu nhập cơ bân” để nhấn mạnh rằng chúng ta đang nói về tiền thu được từ tài sản chung.
[44] Peter Barnes, With Liberty and Dividends For All. How To Save Our Middle Class When Jobs Don’t Pay Enough (Oakland, 2014).
[45] Scott Goldsmith, “The Alaska Permanent Fund Dividend: An Experiment in Wealth Distribution”, Basic Income European Network (tháng 9 năm 2002), tr. 7.
[1] Michael Garofalo, “A Victim Treats His Mugger Right”, NPR Story Corps (ngày 28 tháng 3 năm 2008).
[2] Matthew 5:46.
[1] Để có tổng quan rõ ràng về hệ thống nhà tù Na Uy, xem Ryan Berger, “Kriminalomsorgen: A Look at the World’s Most Humane Prison System in Norway”, SSRN (ngày 11 tháng 12 năm 2016).
[2] Một lính canh nói điều này trong phim tài liệu của Michael Moore, Where to Invade Next? (2015).
[3] Baz Dreizinger, “Norway Proves That Treating Prison Inmates As Human Beings Actually Works”, Huffington Post (ngày 8 tháng 3 năm 2016],
[4] “About the Norwegian Correctional Service”, www.kriminalomsorgen.no (truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2018],
[5] Dreizinger, “Norway Proves That Treating Prison Inmates As Human Beings Actually Works”.
[6] Manudeep Bhuller chủ biên, “Incarceration, Recidivism, and Employment”, Viện Kinh tể học lao động (tháng 6 năm 2018).
[7] Berger “Kriminalomsorgen: A Look at the World’s Most Humane Prison System in Norway”, tr. 20.
[8] Erwin James, “Bastøy: the Norwegian Prison That Works”, Guardian (ngày 4 tháng 9 năm 2013).
[9] Genevieve Blatt chủ biên, The Challenge of Crime in a Free Society, President’s Commission on Law Enforcement and Administration of Justice (1967), tr. 159.
[10] Như trên, tr. 173.
[11] Jessica Benko, “The Radical Humaneness of Norway’s Halden Prison”, New York Times (ngày 26 tháng 3 năm 2015).
[12] Robert Martinson, “What Works? Questions and Answers about Prison Reform”, The Public Interest (mùa Xuân năm 1974).
[13] Michelle Brown, The Culture of Punishment: Prison, Society, and Spectacle (New York, 2009), tr. 171.
[14] Robert Martinson, “New Findings, New Views: A Note of Caution Regarding Sentencing Reform” Hofstra Law Review, tập 7, số 2 (1979).
[15] Adam Humphreys, “Robert Martinson and the Tragedy of the American Prison”, Ribbonfarm (ngày 15 tháng 12 năm 2016).
[16] Jerome G. Miller, “The Debate ,on Rehabilitating Criminals: Is It True that Nothing Works?” Washington Post (tháng 3 năm 1989).
[17] Richard Bernstein, “A Thinker Attuned to Thinking; James Q. Wilson Has Insights, Like Those on Cutting Crime, That Tend To Prove Out”, New York Times (ngày 22 tháng 8 năm 1998).
[18] “James Q. Wilson Obituary”, The Economist (ngày 10 tháng 3 năm 2012).
[19] James Q. Wilson, Thinking About Crime (New York, 1975), tr. 172-3.
[20] Timothy Crimmins, “Incarceration as Incapacitation: An Intellectual History”, American Affairs, tập II, số 3 (2018).
[21] George L. Kelling và James Q. Wilson, “Broken Windows”, The Atlantic (tháng 3 năm 1982).
[22] Gladwell, The Tipping Point, tr. 141.
[23] Như trên, tr. 142.
[24] Như trên, tr. 143.
[25] Holman w. Jenkins, Jr, “The Man Who Defi ned Deviancy Up”, The Wall Street Journal (ngày 12 tháng 3 năm 2011).
[26] James Q. Wilson, “Lock ’Em Up and Other Thoughts on Crime”, New York Times (ngày 9 tháng 3 năm 1975).
[27] Gladwell, The Tipping Point, tr. 145.
[28] Như trên, tr. 146.
[29] “New York Crime Rates 1960-2016”, disastercenter.com
[30] Donna Ladd, “Inside William Bratton’s NYPD: Broken Windows Policing is Here to Stay”, Guardian (ngày 8 tháng 6 năm 2015).
[31] Jeremy Rozansky và Josh Lerner, “The Political Science of James Q. Wilson”, The New Atlantis (mùa Xuân năm 2012).
[32] Xem Rutger Bregman, Met de kennis van toen. Actuele problemen in het licht van de geschiedenis (Amsterdam, 2012), tr. 238-45.
[33] Anthony A. Braga, Brandon c. Welsh và Cory Schnell, “Can Policing Disorder Reduce Crime? A Systematic Review and MetaAnalysis”, tạp chí Research in Crime and Delinquency, tập 52, số 4 (2015).
[34] John Eterno và Eli Silverman, “Enough Broken Windows Policing. We Need a Community-Oriented Approach”, Guardian (ngày 29 tháng 6 năm 2015).
[35] TR. J. Vogt, “#127 The Crime Machine” Reply All (podcast của Gimlet Media, ngày 11 tháng 10 năm 2018).
[36] Dara Lind, “Why You Shouldn’t Take Any Crime Stats Seriously”, Vox (ngày 24 tháng 8 năm 2014). Xem thêm Liberty Vittert, “Why the US Needs Better Crime Reporting Statistics”, The Conversation (ngày 12 tháng 10 năm 2018).
[37] Michelle Chen, “Want to See How Biased Broken Windows Policing Is? Spend a Day in Court”, The Nation (ngày 17 tháng 5 năm 2018)
[38] Bản thân trật tự hóa ra lại là vấn đề nhận thức. Năm 2004, các nhà nghiên cứu ở Đại học Chicago hỏi một loạt chủ thể nghiên cứu họ nhìn thấy bao nhiêu “ô cửa sổ vỡ” ở một khu phố cả người da trắng và da đen. Các chủ thể đồng loạt xếp hạng khu phố có nhiều người Mỹ gốc Phi hơn là mất trật tự hơn, thậm chí khi việc xả rác, vẽ tranh graffiti và túm năm tụm ba giống như ở khu phố da trắng. Xem Robert J. Sampson và Stephen W. Raudenbush, “Seeing Disorder: Neighborhood Stigma and the Social Construction of ‘Broken Windows’”, Social Psychology Quarterly, tập 67, số 4 (2004). Điều đáng buồn là Wilson và Kelling đã tiên liệu điều này trong bài viết năm 1982 trên The Atlantic, viết rằng: “Làm cách nào chúng ta đoạn chắc rằng […] màu da hay gốc gác dân tộc […] cũng sẽ không trở thành cơ sở cho việc phân biệt điều không mong muốn với điều mong muốn? Làm cách nào chúng ta đoan chắc, tóm lại, rằng cảnh sát không trở thành tác nhân của tình trạng niềm tin mù quáng ở khu dân cư? Chúng tôi không thể đưa ra câu trả lời hoàn toàn thỏa mãn cho câu hỏi quan trọng này.”
[39] Xem Braga, Welsh, và Schnell, “Can Policing Disorder Reduce Crime? A Systematic Review and Meta-Analysis”.
[40] Sarah Childress, “The Problem with ‘Broken Windows’ Policing”, Frontline (ngày 28 tháng 6 năm 2016).
[41] Vlad Tarko, Elinor Ostrom. An Intellectual Biography (Lanham, 2017), tr. 32-40.
[42] Arthur A. Jones và Robin Wiseman, “Community Policing in Europe. An Overview of Practices in Six Leading Countries”, Los Angeles Community Policing (Iactr.org).
[43] Sara Miller Liana, “Why Police Don’t Pull Guns in Many Countties”, Christian Science Monitor (ngày 28 tháng 6 năm 2015).
[44] Childress, “The Problem with “Broken Windows” Policing”.
[45] Beatrice de Graaf, Theater van de angst. De strijd tegen terrorisme in Nederland, Duitsland, Italiể en Amerika (Amsterdam, 2010).
[46] Quirine Eijkman, “Interview met Beatrice de Graaf over haar boek”, Leiden University (ngày 25 tháng 1 năm 2010).
[47] Joyce Roodnat, “Het moest wel leuk blijven”, NRC Handelsblad (ngày 6 tháng 4 năm 2006).
[48] Jon Henley, “How Do You Deradicalise Returning Isis Fighters?”, Guardian (ngày 12 tháng 11 năm 2014).
[49] Hanna Rosin, “How A Danish Town Helped Young Muslims Turn Away From ISIS”, NPR Invisibilia (ngày 15 tháng 6 năm 2016).
[50] Richard Orange, “‘Answer hatted with love’: how Norway tried to cope with the horror of Anders Breivik”, Guardian (ngày 15 tháng 4 năm 2012).
[51] Sáng kiến Chính sách Nhà tù, “North Dakota Profile” (prisonpolicy.org, truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2018).
[52] Dylan Matthews và Byrd Pinkerton, “How to Make Prisons More Humane”, Vox (podcast, ngày 17 tháng 10 năm 2018).
[53] Dashka Slater, “North Dakota’s Norway Experiment”, Mother Jones (tháng 7/8 năm 2017).
[54] Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia, The Growth of Incarceration in the United States. Exploring Causes and Consequences (Washington DC, 2014), tr. 33.
[55] Francis T. Cullen, Cheryl Lero Jonson và Daniel s. Nagin, “Prisons Do Not Reduce Recidivism. The High Cost of Ignoring Science”, tạp chí The Prison, tập 91, số 3 (2011). Xem thêm M. Keith Chen và Jesse M. Shapiro, “Do Harsher Prison Conditions Reduce Recidivism? A Discontinuity-based Approach”, tạp chí American Law and Economics, tập 9, số 1 (2007).
[56] “Louis Theroux Goes to the Miami MegaJail”, BBC News (ngày 20 tháng 5 năm 2011).
[57] Berger, “Kriminalomsorgen: A Look at the World’s Most Humane Prison System in Norway”, tr. 23.
[58] Slater, “North Dakota’s Norway Experiment”.
[59] Cheryl Corley, “North Dakota Prison Offi cials Think Outside The Box To Revamp Solitaiy Confi nement”, NPR (ngày 31 tháng 7 năm 2018).
[60] Như trên.
[61] Slater, “North Dakota’s Norway Experiment”.
[1] John Battersby, “Mandela to Factions: Throw Guns Into Sea”, Christian Science Monitor (ngày 26 tháng 2 năm 1990).
[2] Nguồn chính của tôi cho câu chuyện về Constand và Abraham là cuốn sách tuyệt vời của Dennis Cruywagen Brothers in War and Peace. Constand and Abraham Viljoen and the Birth of the New South Africa (Cape Town/Johannesburg, 2014).
[3] Như trên, tr. 57.
[4] Như trên, tr. 62.
[5] Maritza Montero và Christopher C. Sonn (biên tập), Psychology of Liberation. Theory and Applications (Berlin, Heidelberg, 2009), tr. 100.
[6] Aldous Huxley, The Perennial Philosophy (New York, 1945), tr. 81.
[7] Alfred McClung Lee và Norman Daymond Humphrey, Race Riot, Detroit 1943 (Hemel Hempstead, 1968), tr. 130.
[8] Gordon Allport, The Nature of Prejudice (Reading, 1979), tr. 277. Xuất bản lần đầu năm 1954. Các nhà nghiên cứu hỏi quân nhân Mỹ câu hỏi sau: “Một số sư đoàn Lục quân có các đại đội bao gồm cả các trung đội da đen và da trắng. Bạn cảm thấy thể nào nếu trang phục của bạn được bố trí như thế?” Tỉ lệ trả lời “Tôi rất không thích điều đó” là 62% trong các đơn vị có mức độ tách bạch màu da cao và 7% trong các đại đội có cả các trung đội da đen.
[9] Ira N. Brophy, “The Luxury of Anti-Negro Prejudice” Public Opinion Quarterly, tập 9, so 4 (1945).
[10] Richard Evans, Gordon Allport: The Man and His Ideas (New York, 1970).
[11] Gordon Allport, “Autobiography”, trong Edwin Boring và Gardner Lindzey (biên tập), History of Psychology in Autobiography (New York, 1967), tr. 3-25.
[12] John Carlin, Invictus. Nelson Mandela and the Game that Made a Nation (London, 2009), tr. 122.
[13] Như trên, tr. 123.
[14] Như trên, tr. 124
[15] Như trên, tr. 135.
[16] Cruywagen, Brothers in War and Peace, tr. 143.
[17] Như trên, tr. 158.
[18] Simon Kuper, “What Mandela Taught Us”, Financial Times (ngày 5 tháng 12 năm 2013).
[19] Cruywagen, Brothers in War and Peace, tr. 162.
[20] Carlin, Invictas, tr. 252.
[21] Pettigrew đáp: “Thưa ngài, ngài đã trả lại tôi danh dự cao nhất!” Trích trong Frances Cherry, “Thomas F. Pettigrew: Building on the Scholar-Activist Tradition in Social Psychology”, trong Ulrich Wagner chủ biên (biên tập), Improving Intergroup Relations: Building on the Legacy of Thomas F. Pettigrew (Oxford, 2008), tr. 16.
[22] Thomas F. Pettigrew, “Contact in South Africa”, Dialogue, tập 21, số 2 (2006), tr. 8-9.
[23] Thomas F. Pettigrew và Linda R. Tropp, “A Meta-Analytic Test of Intergroup Contact Theory”, tạp chí Personality and Social Psychology, tập 90, số 5 (2006).
[24] Sylvie Graf, Stefania Paolini và Mark Rubin, “Negative intergroup contact is more influential, but positive intergroup contact is more common: Assessing contact prominence and contact prevalence in five Central European countries”, European Journal of Social Psychology, tập 44, số 6 (2014).
[25] Erica Chenoweth, “The Origins of the NAVCO Data Project (or: How I Learned to Stop Worrying and Take Nonviolent Conflict Seriously)”, Rational Insurgent (ngày 7 tháng 5 năm 2014).
[26] Erica Chenoweth và Maria J. Stephan, “How The World is Proving Martin Luther King Right About Nonviolence”, Washington Post (ngày 18 tháng 1 năm 2016). Xem thêm Maria J. Stephan và Erica Chenoweth, “Why Civil Resistance Works. The Strategic Logic of Nonviolent Conflict”, International Security, tập 33, số 1 (2008), tr. 7-44.
[27] Penny Andersen chủ biên, At Home in the World. The Peace Corps story (Peace Corps, 1996), tr. vi.
[28] Carlin, Invictus, tr. 84.
[29] Như trên, tr. 252.
[30] Như trên.
[31] Thomas F. Pettigrew, “Social Psychological Perspectives on Trump Supporters”, tạp chí Social and Political Psychology, tập 5, số 1 (2017).
[32] Như trên
[33] Chris Lawton và Robert Ackrill, “Hard Evidence: How Areas with Low Immigration Voted Mainly for Brexit”, The Conversation (ngày 8 tháng 7 năm 2016). Xem thêm Rose Meleady, Charles Seger và Marieke Vermue, “Examining the Role of Positive and Negative Intergroup Contact and Anti-Immigrant Prejudice in Brexit”, British Journal of Social Psychology, tập 56, số 4 (2017).
[34] Michael Savelkoul chủ biên, “Anti-Muslim Attitudes in The Netherlands: Tests of Contradictory Hypotheses Derived from Ethnic Competition Theory and Intergroup Contact Theory”, European Sociological Review, tập 27, số 6 (2011).
[35] Jared Nai, “People in More Racially Diverse Neighborhoods Are More Prosocial”, tạp chí Personality and Social Psychology, tập 114, số 4 (2018), tr. 497-515.
[36] Miles Hewstone, “Consequences of Diversity for Social Cohesion and Prejudice: The Missing Dimension of Intergroup Contact”, tạp chí Social Issues, tập 71, số 2 (2015).
[37] Matthew Goodwin và Caitlin Milazzo, “Taking Back Control? Investigating the Role of Immigration in the 2016 Vote for Brexit”, British Journal of Politics and International Relations, tập 19, số 3 (2017).
[38] Diane Hoekstra, “De felle tegenstanders van toen gaan het azc in Overvecht missen”, Algemeen Dagblad (ngày 29 tháng 9 năm 2018). Xem thêm Marjon Bolwijn, “In Beverwaard was woede om azc het grootst, maar daar is niets meer van te zien: ‘We hebben elkaar gek gemaakt’”, De Volkskránt (ngày 1 tháng 2 năm 2018).
[39] Mark Twain, The Innocents Abroad, or The New Pilgrims’ Progress (1869).
[40] Rupert Brown, James Vivian và Miles Hewstone, “Changing Attitudes through Intergroup Contact: the Effects of Group Membership Salience”, European Journal of Social Psychology, tập 29, số 5-6 (ngày 21 tháng 6 năm 1999).
[41] Gordon W. Allport, “Prejudice in Modern Perspective”, bài phát biểu tưởng niệm Hoernlé lần thứ 12 (ngày 17 tháng 7 năm 1956).
[1] Cụm từ này do sử gia George F. Kennan nghĩ ra trong lời giới thiệu cho cuốn sách của ông The Decline of Bismarck’s European Order: Franco-Russian Relations 1875-1890 (Princeton, 1979).
[2] Malcolm Brown và Shirley Seaton, Christmas Truce. The Western Front December 1914 (London, 2014), tr. 68. Xuất bản lần đầu năm 1984.
[3] Như trên, tr. 71.
[4] Như trên, tr. 73.
[5] Như trên, ptr. 76-7
[6] Malcolm Brown, Peace in No Man’s Land (phim tài liệu của BBC từ năm 1981).
[7] Luke Harding, “A Cry of: Waiter! And the Fighting Stopped”, Guardian (ngày 1 tháng 11 năm 2003).
[8] Brown và Seaton, Christmas Truce, tr. 111.
[9] Như trên, tr. 115.
[10] Simon Kuper, “Soccer in the Trenches: Remembering the WWI Christmas Truce”, espn.com (ngày 25 tháng 12 năm 2014).
[11] Các sử gia hiện đại chỉ ra rằng dù người Đức chắc chắn phạm các tội ác chiến tranh năm 1914, nhưng họ đã bị tô vẽ rất nhiều qua truyền thông Anh. Ảnh hưởng của những tin giả như vậy tai hại thế nào sẽ không hoàn toàn rõ ràng cho tới 25 năm sau. Khi trong Thế chiến thứ hai các báo cáo bắt đầu xuất hiện việc người Đức phạm những hành động tàn bạo kinh hoàng nhất trên quy mô lớn, một bộ phận đáng kể người dân ở Anh và Mỹ nghi ngờ tính xác thực của các báo cáo này. Căn cứ vào cách báo chí đã phóng đại vấn đề trong Thế chiến thứ nhất, dường như rẩt có lý khi nghi ngờ những câu chuyện về các buồng hoi ngạt. Xem Jo Fox, “Atrocity propaganda”, Thư viện Anh (ngày 29 tháng 1 năm 2014).
[12] Brown và Seaton, Christmas Truce, tr. 126.
[13] Thomas Vinciguerra, “The Truce of Christmas, 1914”, New York Times (ngày 25 tháng 12 năm 2005).
[14] Trích trong TED Stories, “Colombia: Advertising Creates Peace”, YouTube (ngày 24 tháng 1 năm 2018).
[15] Như trên.
[16] Tom Vanden Brook, “Propaganda That Works: Christmas Decorations”, USA Today (ngày 13 tháng 8 năm 2013).
[17] Lara Logan, “How Unconventional Thinking Transformed a WarTorn Colombia”, CBS News, 60 phút (ngày 11 tháng 12 năm 2016).
[18] Trích trong TED Stories, “Colombia: Advertising Creates Peace”.
[19] Jose Miguel Sokoloff trong một phỏng vấn với tác giả ngày 9 tháng 11 năm 2017.
[20] Chi phí của Chiến dịch Giáng sinh lên tới 301.100 đô la. Dòng sông Ánh sáng là 263.000 đô la và Tiếng của Mẹ là 546.000 đô la.
[21] Ngay cả FARC cũng tin điều này, vì trong các cuộc hòa đàm, họ đề nghị chấm dứt việc tuyên truyền của MullenLowe. Nó khiển họ mất quá nhiêu thành viên.
[22] Sibylla Brodzinsky, ‘“Welcome to Peace’: Colombia’s Fare Rebels Seal Historic Disarmament”, Guardian (ngày 27 tháng 6 năm 2017).
[23] Vinciguerra, “The Truce of Christmas, 1914”.
[24] Brown và Seaton, Christmas Truce, tr. 198.
[25] Như trên, tr. 248.
[26] Như trên, tr. 238.
[27] Stanley Weintraub, Silent Night (London, 2001), tr. 172.
[28] Tony Ashworth, Trench Warfare 1914-1918. The Live and Let Live System (London, 2000), tr. 224. Xuất bản lần đầu năm 1980.
[29] Như trên, tr. 24.
[30] Như trên, tr. 143.
[31] Erin E. Buckels, Paul D. Trapnell và Delroy L. Paulhus, “Trolls Just Want to Have Fun”, Personality and Individual Difference, tập 67 (tháng 9 năm 2014).
[32] Jose Miguel Sokoloff, “How Christmas Lights Helped Guerillas Put Down Their Guns”, TED (tháng 10 năm 2014).
[1] Detlef Fetchenhauer và David Dunning, “Why So Cynical? Asymmetric Feedback Underlies Misguided Skepticism Regarding the Trustworthiness of Others”, Psychological Science, tập 21, số 2 (ngày 8 tháng 1 năm 2010).
[2] Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng tiếp cận những người khác như thể ý định của họ đều tốt đẹp khiến hành vi của họ thay đổi. Các nhà tâm lý gọi điều này là “dán nhãn đạo đức”. Ví dụ, năm 1975 nhà tâm lý học Mỹ Richard Miller thực hiện một nghiên cứu với các trẻ tiếu học trong đó một nhóm được chọn ngẫu nhiên được nói là rất “ngăn nắp”. Vói nhóm thứ hai, các nhà nghiên cứu cố gắng làm cho bọn trẻ ngăn nắp hơn, trong khi nhóm thứ ba bị bỏ mặc. Kết quả? Nhóm thứ nhất tỏ ra là ngăn nắp nhất. Xem Christian B. Miller, “Should You Tell Everyone They’re Honest?’”, Nautilus (ngày 28 tháng 6 năm 2018).
[3] Maria Konnikova, The Confidence Game. The Psychology of the Con and Why We Fall for It Every Time, (Edinburgh, 2016).
[4] Bloom, Against Empathy, tr. 167.
[5] Dylan Matthews, “Zero-sum Trumtr. What You Learn from Reading 12 of Donald Trump’s Books”, Vox.com (ngày 19 tháng 1 năm 2017).
[6] Marina Cantacuzino, The Forgiveness Project. Stories for a Vengeful Age (London, 2016).
[7] Lewis B. Smedes, Forgive và Forget. Healing the Hurts We Don’t Deserve (San Francisco, 1984).
[8] Donald W. Pfaff, The Neuroscience of Fair Play. Why We (Usually) Follow the Golden Rule, Dana Press (2007).
[9] George Bernard Shaw, Maxims for Revolutionists (1903).
[10] Matthieu Ricard, Altruism. The Power of Compassion to Change Yourself and the World (New York, 2015), tr. 58-63.
[11] Như trên, tr. 62.
[12] Daniel Goleman và Richard Davidson, The Science of Meditation. How to Change Your Brain, Mind and Body (London, 2018). Nhưng cũng xem Miguel Farias và Catherine Wikholm, The Buddha Pill. Can Meditation Change You? (London, 2015).
[13] Paul Bloom, “Empathy for Trump voters? No, thanks. Understanding? Yes”, Vox.com (ngày 23 tháng 2 năm 2017).
[14] Bloom, Against Empathy, tr. 213-41.
[15] Jari van der Ploeg, ‘“Ze zullen altijd die enorm verliefde bom geluk blijven”’, De Volkskrant (ngày 21 tháng 7 năm 2014).
[16] “In memoriam: LvdG (1984-2014)”, Propria Cures (ngày 19 tháng 7 năm 2014).
[17] Ví dụ, xem Chung Sup Park, “Applying ‘Negativity Bias’ to Twitter: Negative News on Twitter, Emotions, and Political Learning”, tạp chí Information Technology & Politics, tập 12, số 4 (2015).
[18] Chris Weller, “Silicon Valley Parents Are Raising Their Kids TechFree – And It Should Be a Red Flag”, Business Insider (ngày 18 tháng 2 năm 2018).
[19] Rebecca Solnit, Hope in the Dark. Untold Histories, Wild Possibilities (Chicago, 2016), tr. 23
[20] Fabian Wichmann, “4 Ways To Turn The Neo-Nazi Agenda On Its Head”, Huffington Post (ngày 25 tháng 8 năm 2017).
[21] Matthew 6:2-6
[22] Triết gia người Pháp Alexis de Tocqueville nhận xét về điều này từ một thế kỉ rưỡi trước. “Người Mỹ… thích giải thích hầu như mọi hành động trong cuộc sống của họ trên nguyên tắc của lợi ích bản thân,” ông viết. Từng gặp rất nhiều người có ích trong các chuyến du lịch của mình, Tocqueville tin người Mỹ đang tự chơi khăm mình. “Nhưng người Mỹ,” triết gia nhận xét, “khó lòng sẵn sàng thừa nhận rằng họ khuất phục trước những cảm xúc kiếu này.” Xem Dale T. Miller, “The Norm of Self-Interest”, American Psychologist, tập 54, số 12 (1999).
[23] Như trên, tr. 1057.
[24] Matthew 6:14-16
[25] James H. Fowler và Nicholas A. Christakis, “Cooperative Behavior Cascades in Human. Social Networks”, PNAS, tập 107, sổ 12 (2010).
[26] Đại học California, San Diego, “Acts of Kindness Spread Surprisingly Easily: Just a Few People Can Make a Diff erence”, ScienceDaily (ngày 10 tháng 3 năm 2010).
[27] Jonathan Haidt, “Elevation and the Positive Psychology of Morality”, trong C. L. M. Keyes và J. Haidt (biên tập), Flourishing: Positive Psychology and the Life Well-Lived, Hội Tâm lý học My (2003), tr. 275-89.
[28] Jonathan Haidt, “Wired to Be Inspired”, trong Dacher Keltner, Jason Marsh và Jeremy Adam Smith (biên tập), The Compassionate Instinct. The Science of Human Goodness (New York, 2010), tr. 90.
Lời khen tặng
LỜI NÓI ĐẦU
CHỦ NGHĨA DUY THỰC MỚI 01
02
03
04
CHÚA RUỒI ĐỜI THỰC 01
02
03
04
05
TRẠNG THÁI TỰ NHIÊN SỰ TRỖI DẬY CỦA HOMO PUPPY 01
02
03
04
05
ĐẠI TÁ MARSHALL VÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH KHÔNG NỔ SÚNG 01
02
03
04
LỜI NGUYỀN CỦA NỀN VĂN MINH 01
02
03
04
05
06
BÍ ẨN ĐẢO PHỤC SINH 01
02
03
04
05
SAU TRẠI TẬP TRUNG AUSCHWITZ DƯỚI TẦNG HẦM ĐẠI HỌC STANFORD 01
02
03
04
05
STANLEY MILGRAM VÀ MÁY SÓC ĐIỆN 01
02
03
04
05
CÁI CHẾT CỦA CATHERINE SUSAN GENOVESE 01
02
03
04
05
TẠI SAO NGƯỜI TỐT LẠI THA HÓA? SỰ THẤU CẢM CHE MẮT TA NHƯ THẾ NÀO? 01
02
03
04
05
QUYỀN LỰC THA HÓA NHƯ THẾ NÀO? 01
02
03
SỰ KHAI SÁNG GÂY RA NHỮNG HẬU QUẢ GÌ? 01
02
CHỦ NGHĨA DUY THỰC MỚI 01
02
03
SỨC MẠNH CỦA ĐỘNG LỰC NỘI TẠI 01
02
03
04
05
GIỐNG LOÀI HOMO LUDENS (DU HÍ NHÂN) 01
02
03
04
NỀN DÂN CHỦ TRÔNG NHƯ THẾ NÀY! 01
02
03
04
05
06
MÁ BÊN KIA THƯỞNG TRÀ VỚI NHỮNG KẺ KHỦNG BỐ 01
02
03
04
05
PHƯƠNG THUỐC TỐT NHẤT CHO SỰ THÙ GHÉT, BẤT CÔNG VÀ ĐỊNH KIẾN 01
02
03
04
05
06
KHI BINH LÍNH RA KHỎI CHIẾN HÀO 01
02
03
04
Đoạn Kết MƯỜI QUY TẮC ĐỂ SỐNG THEO
LỜI CẢM ƠN

