Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 3
KHI BINH LÍNH RA KHỎI CHIẾN HÀO
01
Ngay trước thềm Thế chiến thứ Nhất, mùa hè năm 1914, hầu hết mọi người đều nghĩ chiến tranh sẽ sớm chấm dứt. Chúng tôi sẽ được về nhà vào dịp Giáng sinh, binh sĩ nhắn với người yêu của họ. Người dân tập trung đông nghịt tại các trung tâm ở Paris, London và Berlin, hân hoan tưng bùng với chiến thắng có vẻ như trong tầm tay. Hàng triệu tân binh vừa hành quần ra chiến trường vừa hát vang những khúc ca hào hùng.
Từ đây bắt đầu: một thảm họa có ảnh hưởng lâu dài của thế kỉ 20.[1] Vì nếu không có Thế chiến thứ Nhất thì sẽ không có Thế chiến thứ Hai. Nếu không có những trận Ypres và Verdun thì không có Hòa ước Versailles, không Cách mạng Nga, không Lenin, không Stalin, không Hitler.
Vào Giáng sinh năm 1914, hơn một triệu binh sĩ đã chết. Tiền tuyến trải dài khoảng 500 dặm, từ bờ biển của Bỉ đến biên giới Pháp với Thụy Sĩ. Suốt bốn năm trường, tiền tuyến này chẳng hề suy chuyển. Ngày qua ngày, nhiều thế hệ thanh niên bị tàn sát để đổi lấy nhiều nhất là vài mẫu đất. Những gì đáng ra là một trận chiến hào hùng, với ngựa, trống và kèn lệnh, lại trở thành một cuộc tàn sát điên rồ.
Nhưng ngay cả trong những năm tháng tuyệt vọng đó, khi cả châu Âu chìm trong bóng tối, vẫn có một tia sáng nhỏ nhoi nhưng sáng rõ. Tháng 12 năm 1914, thiên đường hé mở và hàng nghìn người thoáng thấy một thế giới khác hẳn. Nhất thời, họ nhận ra tất cả đều cùng ở trong thế giới này. Như những người anh em. Như những con người.
Tôi mong muốn khép lại cuốn sách của mình với câu chuyện này. Đó là vì, rất thường xuyên, chúng ta thấy mình trở lại chiến hào. Chúng ta quá dễ quên đi một điều rằng con người chỉ cách 100 thước kia cũng giống như chúng ta. Rất thường xuyên, chúng ta bắn vào nhau từ một khoảng cách – thông qua mạng xã hội hoặc các diễn đàn trực tuyến hoặc từ bất kì nơi nào chúng ta ẩn náu. Chúng ta để cho nỗi sợ hãi, sự ngu dốt, ngờ vực và định kiến biến thành những thứ dẫn dắt chúng ta, tạo ra những nét vẽ mù mờ về những người chúng ta chưa bao giờ gặp.
Nhưng có một cách thay thế. Thù ghét có thể biến thành tình bạn và những kẻ thù không đội trời chung có thể bắt tay nhau. Đó là điều chúng ta có thể tin tưởng – không phải vì chúng ta có quyền ngây thơ, mà vì thực tế điều đó đã xảy ra.
02
Đó là đêm Giáng sinh năm 1914. Một đêm quang đãng và lạnh giá. Ánh trăng soi sáng vùng đất tuyết phủ không một bóng người chia tách các chiến hào bên ngoài thị trấn La Chapelle-d’Armentieres. Bộ Tư lệnh Anh, cảm thấy bồn chồn, liền gửi một thông điệp ra tiền tuyến: “Rất có thể kẻ thù đang dự tính một cuộc tấn công vào đúng dịp Giáng sinh hoặc năm mới. Cần đặc biệt cảnh giác trong khoảng thời gian này.”[2]
Thực sự các tướng lĩnh không biết chuyện gì sắp xảy ra.
Khoảng 7 hoặc 8 giờ tối, Albert Moren thuộc Trung đoàn Nữ hoàng số 2 chớp mắt với vẻ không tin nổi. Cái gì vậy, ở phía bên kia? Những ánh sáng nhấp nháy sáng lên, lần lượt. Những ngọn đèn, anh thấy vậy, và rồi đuốc, và… những cây thông Giáng sinh? Đó là lúc anh nghe thấy bài thánh ca Stille Nacht, heilige Nacht (tạm dịch: Đêm Thánh Vô Cùng). Trước đó, chưa bao giờ bài hát mừng Giáng sinh nghe lại tuyệt vời đến vậy. Sau này, Moren kể lại: “Tôi sẽ không bao giờ quên được. Đó là một trong những sự kiện đáng nhớ trong đời tôi.”[3]
Không chịu thua kém, binh lính Anh bắt đầu hát vang bài The First Noel (tạm dịch: Noel đầu tiên). Lính Đức vỗ tay, đáp lại với bài O Tannenbaum (tạm dịch: Ôi cây thông Noel). Hai bên đối đáp qua lại một lúc, cuối cùng hai phía kẻ thù cùng nhau hát O Come, All Ye Faithful (tạm dịch: Cùng đến thờ kính Chúa) bằng tiếng Latin. “Đây thật sự là điều phi thường nhất, hai dân tộc cùng hát một bài hát ngay giữa một cuộc chiến”, tay súng Graham Williams sau này nhớ lại.[4]
Một trung đoàn đóng quân ngay phía bắc thị trấn Ploegsteert của Bỉ còn tiến xa nữa. Từ các chiến hào của kẻ thù, Hạ sĩ John Ferguson nghe thấy ai đó gọi to, hỏi xem họ có muốn một điếu thuốc lá không. “Sang đây châm lửa này,” một người lính Đức hét lớn. Vậy là Ferguson tiến thẳng ra vùng đất không người.
Sau này ông viết: “[Chúng tôi] chẳng mấy chốc trò chuyện với nhau như thể đã biết nhau từ lâu lắm rồi. Thật là một cảnh tượng độc đáo – từng nhóm nhỏ lính Đức và Anh tỏa ra gần như hết chiều dài tiền tuyến! Từ trong bóng tối, chúng tôi nghe rõ tiếng cười và nhìn thấy những que diêm lóe lên […] Ở đây, chúng tôi cười đùa và trò chuyện với những người chỉ vài tiếng trước chúng tôi vẫn còn cố gắng giết hại.”[5]
Sáng hôm sau là ngày Giáng sinh, những người lính can đảm nhất lại vượt ra khỏi chiến hào. Đi bộ qua hàng dây thép gai, họ tiến tới để bắt tay kẻ thù. Rồi họ vẫy tay ra hiệu với những người vẫn còn ở phía sau. Leslie Walkington thuộc đơn vị Súng trường Nữ hoàng Westminster kể lại với giọng xúc động: “Tất cả chúng tôi reo hò và rồi chúng tôi ào hết ra giống như những cổ động viên xem bóng đá.”[6]
Người ta trao đổi quà. Phía Anh tặng sôcôla, trà và bánh pudding; phía Đức chia sẻ xì gà, dưa bắp cải và rượu schnapps. Họ bông đùa và chụp ảnh nhóm như thể đó là một dịp đoàn tụ lớn, vui vẻ. Nhiều trận bóng đá được tổ chức, sử dụng mũ sắt làm cọc cầu môn.[7] Một trận có kết quả 3-2 nghiêng về Đức, trận nữa lại nghiêng về Anh, 4-1.
Ở miền Bắc nước Pháp, khu vực Tây Nam làng Fleurbaix, hai phe đối đầu tổ chức một lễ an táng chung. Trung úy Arthur Pelham-Burn viết: “Phía Đức tập hợp ở một bên, bên kia là quân Anh, các sĩ quan đứng phía trước, tất cả để đầu trần.”[8] Khi đồng đội được đặt xuống đất yên nghỉ – những binh lính bị hỏa lực kẻ thù sát hại – họ cùng nhau hát Thánh vịnh 23 bằng tiếng Anh và tiếng Đức (The Lord is my Shepherd và Der Herr ist mein Hirt – tạm dịch: Chúa chăn nuôi tôi), giọng họ hòa vào nhau.
Tối hôm đó, có những bữa tiệc Giáng sinh ở nhiều nơi ngoài mặt trận. Một người lính Anh thấy mình được hộ tống đến một hầm rượu phía sau phòng tuyến Đức, nơi anh và một người lính Bavaria mở một chai Veuve Clicquot 1909. Hai người trao đổi địa chỉ và hứa gặp nhau ở London hoặc Munich sau khi chiến tranh kết thúc.
Bạn thấy khó mà tin được những chuyện này nếu không có bằng chứng phải không? Có rất nhiều câu chuyện bằng chứng từ những người lính mà chính bản thân họ cũng chẳng dám tin.
Oswald Tilley phấn khích kể với cha mẹ mình trong một bức thư: “Cha mẹ có nghĩ được rằng, trong khi cha mẹ đang ăn thịt gà tây, thì con ở ngoài chiến trường nói chuyện và bắt tay với những người con cố gắng hạ sát vài giờ trước đó! Thật đáng kinh ngạc!”[9] Trung úy Đức Kurt Zehmisch cũng liên tục phải véo mình: “Thật tuyệt vời và lạ lùng làm sao, nhờ bóng đá và Giáng sinh […] những kẻ tử thù lại tìm đến nhau như những người bạn.”[10]
Hầu hết lính Anh đều sửng sốt khi thấy người Đức thân thiện làm sao. Trước đó, họ bị kích động bởi bộ máy tuyên truyền và tin tức bịa đặt trên nhiều tờ báo. Hơn 40% báo chí lưu hành bị kiểm soát bởi một người: Huân tước Northcliffe, ông trùm trong giới truyền thông của thời đó. Ông hoàn toàn thao túng dư luận. Người Đức bị khắc họa như những kẻ man rợ hung bạo đi khắp nơi xiên trẻ sơ sinh vào lưỡi lê và treo cổ các giáo sĩ lên chuông nhà thờ.[11]
Không lâu trước khi chiến tranh nổ ra, thi sĩ Đức Ernst Lissauer đã viết ca khúc Bài thánh ca căm thù nước Anh để cạnh tranh với bản quốc ca. Hàng triệu học sinh Đức thuộc nằm lòng bài hát đó. Báo chí Đức cho rằng người Pháp và Anh là những kẻ vô thần đến mức còn không mừng kính lễ Giáng sinh nữa.
Binh sĩ Đức ăn mừng Giáng sinh trong chiến hào. Daily Sketch, tháng 1 năm 1915. Nguồn: Getty.
Ở đây, một lần nữa, lại có một khuôn mẫu rõ ràng. Khoảng cách đến tiền tuyến càng xa thì sự thù ghét càng lớn. Ở hậu phương – trong các cơ quan chính phủ và tòa soạn báo, trong các phòng khách và quán rượu – thái độ thù hận đối với kẻ thù rất lớn. Nhưng ngay tại chiến hào, những người lính lại rất hiểu nhau. Trong một bức thư gửi về nhà, một người lính đã viết: “Sau cuộc trò chuyện giữa chúng tôi, tôi thật sự nghĩ rất nhiều bài báo của chúng ta hẳn đã phóng đại một cách thái quá.”[12]
Suốt một thời gian dài, sự kiện đình chiến dịp Giáng sinh năm 1914 được xem như một câu chuyện hoang đường. Chẳng khác nào một câu chuyện cổ tích tình cảm, hay tệ hơn: lời dối trá từ những kẻ phản bội. Sau kì nghỉ, chiến tranh lại tiếp diễn. Thêm hàng triệu binh sĩ bị giết, và những gì thực sự đã diễn ra vào dịp Giáng sinh đó ngày càng trở nên khó tin.
Mãi cho tới khi bộ phim tài liệu của BBC phát hành năm 1981 Peace in No Man’s Land (tạm dịch: Hòa bình ở vùng đất không người) thì chúng ta thực sự mới thấy rõ rằng câu chuyện này không chỉ là vài lời đồn thổi. Đến hai phần ba chiến tuyến của Anh đã ngừng bắn vào dịp Giáng sinh đó. Hầu hết các câu chuyện được kể lại đều liên quan đến những người Đức đã thể hiện thiện chí với người Anh (việc này cũng diễn ra dọc chiến tuyến Bỉ và Pháp). Tất cả đều kể, hơn một trăm nghìn binh sĩ đã buông vũ khí.[13]
Thực tế, hòa bình dịp Giáng sinh năm 1914 không phải là một trường hợp cá biệt. Chuyện tương tự cũng diễn ra trong Nội chiến Tây Ban Nha và Chiến tranh Boer. Nó cũng từng xảy ra trong Nội chiến Mỹ, Chiến tranh Crimea và trong các cuộc chiến tranh thời Napoleon. Nhưng không ở đâu lan rộng và bất ngờ như Giáng sinh đó tại Flanders.
Đọc hết những lá thư của binh lính, một câu hỏi liên tục vang lên trong đầu tôi: nếu những người này – bị mắc kẹt trong một cuộc chiến kinh hoàng đã cướp đi một triệu sinh mạng – có thể bước ra khỏi chiến hào của họ, vậy thì điều gì ngăn chúng ta, ở đây và lúc này làm điều tương tự?
Chúng ta cũng đang bị những kẻ thích thù ghét và mị dân đẩy tới chỗ bạo lực và thù ghét lẫn nhau. Các tờ báo từng lan truyền những câu chuyện về những con người man rợ khát máu, giờ lại đưa tin về những cuộc xâm lược của những người nước ngoài trộm cắp, những di dân giết người, những kẻ tị nạn cưỡng hiếp, những đối tượng – rất đáng chú ý – vừa đánh cắp công ăn việc làm lại vừa biếng nhác, trong khi tìm cách áp chế những truyền thống và giá trị lâu đời của chúng ta trong thời gian rảnh rỗi của họ.
Đây chính là cách một lần nữa sự thù ghét được bơm vào xã hội. Thủ phạm lần này không chỉ là báo chí, mà còn là các blog và những dòng tweet, những lời dối trá được lan truyền trên mạng xã hội cùng những trò chơi khăm trực tuyến độc hại. Những người kiểm chứng sự thật giỏi nhất dường như cũng bất lực trước những nọc độc này.
Nhưng sẽ ra sao nếu nó cũng hiệu quả theo cách khác? Sẽ sao nếu bộ máy tuyên truyền không chỉ reo rắc bất hòa mà còn có thể kéo mọi người trở lại bên nhau?
03
Colombia, 2006 – Carlos Rodriguez và Juan Pablo García làm việc ở MullenLowe, một đơn vị quảng cáo toàn cầu hàng đầu. Họ chủ yếu thực hiện những quảng cáo thức ăn cho mèo hoặc cố gắng bán cho khách hàng một nhãn hiệu dầu gội mới. Nhưng vào ngày đặc biệt đó, công ty nhận được một đề nghị khác thường.
Khách hàng là bộ trưởng bộ quốc phòng Colombia. Và công việc? Ông ấy muốn công ty quảng cáo cuộc chiến chống lại FARC, lực lượng du kích lâu đời nhất ở châu Mỹ Latin. Chính phủ muốn tấn công quân du kích bằng cách “tiếp thị du kích”✻.
Đến thời điểm đó, cuộc chiến ở Colombia đã kéo dài hơn 50 năm và lấy đi khoảng 220.000 sinh mạng. Quân đội Colombia, các nhóm bán quân sự cánh hữu, và các phong trào du kích như FARC đều phạm những tội ác chiến tranh kinh khủng nhất. Cả một thế hệ lớn lên không hề biết đến hòa bình. Và đến giờ quân đội nhận ra rằng một thế lực hung bạo sẽ chẳng bao giờ giành được phần chiến thắng trong cuộc chiến.
Những nhân viên truyền thông ở MullenLowe tiếp nhận yêu cầu của bộ trưởng và tiếp cận nó như cách họ vẫn làm với bất kì công việc nào, bằng cách phỏng vấn những người của FARC. Trong hơn một năm, công ty đã phỏng vấn gần 100 cựu chiến bính FARC. Các nhà nghiên cứu cố gắng xác định những gì khiến họ chạy vào rừng sâu, và những gì giữ chân họ ở đó. Kết luận của họ sau mọi cuộc phỏng vấn đều như nhau: đây là những người đàn ông và phụ nữ bình thường.
Những người nổi dậy đều có nhu cầu, ước mơ và khao khát như tất cả chúng ta. “Một khi bạn thật sự hiểu rằng họ không phải là lính du kích, mà chỉ là những con người, thì cách giao thiệp hoàn toàn thay đổi”, sau này Carlos giải thích.[14] Thực tế, các nhà tư vấn đi đến cùng những kết luận giống hệt như Morris Janowitz, nhà tâm lý học đã phỏng vấn hàng trăm tù binh chiến tranh Đức trong Thế chiến thứ Hai (xem Chương 10). Carlos và Juan nhận ra rằng thay vì tấn công vào hệ tư tưởng FARC, bộ máy truyền thông nên nhắm gần hơn nữa đến quê hương của các du kích.
Cùng với nhiều điều khác, nhóm phát hiện ra rằng con số đào ngũ hằng năm luôn đạt đỉnh vào cùng thời điểm: Giáng sinh. Có vẻ giống như bất kì mọi người khác, những du kích thường về nhà vào những ngày nghỉ lễ. Vì thế ý tưởng Carlos và Juan đề xuất với sếp của họ rất đơn giản: “Có lẽ chúng tôi điên khùng, nhưng ngài sẽ nói gì nếu chúng tôi đặt một cây thông Giáng sinh ngay giữa rừng?”[15]
Chiến dịch Giáng sinh bắt đầu vào tháng 12 năm 2010.
Trong bóng đêm, hai nhóm đặc nhiệm trên những chiếc trực thăng Black Hawk bay sâu vào lãnh địa của kẻ thù. Ở đó, họ thả 2.000 bóng đèn Giáng sinh lên những cái cây cao hơn 20 mét ở chín địa điểm chiến lược. Trên những “cây thông Giáng sinh” này họ gắn những máy dò chuyển động và những biểu ngữ sáng lên mỗi khi có người đi qua.
Trên biểu ngữ ghi: “Nếu Giáng sinh có thể vào tận rừng sâu, thì bạn có thể về nhà. Hãy giải ngũ. Vào dịp Giáng sinh, mọi chuyện đều có thể.”
Chiến dịch đã cực kì thành công. Chỉ trong vòng một tháng, 331 lính du kích từ bỏ chiến đấu. Nhiều người nói các cây thông Giáng sinh đã giúp họ làm được những điều đó. Một binh lính kể lại: “Chỉ huy của chúng tôi không hề tức giận. Khác xa với những chiến dịch được tuyên truyền trước đây… ông ấy xúc động.”[16]
Trong khi đó, nhóm MullenLowe tiếp tục phỏng vấn những người nổi dậy cũ. Đây là cách họ biết được rằng mặc dù gần như tất cả những người nổi dậy đều biết về các cây Giáng sinh, nhưng hầu hết họ không nhìn thấy nó. Đó là vì FARC có xu hướng đi lại bằng xa lộ của rừng – dòng sông. Và điều đó gợi cảm hứng cho ý tưởng tiếp theo của những người làm truyền thông.
Chiến dịch Những dòng sông ánh sáng khởi động vào tháng 12 năm 2011. Những người Colombia sống gần các dòng sông và là nguồn tuyển mộ chính cho FARC được đề nghị viết cho anh chị em, con trai, con gái và bạn bè họ, những người đã tham gia quân đội nổi dậy. Thông điệp của họ: Hãy về nhà, chúng tôi đang đợi mọi người.
Những bức thư và món quà nhỏ này được nhét bên trong 6.823 quả bóng nổi – những món đồ trang trí Giáng sinh trong suốt – sau đó được thả xuống sông. Ban đêm, những bóng đèn nhỏ xíu bên trong các quả bóng làm cho dòng sông nhấp nháy như thể được thắp sáng bởi những ngôi sao trôi vào lãnh thổ kẻ thù. Kết quả? Thêm 180 người nổi dậy nữa buông vũ khí, trong đó có một chuyên gia chế tạo bom của FARC.
Và cứ như vậy. Năm sau là Chiến dịch Bethlehem. Trong quá trình phỏng vấn, Carlos và Juan biết rằng quân du kích thường bị mất phương hướng trong rừng. Thậm chí nếu họ muốn về nhà, không phải lúc nào họ cũng tìm được đường về. Vậy là công ty quảng cáo đã thả hàng nghìn bóng đèn nhỏ từ trực thăng quân sự xuống. Họ cũng dựng những cột mốc khổng lồ trên mặt đất và chiếu những quầng sáng xuyên lên bầu trời được nhìn thấy trong phạm vi nhiều dặm. Quân nổi dậy tìm đường ra khỏi rừng bằng cách nhìn lên trời, như những người chăn cừu đi theo ngôi sao Bethlehem.
Tiếp theo nhóm quyết định mang “đại bác” ra.
Nếu có một thứ quân du kích nhớ đến, những người ở MullenLowe phát hiện ra, đó là mẹ họ. Từ cơ quan tình báo Colombia họ có được danh sách những người phụ nữ có con tham gia FARC. Một số người đã hơn 20 năm không được nhìn thấy con cái mình. Carlos và Juan hỏi xin họ những tấm ảnh thời niên thiếu của những người nổi dậy, và nhóm đặt những bức hình này (chỉ chính những du kích trong ảnh mới nhận ra bản thân họ) trong những khu vực rừng nơi FARC đang chiến đấu. Những bức ảnh đều có chú thích đơn giản: “Trước khi là lính du kích, con là con của mẹ.”
Một thắng lợi nữa, thuyết phục 218 người con lầm lỡ trở về nhà với cha mẹ.[17] Một khi đã đoàn tụ với gia đình, họ được ân xá và gửi tới các chương trình tái hòa nhập để giúp họ học một nghề phù hợp và tìm một công việc mới. Bí mật đằng sau toàn bộ chiến dịch này là gì ư? Những người nổi dậy không bị xem như những con quái vật, mà như những người bình thường. Juan giải thích: “Chúng tôi không tìm kiếm một tên tội phạm mà một người con bị lạc trong rừng.”[18]
Toàn bộ sự hào phóng này xuất phát từ đâu? Tại sao những người nổi dậy lại được ân xá rồi đào tạo và có việc làm? Làm thế nào những người Colombia tìm được điều đó trong chính bản thân họ và dám bỏ lại quá khứ cùng với tất cả những điều đã xảy ra.
Khi tôi đưa ra những câu hỏi này với Jose Miguel Sokoloff, sếp của Juan và Carlos ở MullenLowe, ông ấy cười và trả lời: “Tôi nghĩ chiến dịch của chúng tôi có thể hơi phóng đại số người sẵn sàng cho những người nổi dậy một cơ hội thứ hai.”[19]
Không phải họ có nhiều lựa chọn. Công ty này đã làm ngược lại chính nghịch lý mà châu Âu gặp phải năm 1914. Bạn càng cách xa tiền tuyến, sự thù ghét càng lớn. “Những người chưa bao giờ bị chiến tranh ảnh hưởng đến là những người cứng rắn nhất,” José khẳng định. Nhưng những người thực tế bị bắt cóc, hoặc mất những người thân yêu, lại muốn để quá khứ lại phía sau.
Nhóm truyền thông quyết định tập trung vào những câu chuyện đó. Họ quyết định vờ như toàn bộ Colombia sẽ chào mừng những người nổi dậy trở về với cánh tay rộng mở, hi vọng khởi động một lời tiên tri tự hoàn thành. Và nó có tác dụng. Hàng nghìn du kích trở về nhà kể từ năm 2010, chỉ trong vài năm số lượng binh lính của FARC giảm hẳn từ 20.000 thành viên xuống còn chưa đầy một nửa con số đó.
Dĩ nhiên, cuộc ly khai này không hoàn toàn là nhờ vào các chiến dịch mà José và nhóm của ông nghĩ ra, nhưng ở Bộ Quốc phòng Colombia người ta tin rằng tuyên truyền hòa bình đóng một vai trò then chốt. Rõ ràng Bộ Tài chính cũng hài lòng không kém với kết quả, vì những bóng đèn Giáng sinh rẻ hơn rất nhiều so với bom và lựu đạn.[20]
Chiến dịch của MullenLowe đã tạo nên tác động có tính quyết định trong tiến trình hòa bình ở Colombia khởi phát vào năm 2011.[21] Vài năm sau, Tổng thống Juan Manuel Santos, ngài Bộ trưởng Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho MullenLowe khi ấy, được tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình. Sau hơn nửa thế kỉ chiến sự, xung đột đã chấm hết. Vào năm 2017, FARC giao nộp hàng nghìn vũ khí và những chiến binh cuối cùng đã được ra khỏi rừng.
Tổng thống Santos tuyên bố: “Hôm nay là một ngày đặc biệt. Là ngày đổi vũ khí để lấy lời nói.”[22]
04
Câu chuyện này không có ý nói rằng Colombia đột nhiên biến thành một kiểu vuơng quốc hòa bình nào đó. Những nhóm nổi dậy khác vẫn chiếm cứ rừng già, vì việc FARC cánh tả giải giáp đã nhường chỗ cho những lực lượng bán quân sự cực hữu và đám buôn lậu ma túy. Và không phải những vết sẹo của nửa thế kỉ đổ máu đã mờ đi hoàn toàn.
Cho dù vậy, câu chuyện của Colombia là câu chuyện của hi vọng. Những gì nhóm truyền thông Colombia chứng kiến là sức lan truyền chóng mặt của lòng tốt giống như đã nhìn thấy 100 năm trước. Khi hòa bình lan đi như một đại dịch vào Giáng sinh năm 1914, rất ít binh sĩ miễn nhiễm. Một trong những ngoại lệ hiếm hoi là một hạ sĩ 25 tuổi ương ngạnh thuộc Trung đoàn Bộ binh Dự bị Bavaria số 16, người tuyên bố rằng “những chuyện như thế không nên diễn ra trong thời chiến.” Và tên gã là Adolf Hitler.[23]
Hầu hết các quân nhân khác đều nhớ đến sự kiện đình chiến trong dịp Giáng sinh đó như một điểm nhấn trong cuộc đời họ. Liên tiếp chính những người lính gần nơi chiến sự nhất lại dám ra ngoài trước tiên. Từ đó tinh thần bằng hữu lan tỏa khắp trên chiến trường cho tới khi nó lây lan tới cả các đại úy, thiếu tá và đại tá.
Chỉ có những chỉ huy cao nhất kháng cự, các đại tướng đích thân ra mặt để chấm dứt đại dịch hòa bình. Ngày 29 tháng 12, Bộ Tư lệnh Lục quân Đức ra một mệnh lệnh cấm ngặt việc kết thân với kẻ thù. Tiếp theo, một vị chỉ huy của Anh yêu cầu mọi biểu hiện thân thiện phải chấm dứt.[24] Bất kì ai bất tuân sẽ bị đưa ra tòa án binh.
Những năm sau, các chỉ huy quân sự chuẩn bị kĩ hơn. Đến Giáng sinh năm 1915, Bộ Tư lệnh của Anh đã ra lệnh bắn phá các vị trí chiến lược ngày đêm để dập tắt bất kì thứ tình cảm nào nhen nhóm vào dịp Giáng sinh. Trung úy Wyn Griffith thuộc Trung đoàn bộ binh Hoàng gia xứ Wales viết rằng họ đã nhận được “nghiêm lệnh […] Chúng tôi phải duy trì tinh thần căm hận, phải đáp trả bất kì hành động tiến tới nào bằng đạn chì.”[25]
Nếu cục diện tùy thuộc vào những người lính thì chiến tranh đã kết thúc từ sau Giáng sinh 1914. Một thiếu tá Anh tuyên bố: “Nếu chúng tôi được hành động tùy ý mình thì sẽ không bao giờ có thêm một phát súng nào nữa.”[26]
Hàng nghìn binh sĩ đã cố gắng hết sức để duy trì hòa bình. Những lá thư được bí mật gửi qua chiến tuyến. Một đơn vị Pháp viết thư gửi một đơn vị Đức: “Ngày mai đến phiên gác, một vị tướng sẽ đến thăm vị trí của chúng tôi […] chúng tôi sẽ phải nổ súng đấy.” Một tiểu đoàn Anh nhận được lá thư tương tự từ phía Đức: “Chúng tôi sẽ vẫn là đồng chí của các bạn. Nếu chúng tôi buộc phải bắn, chúng tôi sẽ bắn lên cao.”[27]
Binh sĩ ở một số địa điểm dọc chiến tuyến tìm cách kéo dài việc ngừng bắn hàng tuần liền. Việc đình chiến tiếp tục xảy ra, bất chấp mọi giải pháp áp chế. Khi xảy ra một vụ binh biến giữa một nửa các sư đoàn Pháp vào năm 1917, quân Đức thậm chí còn không nhận ra bất kì điều gì bất thường. Họ cho rằng binh sĩ Pháp chỉ tuân thủ thỏa thuận ngầm kéo dài việc không nổ súng.[28]
Suốt cuộc chiến, hòa bình chực chờ bùng nổ bất kì lúc nào. Sử gia quân sự Tony Ashworth mô tả Giáng sinh năm 1914 như là “sự nổi lên đột ngột của toàn bộ tảng băng chìm”.[29] Thậm chí trong thời chiến vẫn có một ngọn núi hòa bình sẵn sàng phun trào lên bất kì lúc nào. Để đẩy ngọn núi ấy chìm trở lại bên dưới bề mặt, các tướng lĩnh, chính trị gia và những kẻ hiếu chiến phải vẽ ra mọi kế sách, từ tin giả tới vũ lực. Chỉ đơn giản là con người không hề thích chiến tranh.
Điều mà tất cả chúng ta cần nhớ – kể cả tôi – là những người khác cũng giống hệt chúng ta. Cử tri giận dữ trên sóng truyền hình, người tị nạn trong số liệu thống kê, những tên tội phạm trong những bức ảnh chế, tất cả họ đều là những con người bằng xương bằng thịt, là ai đó mà nếu ở một cuộc đời khác rất có thể là bạn bè, gia đình, những người thân yêu của chúng ta. Như một binh sĩ người Anh từng nói, “họ có những người mà họ yêu thương ở nhà”.[30]
Khi chúng ta dấn thân vào chiến hào, chúng ta không nhìn thấy thực tế. Chúng ta bị lừa bởi suy nghĩ rằng một nhóm thiểu số nhỏ nhoi, thích thù hận, phản ánh toàn bộ loài người. Tương tự như một số ít những chọc ghẹo trên internet ẩn danh chịu trách nhiệm với gần như toàn bộ những lời cay nghiệt trên Twitter và Facebook vậy.[31] Và thậm chí kẻ phá bĩnh bàn phím cay độc nhất cũng có thể là một người bạn chu đáo hoặc một người đầy yêu thương.
Tin tưởng con người vốn thiện lương không phải là ủy mị hay khờ khạo. Ngược lại, tin vào hòa bình và biết tha thứ mới là người dũng cảm và thực tế. Jose Miguel Sokoloff kể về một sĩ quan thuộc một trong những đơn vị quân đội Colombia đã giúp lan tỏa thông điệp Giáng sinh của công ty truyền thông. Vài tháng sau, viên sĩ quan bị giết khi đang làm nhiệm vụ. Jose vẫn xúc động khi nhớ những gì ông học được từ người bạn của mình. Viên sĩ quan đã từng nói rằng: “Tôi muốn làm việc này, vì sự rộng lượng làm cho tôi mạnh mẽ hơn. Và nó cũng làm cho những người dưới quyền tôi trở nên mạnh mẽ hơn.”[32]
Đó là một chân lý xưa như trái đất vậy. Vì giống như tất cả những điều tốt đẹp nhất trên cuộc đời: bạn càng cho đi nhiều bạn càng có nhiều. Đó là sự thật của niềm tin và tình bạn, và đó là sự thật của hòa bình.

