Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 1
PHẦN I
1. CÔ GÁI CÓ THỊ GIÁC CỦA NGƯỜI ÂM
Chị Quan của tôi tin rằng chị có thị giác của người âm. Chị nhìn thấy những người đã khuất và hiện trú ngụ tại cõi âm, nhiều hồn ma rời chốn sương mù đến thăm căn bếp của chị trên phố Balboa ở San Francisco.
- Libby-ah, - chị bảo tôi, - em đoán xem hôm qua chị nhìn thấy ai, đoán đi.
Tôi không sao đoán ra chị nói về người chết nào.
Quan là chị cùng cha khác mẹ với tôi, nhưng tôi chẳng thấy có điểm nào chung với chị. Nói thế là sỉ nhục, như thể chị chỉ đáng được hưởng một nửa tình yêu của gia đình chúng tôi vậy. Căn cứ theo di truyền thì Quan và tôi có cùng một người cha, và chỉ thế mà thôi. Chị sinh ở Trung Quốc. Các anh em trai Kevin và Tommy, cả tôi nữa đều sinh tại San Francisco, sau khi cha tôi, Jack Diệp di tản đến đây và cưới mẹ tôi, Louise Kenfield.
Mẹ tôi tự nhận mình là “một món chả Mỹ pha trộn, vừa trắng vừa béo và rán kỹ”. Bà ra đời tại Moscow, bang Idaho, từng là vô địch chạy tiếp sức và đã có lần đoạt giải tại hội chợ tỉnh vì trồng loại khoai tây biến dị, có nét mặt nhìn nghiêng phảng phất Jimmy Durante1. Bà kể với tôi rằng bà mơ khi lớn lên sẽ khác đi - mảnh dẻ, xinh đẹp và quý phái như Luise Rainer2, người đã giành giải Oscar trong vai O-Lan phim The Good Earth. Khi mẹ tôi chuyển đến San Francisco, thay vì trở thành một Kelly3, bà làm cái việc tốt nhất: Bà lấy cha tôi. Mẹ tôi vẫn cho cuộc hôn nhân ngoài dòng dõi Anglo đã biến bà thành người tự do. “Hồi Jack và tôi gặp nhau”, - bà vẫn kể với mọi người, - “có nhiều luật chống lại các cuộc hôn nhân pha trộn. Chúng tôi đã phá luật vì tình yêu”. Bà phớt lờ không nói rằng các luật ấy không áp dụng ở California.
Không người nào trong chúng tôi, kể cả mẹ tôi, gặp Quan, cho đến khi chị mười tám tuổi. Thực ra, mẹ tôi còn không biết Quan tồn tại, mãi cho đến khi cha tôi sắp mất vì suy thận. Khi cha tôi qua đời, tôi chưa tròn bốn tuổi. Nhưng tôi vẫn còn nhớ nhiều khoảnh khắc với ông. Ngã từ đường trượt xoáy vào vòng tay ông. Lội vào vũng tìm đồng xu ông tung xuống. Ngày cuối cùng tôi nhìn thấy ông là trong bệnh viện, những điều ông nói làm tôi hoang mang trong nhiều năm.
Kevin lên năm cũng ở đó. Tommy còn quá bé nên ở ngoài phòng đợi với Betty Dupree, em họ của mẹ tôi - chúng tôi phải gọi là dì Betty - cũng chuyển từ Idaho đến. Tôi ngồi trong cái ghế bọc nylon nhớp nháp, ăn bát dâu tây Jell-O4 trong suất ăn trưa của cha cho tôi. Ông ngóc đầu dậy trên giường, thở nặng nhọc. Mẹ tôi khóc một chút, rồi cố làm ra vẻ vui. Tôi cố nghĩ xem có chuyện gì. Việc tiếp theo tôi nhớ là cha tôi nói thì thào, còn mẹ tôi cúi gần ông, lắng nghe. Miệng bà cứ há to, to mãi. Rồi bà quay ngoắt đầu sang tôi, mặt bà méo đi kinh hoàng. Tôi cũng phát hoảng. Sao cha tôi lại biết? Sao cha phát hiện ra sáng hôm ấy tôi đã xua mấy con rùa của tôi - Slowpoke và Fastpoke - vào toilet? Tôi muốn xem trông chúng như thế nào khi không có mai, rồi cuối cùng kéo bật đầu chúng.
- Con gái anh? - Tôi nghe thấy mẹ nói. - Mang nó về?
Tôi chắc ông bảo mẹ tôi đưa tôi đến khu nhốt gia súc, y như ông đã làm với con chó Buttons của chúng tôi sau khi nó gặm chiếc sofa. Những việc tôi còn nhớ sau đó rất lộn xộn: bát Jell-O đổ xuống sàn; mẹ tôi nhìn trừng trừng vào một tấm ảnh; Kevin vồ lấy nó và cười, rồi tôi thấy tấm ảnh đen trắng ấy chụp một cô bé gầy giơ xương, tóc lởm chởm. Đúng lúc đó, tôi nghe thấy mẹ tôi quát:
- Olivia, đừng cãi nhau nữa, các con phải về ngay.
Tôi khóc:
- Nhưng con sẽ ngoan mà.
Ngay sau đó, mẹ tôi tuyên bố:
- Cha sắp bỏ chúng ta.
Bà cũng bảo chúng tôi là sắp đưa một đứa con gái khác của cha từ Trung Quốc đến sống ở nhà chúng tôi. Mẹ không bảo mang tôi đi nhốt nhưng tôi vẫn khóc, tin rằng mọi thứ có liên quan mơ hồ - những con rùa không đầu xoáy tít rồi rơi xuống toilet, cha tôi sắp bỏ chúng tôi, một đứa con gái khác sắp thế chỗ tôi. Tôi đâm sợ Quan trước khi gặp chị.
Năm lên mười, tôi được biết những quả thận của cha tôi đã giết ông. Mẹ kể cha tôi bẩm sinh có bốn quả thận thay cho thông thường chỉ có hai, và tất cả đều có tật. Dì Betty có ý kiến về chuyện này. Dì luôn luôn có ý kiến, thường lấy từ nguồn như Weekly World News. Dì nói có khi cha tôi là cặp song sinh người Xiêm. Nhưng trong dạ con, cha tôi khỏe hơn người anh em sinh đôi nên đã ăn nghiến người yếu hơn và nuốt cả hai quả thận thừa. “Nhỡ ông ấy có hai quả tim, hai dạ dày, ai mà biết được”. Dì Betty luôn bắt kịp các hiện tượng đương thời mà tạp chí Life đưa tin kèm ảnh cặp song sinh ở Nga. Tôi đã xem bài này: Hai cô bé, Tasha và Sasha, dính nhau ở hông, quá xinh đẹp đến mức thương tâm, không thể coi là quái vật được. Chuyện này xảy ra vào giữa những năm sáu mươi, khi tôi đã học phân số. Tôi còn nhớ đã ước giá chúng tôi có thể đổi Quan lấy hai cô bé song sinh kia. Như thế tôi sẽ có hai chị em cùng cha khác mẹ tương đương với một trọn vẹn, và tôi hình dung tất cả bọn trẻ con trong khu nhà sẽ ra sức thành bạn chúng tôi, mong được xem chúng tôi nhảy dây hoặc nhảy lò cò.
Dì Betty cũng được biết về việc sinh ra Quan, chẳng có gì thương tâm mà chỉ bối rối. Dì nói, trong chiến tranh, cha tôi là một sinh viên đại học ở Quế Lâm. Ông hay mua năm con ếch để nấu bữa tối cho một cô gái tên là Lý Trân, bán hàng ngoài chợ. Sau này ông lấy Lý Trân, và năm 1944 họ sinh hạ một cô con gái, chính là Quan, cô bé gầy nhom trong ảnh.
Dì Betty cũng có ý kiến về cuộc hôn nhân này:
- So với đàn ông Trung Hoa, cha cháu là người điển trai. Cha cháu là người có học. Ông nói tiếng Anh như dì và mẹ cháu vậy. Tại sao cha cháu lại cưới một cô gái quê tầm thường? Vì ông phải cưới, vậy thôi. - Khi đó tôi đã đủ lớn để hiểu phải cưới nghĩa là gì.
Năm 1948, người vợ đầu của cha tôi mất vì bệnh phổi, có lẽ là lao. Cha tôi đến Hồng Kông tìm việc làm. Ông để Quan lại cho cô em vợ Lý Bân Bân chăm sóc, bà sống ở một ngôi làng nhỏ miền núi tên là Xướng Miên. Lẽ tất nhiên, cha tôi gửi tiền đỡ đần họ, ông không làm thế sao được? Nhưng năm 1949, Đảng Cộng sản tiếp quản toàn cõi Trung Hoa và cha tôi không thể trở về đón đứa con gái mới lên năm. Cha tôi còn có thể làm gì hơn? Lòng nặng trĩu, cha tôi bỏ đi Mỹ, bắt đầu một cuộc đời mới và quên nỗi buồn ông để lại đằng sau. Mười một năm sau, lúc hấp hối trên giường bệnh, hồn ma của người vợ đầu hiện lên ở cuối giường.
- Anh hãy nhận lại con gái của anh đi! - Bà ta đe, - Nếu không, anh phải gánh chịu hậu quả sau khi chết!
Đấy là câu chuyện cha tôi nói trước khi nhắm mắt, nhiều năm sau dì Betty kể vậy.
Nghĩ lại, tôi có thể hình dung mẹ tôi cảm thấy ra sao khi nghe lần đầu. Một người vợ khác? Một đứa con gái ở Trung Quốc? Chúng tôi là một gia đình kiểu Mỹ hiện đại. Chúng tôi nói tiếng Anh. Chúng tôi ăn món Tàu nhưng là đồ bán sẵn, y như những người khác. Chúng tôi sống trong một ngôi nhà theo kiểu nông trại ở thành phố Daly. Cha tôi làm việc trong Cục Kiểm toán Nhà nước. Mẹ tôi đến dự các cuộc họp của Hội Phụ huynh. Trước kia, bà chưa bao giờ nghe cha tôi nói đến chuyện mê tín của người Trung Quốc. Thay vào đó, cha mẹ tôi đi lễ nhà thờ và mua bảo hiểm nhân thọ.
Sau khi cha tôi mất, mẹ tôi kể với mọi người ông đối xử với bà “hệt như một bà hoàng Trung Hoa”. Trước nấm mồ cha tôi, kiệt sức vì mệt mỏi, bà đã hứa với Thần thánh đủ điều. Theo lời dì Betty, tại tang lễ, mẹ tôi đã thề không bao giờ tái hôn. Bà thề sẽ dạy dỗ chúng tôi, những đứa con của bà để rạng danh dòng họ Diệp. Bà thề sẽ tìm ra Quan, đứa con đầu lòng của cha tôi và đưa nó sang Mỹ.
Song, bà chỉ giữ được lời hứa cuối cùng.
***
Mẹ tôi hay khổ sở vì lòng tốt, và càng tệ thêm vì những hành động tự nguyện thiếu suy nghĩ, thay đổi theo mùa. Một mùa hè, bà là mẹ đỡ đầu cho Hội Giải cứu của Yorshire; làm ngôi nhà nồng nặc mùi nước đái chó. Hai mùa Giáng sinh, bà nấu ăn cho những người vô gia cư ở phòng ăn nhà thờ St. Anthony; hiện giờ bà đi Hawaii với bạn trai hiện tại của bà. Bà truyền bá những lá đơn thỉnh cầu, quyên góp quỹ, phục vụ trên tàu cho nhiều nhóm y tế khác. Trong lúc nhiệt tình của bà là thành thật, rốt cuộc - mà thường là thế - nó cạn kiệt và bà lại bắt tay vào việc mới. Tôi ngờ rằng bà nghĩ đến Quan như một nhà nghiên cứu thị trường chứng khoán nước ngoài, bà sẽ tiếp đón cô Lọ Lem Trung Quốc một năm rồi cô ta sẽ phải tự túc, tiếp tục cuộc sống tuyệt vời kiểu Mỹ.
Thời gian trước khi Quan đến, mẹ tôi là người cổ vũ, tập hợp các anh em trai của tôi và tôi để đón mừng người chị lớn sắp bước vào đời chúng tôi. Tommy còn quá bé, nó chẳng làm gì ngoài việc gật đầu mỗi khi mẹ nói:
- Con có vui vì có một người chị nữa không?
Kevin chỉ nhún vai và có vẻ chán ngán. Tôi là người duy nhất nhảy cẫng lên như một tân binh hăng hái, một phần vì tôi sướng mê khi biết Quan chỉ là người thêm vào chứ không phải là thay thế tôi.
Dù là một đứa trẻ cô độc, tôi vẫn thích có một con rùa hoặc một con búp bê mới hơn là một người sẽ tranh giành sự ân cần đã chia sẵn của mẹ tôi, bắt tôi san sẻ những món quà xoàng xĩnh của bà. Khi nhớ lại việc này, tôi biết mẹ yêu tôi, nhưng không trọn vẹn. So với khoảng thời gian bà dành cho người khác - kể cả những người hoàn toàn xa lạ - tôi thấy mình như đang trượt xa xuống các bậc thang yêu thương, bị va mạnh và bầm dập. Bà luôn dành nhiều chỗ trong đời cho các cuộc hẹn hò với đàn ông hoặc ăn trưa với những người được gọi là cùng hội. Với tôi, bà là người không đáng tin cậy. Những lời hứa dẫn tôi đi xem phim hay đến bể bơi công cộng dễ dàng bị xoá bỏ, nại cớ hay quên và tệ hơn, là các biến thể thầm của lời nói có nghĩa là: “Tao ghét khi mày hờn dỗi, Olivia”. Có lần bà bảo tôi:
- Mẹ không hứa chắc chắn sẽ đến câu lạc bộ bơi với con. Mẹ chỉ nói là mẹ thích thế.
Tôi cãi sao được khi nhu cầu của tôi ngược với ý định của bà?
Tôi hiểu rằng muốn cho mọi việc không tồi tệ, tôi phải gói ghém kỹ những hy vọng của mình và đặt chúng lên một cái giá thật cao, ngoài tầm với. Rồi tự nhủ là bên trong đó chẳng có gì hết, tôi tránh xa những vết thương thất vọng sâu sắc. Nỗi đau không tệ bằng một lời chỉ trích day dứt tâm can. Mỗi lần nghĩ đến việc này, tôi lại đau đớn. Khi còn là một đứa trẻ, làm sao tôi đã biết lẽ ra tôi đáng được yêu thương hơn? Rằng mọi người sinh ra đều có nguồn cảm xúc vô tận?
Lẽ tất nhiên, tôi chẳng muốn Quan là chị tôi. Chỉ là kẻ đối lập. Chính vì thế trước mặt mẹ, tôi cố hết sức tỏ ra sốt sắng. Nó là một dạng méo mó của lý luận nghịch đảo: Nếu hy vọng không bao giờ thành sự thực, hãy mong đó là thứ bạn không muốn.
Mẹ tôi bảo người chị ấy là bản sao lớn hơn của tôi, dịu dàng và xinh đẹp, chỉ Trung Quốc hơn mà thôi, và có thể giúp tôi làm mọi trò ngộ nghĩnh. Thế là tôi hình dung không phải một người chị mà là tôi khác, lớn hơn tôi, nhảy múa và mặc quần áo bó sát người, có một cuộc sống buồn nhưng lôi cuốn, nhìn nghiêng giống Natalie Wood5 trong phim Câu chuyện phương Tây6 tôi xem hồi lên năm. Chỉ đến bây giờ, tôi mới hiểu ra cả mẹ và tôi đều bắt những hy vọng của mình khuôn theo các nữ diễn viên, nói những lời chẳng phải của họ.
Một đêm, trước khi ấn tôi vào giường, mẹ hỏi tôi có muốn cầu nguyện không. Tôi biết cầu nguyện là nói những lời hay ho mà người khác muốn nghe, như mẹ tôi vẫn làm. Vì thế tôi cầu Trời và Chúa Jesus phù hộ cho tôi trở thành người tốt. Rồi nói thêm tôi mong chị tôi sớm đến, vì mẹ tôi đã bảo vậy. Khi tôi nói “Amen”, tôi thấy mẹ khóc và mỉm cười hãnh diện. Dưới sự giám sát của mẹ, tôi bắt đầu thu thập quà mừng Quan. Khăn quàng dì Betty cho tôi nhân dịp sinh nhật, nước hoa mùi cam tôi được cho dịp Giáng sinh, kẹo Halloween nhớp nháp - tôi trìu mến xếp các thứ linh tinh, cũ kỹ vào một cái hộp mẹ tôi đề “Tặng chị lớn của Olivia”. Tôi tin mình đã thành người tốt đến mức mẹ tôi sớm nhận ra chúng tôi không cần người chị nào khác nữa.
Sau này, mẹ tôi kể với mấy anh em tôi bà đã khó nhọc ra sao mới tìm được Quan.
- Hồi ấy, - bà nói, - các con chưa thể viết nổi một bức thư, dán nổi một con tem gửi đến Xướng Miên. Mẹ đã phải trải qua hàng đống tệ nạn quan liêu và điền vào hàng chục thứ đơn từ. Chẳng mấy ai bỏ công giúp một người rời đất nước cộng sản. Dì Betty cho mẹ là đồ điên! Dì bảo: “Sao chị có thể nhận một đứa con gái sắp trưởng thành, chẳng nói được một từ tiếng Anh? Nó sẽ chẳng biết trái, phải hoặc tốt, xấu gì hết.”
Giấy tờ không phải là trở ngại duy nhất Quan phải vượt qua một cách vô ý thức. Hai năm sau khi cha tôi mất, mẹ tôi lấy Bob Laguni, người mà Kevin gọi là “cơ may trong lịch sử hẹn hò người nước ngoài nhập cư của mẹ chúng ta, vì mẹ tưởng Laguni là người Mexico chứ không phải người Ý”. Mẹ đổi theo họ của Bob, vì thế mấy anh em tôi có họ là Laguni, sau này khi lấy Simon, tôi sung sướng đổi thành họ Bishop. Vấn đề là Bob chẳng bao giờ muốn Quan đến. Còn mẹ tôi luôn đặt mong muốn của ông ta lên trên của mọi người. Sau khi họ ly dị - hồi đó tôi đang ở trường đại học - mẹ kể với tôi rằng ngay từ trước khi cưới, Bob đã ép mẹ hủy việc làm giấy tờ cho Quan. Tôi thì cho là bà có ý định ấy rồi quên. Nhưng đây là lời mẹ bảo tôi:
- Mẹ đã quan sát con cầu nguyện. Trông con dịu dàng và buồn bã lúc cầu Chúa: “Xin Người mang chị con từ Trung Quốc đến cho con”.
Khi Quan đến nước này, tôi sắp lên sáu. Chúng tôi đợi chị ở khu vực hải quan của sân bay San Francisco. Dì Betty cũng ở đó. Mẹ tôi bồn chồn và kích động, bà nói không ngừng:
- Này các con, nghe nào, chắc là chị sẽ bẽn lẽn, vì thế các con đừng có nhảy bổ vào chị… Chắc chị nó gầy guộc như cái cọc giàn, thế nên mẹ không muốn bất cứ đứa nào chế nhạo chị…
Cuối cùng, khi nhân viên hải quan dẫn Quan vào hành lang nơi chúng tôi đang đợi, dì Betty chỉ tay và nói:
- Nó kia kìa. Tôi bảo đấy chính là nó.
Mẹ tôi lắc đầu. Người này trông như một bà già quái đản, thấp và mập mạp, chẳng giống đứa trẻ bơ vơ đói khát như mẹ hình dung hoặc như người chị đang tuổi thanh xuân, đẹp quyến rũ trong đầu tôi. Chị mặc đồ bộ màu nâu xám, bộ mặt to, rám nắng đóng khung bằng hai bím tóc dày.
Quan chẳng có vẻ gì bẽn lẽn. Chị buông cái túi, vẫy vẫy hai cánh tay, gào to:
- Hall-oo! Hall-oo! - Vừa hét toáng lên vừa cười, chị nhảy nhót và kêu ré lên y như con cún mới mua của chúng tôi thường làm, mỗi khi chúng tôi thả nó ra ngoài garage. Con người hoàn toàn xa lạ này lao vào vòng tay mẹ, rồi vào vòng tay dượng Bob. Lúc nhìn thấy tôi, chị nín lặng, ngồi xổm trên sàn hành lang và chìa tay ra. Tôi nắm lấy tà váy mẹ.
- Đấy là chị con à?
Mẹ nói:
- Con nhìn này, chị có mái tóc đen, dày y như cha các con.
Tôi vẫn còn bức ảnh dì Betty chụp: Mẹ tôi tóc quăn, mặc đồ nỉ, thoáng một nụ cười mưu mô; Bob, bố dượng người Ý-Mỹ của chúng tôi có vẻ sững sờ; Kevin và Tommy đội mũ cao bồi trông ngây ngô; Quan cười toe toét, đặt tay lên vai tôi; còn tôi mặc bộ dạ hội phù phiếm, một ngón tay đút vào miệng đang gào khóc.
Tôi khóc vì ngay trước khi chụp ảnh, Quan đã cho tôi một món quà. Đó là một cái lồng nhỏ bện bằng rơm, chị rút từ trong tay áo khoác rộng thùng thình và đưa cho tôi, vẻ tự hào. Lúc giơ nó lên ngang tầm mắt và nhìn qua các nan lồng, tôi thấy một con quái vật sáu chân, màu xanh như cỏ tươi, hàm như lưỡi cưa, mắt lồi và lông mày như những ngọn roi. Tôi hét lên và quẳng cái lồng ra xa.
Ở nhà, trong căn phòng từ nay ở chung với tôi, Quan treo cái lồng nhốt con châu chấu đã bị rụng một chân. Màn đêm vừa buông, con châu chấu bắt đầu kêu rinh rích, to như chuông xe đạp báo người khác tránh đường.
Sau ngày hôm đó, cuộc sống của tôi chẳng còn như cũ. Với mẹ, Quan là một người trông trẻ khéo léo, tự nguyện, lành nghề và miễn phí. Trước khi mẹ tôi dành cả buổi chiều đến cửa hiệu làm đẹp hoặc đi mua bán với các bạn cùng hội, mẹ bảo tôi bám lấy Quan.
- Con hãy ngoan và giải thích cho chị con những gì chị ấy chưa hiểu. Con hứa chứ?
Thế là hàng ngày sau giờ học, Quan cứ bám lấy tôi và lẽo đẽo theo tôi khắp mọi nơi. Ngay từ hồi lớp một, tôi chuyên bị bẽ mặt và xấu hổ giữa đám đông. Quan hỏi tôi nhiều câu ngớ ngẩn làm bọn trẻ hàng xóm ngỡ chị rơi từ sao Hỏa xuống. Chị nói: “M&M là gì?” - “Kẹo cao su là gì?” “Thuỷ thủ Popeye7 là ai? Tại sao mất một mắt? Ông ta là kẻ cướp à?”. Ngay cả Kevin và Tommy cũng cười phá.
Có Quan, mẹ tôi có thể liên miên tuần trăng mật với Bob mà không hề áy náy. Khi thầy giáo gọi điện cho mẹ báo tin tôi bị sốt, chính Quan xuất hiện ở phòng y tế đưa tôi về nhà. Khi tôi bị ngã trong lúc trượt patanh, Quan băng bó khuỷu tay cho tôi. Chị tết tóc cho tôi. Chị gói bữa trưa cho Kevin, Tommy và tôi. Chị cố dạy tôi những bài hát ru của Trung Quốc. Chị dỗ dành tôi khi tôi rụng một cái răng. Chị lấy khăn kỳ cổ cho tôi trong lúc tôi tắm.
Lẽ ra tôi phải biết ơn Quan. Lúc nào tôi cũng phụ thuộc vào chị. Chị không thích gì hơn là ở bên tôi. Nhưng thay vào đó, phần lớn thời gian tôi bực bội với chị vì chị thế chỗ mẹ tôi.
Tôi còn nhớ ngày đầu tiên tôi đuổi Quan. Hồi đó là mùa hè, vài tháng sau khi chị tới. Quan, Kevin, Tommy và tôi đang ngồi trên bãi cỏ trước nhà, đợi xem chuyện xảy ra. Hai đứa bạn Kevin lẻn vào vườn nhà chúng tôi và vặn máy tưới. Vừa nghe thấy tiếng phì phì và tiếng nước chảy ồng ộc vào ống, mấy anh em tôi chạy biến trước khi hàng chục vòi phun bắn nước tung toé. Song Quan chỉ đứng đó, người ướt đẫm, sửng sốt thấy nhiều dòng suối phun từ dưới đất lên cùng một lúc. Kevin và các bạn rú lên cười. Tôi quát:
- Chẳng hay hớm gì.
Một trong các bạn của Kevin, một cậu lớp hai bảnh bao vốn được tất cả bọn con gái mê, bảo tôi:
- Đấy có phải là bà chị người Tàu ngu ngốc của mày không? Này Olivia, thế có nghĩa mày cũng là một ả Tàu ngớ ngẩn?
Tôi đỏ bừng mặt và hét:
- Đấy không phải chị tôi! Tôi ghét chị ta! Tôi mong chị ấy cuốn xéo về Trung Quốc!
Sau đó Tommy mách dượng Bob, dượng nói:
- Louise, em bảo con gái em thì hay hơn.
Mẹ tôi lắc đầu, vẻ buồn bã:
- Olivia, - mẹ nói, - chúng ta chưa từng ghét ai. Ghét là một từ kinh khủng. Nó làm con cũng như người khác bị tổn thương.
Cố nhiên, câu này chỉ làm tôi càng ghét Quan hơn.
Tệ nhất là tôi phải ngủ chung phòng với Quan. Ban đêm, chị thích mở toang rèm để ánh sáng của ngọn đèn đường tràn vào phòng chúng tôi, nơi có hai chiếc giường đơn giống hệt đặt sát bên nhau. Dưới “ánh trăng Mỹ đẹp đẽ” như chị gọi, Quan nói tiếng Trung huyên thuyên. Chị cứ nói trong lúc tôi giả vờ ngủ. Chị vẫn còn ba hoa khi tôi thức giấc. Chính vì thế tôi là người duy nhất trong nhà biết tiếng Trung. Quan đã nhiễm thứ tiếng đó vào tôi. Tôi hấp thu thứ ngôn ngữ của chị qua các lỗ chân lông trong lúc ngủ. Chị đã đẩy bao điều huyền bí của Trung Quốc vào đầu tôi và làm suy nghĩ về thế giới của tôi biến đổi biết chừng nào. Tôi còn có cả những cơn ác mộng bằng tiếng Trung nữa kia.
Đổi lại, Quan học tôi tiếng Anh, giờ nghĩ lại, có lẽ đấy là lý do chị chưa bao giờ nói năng cho ra hồn. Tôi không phải là một giáo viên nhiệt tình. Một lần, hồi tôi lên bảy, tôi chơi xỏ chị. Chúng tôi đang nằm trên giường, trong bóng tối.
- Libby-ah, - Quan nói. Rồi chị hỏi bằng tiếng Trung, - quả lê ngon lành chúng mình ăn tối nay, tiếng Mỹ gọi là gì?
- Nôn, - tôi nói rồi vội bịt miệng để chị không nghe thấy tiếng tôi cười khúc khích.
Chị lắp bắp cái từ mới này “nô-ô-ô-ôn”, rồi nói:
- Chà! Cái từ này nghe quá chán cho một vị ngon lành. Chị chưa bao giờ ăn một thứ quả ngon đến thế. Libby-ah, em là một cô gái may mắn. Giá như mẹ chị không chết. - Chị có thể lan man từ đề tài này sang những bi kịch trong cuộc sống trước kia của chị, chị truyền tất cả cho tôi bằng thứ tiếng Trung bí mật của chúng tôi.
Lần khác, chị quan sát tôi lựa các tấm thiếp mừng ngày Valentine chất đống trên giường. Chị đến và nhặt một tấm.
- Hình này là gì?
- Đây là trái tim. Nó có nghĩa là tình yêu. Thấy không, thiếp nào cũng có nó. Em phải tặng mỗi đứa bạn trai trong lớp một tấm. Nhưng thế không có nghĩa là em yêu hết bọn chúng nó.
Chị trở về giường và nằm xuống.
- Libby-ah, - chị nói. - Giá mẹ chị không chết vì bệnh tim.
Tôi thở dài, nhưng không nhìn chị. Lại cái chuyện này. Chị im một lát, rồi tiếp:
- Em có biết bệnh tim là gì không?
- Là gì?
- Nó hâm nóng thân thể rồi đến gia đình ta, sau đó mái nhà tranh bị thổi bay và cuốn ta đi.
- Ồ.
- Em biết không, bà không chết vì bệnh phổi, không vì các loại bệnh như thế.
Rồi Quan kể cha chúng tôi mắc loại bệnh có quá nhiều giấc mơ đẹp. Ông không ngừng nghĩ đến sự giàu sang và một cuộc sống sung túc hơn, vì thế ông biến mất, trôi giạt khỏi đời họ và giũ sạch hồi ức về người vợ và đứa con ông đã bỏ lại.
- Chị không nói cha là người xấu, - Quan thì thầm, khàn khàn. - Không phải như thế. Nhưng lòng trung thành của cha không mạnh. Libby-ah, em có hiểu trung thành là gì không?
- Là gì?
- Như thế này. Nếu em đề nghị một người chặt bàn tay để cứu em khỏi bay mất cùng mái nhà, anh ta sẽ chặt đứt cả hai bàn tay để chứng tỏ sẵn lòng làm việc đó.
- Ối.
- Nhưng cha chúng ta không làm thế. Ông đã bỏ mẹ con chị khi mẹ chị sắp có đứa con nữa. Chị không nói dối em đâu, Libby-ah, thực đấy. Khi chuyện này xảy ra, chị mới lên bốn theo tuổi Trung Quốc. Không bao giờ chị quên lúc nằm áp vào mẹ chị, xoa xoa cái bụng lùm lùm của bà. Giống như quả dưa hấu vậy, bụng bà to tướng.
Chị dang rộng cánh tay ra.
- Hồi đó, tất cả nước trong bụng bà tràn ra thành những giọt nước mắt, bà rất buồn bã. - Cánh tay Quan bỗng rơi thõng xuống cạnh sườn. - Đứa bé tội nghiệp trong bụng bà đói quá đã ăn thủng một lỗ quả tim bà, vì thế cả hai đều chết.
Tôi chắc Quan muốn ví von. Nhưng là một đứa trẻ, tôi nhìn thấy mọi chuyện chị kể rõ rành rành: những bàn tay bị chặt đứt bay khỏi ngôi nhà tốc mái, đứa trẻ mút quả tim người mẹ. Những hình ảnh trở thành ảo giác. Tôi giống đứa bé đang xem một bộ phim kinh dị, bàn tay bịt chặt lấy mắt và sợ hãi ngó qua các kẽ ngón tay. Tôi là tù nhân tự nguyện của Quan, và chị là người che chở tôi.
Cuối các câu chuyện, Quan hay nói:
- Em là người duy nhất biết đấy. Đừng kể với ai. Không bao giờ nhé. Em hứa chứ, Libby-ah?
Tôi thường lắc rồi lại gật, buộc phải trung thành vì cả đặc ân lẫn sợ hãi.
Một đêm kia, mí mắt tôi đã trĩu xuống vì buồn ngủ, chị bắt đầu kể đều đều bằng tiếng Trung:
- Libby-ah, chị phải kể em nghe chuyện này, một bí mật bị cấm. Mà giữ trong lòng lâu hơn nữa chị thấy quá nặng nề.
Tôi ngáp, mong chị hiểu ý.
- Chị có con mắt của người âm đấy.
- Mắt gì?
- Thực đấy. Chị có con mắt của người âm. Chị có thể nhìn thấy người âm.
- Chị định nói gì?
- Thế này, chị sẽ kể cho em. Nhưng trước hết, em phải hứa không bao giờ được kể với ai. Không bao giờ. Hứa nhé?
- Được. Em hứa.
- Người âm là những người đã chết.
Tôi trố mắt.
- Cái gì? Chị nhìn thấy người đã chết?... Ý chị là… những con ma?
- Đừng nói với ai nhé. Không bao giờ. Hứa đi, Libby-ah?
Tôi nghẹn thở.
- Lúc này có con ma nào ở đây không? - Tôi thì thào.
- Có chứ, nhiều lắm. Nhiều, nhiều người bạn tốt.
Tôi kéo chăn trùm kín đầu.
- Bảo họ đi đi, - tôi năn nỉ.
- Đừng sợ. Libby-ah, chui ra đi. Họ cũng là bạn em. Nhìn kìa, họ đang cười em vì em sợ quá đấy.
Tôi bắt đầu khóc. Lát sau, Quan thở dài và nói, giọng thất vọng:
- Thôi thôi, đừng khóc nữa. Họ đi rồi.
Chuyện về các bóng ma bắt đầu như thế đấy. Cuối cùng, lúc tôi thò mặt khỏi chăn, tôi thấy Quan đang ngồi rất thẳng, được ánh lấp lánh không tự nhiên của mặt trăng nước Mỹ chiếu sáng, chị nhìn chằm chằm qua cửa sổ như đang theo dõi các vị khách của chị rút vào bóng đêm.
Sáng hôm sau, tôi đến chỗ mẹ và làm việc đã hứa là không bao giờ làm: Tôi kể với bà về cặp mắt người âm của Quan.
Giờ đây khi đã trưởng thành, tôi nhận ra rằng không phải vì lỗi của tôi mà Quan phải đến bệnh viện tâm thần. Về mặt nào đấy, chính chị đã đưa mình đến đó. Hơn nữa, hồi đó tôi chỉ là một đứa trẻ lên bảy. Tôi sợ đến mất trí. Tôi phải kể với mẹ tôi những điều Quan nói. Tôi tưởng mẹ chỉ bảo chị dừng lại. Nhưng lúc đó dượng Bob phát hiện ra những bóng ma của Quan và bắt tay vào việc. Mẹ gợi ý đưa chị đến Old St. Mary xưng tội với cha cố, nhưng dượng Bob bảo không, xưng tội chưa đủ. Thay vào đó, ông tống chị vào phòng bệnh tâm thần ở Mary’s Help.
Tuần sau, khi tôi đến thăm chị, Quan thì thầm với tôi:
- Libby-ah, nghe này, chị có một bí mật. Đừng kể với ai nhé? - Rồi chị chuyển sang tiếng Trung, - Mỗi khi các bác sĩ và y tá hỏi chị nhiều câu hỏi, chị coi họ như những con ma Mỹ, chị không nhìn thấy họ, không nghe thấy họ, không nói với họ. Rồi họ sẽ biết không thể thay đổi được chị, thế là nhất định phải thả chị ra.
Tôi nhớ lại vẻ mặt chị, bất động như một con chó đá canh lâu đài.
Thật không may, cách xử thế lặng lẽ kiểu Tàu của chị dẫn tới kết quả ngược lại. Các bác sĩ tưởng Quan bị rối loạn tâm lý. Hồi đó là đầu thập niên 1960, các bác sĩ chẩn đoán chuyện ma quỷ của Quan là chứng rối loạn tinh thần nghiêm trọng. Họ cho chị sốc điện một lần, chị nói, rồi hai lần, chị khóc, thế là thỉnh thoảng lại sốc điện. Cho đến ngày nay, mỗi khi nhớ tới chuyện đó tôi lại ê buốt răng.
Lần sau đến thăm chị ở bệnh viện, chị lại giãi bày tâm sự với tôi:
- Cái chuyện sốc điện ấy làm chị ăn nói ba hoa đến mức không thể câm như hến được nữa. Chị thành một con vịt, kêu cạc-cạc-cạc! khoác lác về Cõi Âm. Có bốn con ma xấu quát: “Sao mày lại kể những bí mật của chúng tao?”. Chúng cho chị một quẻ âm-dương, ép chị rứt đi một nửa số tóc. Thế là các y tá phải cạo nốt tóc còn lại. Chị không thể ngừng nhổ tóc, cho đến khi một bên đầu chị trọc lóc như quả dưa, bên kia tóc rậm như đầu người. Bọn ma đóng dấu chị có hai bộ mặt: một trung thành, một phản bội. Nhưng chị không phải là kẻ phản bội! Nhìn chị này, Libby-ah. Mặt chị có trung thành không? Em nhìn thấy gì?
Thứ nhìn thấy làm tôi đờ người vì sợ. Tóc chị húi cua như đàn ông, nom như cắt bằng máy cắt cỏ đẩy tay vậy. Tệ hại như nhìn thấy một con vật chạy qua đường, làm ta tự hỏi trước kia có loại sinh vật này không. Ấy là chưa nói đến việc tôi biết Quan quen để tóc kiểu gì. Trước kia, tóc chị thả quá eo. Trước kia, ngón tay tôi bơi qua những sóng tóc đen, mềm mượt như sa tanh của chị. Trước kia, tôi đã vồ lấy bờm tóc của chị mà giật như giật cương con lừa và hét:
- Hí hí, Quan, kêu hí hí đi!
Chị nắm bàn tay tôi và cọ nó khắp da đầu nham nháp của chị, thì thầm kể về các bạn bè và kẻ thù ở Trung Quốc. Chị nói và nói mãi, dường như những cú sốc điện đã thổi bay bản lề của khớp hàm và chị không thể ngừng lại. Tôi sợ bị lây cái bệnh nói như điên của chị.
Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không biết vì sao Quan chưa bao giờ trách tôi chuyện xảy ra. Tôi chắc chị thừa biết tôi là kẻ gây chuyện không hay cho chị. Sau khi từ Mary’s Help về, chị cho tôi cái vòng nhận dạng bằng nhựa của chị như một thứ quà lưu niệm. Chị nói về bọn trẻ của trường Chủ nhật đến bệnh viện hát Đêm yên tĩnh, chúng đã kêu ré lên khi một ông già quát: “Câm mồm!”. Chị kể có một số bệnh nhân bị ma ám, những con ma ấy chẳng giống những người âm dễ thương mà chị biết, và thật đáng tiếc. Chưa bao giờ chị bảo:
- Libby-ah, sao em lại nói ra điều bí mật của chị?
Tôi luôn cảm thấy mình đã phản bội chị và đẩy chị đến mất trí. Tôi cũng tin những cú trị liệu bằng sốc điện cũng là lỗi của tôi. Chúng đã giải thoát mọi bóng ma của chị.
Chuyện đó xảy ra đã hơn ba chục năm, vậy mà Quan vẫn tiếc.
- Tóc tôi đẹ-ẹ-ẹp, bóng mư-ượ-ượt như thác đổ, trơn mát như con lươn đang bơi. Giờ nhìn xem. Những cú sốc điện ấy, giống như tống tôi vào một ngôi nhà xấu xí vĩnh cửu, đựng đồ rẻ tiền quá lâu. Tất cả màu sắc lộng lẫy đã cháy hết rồi. Sự mềm mại bị gãy khúc. Tóc tôi giờ cứng như thép, đâm nhói tận óc, chẳng còn nói chuyện với cõi âm được nữa! Họ làm thế với tôi, chà chà, mà tôi vẫn không thay đổi. Thấy chưa? Tôi vẫn khoẻ mạnh.
Quan nói đúng. Khi mọc lại, tóc chị lởm chởm và cứng như lông chó sục8. Lúc chị chải đầu, các sợi tóc kêu lách tách và dựng đứng, tua tủa như dây tóc bóng đèn bị cháy. Quan giải thích:
- Các thứ điện bác sĩ phóng vào não tôi, nay chạy khắp người như ngựa chạy quanh đường đua.
Chị khẳng định đấy là lý do bây giờ chị không thể đứng cách ti-vi khoảng một mét. Chị không dùng chiếc Walkman chồng chị tặng; chị phải tiếp đất cho radio bằng cách đặt nó dựa vào đùi chị, nếu không thì không sao chỉnh được sóng, chị chỉ nghe thấy “tiếng nhạc khủng khiếp, bùm-pa-pa, bùm-pa-pa”. Chị không thể đeo bất cứ loại đồng hồ nào. Chị nhận giải thưởng trò chơi một chiếc đồng hồ kỹ thuật số, sau khi chị đeo, các con số bắt đầu biến đổi như các quả trong máy giật xèng ở sòng bạc. Hai giờ sau, đồng hồ chết. - Tôi vớ bở, - chị thuật lại, - Tám - tám - tám - tám - tám. Những con số may mắn, cái đồng hồ chết tiệt.
Mặc dù Quan không được đào tạo về kỹ thuật, chị vẫn có thể xác định rất nhanh và chính xác chỗ hỏng trong mạch, không chỉ ở ổ cắm trên tường mà còn ở ánh nhấp nháy lúc chụp ảnh. Chị đã làm thế với vài thiết bị của tôi. Tôi đây, một nhà nhiếp ảnh quảng cáo chuyên nghiệp, còn chị chỉ biết đặt tay lên nút và bấm. Vậy mà chị có thể tìm ra bộ phận chuyên dụng của máy ảnh, cáp hoặc bộ pin bị trục trặc, và sau đó, khi tôi gửi máy đến Cal Precision ở Sacramento để sửa, tôi thấy chị đoán trúng phóc. Tôi cũng đã thấy chị tạm thời kích hoạt một máy điện thoại không dây bị tắt chỉ bằng cách ấn ngón tay vào nút sạc ở đằng sau. Chị không thể cắt nghĩa bất cứ điều gì, cả tôi cũng vậy. Tôi chỉ có thể nói rằng, tôi đã nhìn thấy chị làm những việc này.
Khả năng kỳ lạ nhất của chị là chẩn đoán các loại bệnh tật. Bắt tay người lạ, chị có thể nói ngay họ từng bị gãy xương dù đã được chữa lành từ nhiều năm trước. Chị nhận biết ngay tức thì người bị viêm khớp, gân, viêm bìu, đau thần kinh tọa - chị rất giỏi mọi loại bệnh về cơ xương - mà chị gọi là “xương đang cháy”, “cánh tay bị sốt”, “khớp tồi”, “cẳng chân cong queo”, chị bảo mọi thứ bệnh đó đều do ăn đồ nóng và lạnh với nhau, chị đếm được những điều bất ưng trên ngón tay bạn, đầu bạn lắc lư quá nhiều vì ân hận, hoặc những mối lo âu ẩn chứa giữa quai hàm và nắm tay của bạn. Chị không thể chữa cho bất kỳ ai ngay lập tức; chị không đến Động Lourdes9. Nhưng nhiều người nói chị chỉ cần chạm vào cũng chữa khỏi. Giống các khách hàng của chị ở Spencer, chị làm việc tại cửa hàng dược phẩm gần Castro. Đa số những người đến lấy đơn tại đây là dân đồng tính nam, chị gọi họ là “những chàng độc thân”. Vì chị làm ở đó đã hơn hai chục năm, chị chứng kiến một số khách hàng lâu dài của chị bị nhiễm AIDS. Lúc họ vào, chị xoa bóp vai cho họ và khuyên:
- Các cậu vẫn uống bia, ăn đồ cay? Cùng một lúc? Chà! Tôi biết nói gì bây giờ? Làm thế sao khỏe được? Hả?
Chị làm như họ là những cậu bé hư, quấy nhiễu. Một số khách của chị ngày nào cũng ghé đến, dù họ có thể được chữa miễn phí tại nhà. Tôi hiểu vì sao. Khi chị đặt bàn tay lên chỗ đau của bạn, bạn có cảm giác râm ran, một ngàn nàng tiên đang nhảy múa lên xuống, rồi sau đó giống như luồng nước ấm chảy khắp các huyết quản. Bạn không khỏi nhưng cảm thấy giải toả được lo âu, người dịu đi, như đang bập bềnh trên biển lặng.
Có lần Quan bảo tôi:
- Sau khi chết, những anh chàng người âm này vẫn đến thăm chị. Họ gọi chị là lương y Quan. Tất nhiên là đùa thôi. - Rồi chị bẽn lẽn nói thêm bằng tiếng Anh, - Cũng có thể vì kính trọng. Em nghĩ sao, Libby-ah?
Chị thường hỏi tôi câu đó:
- Em nghĩ sao?
Trong gia đình tôi, không ai nói đến những khả năng khác thường của Quan. Sự chăm chút của Quan đến mọi thứ bị coi là dở người, theo chuẩn mực của Trung Quốc lẫn San Francisco. Nhiều điều chị nói và làm đã tăng thêm tính cả tin của những người phần lớn không dùng thuốc tâm thần hoặc sinh sống tại các nông trại có thờ cúng.
Nhưng tôi không cho chị tôi là điên. Hoặc nếu có thế, chị cũng thực sự vô hại, nếu người ta không lợi dụng chị quá mức. Chị không cầu kinh trên vỉa hè như gã nọ ở phố Market, gào lên rằng California bị kết tội, sẽ trượt vào lòng đại dương như một đĩa trai sò. Chị không đầu cơ trục lợi về Thời đại Mới, bạn không phải trả chị trăm rưởi một giờ để nghe chị tiết lộ những điều sai trái của bạn trong quá khứ. Chị sẽ nói với bạn miễn phí dù bạn không yêu cầu.
Phần lớn thời gian, Quan giống như mọi người khác, đứng xếp hàng mua hàng giảm giá, tính đếm từng thắng lợi nho nhỏ.
- Libby-ah, - chị nói trong cuộc điện đàm sáng nay, - hôm qua chị mua giày giảm giá, mua một tặng một ở Emporium Capwell. Thử đoán xem chị đỡ phải trả bao nhiêu tiền. Đoán đi.
Nhưng Quan rất kỳ cục, chị không khai thác loanh quanh. Thỉnh thoảng tính ấy làm tôi thích thú. Đôi khi nó làm tôi bực mình. Thông thường hơn, tôi bối rối hoặc tức tối, không phải với Quan mà vì có nhiều việc không bao giờ như ta mong. Sao tôi lại có Quan làm chị? Sao chị lại có tôi?
Thỉnh thoảng, tôi tự hỏi nếu chị bình thường hơn, mọi sự giữa Quan và tôi sẽ ra sao. Rồi tôi lại nghĩ, ai mà biết thế nào là bình thường? Có khi ở nước khác, Quan được coi là bình thường. Biết đâu ở nơi nào đó tại Trung Quốc, Hồng Kông hoặc Đài Loan, chị được kính trọng cũng nên. Biết đâu trên thế giới này có một nơi mà ai cũng có một người chị có thị giác của người âm.
* * *
Hiện giờ Quan đã xấp xỉ năm mươi, còn tôi trẻ hơn mười hai tuổi, một điểm mà chị hãnh diện nhắc tới mỗi khi có người lịch sự hỏi trong chúng tôi, ai nhiều tuổi hơn. Trước mặt người khác, chị thích bẹo má tôi và nhắc nhở da tôi đang “nhăn” vì tôi hút thuốc lá, uống quá nhiều rượu vang và cà phê - những thói quen xấu mà chị không có. “Không nghiện thì không cần ngăn chặn”, chị thích câu châm ngôn ấy. Quan không sâu sắc cũng chẳng tinh tế; mọi việc cứ hiển hiện ngay trên bề mặt, ai cũng nhận thấy. Có điều là, chưa từng có ai đoán chúng tôi là chị em.
Có lần Kevin đùa, có lẽ những người Cộng sản đã gửi nhầm cho chúng tôi một đứa trẻ, họ tưởng người Mỹ chúng tôi thấy người Trung Quốc ai ai cũng giống nhau. Nghe thấy thế, tôi mơ có ngày chúng tôi nhận được một bức thư từ Trung Quốc viết: “Xin lỗi các vị. Chúng tôi đã nhầm”. Về nhiều mặt, Quan chẳng bao giờ ăn nhập với gia đình tôi. Bức ảnh Giáng sinh hàng năm trông cứ như câu đố trẻ con: “Ảnh này có gì sai?”. Năm nào, Quan cũng đứng hàng trước và ở giữa, mặc quần áo mùa hè màu sắc rực rỡ, cài nơ con bướm bằng nhựa ở hai bên đầu, cười ngớ ngẩn rộng đến mang tai. Cuối cùng, mẹ tôi tìm cho Quan việc phụ hầu bàn trong một nhà hàng Trung-Mỹ. Mất một tháng Quan mới nhận ra món ăn họ dọn là đồ ăn Tàu. Thời gian chẳng có tác dụng gì đến việc Mỹ hóa chị hoặc làm chị giống cha chúng tôi.
Trong khi đó, người ta bảo tôi giống ông nhất, cả về nhân dạng lẫn tính cách.
- Xem kìa, Olivia ăn bao nhiêu cũng chẳng lên được một gam, - dì Betty nói mãi. - Y hệt Jack.
Có lần mẹ tôi bảo: “Olivia cứ phân tích từng chi tiết cho đến chết. Nó có khả năng kế toán y như bố nó. Chẳng có gì lạ khi nó thành nhà nhiếp ảnh”. Những lời nhận xét ấy làm tôi tự hỏi gien nào của cha đã truyền sang tôi. Tôi đã thừa hưởng của ông tính kín đáo, thích ăn quả chấm muối, hay sợ vi trùng?
Ngược lại, Quan là một máy phát điện bé xíu, chỉ cao mét rưỡi, vụng về. Mọi thứ về chị đều ầm ĩ và loảng xoảng. Chị mặc áo khoác kẻ ô đỏ tía ra ngoài quần chẽn màu lam. Chị thì thào rất to bằng giọng khàn khàn như thể bị viêm thanh quản kinh niên, trong khi chị chẳng bao giờ ốm đau. Chị ban phát những lời khuyến cáo về sức khoẻ, giới thiệu các loại thảo dược và phát biểu ý kiến về cách sửa chữa mọi thứ, từ cái tách đến cuộc hôn nhân tan vỡ. Chị nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác, khuyên đến những nơi mua được giá hời. Có lần Tommy nói Quan tin vào tự do ngôn luận, tự do giao thiệp, khu vực rửa xe miễn phí. Hơn ba chục năm, sự thay đổi duy nhất trong tiếng Anh của Quan là tốc độ nói. Song chị tưởng tiếng Anh của chị cừ lắm. Chị hay sửa cho chồng.
- Không phải là stealed, - chị bảo George, - mà là stolened 9.
Dẫu mọi sự khác biệt rành rành giữa chúng tôi, Quan tưởng chị và tôi giống nhau lắm lắm. Theo chị, chúng tôi gắn bó bằng sợi dây rốn Trung Quốc khổng lồ, nó đã cho chúng tôi có cùng những đặc điểm bẩm sinh, động cơ cá nhân, số phận và sự may rủi như nhau.
- Tôi và Libby-ah, - chị nói với những người mới quen, - chúng tôi giống nhau ở đây này. - Rồi chị vỗ vào một bên đầu tôi, - Cả hai cùng tuổi Thân. Ai nhiều tuổi hơn? Các vị đoán xem. Ai nào? - Rồi chị áp má chị vào má tôi.
Quan chưa bao giờ phát âm đúng tên tôi, Olivia. Với chị, tôi luôn là Libby-ah, không phải Libby đơn giản như tên loại nước ép cà chua, mà là Libby-ah, giống tên đất nước của Muammar Qaddafi10. Rốt cuộc chồng chị, George Lôi, hai con riêng của anh trong cuộc hôn nhân đầu tiên, cả họ nhà anh đều gọi tôi là Libby-ah. Chữ “ah” làm tôi hết sức bực mình. Nó tương đương với chữ “này” trong tiếng Trung, kiểu như “Này, Libby, lại đây”. Một hôm tôi hỏi Quan liệu chị có thích tôi giới thiệu với mọi người chị là “Này, Quan” không. Chị đập vào cánh tay tôi, cười ngặt nghẽo rồi nói khàn khàn:
- Chị thích, chị thích chứ.
Như vô số thứ tương tự về mặt văn hoá, đã là Libby-ah thì cứ là Libby-ah mãi mãi.
Tôi không nói tôi không yêu quý Quan. Làm sao lại không yêu chị gái của mình kia chứ? Về nhiều khía cạnh, chị đối với tôi như một người mẹ, còn hơn cả mẹ đẻ của tôi. Tôi thường cảm thấy rất tệ vì không muốn gần gũi với chị. Ý tôi là, chúng tôi gần gũi trong cách nói năng. Chúng tôi biết nhiều điều về nhau, phần lớn qua các câu chuyện, ở chung phòng, dùng chung kem đánh răng, sáng sáng cùng uống thứ bột ngũ cốc trong suốt mười hai năm, theo mọi thói quen và thông lệ hàng ngày của cùng một gia đình. Tôi thực lòng coi Quan là người dịu dàng, trung thành, quá trung thành. Chị sẽ rứt đứt tai bất kỳ ai nếu nói một lời không hay về tôi. Những việc như thế rất nhiều. Tôi chỉ không muốn gần gũi hơn với chị, không như kiểu một số chị em gái coi nhau như bạn thân. Tôi không chia sẻ mọi điều với chị như chị chia sẻ với tôi, chị kể với tôi những điều riêng tư nhất trong đời chị, ví như tuần trước chị vừa kể về chồng:
- Libby-ah, - chị nói, - chị tìm thấy cái nốt ruồi to bằng lỗ mũi chị, tròn xoe và nhăn như quả óc chó trên… em gọi cái thứ giữa đôi chân đàn ông là gì, tiếng Trung là yinnang?
- Bìu.
- Phải phải, tìm thấy một nốt ruồi to tướng trên bìu! Bây giờ ngày nào, ngày nào cũng phải kiểm tra Georgie-ah, bìu của anh ấy, để biết chắc cái nốt ruồi không to thêm.
Với Quan, không có giới hạn giữa người nhà với nhau. Mọi sự được cởi mở công khai và mổ xẻ thấu đáo: đi nghỉ tốn bao nhiêu, nước da sao lại xấu thế, vì sao trông như một con cá trong bể nhà hàng? Rồi chị băn khoăn vì sao tôi không biến chị thành một phần trong sinh hoạt xã hội của tôi. Tuy vậy, tuần nào chị cũng mời tôi ăn tối một lần, cũng như mời dự mọi cuộc họp mặt gia đình nhạt nhẽo. Tuần trước là tiệc mừng bà cô của George được nhận quốc tịch Mỹ sau năm mươi năm, đại loại thế. Quan nghĩ chỉ có một thảm họa nghiêm trọng mới tách tôi ra. Chị nói oang oang điều lo lắng:
- Sao tối qua em không đến? Có chuyện gì thế?
- Không có gì.
- Em ốm à?
- Không.
- Em có muốn chị mang cam đến cho em không? Chị có nhiều lắm, giá lại rẻ, một đôla sáu ký.
- Em khỏe, thật mà.
Chị giống một con mèo mồ côi, hết lòng quấn quýt tôi. Suốt đời tôi chị luôn là thế, bóc cam cho tôi, mua kẹo cho tôi, thán phục các phiếu thành tích học tập của tôi và khen tôi sao thông minh thế, thông minh hơn chị nhiều. Tôi chẳng phải làm gì vẫn được chị quý chuộng. Hồi còn bé, tôi thường không chịu chơi với chị. Nhiều năm sau tôi vẫn hay quát chị, bảo chị làm tôi bực mình. Tôi không thể nhớ bao nhiêu lần tôi đã nói dối để thoát khỏi sự chăm chút của chị.
Trong khi đó, chị luôn luôn hiểu những lời buột miệng của tôi là lời khuyên có ích, những lý do mơ hồ của tôi như những ý định tốt đẹp, những cử chỉ trìu mến hiếm hoi của tôi là tình chị em trung hậu. Khi không thể chịu được nữa, tôi mắng chị té tát và bảo chị là đồ điên. Tôi chưa kịp rút lại những lời gay gắt, chị đã vỗ vào cánh tay tôi, cười mỉm rồi cười vang. Vết thương chị mang tự lành ngay tức thì. Ngược lại, tôi cảm thấy mình đáng trách vĩnh viễn.
Mấy tháng gần đây, Quan ngày càng bứt rứt hơn. Thường sau lần thứ ba tôi không nói gì, là chị thôi. Hình như ký ức của chị đang tự động lên giây cót. Lúc không phát cáu vì chị, tôi lo nhỡ chị sắp có trận suy sụp thần kinh lần nữa. Kevin nói chắc là chị đang trong giai đoạn tiền mãn kinh. Nhưng tôi có thể nói còn hơn thế nhiều. Chị bị ám ảnh nhiều hơn thường lệ. Các hồn ma ngày càng hay trò chuyện hơn. Chị nhắc đến Trung Quốc hầu như trong từng câu chuyện với tôi, làm thế nào để chị trở về trước khi mọi thứ thay đổi và đã quá muộn. Quá muộn cho việc gì? Chị không biết.
Rồi đến cuộc hôn nhân của tôi. Chị không chịu chấp nhận thực tế là Simon và tôi phải chia tay. Thực ra, chị cố ý ngầm phá cuộc ly hôn. Tuần trước, tôi mở tiệc mừng sinh nhật Kevin và mời Ben Apfelbaum, người tôi đang tìm hiểu. Khi anh kể với Quan rằng anh là phát ngôn viên tài ba cho nhiều chương trình phát thanh thương mại, chị nói:
- Chà, Libby-ah và tôi cũng thế, cả hai chúng tôi đều có tài thoát khỏi tình thế tế nhị, và cũng rất tài trong lĩnh vực riêng của mình. Thật thế, Libby-ah nhỉ? - Lông mày chị nhíu lại. - Chị nghĩ là Simon chồng em sẽ đồng ý với chị.
- Sắp-là-chồng-cũ của em, - tôi phải giải thích với Ben, - kể từ bây giờ, còn năm tháng nữa, ngày mười lăm tháng mười hai, cuộc ly hôn của chúng tôi sẽ xong.
- Có khi không, có khi không, - Quan nói rồi cười và bấu cánh tay tôi. Chị quay sang Ben, - anh gặp Simon chưa?
Ben lắc đầu và mở lời:
- Olivia và tôi gặp nhau ở…
- Ôi chao, rất đẹp trai, - Quan líu lo. Chị khum bàn tay che miệng và thổ lộ, - Simon giống Olivia như anh em sinh đôi. Một nửa là người Trung Quốc.
- Một nửa là người Hawaii, - tôi nói. - Và chúng tôi không giống nhau tí nào.
- Cha mẹ anh làm gì? - Quan chăm chú nhìn chiếc áo khoác bằng hàng casơmia của Ben.
- Cả hai đã nghỉ hưu và sống tại Missouri, - Ben nói.
- Nghèo khổ11! Xì! Xì! - Chị nhìn tôi, - thế thì buồn quá.
Mỗi lần Quan nhắc tới Simon, tôi tưởng đầu tôi sắp nổ tung, tôi cố kìm để không hét lên vì giận. Chị nghĩ tôi là người đề xướng chuyện ly hôn thì cũng có thể rút lại.
- Tại sao không tha thứ? - Sau bữa tiệc, chị nói. Chị đang tỉa những bông hoa tàn của giỏ phong lan. - Bướng bỉnh và giận dữ cùng đi với nhau, rất hại cho em đấy. - Thấy tôi không nói gì, chị thử tấn công kiểu khác, - chị nghĩ là em vẫn còn tình cảm với Simon lắm! Hừ-ừ-ừ! Rất, rất mạnh nữa kia. Mà này, nhìn mặt em xem. Đỏ lựng! Cảm giác yêu đương đang ào lên từ tim em đấy. Chị đúng? Trả lời đi. Chị đúng?
Tôi vẫn lướt qua thư từ, nguệch ngoạc ĐÃ CHUYỂN ĐI trên bất cứ phong bì nào đề tên Simon Bishop. Tôi chưa bao giờ thảo luận với Quan về việc Simon và tôi tan vỡ. Chị sẽ không hiểu. Nó quá phức tạp. Tôi không viện ra bất cứ sự kiện hoặc cuộc tranh cãi nào để nói: “Đấy là lý do”. Sự tan vỡ của chúng tôi là kết quả của nhiều thứ: khởi đầu sai lầm, không đúng thời điểm, nhiều năm quen thói suy ngẫm, lúc im lặng cũng như lúc gần gũi. Sau mười bảy năm chung sống, cuối cùng tôi nhận ra tôi càng cần anh nhiều hơn trong đời bao nhiêu, hình như Simon lại càng muốn ít hơn bấy nhiêu. Chắc vì tôi yêu anh quá nhiều. Anh cũng yêu tôi, chỉ chưa đủ mà thôi. Tôi ao ước có người coi tôi là số một trong đời. Tôi không muốn nhận những đầu thừa đuôi thẹo cảm xúc nữa.
Nhưng Quan không hiểu điều đó. Chị không hiểu có người có thể làm ta đau mà không sao hồi phục nổi. Chị tin vào lời xin lỗi. Chị ngây thơ, cả tin, tin đủ thứ trên ti vi là thật. Nhìn vào nhà chị: đầy những đồ đạc - nào dao Ginsu, nào dao thái lát, dao xắt hạt lựu, máy ép, chảo rán kiểu Pháp, cứ nhắc đến tên loại gì chị mua thứ đó, vì “chỉ mất mười chín đô chín nhăm xu, đặt bây giờ là được mời chào đến tận nửa đêm”.
- Libby-ah, - hôm nay chị gọi điện cho tôi, - chị có điều này phải kể với em, những tin rất quan trọng. Sáng nay chị nói chuyện với Lão Lục. Chúng ta đã quyết định: Em và Simon không nên ly hôn.
- Hay thật, - tôi nói. - Chị đã quyết định. - Tôi đang cân đối quyển séc, cộng trừ trong lúc giả vờ nghe.
- Chị và Lão Lục. Em nhớ ông ta chứ?
- Anh họ của George, - chồng Quan hình như có họ với mọi người gốc Hoa ở San Francisco.
- Không, không! Lão Lục không phải anh họ. Sao em quên được nhỉ? Chị đã kể với em nhiều lần. Một ông già, đầu trọc lóc. Cánh tay khỏe, chân khỏe, tính nết khỏe. Có hồi lỏng cả tính, lỏng cả đầu! Chặt cụt. Lão Lục nói…
- Gượm đã. Người không đầu giờ lại bảo em phải làm gì với cuộc hôn nhân?
- Xì! Chặt cụt đầu từ hơn một trăm năm trước rồi. Giờ trông ổn lắm, không sao. Lão Lục cho rằng chị, em và Simon, cả ba về Trung Quốc, là mọi sự OK. OK, Libby-ah?
Tôi thở dài:
- Quan, bây giờ em không có thời gian nói chuyện này. Em đang dở việc.
- Lão Lục bảo không thể cân bằng sổ séc, xem còn lại bao nhiêu. Phải cân bằng cuộc đời.
Làm sao Quan biết tôi đang cân bằng sổ séc?
Quan với tôi cứ như thế đấy. Đúng lúc tôi coi thường chị, chị bèn tung ra một nhận xét sắc sảo làm tôi sợ, làm tôi lại thành thính giả bất đắc dĩ của chị. Có chị ở gần, tôi sẽ không bao giờ có cuộc sống riêng. Chị sẽ luôn luôn khẳng định tầm quan trọng của chị.
Vì sao tôi cứ là đứa em gái bé bỏng quý báu của chị mãi? Vì sao chị cứ coi tôi là người quan trọng nhất trong đời chị? - người quan trọng nhất! Vì sao thỉnh thoảng chị lại bảo dẫu chúng tôi không là chị em, chị vẫn cảm thấy như thế?
- Libby-ah, - chị bảo tôi, - chị không bao giờ bỏ em.
Không! Tôi những muốn hét lên, song tôi không làm gì hết, không nói gì hết. Vì mỗi lần nói thế, chị đã biến mọi sự phản bội của tôi thành tình yêu thương cần được đền đáp. Chúng tôi sẽ biết, vĩnh viễn: Chị là người trung thành, một ngày nào đó tôi sẽ là người như thế.
Nhưng dẫu cho tôi có chặt cả hai bàn tay cũng vô ích. Như Quan nói, chị sẽ không bao giờ bỏ tôi. Đến ngày giông gió rít lên, chị sẽ túm lấy một nắm mái rạ, chuẩn bị bay vào Cõi Âm:
- Chúng ta đi nào! Nhanh lên! - Chị sẽ thì thào át cả giông bão, - Nhưng đừng nói với ai nhé. Hứa với chị đi, Libby-ah.

