Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 2
2. NHÀ TRUYỀN GIÁO
Chưa đến bảy giờ sáng, chuông điện thoại reo. Quan là người duy nhất hay gọi vào cái giờ bất tiện này. Tôi cầm máy trả lời lên.
- Libby-ah? - Chị thì thào, - Libby-ah, em có đấy không? Chị đây…Quan đây. Chị có điều quan trọng kể với em… Em muốn nghe không?... Đêm qua chị mơ thấy em và Simon. Giấc mơ kỳ lạ. Em đến nhà băng, kiểm tra tiền tiết kiệm. Bỗng nhiên, một tên cướp nhà băng lao vụt qua cửa. Nhanh lắm! Em giấu được ví. Vì thế tên cướp lấy được tiền của mọi người, trừ em. Sau này, em về nhà, thọc tay vào ví thì… nó mất rồi! Không còn tiền, kể cả trái tim em. Bị mất cắp! Giờ em không có tim, làm sao sống được? Không còn sức sống, má nhợt nhạt, xanh xao, buồn rầu, mệt mỏi. Giám đốc nhà băng nơi em đến rút tiền, bảo: “Tôi cho cô vay tim tôi. Đừng lo. Bất cứ khi nào cô trả lại cũng được”. Em ngước nhìn và thấy mặt anh ta - em biết là ai không, Libby-ah? Em đoán xem… là Simon! Phải, cho em trái tim cậu ta. Em thấy chưa! Vẫn yêu em. Libby-ah, em có tin không? Không chỉ là mơ… Libby-ah, em có nghe chị không?
***
Nhờ Quan, tôi có tài nhớ các giấc mơ. Ngay cả hiện giờ, tôi có thể nhớ lại tám, mười, thậm chí hàng chục giấc mơ. Tôi biết khi Quan rời Mary’s Help về nhà sẽ ra sao. Tôi vừa giật mình thức dậy, chị sẽ hỏi:
- Libby-ah, đêm qua em gặp ai? Em nhìn thấy gì?
Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, tôi vồ lấy những mảnh của cõi nhân gian nhoè nhoẹt và rút vào trong đó. Từ nơi ấy, tôi tả cho chị những chi tiết của cuộc sống tôi vừa rời bỏ - những vết xước trên giày tôi, hòn đá tôi đá văng đi, bộ mặt của mẹ đẻ gọi tôi từ dưới lòng đất. Khi tôi ngừng kể, Quan hỏi:
- Trước lúc đó em đi đâu?
Kích động, tôi sẽ trở lại giấc mơ trước, rồi giấc mơ trước nữa, hàng chục người sống, thỉnh thoảng cả những người chết nữa. Những người này tôi chẳng bao giờ quên, ngay cả trước khi chết.
Suốt nhiều năm mộng tưởng, tôi đã nếm mùi tro lạnh rơi trong một đêm ẩm thấp. Tôi đã nhìn thấy hàng ngàn ngọn giáo lóe sáng như những ngọn lửa trên đỉnh đồi. Tôi đã chạm vào những hạt nhỏ xíu trên bức tường đá trong lúc đợi hành hình. Tôi đã ngửi thấy mùi nỗi sợ thơm như xạ khi sợi dây thừng xiết chặt quanh cổ. Tôi đã cảm thấy sức nặng khi bay qua không khí phi trọng lượng. Tôi đã nghe thấy tiếng cót két non nớt của tiếng tôi trước khi cuộc sống bất ngờ chấm dứt.
- Em nhìn thấy gì sau khi chết? - Quan lại hỏi.
Tôi lắc đầu.
- Em không biết. Mắt em nhắm nghiền.
- Lần sau, mở mắt ra.
Trong phần lớn thời thơ ấu, tôi cho rằng ai cũng nhớ các giấc mơ như những vật sống, như những cái tôi khác. Quan là như thế. Sau khi từ bệnh viện tâm thần về nhà, trước khi đi ngủ chị kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện về họ, những người âm; một người phụ nữ tên là Banner, một người đàn ông tên là Cape, một nữ tướng cướp chột mắt, một người lai nửa nọ nửa kia. Chị làm như những con ma ấy là bạn chúng tôi. Tôi không kể với mẹ hoặc với dượng Bob những điều Quan nói. Tôi làm thế vì nhớ chuyện xảy ra lần trước.
Khi tôi học đại học và có thể thoát khỏi thế giới của Quan thì đã quá muộn. Chị đã gieo những điều tưởng tượng của chị vào đầu tôi. Những bóng ma của chị không chịu rời các giấc mơ của tôi.
- Libby-ah, - tôi vẫn như nghe thấy Quan nói bằng tiếng Trung, - chị đã kể cho em cô Banner hứa gì trước khi chết chưa?
Tôi giả vờ ngủ.
Còn chị vẫn tiếp tục:
- Tất nhiên là chị không thể nhớ chính xác chuyện này xảy ra cách đây bao lâu. Thời gian giữa sống và chết không giống nhau. Nhưng chị nghĩ là vào khoảng năm 1864. Chị không biết chắc là năm âm lịch hay dương lịch…
Cuối cùng tôi ngủ thật, và tôi hay quên thời điểm đó trong câu chuyện của chị. Thế nên phần nào là giấc mơ của chị, phần nào là của tôi? Chúng đan xen nhau từ chỗ nào? Đêm đêm, chị kể cho tôi nghe những câu chuyện ấy. Còn tôi nằm đó, im thin thít, bơ vơ, mong chị im lặng.
Vâng, tôi chắc đó là năm 1864. Giờ thì tôi nhớ ra, vì cái năm đó nghe rất lạ lùng. Libby-ah, nghe nhé: Yi-ba-liu-si. Cô Banner bảo nghe như một câu tục ngữ: Tắt hy vọng là trượt vào cõi chết. Tôi bảo, Không, nó có nghĩa là: Nắm lấy hy vọng, thần chết sẽ ở lại chỗ cũ. Tiếng Trung vừa tốt vừa xấu, có nhiều nghĩa, tùy thuộc suy nghĩ trong lòng mỗi người.
Đằng nào thì đấy cũng là năm tôi cho cô Banner trà. Còn cô cho tôi cái hộp âm nhạc, thứ có lần tôi đã lấy trộm của cô rồi sau đó trả lại. Tôi nhớ lại đêm chúng tôi giữ cái hộp giữa chúng tôi, bên trong có mọi thứ mà chúng tôi không muốn quên. Chỉ có hai chúng tôi trong ngôi nhà của Ma Thương nhân, nơi chúng tôi sống với những người Thờ phụng Jesus sáu năm liền. Chúng tôi đứng cạnh bụi cây thiêng, chính là bụi cây có những cái lá đặc biệt tôi dùng pha trà. Lúc này bụi cây vừa bị đốn, cô Banner nói cô rất tiếc đã để Tướng Cape chặt bụi cây này. Đêm ấy nóng nực và buồn bã, nước chảy xuống mặt chúng tôi, mồ hôi và nước mắt, những con ve sầu kêu to hơn, to hơn rồi lặng ngắt. Sau đó, chúng tôi đứng trong cái cổng tò vò này, sợ đến chết. Nhưng chúng tôi cũng vui. Chúng tôi vui vì biết rằng chúng tôi bất hạnh vì cùng một lý do. Đó là năm thiên đường của cả hai chúng tôi bị thiêu rụi.
Sáu năm trước, khi gặp cô lần đầu, tôi mười bốn tuổi còn cô hai sáu, có lẽ trẻ hơn hoặc già hơn một chút. Tôi ở một nơi nhỏ bé trên Kế Sơn, phía nam làng Xướng Miên. Chúng tôi không phải người bản địa - những người Trung Hoa khẳng định dòng máu Hán chảy trong huyết quản họ, vì thế mọi thứ phải thuộc về họ. Chúng tôi cũng không phải là một trong các bộ tộc Choang hay đánh nhau, làng này đánh làng kia, phe này đánh phe nọ. Chúng tôi là Khách Gia1, dân tộc Khách - hừ! - có nghĩa là vị khách không mời mà ở lại quá lâu ở bất cứ nơi nào tốt lành. Chúng tôi sống tại một trong những ngôi nhà tạm của dân Khách Gia trong một khu vực miền núi nghèo khổ, phải trồng trọt trên các vách đá, đứng như một con dê và đào hai xe cút kít đá mới gieo được một nắm thóc.
Đàn bà làm việc quần quật như đàn ông, khuân đá đốt than, ban đêm canh giữ mùa màng khỏi bọn cướp bóc. Phụ nữ Khách Gia đều khỏe khoắn. Chúng tôi không bó chân như các cô gái người Hán, họ nhảy lò cò bằng phần chân còn lại, đen sì và thối rữa như quả chuối nẫu. Chúng tôi phải trèo đèo lội suối để làm việc, không vải bó, không giày dép. Bàn chân trần của chúng tôi dẫm lên những cây kế sắc nhọn, chính là thứ cây nổi tiếng dùng đặt tên cho quả núi của chúng tôi.
Ở vùng núi chúng tôi, một cô dâu phù hợp phải có những u chai dày trên bàn chân và bộ mặt xinh, gò má cao. Nhiều gia đình Khách Gia khác sống gần các thành phố lớn là Đông Hoàn trên núi và Kim Điền ở ven sông. Các bà mẹ trong những gia đình nghèo hơn thích tìm vợ cho con trai mình trong các cô gái xinh xắn, chăm làm ở Kế Sơn. Trong các lễ hội tìm bạn đời, các chàng trai này trèo lên những ngôi làng cao chót vót của chúng tôi, các cô gái hát những bài dân ca cổ lưu truyền từ phương Bắc hơn một ngàn năm nay. Chàng trai phải hát đối với cô gái anh ta định lấy làm vợ, phải tìm được lời thích hợp với bài ca của cô gái. Nếu giọng anh ta quá yếu, lời lẽ vụng về, không hay, cuộc hôn nhân sẽ không thành. Chính vì thế dân Khách Gia không chỉ khoẻ mạnh mà còn có giọng hay, trí tuệ minh mẫn để giành được bất cứ thứ gì họ muốn.
Chúng tôi có câu ngạn ngữ: Khi cưới một cô gái Kế Sơn, bạn đã được ba con bò: một để đẻ con, một để cày ruộng và một để cõng mẹ già của bạn. Câu đó chứng tỏ con gái Kế Sơn dẻo dai biết chừng nào. Cô gái không bao giờ phàn nàn, dù bị hòn đá bên sườn núi rơi xuống, đâm vào mắt.
Chuyện đó đã xảy ra với tôi năm tôi lên bảy. Tôi rất hãnh diện vì vết thương và chỉ khóc tí chút. Khi bà tôi khâu kín cái lỗ trước kia là mắt tôi, tôi nói hòn đá chắc là một con ngựa ma bị lỏng dây cương. Con ngựa do hồn ma trinh nữ nổi tiếng Nunumu cưỡi - chữ nu nghĩa là cô gái, numu nghĩa là nhìn chòng chọc, sắc như dao. Nunumu là Cô gái có cái nhìn Sắc như dao. Cô cũng bị mất một mắt từ hồi trẻ. Cô chứng kiến một gã bản địa ăn cắp muối của người khác, và cô chưa kịp bỏ chạy, hắn đã đâm dao găm vào mặt cô. Sau đó, cô kéo góc khăn trùm che bên mắt chột. Còn mắt kia trở nên to hơn, đen thẳm hơn, tinh như mắt cú mèo. Cô chỉ cướp đoạt của người bản địa, và khi nhìn thấy con mắt sắc như dao của cô, họ run như cầy sấy.
Toàn dân Khách Gia ở Kế Sơn ngưỡng mộ cô, không chỉ vì cô cướp bóc dân bản địa. Cô là kẻ cướp Khách Gia đầu tiên tham gia cuộc chiến giành Thái bình vĩnh cửu khi Thiên Hoàng trở lại cứu giúp chúng tôi. Mùa xuân, cô dẫn đội nữ binh Khách Gia đến Quế Lâm và bị quân Mãn Châu bắt. Sau khi chúng chặt đầu cô, môi cô vẫn cử động, nguyền rằng cô sẽ trở lại, hủy hoại một trăm thế hệ gia đình bọn chúng. Mùa hè năm ấy tôi mất một mắt. Khi tôi kể với mọi người về Nunumu phi trên con ngựa ma, họ nói đây là dấu hiệu Nunumu chọn tôi làm tín sứ như Thiên Chúa đã chọn một người đàn ông Khách Gia làm Thiên Hoàng. Họ bắt đầu gọi tôi là Nunumu. Thỉnh thoảng lúc đêm khuya, tôi tưởng như có thể nhìn thấy nàng Trinh nữ Đạo tặc, tất nhiên là không quá rõ ràng, vì hồi đó tôi chỉ có một mắt của người âm.
Sau đó ít lâu, tôi gặp người nước ngoài đầu tiên. Bất cứ khi nào người nước ngoài đến tỉnh chúng tôi, dân nông thôn - từ Nam Ninh đến Quế Lâm - đều bàn tán về họ. Nhiều người phương Tây đến buôn bán thứ bùn ngoại, thuốc phiện làm cho người nước ngoài có những giấc mơ rồ dại về Trung Hoa. Một số đến bán vũ khí - đại bác, thuốc súng, súng trường, không phải loại mới và nhanh mà là loại cũ, chậm, phải khai hỏa bằng cách châm ngòi, là những thứ còn lại của các trận chiến đã qua. Nhiều nhà truyền giáo đến tỉnh chúng tôi vì nghe đồn dân Khách Gia là những người thờ phụng Thượng đế. Họ muốn giúp chúng tôi lên thiên đường của họ nhiều hơn. Họ không hiểu rằng người thờ phụng Thượng đế không có nghĩa là người thờ phụng Jesus. Sau này tất cả chúng tôi nhận ra rằng thiên đường của chúng tôi không giống nhau.
Nhưng người nước ngoài tôi gặp không phải là nhà truyền giáo. Ông là một viên tướng người Mỹ. Dân Khách Gia gọi ông là Cape vì lúc nào ông cũng mặc áo choàng rộng không tay đã sờn, đi găng đen, ủng đen, không mũ, một chiếc áo ngoài ngắn màu xám có nhiều khuy - giống những đồng xu sáng loáng! - chạy suốt từ eo đến cằm. Trong tay ông ta bao giờ cũng có chiếc can dài bằng song, đầu bịt bạc, tay cầm bằng ngà khắc hình một phụ nữ khoả thân.
Khi ông ta đến Kế Sơn, dân từ các làng đổ xuống sườn núi và tụ tập trong một bãi đánh ki màu xanh, rộng rãi. Ông ta nghênh ngang cưỡi một con ngựa, dẫn năm chục binh lính Quảng Đông nguyên là dân chài và hành khất, nay cưỡi ngựa, mặc quân phục nhiều màu sắc, chúng tôi nghe đồn họ không phải là người Trung Hoa hoặc Mãn Châu mà là tàn binh của các cuộc chiến ở châu Phi thuộc Pháp. Binh lính hô to:
- Hỡi những người thờ phụng Thượng đế! Chúng tôi cũng là đạo hữu đây!
Một số người trong chúng tôi ngỡ Cape là Jesus hoặc giống như một người em trai khác của Thiên Hoàng. Ông ta rất cao, có bộ ria mép lớn, râu ngắn, tóc đen gợn sóng xõa xuống vai. Nam giới Khách Gia cũng để tóc dài kiểu này, không còn tết đuôi sam vì Thiên Hoàng đã cho phép dân tộc chúng tôi không phải tuân theo luật Mãn Châu. Trước kia tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người nước ngoài và không hề biết tuổi thật của ông ta. Nhưng tôi thấy ông ta già. Ông ta có nước da như củ cải đỏ, cặp mắt âm u như vũng nước nông. Mặt ông ta chỗ hóp chỗ nhọn, giống như người bị bệnh tàn phá sức khoẻ. Thỉnh thoảng ông ta mỉm cười nhưng thường hay cười to. Ông ta nói những từ khó nghe bằng giọng be be như lừa kêu. Một người đàn ông luôn đứng cạnh ông ta, làm người trung gian, dịch lời Cape nói bằng giọng tao nhã.
Lần đầu tiên nhìn thấy người trung gian, tôi nghĩ anh ta giống người Trung Hoa. Lát sau thấy giống người nước ngoài, rồi lại không phải. Anh ta như một con kỳ giông, biến màu theo lá hoặc cành cây. Sau này tôi mới biết anh ta có mẹ là người Hoa, cha là một thương nhân Mỹ. Tướng Cape gọi anh ta là Dị Ban ren, người lai nửa nọ nửa kia.
Dị Ban nói với chúng tôi rằng Cape vừa từ Quảng Châu tới, ở đó ông ta đã kết bạn với Thiên Hoàng của cuộc Cách mạng Thái bình vĩ đại. Tất cả chúng tôi ngẩn người. Thiên Hoàng là người nhà Trời, xuất thân là dân Khách Gia, được Trời chọn làm thiên tử trẻ, quý báu của Người, anh em với Chúa Jesus. Chúng tôi chăm chú lắng nghe.
Dị Ban nói, Cape là một lãnh tụ quân sự Mỹ, một nguyên soái, cấp bậc cao nhất. Dân chúng xì xào. Ông ta đã vượt biển đến Trung Hoa để giúp những người thờ phụng Thượng đế, những người theo phong trào Thái bình vĩ đại. Dân chúng hô to: “Tốt! Tốt!”. Bản thân ông ta là người thờ phụng Thượng đế, ông ta khen ngợi chúng tôi, tán thành các luật lệ của chúng tôi chống thuốc phiện, trộm cắp, chống tìm khoái lạc ở những nơi kín trên thân thể đàn bà. Dân chúng gật gù, còn tôi nhìn chằm chằm bằng một mắt vào người đàn bà khoả thân trên tay cầm chiếc can của Cape. Ông ta nói đến để giúp chúng tôi chiến thắng quân Mãn Châu, đó là một kế hoạch của Chúa Trời, được viết ra từ hơn một ngàn năm trước trong cuốn Kinh Thánh ông ta đang cầm. Dân chúng xô tới để nhìn. Chúng tôi đã biết về một kế hoạch tương tự. Thiên Hoàng đã phán bảo chúng tôi rằng, dân Khách Gia sẽ được thừa hưởng trái đất và trị vì đất nước Trung Hoa của Trời. Cape nói binh lính Thái bình vĩ đại đã chiếm nhiều thành phố, tập hợp được nhiều tiền của và đất đai. Giờ đây, cuộc chiến đã sẵn sàng chuyển lên phương Bắc, những người thờ phụng Thượng đế còn lại ở Kế Sơn nên xung vào lính của ông ta. Ông ta nói thêm rằng những người đi chiến đấu sẽ được ban thưởng hậu hĩ - quần áo ấm, ăn uống no đủ, vũ khí, sau này còn được ban phát đất đai, địa vị và phẩm trật mới, trường học và nhà cửa, đàn ông và đàn bà khác nhau. Thiên Hoàng sẽ cấp lương thực cho gia đình của họ. Lúc này, ai cũng hô lớn: “Thái bình vĩ đại! Thái bình vĩ đại!”
Rồi Tướng Cape gõ can lên mặt đất. Mọi người lại im lặng. Ông ta bảo Dị Ban cho chúng tôi thấy những món quà Thiên Hoàng phái ông ta mang đến. Những thùng thuốc súng! Nhiều bó súng trường! Những giỏ đựng quân phục châu Phi thuộc Pháp, một số bộ đã rách và dây máu. Nhưng mọi người đồng tình rằng vẫn còn tốt chán. Ai cũng bảo:
- Này, xem những cái khuy kìa, sờ vào vải này.
Hôm đó, nhiều người, cả nam lẫn nữ, gia nhập quân đội của Thiên Hoàng. Tôi thì không. Tôi quá trẻ, mới lên bảy, nên trong lòng tôi rất không vui. Nhưng khi binh lính Quảng Đông phát đồng phục, chỉ phát cho nam chứ không cho nữ, tôi không còn ấm ức như lúc trước nữa.
Đàn ông vận quần áo mới. Đàn bà kiểm tra súng trường mới và diêm để khai hỏa. Rồi Tướng Cape lại gõ can và bảo Dị Ban phát quà cho chúng tôi. Tất cả chúng tôi nhao về phía trước, háo hức muốn thấy sự bất ngờ nữa. Dị Ban mang đến một cái lồng bằng liễu, bên trong là một đôi chim bồ câu trắng. Tướng Cape tuyên bố với những người Trung Hoa hiếu kỳ rằng ông ta đã xin đức Chúa Trời ban cho tín hiệu chúng tôi sẽ là một đội quân luôn luôn chiến thắng. Chúa Trời gửi xuống đôi chim câu này. Tướng Cape nói, chim câu có ý nghĩa là chúng tôi, những người Khách Gia nghèo khổ, đói khát hơn một ngàn năm qua sẽ được Thái bình vĩ đại đền đáp. Ông ta tung chúng vào không khí và dân chúng hò reo. Họ chạy, xô đẩy nhau để bắt những con vật trước khi chúng bay xa. Một người ngã, đập vào một tảng đá. Đầu ông ta vỡ toang, óc phọt ra. Nhưng dân chúng xéo lên người ông ta và vẫn đuổi theo những con chim quý hiếm này. Một con chim bị bắt, con kia bay mất. Thế là tối hôm đó, có người được một bữa ăn.
Cha mẹ tôi đều tham gia cuộc chiến. Các chú bác, cô dì, các anh lớn của tôi, hầu như tất cả những người trên mười ba tuổi ở Kế Sơn và các thành phố bên dưới. Năm mươi hoặc sáu mươi ngàn người. Nông dân và địa chủ, người bán cháo và giáo viên, kẻ cướp và ăn mày, không chỉ người Khách Gia, cả người Dao, người Miêu, các bộ tộc Choang và cả những người bản địa nghèo. Đó là thời khắc vĩ đại cho dân Trung Hoa, tất cả chúng tôi đoàn kết lại.
Tôi ở lại Kế Sơn với bà tôi. Làng tôi là một ngôi làng đầu thừa đuôi thẹo, đầy những trẻ sơ sinh và trẻ con, người già và què quặt, người hèn và người ngu. Song chúng tôi vẫn vui vì như lời Cape đã hứa, Thiên Hoàng sẽ cho lính mang lương thực đến cho chúng tôi, nhiều loại hơn những thứ chúng tôi hình dung trong một trăm năm nay. Binh lính cũng kể cho chúng tôi nghe nhiều chiến công lớn: nào Thiên Hoàng đã thành lập vương quốc mới của Người ở Nam Kinh ra sao. Những câu chuyện về tiền bạc ê hề, nhiều hơn cả thóc gạo. Mọi người sống trong những ngôi nhà đẹp ra sao, nam ở một khu, nữ ở khu khác. Cuộc sống hòa bình là Chủ nhật đi nhà thờ, không làm việc, chỉ nghỉ ngơi và vui chơi. Chúng tôi vui sướng nghe rằng hiện giờ chúng tôi sống trong thời đại Thái bình vĩnh cửu.
Năm sau, binh lính đến cùng gạo và cá ướp muối. Năm sau nữa chỉ còn gạo. Nhiều năm trôi qua. Một hôm, một người đàn ông từng sống ở làng tôi từ Nam Kinh trở về. Ông ta nói chán chết cái Thái bình vĩnh cửu. Ông ta nói khi chiến đấu, ai cũng chịu đựng gian khổ như nhau. Nhưng khi hòa bình, những mong muốn chẳng giống nhau. Người giàu không chịu san sẻ. Người không giàu thì thèm muốn và trộm cắp. Ông ta bảo ở Nam Kinh, ai cũng tìm kiếm xa hoa, hưởng lạc, tìm chỗ kín của đàn bà. Ông ta nói hiện giờ Thiên Hoàng sống trong một cung điện lộng lẫy và có nhiều thê thiếp. Thiên Hoàng cho một người bị Chúa Thánh thần ám ảnh trị vì vương quốc. Còn tướng Cape, người đã tập hợp dân Khách Gia để đánh nhau đã theo quân Mãn Châu và hiện là kẻ phản bội, bị vàng của một chủ nhà băng Trung Hoa và cuộc hôn nhân với con gái ông ta ràng buộc. Người đàn ông trở về ấy nói rằng, luôn có quá nhiều nước mắt tuôn rơi vì đau khổ.
Chúng tôi cảm thấy thấm thía tận tâm can thực tế người ấy nói. Chúng tôi đói. Thiên Hoàng đã quên chúng tôi. Những người bạn phương Tây đã phản bội chúng tôi. Chúng tôi không còn nhận được lương thực cũng như các câu chuyện về chiến công nữa. Chúng tôi nghèo khổ. Chúng tôi không có mẹ, không có cha, không còn các trinh nữ và các chàng trai ca hát nữa. Mùa đông, chúng tôi rét thấu xương.
Sáng hôm sau, tôi rời làng và xuống núi. Tôi đã mười bốn tuổi, đủ lớn để vạch đường cho mình trong đời. Bà tôi đã mất năm ngoái, nhưng hồn ma của bà không ngăn tôi lại. Tôi nhớ hôm đó, ngày mùng Chín tháng Chín, ngày mà người Trung Hoa coi là cực tốt, ngày tôn vinh tổ tiên, song những người thờ phụng Thượng đế đã phớt lờ để chứng tỏ họ theo lịch Tây có năm mươi hai Chủ nhật, chứ không theo các ngày thiêng liêng trong niên giám Trung Hoa. Thế là tôi xuống núi, xuyên qua các thung lũng giữa các quả núi. Tôi không còn biết tin vào cái gì, vào ai nữa. Tôi quyết đợi một tín hiệu, xem có chuyện gì xảy ra.
Tôi đến một thành phố ven sông tên là Kim Điền. Tôi nói với những người Khách Gia tôi gặp, tôi là Nunumu. Nhưng họ không biết cô Trinh nữ đạo tặc kia là ai. Cô không có tiếng tăm gì ở Kim Điền. Dân Khách Gia ở đó chẳng thán phục gì con mắt của tôi là do con ngựa ma đá phải. Họ thương hại tôi. Họ để nắm cơm nguội vào tay tôi và làm như tôi là một mụ ăn mày chột. Nhưng tôi không chịu thành người họ nghĩ.
Thế là tôi lại lang thang khắp thành phố, nghĩ cách kiếm sống. Tôi đã nhìn thấy dân Quảng Châu cắt phăng đầu ngón chân, người Dao nhổ răng, người bản địa chọc kim vào các cẳng chân sưng vù. Tôi không biết gì về cách kiếm tiền từ những phần cơ thể thối rữa của con người. Tôi tiếp tục đi, đến tận bờ thấp của một con sông rộng. Tôi thấy những người dân chài Khách Gia trên các con thuyền nhỏ, quăng những cái lưới rộng xuống nước. Nhưng tôi không có lưới, không có thuyền. Tôi chưa hề biết suy nghĩ, như một con cá nhỏ tung tăng bơi lội.
Chưa kịp biết phải làm gì, chợt tôi nghe thấy nhiều người la hét dọc bờ sông. Người nước ngoài đã tới! Tôi chạy đến bến tàu và thấy hai người cu li thuyền, một người trẻ, một người già, đi trên một tấm ván hẹp, vác hòm xiểng, thùng thưa từ một con thuyền lớn xuống. Rồi tôi tận mắt nhìn thấy những người nước ngoài đứng trên boong, ba, bốn, năm người, tất cả đều vận quần áo đen sì trừ người nhỏ nhắn nhất, quần áo và tóc màu nâu bóng như con bọ dừa. Đó là cô Banner, nhưng lẽ tất nhiên lúc đó tôi chưa biết. Tôi ngắm tất cả bọn họ. Năm cặp mắt xa lạ chú mục vào những người phu thuyền trẻ và già đang cố giữ thăng bằng trên ván cầu dài, mỏng. Trên vai họ là hai chiếc đòn gánh, ở giữa cong oằn xuống dưới sức nặng của một cái rương to, treo bằng những sợi thừng bện xoắn. Bỗng, người nước ngoài mặc áo nâu bóng kia chạy xuống ván cầu - ai mà biết vì sao? - dặn dò những người phu thuyền, bảo họ cẩn thận hơn. Bất thình lình, tấm ván cầu nảy lên, cái rương lắc lư, những người phu đung đưa, còn năm người nước ngoài trên tàu bắt đầu la hét. Tới và lui, lên rồi xuống, cái nhìn của chúng tôi bám theo những người phu thuyền căng hết các cơ, còn người nước ngoài bóng loáng kia vẫy vẫy cánh tay như một con chim non. Tiếp đó, người phu già hơn ở đầu ván hét lên một tiếng chói tai - tôi nghe thấy tiếng rắc, xương vai ông ta bị gãy. Hai người cu li, cái rương và người nước ngoài kia rơi tùm xuống làn nước bên dưới.
Tôi chạy đến mép sông. Người cu li trẻ hơn đã bơi đến bờ, hai người dân chài trên con thuyền nhỏ đuổi theo vớt các thứ tràn ra khỏi rương, quần áo sặc sỡ cuồn cuộn như những cánh buồm, những cái mũ cắm lông chim lềnh bềnh như đàn vịt, những đôi găng dài chĩa ra trong nước như những ngón tay ma. Nhưng chẳng có ai thử giúp người phu thuyền bị thương hoặc người nước ngoài sáng bóng. Những người nước ngoài kia thì không rồi, họ sợ bước xuống ván cầu. Dân bản địa trên bờ cũng không nốt, nếu họ cưỡng lại số phận, họ sẽ phải chịu trách nhiệm để hai người kia không bị chìm. Nhưng tôi không nghĩ thế. Tôi là một người Khách Gia. Dân Khách Gia là người thờ phụng Thượng đế. Những người thờ phụng Thượng đế là các nhà truyền giáo. Vì thế tôi vớ một trong những cái đòn gánh bằng tre rơi xuống nước. Tôi chạy dọc bờ sông và giơ cái đòn ra, để dây rợ lòng thòng xuống nước. Người cu li và người nước ngoài vồ lấy những sợi dây bằng những bàn tay nôn nóng. Tôi cố hết sức kéo họ vào.
Ngay sau đó, những người dân bản địa gạt tôi sang một bên. Họ để người phu thuyền bị thương trên đất, thở hổn hển và nguyền rủa. Người đó là Lão Lục, sau này làm người gác cổng, từ khi bị gãy xương vai lão không làm cu li được nữa. Còn cô Banner, dân Bản địa kéo cô lên chỗ bờ cao hơn, cô hết nôn mửa lại kêu gào. Cuối cùng, khi những người nước ngoài rời thuyền, dân bản địa chen chúc quanh họ, kêu to:
- Cho chúng tôi tiền.
Một trong những người nước ngoài ném những đồng xu nhỏ lên mặt đất, nhiều người bản địa bu lại như đàn chim chộp lấy tiền rồi tản đi.
Những người nước ngoài khiêng cô Banner lên một chiếc xe ngựa, người phu thuyền gãy xương lên chiếc khác. Họ chất hòm xiểng, rương, thùng lên ba cái xe nữa. Họ lên đường đến Hội Truyền giáo ở Xướng Miên, tôi chạy theo sau. Vì thế ba người chúng tôi đến sống trong cùng một ngôi nhà. Ba số phận khác nhau cùng trôi đến dòng sông này, bện xoắn lại với nhau và rối beng như tóc một người đàn bà chết trôi.
Chuyện là thế này: nếu cô Banner không nhảy vụt lên ván cầu, Lão Lục sẽ không bao giờ bị gãy xương vai. Nếu vai lão không gãy, cô Banner không bao giờ suýt chết đuối. Nếu tôi không cứu cô Banner khỏi chết đuối, cô sẽ không bao giờ thương xót cho cái vai vỡ của Lão Lục. Nếu tôi không cứu Lão Lục, lão sẽ không bao giờ nói với cô Bannner việc tôi làm. Nếu cô Banner không biết, cô sẽ chẳng bao giờ kết bạn với tôi. Nếu tôi không trở thành bạn cô, cô sẽ không mất người đàn ông cô yêu.
Ngôi nhà của Ma thương nhân ở Xướng Miên, còn Xướng Miên cũng ở Kế Sơn, về phía bắc làng tôi. Từ Kim Điền đến đây mất nửa ngày đường. Nhưng với cả đống hòm xiểng và nhiều người rên la trên xe như thế, chúng tôi đi lâu gấp đôi. Sau này tôi biết rằng Xướng Miên có nghĩa là “bài ca không dứt”. Sau làng, trong những quả núi cao hơn có hàng trăm hang động. Khi gió thổi qua, miệng các hang réo ú!u!u! - giống tiếng các bà mẹ rền rĩ thảm thiết khi mất con trai.
Tôi ở nơi đó, trong ngôi nhà đó sáu năm liền. Tôi sống với cô Banner, Lão Lục và các nhà truyền giáo - hai nữ, hai nam, những người thờ phụng Jesus từ nước Anh. Hồi đó tôi chưa hiểu điều này. Nhiều tháng sau, khi chúng tôi đã có thể chuyện trò với nhau bằng thứ ngôn ngữ chung, cô Banner kể với tôi thế. Cô kể các nhà truyền giáo đã vượt biển đến Ma Cao, giảng đạo ở đó một thời gian rồi đến Quảng Châu, giảng một thời gian nữa. Đấy chính là nơi chúng tôi gặp cô Banner. Khoảng thời gian này, có một hiệp ước cho phép người nước ngoài được sinh sống tại bất cứ nơi nào họ thích trên đất Trung Hoa. Vì thế các nhà truyền giáo vào sâu trong đất liền, theo dòng Tây Giang đến Kim Điền. Cô Banner đi cùng họ.
Hội Truyền giáo là một biệt khu lớn, ở giữa có một sân rộng và bốn sân nhỏ hơn, ngôi nhà chính to, đẹp mắt, với ba ngôi nhà nhỏ hơn. Nhiều hành lang có mái nối mọi chỗ với nhau. Xung quanh có tường cao, tách biệt hẳn bên trong với bên ngoài. Từ hơn một trăm năm nay nơi đó chưa có ai ở. Chỉ có những người nước ngoài mới dám ở lại ngôi nhà bị nguyền rủa đó. Họ bảo họ không tin có các hồn ma Trung Hoa.
Dân địa phương bảo Lão Lục:
- Đừng sống ở đấy. Nhà ấy bị các linh hồn cáo săn đuổi.
Nhưng Lão Lục nói lão không sợ gì hết. Lão là một cu li Quảng Đông, đã mười đời làm cu li! Lão đủ sức làm việc đến lúc chết, đủ khôn ngoan để tìm ra câu trả lời cho những gì lão muốn biết. Ví dụ, nếu bạn hỏi lão phụ nữ nước người mặc quần áo gồm bao nhiêu cái, lão sẽ không đoán ra và nói khoảng hàng chục. Lúc các bà đi ăn, lão sẽ vào phòng họ và đếm từng chiếc, lẽ tất nhiên không lấy trộm cái nào. Lão kể cô Banner có hai đôi giày, sáu đôi găng, năm cái mũ, ba bộ váy dài, hai đôi tất đen, hai đôi tất trắng, hai đôi quần lót, một cái ô, bảy thứ khác trong trang phục nhưng lão không rõ nó che bộ phận nào trên người.
Qua Lão Lục, tôi nhanh chóng biết nhiều thứ về người nước ngoài. Mãi sau này lão mới kể với tôi vì sao dân địa phương cho là ngôi nhà bị nguyền rủa. Nhiều năm trước, nó là biệt thự mùa hè của một thương nhân đã chết rất bí ẩn và kinh hoàng. Sau đó, bốn bà vợ của ông ta chết hết, lần lượt từng người một, người trẻ nhất chết đầu tiên, người già nhất sau cùng, tất cả đều chết vào lúc trăng tròn từ tháng này tiếp tháng kia.
Giống như Lão Lục, tôi không dễ sợ hãi. Nhưng phải nói với Libby-ah rằng, những chuyện xảy ra ở đó năm năm sau làm chị tin hồn ma của vị thương nhân ấy đã trở về.

