Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 10

PHẦN III

10. BẾP CỦA QUAN

Quan bảo tôi đến lúc sáu rưỡi, đấy là giờ chị hay dặn, nhưng thường thì gần tám giờ chúng tôi mới bắt đầu ăn. Vì thế tôi hỏi liệu sáu rưỡi bữa tối đã thực sự sẵn sàng chưa, nếu không tôi sẽ đến muộn hơn vì tôi thực sự bận. Chị bảo nhất định là sáu rưỡi.

Sáu rưỡi, George trả lời cửa, mắt lờ đờ. Anh không đeo kính, mảng tóc mỏng dính của anh trông như quảng cáo sản phẩm chống bám. Anh vừa được đề bạt quản lý cửa hàng Food-4-Less ở East Bay. Khi anh mới làm việc ở đó, Quan không chú ý đến số 4 trong tên cửa hàng, dù được nhắc nhiều lần, chị vẫn gọi nó là Foodless.

Tôi thấy chị trong bếp, đang cắt chân nấm màu đen. Gạo chưa vo, tôm chưa làm. Bữa tối phải hai giờ nữa mới xong. Tôi ném thịch cái xắc lên bàn, nhưng Quan hoàn toàn mù tịt về sự cáu kỉnh của tôi. Chị vỗ vào một cái ghế:

- Ngồi xuống đây, Libby-ah, chị có chuyện phải kể với em. - Chị xắt nấm độ nửa phút rồi mới nói đến câu chuyện quan trọng của chị. - Chị đang nói chuyện với một người âm. - Lúc này chị nói bằng tiếng Trung.

Tôi thở dài thật sâu, để chị biết tôi không còn lòng dạ nào nghe chuyện của chị.

- Lão Lục, em cũng biết lão, nhưng chưa biết trong quãng đời này. Lão Lục nói em phải ở với Simon. Đây là duyên phận của em, số phận đã đưa những người tình đến với nhau.

- Sao đây là số phận của em? - Tôi bực dọc hỏi.

- Vì trong quãng đời chung sống cuối cùng của em, em đã yêu người nữa trước Simon. Sau này, Simon tin em bằng cả cuộc đời rằng em cũng yêu cậu ta.

Tôi suýt ngã khỏi ghế. Tôi chưa bao giờ nói với Quan hoặc với bất cứ ai lý do thực làm chúng tôi sắp ly hôn. Tôi chỉ nói đơn giản là chúng tôi sống ly thân. Bây giờ, ở đây, Quan nói tới chuyện này cứ như toàn thể vũ trụ - cả người chết lẫn người sống - đều biết.

- Libby-ah, em phải tin, - chị nói bằng tiếng Anh. - Đây là người bạn âm, ông ta bảo Simon đang kể thật với em. Em cứ tưởng cậu ta yêu em ít hơn, yêu cô ta nhiều hơn - không đâu! Sao em cứ nghĩ thế, luôn luôn so đọ tình yêu? Tình yêu không phải tiền nong…

Tôi giận điên lên khi nghe chị bảo vệ Simon:

- Thôi đi, Quan! Chị có nhận ra chị vớ vẩn khủng khiếp không? Nếu có ai nghe thấy chị nói thế này, họ sẽ tưởng chị điên! Nếu có ma thật, sao em chưa bao giờ nhìn thấy họ? Hãy bảo em đi, nào.

Lúc này chị đang xẻ lưng tôm, rút sợi ruột màu đen, bóc vỏ tôm.

- Có lúc em đã nhìn thấy, - chị bình tĩnh nói. - Hồi em còn bé.

- Em giả vờ đấy. Ma chỉ do trí tưởng tượng, chứ không phải từ Cõi Âm.

- Đừng gọi là “ma”. Gọi thế giống như một từ phân biệt chủng tộc. Chỉ những người âm xấu mới gọi là ma.

- À vâng. Em quên. Ngay cả người chết cũng phải chỉnh đốn về mặt chính trị. Vậy những người âm ấy trông như thế nào? Hãy bảo em. Tối nay có bao nhiêu người ở đây? Ai đang ngồi trên cái ghế này? Mao Trạch Đông? Chu Ân Lai? Hay Nữ hoàng Nhiếp chính?

- Không, không, họ không ở đây.

- Vậy hãy bảo họ ghé qua đi! Bảo họ em muốn gặp. Em muốn hỏi họ có bằng cấp tư vấn hôn nhân không?

Quan trải báo lên sàn để hứng mỡ từ lò nướng. Chị thả tôm vào chảo nóng và ngay lập tức tiếng dầu sôi xèo xèo tràn ngập căn bếp.

- Người âm muốn đến thì đến, - chị nói át tiếng ồn, - họ không bao giờ nói rõ, vì họ đối với chị như gia đình thân thiết, cứ đến chẳng cần mời. “Ngạc nhiên chưa, chúng tôi ở đây”. Nhưng phần lớn, họ đến vào bữa tối, khi một, hai món ăn nấu không ngon. Họ nói: “Chà! Đây là món cá vược, cứng quá, không bong, có lẽ nấu quá một phút. Còn món củ cải muối này không đủ cứng và giòn, phải nghe thấy tiếng lạo xạo như đi trong tuyết, mới biết là ăn được. Còn món sốt này, sì! quá ngọt, chỉ người nước ngoài thích thôi”.

Ba hoa, ba hoa, ba hoa! Thật lố lăng làm sao! Chị miêu tả chính xác chị, George và gia đình bên anh làm gì, lúc nào, loại chuyện tôi chán phè. Nó làm tôi vừa muốn cười phá vừa muốn hét lên khi nghe chị miêu tả những niềm vui của thế giới bên kia như một người nhận xét nhà hàng nghiệp dư.

Quan đổ những con tôm lấp lánh vào một cái bát.

- Hầu hết người âm rất bận, họ làm việc chăm lắm. Họ muốn thư giãn, họ đến với chị, chuyện gẫu cũng vì họ nói chị nấu ăn rất ngon. - Nom chị thiển cận và tự mãn.

Tôi thử làm Quan mắc kẹt vì cái lập luận đầy khiếm khuyết của chị:

- Nếu chị nấu ăn ngon như thế, sao họ lại hay đến phê phán kiểu nấu của chị?

Quan cau mày và bĩu môi, như thể tôi ngu mới hỏi một câu như vậy!

- Không phải là phê phán, mà chỉ là nói chuyện cởi mở, thẳng thắn như bạn thân thôi. Họ không ăn thực. Ăn làm sao được? Họ chết rồi! Chỉ ăn giả vờ thôi. Với lại, phần lớn là họ khen chị, họ bảo chưa bao giờ may mắn được ăn những món ngon như thế. Ái dà, nếu được ăn món bánh đa điểm hành lá của chị, thì có chết cũng vui. Nhưng quá muộn rồi, họ đã chết.

- Có lẽ họ nên cố mang về, - tôi càu nhàu.

Quan ngừng một lát.

- A ha ha, vui thật! Em lại đùa rồi! - Chị huých tôi. - Hư lắm nhé. Đằng nào thì người âm thích đến thăm chị, trò chuyện về cuộc đời đã qua như một bữa tiệc linh đình, nhiều, nhiều món ngon. “Ồ, - họ nói. - giờ tôi nhớ ra. Món này tôi thích, món này chưa đủ thích. Món này tôi ngốn quá nhanh. Sao tôi chưa nếm món kia nhỉ? Sao tôi lại để phần này trong đời tôi trôi qua hoàn toàn lãng phí?”

Quan ném tọt một con tôm vào miệng, đẩy nó từ má bên này sang má bên kia cho đến khi gỡ hết lớp vỏ mà không đụng đến tí tẹo nào da thịt chị. Tôi luôn ngạc nhiên vì chị có thể làm được thế. Với tôi, nó như một trò xiếc nguy hiểm. Chị chép môi hài lòng.

- Libby-ah, - chị nói và giơ cái đĩa nhỏ có những mảnh vụn màu vàng. - Em thích món sò khô không? - Tôi gật. - Cô em họ Virgie của anh Georgie gửi cho chị từ Vancouver. Sáu chục đôla nửa ký. Một số người cho rằng quá đắt nếu ăn hàng ngày. Có lẽ sau này hãy tiết kiệm thì hơn. - Chị thả những con sò vào chảo có cần tây xắt khúc. - Với chị, thời gian tốt nhất là hiện tại. Đợi thì mọi sự sẽ thay đổi. Người âm biết điều này. Họ hay hỏi: “Quan, quãng đời tốt đẹp nhất của tôi đi đâu? Tại sao phần tốt nhất hay lách khỏi các ngón tay nhanh như một con cá nhỏ?”… Libby-ah, nếm đi. Rồi bảo chị, mặn quá hay còn nhạt?

- Ngon lắm.

Chị nói tiếp:

- “Quan, - họ bảo chị, - cô vẫn còn sống. Cô có thể nhớ được. Cô có thể nhớ tốt. Hãy dạy chúng tôi làm thế nào nhớ tốt để lần sau chúng tôi nhớ ra những thứ tưởng đã quên”.

- Nhớ ra cái gì? - Tôi hỏi.

- Tất nhiên là vì sao họ muốn trở lại.

- Và chị giúp họ nhớ.

- Chị đã giúp nhiều người âm kiểu này, - chị khoe.

- Giống như Dear Abby1.

Chị đắn đo:

- Ờ, phải, giống Dear Abby. - Rõ ràng là chị hài lòng vì sự so sánh này. - Nhiều nhiều người âm ở Trung Quốc. Mỹ cũng nhiều. - Rồi chị bắt đầu đếm trên đầu ngón tay. - Đấy là viên sĩ quan cảnh sát trẻ, đến nhà chị khi chị bị mất cắp ô tô, quãng đời cuối anh ta đi truyền giáo ở Trung Quốc, hay nói “Amen, Amen”. Là cô gái xinh đẹp làm việc ở nhà băng giờ trông nom tiền nong cho chị chu đáo, còn cô nữa - cô gái kẻ cướp, một thời gian dài ngày trước cướp của những kẻ tham lam. Là Sarge, Hoover, Kirby, giờ là Bubba, con cún con, tất cả đều trung thành. Quãng đời cuối cùng họ là một người như nhau. Em đoán là ai.

Tôi nhún vai. Tôi ghét trò chơi này, cái kiểu chị hay lôi kéo tôi vào những ảo giác của chị.

- Em đoán xem.

- Em không biết.

- Đoán đi.

Tôi giơ hai tay.

- Cô Banner.

- Ha ha! Sai rồi!

- Thôi được. Bảo em đi, ai vậy?

- Tướng Cape!

Tôi vỗ trán.

- Tất nhiên, - tôi phải công nhận toàn bộ ý tưởng về con chó của tôi thành Tướng Cape khá ngộ nghĩnh.

- Giờ thì em hiểu lý do tên ban đầu của con cún là Captain, - Quan nói thêm.

- Em đặt tên ấy cho nó.

Chị lắc lắc ngón tay.

- Hạ nó xuống cấp thấp hơn. Em khôn thật, dạy cho nó một bài học.

- Dạy nó! Phù. Con cún ấy ngu lắm. Nó không ngồi, không đi, chỉ biết xin ăn. Rồi chạy mất.

Quan lắc đầu.

- Không chạy mất. Mà chạy đè lên.

- Cái gì?

- Hừm ừm. Chị nhìn thấy, nhưng không muốn nói với em, vì em còn bé. Thế là chị nói “Ôi Libby-ah, con cún chạy mất rồi”. Chị không nói dối. Nó chạy ra đường rồi bị đè lên. Tiếng Anh của chị không khá. Chạy mất, chạy đè lên, chị thấy giống nhau…- lúc Quan nói về cái chết muộn màng của con Captain, tôi thấy nhói lên nỗi buồn trẻ thơ, muốn sự vật quay trở lại, tin rằng tôi có thể thay đổi thực tế là tôi chẳng tử tế mấy với Captain, giá như tôi có thể nhìn thấy nó lần nữa.

- Tướng Cape, quãng đời cuối không trung thành, vì thế phải trở lại kiếp chó nhiều lần. Hắn đã tự chọn thế. Lựa chọn khôn ngoan. Quãng đời cuối hắn tồi tệ thế, tệ quá! Chị biết vì người đàn ông-một nửa của hắn kể với chị. Chị cũng nhìn thấy… Này, Libby-ah, huang do-zi, em thấy mầm giá đỗ này có vàng không? Hôm nay chị mới mua. Ngắt cái đuôi đi. Em thấy chỗ nào thối thì bỏ đi…

Tướng Cape, hắn cũng là đồ thối rữa. Hắn đã vứt bỏ những người khác. Nunumu ơi, tôi tự nhủ, mi giả vờ như Tướng Cape không ở đây. Mi đã phải giả vờ suốt một thời gian dài. Suốt hai tháng, Tướng Cape sống trong nhà của Ma Thương nhân. Suốt hai tháng, đêm đêm cô Banner mở cửa cho hắn vào. Trong hai tháng ấy, cô không thèm nói chuyện với tôi, như tôi không phải là người bạn trung thành của cô. Cô đối xử với tôi như với kẻ hầu. Cô chỉ vào những vết trên ngực bộ áo trắng của cô và tuyên bố tôi giặt không sạch, những vết mà tôi biết là vết ngón tay bẩn thỉu của Tướng Cape. Những ngày Chủ nhật, cô thuyết giảng đúng những lời mục sư Amen nói, không thêm thắt những câu chuyện hay. Hồi đó có nhiều thay đổi lớn.

Trong bữa ăn, các nhà truyền giáo, cô Banner và Tướng Cape ngồi ở bàn dành cho người nước ngoài. Tướng Cape an tọa đúng chỗ mục sư Amen hay ngồi. Hắn ta nói, giọng oang oang như sủa. Những người khác chỉ gật gù và lắng nghe. Nếu hắn đưa thìa súp lên môi, họ cũng đưa thìa lên. Nếu hắn đặt thìa xuống khoe khoang điều gì đó, họ đặt thìa xuống nghe thêm một lời huênh hoang.

Lão Lục, những người hầu khác và tôi ngồi ở bàn dành cho người Trung Hoa. Người đàn ông phiên dịch cho Cape bảo chúng tôi tên anh ta là Dị Ban Johnson, Johnson một nửa. Dù anh ta lai nửa này nửa kia, những người nước ngoài vẫn coi phần Trung Hoa của anh ta lớn hơn phần Johnson. Chính vì thế anh ta phải ngồi cùng bàn với chúng tôi. Ban đầu, tôi không ưa anh chàng Dị Ban Johnson này, những lời anh ta nói, nào Tướng Cape quan trọng ra sao, ông ta là anh hùng với cả Mỹ và Trung Hoa. Nhưng tôi nhận ra: những lời anh ta nói chính do tướng Cape nhồi vào miệng anh ta. Khi ngồi ở bàn chúng tôi, anh ta dùng lời của mình. Anh ta chuyện trò cởi mở với chúng tôi như người bình thường với người bình thường. Anh ta lịch sự thành thật, không giả vờ. Anh ta đùa và cười. Anh ta khen đồ ăn, không lấy hơn suất của mình.

Có lúc tôi nghĩ anh ta Trung Hoa nhiều hơn Johnson. Có lúc tôi không nghĩ anh ta trông xa lạ. Anh ta kể, cha anh ta là người Mỹ, là bạn Tướng Cape từ khi hai người còn bé. Họ cùng vào học một trường quân sự. Họ cùng bị tống đi. Johnson đến Trung Hoa cùng một công ty Mỹ buôn bán vải vóc, lụa Nam Kinh. Ở Thượng Hải, ông ta mua con gái một người hầu nghèo làm tình nhân. Khi cô ta sắp có con, Johnson bảo: “Tôi sắp trở về Mỹ, rất tiếc tôi không đưa em đi cùng tôi”. Cô ta chấp nhận số phận. Giờ cô là người tình thừa của một người nước ngoài quỷ quyệt. Sáng hôm sau, khi Johnson thức giấc, thử đoán xem ông ta nhìn thấy ai treo cổ lên cây bên ngoài cửa sổ phòng ngủ?

Những người hầu khác cắt dây đỡ cô ta xuống, quấn một mảnh vải quanh vết thương đỏ bầm ở cổ, nơi sợi dây xoắn vặn sự sống khỏi cơ thể cô. Vì cô ta tự tử nên họ không tổ chức tang lễ. Họ đặt cô vào một quan tài gỗ đơn sơ và đậy nắp lại. Đêm hôm đó, Johnson nghe thấy tiếng khóc. Ông ta dậy và vào phòng để quan tài. Tiếng khóc ngày càng to. Ông ta mở nắp và thấy một đứa bé trai nằm giữa hai chân cô tình nhân đã chết. Quanh cổ đứa trẻ, ngay dưới cái cằm bé xíu là một vết đỏ dày như một ngón tay, hình bán nguyệt của sợi dây đã giết chết người mẹ.

Johnson đưa đứa trẻ mang nửa dòng máu của ông ta về Mỹ. Ông ta dẫn đứa trẻ vào một gánh xiếc, kể cho họ nghe chuyện treo cổ, chỉ cho họ vết sẹo của sợi dây bí ẩn. Khi đứa bé lên năm, cổ nó to hơn, vết sẹo trông nhỏ hơn, chẳng ai muốn xem nếu nó không còn bí ẩn hơn. Vì thế Johnson trở lại Trung Hoa với số tiền của gánh xiếc và đứa con lai. Lần này, Johnson buôn bán thuốc phiện. Ông ta đi từ hải cảng mở này đến hải cảng mở khác. Ở mỗi thành phố, ông ta có một cơ ngơi, rồi đánh bạc hết nhẵn từng cái một. Ở thành phố nào ông ta cũng có một tình nhân, rồi lại bỏ họ. Chỉ có cậu bé Dị Ban khóc vì mất nhiều mẹ. Chính họ, những người mẹ-tình nhân ấy đã dạy cậu nhiều thổ ngữ Trung Hoa: tiếng Quảng Đông, Thượng Hải, Khách Gia, Phúc Kiến, Quan thoại. Cậu học tiếng Anh từ Johnson.

Một hôm, Johnson đụng phải người bạn cùng trường Cape giờ làm việc cho bất cứ loại quân đội nào - của Anh, Mãn Châu, Khách Gia, chẳng thành vấn đề - miễn là họ trả tiền. Johnson bảo Cape:

- Này, tôi đang mắc một khoản nợ lớn, gặp nhiều rắc rối, anh có thể cho người bạn cũ này vay ít tiền không? - Muốn chứng minh là sẽ trả nợ, Johnson nói, - Cho con tôi theo. Nó mười lăm tuổi và biết nói nhiều thứ tiếng. Nó có thể giúp việc cho anh với bất cứ đội quân nào anh chọn.

Từ ngày hôm đó, rồi suốt mười lăm năm sau, anh chàng Dị Ban Johnson thuộc Tướng Cape. Anh ta là cái giá của người cha không bao giờ trả được nợ.

Tôi hỏi Dị Ban: Hiện giờ Tướng Cape chiến đấu chống ai - người Anh, người Mãn Châu hay dân Khách Gia? Dị Ban bảo Cape chống cả ba, làm tiền của cả ba, và có nhiều kẻ thù của cả ba. Nay ông ta trốn tránh cả ba. Tôi hỏi Dị Ban có phải tướng Cape lấy con gái ông chủ nhà băng vì vàng thật không. Dị Ban nói Cape cưới con gái chủ nhà băng không chỉ vì vàng, mà vì những cô vợ bé của ông ta. Giờ ông chủ nhà băng cũng đang lùng sục Cape. Anh ta kể Cape nghiện mỏ hạt giống bằng vàng, có thể thu hoạch trong một vụ, giấu nhẹm rồi bỏ đi.

Tôi sung sướng vì tôi hiểu đúng về tướng Cape, còn cô Banner sai. Nhưng ngay sau đó, tôi phát ốm vì buồn. Tôi là người bạn trung thành của cô. Sao tôi có thể vui mừng, nhìn tên đàn ông kinh khủng kia tàn phá trái tim cô?

Lúc đó Lão Lục nói toạc ra:

- Dị Ban, sao anh có thể làm việc cho một người như vậy? Không trung thành với cả tổ quốc lẫn gia đình!

Dị Ban nói:

- Hãy nhìn tôi đây. Tôi ra đời từ một người mẹ đã chết, vì thế chẳng ai sinh ra tôi. Tôi mang dòng máu Trung Hoa và nước ngoài, nó làm tôi chẳng giống ai. Tôi thuộc về bất cứ ai, vì thế tôi chẳng thuộc về ai. Tôi có một người cha mà với ông ta, tôi chẳng bằng một nửa đứa con trai của ông ta. Giờ tôi có một ông chủ coi tôi là một khoản nợ. Hãy bảo tôi xem, tôi thuộc về ai? Đất nước nào? Dân tộc nào? Gia đình nào?

Chúng tôi nhìn vào mặt anh ta. Suốt đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy một người thông minh đến thế, buồn đến thế, xứng đáng được sở hữu đến thế. Chúng tôi không trả lời anh ta.

Đêm hôm ấy, tôi nằm trên chiếu, nghĩ đến những câu hỏi này. Đất nước nào? Dân tộc nào? Gia đình nào? Với hai câu hỏi đầu, tôi biết câu trả lời ngay. Tôi thuộc về Trung Hoa. Tôi là người Khách Gia. Nhưng với câu hỏi cuối cùng, tôi cũng như Dị Ban. Tôi chẳng thuộc về ai, chỉ thuộc về bản thân.

Hãy nhìn chị đây, Libby-ah. Hiện giờ chị thuộc về nhiều người. Chị có gia đình, chị có em… Chà! Lão Lục bảo đừng nói chuyện nữa! Ăn đi, ăn trước khi các món nguội ngắt.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.