Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 13

13. ƯỚC MƠ THIẾU NỮ

Buổi sáng đầu tiên ở Trung Quốc, tôi tỉnh giấc trong căn phòng tối om của khách sạn ở Quế Lâm và thấy một hình dáng cúi xuống giường tôi, nhìn tôi trừng trừng với cái nhìn tập trung của kẻ giết người. Tôi định hét lên thì nghe thấy Quan nói bằng tiếng Trung: - Ngủ nghiêng, nên đây là lý do tư thế của em xấu thế. Từ nay trở đi, em phải nằm ngửa mà ngủ. Cũng phải tập đấy.

Chị bật đèn đánh tách và bắt đầu trình diễn, tay chống nạnh, vặn eo như một giáo viên thể dục những năm sáu mươi. Tôi tự hỏi chị sẽ đứng bên giường tôi bao lâu, đợi tôi tỉnh để chị có thể giới thiệu lời tư vấn tự nguyện mới nhất của chị. Giường chị đã xếp dọn gọn gàng.

Tôi nhìn đồng hồ và nói, giọng cục cằn:

- Quan, mới năm giờ sáng.

- Đây là Trung Quốc. Mọi người dậy cả rồi. Chỉ có em còn ngủ.

- Không phải là tất cả.

Chúng tôi mới ở Trung Quốc chưa đầy tám giờ, mà chị đã nắm quyền điều hành cuộc sống của tôi. Chúng tôi đang ở trên đất của chị, chúng tôi phải theo các quy định của chị, nói tiếng nước chị. Chị đang trên thiên đường Trung Quốc.

Nắm lấy chăn của tôi, chị cười to:

- Libby-ah, dậy mau. Chị muốn về thăm làng chị, làm mọi người ngạc nhiên. Chị muốn Mẹ Lớn há to miệng và nói: “Này, mẹ nghĩ đã đuổi mày đi rồi. Sao mày còn trở lại?”

Quan mở toang cửa sổ. Chúng tôi ở khách sạn Sheraton Quế Lâm, đối diện với sông Li. Bên ngoài trời vẫn tối. Tôi nghe thấy tiếng trầng! trầng!, âm thanh như một phòng chơi bắn đạn ồn ào. Tôi đến bên cửa sổ và nhìn xuống. Những người bán hàng rong đạp xe ba bánh rung chuông, chào hỏi nhau lúc chở các thúng ngũ cốc, dưa hấu và cải củ ra chợ. Đại lộ lởm chởm bóng xe đạp và ô tô, công nhân và học sinh, tất cả chuyện trò ríu rít và bấm còi ầm ỹ, la hét và cười cợt như thể giữa trưa vậy. Trên tay lái một cái xe đạp lủng lẳng nhiều cái thủ lợn to tướng, dây xâu qua lỗ mũi, những cái mõm trắng ởn quăn lên trong cái cười chí tử.

- Nhìn kìa, - Quan chỉ xuống đường phố có nhiều quầy đèn lờ mờ. - Chúng ta có thể mua bữa sáng ở đấy, vừa rẻ vừa ngon. Hay hơn là phải trả chín đôla cho một bữa ở khách sạn, để làm gì kia chứ? Bánh rán, nước cam, thịt lợn muối hun khói, ai mà thích được?

Tôi nhớ lại cuốn sách hướng dẫn du lịch của chúng tôi, khuyên nên tránh xa các loại đồ ăn của những người bán rong trên phố.

- Chín đôla đâu phải quá nhiều, - tôi lý luận.

- Chà! Em đừng nghĩ kiểu như thế nữa. Giờ em đang ở Trung Quốc. Ở đây, chín đôla là nhiều tiền lắm, là lương một tuần đấy.

- Vâng, nhưng thực phẩm rẻ có thể bị ngộ độc.

Quan chỉ ra đường phố:

- Nhìn kìa. Tất cả những người kia có bị ngộ độc không? Nếu em muốn chụp ảnh món ăn Tàu, em phải nếm các món Tàu đích thực. Mùi vị thấm vào tận lưỡi, đi vào trong dạ dày em. Dạ dày là nơi cảm nhận chính xác. Nếu em chụp ảnh, những cảm giác thực thụ này từ dạ dày em sẽ lộ ra, để mọi người có thể chỉ xem ảnh của em cũng như được nếm món ăn vậy.

Quan nói đúng. Tôi là ai mà bực dọc vì mang về nhà vài con ký sinh kia chứ? Tôi mặc vội đồ ấm rồi ra hành lang, gõ cửa phòng Simon. Anh đã ăn vận chỉnh tề và trả lời ngay.

- Anh không sao ngủ được, - anh thú nhận.

Năm phút sau, ba chúng tôi đã ở trên vỉa hè. Chúng tôi dạo qua hàng chục quầy bán đồ ăn, một số trang bị lò hơi xách tay, số khác có vỉ nướng tạm thời. Khách hàng ngồi xổm thành hình bán nguyệt trước quầy, ăn mì sợi hoặc bánh bao. Cơ thể tôi bị kích thích vì mệt mỏi vẻ háo hức. Quan chọn một người bán hàng rong đang đập những cái bánh đa lên các phía của cái trống đựng dầu nóng rực.

- Cho chúng tôi ba cái, - chị nói bằng tiếng Trung. Người bán hàng cạy bánh chín bằng những ngón tay trần đen đủi, còn Simon và tôi kêu toáng lên lúc chúng tôi tung những cái Bánh Đa nóng bỏng lên xuống như các nghệ sĩ xiếc tung hứng.

- Bao nhiêu? - Quan mở ví.

- Sáu tệ, - người bán bánh nói.

Tôi nhẩm tính, giá hơn một đôla chút ít, rẻ quá. Theo đánh giá của Quan, nó tương đương với bóp nặn.

- Này, - chị chỉ vào một người bán hàng khác, - ông hỏi anh kia kìa, chỉ năm mươi xu một cái.

- Tất nhiên rồi! Anh ta là công nhân địa phương. Còn ba vị là khách du lịch.

- Anh nói gì vậy! Tôi cũng là người bản xứ.

- Bà ư? - Người bán hàng khịt mũi và hoài nghi ngắm nghía chị. - Ở đâu thế?

- Xướng Miên.

Lông mày ông ta nhếch lên ngờ vực.

- Thật sao! Bà biết những ai ở Xướng Miên?

Quan nói một thôi một hồi mấy cái tên.

Người bán hàng vỗ đùi.

- Ngô Trạch Dân? Bà biết Ngô Trạch Dân?

- Tất nhiên rồi. Hồi bé, chúng tôi ở đối diện nhà nhau mà. Giờ ông ta ra sao? Hơn ba chục năm nay tôi chưa gặp.

- Con gái ông ta lấy con trai tôi.

- Vô lý!

Ông ta cười:

- Thật đấy. Hai năm trước. Vợ tôi và mẹ tôi đều phản đối vì cô gái là người Xướng Miên. Họ có những suy nghĩ của người nhà quê cổ lỗ, họ vẫn tin rằng Xướng Miên bị nguyền rủa. Không như tôi, tôi chẳng mê tín tí nào. Mùa xuân năm ngoái chúng đã có con, con gái, nhưng tôi chẳng bận tâm.

- Khó mà tin Ngô Trạch Dân đã là ông ngoại. Ông ta có khỏe không?

- Ông ta góa vợ từ hai chục năm trước, khi họ bị nhốt vào chuồng bò vì bị quy là phản cách mạng. Người ta đập nát bàn tay ông ấy nhưng không bẻ gãy được ý chí. Sau này, ông ta lấy Dương Linh Phương.

- Cũng không thể tin được! Cô ấy là em gái một người bạn học của tôi. Tôi không thể tin nổi! Tôi vẫn nhớ cô ấy là một cô bé mềm yếu.

- Không mềm yếu nữa đâu. Bà ấy có nước da trắng, dai như da thuộc, đã trải qua nhiều gian nan, để tôi kể cho mà nghe.

Quan và người bán hàng tiếp tục chuyện phiếm trong lúc Simon và tôi ăn bánh bốc hơi nghi ngút trong giá lạnh buổi sớm. Bánh có vị như trộn lẫn bánh đa Ý với trứng tráng hành. Hết bữa, Quan và người bán hàng đã như bạn cũ, chị hứa chuyển lời hỏi thăm đến gia đình và bạn bè, ông ta khuyên chị cách thuê lái xe với giá hời.

- Tốt quá, ông anh, - Quan nói. - tôi phải trả anh bao nhiêu đây?

- Sáu tệ.

- Ái chà! Vẫn sáu tệ? Đắt quá, quá đắt. Tôi sẽ đưa anh hai tệ, không hơn.

- Vậy thì ba tệ.

Quan càu nhàu, trả tiền và chúng tôi đi. Khi đã cách nửa khu nhà, tôi thì thầm với Simon: - Người đàn ông ấy nói Xướng Miên bị nguyền rủa.

Quan nghe lỏm được.

- Xì! Đấy là một câu chuyện cũ từ hàng ngàn năm rồi. Chỉ những kẻ ngu mới tin Xướng Miên là nơi rủi ro để sống.

Tôi dịch cho Simon, rồi hỏi:

- Loại rủi ro gì vậy?

- Em không nên biết.

Tôi định nài chị thì Simon chỉ cho tôi cơ hội chụp bức ảnh đầu tiên - một cái chợ ngoài trời có những cái thúng đan bằng liễu gai đựng bưởi dày cùi, hạt đậu khô, trà lý, ớt. Tôi rút chiếc Nikon và bận bịu bấm máy, trong lúc Simon ghi chép.

- Những đám khói của bữa sáng cay xè trộn lẫn với sương mù buổi sớm, - anh nói to. - Này Olivia, em có thể chụp hướng này không? Chụp những con rùa, thịt rùa tuyệt lắm đấy.

Tôi hít vào thật sâu và hình dung đang hít đầy phổi chính cái không khí mà tổ tiên tôi đã hít, dù họ là ai đi nữa. Vì chúng tôi đến đây lúc khuya đêm trước, nên chưa kịp thấy quang cảnh Quế Lâm, những chóp núi đá vôi huyền thoại, những hang động đầy lôi cuốn và các cảnh quan khác trong cuốn hướng dẫn, là những lý do làm địa danh này của Trung Quốc được biết đến như “nơi đẹp nhất trên trái đất”. Tôi phải trừ hao những quảng cáo cường điệu và sẵn sàng xoay ống kính vào những khía cạnh tầm thường và đơn điệu hơn của sinh hoạt trên đất nước này.

Đi đường nào, chúng tôi cũng thấy đường phố đông nghẹt dân địa phương ăn mặc sặc sỡ và những người phương Tây béo ú mặc quần áo tập như nhiều người ở San Francisco sau thắng lợi Super Bowl lần thứ 49. Quanh chúng tôi là sự ồn ào huyên náo của kinh tế thị trường tự do. Ở đây thừa mứa: đổi chác các thứ lặt vặt, nhiều người bán vé xổ số, cổ phiếu có thưởng, áo phông, đồng hồ, xắc tay in các logo lậu. Có nhiều đồ lưu niệm cho khách du lịch: huy hiệu Mao Chủ tịch, mười tám vị La Hán khắc trên một hạt óc chó, các pho tượng Phật bằng nhựa, theo cả hai mẫu: vừa gầy theo kiểu Tây Tạng vừa béo tròn. Dường như Trung Quốc đang tiếp thu những thuộc tính xấu nhất của chủ nghĩa tư bản: hàng hoá ế thừa, bán quá đắt, điên cuồng mua những thứ mà mọi người trên đời có và chẳng cần.

Simon lén tới bên tôi:

- Vừa hấp dẫn vừa thất vọng, - rồi anh nói thêm. - Nhưng anh thực sự mừng là đã đến đây. - Tôi tự hỏi liệu anh có ám chỉ việc đi cùng tôi không.

Ngước nhìn lên những đám mây, chúng tôi vẫn có thể nhìn thấy những chóp núi lạ lùng, giống răng cá mập thời tiền sử, chủ đề rập khuôn của các cuốn lịch Tàu và tranh cuộn. Nhưng nép trong các tảng đá cổ này là những tòa nhà cao tầng xấu xí, lớp vữa bên ngoài đầy bụi bẩn vì ô nhiễm công nghiệp, các biển quảng cáo đầy những chữ đỏ mạ vàng chói mắt. Giữa chúng là những ngôi nhà thấp hơn từ thế kỷ trước, quét toàn vôi màu xanh lục. Đây đó là gạch vụn của những ngôi nhà trước chiến tranh và những đống rác bừa bãi. Toàn bộ quang cảnh tạo cho Quế Lâm diện mạo và mùi hôi của một bộ mặt xinh đẹp nhưng bị hỏng vì son môi choe choét, hàm răng há ra, báo trước bệnh quanh răng.

- Em này, - Simon thì thào. - Nếu Quế Lâm là thành phố đẹp nhất Trung Quốc, anh không đợi xem làng Xướng Miên bị nguyền rủa trông ra sao đâu.

Chúng tôi bắt kịp Quan.

- Mọi thứ khác hoàn toàn, chẳng còn như cũ nữa. - Giọng chị nhuốm màu luyến tiếc. Ắt hẳn chị buồn vì hơn ba chục năm qua, Quế Lâm đã thay đổi ghê gớm. Nhưng rồi Quan nói bằng giọng hãnh diện và ngạc nhiên. - Tiến bộ nhiều quá, mọi thứ tốt hơn nhiều.

Qua vài khối nhà xa hơn, chúng tôi chợt gặp một phần của thành phố làm chúng tôi kêu ré lên vì có nhiều cơ hội chụp ảnh: chợ chim. Hàng trăm cái lồng trang trí treo trên các cành cây, nhốt chim sẻ, các loại chim lạ lùng có bộ lông lộng lẫy, chim chào mào và dẻ quạt đang hót. Trên mặt đất là các lồng nhốt chim to tướng, có lẽ là đại bàng hoặc chim ưng, móng vuốt và mỏ uy nghi, đe dọa. Có cả những loại chim thông thường, gà, vịt mà số phận sẽ vào nồi hầm. Một bức ảnh chúng trên nền các loại chim đẹp và số phận may mắn hơn có thể là một minh họa ấn tượng cho bài báo.

Tôi chưa chụp được nửa vòng chợ chim thì một người đàn ông xuỵt tôi: - Sùy sùy sùy!

Ông ta nghiêm khắc ra hiệu cho tôi đến gần. Ông ta là ai, cớm ngầm chắc? Chụp ảnh ở đây là bất hợp pháp? Nếu ông ta dọa tịch thu máy ảnh của tôi, tôi nên hối lộ bao nhiêu?

Người đàn ông trịnh trọng thò tay xuống gầm bàn và lôi ra một cái lồng.

- Cô thích? - Ông ta nói tiếng Anh. Trước mặt tôi là một con cú trắng như tuyết, nhiều chỗ màu cà phê sữa rất nổi. Trông nó như một con mèo Xiêm béo tốt có cánh. Con cú chớp chớp cặp mắt màu vàng óng làm tôi đâm mê.

- Này, Simon, Quan, lại đây. Nhìn con này này.

- Một trăm đôla Mỹ, - người đàn ông nói. - Rất rẻ.

Simon lắc đầu, vừa nói bằng thứ tiếng Anh đứt quãng vừa ra hiệu như kịch câm: - Mang chim lên máy bay, không thể, nhân viên hải quan sẽ nói dừng lại, không cho phép, phải trả tiền phạt to…

- Bao nhiêu? - Người đàn ông hỏi thô lỗ. - Anh nói đi. Tôi cho anh giá mở hàng, giá tốt nhất.

- Đừng mặc cả, - Quan nói với ông ta bằng tiếng Trung. - Chúng tôi là khách du lịch, không thể mang chim về Mỹ, dù rẻ thế nào cũng không.

- À à à, ai bảo mang nó về? - Người đàn ông đáp nhanh bằng tiếng Trung. - Hôm nay mua, rồi đưa nó đến nhà hàng bên kia đường, kia kìa. Cho họ ít tiền, họ nấu ngay bữa tối cho các vị.

- Lạy Chúa tôi! - Tôi quay sang Simon. - Ông ta bán con cú này làm đồ ăn!

- Tởm quá. Bảo ông ta là một thằng ngốc thảm hại.

- Anh bảo đi!

- Anh không biết nói tiếng Trung.

Chắc người đàn ông tưởng tôi giục chồng mua cho mình con cú để ăn tối. Ông ta nói giá bán cuối cùng với tôi.

- Các vị rất may là tôi có một con. Loại chim ưng-mèo này hiếm lắm, rất hiếm, - ông ta khoe. - Mất ba tuần tôi mới bắt được đấy.

- Em không tin, - tôi bảo Simon, - Em sắp nôn đây.

Lúc đó tôi nghe thấy tiếng Quan:

- Một con chim ưng-mèo không hiếm thế đâu, chỉ khó bắt. Ngoài ra, nghe nói mùi vị nó cũng bình thường thôi.

- Nói thật, - người đàn ông nói. - Nó không hăng xè như con tê tê. Nhưng các vị ăn chim ưng-mèo sẽ khoẻ mạnh và đầy tham vọng, đừng quá chú ý đến mùi vị. Nó cũng cải thiện mắt nữa. Một trong các khách hàng của tôi gần mù. Sau khi ăn một con chim ưng-mèo, lần đầu tiên sau gần hai chục năm, ông ta lại nhìn thấy vợ. Ông khách trở lại rủa tôi: “Đồ chó! Nó xấu làm khỉ cũng hãi. Mẹ mày, cho ông ăn con chim ưng-mèo ấy!”

Quan cười khoái trá:

- Phải rồi, tôi đã nghe chuyện này về chim ưng-mèo. Một câu chuyện hay. - Chị rút ví và giơ tờ một trăm tệ lên.

- Quan, chị làm gì thế? - Tôi kêu. - Chúng ta không ăn con cú này!

Người đàn ông gạt tờ một trăm tệ.

- Chỉ lấy tiền Mỹ, - ông ta nói kiên quyết. - Một trăm đô la Mỹ.

Quan rút ra một tờ mười đôla Mỹ.

- Quan! - Tôi quát.

Người đàn ông lắc đầu, từ chối mười đô. Quan nhún vai, rồi bỏ đi. Lúc đó người đàn ông réo năm chục đô. Chị trở lại, giơ ra mười lăm đô và nói: - Đây là giá cuối cùng.

- Thật điên rồ! - Simon lẩm bẩm.

Người đàn ông thở dài, rồi buông cái lồng đựng con cú có cặp mắt buồn, cứ than thở mãi: - Thật nhục, làm bao nhiêu mới được tí tiền. Nhìn tay tôi này, ba tuần trèo núi, chặt cây mới bắt được con chim đó.

Lúc chúng tôi rời đi, tôi chộp lấy cánh tay còn rảnh của Quan và nóng nảy nói: - Em sẽ không cho chị ăn thịt con cú này đâu. Em không cần biết chúng ta đang ở Trung Quốc.

- Suỵt! Suỵt! Em làm nó sợ! - Quan kéo cái lồng khỏi tầm tay tôi. Chị cười làm tôi nổi cáu, rồi bước tới bức tường bê tông nhìn xuống dòng sông, chị đặt cái lồng lên nóc tường. Chị kêu meo meo với con cú. - Này anh bạn nhỏ, cậu có muốn đến Xướng Miên không? Cậu có muốn trèo lên đỉnh núi cùng tôi, để em gái tôi ngắm cậu bay không? - Con cú quay đầu và chớp chớp mắt.

Tôi suýt khóc vì mừng và ân hận. Sao tôi lại có những ý nghĩ xấu như thế về Quan? Tôi bẽn lẽn kể với Simon sự nhầm lẫn của tôi và sự hào phóng của Quan. Quan gạt ý định muốn xin lỗi của tôi đi.

- Anh trở lại chợ chim đây, - Simon nói, - để ghi chép về những con chim đẹp lạ lùng họ bán làm thức ăn. Em muốn đi không?

Tôi lắc đầu, hài lòng ngắm nghía con cú Quan cứu sống.

- Mươi hoặc mười lăm phút nữa anh sẽ về.

Simon sải bước, tôi chú ý đến bộ dạng nghênh ngang đặc Mỹ của anh, nhất là ở đây, trên mảnh đất xa lạ. Anh ta bước đi theo nhịp riêng, chẳng theo đám đông.

- Nhìn thấy gì không? - Tôi nghe thấy Quan nói, - ở đằng kia kìa. - Chị chỉ một cái chóp hình nón ở xa xa. - Cạnh làng chị có một quả núi chóp nhọn hơn quả kia. Bọn chị gọi nó là Ước mơ thiếu nữ, sau khi một cô nô lệ chạy trốn lên đỉnh núi rồi bay đi cùng con chim hoàng là người yêu của cô. Sau này, cô biến thành chim phượng, cô và người yêu của cô đến sống trong một khu rừng thông trắng bất tử.

Quan nhìn tôi.

- Chuyện kể thế, chỉ là mê tín thôi.

Tôi buồn cười thấy chị phải giải thích.

Quan nói tiếp:

- Các cô gái trong làng chị đều tin câu chuyện này, không phải vì họ ngu ngốc mà vì muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn. Chúng tôi cho rằng nếu trèo được lên đỉnh núi và xin một điều ước, nó có thể thành hiện thực. Vì thế, bọn chị nuôi những con chim non, nhốt chúng vào lồng tự đan lấy. Khi chúng bay được, bọn chị trèo lên ngọn núi đó và thả cho chúng bay đi. Những con chim ấy sẽ nay đến nơi đôi phượng hoàng sống và truyền đến họ lời cầu ước của bọn chị.

Quan khịt mũi.

- Mẹ Lớn bảo ngọn núi ấy có tên là Ước mơ thiếu nữ vì một cô gái điên đã trèo lên đỉnh. Nhưng lúc cô ta thử bay bèn rơi xuống và đập mạnh vào mặt đất đến nỗi biến thành một tảng đá. Mẹ Lớn nói chính vì thế người ta thấy ở chân núi có nhiều tảng đá, tất cả là những cô gái ngớ ngẩn đi theo ý nghĩ điên rồ kia, ao ước những điều vô vọng.

Tôi bật cười. Quan nhìn tôi trừng trừng như thể tôi là Mẹ Lớn.

- Em đừng cản các cô gái mơ ước. Không! Ai cũng phải mơ ước. Chúng tôi mơ những điều chúng tôi hy vọng. Ngăn cản ước mơ giống như bảo không thể thay đổi được số phận. Không phải thế sao?

- Em nghĩ thế.

- Vậy em thử đoán chị ước gì.

- Em không biết. Gì vậy?

- Cứ đoán xem nào.

- Một ông chồng điển trai.

- Không.

- Một chiếc ô tô.

Chị lắc đầu.

- Trúng xổ số.

Quan cười và vỗ cánh tay tôi.

- Em đoán sai! Thôi được, để chị nói cho. - Chị ngước nhìn lên đỉnh núi. - Trước khi chị đi Mỹ, chị đã nuôi ba con chim chứ không chỉ một, vì thế chị có thể ước ba điều trên đỉnh núi. Chị tự nhủ, nếu ba điều ước này thành sự thực, đời chị coi như toàn vẹn và chị có thể vui vẻ mà chết. Điều ước thứ nhất của chị: có một đứa em gái để chị dành trọn yêu thương, chỉ thế thôi, và chị không đòi hỏi gì hết. Điều ước thứ hai: trở về Trung Quốc với em gái. Điều ước thứ ba là… - lúc này giọng Quan run run, - Mẹ Lớn chứng kiến chuyện này và nói mẹ tiếc là đã để chị ra đi.

Đây là lần đầu tiên Quan cho tôi thấy chị giận sâu sắc người đã xử tệ với chị.

- Chị đã mở lồng, - chị tiếp, - và để ba con chim bay đi. - Chị vung tay biểu diễn. - Nhưng một trong những con chim ấy không đập được cánh và xoáy theo những vòng bán nguyệt rồi rơi xuống chân núi như một hòn đá. Giờ em thấy chưa: hai điều ước của chị đã xảy ra: chị có em, chúng ta cùng về Trung Quốc. Đêm qua, chị nhận ra điều ước thứ ba sẽ không bao giờ thành hiện thực. Mẹ Lớn sẽ không bao giờ nói với chị là bà rất tiếc nữa.

Chị giơ cao cái lồng nhốt con cú.

- Nhưng giờ đây chị có một con chim ưng-mèo đẹp đẽ, có thể mang đi điều ước mới của chị. Khi nó bay đi, mọi nỗi buồn xưa sẽ bay theo nó. Cả hai chúng ta sẽ nhẹ nhõm, thoải mái.

Simon nhún nhảy trở lại.

- Olivia, em sẽ không tin nổi những thứ dân ở đây coi là đồ ăn đâu.

Chúng tôi nhằm hướng khách sạn, tìm chiếc ô tô chở một người bản xứ, hai khách du lịch và con chim ưng-mèo đến làng Xướng Miên.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.