Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 12

12. LÚC TỐT NHẤT ĐỂ ĂN TRỨNG VỊT

Quan không tranh cãi mà tiến hành theo cách riêng của chị. Chị dùng nhiều biện pháp hữu hiệu hơn, kết hợp kiểu tiếp cận cũ kỹ của Trung Quốc với kiểu nhử mồi-rồi-giật của Mỹ.

-Libby-ah, - chị nói. - Tháng nào chúng mình đi Trung Quốc, thăm làng chị?

- Em không đi, chị nhớ chưa?

- Ồ, phải, phải. Thế em nghĩ tháng nào chị nên đi? Tháng Chín chắc vẫn còn quá nóng. Tháng Mười, quá nhiều khách du lịch. Tháng Mười một, không quá nóng, không quá lạnh, có lẽ là thời gian tốt nhất.

- Gì cũng được.

Ngày hôm sau, Quan nói:

- Libby-ah, Georgie không thể đi được, chưa đủ thời gian được nghỉ phép. Chị nghĩ hay Virgie và mẹ đi cùng chị?

- Sao lại không? Hỏi họ xem.

Một tuần sau, Quan nói:

- Ái dà! Libby-ah! Chị đã mua ba vé. Giờ Virgie nhận việc mới, mẹ có bạn trai mới. Cả hai nói: Xin lỗi, không thể đi. Hãng du lịch cũng nói: Xin lỗi, không hoàn lại tiền. - Chị nhìn tôi thảm thiết. - Ái dà, Libby-ah, chị làm gì đây?

Tôi suy nghĩ. Tôi có thể giả vờ thất bại vì lề thói của chị. Nhưng tôi không thể ép mình làm việc đó.

- Em sẽ xem có thể tìm ra ai đi cùng chị, - tôi nói cho xong.

Đến tối, Simon gọi cho tôi:

- Anh đang nghĩ đến chuyến đi Trung Quốc. Anh không muốn cuộc chia tay của chúng ta thành nguyên nhân em bỏ lỡ chuyến đi này. Hãy tìm một nhà văn khác, Chesnic hay Kelly, cả hai đều là những bạn đường rất tuyệt. Anh sẽ gọi cho họ, nếu em muốn.

Tôi sững sờ. Anh vẫn thuyết phục tôi ra đi cùng Quan, dùng cuộc trở về thăm quê của chị là một góc cá nhân cho bài viết. Tôi cân nhắc ý nghĩa những lời anh nói. Có lẽ đây là dịp để chúng tôi có thể thành bạn bè, loại bạn thân ngay lần gặp đầu tiên. Lúc nói chuyện tiếp, tôi nhớ lại sự thu hút lẫn nhau ban đầu - các ý nghĩ của chúng tôi phát triển trong khi tranh luận, càng nói càng vui hoặc say sưa. Chính lúc đó tôi cảm thấy tiếc thứ chúng tôi đã mất nhiều năm nay: sự phấn khởi và ngạc nhiên được sống cùng thời và cùng chỗ trên thế gian này.

- Simon, - tôi nói để kết thúc cuộc nói chuyện hai giờ liền, - em rất cảm kích… em nghĩ thật là hay nếu có ngày chúng ta thành bạn bè.

- Anh chưa bao giờ thôi nghĩ đến em, - anh nói.

Lúc đó tôi buông thả mọi kìm giữ:

- Vậy thì, tại sao anh không cùng đi Trung Quốc?

Trên máy bay, tôi bắt đầu mong đợi các điềm. Vì Quan nói lúc chúng tôi làm thủ tục vào sân bay:

- Em, chị, Simon đang đến Trung Quốc! Cuối cùng, số phận của chúng ta gắn kết với nhau.

Tôi nghĩ, số phận như trong “số phận bí ẩn của Amelia Earhart “1. Số phận, từ gốc chữ La tinh là “tiền định”. Nó chẳng giúp gì cho việc chiếc máy bay Trung Quốc mà Quan chọn để được giảm giá trong sáu tháng qua đã bị va chạm ba lần, trong đó hai lần khi đang hạ cánh ở Quế Lâm, nơi chúng tôi sắp đến, sau một lần nghỉ quá cảnh ở Hồng Kông bốn giờ liền. Sự tin tưởng của tôi vào hãng hàng không đã bị thêm một cú bổ nhào nữa, lúc chúng tôi lên máy bay. Phi hành đoàn Trung Quốc đội mũ bêrê và mặc váy, sự lựa chọn trang phục không thể giải thích được làm tôi nghi ngờ khả năng đối phó của họ với nạn không tặc, bị mất các bộ phận của động cơ và hạ cánh xuống đại dương không trong kế hoạch.

Lúc Quan, Simon và tôi vất vả len giữa lối đi chật hẹp, tôi chú ý thấy không có người da trắng nào trong xe, trừ Simon và tôi. Điều này có ý nghĩa gì chăng?

Y hệt những người Trung Quốc lên máy bay, mỗi tay Quan túm chặt một giỏ quà. Chúng là thứ thêm vào cái va li đầy những quà, đã gửi hành lý. Tôi hình dung bản tin ngày mai trên tivi: “Một phích nước chân không, nhiều túi nhựa đựng đồ ăn, nhiều gói nhân sâm Wisconsin giữa đám hỗn độn rải rác trên đường băng sau vụ rơi bi thảm đã giết chết Horatio Tewksbury III của Atherton ngồi ghế hạng nhất cùng bốn trăm hành khách Trung Quốc mong ước trở về mảnh đất tổ tiên như những người thành đạt”.

Lúc nhìn thấy ghế của chúng tôi, tôi rên lên. Hàng giữa, ngồi chỗ giữa, có người ở hai bên. Một bà già ngồi ở đầu kia lối đi ủ rũ nhìn chúng tôi rồi ho. Bà cầu nguyện thần thánh nào đó thật to rằng sẽ không có ai ngồi vào ba ghế cạnh bà, bà bị ốm nặng, cần nằm và ngủ. Tiếng ho của bà dữ dội. Không may cho bà, thần thánh chắc ra ngoài ăn trưa, vì chúng tôi ngồi xuống.

Cuối cùng, khi xe đẩy đồ uống đến, tôi hỏi xin một cốc gin và tonic. Người phục vụ không hiểu.

- Gin và tonic, - tôi nhắc lại, rồi nói bằng tiếng Trung. - Một lát chanh, nếu cô có.

Cô ta hỏi ý kiến cô bạn, cũng nhún vai bối rối như vậy.

- Ni you scotch meiyou? - Tôi cố gắng. - Cô có scotch không?

Họ cười vì câu đùa này.

Chắc chắn các cô có scotch, tôi muốn hét lên. Nhìn trang phục lố bịch các cô phải mặc kìa!

Nhưng scotch không phải là từ tôi học nói bằng tiếng Trung, và Quan không giúp tôi. Thực ra, trông chị khá hài lòng vì sự tức giận của tôi và sự ngượng ngập của nhân viên phục vụ. Tôi đành gọi một Diet Coke. Trong lúc đó, Simon ngồi ở bên kia tôi, đang chơi Flight Simulator trên laptop.

- Oa-oa-oa! - Câu này sau những âm thanh rơi loảng xoảng-và-cháy. Anh quay sang tôi. - Cơ trưởng Bishop này bảo rượu chè là ở nhà.

Suốt chuyến bay, Quan như người chếnh choáng vì hạnh phúc. Nhiều lần chị xiết cánh tay tôi và cười toe toét. Lần đầu tiên trong hơn ba chục năm, chị sẽ ở trên đất Trung Quốc, ở Xướng Miên, ngôi làng chị đã sống cho đến khi mười tám tuổi. Chị sẽ gặp bà dì mà chị gọi là Mẹ Lớn, người đã nuôi nấng chị và theo lời Quan, rất ác với chị, béo má chị mạnh đến nỗi để lại những vết sẹo hình lưỡi liềm.

Chị sẽ gặp lại các bạn học, chí ít là những người sống sót qua cuộc Cách mạng Văn hoá bắt đầu sau khi chị ra đi. Chị mong sẽ gây ấn tượng với bạn bè về tiếng Anh của chị, bằng lái xe của chị, những bức ảnh chụp con mèo cưng của chị ngồi trên sofa in hoa lá chị mới mua ở cửa hàng giảm giá - “giảm năm mươi phần trăm vì một lỗ thủng nhỏ, có khi chẳng ai nhìn thấy”.

Chị nói đến việc viếng mộ mẹ chị, dọn dẹp sao cho sạch sẽ. Chị sẽ dẫn tôi đến một thung lũng nhỏ, nơi trước kia chị chôn một hộp đầy những thứ quý giá. Vì tôi là em gái yêu quý của chị, chị muốn chỉ cho tôi chỗ ẩn náu hồi thơ ấu của chị, một cái hang đá vôi có dòng suối diệu kỳ.

Chuyến đi cũng cho tôi thấy nhiều thứ đầu tiên với tôi. Lần đầu tiên tôi tới Trung Quốc. Lần đầu tiên từ khi tôi còn bé, Quan sẽ là bạn đồng hành không thay đổi của tôi suốt hai tuần liền. Lần đầu tiên Simon và tôi cùng đi du lịch và ngủ riêng.

Lúc này bị ép trong ghế giữa Simon và Quan, tôi nhận ra mình sắp phải chịu trận đến phát điên, bị hành hạ thân xác suốt hai mươi tư giờ trên các máy bay và sân bay, cảm xúc tàn tạ vì đi với chính hai con người là nguồn đau khổ và hãi hùng lớn nhất của tôi. Tôi phải lấy lại dũng khí của mình. Lẽ tất nhiên, tôi có nhiều lý do thực tế cho chuyến đi - bài viết, tìm ra tên thật của cha tôi. Nhưng động cơ chính của tôi là sợ ân hận. Tôi sợ rằng nếu không đi, một ngày nào đó tôi sẽ nhìn lại và tự hỏi: Nếu mình đi thì sao?

Có lẽ Quan đúng. Số phận là lý do tôi đi. Số phận không phải là lý lẽ, bạn không thể tranh cãi với nó, chẳng khác gì tranh cãi với cơn lốc xoáy, động đất hoặc nạn khủng bố. Số phận là cái tên khác của Quan.

Chúng tôi lệch múi giờ với Trung Quốc mười tiếng. Cơ thể tôi hoàn toàn nhầm lẫn, không biết là ngày hay đêm. Simon gà gà ngủ, tôi không hề chợp mắt, còn Quan vừa thức giấc.

Chị ngáp. Ngay lập tức, chị tỉnh táo và bồn chồn. Chị loay hoay với những cái gối của chị.

- Libby-ah, em nghĩ gì thế?

- Ờ, công việc.

Trước chuyến đi, tôi đã lên kế hoạch và làm một bản liệt kê. Tôi đã tính đến sự mệt mỏi sau một chuyến đi dài, khả năng định hướng, địa điểm, có thể ánh sáng duy nhất chỉ là ngọn đèn huỳnh quang màu xanh. Tôi ghi bằng bút chì để nhớ chụp các cửa hàng rau quả nhỏ và các siêu thị lớn, các quầy bán quả và vườn rau, bếp lò và các dụng cụ nấu ăn, các loại gia vị và dầu. Tôi đã mất nhiều đêm chuẩn bị các thứ và tiền nong. Khoảng cách đến Xướng Miên là vấn đề chính, theo lời Quan mất ba hoặc bốn giờ xe từ Quế Lâm. Đại lý du lịch không sao tìm được làng Xướng Miên trên bản đồ. Anh ta đặt khách sạn cho chúng tôi ở Quế Lâm, hai phòng, giá sáu chục đôla mỗi đêm. Có thể có nhiều chỗ rẻ hơn và gần hơn, nhưng chúng tôi phải tìm ra sau khi đến.

- Libby-ah, - Quan nói. - Ở Xướng Miên, có nhiều thứ không quá xa xỉ.

- Thế thì tốt. - Quan đã kể với tôi có nhiều món ăn giản dị tương tự như chị vẫn nấu, không như các món trong nhà hàng Tàu đắt tiền. - Thực ra, - tôi cam đoan với chị, - em không muốn chụp ảnh các thứ hào nhoáng. Hãy tin em, em không đòi hỏi champagne và caviar đâu.

- Cavi-ah là gì?

- Là trứng cá.

- Ồ, có đấy, có. - Nom chị nhẹ hẳn người. - Trứng cavi, trứng cua, trứng tôm, trứng gà… có tất! Có cả trứng vịt ngàn năm. Tất nhiên là không hẳn ngàn năm, chỉ một, hai, ba năm là cùng… À! Chị đang nghĩ gì đây! Chị biết chỗ em tìm thấy trứng vịt già tuổi hơn thế. Chị đã giấu một số từ lâu lắm rồi.

- Thật ư? - Nghe như một chi tiết đầy hứa hẹn, thú vị cho bài báo. - Chị giấu hồi chị còn con gái?

- Cho đến năm hai mươi tuổi.

- Hai mươi?... Lúc ấy chị đã ở Mỹ rồi.

Quan cười, vẻ bí mật.

- Không phải hai chục năm này, mà là thời gian gần đây. - Chị dựa đầu vào ghế. - Trứng vịt, chà, ngon lắm…. Cô Banner không thích nó lắm. Sau này, trong thời đói khát, ăn tất tần tật, chuột, châu chấu, ve sầu. Cô ấy cho yadan ngàn năm ngon hơn ăn các thứ đó… Khi nào đến Xướng Miên, Libby-ah, chị sẽ chỉ cho em chỗ giấu. Biết đâu vẫn còn một số. Em và chị đi tìm nhé?

Tôi gật. Trông chị dạt dào hạnh phúc. Chỉ lần này thôi, trí tưởng tượng hão huyền của chị không làm tôi bực mình. Thực ra, ý tưởng đi tìm những quả trứng ảo ở Trung Quốc nghe chừng hấp dẫn. Tôi xem đồng hồ. Mười hai tiếng nữa chúng tôi sẽ ở Quế Lâm.

- Hừm ừm, - Quan lẩm bẩm. - Yadan…

Có thể nói Quan đã ở đấy rồi, trong thế giới viển vông những ngày đã qua của chị.

Tôi thích trứng vịt đến nỗi trở thành một đứa ăn cắp. Trước bữa sáng hàng ngày - trừ Chủ nhật - là lúc tôi lấy trộm trứng. Tôi không phải là kẻ cắp già đời như Tướng Cape. Tôi chỉ lấy thứ dân chúng nhận thấy, một hoặc hai quả trứng, đại loại thế. Đằng nào thì những người Thờ phụng Jesus cũng không thích trứng vịt. Họ thích trứng gà hơn. Họ không biết trứng vịt là món xa xỉ, rất đắt nếu mua ở Kim Điền. Nếu họ biết giá trứng vịt, hẳn lúc nào họ cũng muốn ăn. Lúc đó thì sao? Quá tệ với tôi!

Muốn làm trứng vịt ngàn năm, phải bắt đầu chọn những quả thật tươi, nếu không thì… ờ, để tôi nghĩ xem nào… nếu không thì… tôi không biết, vì tôi chỉ quen ăn trứng tươi. Có lẽ bên trong các quả trứng cũ mọc xương và mỏ. Tôi xếp những quả trứng rất tươi vào hũ đựng vôi và muối. Vôi bột tôi để dành khi giặt quần áo. Muối thì mới thành chuyện, không rẻ như bây giờ. May cho tôi, những người nước ngoài có nhiều muối. Họ thích thức ăn của họ có vị mặn như đem nhúng xuống biển. Tôi cũng thích các món mặn, nhưng không phải tất cả. Khi họ ngồi ăn, họ thường gọi: “Đưa giúp tôi lọ muối” và nêm nhiều hơn.

Tôi lấy trộm muối của chị nấu bếp. Tên chị là Ermei, Chị Hai, một trong quá nhiều con gái của một gia đình không con trai. Gia đình chị cho chị đến Hội truyền giáo để không phải gả chồng và lo khoản hồi môn cho chị. Ermei và tôi trao đổi qua lối cửa sau. Tuần đầu tiên, tôi cho chị một quả trứng. Chị đổ muối vào lòng bàn tay tôi. Tuần sau, chị muốn có hai quả cũng với lượng muối như thế! Cô gái ấy thật biết mặc cả.

Một hôm, bác sĩ Quá Muộn nhìn thấy chúng tôi trao đổi. Tôi vào trong ngõ nơi tôi giặt giũ. Lúc tôi rẽ ngoặt vào ngõ, ông ta đứng đó, chỉ vào cái đống trắng nho nhỏ trong lòng bàn tay tôi. Tôi phải nghĩ thật nhanh.

- À, cái này là, - tôi nói. - để nhuộm. - tôi không nói dối. Tôi cần biến màu vỏ trứng. Bác sĩ Quá Muộn cau mày, không hiểu tiếng Trung của tôi. Tôi có thể làm gì? Tôi đổ chỗ muối quý báu đó vào xô nước lạnh. Ông ta vẫn theo dõi. Thế là tôi rút thứ gì đó trong giỏ đồ lót của nữ giới, ném vào xô và bắt đầu vò.

- Thấy chưa? - Tôi nói, và giơ thứ quần áo ngâm muối lên.

Chao ôi! Tôi giơ chiếc quần lót của cô Chuột, đũng quần đầy vết máu tháng! Bác sĩ Quá Muộn, ha ha ha, giá em nhìn thấy bộ mặt đỏ bầm của ông ta! Đỏ hơn cả các vết bẩn. Sau khi ông ta bỏ đi, tôi muốn khóc vì hỏng hết chỗ muối. Nhưng lúc vớt cái quần lót của cô Chuột lên - ái chà! - tôi thấy tôi đang nói thật! Những vết máu sạch hết! Đây là phép màu của Chúa! Từ hôm đó trở đi, tôi được phép lấy bao nhiêu muối tùy thích, một vốc đầy tẩy vết bẩn, một vốc đầy cho các quả trứng. Tôi không phải đến với Ermei qua cửa sau nữa. Nhưng thỉnh thoảng, tôi vẫn cho chị một quả trứng.

Tôi xếp vôi, muối và trứng vào một cái hũ bằng đất nung. Tôi lấy các hũ của một người bán ma túy một tai tên là Tăng, ở đường làng ngay bên ngoài ngõ hẻm. Một quả trứng đổi lấy một cái hũ, có quá nhiều lỗ rò không đựng dầu được. Anh ta có nhiều cái hũ rạn. Nó làm tôi nghĩ người đàn ông này hẳn là rất vụng về, hoặc rất mê trứng vịt. Sau này tôi mới vỡ lẽ, anh ta mê tôi! Đấy là sự thực! Anh ta một tai, tôi một mắt, hũ của anh ta nhiều lỗ rò, những quả trứng của tôi ngon lành - có lẽ vì thế anh ta cho chúng tôi là một cặp xứng đôi vừa lứa. Anh ta không nói muốn tôi làm vợ, không nói nhiều nhặn đến thế. Nhưng tôi biết Tăng nghĩ vậy, có lần anh ta cho tôi một cái hũ không hề rạn nứt. Lúc tôi chỉ cho anh ta, Tăng nhặt một hòn đá, ném vào miệng hũ rồi đưa lại nó cho tôi. Dù sao tôi cũng có những cái hũ và một cuộc tán tỉnh nho nhỏ.

Sau nhiều tuần lễ, vôi và muối thấm qua vỏ trứng. Lòng trắng của quả trứng biến thành màu xanh đậm, lòng đỏ trứng cứng lại thành màu đen. Tôi biết điều này vì thỉnh thoảng tôi ăn một quả để biết chắc những quả khác đã sẵn sàng để bao một lớp bùn. Bùn thì tôi không phải lấy trộm. Tôi có thể trộn nhiều bùn trong vườn của ngôi nhà Ma Thương nhân. Trong lúc lớp bùn bao quả trứng còn ướt, tôi bọc chúng vào giấy, những tờ giấy xé từ các cuốn sách tên là The Good News. Tôi xếp trứng vào một cái lò nhỏ làm bằng những viên gạch cho khô. Tôi không lấy cắp gạch. Chúng rơi từ các bức tường xuống và vỡ. Tôi trát các kẽ nứt bằng một chất keo ép từ một loại cây độc, lầy nhầy. Cứ thế, nắng có thể lọt qua các kẽ nứt, còn côn trùng bị dính lại và không thể ăn trứng của tôi. Tuần sau đó, lớp bùn bao đã cứng lại, tôi lại xếp trứng vào hũ. Tôi vùi các hũ vào một góc phía tây bắc khu vườn nhà Ma Thương nhân. Trước khi chấm dứt quãng đời ở đó, tôi đã có mười dãy hũ, dài mười bước chân. Có khi chúng vẫn còn ở đấy. Tôi chắc chúng tôi ăn không hết. Tôi để dành nhiều thế cơ mà.

Với tôi, một quả trứng vịt là quá, không nên ăn. Trứng có thể nở thành vịt con. Vịt con thành vịt lớn. Con vịt đó có thể nuôi sống hai chục người ở Kế Sơn. Ở Kế Sơn, chúng tôi hiếm khi ăn thịt vịt. Nếu tôi ăn một quả trứng - đôi khi tôi vẫn làm thế - tôi có thể nhìn thấy hai chục người đói khát. Làm sao tôi cảm thấy no được? Nếu tôi thèm ăn một quả, tôi bèn để dành, nó làm cho tôi - một cô gái trước kia chẳng có tí gì - thoả mãn. Tôi là người tằn tiện chứ không tham lam. Như tôi đã nói, thỉnh thoảng tôi cho Ermei một quả trứng, với Lão Lục cũng vậy.

Lão Lục cũng dành dụm trứng. Lão vùi trứng dưới giường ở cổng ngôi nhà, nơi lão ngủ. Lão bảo như thế lão có thể mơ ngày nào cũng được nếm trứng. Lão giống tôi, đợi thời gian thích hợp nhất mới ăn những quả trứng đó. Chúng tôi không biết rằng thời gian thích hợp nhất càng muộn càng tệ hơn.

Vào các ngày Chủ nhật, những người Thờ phụng Jesus thường ăn một bữa sáng thịnh soạn. Đây là tục lệ; buổi cầu kinh dài, rồi trứng gà, những lát thịt lợn muối dày dặn, bánh ngô, dưa hấu, nước lạnh múc từ giếng, sau đó là buổi cầu kinh dài khác. Người nước ngoài thích ăn đồ lạnh và nóng với nhau, rất có hại cho sức khoẻ. Cái ngày tôi đang nhắc tới, Tướng Cape ăn nhiều. Rồi đứng dậy khỏi bàn, ông ta tuyên bố quá nặng bụng nên không thể đến thăm ngôi nhà của Chúa vào sáng hôm ấy. Đấy là Dị Ban nói với chúng tôi thế.

Thế là chúng tôi đến gặp Chúa, trong lúc tôi ngồi trên ghế dài, tôi chú ý thấy cô Banner không ngừng gõ chân. Cô có vẻ bồn chồn và hạnh phúc. Buổi lễ vừa chấm dứt, cô nhặt vội cái hộp âm nhạc của cô và về phòng riêng.

Trong bữa trưa ăn các đồ nguội còn lại, Tướng Cape không đến phòng ăn. Cô Banner cũng vậy. Những người nước ngoài nhìn cái ghế trống của ông ta, rồi của cô ta. Họ lặng thinh, nhưng tôi biết họ đang nghĩ gì, hừm-ừm. Rồi họ về phòng riêng nghỉ trưa. Nằm trên chiếu rơm, tôi nghe thấy tiếng hộp âm nhạc réo rắt bài hát càng ngày tôi càng ghét. Tôi nghe thấy cánh cửa phòng cô Banner mở ra rồi đóng lại. Tôi bịt tay lên tai. Nhưng trong trí tôi, tôi có thể thấy cô cọ xát cái bụng của Tướng Cape. Cuối cùng, bài hát ngừng.

Tôi thức giấc vì nghe thấy tiếng người coi chuồng ngựa la hét lúc ông ta chạy dọc ngõ:

- La, trâu, xe bò! Mất hết cả rồi.

Tất cả chúng tôi ùa ra khỏi phòng. Ermei chạy từ trong bếp ra và kêu:

- Một cái đùi lợn xông khói và một bao gạo.

Những người Thờ phụng Chúa bối rối, gọi cô Banner dịch những lời tiếng Trung ra tiếng Anh. Nhưng cửa phòng cô vẫn khép chặt. Thế là Dị Ban phải nói với những người nước ngoài lời người coi chuồng và người nấu bếp nói. Rồi tất cả những người Thờ phụng Jesus chạy vội về phòng mình. Cô Chuột chạy ra, vừa khóc vừa giật giật cổ; cô đã mất cái mề đay đựng món tóc người yêu đã chết của cô. Bác sĩ Quá Muộn không tìm đâu ra túi thuốc. Mục sư và bà Amen mất một cái lược bạc, một thánh giá vàng, tất cả số tiền của hội truyền giáo cho sáu tháng tới không cánh mà bay. Ai đã làm việc này? Những người nước ngoài đứng ngây như tượng, không thể nói nên lời hoặc nhúc nhích. Có lẽ họ băn khoăn vì sao Chúa lại để chuyện này xảy ra đúng vào ngày họ thờ phụng Người.

Lúc đó, Lão Lục đập cửa phòng Tướng Cape. Không ai trả lời. Lão mở cửa nhìn vào rồi nói mỗi một từ: Xéo rồi! Lão gõ cửa phòng cô Banner. Cũng thế, xéo rồi.

Mọi người bắt đầu bàn tán. Tôi nghĩ họ đang cố xem nên làm gì, tìm hai tên kẻ cắp ấy ở đâu. Nhưng lúc này họ không có la, không bò, không trâu, không xe cộ. Dẫu có các thứ đó đi chăng nữa, họ biết tìm bọn chúng ở đâu? Cape và cô Banner đi đường nào? Đến Việt Nam ở phương nam? Đến Quảng Châu, dọc theo dòng sông? Đến tỉnh Quý Châu, nơi các thổ dân sinh sống? Yamen gần nhất để báo án ở tận Kim Điền, từ Xướng Miên phải mất nhiều giờ đi bộ. Các viên chức yamen sẽ làm gì khi nghe báo người nước ngoài bị chính đồng bào của họ cướp bóc? Cười to ha-ha-ha.

Tối hôm đó, vào giờ của các loại côn trùng, tôi ngồi trong sân ngắm những con dơi vợt muỗi. Tôi không để cô Banner len vào tâm trí. Tôi tự nhủ: “Nunumu, sao mi lại lãng phí tâm tư cho cô Banner, một người đàn bà coi trọng kẻ phản bội hơn người bạn trung thành? Nunumu, mi phải nhớ từ nay trở đi, không thể tin bọn người nước ngoài”. Rồi lúc nằm trong phòng, tôi vẫn không nghĩ đến cô Banner, không chịu cho cô một mẩu lo lắng, giận dữ hoặc buồn rầu. Song không hiểu vì sao, một cái gì đó vẫn rỉ ra ngoài. Tôi cảm thấy bụng quặn thắt, bỏng rát trong ngực, nhức nhối tận xương, nhiều cảm xúc chạy lên, xuống cơ thể tôi, cố thoát ra.

Sáng hôm sau, ngày đầu tiên trong tuần là thời gian giặt giũ. Trong lúc những người Thờ phụng Jesus có cuộc họp đặc biệt ở Nhà nguyện, tôi vào phòng họ thu thập quần áo bẩn. Lẽ tất nhiên tôi không vào phòng cô Banner. Tôi đi qua đó. Nhưng bước chân tôi trở lại và tôi mở cửa phòng cô. Vật đầu tiên tôi nhìn thấy là cái hộp âm nhạc. Tôi ngạc nhiên. Chắc cô cho là nó quá nặng để mang đi. Cô gái lười. Tôi nhìn thấy quần áo bẩn của cô ở trong giỏ. Tôi nhìn vào tủ quần áo. Bộ váy áo Chủ nhật, giày, cái mũ đẹp nhất, hai đôi găng, cái dây chuyền có mặt phụ nữ khảm trên đá màu cam của cô không còn. Chỉ còn lại những cái tất thủng.

Lúc đó tôi nảy ra một ý nghĩ xấu và một kế hoạch tốt. Tôi quấn cái áo bẩn quanh cái hộp âm nhạc và cho vào giỏ quần áo. Tôi xách giỏ xuống ngõ, qua căn bếp, dọc tiền sảnh ra đường. Tôi đi qua cổng vào vườn nhà Ma Thương nhân. Ven bức tường phía tây bắc, nơi tôi cất trứng, tôi đào thêm một cái hố, chôn vùi cái hộp âm nhạc và mọi kỷ niệm về cô Banner.

Lúc tôi đang vỗ đất trên nấm mộ âm nhạc này, tôi nghe thấy một âm thanh khe khẽ, giống con ếch: “Wa-ren! Wa-ren!”. Tôi đi ra đường, dẫm lạo xạo lên những chiếc lá, tôi lại nghe thấy tiếng đó lần nữa, lúc này tôi nhận ra giọng cô Banner. Tôi nấp sau bụi cây, ngước nhìn cái nhà lều. Chao ôi! Bóng ma của cô Banner! Tóc cô rối bù, buông đến tận eo. Tôi sợ đến mức ngã đập vào bụi cây, và cô nghe thấy tiếng động của tôi.

- Wa-ren? Wa-ren? - Cô hỏi, rồi cô chạy xuống con đường, bộ mặt điên dại, thất thần. Tôi cố hết sức trườn đi thật nhanh. Nhưng lúc đó, tôi thấy đôi giày ngày Chủ nhật của cô ngay trước mũi tôi. Tôi ngước nhìn. Tôi hiểu ngay cô không phải là hồn ma. Cô bị nhiều muỗi đốt trên mặt, trên cổ và bàn tay. Nếu có những con ma muỗi ở đó, hẳn chúng làm việc này. Nhưng tôi không nghĩ ra, cho đến bây giờ. Vả lại, cô đang xách chiếc túi da của cô để bỏ trốn. Cô gãi bộ mặt ngứa ngáy và hỏi tôi, giọng đầy hy vọng:

- Ông Tướng… ông ấy có quay lại tìm tôi không?

Lúc đó tôi hiểu chuyện xảy ra. Cô đã đợi trong nhà lều kia từ hôm qua, lắng nghe từng tiếng động nho nhỏ. Tôi lắc đầu. Tôi cảm thấy vừa vui vừa có lỗi khi nhìn thấy vẻ khổ sở lan trên mặt cô. Cô đổ sụp xuống đất, vừa cười vừa khóc. Tôi nhìn chằm chằm vào sau gáy cô, sưng phồng lên vì bữa tiệc no nê của đàn muỗi, chứng cứ nỗi hy vọng của cô đã kéo dài suốt đêm thâu. Tôi thấy thương cô, nhưng đồng thời rất giận cô.

- Ông ta đi đâu? - Tôi hỏi. - Ông ta nói gì với cô?

- Ông ấy nói là Quảng Châu… tôi không biết nữa. Có lẽ ông ta nói dối. - Giọng cô mờ đục, giống như quả chuông đánh vào nhưng không kêu.

- Cô có biết ông ta đã lấy trộm đồ ăn, tiền nong và nhiều thứ quý?

Cô gật đầu.

- Vậy mà cô vẫn muốn đi cùng ông ta?

Cô than vãn với tôi bằng tiếng Anh. Tôi không hiểu cô nói gì, nhưng có vẻ như cô thương thân, tiếc là không kịp ra đi cùng người đàn ông kinh khủng này. Cô ngước nhìn tôi.

- Cô Moo, giờ tôi nên làm gì?

- Trước kia cô không coi trọng ý kiến của tôi. Sao bây giờ lại hỏi tôi?

- Những người kia chắc cho tôi là con ngốc.

Tôi gật.

- Và là một tên ăn cắp.

Cô nín thinh một hồi lâu. Rồi cô nói:

- Có lẽ tôi nên tự treo cổ; cô Moo, cô nghĩ sao? - Cô bắt đầu cười như người điên. Rồi cô nhặt một hòn đá và để nó vào lòng tôi. - Cô Moo, cô làm ơn đập nát đầu tôi ra. Hãy bảo với những người Thờ phụng Jesus là con quỷ Cape đã giết tôi. Hãy để cho tôi đáng thương hơn là đáng tởm. - Cô lăn ra đất, nức nở. - Hãy giết tôi đi, xin hãy giết tôi. Đằng nào họ cũng muốn tôi chết.

- Cô Banner, - tôi nói. - Cô muốn tôi thành kẻ giết người à?

Cô trả lời:

- Nếu cô là người bạn trung thành của tôi, xin cô làm ơn.

Người bạn trung thành! Như một cái tát vào mặt! Tôi tự nhủ: “Cô ta đang gọi ai là người bạn trung thành?”. Hãy giết tôi đi, cô Moo! Hư hư hư. Tôi biết thực ra cô rất mong tôi dỗ dành cô, bảo với cô những người thờ phụng Jesus sẽ không giận cô, họ sẽ hiểu cô bị một tên đàn ông xấu xa làm cho thành ngớ ngẩn.

- Cô Banner, - tôi nói, chọn lời cẩn thận, - đừng ngu hơn nữa đi. Cô không thực sự muốn tôi đập nát đầu cô. Cô đang giả vờ.

Cô trả lời:

- Vâng, vâng, giết tôi đi! Tôi muốn chết! - Cô đập nắm tay lia lịa xuống đất.

Tôi giả định nên thuyết phục cô ít nhất là một, hai lần nữa bỏ ý nghĩ ấy đi, tranh cãi cho đến khi cô đồng ý sống, tuy rất miễn cưỡng. Nhưng tôi nói:

- Hừ. Những người kia sẽ căm ghét cô, đấy là thực tế. Có khi họ còn tống cổ cô đi. Lúc đó cô sẽ đi đâu?

Cô nhìn tôi trừng trừng. Tống cổ cô ư? Tôi có thể thấy ý nghĩ này hiển hiện trên mặt cô.

- Để tôi nghĩ xem sao, - tôi nói. Sau một lát, tôi tuyên bố rắn rỏi. - Cô Banner, tôi đã quyết là người bạn trung thành của cô.

Cặp mắt cô là hai cái lỗ đầy bối rối.

- Ngồi dựa lưng vào cái cây này, - tôi bảo cô. Cô không nhúc nhích. Thế là tôi túm lấy tay cô và kéo đến chỗ cái cây rồi ấn cô ngồi xuống. - Cô Banner, tôi chỉ cố giúp cô. - Tôi ghé răng cắn diềm bộ áo Chủ nhật của cô và xé toạc.

- Cô làm gì thế! - Cô quát.

- Có sao đâu? - Tôi nói. - Đằng nào thì cô cũng sắp chết. - Tôi xé diềm áo cô thành ba dải vải. Tôi dùng một dải trói tay cô ra đằng sau thân cây gầy guộc. Lúc này cô run như giẽ.

- Cô Moo, hãy để tôi giải thích, - cô bắt đầu nói, nhưng tôi đã buộc dải vải khác quanh miệng cô.

- Giờ cô có hét lên cũng chẳng ai nghe thấy, - tôi nói. Cô lẩm bẩm ư-ư-ư. Tôi buộc nốt dải vải kia quanh mắt cô. - Giờ cô không thể nhìn thấy cái việc kinh khủng tôi phải làm. - Cô bắt đầu đá lia lịa. Tôi đe. - Cô Banner, nếu cô vùng vẫy kiểu này, tôi có thể lỡ tay và chỉ đập nát được mắt hoặc mũi cô thôi. Rồi tôi lại phải làm lần nữa…

Cô khóc, tiếng tắc nghẹn, lắc lắc đầu và nảy nảy mông.

- Sẵn sàng chưa, cô Banner?

Cô kêu u-u và lắc đầu, lắc toàn thân, lắc cả cái cây, mạnh đến nỗi lá cây bắt đầu rụng như đang mùa thu.

- Vĩnh biệt, - tôi nói rồi đấm nhẹ vào đầu cô. Đúng như tôi nghĩ, cô ngất ngay lập tức.

Việc tôi đã làm là tầm thường nhưng không khủng khiếp. Việc tôi làm tiếp theo là tốt nhưng lại là lừa dối. Tôi đến một bụi hoa. Tôi bẻ một cái gai nhọn và đâm vào ngón tay cái của tôi. Tôi vắt và rỏ máu lên đằng trước áo cô, dọc theo trán và mũi cô. Rồi tôi chạy đi kiếm những người Thờ phụng Jesus. Chao ôi, họ tha hồ ca ngợi và an ủi cô. Cô Banner can đảm! - cố ngăn viên Tướng ăn trộm con la. Cô Banner tội nghiệp! - bị đánh và bỏ mặc cho chết. Bác sĩ Quá Muộn xin lỗi vì không còn thuốc thang để chườm những vết sưng tấy trên mặt cô. Cô Chuột nói thật buồn vì cô Banner đã mất hộp âm nhạc. Bà Amen nấu súp người ốm cho cô.

Khi chỉ còn lại tôi và cô trong phòng, cô Banner nói:

- Cảm ơn cô Moo. Tôi không xứng đáng với một người bạn trung thành như thế này. - Tôi nhớ là rất tự hào vì những lời của cô. Cô cũng nói, - Từ nay trở đi, tôi sẽ luôn tin cô.

Đúng lúc đó Dị Ban vào phòng, không gõ cửa. Anh ta ném cái túi da lên sàn. Cô Banner há hốc miệng. Cái túi đựng quần áo của cô để bỏ trốn. Giờ bí mật của cô đã bị lộ. Mọi sự hèn hạ và lòng tốt của tôi đều vô tích sự.

- Tôi tìm thấy cái này ở nhà lều, - Dị Ban nói. - Tôi tin rằng nó là của cô. Nó đựng mũ, mấy đôi găng, dây chuyền và lược chải tóc của cô. - Dị Ban và cô Banner nhìn nhau trừng trừng một lúc lâu. Cuối cùng anh ta nói. - May cho cô, ông Tướng đã quên mang nó theo. - Anh ta cho cô biết sẽ giữ kín cho cô một việc đáng khinh.

Suốt tuần đó, trong khi làm việc tôi tự hỏi, vì sao Dị Ban cứu cô Banner thoát khỏi nhục nhã? Không như tôi, cô chưa bao giờ là bạn anh ta. Tôi đã nghĩ đến việc đó lúc tôi kéo cô Banner từ dưới sông lên. Khi cứu mạng một người, người đó trở thành một phần của bạn. Sao lại thế? Lúc đó tôi nhớ ra Dị Ban và tôi đều có trái tim cô đơn như nhau. Cả hai chúng tôi đều muốn có người thuộc về mình.

Dị Ban và cô Banner nhanh chóng trải qua nhiều giờ dài dằng dặc bên nhau. Hầu hết họ nói chuyện bằng tiếng Anh, vì thế tôi phải hỏi cô Banner họ nói những gì. Ồ, cô bảo, chẳng có gì quan trọng: về cuộc sống của họ ở Mỹ, ở Trung Quốc, cái gì khác biệt, cái gì hay hơn. Tôi cảm thấy ghen tị, biết rằng cô và tôi chưa bao giờ nói về những việc không quá quan trọng như thế này.

- Cái gì hay hơn? - Tôi hỏi.

Cô cau mày và lục lọi trong trí. Tôi đoán cô đang cố xem trong nhiều thứ của Trung Quốc, cô có thể coi điều gì là thích nhất.

- Người Trung Quốc rất lịch thiệp, - cô nói, rồi nghĩ một chút. - Không quá tham lam.

Tôi đợi cô nói tiếp. Tôi tin chắc cô sẽ nói Trung Quốc đẹp hơn, suy nghĩ của chúng tôi sâu sắc hơn, dân tộc chúng tôi tinh tế hơn. Nhưng cô không nói thế.

- Còn ở Mỹ có gì tốt hơn? - Tôi hỏi.

Cô nghĩ một chút.

- Ờ… tiện nghi và sạch sẽ, các cửa hàng và trường học, đường dành cho người đi bộ và đường dành cho xe, nhà cửa và giường nằm, kẹo bánh, trò chơi và đồ chơi, tiệc trà và lễ mừng sinh nhật, ồ, cả những cuộc duyệt binh ầm ỹ, những bữa ăn ngoài trời trên cỏ, chèo thuyền, cài hoa lên mũ, mặc quần áo đẹp, đọc sách, viết thư cho bè bạn… - Cô nói, nói mãi, cho đến khi tôi cảm thấy mình tầm thường và bẩn thỉu, xấu xí, ngô nghê và nghèo khổ. Tôi thường không thích tình trạng của mình. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi không ưa mình theo kiểu này. Tôi thấy nôn nao ghen tị, không phải vì những thứ của Mỹ mà cô nói tới, mà vì cô có thể nói chuyện với Dị Ban những thứ cô thiếu và anh ta hiểu những khao khát xưa cũ của cô. Anh ta thuộc về cô theo kiểu mà tôi không thể.

- Cô Banner, - tôi hỏi cô. - cô cảm thấy cái gì đó về Dị Ban Johnson phải không?

- Cảm thấy? Ừ, có lẽ. Nhưng chỉ là một người bạn, tuy không là bạn tốt như cô. Ồ! Không phải là cảm tình giữa nam nữ đâu - không, không, không! Với lại, anh ta là người Trung Quốc, ờ, không trọn vẹn nhưng một nửa, thế còn tệ hơn… Ở đất nước tôi, một người phụ nữ không thể… ý tôi là những quan hệ bạn bè lãng mạn như thế này không bao giờ được phép.

Tôi mỉm cười, những nỗi lo âu của tôi dịu lại.

Rồi không hiểu vì sao, cô bắt đầu chỉ trích Dị Ban Johnson.

- Tôi phải nói với cô rằng, anh ta nghiêm trang kinh khủng! Không hề có cảm giác hài hước! Nghĩ về tương lai rất u ám. Anh ta bảo Trung Quốc đang hồi rắc rối, ngay ở Xướng Miên cũng sắp không an toàn. Lúc tôi cố làm anh ta vui lên, trêu chọc anh ta một chút, anh ta không hề cười… - Cô phê phán Dị Ban suốt chiều hôm ấy, nói tới mọi khiếm khuyết nho nhỏ của anh ta và cách cô có thể sửa chúng. Cô phàn nàn về Dị Ban nhiều đến mức tôi biết cô thích anh ta hơn là cô nói. Không chỉ là một người bạn.

Tuần sau đó, tôi quan sát họ ngồi trong sân. Tôi thấy anh ta học cười ra sao. Tôi nghe thấy giọng nói sôi nổi của đôi trai gái đang chòng ghẹo nhau. Tôi biết trong trái tim cô Banner có một thứ đang lớn lên, và tôi phải hỏi nhiều câu mới khám phá ra nó là gì.

Chị sẽ kể chuyện này cho em, Libby-ah. Thứ mà cô Banner và Dị Ban có giữa hai người là tình yêu lớn lao và bất biến như bầu trời. Cô bảo chị thế. Cô nói:

- Trước kia tôi đã biết nhiều loại tình yêu, chưa bao giờ như thế này. Với mẹ tôi và các em trai tôi là tình yêu bi thảm, loại tình yêu làm ta nhức nhối, phân vân có nên nhận hay không. Với cha tôi là loại tình yêu không chắc chắn. Tôi yêu quý ông, nhưng không biết ông có yêu tôi không. Với những người tình cũ, tôi có tình yêu ích kỷ. Họ cho tôi chỉ vừa đủ những thứ nhận được từ tôi. Giờ tôi rất mãn nguyện. Với Dị Ban, tôi đang yêu và đã yêu, đầy đặn và thoải mái, không mong đợi gì hơn là những thứ đã nhận. Tôi như một vì sao đang rơi, cuối cùng tìm thấy chỗ của mình cạnh một vì sao khác trong một chòm sao đáng yêu, chúng tôi sẽ lấp lánh mãi mãi bên nhau trên bầu trời.

Tôi mừng cho cô Banner và buồn cho phận mình. Cô ở đây, kể về niềm vui lớn nhất của cô, và tôi không hiểu lời lẽ của cô có ý gì. Tôi tự hỏi liệu tình yêu xuất phát từ cảm giác quan trọng của người Mỹ như cô có đưa đến kết cục khác của tôi hay không. Hoặc có khi tình yêu này giống như một thứ bệnh, người nước ngoài hơi nóng hoặc lạnh một tí cũng phát ốm. Lúc này da cô ửng hồng, mắt cô sáng và to. Cô đã quên thời vừa qua.

- Ồ, đã muộn thế rồi ư? - Cô hay nói. Cô lóng ngóng và cần Dị Ban đỡ cho vững lúc đi. Giọng cô thay đổi, trở nên cao vút và ríu rít như trẻ con. Ban đêm, cô hay rên rỉ. Cô rên rỉ nhiều giờ liền. Tôi lo cô bị sốt rét. Nhưng đến sáng, cô lại khoẻ mạnh.

Đừng cười chị nhé, Libby-ah. Trước kia chị chưa từng thấy loại tình yêu như thế. Mục sư và bà Amen không như thế này. Trai gái trong làng cũ của chị cũng không thế này, chí ít là trước mặt người khác. Bộc lộ sự quan tâm đến người yêu hơn với mọi người trong gia đình - cả người sống lẫn người chết - là điều đáng xấu hổ.

Chị cho tình yêu của cô là một trong những điều xa xỉ của người Mỹ, một thứ mà người Trung Quốc không có khả năng. Cô và Dị Ban trò chuyện nhiều giờ mỗi ngày, đầu họ chụm lại như hai bông hoa rủ xuống vì nắng. Dù họ nói tiếng Anh, chị có thể thấy cô khởi đầu một ý nghĩ và anh ta kết thúc. Rồi anh ta nói, chăm chú nhìn cô, và nếu nghĩ sai, cô sẽ tìm ra lời để diễn đạt. Nhiều lần, tiếng họ nhỏ và tỉ tê, rồi khẽ hơn và tỉ tê hơn, rồi họ nắm lấy tay nhau. Họ cần hơi ấm của làn da cho xứng với sự sôi nổi trong tim. Họ ngắm nhìn sự sống trong mảnh sân - bụi cây thiêng, từng cái lá trong bụi, một con bướm đêm trên lá, anh ta đặt con bướm lên lòng bàn tay cô. Họ ngạc nhiên vì con bướm này như thể nó là sinh vật mới lạ trên trái đất, một nhà hiền triết bất tử trá hình. Chị có thể thấy cô ôm giữ cẩn thận sinh mạng này giống như tình yêu cô luôn bảo vệ, không bao giờ để nó bị tổn thương.

Quan sát mọi sự, chị hiểu về tình yêu lãng mạn. Chị cũng sớm có chuyện tán tỉnh riêng của mình - em có nhớ Tăng, anh chàng bán ma túy một tai không? Anh ta là người đàn ông dễ thương, nom không xấu dù chỉ có một tai. Không quá già. Nhưng chị hỏi em: Mối tình lãng mạn đến chừng nào thì có thể nói về những cái hũ nứt và những quả trứng vịt?

Một hôm, Tăng đến với chị như thường lệ, mang một cái hũ khác. Chị bảo anh ta:

- Không cần hũ nữa, tôi không có trứng để cất, không có gì trả anh.

- Cứ lấy cái hũ, - anh ta nói. - Tuần sau cho tôi một quả trứng.

- Tuần sau tôi không có gì cho anh đâu. Cái ông tướng rởm người Mỹ đã lấy trộm hết tiền của những người Thờ phụng Jesus rồi. Chúng tôi chỉ còn đủ thức ăn cho đến chuyến tàu từ Quảng Châu mang tiền của phương Tây tới.

Tuần sau, Tăng trở lại, vẫn mang theo cái hũ. Song lần này, hũ đầy những gạo. Tình cảm mới nặng làm sao! Tình yêu này là gì vậy? Tình yêu là gạo trong hũ, không cần một quả trứng trả lại?

Chị nhận cái hũ. Chị không nói: “Cảm ơn, anh mới tử tế làm sao, một ngày nào đó em sẽ đền đáp”. Chị thích - em gọi là thế nào nhỉ? - một nhà ngoại giao.

- Tăng à, - chị gọi lúc anh ta định về. - Sao quần áo anh lúc nào cũng bẩn thế? Nhìn các vết dầu mỡ trên khuỷu tay anh kìa! Ngày mai anh mang quần áo đến đây, tôi sẽ giặt cho. Nếu anh muốn tán tỉnh tôi, ít ra trông anh cũng phải sạch sẽ chứ.

Em thấy không? Ít ra chị cũng biết một cuộc tình lãng mạn là như thế nào chứ.

Mùa đông đã đến, Ermei vẫn còn nguyền rủa Tướng Cape ăn cắp cái đùi lợn. Vì tất cả chỗ thịt xông khói mất hết, cả thịt tươi cũng vậy. Cô đã giết hết lợn, gà, vịt, hết con này đến con khác. Tuần nào, bác sĩ Quá Muộn, mục sư Amen và Dị Ban cũng mất nhiều giờ xuống Kim Điền xem thuyền mang tiền từ Quảng Châu đến chưa. Và tuần nào họ cũng về nhà với bộ mặt chảy dài.

Có lần, họ về, máu chảy ròng ròng trên các bộ mặt rầu rĩ. Các bà các cô chạy ùa đến, vừa kêu vừa khóc: bà Amen đến với mục sư Amen, cô Chuột đến với bác sĩ Quá Muộn, cô Banner đến với Dị Ban. Lão Lục và tôi chạy ra giếng. Trong lúc đó, các bà rối rít lau rửa vết máu, mục sư Amen kể chuyện xảy ra và Dị Ban dịch lại cho chúng tôi.

- Họ gọi chúng tôi là quỷ dữ, là kẻ thù của Trung Quốc!

- Ai? Ai gọi? - Các bà kêu to.

- Bọn Thái Bình! Tôi sẽ không gọi họ là những người Thờ phụng Jesus nữa! Họ điên rồi, những người Thái Bình ấy. Lúc tôi nói: “Chúng tôi là bạn của các vị”, họ ném đá vào tôi, định giết tôi!

- Vì sao? Sao vậy?

- Vì cách nhìn của họ! - Mục sư kêu to nhiều câu nữa, rồi quỳ gối và cầu nguyện.

Chúng tôi nhìn Dị Ban và anh lắc đầu. Mục sư bắt đầu giơ nắm tay đấm vào không khí, rồi lại cầu nguyện. Ông ta chỉ vào đoàn truyền giáo và lải nhải cầu nguyện thêm. Ông ta chỉ vào cô Chuột, cô đang khóc và vỗ vỗ vào mặt bác sĩ Quá Muộn dù không còn máu để lau. Ông ta chỉ vào bà Amen, phun ra một hồi. Bà ta đứng dậy rồi bỏ đi. Lão Lục và tôi giống như người câm-điếc, vô tội trước những lời ông ta nói.

Đêm đến, chúng tôi ra vườn của Ma thương nhân tìm Dị Ban và cô Banner. Tôi nhìn thấy bóng của họ trong lều trên đỉnh quả đồi nhỏ, đầu cô ngả vào vai anh ta. Lão Lục không trèo lên đó vì sợ ma. Thế là tôi huýt sáo cho đến lúc họ nghe thấy. Họ đi xuống, tay trong tay, và chỉ buông ra khi nhìn thấy tôi. Dưới ánh sáng của mảnh trăng lưỡi liềm, Dị Ban kể mọi tin tức cho chúng tôi nghe.

Anh ta đã nói chuyện với một ngư dân khi đi cùng mục sư và bác sĩ Quá Muộn đến dòng sông để biết tin về các con thuyền. Ngư dân đó nói với anh:

- Không có thuyền, không bây giờ, không sớm, có khi không bao giờ. Thuyền của Anh tắc trên các dòng sông. Không đến, không đi. Hôm qua những người nước ngoài chiến đấu vì Chúa, hôm nay vì Mãn Châu. Có lẽ ngày mai Trung Quốc tan thành nhiều mảnh và người nước ngoài sẽ nhặt, bán chúng cùng với thuốc phiện của họ.

Dị Ban nói các cuộc chiến suốt từ Túc Châu đến Quảng Châu. Dân Mãn Châu và người nước ngoài đang bị các thành phố do Thiên Hoàng trị vì tấn công. Mười-mười ngàn Thái Bình bị giết, cả trẻ sơ sinh và các em bé. Ở một số nơi, người ta chỉ thấy các xác Thái Bình thối rữa; ở các thành phố khác, chỉ toàn xương người da trắng. Quân Mãn Châu sắp đến Kim Điền.

Dị Ban để chúng tôi ngẫm nghĩ về tin này.

- Lúc tôi dịch lại lời người dân chài kia nói cho mục sư, ông ta quỳ xuống và cầu nguyện như các vị thấy chiều nay. Những người Thờ phụng Chúa ném đá vào chúng tôi. Bác sĩ Quá Muộn và tôi bắt đầu chạy, chúng tôi gọi mục sư nhưng ông ta không đi. Những hòn đá trúng vào lưng, vào cánh tay, cẳng chân, rồi vào trán ông ta. Lúc mục sư ngã ra đất, máu và sự nhẫn nại chảy tuốt khỏi đầu ông. Đó là lúc ông ta mất cả niềm tin. Ông ta gào: “Chúa ơi, sao Người phản bội con? Vì sao? Vì sao Người lại phái viên tướng rởm ấy đến chỗ chúng con, lấy cắp hết mọi hy vọng của chúng con?”

Dị Ban ngừng kể. Cô Banner nói gì đó với anh ta bằng tiếng Anh. Anh ta lắc đầu. Vì thế cô Banner nói tiếp:

- Chiều hôm nay, lúc các vị nhìn thấy mục sư quỳ gối, ông ta lại để các ý nghĩ xấu xa trào ra khỏi đầu. Đến lúc này, ông ta không chỉ mất lòng tin mà còn mất cả sáng suốt. Ông ta gào lên: “Ta căm thù Trung Quốc! Ta căm thù người Trung Quốc! Ta căm thù những cái nhìn quanh co, những trái tim lừa đảo của bọn chúng. Chúng không có linh hồn để cứu vớt”. Ông ta nói: “Giết hết dân Trung Quốc, giết tất cả đi, chỉ xin đừng để tôi chết cùng với chúng”. Ông ta chỉ vào các nhà truyền giáo khác và kêu to: “Mang bà ta, mang anh ta, mang cô ta đi”.

Sau ngày hôm đó, nhiều sự đổi thay, giống những quả trứng của tôi. Mục sư Amen hành động như một cậu bé, hay than phiền và khóc lóc, ngang bướng, quên hẳn mình là ai. Nhưng bà Amen không giận ông. Đôi khi bà quắc mắt với ông, còn hầu như lúc nào bà cũng cố dỗ dành ông. Lão Lục kể đêm hôm ấy bà để mục sư cuộn sát người bà. Giờ đây họ như vợ với chồng. Bác sĩ Quá Muộn để cô Chuột săn sóc vết thương của ông ta rất lâu, sau khi chẳng còn gì để lành. Đêm khuya, khi tưởng mọi người đã ngủ nhưng thực ra là chưa, một cánh cửa mở ra rồi đóng lại. Tôi nghe thấy tiếng bước chân, rồi tiếng thì thào của Dị Ban và tiếng thở dài của cô Banner. Tôi bối rối khi nghe những tiếng ấy đến mức ngay sau đó, tôi đào cái hộp âm nhạc của cô và trả lại. Tôi bảo cô:

- Xem Tướng Cape đã quên mang cái gì này.

Hết người hầu này đến người khác bỏ đi. Lúc này trời quá lạnh, ban đêm muỗi không còn ra ngoài nữa, những người Trung Quốc duy nhất còn lại trong ngôi nhà Ma thương nhân là Lão Lục và tôi. Tôi không tính Dị Ban vì không còn coi anh ta nhiều phần Trung Quốc hơn Johnson nữa. Dị Ban ở lại vì cô Banner. Lão Lục và tôi ở lại vì chúng tôi có những quả trứng vịt chôn trong vườn ngôi nhà này. Chúng tôi cũng biết rằng nếu chúng tôi ra đi, không người nước ngoài nào biết cách ở lại mà sống được.

Ngày ngày, Lão Lục và tôi tìm kiếm đồ ăn. Vì đã từng là một sơn nữ nghèo, nên tôi biết tìm ở đâu. Chúng tôi lục lọi dưới gốc cây, nơi ve sầu ngủ. Ban đêm chúng tôi ngồi trong bếp, đợi côn trùng và chuột mò ra tìm những mảnh vụn chúng tôi không thể nhìn thấy. Chúng tôi leo lên núi, hái chè hoang và đào măng. Thỉnh thoảng chúng tôi bắt được một con chim quá già hoặc quá lơ ngơ không bay kịp. Mùa xuân, chúng tôi vợt cào cào, châu chấu trên các cánh đồng. Chúng tôi tìm ếch, sâu bọ và dơi. Phải đuổi dơi vào một chỗ hẹp và để chúng bay cho đến khi rơi xuống vì kiệt sức. Chúng tôi rán những con vật bắt được trong dầu. Tôi kiếm dầu của Tăng. Giờ anh và tôi trò chuyện nhiều hơn là chỉ nói về các hũ nứt và trứng, những chuyện vui như lần đầu tiên tôi dọn cho cô Banner một thứ đồ ăn mới.

- Cái gì đây? - Cô hỏi. Cô gí mũi vào bát, nhìn và ngửi. Đầy nghi ngờ.

- Thịt chuột, - Tôi nói.

Cô nhắm mắt lại, đứng dậy và bỏ ra khỏi phòng. Khi những người còn lại hỏi tôi nói gì, Dị Ban giải thích bằng tiếng của họ. Tất cả lắc đầu rồi ăn ngon lành. Sau này tôi hỏi Dị Ban đã nói gì.

- Thịt thỏ, - anh nói. - Tôi nói trước kia cô Banner có một con thỏ cưng.

Sau đó, bất cứ khi nào những người nước ngoài hỏi Lão Lục và tôi nấu món gì, tôi bảo Dị Ban nói với họ:

- Thịt thỏ loại khác. - Họ biết không nên hỏi chúng tôi nói thật hay không.

Tôi không nói chúng tôi có nhiều thứ để ăn. Cần phải có nhiều loại thỏ mới đủ nuôi tám miệng ăn, mỗi ngày hai hoặc ba lần. Kể cả bà Amen cũng mỗi ngày một gày đi. Tăng nói chiến tranh ngày càng dữ dội. Chúng tôi nuôi hy vọng một bên thắng, bên kia thua để chúng tôi có thể trở lại cuộc sống khấm khá hơn. Chỉ mục sư Amen là hạnh phúc, ông ta bi bô như một đứa trẻ.

Một ngày kia, Lão Lục và tôi thấy mọi sự ngày càng xấu hơn, cho đến lúc này là xấu nhất. Chúng tôi đồng tình bây giờ là thời gian tốt nhất để ăn trứng vịt. Chúng tôi bàn cãi một chút về việc chia mỗi người mấy quả. Điều này phụ thuộc vào Lão Lục và tôi nghĩ thời gian tồi tệ nhất sẽ kéo dài bao lâu, và chúng tôi phải chi ra bao nhiêu trứng cho ổn thoả. Rồi phải thống nhất chia trứng vào sáng hay tối. Lão Lục nói buổi sáng là tốt nhất, vì chúng tôi có thể mơ được ăn trứng và trở thành hiện thực. Lão nói, chúng tôi sẽ vui mừng vì thức giấc và phát hiện ra mình còn sống. Thế là mỗi buổi sáng, chúng tôi cho mỗi người một quả trứng. Cô Banner thích lòng trắng trứng màu xanh, mằn mặn, mịn, ngon hơn thịt thỏ, cô bảo thế.

Em thử tính hộ chị xem, Libby-ah. Mỗi ngày tám quả trứng, gần một tháng là bao nhiêu? - hai trăm bốn mươi quả trứng vịt. Chà! Chị đã làm được rõ nhiều! Nếu lúc này chị bán những quả trứng ấy ở San Francisco, chà, là cả một gia sản! Thực ra, chị còn làm nhiều hơn chỗ đó. Giữa hè, đoạn cuối của quãng đời ấy, chị còn ít nhất hai hũ trứng. Ngày chúng tôi chết, cô Banner và tôi vừa cười vừa khóc, nói lẽ ra chúng tôi phải ăn nhiều trứng hơn.

Nhưng làm thế nào một con người có thể biết mình sắp chết? Nếu biết, bạn có thay đổi được sự việc không? Bạn có thể bóc nhiều trứng hơn mà không tiếc? Biết đâu bạn lại chết vì đau dạ dày.

Dù sao thì, Libby-ah, giờ nghĩ lại việc này, chị chẳng có gì ân hận. Chị mừng vì không ăn hết số trứng. Giờ chị có thứ để cho em xem. Chị em mình sẽ đào chúng sớm thôi. Em và chị, chúng ta có thể nếm những quả còn lại.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.